* Các giai đoạn phát triển của phôi và ấu trùng Theo Nguyễn Xuân Dục, “Kỹ thuật sinh sản nhân tạo và nuôi động vật thân mềm”, giáo trình cao học, 2002, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sả
Trang 1-*** -kho¸ luËn tèt nghiÖp
Đ
ề tài:
“Ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ
sống và thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854) từ giai đoạn veliger đến đầu spat”
Người thực hiện : Vũ Hữu Tùng
Lớp : NTTS – K52
Người hướng dẫn : 1 ThS CAO TRƯỜNG GIANG
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
2 ThS TRỊNH ĐÌNH KHUYẾN
3 KS TRẦN ÁNH TUYẾT
Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản
Khoa CN & NTTS - Trường ĐHNN Hà Nội
Hà Nội 2014
Trang 2Ề TÀI:
“Ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống
và thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854) từ giai đoạn veliger đến đầu spat”
Người thực hiện : Vũ Hữu Tùng
Địa điểm thực tập : Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc
Xuân Đám - Cát Hải - Hải Phòng Thời gian thực tập : Từ ngày 1/1/2014 - 30/6/2014
Người hướng dẫn : 1 ThS CAO TRƯỜNG GIANG
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
2 ThS TRỊNH ĐÌNH KHUYẾN
3 KS TRẦN ÁNH TUYẾT
Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản
Khoa CN & NTTS - Trường ĐHNN Hà Nội
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức và
cá nhân Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Trịnh ĐìnhKhuyến, KS Trần Ánh Tuyết (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) và ThS.Cao Trường Giang (Trung tâm Quốc gia giống Hải sản Miền Bắc) đã địnhhướng và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Nuôi trồngThủy sản – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã dạy dỗ vàtruyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quãng thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ công nhân viên PhòngHải đặc sản Trung tâm Quốc gia giống Hải sản Miền Bắc đã tạo mọi điềukiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốtnghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, những người luôn bên cạnh giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn to lớn đến gia đình và người thân đãluôn động viên giúp tôi vượt qua khó khăn trong suốt những năm học vừaqua
Hải Phòng, tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Vũ Hữu Tùng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT vii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2 Nội dung nghiên cứu 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của Tu hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854) 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm hình dạng và cấu tạo cơ thể 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản của Tu hài 6
2.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi Tu hài trên thế giới và Việt Nam 9
2.2.1 Trên thế giới 9
2.2.2 Ở Việt Nam 10
2.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng tảo trong sản xuất giống động vật thủy sản trên thế giới và Việt Nam 12
2.3.1 Giá trị dinh dưỡng của vi tảo 12
2.3.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng tảo trong sản xuất giống động vật thủy sản trên thế giới 13
Trang 52.3.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng tảo trong sản xuất giống động vật thủy
sản tại Việt Nam 17
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 19
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
3.2.1 Thời gian nghiên cứu 19
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 22
3.4.3 Phương pháp xác định tốc độ sinh trưởng về chiều dài vỏ ấu trùng 24
3.4.4 Phương pháp xác định tỷ lệ sống của ấu trùng Tu hài (TLS) 24
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài 25
4.1.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng của ấu trùng 25
Ngày tuổi 25
4.1.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng 28
4.1.3 Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian biến thái của ấu trùng 29
4.2 Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài 30
4.2.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng của ấu trùng 30
4.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến thời gian biến thái 34
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề xuất 37
PHẦN VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 66.1 Tài liệu tiếng Việt 38
6.2 Tài liệu tiếng Anh 40
6.3 Tài liệu trên mạng Internet 40
PHỤ LỤC BẢNG 41
Phụ lục 1 Tăng trưởng chiều dài của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau .41
Phụ lục 2 Tỷ lệ sống của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau 42
Phụ lục 3 Thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau 43
Phụ lục 4 Tăng trưởng chiều dài của ấu trùng Tu hài ở các công thức thức ăn .43
Phụ lục 5 Tỷ lệ sống của ấu trùng Tu hài ở các công thức thức ăn 44
Phụ lục 6 Thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài ở các công thức thức ăn .45 PHỤ LỤC HÌNH 46
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quá trình phát triển phôi và biến thái của ấu trùng Tu hài 9Bảng 2.2 Kích thước và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong vi tảo 13Bảng 4.1 Tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khácnhau 25Bảng 4.2 Thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau .29Bảng 4.3 Tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng Tu hài ở các loại thức ănkhác nhau 31Bảng 4.4 Thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài ở các công thức thức ănkhác nhau 35
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hình thái ngoài Tu hài trưởng thành (Vũ Hữu Tùng, 2014) 3
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn 20
Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn 21
Hình 3.3 Cấu tạo buồng đếm Thomma 23
Hình 4.1 Tăng trưởng về chiều dài của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau 26
Hình 4.2 Tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau .27 Hình 4.3 Tỷ lệ sống của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau 28
Hình 4.4 Thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài ở các độ mặn khác nhau 29
Hình 4.5 Tăng trưởng trung bình về chiều dài vỏ ấu trùng Tu hài 32
Hình 4.6 Tốc độ tăng trưởng của ấu trùng Tu hài ở các công thức thức ăn khác nhau 33
Hình 4.7 Tỷ lệ sống của ấu trùng Tu hài ở các công thức thức ăn khác nhau34 Hình 4.8 Thời gian biến thái của ấu trùng Tu hài ở các công thức thức ăn khác nhau 35
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
Trang 132.1 Đặc điểm sinh học của Tu hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854)
Loài: Lutraria philippinarum Reeve, 1854
Hình 2.1 Hình thái ngoài Tu hài trưởng thành (Vũ Hữu Tùng, 2014)
2.1.2 Phân bố
Trên thế giới Tu hài phân bố ở vùng nước ấm như: Philippine,Australia và vùng Bắc Mỹ Loài Tu hài còn phân bố ở vùng biển Puget Soundthuộc Bắc Mỹ (Thinh và ctv, 1999)
Ở Việt Nam, Tu hài phân bố chủ yếu ở vùng Hạ Long và Bái Tử Long,xung quanh các đảo nhỏ tương đối xa bờ như phía Bắc đảo Cát Bà (Việt Hải,Trân Châu), bãi Vạn Hà, Vạn Bội, Lão Vọng, Ba Cót, … (Hà Đức Thắng vàctv, 2006)
Trang 14Tu hài là loài động vật sống vùi dưới đáy, chúng đào hang sâu tới 40 50cm và di chuyển dọc theo chiều sâu của hang chỉ thò hai ống xiphong lênmặt đáy để hô hấp và lọc thức ăn Chất đáy thích hợp cho Tu hài cư trú lànhững bãi cát sỏi lẫn mảnh vụn vỏ hầu, sò, không thấy Tu hài sống ở các bãi
-có đáy thuần cát hoặc cát bùn, bùn cát (Đặng Minh Đông, 2001)
Tu hài có thể sống trong khoảng nhiệt độ nước biển từ 17 - 320C, nhiệt
độ thích hợp nhất khoảng từ 24 - 280C Độ mặn khoảng từ 29‰ - 32‰, Tuhài nhanh chóng bị chết trong điều kiện độ mặn từ 24‰ - 25‰ (Hà ĐứcThắng và ctv, 2006) Khi điều kiện môi trường thay đổi, đặc biệt là nhữngvùng chịu ảnh hưởng của nước ngọt, Tu hài sẽ trồi lên mặt bãi và di chuyểnđến vị trí khác Tu hài di chuyển bằng cách: 2 ống si phông căng dài duỗithẳng ra phía trước, chân thò ra uốn cong và bật mạnh xuống nền đáy đẩymạnh Tu hài lên khỏi mặt bãi bị cuốn vào dòng nước biển và di chuyển đếnnơi ở mới
2.1.3 Đặc điểm hình dạng và cấu tạo cơ thể
* Vỏ: cơ thể được bảo vệ bởi 2 tấm vỏ (phải và trái) khá đều nhau.
Chiều dài thân thường gấp đôi chiều cao cơ thể, dính liền nhau ở phần lưngbởi dây nề Vỏ bằng đá vôi màu trắng, tuy nhiên màu sắc cũng thay đổi theomôi trường sống Vỏ mỏng không có khả năng khép chặt như vỏ trai, vỏ vẹm, Các gờ sinh trưởng khá rõ nét Vết vịnh màng áo sâu và rõ
* Màng áo ngoài: màng áo gồm 2 tấm giáp liền với vỏ và bao phủ toàn
bộ phần nội tạng cơ thể, mở ra ở phần bụng Phần cuối phát triển tạo thành 2vòi, ống xả và ống hút Mép màng áo dày có khả năng vận chuyển cát khi đàohang Màng áo có chức năng sinh vỏ và đóng mở tạo dòng nước đi vào xoang
cơ thể
* Si phông hút - xả: Ống si phông khá phát triển - do đặc điểm sống
đáy, Tu hài đào hang sống vùi dưới đáy cát, cát sỏi hoặc mảnh vụn vỏ hầu hà,san hô vì vậy mọi trao đổi với bên ngoài đều thông qua 2 ống xi phông này
Trang 152.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cũng giống như các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, Tu hài
là loài mang tấm, ăn lọc Tu hài không có khả năng lựa chọn thức ăn theo mùi
vị và chất lượng, nước cùng với thức ăn theo ống xiphong hút vào xoangmàng áo qua các kẽ mang, thức ăn có kích thước thích hợp được giữ lại nhờcác tấm mang Sau đó thức ăn được chuyển đến xúc biện vào miệng và đưaxuống dạ dày Phần thức ăn không tiêu hoá được tống ra ngoài qua hậu mônvào xoang áo và thoát ra ngoài qua ống siphông thoát Thức ăn chủ yếu là các
loài tảo phù du, trong đó là các loài tảo Silic như: Coscinodicus, Nitszchia,
Navicula, Cyclotella,… các mảnh vụn hữu cơ và các vi sinh vật khác (Đỗ
Văn Minh, 1999)
Chúng chỉ có thể lựa chọn thức ăn qua kích thước các hạt thức ăn Vìvậy, chúng ngẫu nhiên ăn cả các loài tảo độc và qua tích luỹ thường gây racác triệu chứng tê liệt thần kinh và tháo chảy cho những người ăn phải thịt Tuhài trong những mùa có nhiều tảo độc Ở Việt Nam chưa có hiện tượng nàytuy vậy cũng cần nên phòng tránh khai thác Tu hài làm thực phẩm vào nhữngthời điểm có thủy triều đỏ xuất hiện (Mai Văn Minh, 1978)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Phạm Thược, “Báo cáo điều tra hiện trạng, đề xuất một số giải
pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi Tu hài (Lutraria philippinarum, Reeve,
1854)” ở vùng biển Hải Phòng, Quảng Ninh 2004 - 2005, thì Tu hài nuôi tại
Cát Bà (Hải Phòng) có tốc độ tăng trưởng nhanh, hiện chưa có số liệu về tốc
độ tăng trưởng của Tu hài trong tự nhiên
Tại Cát Bà (Hải Phòng) con giống có kích thước 1,5cm nặng 2,16g
Sau 3 tháng nuôi đạt kích thước 2,42cm 4,2 gSau 6 tháng nuôi đạt kích thước 3,82cm - 26,6gSau 12 tháng - 5,58cm - 34,0gSau 18 tháng - 7,13cm - 60,0g
Trang 16Tu hài tăng trưởng rất nhanh trong điều kiện môi trường phù hợp Thờigian từ cỡ giống đến cỡ thu hoạch thường từ 1 năm trở lên Tuy nhiên tốc độtăng trưởng của Tu hài cũng phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường sống,nguồn thức ăn Tu hài tăng trưởng nhanh ở những thuỷ vực có độ mặn, độtrong, chất đáy ổn định, nguồn thức ăn phong phú.
2.1.6 Đặc điểm sinh sản của Tu hài
Tu hài là loài phân tính rõ rệt, con đực con cái riêng biệt Trong mùasinh sản tuyến sinh dục phát triển bao kín dạ dày, ruột, lan xuống chân và gầntới ống si phông, tuyến sinh dục đực có màu trắng sữa, con cái có màu phớthồng Trứng chín hình cầu, đường kính khoảng 60 - 65µm, tinh trùng hìnhbúp sen đuôi dài vận động mạnh trong nước biển Trứng và tinh trùng đượcphóng ra môi trường nước, quá trình thụ tinh xảy ra trong nước (Hà ĐứcThắng, 2001)
Trong tự nhiên, ở miền Bắc nước ta Tu hài trưởng thành bắt đầu sinhsản vào thàng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa vụ sinh sản chính làtháng 2 và tháng 3
Sức sinh sản của Tu hài thường phụ thuộc vào kích thước cá thể, những
cá thể có kích thước lớn thì sức sinh sản cao và ngược lại Mỗi cá thể trungbình có thể mang 3 triệu trứng:
Loại nhỏ: kích thước 63,2 mm, khối lượng 35,2g; sức sinh sản: 1,28x106
Trang 17hài đến giai đoạn cuối, giai đoạn xuất hiện chân bò với tỷ lệ sống khá cao (60
- 70%)
Năm 2001 với nguồn kinh phí từ Dự án SUMA Ks Hà Đức Thắng vàcác cộng tác viên đã ương nuôi ấu trùng và thu được 200 cá thể Tu hài giốngđầu tiên sau 1 tháng và có kích thước từ 2 - 3 cm chiều dài vỏ
* Các giai đoạn phát triển của phôi và ấu trùng
Theo Nguyễn Xuân Dục, “Kỹ thuật sinh sản nhân tạo và nuôi động vật
thân mềm”, giáo trình cao học, 2002, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1
thì quá trình phát triển phôi và ấu trùng Tu hài trải qua các giai đoạn sau:
- Quá trình phân cắt trứng:
Trứng và tinh trùng sau khi được phóng ra khỏi cơ thể bố mẹ khoảng 5
- 10 phút thì quá trình thụ tinh xảy trong nước
Trứng sau khi thụ tinh trong điều kiện bình thường với nhiệt độ nước
24 - 260C Độ mặn 30‰ sự phân bào xảy ra, cực thể thứ 1, thứ 2 thay nhauxuất hiện và sau 30 phút trứng phân cắt thành 2 tế bào
Nguyên sinh chất chuyển động không ngừng, tế bào trứng lần lượt phâncắt lần thứ 2 thành 4 tế bào với 3 tế bào nhỏ hơn và 1 tế bào lớn Các lần phâncắt tiếp theo làm trứng phân cắt thành 8 tế bào, 16 tế bào và 32 tế bào, tiếptheo là giai đoạn phôi nang và phôi vị
Kết thúc giai đoạn phát triển phôi ấu trùng Tu hài trải qua 4 giaiđoạn
- Ấu trùng trochophora (ấu trùng bánh xe)
Trứng sau khi thụ tinh khoảng 8 - 10 giờ phát triển thành ấu trùngTrochophore xuất hiện Ấu trùng có dạng hình bầu dục có gắn đĩa bơi,xung quanh đĩa bơi có tiêm mao bao phủ Ấu trùng vận động xoay tròn vàthường ngược chiều kim đồng hồ, chúng có khả năng vận động và bơi dầnlên trên tầng mặt Quá trình này kéo dài trong thời gian ngắn được gọi làquá trình nở của trứng thành ấu trùng Trochophore
- Ấu trùng Veliger (Ấu trùng chữ D)
Trang 18Xuất hiện sau 18 - 24 giờ thụ tinh chúng phát triển thành ấu trùngVeliger có dạng chữ D, đã xuất hiện 2 tấm vỏ mỏng, phẳng che kín phần nộitạng và chúng có khả năng vận động nhờ sự rung động của đĩa bơi Ấu trùng
có chiều dài khoảng 85 - 90 mm.
- Ấu trùng Umbo (Ấu trùng đỉnh vỏ)
Sau 5 ngày ấu trùng phát triển đến giai đoạn ấu trùng đỉnh vỏ Đặctrưng của giai đoạn này là sự hình thành các cơ quan Giai đoạn tiền Umboxuất hiện mầm cơ khép vỏ Trên kính hiển vi có thể quan sát thấy ruột và mộtđôi cơ quan trong suốt, kích thước ấu trùng có chiều dài nhất là 110mm Giaiđoạn trung Umbo xuất hiện đỉnh vỏ, kích thước ấu trùng đạt 150mm Giaiđoạn hậu kỳ xuất hiện điểm mắt ở dưới trung tâm của cơ quan, cuối giai đoạnnày ấu trùng hình thành chân bò Đây là dấu hiệu kết thúc giai đoạn sống trôinổi chuyển sang sống đáy cố định Lúc này kích thước ấu trùng dài nhất đạt
170 mm, giai đoạn này kéo dài từ 18 đến 20 ngày sau khi trứng thụ tinh, trongđiều kiện môi trường nước có nhiệt độ 240C - 280C, độ mặn 30‰ Thời giannày có thể thay đổi, ở nhiệt độ thấp quá trình biến thái diễn ra chậm, điều kiệnmôi trường thuận lợi cho quá trình phát triển của phôi và ấu trùng trongkhoảng nhiệt độ từ 26 - 280C, độ mặn nước biển là: 29 - 31‰
- Ấu có chân bò (Spat)
Tính từ ngày thứ 16 - 25 sau khi thụ tinh, đây là giai đoạn biến thái liênquan đến một số thay đổi về cấu tạo của hệ tiêu hóa Ấu trùng spat hình tháicủa tuyến tiêu hóa phát triển và hoàn thiện rất nhanh, chuyển từ cấu trúc dạngtúi sang dạng hạt như chùm nho Đây là giai đoạn ấu trùng hoàn thiện, chân
và vòi xi phông thấy rõ, hoạt động bơi lội của ấu trùng giảm dần Giai đoạnnày đã hình thành các tơ chân và màng
Bảng 2.1 Quá trình phát triển phôi và biến thái của ấu trùng Tu hài Thời gian
sau thụ tinh Các giai đoạn phát triển Kích thước
0 - 30 phút Trứng thụ tinh, xuất hiện cực cầu 55 - 60mm
Trang 195 giờ Ấu trùng bánh xe (Trochophore) 60mm
24 giờ Ấu trùng chữ D (Veliger) 60 - 65mm
5 ngày Ấu trùng đỉnh vỏ (Umbo) giai đoạn sơ kỳ 100 - 120mm
9 - 10 ngày Ấu trùng đỉnh vỏ lồi giai đoạn trung kỳ 120 - 150mm
10 - 15 ngày Ấu trùng đỉnh vỏ lồi giai đoạn hậu kỳ 150 - 170mm
16 - 25 ngày Ấu trùng có chân bò, xuống đáy 200 - 250mm
30 ngày Ấu trùng bám, hình thái gần giống với Tu
hài trưởng thành 300 - 500mm
(Theo Nguyễn Xuân Dục, “Kỹ thuật sinh sản nhân tạo và nuôi
động vật thân mềm”, giáo trình cao học, 2002)
2.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi Tu hài trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Trên thế giới
Trong năm 1960 có nghiên cứu của Trương Tỷ và ctv, có nói về loài
Lutraria philippinarum Deshayes, đả mô tả đặc điểm phân loại, kích thước
sinh thái, phân bố địa lý và giá trị sử dụng của đối tượng này
Trong những năm gần đây tình hình nghiên cứu và sản xuất đối tượngnày được chú trọng hơn Một vài quốc gia ở Châu Á như Trung Quốc,Philippin, Việt Nam cũng đã nghiên cứu và tiến hành sản xuất nhân tạogiống Tu hài
Trung Quốc là quốc gia có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh.Tại đây đã tiến hành nuôi và khai thác ở vùng cửa vịnh có độ sâu trên dưới 20
m và tập trung ở cửa vịnh Bắc Hải Ở Trung Quốc hàng năm nhập khẩu Tuhài trị giá hàng ngàn tỷ đồng Hiện nay Tu hài ở Trung Quốc có giá bán lêntới hàng trăm nhân dân tệ/kg Viện nghiên cứu hải sản Sơn Đông (TrungQuốc) năm 1999 bắt đầu nghiên cứu cho đẻ Tu hài
Năm 2000, trung tâm nghiên cứu sinh vật biển Phuket, Thái Lan tại hộithảo về chương trình nghiên cứu về động vật thân mềm ở vùng biển nhiệt đới
tổ chức tại Việt Nam đã công bố một số loài thuộc họ Matridae (Mollusca
Bivalivia) ở vùng nước Thái Lan trong đó có thông tin về Tu hài.
Năm 2001công ty hải sản Diển Đài Bạch Lợi của Mỹ hợp tác với TrungQuốc đã sản xuất 3 triệu Tu hài giống
Trang 202.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta những năm gần đây đã phát triển nghề nuôi biển trong đónhóm đối tượng động vật thân mềm đã được quan tâm nghiên cứu Theo kếtquả điều tra động vật vùng triều của tổng cục Thuỷ sản các năm 1966 - 1967,hai tác giả Trần Hữu Doanh và Nguyễn Như Tùng đã thống kê 133 loài động
vật thân mềm khác nhau trong đó có Tu hài loài Lutraria philippinarum
Deshsayes
Trong đó các năm 1977 - 1979, Nguyễn xuân Dục đã tiến hành đãnghiên cứu khá kỹ về loài Tu hài ở vùng biển thuộc quần đảo Cát Bà về tìnhhình phân bố, đánh giá trữ lượng khai thác, đặc điểm sinh học của ấu trùng Tuhài
Cũng trong năm 1978, Mai Văn Minh (Khoa sinh học, ĐH tổng hợp)
đã tiến hành nghiên cứu giá trị dinh dưỡng qua việc phân tích thành phần sinhhoá trong thịt của Tu hài thu được ở Cát Bà Qua đó cho thấy đây là đối tượngthơm ngon và có giá trị dinh dưỡng rất cao đặc biệt là cung cấp hàm lượngaxit béo không no
Trong năm 1979, Nguyễn Xuân Dục và Nguyễn Mạnh Hùng đã tiếnhành nghiên cứu, đánh giá điều tra trữ lượng và dẫn liệu về sinh thái tự nhiên
của Tu hài (Lutraria philippinarum, Deslays ) ở vùng biển Cát Bà” Qua đó
cho thấy Tu hài chủ yếu phân bố ở các quần đảo
Năm 1999 Đỗ Văn Minh, Hoàng Nhật Sơn đã tiến hành nghiên cứu vềlĩnh vực sản xuất giống Tu hài thông qua các kết quả nghiên cứu có từ trước
để đem ra một số kết quả nghiên cứu sản xuất giống Tu hài Cát Bà.
Sau một thời gian khá dài cho tới năm 2001, Tu hài lại được tiếp tụcnghiên cứu Lê Xân và cộng sự (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I)bước đầu đã tìm hiểu đặc điểm sinh học sinh sản và tiến hành sản xuất nhân
tạo giống Tu hài Lutraria philippinarum Deshsayes ở vùng biển Cát Bà.
Trang 21Sau đó Hà Đức Thắng, Nguyễn Xuân Dục và cộng sự cũng tiếp tụcnghiên cứu cho sản xuất giống nhân tạo và nuôi đối tượng này ở vùng biểnCát Bà - Hải Phòng và Quảng Ninh và bước đầu đạt hiệu quả nhất định.
Năm 2003, trong khuôn khổ dự án SUMA của bộ Thuỷ sản về hỗ trợnghề nuôi thủy sản nước mặn đã tiến hành nuôi thử nghiệm Tu hài ở biểnQuảng Ninh
Năm 2004, Vũ Văn Toàn và Đặng Khánh Hùng với sự giúp đỡ củaSUMA đã xuất bản tài liệu “ Kỹ thuật ương giống và nuôi Tu hài thươngphẩm”
Năm 2005, trong tuyển tập quy trình công nghệ sản xuất giống thuỷsản, Hà Đức Thắng đã công bố quy trình công nghệ sản xuất giống Tu hài
Trong đó tác giả đã nêu một số đặc tính sinh học của Tu hài và kỹ thuậtsản xuất giống nhân tạo
Tháng 9 năm 2010 Trung tâm giống Thủy sản tỉnh Quảng Trị đã ươngnuôi thành công 40 kg Tu hài tại trại sản xuất giống nươc mặn lợ Cửa Tùng
Hiện nay nghề nuôi Tu hài đã được một số tổ chức và cá nhân lựa chọnnuôi với kết quả khá khả quan Công ty TNHH Đỗ Tờ được sự chuyển giaocông nghệ của viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I tiến hành nuôi Tu hài ởđảo Bánh Sữa xã Bản Sen - huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh Tháng 4 năm
2009, trung tâm khuyến nông, khuyến ngư tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã hỗ trợngười dân triển khai thí điểm mô hình nuôi Tu hài
Bên cạnh đó còn có nhiều mô hình nuôi kết hợp giữa Tu hài và tômhùm để cải tạo môi trường sinh thái ở vịnh Xuân Đài và đầm Cù Mông Tuynhiên phương thức và kỹ thuật nuôi Tu hài còn gặp nhiều khó khăn cần phảitiếp tục được nghiên cứu
Trang 222.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng tảo trong sản xuất giống động vật thủy sản trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Giá trị dinh dưỡng của vi tảo
Tảo đơn bào là thức ăn tươi sống đặc biệt quan trọng cho tất cả các giai
đoạn phát triển của động vật thân mềm hai vỏ (Bivalvia) như: Hầu, Vẹm,
Điệp, Sò Chúng còn là thức ăn cho ấu trùng của hầu hết các loài tôm, cá, ốc
và cho các động vật phù du Mặc dù có rất nhiều loài tảo đã và đang được sửdụng trong nghề nuôi trồng hải sản Tuy nhiên, không phải tất cả chúng đềumang lại hiệu quả như nhau cho sự sinh trưởng và phát triển của đối tượngnuôi Sự khác nhau đó được thể hiện ở kích cỡ và khả năng tiêu hoá của mỗiloài tảo khác nhau cũng như thành phần sinh hoá của tảo và nhu cầu dinhdưỡng của từng đối tượng nuôi (Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv, 2004)
Tảo đơn bào có giá trị trong nuôi trồng thuỷ sản phải có kích thướcphù hợp, 1 - 15 μm cho những loài ăn lọc, 10 - 100 μm cho những loài khác,tảo phải được tiêu hoá dễ dàng và không chứa độc tố Đã có hàng trăm loàitảo được thử nghiệm làm thức ăn, nhưng cho tới nay chỉ khoảng 20 loài tảođơn bào được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thuỷ sản Tính ưu việt củatảo đơn bào là không gây ô nhiễm môi trường, cung cấp đầy đủ các vitamin,khoáng chất, vi lượng, đặc biệt là chúng chứa rất nhiều loại acid béo không
no Hơn nữa, tảo đơn bào có tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng thíchứng với những thay đổi môi trường như: nhiệt độ, ánh sáng nên được nuôithu sinh khối lớn làm thức ăn cho nhiều đối tượng thủy sản (Vũ Dũng vàctv,1974)
Các chất cấu thành nên khối lượng khô của vi tảo chủ yếu gồm protein,lipid, carbohydrate Những chất này chiếm tới 90 - 95% khối lượng khô củatảo Phần còn lại chủ yếu là các acid nucleic (chiếm khoảng 5 - 10%)(Becker,1986, Fabregas và ctv, 1985; Fabregas và ctv, 1986)
Giá trị dinh dưỡng của vi tảo có thể thay đổi rất lớn ở các pha phát triển
và dưới các điều kiện nuôi khác nhau Kết quả nghiên cứu của Renaud, Thinh
Trang 23& Parry (1999), chỉ ra rằng tảo phát triển đến cuối pha logarit thường chứa 30
- 40% protein, 10 - 20% lipid và 5 - 15% carbohydrate Khi tảo được nuôi quapha cân bằng thì hàm lượng này bị thay đổi rất lớn, ví dụ như: khi nitrat giảmthì hàm lượng carbohydrate có thể tăng gấp 2 lần hàm lượng protêin
Bảng 2.2 Kích thước và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong vi tảo
(Theo Tài liệu kỹ thuật nghề cá của FAO, số 361, Rôma, 1996).
2.3.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng tảo trong sản xuất giống động vật thủy sản trên thế giới
Vi tảo là những sinh vật phù du điển hình được sử dụng rộng rãi trongcác công nghệ sản xuất giống hải sản Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiệncác công nghệ sản xuất giống hải sản thì việc nghiên cứu và từng bước hoànthiện các kĩ thuật phân lập, lưu giữ và nhân nuôi sinh khối sinh vật phù ducũng được thực hiện Những nghiên cứu về phân lập và sử dụng vi tảo trongsản xuất giống hải sản trên thế giới có từ rất sớm
Năm 1910, Allen và Nelson đã thành công trong việc phân lập và nuôisinh khối đơn loài một số đối tượng khuê tảo để ương nuôi ấu trùng động vậtkhông xương sống Cùng thời gian đó Bruce và cộng sự đã thực hiện việc
phân lập và lưu giữ thành công hai đối tượng tảo đơn bào là Isochrysis
galbana và Pyramimonas grossii để sử dụng làm thức ăn ương nuôi ấu trùng
hầu
Những thành công đáng ghi nhận nhất vai trò của thực vật phù du đượcthể hiện trong báo cáo của Hudinaga Trong quá trình ương giống tôm heNhật Bản, sử dụng thực vật phù du trong quá trình ương giúp ấu trùng tômphát triển tốt và vượt qua các giai đoạn biến thái, đánh dấu đầu tiên cho sự
Trang 24phát triển của lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất giống nhân tạo giống tôm heNhật Bản Do đó việc thành công trong việc phân lập và nhân nuôi sinh khối
tảo S.costatum đã giúp ông chọn lựa được nguồn thức ăn thích hợp để ương
nuôi ấu trùng tôm he Nhật Bản ở giai đoạn ấu trùng Zoea Việc nghiên cứu
nuôi và sử dụng S.costatum trong quá trình ương giống tôm he Nhật Bản tiếp
tục được thực hiện ở nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo đã góp phần hoànthiện qui trình sản xuất giống, nâng cao tỉ lệ sống của ấu trùng tôm và bướcđầu đã tạo ra con giống nhân tạo Sau thành công của Hudinaga, nhiều côngtrình nghiên cứu sinh vật phù du sử dụng trong sản xuất giống hải sản đượcthực hiện cả về chiều sâu lẫn chiều rộng và được tiến hành ở nhiều quốc giatrên Thế giới (Wendy Fulks, Kevan L Main , 1991)
Trung Quốc là một trong những quốc gia có nhiều nghiên cứu và sửdụng sinh vật phù du trong sản xuất giống hải sản Từ năm 1940 đã xuất hiệnmột số công trình nghiên cứu và sử dụng vi tảo trong sản xuất giống hải sản.Năm 1991, đã có hơn 20 loài vi tảo được phân lập và nuôi phổ biến ở TrungQuốc Những nghiên cứu của Chu và cộng sự (1964), Chen và cộng sự (1978,1982) đã đưa ra qui trình phân lập, đặc điểm sinh học và qui trình nuôi một sốloài vi tảo sử dụng trong sản xuất giống hải sản Hầu hết các giống tảo đượcphân lập từ môi trường tự nhiên Sau khi có được giống thuần, tảo được lưugiữ và nuôi thuần trong các bình cầu từ 500ml - 5000ml Sinh khối tảo giốngđược nhân trong các bình có dung tích 20 - 20 lít
Trong lĩnh vực nghiên cứu về vi tảo, Đài Loan cũng có nhiều công trìnhnghiên cứu về phân lập, lưu giữ và sử dụng vi tảo trong sản xuất nhân tạo
giống hải sản Từ thành công sản xuất nhân tạo giống tôm sú khi sử dụng S.
costatum làm thức ăn ở giai đoạn zoea mà các loại vi tảo ngày càng được sử
dụng phổ biến trong ương nuôi ấu trùng các đối tượng tôm he khác Loài tảo
silic S costatum được thu thập từ nguồn giống có trong môi trường tự nhiên
sau đó nuôi phân lập lấy giống thuần để phục vụ cho sản xuất giống tôm sú
Kỹ thuật lưu giữ giống ban đầu được thực hiện rất đơn giản Từ nguồn tảo
Trang 25giống phân lập được, tảo được lưu giữ trong các bình tam giác 250 ml cóchứa 100ml nước biển và môi trường F2 Tảo lưu giữ được đặt trong phòngriêng với chế độ nhiệt độ là 200C, cường độ ánh sáng là 500 lux và chu kỳchiếu sáng : tối là 12 : 12 Nguồn giống tảo được cấy chuyển hai tuần 1 lần.Kết thúc một chu kì lưu giữ, một phần được giữ lại làm giống lưu giữ còn mộtphần được sử dụng cho nhân nuôi sinh khối (Smith và ctv, 1993).
Để phục vụ cho sản xuất giống đối tượng hải sản bên cạnh nhữngnghiên cứu về động vật phù du những nghiên cứu về vi tảo của Thái Lan cũngđược quan tâm Các đối tượng tảo đơn bào được thu thập và phân lập từnguồn giống có trong nguồn nước biển ven bờ hoặc bị nhiễm tạp trong quátrình nuôi sinh khối Môi trường sử dụng cho nuôi lưu giữ giống bao gồm:conway, F2, TMRL, môi trường Sato và Serikawa Tùy từng giống loài lưugiữ mà môi trường sử dụng có sự khác nhau Tảo giống được lưu giữ trongmột phòng riêng, nhiệt độ phòng duy trì ở mức 20 - 250c bởi điều hòa khôngkhí Mỗi mét vuông của khu vực lưu giữ được chiếu ánh sáng trắng bởi 4bóng đèn Neong 40 wat Tảo nuôi được lưu giữ trong các bình tam giác hoặctrong các ống nghiệm 20ml Các bình tam giác hoặc các ống nghiệm lưu giữtảo được đặt cách xa bóng đèn từ 10 - 20 cm để tránh ảnh hưởng nhiệt nhưngvẫn bảo đảm ánh sáng thích hợp cho các ống lưu giữ tảo Quá trình lưu giữ vàthực hiện cấy chuyển như sau: từ nguồn giống tảo phân lập được cho vào cácống nghiệm 20ml đã được bổ sung môi trường nuôi và được giữ trong phònglưu giữ từ ba đến bốn ngày Hàng ngày lắc nhẹ các ống nghiệm giữ giống tảo
2 lần Sau đó tảo được chuyển sang các dung tích lớn hơn (bình tam giác 250
và 500 ml) và các bước thực hiện cũng được thực hiện tương tự (Lee vàTamaru, 1993)
Thức ăn tươi sống được coi là yếu tố quan trọng nhất cho việc thựchiện sản xuất giống các đối tượng hải sản tại Singapore Những nghiên cứu về
vi tảo được thực hiện trên nhóm đối tượng khuê tảo nhằm phục vụ cho sảnxuất giống tôm he và nhóm đối tượng tảo xanh để làm thức ăn cho nuôi luân
Trang 26trùng và bổ xung vào bể ương cá Nguồn giống tảo được lưu giữ trong cácphòng lưu giống riêng biệt Có hai loại phòng được thử nghiệm cho nghiêncứu lưu giống vi tảo Một dạng phòng được thiết kế chuyên cho việc nuôi duytrì các giống tảo Một dạng phòng khác là dạng phòng lưu giống để phục vụcho việc nhân nuôi và cung cấp sinh khối giống Nguồn tảo giống được lưugiữ trong các bình tam giác 125 ml và được đặt trong phòng thí nghiệm cógắn điều hòa không khí Sử dụng môi trường Conway cho lưu giữ các giống
vi tảo Kỹ thuật thực hiện lưu giữ giống tảo như sau: mỗi bình tam giác 125
ml được cấp vào 100ml nước biển và bổ sung 0,2ml môi trường Conway.Trong phòng lưu giống, mật độ tảo giữ giống trong các bình tam giác là 6 -8.104tb/ml cho N oculata và 3 - 4.104 tb/ml cho T tetrathele Trong phòng
nuôi duy trì mật độ tảo đưa vào các bình thấp hơn 10 lần Các bình giữ tảogiống được đặt dưới ánh sáng liên tục được chiếu bởi hai bóng đèn neong 40wat Hệ thống dàn đèn chiếu sáng được treo cao cách các bình giữ giống tảo
từ 15 - 20 cm Để hạn chế sự nhiễm tạp trong quá trình lưu giữ giống, cácbình giữ giống tảo không được sục khí Thay vào đó các bình lưu giống tảođược lắc hàng ngày để hạn chế sự lắng đáy của các tế bào tảo Với cách thứctrên tảo trong các phòng nuôi duy trì giữ giống được trong 30 ngày, tảo trongcác phòng giữ giống giữ được 5 - 6 ngày Sau thời gian trên tảo phải được tiếnhành cấy chuyển giống trở lại để thực hiện một chu kì lưu giống tiếp theo
2.3.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng tảo trong sản xuất giống động vật thủy sản tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ sảnxuất giống hải sản thì nghiên cứu về sinh vật phù du của chúng ta cũng đượcquan tâm Sau những điều tra nguồn lợi sinh vật phù du, những nghiên cứu đisâu vào lĩnh vực lưu giữ, nuôi sinh khối sinh vật phù du cũng được đẩy mạnh
Năm 1974, tác giả Vũ Dũng đã phân lập được tảo Skeletonema costatum bằng
Trang 27ống hút mao quản trên kính hiển vi và nuôi nhân giống ở môi trường Alennelsson thành công Từ 1975 - 1981, Vũ Dũng và Vũ Văn Toàn đã tiến hànhnhững thí nghiệm về chọn lọc môi trường, chọn lựa một số điều kiện sinh thái
thích hợp cho nuôi Chaetoceros sp, Skeletonema costatum Đến 1982 các đối tượng Tetraselmis sp., I galbana, Ch melleri bắt đầu được nghiên cứu nhằm
phục vụ sản xuất giống hải sản
Skeletolema costatum là đối tượng được nghiên cứu khá đầy đủ nhằm
phục vụ cho sản xuất giống tôm sú Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng S.
costatum có nhiều ưu điểm trong quá trình nuôi sinh khối và thích nghi tốt
trong điều kiện khí hậu Việt Nam Trong điều kiện thời tiết xấu, nhiệt độ thấp
và ánh sáng yếu S costatum vẫn có thể đạt mật độ 50.104tb/ml sau 24 giờnuôi Vũ Dũng đưa ra qui trình lưu giữ và nuôi sinh khối S costatum Giống
S.costatum được lưu giữ trong tủ bảo quản có nhiệt độ 50C Sinh khối tảo S.
costatum được sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng tôm ở giai đoạn Zoea (Vũ
Dũng và ctv, 1974)
Bên cạnh việc sử dụng sinh khối tảo trong ương nuôi ấu trùng tôm thìmột số loài tảo đơn bào cũng được nghiên cứu và sử dụng trong sản xuất nhân
tạo động vật thân mềm hai mảnh vỏ Sau năm 1990, các loài Chlamydomonas
sp, Dunaliella sp, C.calcitrans được sử dụng trong sản xuất giống trai biển Các đối tượng Plastymonas sp, Chlorella sp và C.muelleri được sử dụng
trong sinh sản nhân tạo Điệp quạt và Hải sâm
Nghiên cứu của Lê Viễn Chí và cộng sự về nuôi một số loài tảo đơn
bào làm thức ăn cho ấu trùng trai biển (Pteria martensii) cho thấy các đối tượng Chlamydomonas sp, Dunaliella sp, Chaetoceros calcitrans có khả năng
sử dụng làm thức ăn ương nuôi ấu trùng trai ngọc Tiếp thời gian sau đó VũDũng và ctv thực hiện đề tài phân lập, giữ giống và nuôi thu sinh khối một sốloài động thực vật phù du làm thức ăn cho ấu trùng tôm, của, cá ở giai đoạn
đầu Kết quả của đề tài đã chọn ra hai giống tảo đơn bào N oculata và
Chlorella sp được sử dụng cho nuôi sinh khối luân trùng và được bổ sung cho
Trang 28các bể ương giống.
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Ấu trùng Tu hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854) giai đoạn
Veliger đến đầu Spat
* Vật liệu nghiên cứu:
Các loài tảo đơn bào: Isochrysis galbana