1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)

40 2,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ăn cũng không được sử dụng triệt để vì khi đó men tiêu hoá khó ngấm đều vàobên trong thức ăn.Độ tiêu hoá thức ăn tăng khi số lần cho ăn tăng, vì cùng với một lượngthức ăn trong ngày nếu

Trang 1

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên em xin được bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc nhất tới PGS TS.Trần Thị Nắng Thu, người đã tận tình định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ em trongsuốt quá trình thực tập và làm khóa luận tốt nghiệp

Em xin gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu Học viện Nông Nghiệp ViệtNam cùng với các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản và cácbác, các cô chú ở Trại cá, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạođiều kiện tốt cho em làm đề tài

Lời cám ơn chân thành nhất em gửi tới gia đình, bạn bè và tập thể lớpBHTS-K55, những người đã động viên tinh thần và giúp đỡ em trong suốt quátrình học tập và làm đề tài

Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 2014

Sinh viên

Hoàng Thu Thương

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Trang 3

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Ctv: Cộng tác viên

CTTA: Công thức thức ăn

NTTS: Nuôi trồng thuỷ sản

ĐVTS: Động vật thuỷ sản

NCNTTS: Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản

TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 4

Phần I

MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá trắm đen (Mylopharyngodon piceus) là loài đặc trưng phân bố của

vùng Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân,2001), cá trắm đen được phát hiện ở Trung Quốc từ hàng nghìn năm trước đâygiống như các loài cá truyền thống Mè trắng, Mè hoa, Trắm cỏ (Nico và ctv.2005) Đây là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt cá thơm ngon, là loại thức ăn bổdưỡng được người tiêu dùng Việt Nam cũng như Trung Quốc ưa chuộng ỞTrung Quốc đây là một trong 4 loài cá được nuôi phổ biến nhất, với sản lượnghàng năm đạt 170.000 tấn (Leng Xiang-Jun, Wang Zun, 2003) và thường được

sử dụng như một loại thuốc quý (Nico et al., 2005) Ở Việt Nam, mô hình nuôi

cá trắm đen phát triển mạnh ở các tỉnh phía Bắc như Hải Dương, Bắc Ninh,Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Giang (Nguyễn Thị Diệu Phương và ctv, 2009) vàmang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao từ 300 – 464 triệu đồng/ha/năm (KimVăn Vạn và ctv, 2010)

Gần đây, mô hình nuôi cá trắm đen được áp dụng tại một số tỉnh thuộcTrung du và miền núi phía Bắc - một trong những vùng khó khăn nhất ViệtNam Bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp xóa đói giảm nghèo cũngnhư đảm bảo an ninh lương thực trong vùng Thức ăn được sử dụng nuôi cá trắmđen là thức ăn công nghiệp có độ đạm từ 28 – 35% (Kim Văn Vạn và ctv, 2010).Tuy nhiên, một cản trở chính đối với người nuôi trong vùng là giá thành củanguồn thức ăn này ngày càng tăng cùng với sự tăng giá bột cá - một nguồnprotein chính Để phát triển rộng rãi mô hình nuôi cá trắm đen, việc nghiên cứunguồn thức ăn chi phí thấp, phù hợp với những hộ nuôi trong vùng là rất cầnthiết Trong khi đó, Trung du và miền núi phía Bắc có một lợi thế là vùng sảnxuất dư thừa các sản phẩm nông nghiệp, như ngô, sắn, đậu tương trong đó ngô

Trang 5

được coi là một thế mạnh của vùng Theo GSO (2012) toàn vùng sản xuất đượckhoảng 1.696.200 tấn ngô, đứng đầu cả nước Sản phẩm này thường được bánxuống dưới xuôi với giá tương đối rẻ để làm nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi

và thủy sản Vì vậy nghiên cứu sử dụng bột ngô có nguồn gốc trong vùng làmnguyên liệu trong thức ăn cho cá trắm đen sẽ là một cách làm giảm giá thànhthức ăn và tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ Tuy nhiên, hiện nay chưa

có một nghiên cứu nào xác độ tiêu hóa của bột ngô trong thức ăn cho cá trắm

đen Nghiên cứu mang tên “Xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm

thức ăn cho cá trắm đen (Mylopharyngondon piceus)” sẽ giúp giải quyết vấn

đề trên Nghiên cứu này là một phần trong dự án nhằm giải quyết tính cấp thiết

về thức ăn chi phí thấp ở tỉnh Thái Nguyên, nơi đầu tiên ở Trung du và miền núiphía Bắc triển khai mô hình “Ứng dụng Khoa học Công nghệ nuôi cá trắm đen

(Mylopharyngodon piceus) thương phẩm trong ao” Kết quả sẽ làm cơ sở xác

định tỷ lệ phối trộn phù hợp của bột ngô trong thức ăn chi phí thấp cho cá trắmđen

Trang 6

Phần IITỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÁ TRẮM ĐEN

Chi (Genus): Mylopharyngodon

Loài (Species): M piceus, Richardson,1846

Tên chính thức: Mylopharyngodon pineus (Richardson, 1846).

Hình 2.1: Cá trắm đen (Mylopharyngodon pineus)

2.1.2 Gía trị kinh tế, y học của cá trắm đen

Cá Trắm đen là loài cá có giá trị kinh tế cao, thịt cá thơm ngon, là loạithức ăn bổ dưỡng được nhân dân Việt Nam cũng như ở Trung Quốc ưa chuộng.Người Trung Quốc thường sử dụng cá Trắm đen như một loại thuốc quý (Nico

và ctv 2005)

Trang 7

Thành phần thịt cá Trắm đen chứa 19,5% Protein, 5,2% Lipid, nhiềuCanxi, Phospho, sắt, sinh tố B1, B2, PP có chất lượng dinh dưỡng cao hơn cảnhiều loài cá có giá trị kinh tế như cá Chép (16% Protein, 3,6% Lipid), cá Quả(18,2% protein, 2,7% Lipid) hay ngay cả trứng gà (10,9 % Protein, 0,5% Lipid),thịt gà (12,3% Protein)… vì vậy cá Trắm đen là loại thức ăn tốt cho người già,trẻ em, phụ nữ có thai và người bị bệnh tim mạch (Từ Giấy và Bùi Thị NhuThuận, 1976); Với những giá trị trên, giá thịt cá Trắm đen thịt trên thị trườngbao giờ cũng cao, ở Hà Nội giá cá Trắm đen cỡ 3-4 kg từ 45.000-50.000VNĐ/kg, cỡ >5 kg giá 60.000- 80.000VNĐ/kg (Nguyễn Thị Diệu Phương vàctv, 2003).

2.1.3 Phân bố và tình hình nuôi

a Phân bố:

Trên thế giới, cá trắm đen phân bố ở những lưu vực Thái Bình Dươngthuộc Đông Á từ phía Nam sông Amua tới phía Đông Liên Xô và miền Bắc ViệtNam nhưng chủ yếu phân bố ở Trung Quốc (Nico và ctv, 2005)

Ở Việt Nam, cá trắm đen phân bố tự nhiên ở các sông lớn như sông Hồng,sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam Loài cá này thường thấy ở vùng đồng bằngBắc Bộ, giới hạn thấp nhất về phía Nam của loài cá này là sông Lam thuộc tỉnhNghệ An (Nguyễn Văn Hảo và Ngô sỹ Vân, 2001)

b Tình hình nuôi

Cá trắm đen là loài cá nuôi quan trọng ở Đài Loan, Fuzian, Quảng Đông

và những vùng phía Nam bởi vì loài cá này sinh trưởng không nhanh ở các vùngnhiệt đới và cận nhiệt đới

Ở Việt Nam, nuôi cá trắm đen xuất hiện rải rác ở một số tỉnh thuộc Đồngbằng sông Hồng như Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây,Vĩnh Phúc, Hà Nam, Bắc Giang Hiện nay ở các tỉnh chỉ có tổng số 30 hộ nuôi

cá trắm đen, nhiều nhất ở Ninh Bình, Hưng Yên và Hải Dương (Nguyễn ThịDiệu Phương, 2009)

Trang 8

2.1.4 Đặc điểm hình thái

Cá trắm đen có thân dài, gần tròn, đầu vừa phải, phần cuống đuôi dẹp 2bên Mắt bé hơn so với đầu, khoảng cách 2 ổ mắt rộng Mõm hơi nhọn, ngắn Lỗmũi hơi lớn, nằm gần mắt hơn so với mõm Miệng hướng về phía trước hìnhmóng ngựa Xương hàm trên và xương hàm dưới bằng nhau Răng hình cốinghiền Rãnh sau môi đứt quãng ở giữa Màng mang rộng Lược mang thưangắn

Vây lưng có khởi điểm ngang bằng với khởi điểm của vây bụng, gần gốcvây đuôi hơn mút mõm, viền sau bằng hoặc hơi lồi Các vây đều không có gaicứng Vây ngực chưa đạt tới vây bụng Vây bụng chưa đạt tới vây hậu môn Vâyđuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ bằng nhau Hậu môn nằm sát gốc vây hậu môn

Đường bên nằm giữa thân và giữa cán đuôi Thân cá có vẩy to, xếp chặtchẽ Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ, chỉ dài bằng 1/4 chiều dài vây bụng Bụngtròn, phủ vẩy Toàn thân có 37 đốt sống Bóng hơi hai ngăn

Thân cá và các vây có màu xám đen, lưng có màu đậm hơn bụng

2.1.5 Đặc điểm sinh sản

Cá trắm đen thành thục sau 3 năm tuổi, cá đẻ trứng trôi nổi Mùa vụ sinhsản từ tháng 5 đến tháng 7 hằng năm nhưng đẻ rộ nhất vào tháng 6 và tháng 7.Đến mùa sinh sản, cá trắm đen thường di cư lên vùng trung lưu của các con sôngtìm nơi có nước chảy mạnh đủ điều kiện đẻ trứng

2.1.6 Đặc điểm môi trường sống

Cá trắm đen là loài sống ở hạ lưu các sông, các đầm hồ ven sông và đồngruộng Cá sống ở tầng giữa và tầng đáy, rất ít lên mặt nước, sống nhiều ở nơinước tĩnh và dòng chảy yếu

Ngưỡng nhiệt độ thích hợp của cá trắm đen từ 0,5-400C, đôi khi thấy cásống ở nước lợ pH từ 6-10 thích hợp nhất từ 7-8,5, chịu được hàm lượng ôxy2mg/l

Trang 9

2.1.7 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Trắm đen là loài phàm ăn, khi nhỏ ăn động vật phù du, ấu trùng muỗi,

ấu trùng chuồn chuồn, khi lớn cá chuyển sang ăn động vật đáy như trai, ốc, hến,tôm, cua và côn trùng (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001; Vũ Trung Tạng

và Nguyễn Đình Mão, 2005) Cá từ 0,5 kg trở lên có thể ăn được ốc lớn (Thái

Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2004), 4 tuổi có khả năng tiêu thụ 1-2 kg nhuyễnthể/ngày, chúng sử dụng răng hầu để nghiền nát vỏ nhuyễn thể, lọc lấy cơ thịtmềm rồi nhằn ra những mảnh vỏ vụn Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị DiệuPhương (2008) để tăng được 1kg trọng lượng cá Trắm đen cần sử dụng từ 15 –20kg ốc tính cả vỏ Bên cạnh đó trong điều kiện nuôi ao hồ, cá Trắm đen cũng

ăn được các thức ăn như khô dầu, cám gạo, lúa mạch (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng

Lư, 2004)

2.1.8 Đặc điểm sinh trưởng

Cá Trắm đen thuộc loại cá có kính thước lớn, chúng lớn nhanh nhất từnăm thứ 2 đến năm thứ 4, cỡ khai thác trung bình từ 2 tới 5 kg Những nghiêncứu quan hệ về tuổi, chiều dài, khối lượng cá Trắm đen ở Việt Nam (tại sôngHồng năm 1964) và ở Mỹ được tổng hợp ở bảng 1 Như vậy những ghi nhận ởViệt Nam về cá Trắm đen to và nặng nhất là 40-50 kg, nhưng theo tài liệu của

Mỹ thì cá Trắm đen dài nhất là 2 m, có khối lượng tới 70 kg (Nico và ctv 2005)

và có tuổi thọ là 15 năm (Crosier và Mollo)

Bảng 2.1 Quan hệ về tuổi, chiều dài, khối lượng cá Trắm đen

Trang 10

(cm) (kg)

1+ 26,5 0,5 Mai Đình Yên (1993) trích trong

Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân(2001)

- - 40-50 Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2001)

Vũ Trung Tạng, Nguyễn Đình Mão(2005)

Tuy nhiên do hạn chế về điều kiện môi trường sống và thức ăn nên cáTrắm đen nuôi ở ao thường lớn chậm so với cá ở đầm hồ tự nhiên Cá Trắm đenthương phẩm cỡ 2,5 kg thường được nuôi từ 2 đến 3 năm (Thái Bá Hồ và NgôTrọng Lư, 2004)

2.2 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÁ TRẮM ĐEN

2.2.1 Nhu cầu protein và axit amin

* Nhu cầu protein

Nhu cầu protein trong thức ăn của các loại cá nước ngọt thường dao độngtrong khoảng từ 25-55%, trung bình khoảng 30% Nhu cầu protein tối ưu củamột loài cá nhất định phụ thuộc vào nguyên liệu chế biến thức ăn, giai đoạn pháttriển của cơ thể và nhiều yếu tố bên ngoài khác (Vũ Duy Giảng, 2007)

Hàm lượng protein cần thiết trong giai đoạn cá trắm đen hương là 41%, cá

2 tuổi là 33% và cá trưởng thành là 28% (Yang Guohua và ctv, 1981)

Nhu cầu protein trong thức ăn của cá trắm đen trong giai đoạn cá hương là40%, giai đoạn cá giống là 35%, giai đoạn cá thịt là 30% (Leng Xiang-Jun vàWang Zun, 2003)

* Nhu cầu các axit amin thiết yếu

Trang 11

Cá trắm đen cũng giống như các loài cá khác, cần 10 loại axit amin thiếtyếu bao gồm: Lysine (Lys), Tryptophane (Trp), Methionine (Met), Isoleucine(Iso), Leucine (Leu), Arginine (Arg), Histamine (His), Phenylanine (Phe),Valine (Val), Threonine (Thr), nhu cầu về lượng axit amin trong thức ăn của cátrắm đen được trình bày trong bảng 2 dưới đây.

Bảng 2.2 Nhu cầu của cá trắm đen với 10 axit amin trong thức ăn Axit amin thiết yếu Nhu cầu (% thức ăn) Nhu cầu (% protein)

(Nguồn: Lee Dan và ctv, 2006)

2.2.2 Nhu cầu chất béo và axit béo

Khi sử dụng dầu cá mặt ngựa làm nguồn lipid chính trong khẩu phần ăncủa cá trắm đen, nhu cầu lipid của cá có khối lượng từ 44,23-59,69g và 10,25-13,73g lần lượt 6,2% và 6,7% Khi hàm lượng chất béo trong thức ăn dưới 3%hoặc trên 9% thì cá trắm đen gầy, sinh trưởng chậm, tỷ lệ tăng trọng giảm Nhucầu lipid trong thức ăn cá trắm đen một tuổi là 6,03% (Wang Zun và ctv, 1987)

Nhiều nghiên cứu khác cũng được tiến hành và đưa ra kết luận: đối với cámột tuổi và cá trưởng thành, lượng lipid phù hợp nhất là 6% và 4,5%

Nhìn chung, nhu cầu axit béo của các loài cá nước ngọt có 4 loại: C18H2n-6,

C18H3n-3, C20H5n-3 và C22H6n-3 Khi thiếu chất béo trong thức ăn (không có các tổchức mỡ) hoặc không có đủ các axit béo (có cho thêm 5% axit lauraldehyde), cá

Trang 12

có các biểu hiện: mắt lồi ra, vảy dựng đứng, thân màu đen, mang xung huyết và

tỷ lệ chết cao (Wang Zun và ctv, 1986)

2.2.3 Nhu cầu năng lượng

Hiện nay, những nghiên cứu liên quan đến nhu cầu về năng lượng của cátrắm đen không nhiều

Nghiên cứu sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 35-40% trên đối tượng cátrắm đen giống đã xác định tỷ lệ năng lượng đạm C/P = 38,2KJ/g (Dai Xiang-qing và ctv, 1988)

Sử dụng thức ăn tổng hợp tinh chế biến cho cá trắm đen giống đã tìm ra tỷ lệnăng lượng đạm phù hợp nhất (DE/P) = 41,034 - 49,560KJ/g (Wang Zun, 1992)

2.2.4 Nhu cầu cacbonhydrat

Các hợp chất cacbonhydrat có thể được phân thành hai loại đường: loạiđường có thể tiêu hóa hay là hợp chất không chứa đạm (NFE) và một loại làcellulose thô (CF) Đường dễ tiêu hóa trong thức ăn chủ yếu là tinh bột

Hàm lượng đường trong thức ăn của cá trắm đen giống, cá trắm đen 1tuổi nuôi qua đông và cá thịt lần lượt là 30%, 35%, 35% (Li Ai-jie, 1996).s

Cá trắm đen không có men phân giải các hợp chất cellulose, nhưng trongthức ăn vẫn cần 1 lượng thích hợp cellulose (Leng Xiang – Jun và Wang Zun,2003) Khi hàm lượng cellulose nằm trong khoảng từ 8-16% thì tốc độ sinhtrưởng của cá trắm đen là rất tốt

2.2.5 Nhu cầu vitamin

Nhu cầu vitamin ở cá cũng như ở động vật khác là không nhiều nhưng vớimột lượng nhỏ bổ sung vào thức ăn hỗn hợp là rất cần thiết cho sự phát triển củavật nuôi (Vũ Duy Giảng, 2007)

Nghiên cứu của Sở nghiên cứu thủy sản Thượng Hải đã chỉ ra rằng khihàm lượng vitamin trong thức ăn nếu quá cao (24%) hoặc không bổ sungvitamin thì tốc độ sinh trưởng của cá trắm đen chậm, hệ số thức ăn cao, hiệu quả

Trang 13

sử dụng đạm thấp Hàm lượng vitamin trong thức ăn của cá trắm đen thấp hơn8% là thích hợp (Lee Dan và ctv, 2006).

Bảng 2.3 Nhu cầu vitamin của cá trắm đen Vitamin Nhu cầu (mg/kg thức ăn)

(Nguồn: Lee Dan và ctv, 2006)

2.2.6 Nhu cầu khoáng

Trong tự nhiên, cá trắm đen đã được cung cấp một lượng khoáng nhấtđịnh từ môi trường, đặc biệt là thức ăn trai, ốc Tuy nhiên, khi nuôi thương phẩm

cá trắm đen phải sử dụng thức ăn công nghiệp nên thiếu hụt đi lượng khoáng tựnhiên Do đó, trong thức ăn hỗn hợp cho cá trắm đen phải bổ sung hai loạikhoáng đa lượng quan trọng nhất là canxi và photpho, có thể bổ sung bằng

Ca3(PO4)2 Các loại khoáng khác được bổ sung qua premix khoáng, tuy nhiênhàm lượng và tỷ lệ các loại khoáng này có thích hợp cho cá trắm đen hay khôngthì cần phải xem xét và nghiên cứu

Bảng 2.4 Thành phần premix khoáng cho thức ăn cá trắm đen

Muối vô cơ Lee Dan và ctv (2006)

Trang 14

(Nguồn: Lee Dan và ctv, 2006; Leng Xiang-Jun và Wang Zun, 2003)

2.3 TÍNH CHẤT NGUYÊN LIỆU SỬ DỤNG ĐỂ SẢN XUẤT THỨC ĂN CHO CÁ TRẮM ĐEN

*Bột ngô :

Bột ngô là nguyên liệu truyền thống được sử dụng phổ biến để làm thức ăn

tự chế Hiện nay bột ngô được sử dụng rất phổ biến trong chế biến thức ăn nuôithủy sản.Bột ngô được đưa vào sử dụng trong thí nghiệm là sản phẩm được xay

từ hạt ngô có thành phần protein trong hạt làtừ 8.5 – 10%,protein chính của ngôlàzein

Tỷ lệ lipid trong hạt từ 4 – 5 %.Trong chất béo của ngô có 50% là axitlinoleic, 31% là axit oleic, 13% là axit panmitic và 3% là Stearic Gluxit trongbột ngô khoảng 69% Ngô nghèo canxi, giàu photpho

2.4 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TIÊU HÓA CỦA CÁ

2.4.1.Thành phần và tính chất của thức ăn

Thức ăn có nguồn gốc thực vật (đặc biệt là protein) thường có độ tiêu hoáthấp hơn thức ăn có nguồn gốc động vật, do vách tế bào thực vật dày hơn và thườngkháng lại sự tiêu hoá Hàm lượng carbohydrate và chất sơ trong thức ăn quá cao sovới nhu cầu của cá sẽ làm giảm khả năng tiêu hoá của các chất dinh dưỡng khác

Độ tiêu hoá thức ăn cũng tăng cao khi say nhuyễn vì kích thước thức ăncàng nhỏ men tiêu hoá càng dễ thấm vào từng phân tử thức ăn Thức ăn đượcnấu chín hay qua gia nhiệt cũng tiêu hoá tốt hơn so với thức ăn sống

Trang 15

2.4.3.Giai đoạn phát triển

Trong quá trình phát triển hệ thống men tiêu hoá của tôm cá sẽ dần hoànthiện, nhu cầu về dinh dưỡng của các gíai đoạn cũng có sự thay đổi nên có ảnhhưởng tới sự tiêu hoá thức ăn Phần lớn các loài tôm cá ở giai đoạn trưởng thành

có khả năng tiêu hoá nguồn thức ăn thực vật tốt hơn giai đoạn nhỏ (Trần ThịThanh Hiền, 2009)

2.4.4.Trạng thái sinh lí của cá

Khi cá bị stress do đánh bắt hay nhiễm bệnh có độ tiêu hoá giảm rấtnhiều Nhịn đói lâu ngày cũng ảnh hưởng đến sự tiết các enzyme tiêu hoá nênảnh hưởng tới độ tiêu hoá (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

2.4.5 Các yếu tố môi trường

Các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, DO ,H2S… cũng ảnh hưởng tới

độ tiêu hoá của cá Đặc biệt là nhiệt độ Hoạt tính của các enzyme tiêu hoá ở cáthay đổi rất lớn khi nhiệt độ môi trường thay đổi Trong khoảng nhiệt độ thíchhợp, khi nhiệt độ tăng thì độ tiêu hoá cũng tăng

Ngoài ra các chất độc hại có trong môi trường cũng ảnh hưởng lớn đếnkhả năng tiêu hóa thức ăn của động vật thủy sản

2.4.6 Lượng thức ăn và tần số cho ăn

Lượng thức ăn và tần số cho ăn có ảnh hưởng lớn đến độ tiêu hoá thức ăn.Khi khối lượng thức ăn càng lớn thì tốc độ tiêu hoá thức ăn càng chậm và thức

Trang 16

ăn cũng không được sử dụng triệt để vì khi đó men tiêu hoá khó ngấm đều vàobên trong thức ăn.

Độ tiêu hoá thức ăn tăng khi số lần cho ăn tăng, vì cùng với một lượngthức ăn trong ngày nếu chia làm nhiều lần, men tiêu hoá sẽ hoạt động tốt hơn,thức ăn được tiêu hoá và hấp thu một cách triệt để

2.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ĐỘ TIÊU HÓA CỦA CÁ

2.5.1 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

Chất lượng thức ăn có ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng và sựphát triển của vật nuôi Vì vậy, trước khi quyết định sử dụng thức ăn chăn nuôicần phải phân tích thức ăn trong phòng thí nghiệm để xác định thành phần vàhàm lượng các chất dinh dưỡng Từ đó có thể phân loại được thức ăn và biết nó

có đạt tiêu chuẩn cơ bản hay không Tuy nhiên, phương pháp này chỉ cho thấygiá trị hóa học mà không thấy được giá trị sinh học của thức ăn, nên chưa phảnánh được giá trị thực tế của các chất dinh dưỡng trong thức ăn

2.5.2 Phương pháp xác định độ tiêu hóa thức ăn

* Độ tiêu hóa thức ăn của cá

Đối với tiêu chuẩn của Châu Âu độ tiêu hóa là một yếu tố quan trọng đểcho phép thức ăn đó có được lưu hành trên thị trường không Tuy nhiên trongtiêu chuẩn thức ăn lưu hành của Việt Nam không áp dụng tiêu chuẩn này

Rõ ràng là một chất dinh dưỡng nếu không được tiêu hóa, sẽ không đượchấp thu để tiến hành phản ứng dinh dưỡng của cơ thể và bị thải ra hoàn toàn.Cũng theo quy luật này, thức ăn sau khi động vật thủy sản ăn vào, một phầnđược hấp thu trong cơ thể, phần còn lại được thải ra ngoài qua mang và nướctiểu nhưng không đáng kể và phần lớn thải qua phân

Trang 17

Thức ăn đưa vào cơ thể vật nuôi

Thải qua mang Thải qua phân và nước tiểu

(Lượng không đáng kể)

Hình 2.2 Sơ đồ tiêu hóa thức ăn trên cá Trắm đen

Vì vậy, khi xây dựng một công thức thức ăn cần phải xác định độ tiêu hóacủa đối tượng thí nghiệm đối với từng nguyên liệu làm thức ăn Tỷ lệ tiêu hóacủa một chất dinh dưỡng nào đó trong thức ăn là tỷ lệ giữa phần tiêu hóa đượccủa chất dinh dưỡng so với lượng chất dinh dưỡng đó được đưa vào cơ thể vậtnuôi

Từ đó ta xây dựng công thức tính độ tiêu hóa của cá như sau:

Thức ăn ăn vào – thức ăn thải ra phân

Thức ăn ăn vào

Tuy nhiên, trong nguồn phân thải ra, ngoài lượng thức ăn không tiêu hóahoặc hấp thu, còn có những chất thải khác của cơ thể như xác của tế bào biểu

mô ruột bị tróc ra theo phân, vi khuẩn phân giải một phần bột đường, xơ thànhnhững chất CO2, CH4,… Xác tế bào biểu bì mô ruột làm tăng lượng proteintrong phân nên tỉ lệ tiêu hóa protein tìm được thường thấp hơn so với thực tế

Trang 18

Còn CO2, CH4,… thải ra ngoài làm cho tỷ lệ tiêu hóa nhóm glucid tìm được caohơn so với thực tế.

* Phương pháp xác định khả năng tiêu hóa

Trong nghiên cứu xác định độ tiêu hóa của động vật, có hai phương pháp

để áp dụng: phương pháp in-vivo (thực hiện trên đối tượng hoặc cơ quan), quátrình tiêu hóa tự nhiên trong ống tiêu hóa và phương pháp in-vitro (thực hiệntrong ống nghiệm), theo hình thức mô phỏng quá trình tiêu hóa bình thường củađối tượng Trong thủy sản người ta thường áp dụng phương pháp in-vivo để đo

độ tiêu hóa

Động vật thủy sản sống trong nước nên thức ăn thừa và phân đều lẫn ởtrong môi trường nước Do đó, để tách phần phân và phần thức ăn thừa nhằmxác định độ tiêu hóa thức ăn của động vật thủy sản thì khi áp dụng phương phápin-vivo người ta thường dùng phương pháp đo độ tiêu hóa gián tiếp Phươngpháp đo độ tiêu hóa gián tiếp là theo hình thức thay thế Ở đây, mẫu đại diện củathức ăn và phân động vật thủy sản cần một chất khó tiêu hóa được thêm vào chế

độ ăn uống như oxit crom (Cr203), HROM, HRA, Cs137, Cr51 để đánh dấu Trong

đó Cr203 được sử dụng phổ biến nhất với tỉ lệ trộn vào trong thức ăn là 0,5-1,0%

vì chất đánh dấu (Cr2O3) có đặc điểm là: (1) có tốc độ di chuyển giống dưỡngchất, (2) không tiêu hóa được và không tan trong nước, (3) không ảnh hưởngđến độ tiêu hóa và hấp thu các dưỡng chất khác Chất đánh dấu không tiêu hóa

và cũng không hấp thụ được nên khi xác định được tỷ lệ nồng độ chất đánh dấutrong thức ăn và trong phân, ta xác định được tỷ lệ tiêu hóa chất khô và được sửdụng để tính tỷ lệ tiêu hóa năng lượng và chất dinh dưỡng khác

Phương pháp này đã được sử dụng để xác định các hệ số tiêu hóa nănglượng, protein thô, carbohydrate, chất béo, và chất khô đối với một số loài cá(Windell và ctv, 1978; Cho và ctv, 1982)

Trang 19

2.5.3 Phương pháp thí nghiệm nuôi dưỡng đối tượng

Mỗi phương pháp đánh giá giá trị dinh dưỡng thức ăn đều có các ưu điểm

và nhược điểm riêng của nó Xác định giá trị của thức ăn bằng phương phápnuôi dưỡng sẽ khắc phục được phần lớn các nhược điểm nói ở các phương pháptrên Cách thức của phương pháp này là dùng thức ăn thí nghiệm cho đối tượngcần nghiên cứu Trên cơ sở đó, đánh giá chất lượng thức ăn thông qua các chỉtiêu theo dõi đối tượng như sinh trưởng, hệ số thức ăn (FCR,FCE)

2.6 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘ TIÊU HÓA

Độ tiêu hoá của thức ăn chịu ảnh hưởng bởi phương pháp thu phân.Phương pháp thu phân trực tiếp thường có độ tiêu hoá thức ăn cao hơn so vớiphương pháp thu phân gián tiếp do phương pháp thu phân gián tiếp thường cómột lượng phân thất thoát không thể xác định được và ngược lại phương phápthu phân trực tiếp thì thường lẫn thức ăn chưa tiêu hoá hết và dịch cơ thể(Spyridaskis, 1989)

Bảng 2.5 Độ tiêu hoá thức ăn của cá chẽm khi sử dụng các phương pháp

thu phân khác nhau.

(Nguồn: Spyridaskis, 1989)

Nghiên cứu độ tiêu hóa trên cá tra bằng hai phương pháp thu phân,

phương pháp thu phân lắng thích hợp hơn so với phương pháp mổ vì không phải

mổ quá nhiều cá Tuy nhiên,số liệu thu được từ phương pháp thu phân lắng cao hơn so với phương pháp mổ (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009)

Trang 20

Bảng 2.6 Độ tiêu hoá thức ăn của cá tra khi sử dụng các phương pháp thu

phân khác nhau.

Phương pháp

ADC Protein (%)

ADC năng lượng (%)

(Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009)

Nghiên cứu phương pháp thu phân trong hệ thống nuôi đối với một số loàithủy sản Đối với các loài thải phân dạng sợi như là cá rô phi, tôm sú thì ápdụng bằng phương pháp thu phân siphon hoặc dùng vợt để vớt phân Các loài cákhác có thể áp dụng hai phương pháp thu là thu phân tự lắng và thu phân liên tục(Guillaume và ctv, 2001) Trên thế giới, độ tiêu hoá nguyên liệu chủ yếu đượcnghiên cứu trên cá hồi, cá nheo Mỹ và cá rô phi

Bảng 2.7 Độ tiêu hoá của một số nguyên liệu trên cá nheo Mỹ

Nguyên liệu Protein

(%)

Lipid (%)

Carbohydrate (%)

Năng lượng (Cal/g)

(Nguồn: Halver và Hardy, 2002)

Ở Việt Nam, cá tra được nuôi công nghiệp phổ biến ở miền Nam, nên nhucầu hiểu biết về các nguyên liệu thường được dùng trong sản xuất thức ăn côngnghiệp ngày càng cao Thí nghiệm đo độ tiêu hóa một số nguyên liệu trên cá trađược thể hiện qua bảng 2.8 (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2009)

Ngày đăng: 18/12/2014, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Cá trắm đen (Mylopharyngodon pineus) - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Hình 2.1 Cá trắm đen (Mylopharyngodon pineus) (Trang 6)
Bảng 2.3. Nhu cầu vitamin của cá trắm đen   Vitamin Nhu cầu (mg/kg thức ăn) - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Bảng 2.3. Nhu cầu vitamin của cá trắm đen Vitamin Nhu cầu (mg/kg thức ăn) (Trang 13)
Hình 2.2. Sơ đồ tiêu hóa thức ăn trên cá Trắm đen - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Hình 2.2. Sơ đồ tiêu hóa thức ăn trên cá Trắm đen (Trang 17)
Bảng 2.6. Độ tiêu hoá thức ăn của cá tra khi sử dụng các phương pháp thu phân khác nhau. - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Bảng 2.6. Độ tiêu hoá thức ăn của cá tra khi sử dụng các phương pháp thu phân khác nhau (Trang 20)
Bảng 2.8. Độ tiêu hoá ADC (%) của một số nguyên liệu trên cá tra Nguyên liệu Vật chất khô Protein Năng lượng - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Bảng 2.8. Độ tiêu hoá ADC (%) của một số nguyên liệu trên cá tra Nguyên liệu Vật chất khô Protein Năng lượng (Trang 21)
Bảng 3.1. Thành phần nguyên liệu (%) phối chế trong thức ăn thí nghiệm Nguyên liệu Thức ăn đối chứng Thức ăn bột ngô - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Bảng 3.1. Thành phần nguyên liệu (%) phối chế trong thức ăn thí nghiệm Nguyên liệu Thức ăn đối chứng Thức ăn bột ngô (Trang 23)
Bảng 4.1. Thành phần hoá học của bột ngô dùng trong thí nghiệm và các sản phẩm từ ngô (%) - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Bảng 4.1. Thành phần hoá học của bột ngô dùng trong thí nghiệm và các sản phẩm từ ngô (%) (Trang 30)
Bảng 4.3 chỉ ra rằng không có sự khác nhau về độ tiêu hóa dưỡng chất giữa hai loại thức ăn thí nghiệm (P>0,05) - xác định độ tiêu hóa của bột ngô sử dụng làm thức ăn cho cá trắm đen (mylopharyngondon piceus)
Bảng 4.3 chỉ ra rằng không có sự khác nhau về độ tiêu hóa dưỡng chất giữa hai loại thức ăn thí nghiệm (P>0,05) (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w