1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa thác bà

79 799 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ được xây dựng năm 1962 và hoàn thành vào năm 1971, từ đó đến nay có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy: Hồ chứa Thác Bà không những có tiềm năng thuỷ điện, giao thông, thu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI KHOA CHĂN NUÔI & NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

= = = = = = = =

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài:

“ Tìm hiểu biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa Thác Bà ”

Người thực hiện : Đỗ Học Dân

Địa điểm thực tập : Trung tâm thủy sản Yên Bái

Người hướng dẫn : 1.ThS Ngô Sỹ Vân

2.TS Đào Huy Giáp

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nguồn lợi thủy sản hồ chứa đóng vai trò quan trọng trong chương trình xóa đói giảm nghèo của nhiều quốc gia Chương trình này đang trở thành một trong những hướng đi chiến lược và đạt hiệu quả cao trong việc cung cấp nguồn Protêin động vật, tạo thêm cơ hội việc làm cho cộng đồng dân cư miền núi Việc tận dụng nguồn lợi tự nhiên có sẵn này để phát triển thủy sản là một điều tất yếu và cần thiết của xã hội để góp phần nâng cao đời sống cộng đồng dân cư ở khu vực quanh hồ Việt NamViệt Nam nằm ở vị trí tận cùng phía Đông Nam của lục địa Châu Á, trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 3.260 Km bờ biển nên có nhiều dạng hình mặt nước khác nhau Toàn quốc có 2.360 con sông lớn nhỏ với mật độ giữa các vùng từ 0,3 km/km2 đến 4 km/km2, 231 hồ tự nhiên với diện tích 34.600

ha, 2.470 hồ chứa với diện tích 1.835.780 ha có khả năng phát triển thuỷ sản

Do mặt nước đa dạng, lại phân bố ở nhiều loại địa hình, độ cao và sinh thái khác nhau nên Việt Nam có nguồn lợi thuỷ sản nói chung và nguồn lợi cá nước ngọt nói riêng rất phong phú và đa dạng (Nguyễn Văn Hảo, 2005)

Hồ Thác Bà có diện tích khoảng 19.500 ha, trải dài trên hai huyện Lục Yên và Yên Bình của tỉnh Yên Bái Hồ được xây dựng năm 1962 và hoàn thành vào năm 1971, từ đó đến nay có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy: Hồ chứa Thác Bà không những có tiềm năng thuỷ điện, giao thông, thuỷ lợi, điều kiện khí hậu, du lịch mà còn có tiềm năng rất lớn về nuôi trồng thuỷ sản Khu hệ cá của hồ rất phong phú và đa dạng, có nhiều loài cá kinh tế quý hiếm như: Cá Lăng, cá Chiên, cá Anh Vũ, cá Quả, cá Bỗng, cá Chạch sông…

Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, hồ bị khai thác quá mức làm mất cân bằng sinh thái, nhất là về thuỷ sản Nghề cá đang xuống cấp nghiêm trọng,

Trang 3

khai thác quanh năm, khai thác bằng mọi hình thức để tận thu sản lượng, đánh lưới cỡ mắt rất nhỏ, biện pháp khôi phục và bảo vệ nguồn lợi cá không có hiệu quả Cho nên, khu hệ cá hồ ngày càng có nhiều biểu hiện xấu như: Sản lượng cá giảm sút, cá nuôi chiếm tỉ lệ rất thấp, cá tự nhiên kém giá trị chiếm

đa phần Các loài cá kinh tế quý hiếm của hồ ngày một giảm sút, công tác nghiên cứu sinh sản nhân tạo các loài cá đó chưa đem lại kết quả cao thì việc đánh giá đúng hiện trạng thành phần loài của khu hệ là hết sức cần thiết, góp phần giúp các cấp, các cơ sở có những giải pháp phát triển bền vững nghề cá

hồ chứa, khai thác tiềm năng hồ một cách hợp lý và có hiệu quả Trước tình

hình đó tôi tiến hành đề tài: “Tìm hiểu biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa Thác Bà”.

* Mục tiêu của đề tài:

- Góp phần vào việc đánh giá hiện trạng thành phần loài cá khu hệ cá

* Nội dung nghiên cứu:

- Tìm hiểu vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên của hồ

- Xác định hiện trạng thành phần loài cá trong khu hệ

- Xem xét sự biến động của chúng so với các năm trước

- Đánh giá ý nghĩa kinh tế của hồ

Trang 4

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Lịch sử nghiên cứu ngư loại

Ngư loại học (Ichthyology) là môn khoa học chuyên nghiên cứu về cá,

nghiên cứu các đặc điểm hình thái cá, phân loại cá, sinh thái cá và phân bố địa lý… Là một môn khoa học cơ bản chiếm một vị trí khá quan trọng không những trong khoa học: Lưu giữ, bảo tồn tính đa dạng sinh học… Mà còn góp phần phát triển bền vững nghề cá

2.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngư loại trên thế giới

Cùng với sự phát triển của rất nhiều nghành khoa học khác, sự phát triển của ngư loại học đã chia thành 3 thời kỳ khác nhau:

+ Thời kỳ thứ I: Nhiều người cho rằng nghiên cứu ngư loại học có tính chất khoa học bắt đầu từ Aristote (384 - 322 trước công nguyên) trong cuốn sách Historia animalum (lịch sử động vật) ông đã giới thiệu được 115 loài cá cùng với những dẫn liệu về sinh sản, di cư, nơi ở

+ Thời kỳ thứ II: Từ thế kỷ thứ XVII - XIX, ngư loại học bắt đầu được tích luỹ nhiều dẫn liệu khác nhau nhất là những dẫn liệu về phân loại, địa lý, phân bố và về khu hệ các loài cá ở các vùng nước khác nhau Về phân loại cá P.Artedi (1903 – 1734) (thuỷ điện) với 5 cuốn sách viết về cá, nổi tiếng lúc đó

là Bibliotheca ichty logica, Philosophia ichtyologica, Generapiscium Speciespiscium, Synorym piscium, C Linnaeus (1707 - 1778) với cuốn Systema nature (1735) đã đề ra "cách gọi tên cá 2 chữ" và đã giới thiệu 2600 loài cá G.Cuvier và A.Valenciennes với cuốn sách Histoire naturelle despoissons

+ Thời kỳ thứ III: Từ thế kỷ XX đến nay, những nghiên cứu ngư loại học đã tăng lên rất nhanh và toàn diện

Trang 5

Về phân loại học: D.S Jordan (1854-1931) giới thiệu các loài cá ở Bắc

Mỹ và Trung Mỹ G.A Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu các loài

cá ở Viện bảo tàng Anh L.S Berg (1876-1950) (Liên Xô) với tập hệ thống ngư loại M.Weber và L.F.Debeaufort (Hà Lan) với 10 tập viết về các loài cá

ở vùng đảo Châu Úc (1911-1953); K Matsubara (Nhật) với cuốn "Hình thái

và bảng tra cứu các loài cá" và rất nhiều nhà ngư loại khác của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã góp phần thúc đẩy nền ngư loại học phát triển (Ngô Sỹ Vân, 1997, Luận văn thạc sỹ Điều tra nghiên cứu hiện trạng khu hệ

cá hồ chứa Thác Bà – Yên Bái)

Ngày nay với các nhà ngư loại học như Pravdin, Chu Xinluo, Walter Rainboth, Mai Đình Yên đã đi sâu vào nghiên cứu chi tiết hơn và đã phân chia các vùng nghiên cứu, các khu hệ và phân bố địa lý Điều đó chứng tỏ ngư loại học thế giới đã và đang phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng

2.1.2 Lịch sử nghiên cứu ngư loại của Việt Nam

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc nghiên cứu về ngư loại Việt Nam cũng không ngừng phát triển Ngư loại học nước ta bắt đầu phát triển từ khá lâu vào nửa cuối thế kỷ XVIII cùng với sự hợp tác của các nhà khoa học phương tây nên công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại và khu hệ cá nước ta cũng phát triển vượt bậc và chia thành ba thời kỳ

Vào thời kỳ trước những năm 1881 ngư loại học hầu như chưa phát triển chủ yếu là những hiểu biết lẻ tẻ về đời sống các loài cá, nghề nuôi, nghề khai thác cá cũng như nghành chế biến được ghi trong cuốn sử học và kinh tế học thời phong kiến Phải đến năm 1881 thì việc nghiên cứu ngư loại mới được coi là bắt đầu và công trình đầu tiên là của H.E Sauvage công bố năm 1881 (Theo Bộ Thuỷ sản, 1996 Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam) trong tác phẩm

“Nghiên cứu về khu hệ cá Á châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương" Năm 1883, G.Tiran đã công bố thành phần loài, mô tả 7 loài trong đó có 5

Trang 6

loài mới Những năm tiếp theo có nhiều công bố về thành phần loài ở các thuỷ vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả như: H.E.Sauvage thu thập 10 loài cá ở Hà Nội trong đó có 7 loài mới (1884); L.Vallant thu thập

6 loài và mô tả 4 loài ở Lai Châu (1891); J.Pellegrin trong các phẩm: Cá nước ngọt Đông Dương, các loài cá thu thập ở Bắc Bộ (1906, 1907, 1928, 1932 ) Trong đó quan trọng nhất là kết quả phân tích mẫu thu thập ở Hà Nội của đoàn thường trực khoa học Đông Dương gồm 92 loài, trong đó mô tả 2 loài mới (1907) và 33 loài mới (1934); P Chevey (1930, 1935, 1936, 1937) trong

đó P Chevey thông báo bắt được cá chình Nhật ở sông Hồng Đặc biệt năm

1937, một công trình tổng hợp về cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam của P.Chevey và J.Lemasson “Góp phần nghiên cứu cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” được công bố Công trình này giới thiệu 98 loài cá thuộc 17 họ, đây là công trình tổng hợp đầy đủ nhất lúc bấy giờ

Nhìn chung giai đoạn 1881 đến 1954 nghiên cứu ngư loại học cũng khá phát triển nhưng chủ yếu là do người nước ngoài (chưa có cán bộ Việt Nam),

họ đã nghiên cứu khá nhiều về hình thái phân loại, khu hệ cá của cả nước

nhưng chỉ mới dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài, còn việc đi sâu vào nghiên cứu về nguồn lợi thì thời kỳ này chưa được thực hiện, tất cả các tài liệu gốc và các mẫu chuẩn phần lớn đang được lưu trữ tại bảo tàng lịch

sử tự nhiên Paris (Pháp) Tuy chưa nhiều và đầy đủ song đó cũng là nền tảng giúp cho các nhà ngư loại học Việt Nam nghiên cứu tiếp trong thời gian tiếp theo

Vào những năm 1945-1954, đất nước bị chiến tranh nên công tác nghiên cứu tạm ngừng, phải đến khi hoà bình được lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu mới được tiếp tục và vẫn là các nhà khoa học Việt Nam tiến hành

Trang 7

Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) hai miền Nam Bắc tạm thời bị chia cắt, nghiên cứu được tiến hành rộng rãi nhưng cũng có nhiều hạn chế do chiến tranh Các công tác nghiên cứu hầu như do các Trạm, Trại thực hiện ở các loại hình, vực nước khác nhau như sông, suối, hồ chứa, hồ tự nhiên, đầm, ao và ruộng Các công trình và tác giả tiêu biểu thời kỳ này ở miền Bắc có Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959): Dẫn liệu sơ bộ nguồn lợi ngòi Thia Đào Văn Tiến, Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961): Sơ bộ điều tra thành phần nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng Nguyễn Văn Hảo (1964): Dẫn liệu nguồn lợi cá hồ Ba Bể Ở miền Nam Việt Nam cũng có một số công trình do các nhà khoa học người Việt Nam và người nước ngoài thực hiện như Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Nguyễn Viết Trương, Trần Tuý Hoa, Kawamoto (1972), Fourmanvir (1964), M.Yamarmura (1966), Y.Taki (1975)

Nhìn chung, giai đoạn này cũng khá phát triển nhưng vẫn chưa mạnh

mẽ, do thời kỳ này khoa học kỹ thuật còn non trẻ ảnh hưởng phần nào trong việc định loại

Tiếp đến vào giai đoạn từ 1975 đến nay thì các nhà ngư loại học Việt Nam đã kết hợp với các nhà nghiên cứu nước ngoài trong công tác điều tra để

có thể lấp dần những thiếu sót mà trước đây chưa đề cập tới

Đặc biệt thời kỳ này có một số công trình đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây như: Định loại cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam của Mai Đình Yên (1978) đã lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khoá định loại, đặc điểm phân

bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài; Định loại cá nước ngọt Nam Bộ của Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan và Nguyễn Văn Trọng (1992) đã phân loại và mô tả 255 loài và Định loại cá nước ngọt vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Hương (1993) gồm 173 loài Một công trình có tính chất tổng kết các kết quả nghiên cứu cá từ

Trang 8

trước tới nay là nguồn lợi thủy sản Việt Nam của Bộ Thủy Sản (1996) Đây là công trình được nhiều nhà khoa học trong và ngoài ngành tham gia Riêng khu hệ

cá nước ngọt gồm 544 loài, 228 giống, 57 họ và 18 bộ khác nhau

Bộ cá chép (Cyprinifomes) gồm 4 họ, 100 giống, 327 loài và phân loài (chiếm 50,7%) trong đó họ cá chép (Cyprinidae) có tới 228 loài và phân loài

(chiếm 41,9%) và có nhiều loài có giá trị kinh tế cao

Bộ cá Nheo (Silurifmes) có 10 họ, 31 giống, 88 loài và phân loài (chiếm 16,2%), đáng lưu ý là các họ cá Lăng (Bagridae), họ cá Tra (Pangasiidae) cà họ

cá Nheo (Siluridae), đây là họ có nhiều loài cá kinh tế cao.

Bộ cá Vược (Percifomes) có 17 họ, 44 giống, 70 loài và phân loài (chiếm

12,9%)

Các loài cá kinh tế bao gồm 97 loài trong đó Bắc bộ 52 loài, Bắc Trung bộ

28 loài, Nam trung bộ 20 loài và Nam bộ 44 loài

Về đặc trưng phân bố đã nêu lên sự phân bố ở các vùng Bắc bộ 226 loài, Bắc Trung bộ 145 loài, Nam trung bộ 120 loài và Nam bộ 306 loài Phân bố theo sinh thái: Nước chảy, nước sông, nước ngầm và tính chất địa động vật của cá nước ngọt cả nước

Về đặc điểm sinh học cá kinh tế đã trình bày 54 loài chủ yếu phân bố, đặc điểm sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản và ý nghĩa kinh tế

Nhìn chung công tác nghiên cứu về cá ở nước ta trong những năm qua

đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, thúc đẩy nghề thuỷ sản nước nhà phát triển ngang tầm với những nước phát triển, góp phần không nhỏ đưa nền kinh

tế đất nước phát triển nhanh và mạnh nhưng bên cạnh đó không thể không có những tồn tại cần được quan tâm để từ đó có những biện pháp khôi phục và bảo vệ tính đa dạng sinh học, đồng thời cũng cần nghiên cứu sâu hơn nữa để

bổ sung, tu chỉnh lại danh pháp và thống nhất hệ thống phân loại cho phù hợp với hệ thống phân loại của thế giới

Trang 9

2.1.3 Lịch sử nghiên cứu Ngư loại ở hồ chứa Thác Bà – Yên Bái

Từ khi hồ được khởi công xây dựng năm 1962 đến nay, để đánh giá tiềm năng và khai thác nguồn tài nguyên của hồ, nhiều nhà khoa học đã đầu

tư nghiên cứu và có nhiều công trình khoa học ra đời Trong đó, ngành thuỷ sản đã có những tác giả với những công trình sau

Nguyễn Văn Hảo, 1962 – 1964, ngư loại học hồ Thác Bà và sông chảy, Tài liệu lưu trữ ở Viện nghiên cứu NTTS I (TLLT ở Viện NCNTTS I); Tác giả đã điều tra, nghiên cứu được 57 loài và nêu một số loài đặc hữu

Nguyễn Quốc Ân, 1972 Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra khu hệ cá và đặc điểm sinh học cá hồ chứa Thác Bà 1971–1972, (TLLT ở Viện NCNTTS I)

Tạ Quang Minh, 1976 Đặc điểm sinh học cá Mè hoa ở hồ chứa Thác

Nguyễn Văn Hảo, Phạm Xuân Am và Nguyễn Hữu Nghi, 1993 Báo cáo tổng kết đề tài: Điều tra hiện trạng nghề cá hồ chứa, (TLLT ở viện NCNTTS I) Các tác giả đánh giá cơ bản về năng suất, sản lượng và biến động của nguồn lợi

Ngô Sỹ Vân, 1997, Luận văn thạc sỹ Điều tra nghiên cứu hiện trạng khu hệ cá hồ chứa Thác Bà – Yên Bái Tác giả cho biết đặc tính thuỷ lý, thuỷ hoá và thống kê được 76 loài Trong tổng số 76 loài cá thu được thì bộ cá Chép chiếm số lượng nhiều nhất, với 50 loài chiếm 65,79% Bộ cá Vược 13

Trang 10

loài chiếm 17,10% Bộ cá Nheo chiếm 13,16% Còn các bộ khác: Cá Hồi, cá Sóc và cá Mang liền chiếm 3,95% tổng số cá trong khu hệ Kết quả điều tra của tác giả đã bổ sung cho danh sách cá Thác Bà 11 loài, trong đó: 7 loài cá nuôi mới di nhập, 1 loài cá mới của khu hệ cá hồ chứa Thác Bà là cá Mi

Barbodes namlenensis (Hảo & Hoa, 1962), 2 loài là loài mới: Cá Sỉnh Trắng Varicorhinus (Onychostoma) yeni nsp (Dực & Vân, 1998), cá Sỉnh đỏ Varicorhinus (O.) thacbaensis nsp (Hảo & Vân, 1998) và 1 loài có thể là mới:

Cá Chạch sông Mastacembelus sp Và đồng thời chỉ ra 3 loài đặc hữu (chỉ sống) ở vùng hồ Thác Bà Đồng thời có nhiều loài quý hiếm như Cá Lăng, cá Chiên, cá Dầm Xanh, cá Anh vũ, cá Hoả, Lươn

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về hồ chứa Thác Bà và Sông chảy

có từ lâu và đã nêu ra: Hồ có tiềm năng lớn, có đủ điều kiện để nuôi và khai thác thuỷ sản Song, những năm gần đây hồ hầu như không được đầu tư nghiên cứu Vì vậy việc nghiên cứu hiện trạng hồ là việc làm hết sức quan trọng, cấp bách để khôi phục tiềm năng sẵn có, khai thác và sử dụng hồ một cách hợp lý đem lại hiệu quả hơn

2.2 Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên của hồ Thác Bà

2.2.1 Vị trí địa lý

Hồ Thác Bà được khởi công xây dựng năm 1962 và hoàn thành năm

1971 trên hệ sinh thái sông Chảy và vùng đồi núi, đồng bằng hai huyện Lục Yên và Yên Bình Hồ ở vị trí phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái có tọa độ địa lý

từ 21040′ đến 22017′ Vĩ độ Bắc và 104033′ đến 105006′ Kinh độ Đông Phía Bắc hồ giáp tỉnh Lao Cai, phía Đông giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Tây giáp thị xã Yên Bái, Huyện Trấn yên và Văn Yên tỉnh Yên Bái

Hồ dài 80km, trung bình hồ rộng 8km, nơi rộng nhất là 10km Độ sâu trung bình của hồ là 15m, chỗ sâu nhất 40m Ven bờ của hồ khúc khuỷu và có

Trang 11

nhiều eo ngách Dung tích của hồ 2,940 tỷ m3, diện tích của hồ lớn nhất ở cốt

58 là 24300ha, trong đó diện tích mặt nước 19500ha và 1330 đảo lớn nhỏ với diện tích là 4350ha Nguồn cung cấp lượng nước cho hồ là lưu lượng nước của sông Chảy và lượng nước mưa từ lưu vực đổ vào Hồ thuộc loại hình thủy vực mang tính chất nhân tạo có hệ sinh thái "nửa hở" Thượng lưu hồ là khu vực sông Chảy tính theo mặt cắt ngang từ ngòi Biệc lên phía Tây Bắc gồm các xã Trung Tâm, Tân Nguyên, An Phúc, Hà Oai, Phúc Lợi mang tính chất sông suối Vùng trung lưu hồ là vùng trung gian giữa sông suối và hồ tự nhiên gồm các xã từ Cẩm Ân đến Tân Hương Vùng hạ lưu của hồ tính từ Tân Hương đến đập thủy điện Thác Bà, có tính chất hồ tự nhiên (Ngô Sỹ Vân, 1999)

2.2.2 Điều kiện tự nhiên của hồ

Điều kiện tự nhiên của vùng hồ phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Yên Bái như: khí hậu, chế độ thủy văn, và các yếu tố

xã hội như: trình độ dân trí, trình độ quản lý, phương hướng phát triển của tỉnh

- Độ ẩm: Ở Yên Bái độ ẩm thường rất cao 83 – 87%

Trang 12

* Xét riêng đối với vùng hồ chứa Thác Bà chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh mang tính chất của vùng đồi núi nên nhiệt độ biến thiên rất lớn Một đặc điểm khác của hồ chứa Thác Bà là có nhiều mưa phùn, suơng mù vào mùa đông, nhưng không có sương muối Chế

độ mây cao, thuộc vùng có chế độ mây nhiều nhất nước ta Chế độ nắng tương đối ít, tổng số giờ nắng năm đạt 1400 – 1520 giờ/ năm Chế độ bức xạ, nắng, mây phân hóa theo mùa và sự hoạt động hoàn lưu của gió mùa

- Chế độ gió: Gió thường thổi theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, trùng với Hướng chảy của sông Chảy Nhìn trung gió có vận tốc chậm, song ở vùng hồ

do ảnh hưởng của núi cao chắn gió, mặt hồ rộng, vì vậy có nhiều cơn gió lốc, gió xoáy

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm đạt 22,6 – 22,70C Chế độ nhiệt phân hóa theo mùa rõ rệt Biên độ nhiệt trung bình năm đạt 6,9 – 7,50C

- Chế độ mưa, độ ẩm: Lượng mưa hàng năm của vùng hồ hàng năm không lớn lắm, ở nơi ít mưa, lượng mưa: 1600 – 1800mm, nơi nhiều mưa:

 pH

Trang 13

Cũng như các yếu tố khác, độ pH của hồ dao động theo quy luật chung Biên độ dao động không lớn lắm giữa các tầng nước Độ pH của hồ dao động

từ 6,3-9,4 Mùa mưa, vùng thượng lưu có độ pH nghiêng về kiềm cao hơn so với mùa khô, vùng hạ lưu độ pH thường thấp nghiêng về acide Đặc điểm này phù hợp cho các thuỷ sinh vật trong đó có cá sinh sống và phát triển (Ngô Sỹ Vân, 1999)

 Nhiệt độ

Nhiệt độ nước hồ chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ không khí Sự biến động của nhiệt độ nước cũng tuân theo quy luật chung của hồ chứa Biến dộng theo ngày đêm, biến động theo mùa, biến động theo tầng nước Mùa hè, nhiệt độ tầng nước mặt cao hơn nhiều so với tầng đáy Mùa đông nhiệt độ tầng mặt thấp hơn nhiệt độ tầng đáy

Mặt khác, nhiệt độ nước ở vùng thượng lưu cũng biến động so với vùng hạ lưu Mùa hè ở vùng thượng lưu do chế độ mưa lũ nên nhiệt độ ít có

sự chênh lệch giữa tầng mặt và tầng đáy (chênh lệch thấp) hơn so vơi hạ lưu

 Hàm lượng oxy

Sự biến động oxy hoà tan cũng tuân theo quy luật chung Biến động ngày đêm, biến động giữa các tầng nước và các vùng theo mùa vụ Theo kết quả nghiên cứu của cơ quan thuỷ sản Tỉnh Yên Bái, sự biến động hàm lượng oxy hoà tan trong các năm qua không thay đổi nhiều so với nghiên cứu của Ngô Sỹ Vân, 1999

Trang 14

Hình 2.1 Biến động hàm lượng oxy ở thượng lưu và hạ lưu hồ chứa Thác Bà

Trang 15

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Tiến hành thu mẫu trên vùng hồ, các bến cá, chợ cá và các ngòi, suối thuộc lưu vực hồ Thác Bà

3.1.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 tới tháng 7 năm 2009

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của hồ

Qua số liệu của các cơ quan chuyên nghành và tài liệu nghiên cứu của một số nhà nghiên cứu trước đó

Tìm hiểu trực tiếp qua những lần đi khảo sát và thu mẫu

3.2.2 Nghiên cứu thành phần các loài cá ở hồ chứa Thác Bà

3.2.2.1 Thu thập tài liệu

Trong quá trình tiến hành đề tài, để phục vụ cho công tác nghiên cứu tôi tìm hiểu:

- Sách báo có liên quan, các công trình nghiên cứu của một số tác giả

đã công bố

- Các tạp chí khoa học, các số liệu của các sở, các uỷ ban có liên quan như Uỷ ban nhân dân Huyện, Tỉnh, Trung tâm thuỷ sản Yên Bái và ngư dân

3.2.2.2 Thu thập và xử lý mẫu vật

Thu thập số liệu qua Trung tâm thuỷ sản Yên Bái

Dùng thuyền máy đi thu thập mẫu vật tại ngư trường, bến cá và các chợ

cá của hồ chứa Thác Bà

Đến các ngòi, suối thuộc lưu vực của hồ cùng ngư dân để thu mẫu

Trang 16

Đặt bình thu mẫu có pha sẵn Formalin tại các chủ thuyền đánh cá ở các điểm đại diện trên hồ Hướng dẫn nhờ ngư dân thu mua hộ.

Các mẫu thu được sẽ được ngâm trong dung dịch formalin 10%, sau đó được vận chuyển về phòng phân tích ngư loại học thuộc viện nghiên cứu NTTS1 - Bắc Ninh

3.2.2.3 Phân tích định loại mẫu vật

Sau khi vận chuyển mẫu vật về phòng, tôi tiến hành phân tích và định loại theo các bước sau

Mẫu vật được đo đếm hình thái dựa vào Hình 3.1 và Bảng 3.1 theo Pravdin, 1963 (bản dịch của Nguyễn Thị Mai Giang) hoặc Raiboth, 1996

- Theo Mai Đình Yên, 1978 - Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân (2001), Nguyễn Văn Hảo (2005)

- Vương Dĩ Khang, 1958 – Ngư loại, phân loại học - Bản dịch của Nguyễn Bá Mão NXB Nông thôn 1962, 844 trang; Chu Xinluo và Chen Yinrui, 1989, 1990 – The fishes of Yunnan China

- Mẫu vật sau khi định loại có thể so sánh đối chứng với các mẫu chuẩn sẵn có ở phòng tiêu bản ngư loại của viện nghiên cứu NTTS I

Các bộ, họ, giống, loài được xắp xếp theo hệ thống phân loại cá thế giới của W.N.Eschmeger 1998 và Fishbase, 2008

Trang 17

Hình 3.1: Một số chỉ tiêu đo hình thái ngoài của cá

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu đo đếm hình thái ngoài của cá

1 Chiều dài toàn thân (L) 22 Khoảng cách P- V

2 Khối lượng cá (P g) 23 Khoảng cách V-A

3 Chiều dài đến tia giữa vây đuôi

(Ls)

24 Chiều dài gốc vây lưng (lD)

4 Chiều dài cá bỏ đuôi (L0) 25 Chiều cao vây lưng (hD)

5 Chiều dài mõm (Ot) 26 Chiều dài gốc vây hậu môn

(lA)

6 Đường kính mắt (O) 27 Chiều cao vây hậu môn (hA)

7 Phần đầu sau mắt (Op) 28 Chiều cao vây ngực (hP)

8 Chiều dài đầu (T) 29 Chiều cao vây bụng (hV)

9 Chiều cao đầu qua chẩm (hT) 30 Chiều dài tia giữa vây đuôi

10 Chiều cao đầu qua giữa mắt (hT') 31 Số tia vây lưng (D)

11 Khoảng cách 2 mắt (OO) 32 Số tia vây hậu môn (A)

Trang 18

12 Chiều dày của thân 33 Số tia vây ngực (P)

13 Chiều rộng của đầu 34 Số tia vây bụng (V)

14 Chiều rộng của miệng 35 Số tia vây đuôi (C)

15 Chiều dài hàm trên 36 Vẩy dọc đường bên (Ll)

16 Chiều dài hàm dưới 37 Vẩy trên dưới đường bên (Tr)

17 Chiều cao thân lớn nhất (H) 38 Vẩy trước vây lưng

18 Chiều cao thân nhỏ nhất (h) 39 Số tia màng mang (B)

19 Khoảng cách trước vây lưng (daD) 40 Số lược mang ở cung mang I

20 Khoảng cách sau vây lưng (dpD) 41 Công thức răng hầu (E)

21 Chiều dài cán đuôi (lcd) 42 Đốt sống toàn thân (Thân + đuôi)

Sau đó tính một số tỷ số các số đo chính được thiết lập

- Chiều cao thân và chiều dài bỏ đuôi (H/Lo)

- Chiều dài đầu và chiều dài bỏ đuôi (T/Lo)

- Đường kính mắt và chiều dài đầu (O/T)

- Chiều rộng trán và chiều dài đầu (OO/T)

3.2.2.4 Sự biến động của thành phần loài

Sau khi thu và xác định hiện trạng thành phần loài cá, so sánh với các nghiên cứu trước, các số liệu của trung tâm thuỷ sản Yên Bái để biết sự biến động thành phần của các loài cá trong hồ

3.2.2.5 Xử lý số liệu

Các số liệu về chỉ tiêu hình thái dược xử lý qua thống kê mô tả trên phần mềm EXEL

Trang 19

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Hiện trạng thành phần loài cá ở khu hệ cá hồ chứa Thác Bà

4.1.1 Danh sách thành phần loài của khu hệ cá hồ chứa thác bà

Qua việc phân tích mẫu vật cá thu được và so sánh với các mẫu có sẵn trong phòng bảo tàng Viện NCNT I, đồng thời đối chiếu với danh mục các loài cá của các tác giả trước nghiên cứu ở hồ chứa Thác Bà thì thành phần loài cá biết được ở

hồ chứa Thác Bà cho tới nay gồm: 99 loài và phân loài thuộc 72 giống nằm trong

19 99

20 08

1 Cá Cháo Opsariichthys bidens Günther, 1873 + + + +

2 Cá diếc nhẳng Aphyocypris pooni Lin, 1993 + + +

3 Cá Mại sọc Rasbora steineri Nichols & Pope, 1927 + + +

Trang 20

5 Cá Măng Elopichthys bambusa (Richardson,1844) + + +

6 Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus (Cuvier &

10 Cá Thiên hô Pseudolaubuca sinensis Bleeker, 1864 + + +

11 Cá Dầu hồ bằng Toxabramis swinhonis Günther, 1873 + + +

12 Cá Dầu thân

mỏng

13 Cá Mương gai Hainania serrata Koller, 1927 + +

14 Cá Vền Megalobrama terminalis (Richardson,

1845)

15 Cá Vền dài Megalobrama skolkovii Dybowsky, 1832 + + + +

16 Cá Nhác Sinibrama affinis (Vaillant, 1891) + +

17 Cá Thiểu Ancherythroculter erythropterus (Basil,

20 Cá Mại bầu Rasborinus lineatus Pellegrin, 1907 + + + +

21 Cá Mại bạc Rasborinus formosae Oshima,1920 + +

1.4 Phân họ cá

Nhàng

Xenocyprinae

22 Cá Nhàng Bạc Xenocypris argentea Gỹnther, 1868 + + + +

1.5 Phân họ cá Mè Hypophthalmichthyinae

24 Cá Mè trắng VN Hypophthalmichthys harmandi Sauvage,

1884

Trang 21

25 Cá Mè trắng TQ Hypophthalmichthys molitrix (C & V.,

28 Cá Đục ngộ Hemibarbus medius Yue, 1995 + +

29 Cá Đục trắng Squalidus chankaensis Dybowsky, 1872 + + + +

30 Cá Đục đanh Saurogobio dabryi Bleeker, 1871 + + + +

1.7 Phân họ cá Thè

be

Acheilognathinae

32 Cá Thè be Acheilognathus tonkinensis (Vaillant,

34 Cá Mè Vinh Barbodes gonionotus (Bleeker, 1850) + +

35 Cá Bỗng Spinibarbus denticulatus (Oshima, 1926) + + + +

36 Cá Chầy đất Spinibarbus hollandi Oshima, 1919 + + + +

37 Cá Đòng đong Capoeta semifasciolata (Günther, 1868) + + + +

38 Cá Mi (rai) Neolissochilus benasi (Pellegrin &

40 Cá Chát sọc Lissochilus laocaiensis Hao & Hoa, 1969 +

41 Cá Hân Acrossochilus elongatus (Pelle & Chev.,

1934)

+

42 Cá Sỉnh Onychostoma gerlachi (Peters,1880) + +

43 Cá Sỉnh gai Onychostoma laticeps Günther,1868 +

1.9 Phân họ cá Trôi Labeoninae

46 Cá Anh vũ Semilabeo obscurus Lin, 1981 + + +

Trang 22

47 Cá Hoả Sinilabeo tonkinensis (Pellegrin &

50 Cá Măn Garra gracilis (Pell & Chev., 1936) +

51 Cá Trôi ta Cirrhinus molitorella (Cuvier &

Valenciennes, 1842)

52 Cá Mrigan Cirrhinus mrigala (Hamilton, 1822) + +

54 Cá Dầm đất Osteochilus salsburyi (Nichols & Pope,

1927)

56 Cá Sứt môi Garra orientalis Nichols, 1925 + +

1.10 Phân họ cá

Chép

Cyprininae

58 Cá Lợ Cyprinus multitaeniata (Pellegrin &

Chevey, 1936)

59 Cá Nhưng Carassioides cantonensis (Heinke, 1892) + + + +

60 Cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758) + + + +

65 Cá Chạch hoa Cobitis taenia Nichols, 1918 + + + +

66 Cá Chạch cát dài Botia elongata Yên, 1978

II Bộ cá Nheo Siluriformes

3 Họ cá Lăng Bagridae

Trang 23

67 Cá Bò Pelteobagrus fulvidraco (Richardson,

69 Cá Mịt Leiocassis virgatus (Oshima, 1926) + + + +

70 Cá Lăng chấm Hemibagrus guttatus (Lacépède, 1803) + + + +

71 Cá Lường Hemibagrus pluriradiatus (Vaillant,

76 Cá Trê đen Clarias fuscus (Lacépède, 1803) + + + +

77 Cá Trê phi Clarias gariepinus (Burchell,1882) + +

79 Cá Sóc Oryzias latipes (Temm & Schl., 1846) + + + +

V Bộ mang liền Synbranchiformes

Trang 24

12 Họ cá Rô mo Percichthyidae

84 Cá Rô mó Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899 +

85 Cá Rô mo Siniperca chuatsi (Basilewsky, 1855) +

VI.2 Phân bộ cá

Hàng chài

Labroidei

13 Họ cá Rô phi Cichlidae

86 Cá Rô Phi đen Oreochromis mossambicus (Peters, 1880) + +

87 Cá Rô Phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) + +

91 Cá Bống Cát tối Glossogobio giuris (Hamilton, 1822) + + +

92 Cá Bống Đá Rhinogobius giurinus ( Rütter, 1897) + + + +

93 Cá Bống Than Rhinogobius leavelli (Herre, 1935) + +

VI.4 Phân bộ cá Rô

99 Cá Trèo đồi Channa asitica (Linnaeus, 1758) + +

Trang 25

4.1.2 Thảo luận kểt quả

4.1.2.1 Thành phần các loài cá ở hồ Thác Bà cho đến nay

Trong danh sách 99 loài thống kê được thì bộ cá Chép có số lượng nhiều nhất với 66 loài chiếm 66,66% Bộ cá Vược có 16 loài chiếm 16,16% Bộ cá Nheo

có 11 loài chiếm 11,11% Còn các bộ khác: Cá Nhái, cá Ốt me chiếm 1.01% Bộ cá Mang liền chiếm 4,04% trong tổng số loài, thể hiện qua bảng số liệu 4.2 hoặc biểu

Trang 26

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ thành phần loài cá ở hồ Thác Bà cho đến nay

4.1.2.2 Hiện trạng thành phần loài cá ở hồ Thác Bà hiện nay

Hiện nay thành phần loài chúng tôi thu được gồm có 57 loài chiếm tổng số 57,58 % so với tổng số loài được biết từ trước tới nay ở Thác Bà

Trong tổng số 57 loài chúng tôi thu được thì bộ cá chép vẫn là bộ có số lượng nhiều nhất 35 loài chiếm 61,40 % Bộ cá Vược 9 loài chiếm 15,8 % Bộ cá Nheo 9 loài chiếm 15,8 % Bộ Mang liền có 2 loài chiếm 3,5 % còn các bộ khác như cá Nhái, cá Ốt me có 1 loài chiếm 1,75 % Được thể hiện qua bảng số liệu 4.3 hoặc biểu đồ 4.2 sau

Bảng 4.3: Tỷ lệ thành phần loài cá ở hồ chứa Thác Bà hiện nay

Trang 27

Tổng cộng 17 100 48 100 57 100

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ thành phần các loài cá hiện nay ở hồ Thác Bà.

4.1.2.3 Biến động về thành phần loài cá ở hồ Thác Bà

 Sự biến động thành phần loài qua các năm

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi và thu thập các kết quả đã nghiên cứu trước đây của một số tác giả về khu hệ cá Thác Bà, thành phần loài cá ở hồ biến động như sau:

Trang 28

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo, 1964 trong hồ có 57 loài, chiếm 57,58 % tổng số loài có ở hồ Thác Bà từ trước tới nay.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tường, 1975 trong hồ có 79 loài, chiếm 79,80 % tổng số loài có ở hồ Thác Bà từ trước tới nay

Năm 1998, theo Ngô Sỹ Vân, trong hồ có 76 loài, chiếm 76,77 %

Còn theo kết quả phân tích của chúng tôi (2009) trong hồ hiện tại có 57 loài chiếm 57,58 % Số liệu được thể hiện qua bảng 4.4 hoặc biểu đồ 4.3

Bảng 4.4: Biến động thành phần các loài cá ở vùng hồ Thác Bà qua các năm.

1 Nguyễn Văn Hảo, 1964 16 88,89 53 73,61 57 57,58

2 Nguyễn Hữu Tường, 1975 17 94,44 61 84,72 79 79,80

4 Của chúng tôi, 2009 17 94,44 48 66,67 57 57,58

Tổng cộng cho đến nay 18 100 72 100 99 100

Trang 29

Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ thành phần loài qua các năm

 Danh sách các loài thu thêm được so với trước đây

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì thấy có 3 loài mới xuất hiện ở hồ

mà trước đây chưa thấy là cá Sặc bướm Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770)

Cá Bống đen lớn Eleotris malanosoma Bleeke, 1852 và cá Bống đen nhỏ Eleotris oxycepphala Temminck & Schlegen, 1845.

Trong đó sản lượng của 2 loài cá Bống kể và cá Dầu hồ Toxabramis swinhonis Gunther, 1873 là rất lớn Cá Sặc bướm là loài di nhập từ trong Nam ra

Bắc

Trang 30

 Danh sách các loài chúng tôi không thu được so với trước đây

Do thời gian thực tập không nhiều nên số lượng mẫu chúng tôi thu được tại lưu vực hồ là có hạn Tổng số loài chúng tôi không thu được so với trước đây được thể hiện qua bảng 4.5

Bảng 4.5: Thành phần loài không thu được so với trước đây

1 Cá diếc nhẳng Aphyocypris pooni Lin, 1993

2 Cá Mại sọc Rasbora steineri Nichols & Pope, 1927

3 Cá Măng Elopichthys bambusa (Richardson), 1844

4 Cá Mương gai Hainania serrata Koller, 1927

5 Cá Nhác Sinibrama melrosei (Nichols & Pope, 1927)

6 Cá Ngão gù Erythroculter recurvirostris (Sauvage)

7 Cá Ngão mắt to Erythroculter daovantieni Banarescu, 1967

8 Cá Mại bạc Rasborinus formosae Oshima,1920

9 Cá Mần Xenocypris davidi Bleeker, 1871

10 Cá Đục chấm Hemibarbus macracanthus Lo, Yao & Chen, 1977

11 Cá Đục ngộ Hemibarbus medius Yue, 1995

12 Cá Cầy Parasprinibarbus macracanthus (Pelleg & Chev.,

1936)

13 Cá Mi (rai) Neolissochilus benasi (Pellegrin & Chevey, 1936)

14 Cá Chát trắng Acrossochilus krempfi (Pellegrin & Chevey, 1936)

15 Cá Chát sọc Lissochilus laocaiensis Hao & Hoa, 1969

16 Cá Hân Acrossochilus elongatus (Pelle & Chev., 1934)

17 Cá Sỉnh Varicorhinus (Onychostoma) gerlachi (Peters)

18 Cá Sỉnh gai Onychsroma laticeps Günther, 1868

19 Cá Sỉnh đỏ Thác Bà Varicorhinus (Ony.) thacbaensis Hảo & Vân, 1998

20 Cá Đát đỏ Scaphesthes erythrogenys Hao & Hoa, 1969

21 Cá Anh vũ Semilabeo obscurus Lin, 1981

22 Cá Hoả Sinilabeo tonkinensis (Pellegrin & Chevey, 1936)

23 Cá Mị Sinilabeo graffeuilli (Pellegrin & Chevey)

24 Cá Rầm xanh Sinilabeo lamassoni (Pellegrin & Chevey)

25 Cá Măn Garra gracilis (Pell & Chev., 1936)

26 Cá Sứt môi Garra orientalis Nichols, 1925

27 Cá Lợ Cyprinus multitaeniata (Pellegrin & Chevey, 1936)

28 Cá Chạch suối Micronemacheilus taeniatus (Pell & Chev., 19’36)

29 Cá Chạch đá sọc Schistura fasciolata (Nichols & Pope, 1927)

Trang 31

30 Cá Chạch bùn núi Misgurnus mizolepis Günther, 1888

31 Cá Chạch cát dài Botia elongata Yên, 1978

32 Cá Lường Hemibagrus pluriradiatus (Vailland, 1904)

33 Cá Chiên suối Hải

Nam

Glyptothorax hainanensis, (N & P., 1927)

34 Cá Rô mó Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899

35 Cá Rô mo Siniperca chuatsi (Basilewsky, 1855)

35 Cá Bống suối đầu

ngắn

Percottus chalmersi (Nichols & Pope, 1927)

37 Cá Bống Cát tối Glossogobio giuris (Hamilton, 1822)

38 Cá Bống Than Rhinogobius leavelli (Herre, 1935)

39 Cá Đuôi cờ Macropodus opercularis (Linnaeus, 1788)

40 Cá Trèo đồi Channa asitica (Linnaeus, 1758)

41 Cá Chạch gai Mastacembelus aculeatus (Basilewsky, 1855)

42 Cá Chạch Thác Bà Mastacembelus thacbaensis Hảo & Vân, 1999

4.1.2.4 Các loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam cần bảo vệ.

Hiện tại ở hồ Thác Bà có nhiều loài đã và đang suy giảm một cách nghiêm trọng và có nguy cơ bị tuyệt chủng Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi so sánh

và đối chiếu danh mục cá của khu hệ cá Thác Bà với các loài cần bảo vệ được ghi trong danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển (2008) thì trong hồ có 13 loài, chiếm 13,13% Danh mục các loài được thể hiện qua bảng 4.6

Bảng 4.6 Các loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam ở hồ Thác Bà

1 Cá Lợ thân thấp Cyprinus multitaenniata (Pell & Chevey,

1936)

EW

2 Cá Chày chàng Ochetobius elongatus (Kner, 1867) VU

3 Cá Măng Elopichthys bambusa (Richardson,1844) VU

Trang 32

4 Cá Chày đất Spinibarbus hollandi Oshima, 1919 VU

5 Cá Mị Sinilabeo graffeuilli (Pell & Chevey, 1936) EN

6 Cá Hoả Sinilabeo tonkinensis (Pellegrin &

Chevey,1936)

VU

7 Cá Sỉnh gai Onychostoma laticeps Günther,1896. VU

9 Cá Rầm xanh Sinilabeo lamassoni (Pell & Chevey, 1936 ) VU

EW (Extinct in the wild) : Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên.

CR (Criticaly endangered) : Rất nguy cấp.

EN (Endangered) : Nguy cấp.

VU (Vulnerable) : Sẽ nguy cấp.

4.2 Ý NGHĨA KINH TẾ CỦA KHU HỆ CÁ HỒ THÁC BÀ

Hồ Thác Bà với diện tích mặt nước lên tới 19.500 ha và 1330 hòn đảo lớn nhỏ với diện tích là 4350 ha, là một trong những hồ chứa lớn nhất nước ta Do vậy

đa dạng sinh học trong vùng hồ có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là khu hệ cá Những ý nghĩa đó được thể hiện ở những mặt sau

Trang 33

4.2.1 Ý nghĩa khoa học

Hồ Thác Bà với số lượng thành phần loài khá phong phú, mang lại sự đa dạng sinh học về nguồn gen, thu hút rất nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu từ rất sớm và đã đạt được rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực bảo tồn nguồn gen quý hiếm cũng như đóng góp phần loài mới trong danh sách cá nước ngọt Việt Nam

4.2.2 Ý nghĩa thực tiễn

 Các loài cá kinh tế

Cá kinh tế theo quan điểm truyền thống là những loài cá có sản lượng cao và

có chất lượng tốt được nhiều người ưa chuộng, khai thác nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của con người như làm thực phẩm, làm cảnh và dùng trong y học Trong danh mục các loài cá thu được ở lưu vực hồ Thác Bà có tới 26 loài cá kinh tế, chiếm 26,26% tổng số loài ở hồ Thác Bà Trong đó chủ yếu là cá tự nhiên

Bảng 4.7: Danh sách các loài cá kinh tế hiện có ở vùng hồ Thác Bà

TT Tên Việt Nam Tên khoa học

1 Chày mắt đỏ Squaliobarbus curriculus (Richardson), 1846

2 Cá Chày tràng Ochetobius elongatus (Kner, 1867)

3 Cá Mương Hemiculter leucisculus (Basilewsky), 1853

4 Cà Vền Megalobrama terminalis (Richardson, 1845)

5 Cá Vền dài Megalobrama skolkovii Dybowsky, 1832

6 Cá Thiểu Ancherythroculter erythropterus Basil.

7 Cá Nhàng Bạc Xenocypris argentea Günther, 1868

Trang 34

TT Tên Việt Nam Tên khoa học

Hypophthalmichthys molitrix (C & V., 1844)

10 Cá Mè hoa Aristichthys nobilis (Richardson, 1844)

11 Cá Rô hu Labeo rohita (Hamilton, 1822)

12 Cá Chép Cyprinus carpio Linnaeus, 1758.

13 Cá Nhưng Carassioides cantonensis (Heinke, 1892)

14 Cá Diếc Carassius auratus (Linnaeus, 1758)

15 Cá Ngạnh Cranoglanis henrici (Vaillant, 1893)

16 Cá Nheo Silurus asotus Linnaeus, 1758

17 Cá Trê đen Clarias fuscus (Lacepede, 1803)

18 Lươn Monopterus albus (Zuiew, 1793)

19 Cá Chạch sông Mastacembelus armatus (LacÐpÌde, 1800)

20 Cá Rô phi Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758)

21 Cá Bống đen nhỏ Eleotris oxycephala Tem & Sche., 1846

22 Cá Bống đen lớn Eleotris melanosoma Bleeker

23 Cá Chuối Channa maculata (LacÐpÌde, 1802)

24 Cá Quả Channa striata (Bloch, 1793)

25 Cá Dầu sông Toxabramis houdmeri Pellegrin, 1932

Từ năm 1971 - 1978 Quốc doanh thuỷ sản Thác Bà nay là trung tâm thuỷ sản Yên Bái nhận nhiệm vụ khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở hồ Trong những năm đó trung tâm đã nuôi thả được gần 34,4 triệu con giống xuống hồ và

Trang 35

khai thác được 2.050 tấn cá, trung bình 300 tấn/ 1năm, không tính sản lượng do nhân dân khai thác khác.

Từ năm 1979 – 1991 Huyện Yên Bình quản lý khai thác cá trong hồ bằng cách bán vé cho nhân dân Tính từ năm 1979 – 1991, trung tâm đã thả bổ xung 16,3 triệu con giống và khai thác được 2.552 tấn cá, trung bình 216 tấn/ 1 năm Không tính sản lượng do nhân dân khai thác khác

Từ năm 1991 – 1998 Trung tâm thuỷ sản Yên Bái không sản xuất cá giống, không thả cá giống ra hồ và không khai thác cá nữa mà chuyển sang làm nhiệm vụ khác Theo thống kê trong những năm nay, tổng sản lượng do nhân dân khai thác trong 2 huyện Yên Bình và Lục Yên là 3.841 tấn, trung bình 544 tấn/ 1 năm

Đặc biệt từ năm 1998 đến nay, trung tâm thuỷ sản Yên Bái không quản lý sát sao tình hình khai thác cá của người dân địa phương, không nghiêm cấm hay sử

lý những trường hợp khai thác bằng chất nổ, bằng xung điện nên sản lượng qua các năm sau giảm đi rất nhiều so với năm trước và số lượng các loài thu được cũng ít đi

Giá trị thực phẩm của khu hệ cá Qua sản lượng cá đánh bắt được đã cho thấy khả năng cung cấp Protein cho nhân dân là rất lớn, phần nào thúc đẩy đời sống của nhân dân vùng hồ Ngoài giá trị thực phẩm cung cấp cho con người, nguồn lợi của cá còn là thức ăn cho gia súc, gia cầm khác, thúc đẩy nền kinh tế gia đình phát triển

4.3 Đặc điểm hình thái và định loại các loài cá ở khu hệ cá hồ chứa Thác Bà

Một số ký tự thường dùng

D : Số tia vây lưng A: Số tia vây hậu môn V: Số tia vây bụng

P: Số tia vây ngực Lo: Chiều dài cá bỏ đuôi O: đường kính mắt

H: Chiều cao thân lớn nhất Ot: chiều dài mõm OO: Khoảng cách 2 mắt.T: Chiều dài đầu

Trang 36

LIÊN BỘ CÁ DẠNG CHÉP CYPRINOMORPHA

Các loài cá thuộc liên bộ này có vây bụng ở ngang bụng, thường có một vây lưng, một số loài còn có vây mỡ Không có gai cứng hoặc nếu có thì do tia vây mềm có các đốt liền lại mà thành gai, thường có răng cưa, nằm trước cùng của các vây lưng, vây hậu môn và vây ngực Xương đốt sống đầu tiên biến thành xương bóng hơi (có cơ quan Weber) nối liền với tai trong Bóng hơi nối liền thực quản

Liên bộ này ở nước ta có 3 bộ Bộ Cá Chép (Cyprinoformes), Bộ cá Nheo (Siluriformes) Bộ cá chép gồm những loài sống ở nước ngọt Bộ cá Nheo chủ yếu

sống ở nước ngọt, một số ít sống ở nước mặn và vùng cửa sông Những năm trở lại đây nước ta có di nhập loài cá Chim trắng nằm trong bộ cá Hồng Nhung

(Characiformes) từ Châu Mỹ vào nuôi Phân biệt các bộ như sau.

KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC BỘ TRONG LIÊN BỘ CYPRINOMORPHA

1 (4) Thân phủ vẩy tròn (rất ít khi không có vẩy tròn hoặc từng phần) Có răng ở cung dưới hầu hoặc răng hàm và có xương sườn

2 (3) không có răng hàm, có răng ở cung dưới hầu Lườn bụng tròn, phủ vẩy tròn hoặc có lườn bụng sắc, không có vẩy răng cưa

Bộ cá Chép Cypriniformes.

3 (2) Có răng to cứng ở trước hàm, không có răng ở cung dưới hầu Lườn bụng phủ vẩy dạng gai răng cưa

Bộ cá Hồng Nhung Characiformes (không thu được).

4 (1) Thân trơn, không phủ vẩy hoặc có những tấm xương Có răng hàm nhỏ sắc, không có răng ở cung dưới hầu và không có xương sườn

Bộ cá Nheo Silurformes.

A - BỘ CÁ CHÉP CYPRINIFORMES.

Thân phủ vẩy tròn, rất ít khi không phủ vẩy toàn bộ hoặc từng phần Nhiều đại diện không có răng trên hàm Có răng hầu từ 1 – 4 hàng Cá thường có râu, có một số loài không có râu Thường có đường bên hoàn toàn, một số ít không có

Trang 37

đường bên Vây bụng ở ngang bụng, các vây không có gai xương cứng thật, chỉ có vây lưng và một số loài cả vây hậu môn có gai đơn hoặc tia đơn cuối hoá xương và

có răng cưa hoặc trơn, còn lại là tia mềm Có ống bóng hơi nối liền giữa tai và bóng hơi tạo thành cơ quan Weber và có ống bóng hơi nối liền cơ quan tiêu hoá Bộ này

có số lượng lớn, nhiều loài là đối tượng cá nuôi, cá kinh tế và quý hiếm

Ở hồ chứa Thác Bà, bộ cá Chép chỉ thấy có 2 họ, phân biệt như sau

KHOÁ TRA CÁC HỌ TRONG BỘ CÁ CHÉP CYPRINIFORMES.

1 (2) Râu nhiều nhất 2 đôi Răng hầu nhọn, có 1 - 4 hàng, số lượng nhiều nhất có thể hơn 10 cái

- 4 tia không phân nhánh Tia đơn vây lưng mềm hoặc gai cứng, có khi phía sau của gai cứng có răng cưa Tia đơn của vây hậu môn thường là tia mềm, một số ít là gai cứng, không có vây mỡ, vây bụng thường ở bụng, tương đương với vây lưng,

có khi hơi về phía trước hoặc phía sau Vây đuôi thông thường phân thuỳ Một số ít loài cắt cụt hoặc hơi lõm

Phân biệt các phân họ trong họ cá chép như sau:

KHOÁ TRA CÁC PHÂN HỌ TRONG HỌ CÁ CHÉP CYPRINIDAE

1 (16) Vây hậu môn có 6 tia phân nhánh trở lên, phần trên của đốt sống dây thần kinh thứ 3 phân nhánh

Trang 38

2 (3) Xương quanh mắt phát triển, lớn hơn nửa vòng tròn, phần thứ 5 chạm tới trên

ổ mắt, đầu mút trước hàm dưới có tật nhô lên

Phân họ cá Lòng Tong Danioninae

3 (2) Xương quanh mắt không phát triển, nhỏ hơn nửa vòng tròn (ngoại trừ tuyến mắt) phần thứ 5 không chạm tới trên ổ mắt hoặc phần thứ 4 chạm tới trên ổ mắt khi phần sau phát triển Đầu mút trước hàm dưới nói chung không có tật nhô

4 (5) thân tương đối dài, hình trụ hoặc hơi dẹp, gốc vây lưng ngắn, đối diện với gốc vây bụng Gốc vây hậu môn ở sau gốc vây lưng Ruột cuộn ngược chiều kim đồng hồ

5 (12) Vây hậu môn có nhiều hơn 7 tia phân nhánh

6 (7) Không có lườn bụng, xương chậu dạng chẻ ô sâu, ngang bằng hoặc sâu hơn nửa chiều dài xương chậu

Phân họ cá Trắm Leuciscinae.

7 (6) Có lườn bụng (chỉ có vết tích ở phân họ cá Xenocyprinae), xương chậu chia

nhánh nông ít hơn nửa chiều dài xương chậu

8 (9) Vây hậu môn có nhiều hơn 14 tia phân nhánh

Phân họ cá Mương Cultrinae.

9 (8) Vây hậu môn có ít hơn 14 tia phân nhánh

10 (11) Hàm dưới có chất sừng sắc, hàng chính của răng hầu nhiều hơn 6 chiếc, không có cơ quan trên mang, mắt ở vị trí bình thường

Phân họ cá Nhàng Xenocyprinae.

11 (10) Hàm dưới không có chất sừng sắc, hàng thứ nhất của răng hầu có 4 chiếc, không có cơ quan trên mang, mắt ở vị trí dưới trục thân

Phân họ cá Mè Hypophihalmichthynae.

12 (5) Vây hậu môn có 6 tia phân nhánh

13 (14) Có một đôi râu miệng

Phân họ cá Đục Gobioninae.

Trang 39

14 (13) có 2-3 đôi râu cằm, bên cạnh có một đôi râu miệng.

Phân họ cá Đục Râu Gobiobotinae.

15(14) Thân rất cao hoặc tròn trứng, gốc vây lưng dài, nằm sau gốc vây bụng, gốc vây hậu môn dưới phần sau gốc vây lưng, ruột cuộn theo chiều kim đồng hồ

Phân họ cá Thè Be Acheilognathinae.

16 (1) Vây hậu môn chỉ có 5 tia phân nhánh, phần trên của đốt sống dây thần kinh thứ 3 không phân nhánh

17 (20) Tia không phân nhánh cuối của vây hậu môn mềm và không có răng cưa

18 (19) Miệng bình thường và môi dưới bao phủ hàm dưới hoặc phủ không hoàn toàn hoặc hoàn toàn riêng rẽ, hầu nhô và dẹp bên Răng hầu 3 hàng, vây lưng đa số

có gai cứng

Phân họ cá Bỗng Barbinae.

19 (18) Miệng biến đổi ít hay nhiều, bình thường môi dưới không hoàn toàn bao phủ hàm dưới hoặc hoàn toàn riêng rẽ, hầu nhô và dẹp bằng Răng hầu 2 - 3 hàng, vây lưng đa số không có gai cứng

Phân họ cá Trôi Labeolinae.

20(17) Tia không phân nhánh cuối cùng của vây hậu môn là gai cứng và có răng cưa

1.1 Phân họ cá Chép Cyprininae

KHOÁ TRA CÁC GIỐNG TRONG PHÂN HỌ CÁ CHÉP CYPRININAE

1(4) không có râu

2(3) Răng hầu 1 hàng 4 - 4 Vây lưng 16 - 18 tia phân nhánh

Giống cá Diếc Carassius Nilsson

3(2) Răng hầu 3 hàng 2.3.4 – 4.3.2 Vây lưng 6 – 9 tia phân nhánh

Giống cá Dảnh Puntioplites Smith (không thu được).

4(1) Có 1 – 2 đôi râu, răng hầu hai hàng trở nên

5(6) Răng hầu 2 hàng 2.4 – 4.2 Dâu có hai đôi hoặc một đôi

Ngày đăng: 18/12/2014, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Quốc Ân, 1972. Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra khu hệ và đặc điểm sinh học cá hò chứa Thác Bà 1971 – 1972. (Tài liệu lưu trữ tại Viện nghiên cứu thuỷ sản I – TLLT Viện NCTSI) Khác
2. Nguyễn Văn Hảo, 1962 – 1964, ngư loại học hò chứa Thác Bà và sông Chảy (TLLT Viện NTTSI) Khác
3. Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2001. Cá Nước ngọt Việt Nam, tập 1 4. Nguyễn Văn Hảo, 2005. Cá nước ngọt Việt Nam, tập 2, 3 Khác
5. Tạ Quang Minh, 1976. Đặc điểm sinh học cá Mè hoa ở hồ chứa Thác Bà 1971 – 1975, (TLLT Viện NTTSI) Khác
6. Pravdin, 1963. Hướng dẫn nghiên cứu cá (bản dịch của Nguyễn Thị Mai Giang, 1971) Khác
7. Nguyễn Hữu Tường, 1975. Đặc điểm thuỷ lý, thuỷ hoá và ngư loại học hồ chứa Thác Bà Khác
8. Ngô Sỹ Vân, 1999. Điều tra nghiên cứu hiện trạng khu hệ cá hồ chứa Thác Bà – Yên Bái. Luận văn thạc sỹ Khác
9. Mai Đình Yên, 1978. Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam 10. Bộ thuỷ sản, 1996. Nguồn lợi thuy sản Việt Nam Khác
11. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008. Danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển Khác
11. Chu Xinlo et Chen Yinrui, 1989, 1990 – The Fish of Yunnan, China. Part I, II Khác
12. Một số trang Web được sử dụng www.Vietlinh.net.vnwww.fishnet.com.vn www.fishbase.com.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Một số chỉ tiêu đo hình thái ngoài của cá - tìm hiểu  biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa thác bà
Hình 3.1 Một số chỉ tiêu đo hình thái ngoài của cá (Trang 17)
BẢNG 4.1: THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỦA KHU HỆ CÁ THÁC BÀ - tìm hiểu  biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa thác bà
BẢNG 4.1 THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỦA KHU HỆ CÁ THÁC BÀ (Trang 19)
Bảng 4.2: Tỷ lệ thành phần các họ, giống và các loài cá ở vùng hồ Thác Bà - tìm hiểu  biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa thác bà
Bảng 4.2 Tỷ lệ thành phần các họ, giống và các loài cá ở vùng hồ Thác Bà (Trang 25)
Bảng 4.4: Biến động thành phần các loài cá ở vùng hồ Thác Bà qua các  năm. - tìm hiểu  biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa thác bà
Bảng 4.4 Biến động thành phần các loài cá ở vùng hồ Thác Bà qua các năm (Trang 28)
Bảng 4.5: Thành phần loài không thu được so với trước đây - tìm hiểu  biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa thác bà
Bảng 4.5 Thành phần loài không thu được so với trước đây (Trang 30)
Bảng 4.6. Các loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam ở hồ Thác Bà - tìm hiểu  biến động thành phần loài cá của khu hệ cá hồ chứa thác bà
Bảng 4.6. Các loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam ở hồ Thác Bà (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w