1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng

96 601 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cũng như nhiều nước nuôi tôm khác trên thế giới, nghề nuôi tôm sú ở nước ta đã và đang phải đối mặt với một thách thức rất lớn là dịch bệnh mànguyên nhân chính là do suy thoái

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nuôi tôm sú và những vấn đề nghiên cứu liên quan trên thế giới .3

1.2 Tình hình nuôi tôm sú và những vấn đề nghiên cứu liên quan ở Việt Nam .5

1.3 Tình hình nuôi tôm sú, đặc trưng môi trường và các vấn đề nghiên cứu liên quan ở Hải Phòng 9

1.3.1 Vùng nuôi tôm sú tại dải ven bờ Đông Bắc - Đồ Sơn 11

1.3.2 Vùng nuôi tôm sú tại dải ven bờ Tây Nam - Đồ Sơn 12

1.4 Một số thông tin chung về tài liệu ảnh vệ tinh SPOT 14

PHẦN II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 15

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 15

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 15

2.2 Phương pháp - Kĩ thuật nghiên cứu 15

2.2.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống 15

2.2.2 Phương pháp kế thừa tài liệu 15

2.2.3 Phương pháp tiếp cận lịch sử 16

2.2.4 Phương pháp tiếp cận liên ngành 16

2.2.5 Khảo sát thực địa 17

2.2.6 Phương pháp giải đoán ảnh viễn thám 17

2.2.7 Phân biệt hiện trạng ao đầm nuôi tôm sú bằng phương pháp phân tích và giải đoán ảnh vệ tinh viễn thám 20

Trang 2

2.3 Xử lý số liệu 20

PHẦN III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21

3.1 Hiện trạng đầm nuôi thủy sản vùng ven biển Hải Phòng 21

3.1.1 Khái niệm về hoang hóa trong các ao đầm nuôi tôm sú 21

3.1.2 Bản đồ hiện trạng đầm nuôi thủy sản vùng ven biển Hải Phòng 21

3.1.3 Biến động diện tích đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phòng giai đoạn 1994 - 2008 26

3.1.4 Kết quả phân tích hiện trạng ao đầm nuôi tôm sú bằng giải đoán ảnh vệ tinh SPOT đa phổ 31

3.1.5 Hiện trạng khai thác RNM ven bờ và các quỹ đất khác nhau để đắp đầm nuôi tôm 33

3.1.6 Hiện trạng quản lý 37

3.1.7 Hiện trạng hoang hóa các vùng nuôi tôm sú trọng điểm ở Hải Phòng .38

3.2 Nguyên nhân làm hoang hoá các ao nuôi tôm sú ở vùng ven biển Hải Phòng 43

3.2.1 Nguyên nhân ô nhiễm và tích lũy ô nhiễm 44

3.2.3 Nguyên nhân quy hoạch 67

3.2.4 Nguyên nhân quản lý 69

3.3 Đề xuất các giải pháp phục hồi môi trường và NTTS đạt hiệu quả cao trên các ao nuôi tôm bị bỏ hoang trên vùng ven biển Hải Phòng 69

3.3.1 Giải pháp quy hoạch và quản lý 70

3.3.2 Giải pháp nuôi phù hợp với sức tải môi trường 73

3.3.3 Giải pháp chống ô nhiễm và tích luỹ ô nhiễm 74

3.3.4 Giải pháp phòng trừ dịch bệnh và tích lũy mầm bệnh 79

3.3.5 Giải pháp xây dựng các mô hình nuôi thủy sản hiệu quả trên các ao đầm nuôi tôm sú bị bỏ hoang 81

PHẦN IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86

4.1 Kết luận 86

4.2 Đề nghị 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu

nhà trường, các thầy cô trong Bộ môn Nuôi trồng Thủy sản - Khoa Chăn nuôi

và Nuôi trồng thủy sản Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã luôn tạo mọi

điều kiện để tôi hoàn thành khóa học.

Để hoàn thành khóa luận này, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn

Đức Cự - đã định hướng và tận tâm hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt đề tài này.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến các cán bộ

khoa học của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển đã nhiệt tình dạy bảo, giúp

đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.

Con xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã động viên, chia sẻ và chu cấp cho

con trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn - những người đã luôn luôn

động viên, luôn luôn cổ vũ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập.

Hải Phòng, ngày 01 tháng 08 năm 2014

Sinh viên Nguyễn Văn Chuyên

Trang 4

17 WSSV White spot syndrome virus (Bệnh vi rút đốm trắng)

18 YHD Yellow head desease (Bệnh đầu vàng)

19 MBV Monodon bacilovirus (Bệnh còi ở tôm sú)

20 ADB Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển Châu Á)

21 FAO Food and Agriculture Organization

(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)

22 CCD Charge coupled device (Bộ cảm thụ ảnh dạng tuyến)

23 HRV High resolution visible imaging system

(Hệ thống độ phân giải cao vùng ánh sáng nhìn thấy)

Trang 6

DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Diện tích đầm nuôi và RNM theo các khu vực thuộc vùng ven biển Hải

Phòng ở các mốc thời gian năm 1994, năm 2000 và năm 2008 22

Bảng 2 Biến động diện tích đầm nuôi ở Hải Phòng giai đoạn 1994 - 2008 27

Bảng 3 Mức độ xói lở bãi triều vùng ven biển Hải Phòng 29

Bảng 4 Mức độ bồi tụ ngang bãi triều ở một số điểm ven bờ Hải Phòng trong giai doạn 1994 - 2008 (m/năm) 30

Bảng 5 Mức biến động của tỉ lệ giữa tổng diện tích RNM với tổng diện tích ao đầm nuôi của vùng ven biển Hải Phòng giai đoạn 1994 - 2008 35

Bảng 6 Diễn biến diện tích, sản lượng và năng suất nuôi tôm sú tại Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2008 38

Bảng 7 Kết quả quan trắc môi trường nước tại một số vùng nuôi tôm sú trọng điểm Hải Phòng giữa vụ nuôi năm 2004 39

Bảng 8 Kết quả quan trắc môi trường nước tại một số vùng nuôi tôm sú trọng điểm Hải Phòng giữa vụ nuôi năm 2008 40

Bảng 9 Kết quả theo dõi dịch bệnh ở một số khu vực nuôi tôm sú 42

Bảng 10 Tổng lượng thải nguồn sinh hoạt khu vực ven bờ Hải Phỏng 45

Bảng 11 Tổng lượng thải nguồn công nghiệp ở khu vực ven bờ Hải Phòng 46

Bảng 12 Các chất ô nhiễm kim loại nặng trong ao nuôi tôm sú 47

Bảng 13 Các chất ô nhiễm thuốc trừ sâu Clo hữu cơ trong các vùng nuôi tôm sú tại Hải Phòng 50

Bảng 14 Lượng dầu thải từ hoạt động hàng hải trong khu vực Hải Phòng 52

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Mô hình tổng quát các bước giải đoán ảnh vệ tinh SPOT 18Hình 2 Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 24/12/1994 khu vực vùng ven biểnHải Phòng 23Hình 3 Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 14/09/2000 khu vực vùng ven biển HảiPhòng 24Hình 4 Bản đồ hiện trạng đầm nuôi khu vực vùng ven biển 24Hình 5 Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 05/11/2008 khu vực vùng 25Hình 6 Bản đồ hiện trạng đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phòng năm2008 26Hình 7 Bản đồ biến động diện tích đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phònggiai đoạn 2000 - 2008 28Hình 8 Vị trí các ao (đầm) nuôi tôm sú quảng canh, quảng canh cải tiến 31Hình 9 Vị trí các ao (đầm) nuôi tôm sú bán thâm canh, nuôi công nghiệp 32Hình 10 Vị trí các ao (đầm) nuôi tôm sú đang giảm năng suất hoặc bị bỏ hoang 33Hình 11 Biến động hàm lượng N-NO2- ở một số khu vực nuôi tôm sú tại Hải Phòng 41Hình 12 Biến động hàm lượng dầu mỡ ở một số khu vực nuôi tôm sú tại Hải Phòng 42Hình 13 Biến động tình hình dịch bệnh ở một số khu vực nuôi tôm sú 43Hình 14 Biến động hàm lượng Zn2+ trong ao nuôi tôm sú ở một số vùng nuôitrọng điểm tại Hải Phòng 48Hình 15 Sơ đồ cấu trúc bãi triều vùng của sông ven biển Hải Phòng 54Hình 16 Phân bố hàm lượng cacbon hữu cơ trong trầm tích bề mặt bãi triềuvùng ven biển Hải Phòng 56Hình 17 Phân bố thế oxy hóa - khử qua tỷ số Fe3+/Fe2+ trong trầm tích bãi triềuvùng ven biển Hải Phòng 57Hình 18 Phân bố chiều dầy lớp trầm tích màu nâu, nâu xám bề mặt trầm tích bãitriều vùng ven biển Hải Phòng 58Hình 19 Phân bố hàm lượng Ssunfua tổng số trong trầm tích màu nâu, nâu xám bềmặt trầm tích bãi triều vùng ven biển Hải Phòng 59Hình 20 Phân bố chiều dày trầm tích RNM màu xám xanh, xám nâu dưới bềmặt trầm tích bãi triều vùng ven biển Hải Phòng 60Hình 21 Phân bố hàm lượng Ssunfua trong trầm tích RNM mầu xám xanh, xámnâu của bãi triều vùng ven biển Hải Phòng 60Hình 22 Tạo màn chắn địa hóa bằng cách dải bạt xanh nhân tạo ở nền đáy aonuôi 76

Trang 9

MỞ ĐẦU

Sự phát triển của nghề nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu từ những năm

2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP cho phép chuyển đổiphần diện tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hóa sang nuôitrồng thủy sản (NTTS) Diện tích nuôi tôm sú trong cả nước đã tăng từ 250000

ha năm 2000 lên đến 478000 ha năm 2001, 546000 ha năm 2003 và 627000 hanăm 2007 Chỉ trong vòng một năm sau khi nghị quyết 09 ra đời, đã có khoảng

250000 ha gồm 232000 ha ruộng lúa năng suất thấp, 1900 ha diện tích đất hoanghóa ngập mặn được chuyển đổi thành ao nuôi tôm (Báo cáo tổng kết NTTS của

Bộ Thủy sản các năm từ 2000 - 2007) Nghề nuôi tôm ở Việt Nam diễn ra theohướng vừa mở rộng diện tích vừa gia tăng mức độ thâm canh, nhưng hình thứcnuôi tôm quảng canh cải tiến vẫn là chủ yếu Diện tích nuôi tôm thâm canh tăngtrưởng nhờ sự khuyến khích của Chính phủ, các địa phương và sự tham gia củacác doanh nghiệp, các nhà đầu tư

Tuy nhiên, cũng như nhiều nước nuôi tôm khác trên thế giới, nghề nuôi tôm

sú ở nước ta đã và đang phải đối mặt với một thách thức rất lớn là dịch bệnh mànguyên nhân chính là do suy thoái môi trường, ô nhiễm nguồn nước, tích lũymầm bệnh trong ao nuôi quá cao, khi bệnh tôm xuất hiện, các cơ sở nuôi tôm sútăng cường sử dụng hóa chất và thuốc kháng sinh để phòng, trị bệnh làm mất đi

hệ sinh thái tự nhiên, dẫn đến giảm sức tải môi trường của ao nuôi tôm Vì vậy,trong vùng nuôi ô nhiễm môi trường càng cao, tích lũy mầm bệnh càng lớn dẫnđến dịch bệnh càng nhiều làm cho nhiều ao nuôi tôm không còn sản lượng thuhoạch và bị hoang hóa Theo ước tính, đến quý III năm 2008 chỉ riêng các tỉnhđồng bằng sông Cửu Long, diện tích nuôi tôm đã giảm đến gần 80000 ha

Dải ven bờ Việt Nam nói chung và vùng nuôi tôm sú ven biển Hải Phòng nóiriêng, hiện trạng ô nhiễm môi trường , tích lũy mầm bệnh, dịch bệnh ngày càngxảy ra nghiêm trọng dẫn đến năng suất nuôi ngày càng giảm, chi phí sản xuấttăng cao và diện tích bị bỏ hoang ngày càng nhiều Giai đoạn 2005 - 2007 tại

Trang 10

Hải Phòng có khoảng 7000 ha nuôi tôm sú, sản lượng đạt khoảng 1114 tấn, đếnnăm 2008 diện tích nuôi tôm sú giảm rất nhanh còn khoảng 4950 ha, do phầnlớn diện tích nuôi tôm sú không hiệu quả đã chuyển sang nuôi các đối tượngkhác hoặc để hoang hóa.

Từ thực tế trên, để góp một phần nhỏ vào việc tái sử dụng các ao nuôi tôm sú

bị bỏ hoang đạt hiệu quả, trong khuôn khổ của luận văn tốt nghiệp đại học, được

sự giúp đỡ, ủng hộ của các thầy cô trong Bộ môn Nuôi trồng Thủy sản - KhoaChăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, cáccán bộ khoa học của Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Ban chủ nhiệm đề tài

“Nghiên cứu biện pháp phục hồi các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang”, đề tài cấp

Bộ giai đoạn 2009 - 2011 và nhất là sự hướng dẫn, định hướng, chỉ bảo nhiệttình của TS Nguyễn Đức Cự, tôi đã mạnh dạn đề xuất và thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển Hải Phòng” với mục tiêu và nội dung sau đây:

Mục tiêu

Góp phần đưa các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang tại vùng ven biển Hải Phòngtrở lại nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao

Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang do ô nhiễm môi trường

và dịch bệnh kéo dài tại vùng ven biển Hải Phòng

- Xác định nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang tại vùng ven biểnHải Phòng

- Đề xuất một số giải pháp phục hồi các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang tại vùngven biển Hải Phòng

Trang 11

PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nuôi tôm sú và những vấn đề nghiên cứu liên quan trên thế giới

Nuôi tôm thương mại là một ngành sản xuất tương đối mới, được phát triển

từ những năm đầu của thập kỉ 70 của thế kỉ XX Các đối tượng nuôi chủ yếu

hiện nay là tôm sú (Penaeus monodon) và tôm he chân trắng (Penaeus vannemei), một số quốc gia có nuôi tôm rảo (Metapenaeus ensis), tôm he mùa (Penaeus merguiensis), tôm nương (Penaeus orientalis), tôm he Nhật Bản (Penaeus japonicus),…nhưng sản lượng nhỏ Trong đó, hai khu vực sản xuất

tôm lớn nhất là châu Á và khu vực Nam Mỹ (World Shrimp Farming in 1997)

Từ những năm 1980 trở lại đây, nuôi tôm theo hình thức thâm canh công nghiệpmới thực sự phát triển để nâng cao năng suất và sản lượng Năm 1997, khu vựcĐông Nam Á dẫn đầu về sản lượng nuôi tôm với 506035 tấn, chiếm 53,7% tổngsản lượng tôm trên thế giới Cả khu vực Châu Á, tổng sản lượng tôm chiếm đến78%, sau đến châu Mỹ chiếm 21% sản lượng tôm nuôi (FAO, 1998)

Cho đến nay, các nước có sản lượng tôm nuôi đứng đầu thế giới là TrungQuốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam và Ecuado Năm 1991, TrungQuốc là nước đứng đầu thế giới với tổng sản lượng tôm nuôi đạt 200000 tấnchiếm 26,1%, đứng thứ hai là Indonesia với 25,2%, tiếp đó là Thái Lan 19,8%tổng sản lượng tôm thế giới (FAO, 2000)

Tuy vậy, việc phát triển thâm canh hóa để tăng hiệu quả đầu tư của nghềnuôi tôm đã dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái trong các vùng nuôi tôm rộng lớnvào giai đoạn 1991 - 2000 Hiện tượng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh xảy raliên tiếp, lây lan ra diện rộng ở nhiều khu vực nuôi tôm gây thiệt hại lớn chongười nuôi Theo các số liệu thống kê của FAO cho thấy, sản lượng tôm nuôitrên thế giới giảm dần từ 733000 tấn năm 1994 giảm xuống chỉ còn 660000 tấnvào năm 2007, mặc dù diện tích nuôi được mở rộng tăng cao hơn (WorldShrimp Farming, 1997) Cũng theo thống kê của FAO, sản lượng tôm sú nuôi

Trang 12

của các nước đang phát triển đều tăng cao cả diện tích và sản lượng nuôi mộtcách bùng phát từ 1990 - 1995 sau đó đều bị giảm dần so ô nhiễm môi trường vàdịch bệnh: Thái Lan sản lượng cao nhất năm 1994 đạt 265524 tấn đến năm 1997giảm 215000 tấn mặc dù diện tích tăng cao hơn; Indonesia sản lượng cao nhấtđạt 159480 tấn vào năm 1997 và từ đó đến nay sản lượng giảm liên tục mặc dùdiện tích nuôi cũng tăng cao hơn; Trung Quốc sản lượng tôm nuôi đạt cao nhất

200000 tấn vào năm 1991 và đến năm 1994 giảm chỉ còn 63872 tấn; Philippinenăm 1997 sản lượng tôm nuôi đạt 113000 tấn và đến năm 2000 giảm xuống còn

41610 tấn; Ecuado sản lượng tôm nuôi năm 1998 đạt 147000 tấn và đến năm

2000 giảm xuống còn 79400 tấn; Ấn Độ năm 1998 sản lượng tôm nuôi 413000tấn và đến năm 2003 chỉ còn 150000 tấn và Malaysia năm 1997 sản lượng tômnuôi đạt 101000 tấn đến năm 2000 chỉ còn 57000 tấn…Nguyên nhân giảm sảnlượng tôm nuôi của các nước trên thế giới là do phát triển quá nhanh (phát triểnnóng thiếu quy hoạch đồng bộ) các ao nuôi tôm làm cho môi trường bị ô nhiễm

và dịch bệnh kéo dài vào những năm 1991 - 2000, dẫn đến nhiều diện tích aonuôi tôm bị bỏ hoang hoặc chuyển sang nuôi đối tượng khác (FAO, 2005)

Các nghiên cứu tại Thái Lan, Philippine, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc,Malaysia, Mexico, của tác giả Stevenson năm 1997, 1999; Griggs và Fungenăm 1994; Potaros năm 1995; Sammut và Mohan năm 1996; Sammut và Hanafynăm 2002; Yap năm 1997; Macintosh năm 1996; Hambrey năm 1996 và nhiềunghiên cứu khác đều cho rằng nguyên nhân chính gây ra sự giảm sút sản lượngcủa các ao nuôi tôm là do ô nhiễm môi trường và bệnh, dịch Về tác hại củabệnh, dịch đã được nhiều nghiên cứu chỉ rõ mức độ gây hại, loại bệnh và đưa ramột số biện pháp phòng trị,…tuy nhiên, tác hại do nguyên nhân ô nhiễm môitrường ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng của tôm nuôi và các biện pháp phụchồi vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng mà còn mang nhiều mô tả định tính [27] Trước thực trạng trên, một số nước đã đầu tư tiến hành nghiên cứu xác địnhnguyên nhân ô nhiễm và dịch bệnh làm suy thoái môi trường các ao nuôi tômdẫn đến hoang hóa và giảm sản lượng Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp phục

Trang 13

hồi, tái sử dụng có hiệu quả các ao nuôi tôm bị bỏ hoang, nâng cao sản lượngnuôi

Các tác giả đưa ra khuyến cáo tại các vùng nuôi tôm bị bỏ hoang có thể lựachọn một số giải pháp chung như sau để phục hồi:

- Tái tạo lại hệ sinh thái (HST) nguyên thủy trước đây của khu nuôi tôm đểđưa đất trở lại sản xuất theo các quy trình nuôi bền vừng hơn

- Tái tạo lại HST nguyên thủy trước đây của khu nuôi tôm rồi nuôi các đốitượng khác phù hợp hơn, bền vững hơn thay thế cho việc nuoi tôm

- Tái tạo lại các điều kiện môi trường bên trong các khu nuôi tôm và vùng phụcận chung quanh, sau đó lại thiết lập lại các HST vùng đất ngập nước (ĐNN)

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu phục hồi môi trường, kiểm soát dịch bệnh và

sử dụng các mô hình nuôi có hiệu quả bền vững các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoanghoặc hiệu quả thấp trên thế giới cơ bản đã giải quyết những vấn đề sau:

1 Nghiên cứu đánh giá sức tải môi trường để nâng cao sức tải môi trường vàkhông làm phá vỡ sức tải môi trường tự nhiên

2 Phòng ngừa ô nhiễm theo các vùng sinh thái

3 Ứng dụng mô hình nuôi phù hợp với các điều kiện môi trường các vùng sinhthái

1.2 Tình hình nuôi tôm sú và những vấn đề nghiên cứu liên quan ở Việt Nam

Nghề nuôi tôm của Việt Nam đã xuất hiện khoảng 100 năm nay nhưng chỉthực sự phát triển từ những năm 1980 khi mà sản phẩm của nghề sản xuất tômgiống đạt được số lượng, chất lượng mang tính hàng hóa Diện tích nuôi tôm đãtăng nhanh chóng, năm 1985 cả nước mới chỉ có 50000 ha đưa vào nuôi tômbiển và đến năm 1998 đã mở rộng lên đến 210000 ha với 30 tỉnh có diện tíchnuôi tôm sú (Bộ Thủy sản, 1999) Diện tích ao nuôi tôm tăng cao đột biến từ khi

có Nghị quyết 09/2000/NQ-CP của Chính phủ là hành lang pháp lý quan trọngcho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp có hiệu quả Thực hiện chủ

Trang 14

trương của Chính phủ, các tỉnh ven biển chuyển đổi đất hoanh hóa, đất nôngnghiệp và làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản thu nhập cao Trongthời gian 5 năm (2000 - 2005), diện tích nuôi tôm tăng từ 280000 ha (năm 2000)đến 605000 ha (năm 2005), tăng gấp 2,16 lần, trung bình hàng năm diện tích aonuôi tôm tăng trên 23%/năm (Bộ Thủy sản, 2006).

Năm 2003, cả nước có 546757 ha diện tích nuôi tôm nước lợ thương phẩm.Tuy nhiên, diện tích nuôi tăng nhưng năng suất tôm nuôi lại không tăng do nghềnuôi tôm của Việt Nam đang gặp phải khó khăn lớn về môi trường, dịch bệnh

mà đặc biệt là về chất lượng nước, chất lượng con giống Môi trường nuôi bịbiến động nhiều do lượng phù sa bồi lắng lớn, nguồn nước bị ô nhiễm; nước thảisinh hoạt, nước thải công nghiệp, chất độc, thuốc trừ sâu, lượng đầu thải cao.Đóng góp vào tình trạng có một phần không nhỏ của việc phát triển ồ ạt, khôngquy hoạch của chính nghề nuôi tôm tạo lên Diện tích nuôi càng mở rộng thìnăng suất nuôi càng giảm Và cũng trong năm 2003 đó, trên cả nước, diện tích

có tôm nước lợ thương phẩm nuôi bị bệnh và chết là 30083 ha Riêng các tỉnhven biển từ Đà Nẵng đến Kiên Giang có tới 29200 ha tôm nuôi bị chết nhiều,chiếm 97,06% diện tích có tôm bị chết trong cả nước Nguy hiểm nhất là bệnh virút đốm trắng (White spot syndrome virus - WSSV), bệnh đầu vàng (YellowHead Desease - YHD), bệnh còi ở tôm sú (Monodon Bacilovirus), bệnh do kísinh trùng, bệnh do dinh dưỡng, Tại các tỉnh miền Trung, sau hơn hai thập kỉphát triển liên tục, nghề nuôi tôm sú hiện nay ngày càng sa sút do tốc độ đô thịhóa mạnh mẽ cùng với dịch bệnh liên tục xảy ra, môi trường đất và nước bị ônhiễm nghiêm trọng Năm 2000 là thời điểm cực thịnh, cả khu vực miền Trung

có gần 20000 ha nuôi tôm sú và hàng năm diện tích nuôi giảm từ 20 - 30% diệntích ao đầm bỏ hoang ngày càng nhiều, hiện nay chỉ còn khoảng 6000 - 7000 ha

ao đạng nuôi thả Không ít các khu đầm nuôi tôm tại tỉnh Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận đã hóa thành cánh đồnghoang Cà Mau và Bạc Liêu nơi có diện tích nuôi tôm lớn nhất trong nước,những năm đầu mới nuôi năng suất đạt từ 250 - 500 kg/ha/năm thì sau đó năng

Trang 15

suất giảm dần Năm 1986 - 1988 , diện tích nuôi tôm tại Cà Mau và Bạc Liêutăng từ 72200 ha lên tới 120000 ha nhưng sản lượng chỉ tăng từ 21500 tấn lên

22700 tấn Năng suất giảm từ 297 kg/ha/năm xuống còn 153 kg/ha/năm Nguyhại hơn cả là các ao nuôi tôm đang bị bỏ hoang với tốc độ nhanh, năm 1988 CàMau và Bạc Liêu chỉ có 3000 ha bị bỏ hoang đến năm 1992 là 8000 ha và đếnnăm 1993 đã lên tới 20000 ha Tính đến cuối tháng 04/2008, các tỉnh ven biểnĐồng bằng sông Cửu Long gồm: Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng,Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang chỉ thả nuôi 420000 ha tôm sú, giảm mạnh sovới gần 500000 ha của cùng kì năm 2000 [27]

Các vấn đề môi trường liên quan đến nuôi tôm, đó là:

- Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm ở Viêt Nam đã và đang đặt ranhững vấn đề môi trường bức xúc trước mắt và lâu dài như suy thoái rừng ngậpmặn (RNM), mất cân bằng sinh thái, nguy cơ ô nhiễm môi trường và sự pháttriển của dịch bệnh,…

- Trước năm 1943, Maurand ước tính Viện Nam có khoảng 400000 ha RNM.Theo Phan Nguyên Hồng (1993), đến năm 1983 diện tích RNM của nước ta cònlại khoảng 252500 ha gồm cả diện tích rừng trồng mà phần lớn tập trung ở vùngĐồng bằng sông Cửu Long là 191800 ha Năm 2000, Ngân hàng Phát triển Châu

Á (Asia development Bank - ADB) ước tính Viêt Nam chỉ còn lại khoảng

110000 ha RNM Như vậy, trong các thập kỉ 80 và 90, Việt Nam đã bị mất

142500 ha RNM Diện tích rừng bị mất trong thời kì này bị quy kết chủ yếu là

do phát triển NTTS

- Sau năm 2000, một vấn đề môi trường khác đã nảy sinh, đó là chuyển đổiđất trồng lúa, làm muối năng suất thấp và đất hoang hóa sang nuôi tôm Việcchuyển đổi này trước mắt không gây tác động môi trường nghiêm trọng nếu nhưcác hệ thống chuyển đổi sang NTTS hoạt động có hiệu quả Nhưng một khi hiệuquả nuôi trồng không được phát huy thì khó có thể chuyển ao trở lại các hìnhthức sử dụng đất khác vì hệ vi sinh vật tự nhiên đã bị phá hủy và bị thay thế

Trang 16

bằng hệ nuôi tôm đơn canh Trong nuôi tôm, các hóa chất, chất diệt tạp được sửdụng đồng thời cũng là nguyên nhân phá hủy nơi sinh sống của các loài khác.

- Ngoài ra, các hiện tượng như ô nhiễm môi trường đã xuất hiện trên vùngđầm phá thâm canh vì người nuôi ngày càng sử dụng nhiều thức ăn, chế phẩm,thuốc và hóa chất Mặt khác, các chất tồn đọng gây ô nhiễm môi trường làmthay đổi cấu trúc và nhiễu loạn HST ngoài tự nhiên Tình trạng quản lý nguồnnước kém Suy thoái môi trường và dịch bệnh đã làm cho các ao, đầm nuôi tôm

sú có năng suất, sản lượng giảm dần sau mỗi vụ nuôi và có thể dẫn đến bỏ hoangrất lớn những diện tích nuôi tôm bị thua lỗ

Như vậy, nguyên nhân dẫn đến các ao nuôi tôm bị bỏ hoang là môi trường bị ônhiễm, bệnh và dịch bệnh, chất lượng con giống kém, diện tích nuôi tôm phát triển

ồ ạt, thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết cho từng vùng, miền nuôi

Để giải quyết nhu cầu của thực tiễn sản xuất, các nhà khoa học nước ta đãtriển khai nhiều công trình nghiên cứu để giải quyết các vấn đề về môi trường vàdịch bệnh, xác định một số nguyên nhân, đề xuất một số mô hình nuôi để nângcao hiệu quả sản xuất đồng thời giảm thiểu những ảnh hưởng của bệnh, dịchbệnh và suy thoái môi trường trong quá trình nuôi tôm sú thương phẩm trongnước Những nghiên cứu, đó là: GS.TS Lâm Minh Triết, năm 2002 - 2003,

“Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trườngvùng nuôi tôm ven biển” GS.TSKH Phan Nguyên Hồng, 1995 “Nghiên cứu và

sử dụng hợp lý HST RNM để nuôi tôm có hiệu quả” ThS Mai Văn Tài và ctv,

2006 “Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo chất lượng môi trường vàdịch bệnh thủy sản miền Bắc Việt Nam năm 2006” ThS Nguyễn Hữu Thọ,

2007 “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự suy thoái môi trường và đề xuấtmột số giải pháp sử dụng đất và nước ở các vùng nuôi tôm thâm canh và bánthâm canh đang giảm năng suất” và nhiều những nghiên cứu của các tác giả khác

Từ các kết quả đã đạt được đó sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu để đưa ra các giảipháp phục hồi các ao nuôi tôm bị bỏ hoang ở những vùng ven biển nước ta

Trang 17

Có thể nói các vấn đề còn tồn tại, hạn chế đó là thiếu các kết quả nghiên cứuđịnh lượng về các quá trình ô nhiễm, tích lũy dịch bệnh và suy thoái môi trường,tác động ô nhiễm đến các sinh vật thủy sinh,…Chưa có bức tranh toàn cảnh vàkiểm kê chính xác về hiện trạng những ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang trên từngvùng sinh thái để từ đó xây dựng những giải pháp phục hồi có hiệu quả Cácnghiên cứu trước đây chỉ giới hạn phạm vi hẹp và cục bộ ở từng ao nuôi khôngtheo các vùng sinh thái để có được các giải pháp giải quyết có quy luật vấn đềcác ao nuôi tôm bị bỏ hoang, nên khi áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn ởcác vùng khác nhau không mang lại hiệu quả, các giải pháp đưa ra chưa thực sựkhả thi trước hoàn cảnh thực tế (Nguyễn Đức Cự, 2009).

1.3 Tình hình nuôi tôm sú, đặc trưng môi trường và các vấn đề nghiên cứu liên quan ở Hải Phòng

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản (08/2007),diện tích NTTS toàn thành phố Hải Phòng tính đến hết năm 2005 là 13427 hatăng gần 2,7% so với năm 2000 Phần diện tích tăng chủ yếu là ruộng trũng,ruộng nhiễm mặn cấy lúa năng suất thấp và ruộng trũng sản xuất kém hiệu quảchuyển đổi sang NTTS Kết quả đạt được như sau: diện tích nuôi tôm sú là 7220

ha chiếm 53,7% tổng diện tích NTTS, diện tích nuôi tăng lên nhanh chóngnhưng năng suất nuôi không tăng Nhưng từ năm 2006 - 2008, diện tích nuôitôm sú tại các vùng nuôi tôm trọng điểm tại Hải Phòng giảm mạnh Năm 2008,diện tích nuôi tôm sú tại Hải Phòng chỉ còn 4950 ha (Viện Tài nguyên và Môitrường biển, năm 2008) Năng suất nuôi tôm sú bán thâm canh ở các ao, đầmvùng ven biển Hải Phòng còn thấp đạt 0,41 tấn/ha [tiêu chuẩn ngành là 1 - 1,5tấn/ha (28 TCN 110:1998)], tiếp theo đó là năng suất nuôi tôm sú quảng canhcải tiến là 0,13 tấn/ha và 1,55 tấn/ha đối với thâm canh (năm 2005) Để thúc đẩysản xuất nhằm tạo ra khối lượng hàng hóa lớn phục vụ cho xuất khẩu tôm sú, từ

2004 - 2009 ngành thủy sản thành phố Hải Phòng đã và đang thực hiện một số

dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách tập trung [23] Trong số đó có các dự ánnuôi tôm sú thâm canh vùng nước lợ, một số dự án tiêu biểu như:

Trang 18

- Dự án đường 14 Kiến Thụy - Đồ Sơn (quy mô 325 ha; 40,2 tỷ đồng)

- Dự án Phù Long, Cát Hải (quy mô 122 ha; 44,3 tỷ đồng)

- Dự án Đông - Tây Hưng, Tiên Lãng (quy mô 155 ha; 31,3 tỷ đồng)

- Dự án Tân Vũ, Hải An (quy mô 328 ha; 83,7 tỷ đồng)

- Dự án nuôi tôm sú công nghệ cao (91 ha, 59,9 tỷ đồng)

- Dự án Mắt Rồng (quy mô 65 ha, 15,7 tỷ đồng)

Nhưng trong quá trình triển khai việc thực hiện và kết quả của những dự ánđem lại không như mong đợi, hầu hết các dự án này đến nay vẫn chưa hoàn thành

và đưa vào sử dụng nên chưa phát huy được hiệu quả

Hải Phòng có chiều dài bờ biển là 125 km Nằm ven bờ phía Tây Vịnh vịnhBắc Bộ có tọa độ 29o30΄39΄΄ - 21o01΄15΄΄ vĩ độ Bắc, 106o23΄30΄΄ - 107o08΄39΄΄ kinh

độ Đông Hải Phòng, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh HảiDương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ (biểnĐông) Là khu vực chuyển tiếp giữa hai vùng tự nhiên lớn ở ven bờ Tây vịnhBắc Bộ [Vùng vịnh, đảo Đông Bắc (Móng Cái đến Đồ Sơn) là vùng ven bờ châuthổ sông Hồng (từ Đồ Sơn đến Lạch Trường)] [23] Do đó, Hải Phòng là vùngtập trung lớn bãi triều cửa sông ven biển nước ta Trên đó đang diễn ra nhữnghình thức khai thác khác như khai thác nông nghiệp, NTTS bằng đầm nước lợ,khai thác nguồn lợi hải sản ngoài tự nhiên,…Vùng ven biển Hải Phòng có tiềmnăng rất lớn về kinh tế biển Và để phát huy tốt lợi thế sẵn có mà thiên nhiên bantặng cho nơi đây, một trong những hướng đi của thành phố là nuôi trồng hải sản

mà chủ yếu nói đến nghề nuôi tôm sú Suốt dọc chiều dài vùng ven biển, việcnuôi tôm sú ở đây có những nét đặc trưng của sự biến đổi địa hình rất lớn, đó là:vùng ven biển Hải Phòng có hai loại hình cửa sông khác nhau về bản chất trầmtích đáy và môi trường nước có tác động rất gây ô nhiễm đến các ao nuôi tôm làvùng cửa sông châu thổ và cửa sông hình phễu Trong vùng cửa sông, sự tươngtác sông - biển là yếu tố động lực quan trong đối với sự biến động của các yếu tốkhác của môi trường, tại đây dòng triều tạo ra hiệu suất triều không chỉ ảnh

Trang 19

hưởng trực tiếp đến sự phân bố của độ muối mà còn làm biến đổi địa hình đáy

và sắp xếp lại các chất lắng đọng Cụ thể chia các vùng nuôi tôm sú tại HảiPhòng theo vùng sinh thái như sau:

1.3.1 Vùng nuôi tôm sú tại dải ven bờ Đông Bắc - Đồ Sơn

Địa hình nuôi ở đây thuộc dạng cửa sông hình phễu, cửa sông Bạch Đằng,sông Cấm, sông Lạch Tray chịu tác động chủ yếu của động lực biển [1], [6],[16], [23] Động lực biển thống trị trong điều kiện địa chất bị ngập chìm khôngđược bồi tích với những đặc trưng:

- Do động lực biển thắng thế, do đó vùng cửa sông này xói lở chiếm ưu thế

- Nước có độ mặn cao (về mùa mưa, độ mặn nước biển ở Cát Bà là 30%, cửasông Bạch Đằng, sông Cấm là 10 - 15%)

- Bờ bị chia cắt phức tạp bởi hệ thống luồng lạch sâu rộng kéo dài ra biển

- Đa dạng về sinh vật

- Đa dạng về địa mạo bờ biển

Diễn biến của tình trạng xói lở, bồi tụ đối với việc NTTS được thể hiện:

- Các đảo Cát Bà - Long Châu: Sóng thủy triều, độ mặn nước biển là độnglực xâm thực, bào mòn và ăn mòn hóa học các bờ đá của đảo tạo lên hệ thốngvách dốc đứng, các hang luồn, các cùng bờ lớn phát triển các bãi cát, vỏ sinhvật, các thềm san hô chất tích tụ bột sét là các bãi đặc sản có giá trị cao Môitrường ổn định, thuận lợi cho việc nuôi trồng hải sản với công nghệ cao

- Đoạn ven bờ Nam Triệu - Đương Gianh: Là đoạn bờ xói lở mạnh với mức

độ lớn nhất trong toàn dải ven bờ Hải Phòng Trong 50 năm qua, xói lở ở mựcbiển trung bình (MBTB) của Cát Hải là 7 m/năm, Phù Long 5 m/năm; ở mức 0hải đồ của Cát Hải là 32 m/năm, Phù Long là 24 m/năm Vấn đề này có liênquan đến phá RNM để lấn biển với mục đích nuôi trồng hải sản, trong đó cómột phần diện tích đáng kể vào nuôi tôm sú, làm thu hẹp dòng chảy và chưa cógiải pháp chống sói lở trên 8 km bờ biển phía nam Cát Hải Trên toàn tuyếnđang xảy ra quá trình xói lở bãi triều cao (BTC), tạo nguồn vật liệu hình thành

Trang 20

bãi triều thấp (BTT), với các doi cát triều, delta triều lên, delta triều xuống chắncửa luồng vào cảng phía ngoài cửa Nam Triệu Việc phá RNM còn làm cho mặtbãi triều mất lớp đất bề mặt giàu chất dinh dưỡng, do đó NTTS kém hiệu quả.

- Đoạn bờ cửa Lạch Tray đến cửa Nam Triệu: Sau khi đắp đập Đình Vũ (năm1981) đoạn bờ có xu thế bồi tụ ở Tây Nam cửa Cấm và xói lở ngang mở rộngluồng cho dòng triều ở phần bờ phía Tây Bắc cửa Cấm, nhất là phía Đông Namđảo Đình Vũ Trung bình 50 năm qua, tốc độ xói lở ở Đình Vũ ở mức 0 m hải

đồ là 4 m/năm Dọc phía sông Cấm, tình trạng bồi tụ gia tăng Mặt khác, nơi đâyhoạt động kinh tế cảng rất phát triển Điều đó đã làm gây ảnh hưởng rất lớn đếnmôi trường của các ao nuôi tôm sú

- Đoạn ven bờ đồi Độc đến cửa Lạch Tray: Trong 50 năm qua xu thế bồi tụ,xói lở chỉ là cục bộ Tốc độ bồi lấn ở MBTB là 20 m/năm, ở 0 m hải đồ là 3m/năm Việc chuyển dịch đê quốc gia trên đường 14, đường bờ được đắp thẳng

đã tạo điều kiện cho cát di chuyển dọc bờ gây lên bồi lấp ở bến cá Ngọc Hải vànhững cống cấp nước vào khu NTTS ven đường 14

Xét về tính chất môi trường đối với việc nuôi tôm sú, nơi đây là vùng cửasông hình phễu bồi tụ chậm, vùng của sông ổn định lâu dài, thường có thực vậtphát triển tiềm tàng rất lớn gây ô nhiễm lâu dài cho các ao nuôi tôm Nhưng môitrường nước lợ có độ mặn ổn định cao, ít dao động theo mùa và đặc điểm quantrọng nhất dao động mực nước thủy triều lớn thuận lợi cho môi trường của các

ao nuôi tôm

1.3.2 Vùng nuôi tôm sú tại dải ven bờ Tây Nam - Đồ Sơn

Địa hình ở đây thuộc cửa sông Văn Úc - Thái Bình, do bán đảo Đồ Sơn ánngữ, tác động của khu vực này yếu đi (biên độ thủy triều còn dưới 3,5 m), tốc độdòng triều giảm và sự chênh lệch tốc độ dòng triều lên và xuống không đáng kể.Khu vực cũng trong điều kiện địa chất ngập chìm, song được bồi tích bởi phù sacủa sông Văn Úc và sông Thái Bình Các sông này hàng năm đưa ra biểnkhoảng 9 triệu tấn bùn cát là tác nhân tạo lên “vùng cửa sông châu thổ” và đặc

Trang 21

trưng động lực sông thống trị, vùng triều của sông được bồi tụ mở rộng và nângcao dần, bờ biển chia cắt đơn giản hơn Nước có độ mặn thấp (mùa mưa độ mặnnước biển cửa sông Văn Úc chỉ đạt 1 - 5%), đây được coi là yếu tố bất lợi choviệc sinh trưởng và phát triển bình thường của tôm nuôi [1], [6], [16], [23].Diễn biến của tình trạng xói lở, bồi tụ đối với việc nuôi tôm sú:

- Đoạn bờ từ cửa Họng đến đồi Độc: Là đoạn bờ do sóng, thủy triều xâmthực, mài mòn các vách đá lục nguyên thuộc bán đảo Đồ Sơn, xen kẽ nhữngcung lõm được tích tụ cát, tạo cho khu bờ hình thái đa dạng, khúc khuỷu

- Đoạn bờ cửa Họng đến cửa sông Văn Úc: Đang diễn ra quá trình xói lở nhẹBTC, bồi tụ mạnh BTT Trong vòng 50 năm qua, tốc độ bồi lắng của đường 0 mhải đồ trung bình 40 m/năm Trong khi đó đường MBTB xói lở với tốc độ trungbình 5 m/năm Phía cửa hình thành một bãi triều thấp rộng đã làm năng lượngsóng và thủy triều và hiện tượng xói lở yếu đi, xong động lực biển vẫn cònmạnh Trong nhiều năm nữa, đoạn bờ vẫn thuộc đoạn xung yếu và quỹ đất bồi ởđây chưa đủ điều kiện để đưa vào sản xuất

- Đoạn từ cửa Văn Úc đến cửa sông Thái Bình: Ở đoạn này động lực sôngthống trị đã diễn ra quá trình bồi tụ mạnh, xói lở yếu dần và chỉ diễn ra ở khucồn cát giáp cửa Văn Úc từ Thái Bình đến Cống Ngựa Trong 50 qua, tốc độ bồilấn của đường MBTB 10 m/năm (đoạn giáp sông Văn Úc từ cống Ba Gian đếnxóm Đông) đến 45 m/năm (đoạn từ Cống Ngựa đến Cống C1) Xói lở khôngcòn là mối đe dọa đến đoạn đường này của huyện Tiên Lãng nên có thể tạo điềukiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi tôm sú nước lợ, khôi phục và pháttriển RNM

Cho đến nay, những nghiên cứu kiểm kê định lượng và tìm ra nguyên nhâncác ao nuôi tôm bị bỏ hoang trên các vùng cửa sông ven biển Hải Phòng, từ đó

đề xuất các biện pháp tái sử dụng có hiệu quả các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoanglần đầu tiên được nghiên cứu Kết quả nghiên cứu không những góp phần giảiquyết nguyên nhân suy thoái môi trường, dịch bệnh kéo dài dẫn tới bỏ hoang các

Trang 22

ao nuôi tôm mà còn đóng góp lý luận khoa học cho việc nghiên cứu bảo vệ môitrường cho ngành thủy sản và sẽ là tiền đề cho việc lập quy hoạch NTTS hợp lý

và phát triển bền vững (Nguyễn Đức Cự, 2009)

1.4 Một số thông tin chung về tài liệu ảnh vệ tinh SPOT

Theo [2], [7], [15], vệ tinh SPOT của Pháp lần đầu tiên được phóng vào21/02/1986, tiếp theo là sự thành công của SPOT-2 vào 02/1990, SPOT-3 vào3/1993 và SPOT-4 vào 03/1998 Vệ tinh SPOT mang hai bộ cảm, độ phân giảicao vùng ánh sáng nhìn thấy HRV (High resolution Visible imaging system) vớichức năng nhìn lập thể và xiên chéo Đây là vệ tinh thương mại đầu tiên đượcthiết kế để cung cấp dịch vụ tài liệu ảnh chất lượng cao cho cộng đồng sử dụng

có hiệu quả trên toàn thế giới

Các đặc điểm của ảnh vệ tinh SPOT như sau: Độ cao 830 km, độ nghiêng98,7o so với mặt phẳng qũy đạo, thời điểm qua quỹ đạo 10 giờ 30 phút sáng vàchu kì lặp là 26 ngày HRV có thể thay đổi góc chụp bởi thay đổi độ gương chụpvới ±27o Nó cho phép nhìn một vị trí từ các quỹ đạo khác nhau Chức năng nhìnnghiêng này cho phép tạo ra ảnh lập thể với ranh giới độ cao cho phép đo đạc độcao địa hình

Trang 23

PHẦN II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ 08/03/2009 - 05/08/2009

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khu vực nghiên cứu là các vùng NTTS trọng điểm ven biển Hải Phòngtại: huyện Tiên Lãng, huyện Kiến Thụy, Cát Hải, quận Đồ Sơn và quận Hải An

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

Các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển Hải Phòng

2.2 Phương pháp - Kĩ thuật nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Vùng ben biển Hải Phòng là vùng có hai loại cửa sông điển hình khác nhau

về trầm tích đáy và môi trường nước có tác động rất lớn gây ô nhiễm đến các aonuôi tôm sú, đó là vùng cửa sông châu thổ và vùng cửa sông hình phễu Mỗivùng cửa sông bị chi phối rất khác biệt về điều kiện tự nhiên và sinh thái Vìvậy, các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở đây có rất nhiều nguyên nhân cần đượcnghiên cứu và đánh giá

Phương pháp nghiên cứu mang tính hệ thống như sau:

Tìm hiểu tổng quan các vùng cửa sông dọc ven biển Hải Phòng: vùng cửasông châu thổ (dải ven bờ phía Tây Nam - Đồ Sơn) và vùng cửa sông hình phễu(dải ven bờ phía Đông Bắc - Đồ Sơn) Từ đó, đi đến nghiên cứu tại các vùngnuôi trọng điểm tại các quận, huyện nơi có diện tích hoang hóa lớn

2.2.2 Phương pháp kế thừa tài liệu

Đề tài kế thừa các tài liệu nghiên cứu đã có về môi trường và suy thoái môitrường, dịch bệnh trong các ao nuôi tôm sú của các Viện nghiên cứu Đồng thờitổng kết, thống kê các tài liệu báo cáo quản lý thường xuyên của Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) thành phố Hải Phòng và các

Trang 24

Phòng NN & PTNT các quận, huyện trong thành phố về hiện trạng các ao nuôitôm sú bị bỏ hoang

2.2.3 Phương pháp tiếp cận lịch sử

Sử dụng các ảnh vệ tinh SPOT được chụp ở thời gian xác định khác nhau, sốliệu báo cáo của Sở NN & PTNT thành phố Hải Phòng nhiều năm để kiểm kêdiện tích và biến động các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang theo các mốc thời gian

Từ đó, đánh giá xu thế bỏ hoang của các ao nuôi tôm và làm rõ hơn về nguyênnhân

2.2.4 Phương pháp tiếp cận liên ngành

Đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực ô nhiễm và suy thoái môi trường biển liênquan đến NTTS là một lĩnh vực đa ngành Vì vậy, phương pháp tiếp cận tài liệucủa đề tài là tập hợp đông đảo những nghiên cứu về nhiều chuyên ngành khácnhau, như: Địa hóa, hóa môi trường, sinh học, vi sinh học, NTTS và bệnh trongNTTS, kinh tế xã hội của các quận, huyện có diện tích ao nuôi tôm trên toànthành phố Hải Phòng để nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận các kĩ thuật NTTS tiên tiến: các kĩ thuật tiên tiếnđược áp dụng trong NTTS (thủy lý, thủy hóa, địa hóa, sinh học, vi sinh học,…)đảm bảo phục hồi tái tạo môi trường sinh thái đã bị phá hủy do ao nuôi tôm gây

ra dẫn đến bị bỏ hoang trên cơ sở phải mang tính ổn định

- Phương pháp tiếp cận HST: Các chức năng của HST vùng của sông venbiển Hải Phòng cần được duy trì và bảo vệ, môi trường sinh thái có những đặcđiểm khác nhau về nền đáy, thổ nhưỡng, mùa vụ,

- Phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng: Ý thức việc bảo vệ môi trườngvùng nuôi tôm sú, phòng ngừa dịch bệnh, sử dụng tốt các giải pháp kĩ thuật đãđược đề xuất, nhân rộng mô hình NTTS có hiệu quả,…phụ thuộc rất lớn vàonhận thức của cộng đồng (từ người quản lý, cán bộ kĩ thuật, người nuôi,…).Cách tiếp cận này cho phép tìm hiểu được nhiều thông tin về hiện trạng vànguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang (trình độ quản lý, quy hoạch, điều

Trang 25

kiện kinh tế và mức độ đầu tư, trình độ kĩ thuật,…), tìm hiểu các giải pháp tổnghợp từ cộng đồng Từ đó, đưa ra các giải pháp phục hồi các ao nuôi tôm sú bị bỏhoang ở các vùng cửa sông ven biển của thành phố Hải Phòng một cách hợp lý.

2.2.5 Khảo sát thực địa

Tìm hiểu các vấn đề của vùng nuôi tôm ven biển Hải Phòng có diện tích nuôitôm bị bỏ hoang lớn, vùng sinh thái trọng điểm về môi trường, dịch bệnh, cácvấn đề kĩ thuật, điều kiện kinh tế - xã hội, công tác quản lý, quy hoạch và thựchiện quy hoạch,…

2.2.6 Phương pháp giải đoán ảnh viễn thám

* Tài liệu ảnh vệ tinh SPOT

Các ảnh vệ tinh SPOT đa phổ khu vực vùng ven biển Hải Phòng được sửdụng trong luận văn tốt nghiệp này gồm:

+ Ảnh SPOT đa phổ thu ngày 24/12/1994

+ Ảnh SPOT đa phổ thu ngày 14/09/2000

+ Ảnh SPOT đa phổ thu ngày 05/11/2008

* Phân tích và đánh giá tài liệu đã có

Các tài liệu được thu thập từ các báo cáo liên quan đến hiện trạng đầm nuôi

và biến động diện tích đầm nuôi, RNM vùng ven biển Hải Phòng trong 14 năm(1994 - 2008) được phân tích, chọn lọc để đưa vào sử dụng trong nội dung của

đề tài

* Phân tích và giải đoán tài liệu viễn thám qua ảnh và giải đoán bằng mắt

Trang 26

Các tài liệu viễn thám được xử lý bằng phương pháp xử lý ảnh số (hình 1)kết hợp với phương pháp giải đoán bằng mắt.

Phương pháp xử lý ảnh bằng mắt sẽ phụ thuộc rất lớn vào “khả năng đọc ảnh” của người giải đoán và các yếu tố giải đoán ảnh vệ tinh Việc kết hợp cả

hai phương pháp vào giải đoán ảnh vệ tinh sẽ cho kết quả chính xác nhất

Hình 1 Mô hình tổng quát các bước giải đoán ảnh vệ tinh SPOT

* Sai số gặp phải trong quá trình phân tích và giải đoán ảnh vệ tinh viễn thám

Trong quá trình giải đoán ảnh SPOT sẽ gặp phải 2 loại sai số ảnh hưởng đến

độ tin cậy của kết quả khi sử dụng phương pháp này, đó là sai số hệ thống và sai

số ngẫu nhiên

- Sai số hệ thống: Thời tiết tại thời điểm mà vệ tinh bay chụp có ảnh hưởngrất lớn đến chất lượng ảnh chụp Trời nắng đến quang mây, không có hiện tượngmưa gió là điều kiện thuận lợi cho vệ tinh viễn thám bay chụp thì mức độ giảiđoán ảnh thông qua tiêu chí độ chính xác của phân loại ảnh có thể đạt 95% -100% nhưng còn phụ thuộc vào năng lực của người giải đoán ảnh Trái lại, vệtinh viễn thám bay chụp trong điều kiện thời tiết xấu, nhiều mây, trời âm u,…sẽcho ảnh chụp với chất lượng không cao, thiếu sự chính xác của đối tượng và giải

Trang 27

phổ mà vệ tinh thu được không có tính thuyết phục Như vậy, kết quả giải đoánảnh vệ tinh qua tiêu chí độ chính xác của phân loại ảnh sẽ ở dưới mức 95%.

- Sai số ngẫu nhiên: Kết quả giải đoán ảnh vệ tinh phụ thuộc rất nhiều vào người

giải đoán Đó là, “khả năng đọc ảnh của người giải đoán” và “các yếu tố giải đoán của người đọc ảnh”

* Kĩ thuật sử dụng hệ thông tin địa lý (GIS)

Bằng kỹ thuật sử dụng hệ thông tin địa lý (GIS), việc chồng phủ hai lớp bản đồ

giúp cho việc tính và thành lập được bản đồ biến động diện tích đầm nuôi giaiđoạn 2000 - 2008

Việc ứng dụng công nghệ hệ thông tin địa lý, nhiều thông tin khác nhau cũngđược đưa vào xử lý tạo ra kết quả chính xác và phong phú hơn rất nhiều so vớitrường hợp chỉ sử dụng riêng tư liệu viễn thám Nhờ GIS đã cho phép tính toánđược những đối tượng là diện tích đầm nuôi, RNM trong và ngoài khu vực đầmnuôi Mặt khác, từ kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thảo (2002) sẽ tínhđược biến động ở giai đoạn 1994 - 2000 Như vậy, biến động diện tích đầmnuôi, RNM sẽ được làm rõ trong 14 năm 1994 - 2008.)

* Một số kĩ thuật khác

- Kĩ thuật làm bản đồ bằng phần mềm Map infor

- Kĩ thuật sử dụng phần mềm vẽ Corel Draw 12

Như vây, với sự kết hợp kĩ thuật bản đồ và giải đoán ảnh viễn thám cùng vớicông cụ GIS sẽ mang lại một bức tranh tổng thể về hiện trạng các ao nuôi tôm sú

vị bỏ hoang:

- Xác định hiện trạng sử dụng các ao nuôi tôm sú trước và sau khi bỏ hoang

- Tình hình bỏ hoang (thời gian bỏ hoang, hiện trạng đang khai thác sử dụng

và hướng khai thác sử dụng trong tương lai)

Trang 28

- Địa điểm và phân bố các ao nuôi tôm sú bỏ hoang trên vùng cửa sông châuthổ (phía Tây Nam - Đồ Sơn) và vùng cửa sông hình phễu (phía Đông Bắc -

Đồ Sơn) tại vùng ven biển Hải Phòng

2.2.7 Phân biệt hiện trạng ao đầm nuôi tôm sú bằng phương pháp phân tích

và giải đoán ảnh vệ tinh viễn thám

Trên ảnh vệ tinh SPOT thể hiện tương đối chính xác về hiện trạng các aođầm nuôi tôm Thông qua phản xạ phổ, công cụ này làm rõ được:

- Các ao đầm nuôi tôm sú quảng canh, quảng canh cải tiến

- Các ao đầm nuôi tôm sú bán thâm canh, nuôi công nghiệp

- Các ao đầm nuôi tôm sú đang giảm năng suất hoặc bị bỏ hoang

2.3 Xử lý số liệu

Phương pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng tài liệu, phân tích, kết quả thựcnghiệm, đánh giá thông tin sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel

Trang 29

PHẦN III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng đầm nuôi thủy sản vùng ven biển Hải Phòng

3.1.1 Khái niệm về hoang hóa trong các ao đầm nuôi tôm sú

Các ao đầm nuôi tôm sú có xuất xứ phần lớn từ vùng đất bồi tự nhiên cóRNM phát triển tại các thuỷ vực ven bờ, ngoài ra còn cả phần đóng góp từ việcchuyển đổi của các qũy đất khác nhau Thời gian ban đầu khi mới xây dựng aođầm, các ao đầm nuôi tôm sú đều cho hiệu quả năng suất và sản lượng cao;không thấy xuất hiện dịch bệnh; do khi đó môi trường chưa bị ô nhiễm, mầmbệnh chưa được tích lũy, nhưng theo thời gian, trầm tích nền đáy ngày càng bịtích tụ vượt quá sức tải môi trường dẫn đến dịch bệnh và lan truyền dịch bệnhlàm mất sản lượng, giảm năng suất Thực tế, đã có rất nhiều ao đầm nuôi tôm súthuộc vùng ven biển Hải Phòng có một thời gian dài không nuôi, không đầu tưthức ăn, con giống và quản lý, chỉ tháo nước vào ra thu hoạch tự nhiên hoặc thảrất ít giống, không đầu tư thức ăn, công chăm sóc…những ao đầm như thế đượcgọi là ao đầm nuôi tôm sú bị hoang hóa

3.1.2 Bản đồ hiện trạng đầm nuôi thủy sản vùng ven biển Hải Phòng

Đề tài đã sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh viễn thám SPOT đa phổ để thành lập

bản đồ hiện trạng đầm nuôi và biến động diện tích đầm nuôi, diện tích rừngngập mặn (RNM) ở các mốc thời gian năm1994, 2000 và năm 2008 Kết quảđược thể hiện trong bảng 1

Trang 30

Bảng 1 Diện tích đầm nuôi và RNM theo các khu vực thuộc vùng ven biển Hải Phòng ở các mốc thời

gian năm 1994, năm 2000 và năm 2008

Diện tích năm 2008 (ha) Đầm

Đầm nuôi

RNM

Đầm nuôi

RNM Trong

đầm

Ngoài đầm

Trong đầm

Ngoài đầm

Vào thời điểm năm 1994 (bảng 1, hình 2), các địa điểm như Đình Vũ, CátHải, Phù Long thuộc vùng cửa sông hình phễu nằm ở phía Đông Bắc - Đồ Sơn

đã được khoanh đắp đầm nuôi Nhưng ở khu vực phía Tây Nam - Đồ Sơn vùngcửa sông châu thổ này có diện tích đầm nuôi là không đáng kể Cụ thể:

- Ở khu vực phía Đông Bắc - Đồ Sơn, diện tích đầm nuôi là 2037,29 ha,trong đó:

+ Phù Long - đảo Cát Bà 410,33 ha

+ Thị trấn Cát Hải - Đồng Bài - Nghĩa Lộ - Văn Phong 735,29 ha

+ Đình Vũ - Tràng Cát 891,67 ha

Trang 31

- Ở khu vực phía Tây Nam - Đồ Sơn, diện tích đầm nuôi là 259,98 ha Phân

bố đầm nuôi tôm ở khu vực này chủ yếu tập trung dọc đường 14 và Bàng La Tổng diện tích đầm nuôi ở Hải Phòng năm 1994 là 2297,27 ha, nhìn chungđầm nuôi được khoanh đắp với diện tích lớn thường từ hàng chục đến hàngtrăm ha một đầm

Hình 2 Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 24/12/1994 khu vực vùng ven

biển Hải Phòng

Năm 2000, diện tích đầm nuôi tại Hải Phòng đã tăng lên rất nhanh so vớinăm 1994, sau 6 năm ở khu vực phía Đông Bắc - Đồ Sơn diện tích đầm nuôităng lên tại những nơi có RNM ngoài đầm nuôi và một phần từ diện tích bãitriều cao (bảng 1, hình 3)

- Ở khu vực phía Đông Bắc - Đồ Sơn, diện tích đầm nuôi là 3424,68 ha,trong đó:

+ Phù Long - đảo Cát Bà 702,34 ha

+ Thị trấn Cát Bà - Đồng Bài - Nghĩa Lộ - Văn Phong 936,15 ha

+ Đình Vũ - Tràng Cát 1786,19 ha

Trang 32

- Ở khu vực phía Tây Nam - Đồ Sơn, diện tích đầm nuôi là 1973,64 ha Nhưvậy, diện tích đầm nuôi tôm ở khu vực này đã tăng lên đáng kể, chủ yếu là mởrộng ra từ phần diện tích cũ của năm 1994.

Hình 3 Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 14/09/2000 khu vực vùng ven biển Hải Phòng

Hình 4 Bản đồ hiện trạng đầm nuôi khu vực vùng ven biển

Hải Phòng năm 2000

Trang 33

Năm 2008, sau một thời gian thực hiện Nghị quyết số 09/2000/QĐ - TTg,việc chuyển đổi đất trồng lúa, làm muối năng suất thấp và đất hoang hóa sangNTTS, phá RNM để nuôi tôm đã làm cho diện tích nuôi được mở rộng một cáchnhanh chóng Ở khu vực phía Đông Bắc - Đồ Sơn, diện tích đầm nuôi từ3424,68 ha năm 2000 tăng lên đến 4932,39 ha năm 2008 Ở khu vực phía TâyNam - Đồ Sơn, diện tích đầm nuôi từ 1973,64 ha năm 2000 tăng lên đến4345,65 ha năm 2008 (bảng 1, hình 4, hình 5, hình 6).

Hình 5 Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 05/11/2008 khu vực vùng

ven biển Hải Phòng

Trang 34

Hình 6 Bản đồ hiện trạng đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phòng năm 2008

3.1.3 Biến động diện tích đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phòng giai đoạn 1994 - 2008

Qua tổng hợp phân tích tài liệu, giải đoán ảnh vệ tinh và chồng phủ lớp cáclớp bản đồ hiện trạng đầm nuôi vùng ven biển Hải Phòng thu được kết quả biếnđộng diện tích đầm nuôi giai đoạn 1994 - 2008 thể hiện ở bảng 2

Trang 35

Bảng 2 Biến động diện tích đầm nuôi ở Hải Phòng giai đoạn 1994 - 2008

Khu

vực

Biến động diện tích đầm nuôi

1994 - 2000

Biến động diện tích đầm nuôi

2000 - 2008

Biến động diện tích đầm nuôi

1994 - 2008 Đầm

Đầm nuôi

RNM

Đầm

Trong đầm

Ngoài đầm

Từ bảng 2 diện tích đầm nuôi năm 1994 đến nay đều có xu hướng mở rộngdiện tích nhưng diện tích RNM trong suốt 14 năm qua có mức biến động tráichiều so với đầm nuôi Các giá trị của bảng 3 được hiểu như sau: diện tích rừng

bị mất đi có giá trị âm (-), diện tích rừng sinh trưởng và phát triển thêm hoặc

được trồng mà thời điểm tính mà có diện tích lớn hơn thời điểm trước đó thì

mang giá trị dương (+) Bằng cách nhìn nhận này, ta có:

Giai đoạn 1994 - 2000, qua giải đoán ảnh vệ tinh ta thấy khu vực như PhùLong, Cát Hải, Đình Vũ, Tràng Cát, đường 14 - Đồ Sơn và Tiên Lãng diện tíchđầm nuôi đều có xu hướng tăng thêm Khu vực Phù Long - Cát Bà tăng 292,01

ha, Cát Hải tăng 200,86 ha , Đình Vũ Tràng Cát tăng 894,52 ha và Đồ Sơn

Trang 36

-Kiến Thụy - Tiên Lãng tăng 1713,66 ha Biến động tổng diện tích đầm nuôi tạiHải Phòng trong giai đoạn này là 3101,05 ha.

Giai đoạn 2000 - 2008, diện tích đầm nuôi đã phát triển một cách ồ ạt, nhanhchóng trong những năm đầu thực hiện Nghị quyết số 09/2000/QĐ - TTg, thànhphố Hải Phòng đã chuyển đổi các loại đất sản xuất lúa kém hiệu quả, đất trũng,đất ven biển chuyển sang NTTS Do vậy, diện tích đầm nuôi ở vùng ven biểnHải Phòng năm 2008 tăng gần gấp đôi so với năm 2000 từ 5398 ha lên đến 9278

ha Đa phần các diện tích khoanh đắp này chủ yếu tập trung vào khu vực cónhiều xói lở bãi triều xảy ra mạnh mẽ ở phía bắc cửa sông Bạch Đằng, phần bãitriều thấp phía nam cửa sông đến Đồ Sơn, đối diện với biển, chịu sự tác độngmạnh của sóng, dòng chảy, động lực biển thắng thế (hình 7, bảng 2)

Hình 7 Bản đồ biến động diện tích đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải

Phòng giai đoạn 2000 - 2008

Bảng 3 Mức độ xói lở bãi triều vùng ven biển Hải Phòng

giai đoạn 1994 - 2008 (m/năm)

Trang 37

Vinh Quang 150 - 450 300 6

Bàng La 100 - 400 250 5

Đông Đình

Vũ 250 - 500 350 7 500 - 1000 800 16Cát Hải 300 - 600 350 7 500 - 2300 160 32 Phù Long 100 - 300 250 5 1000 - 1500 1200 24 Tổng

Nguồn: Theo Viện Tài nguyên và Môi trường, năm 2008)

Bảng 3 cho thấy, những khu vực như Đình Vũ, Cát Hải, Phù Long mức độxới lở ngang rất lớn cả bãi triều cao và bãi triều thấp Trung bình bãi triều cao từ

5 - 7 m/năm, bãi triều thấp trung bình 16 - 32 m/năm Phía Đông Bắc - Đồ Sơnnày diễn ra nhiều hoạt động kinh tế khác nhau Để bảo vệ tốt vùng bờ biển này,một trong những biện pháp hữu hiệu và tiết kiệm hạn chế tác động tiêu cực củahiện tượng xói lở vùng bờ cần duy trì và phát triển trồng RNM Trong thời gianqua việc phá và lấn chiếm RNM khoanh đắp ao tôm diễn ra đáng báo động, hậuquả là cơn bão số 2 năm 2005 đã phá hủy cả đoạn đê dài, gây thiệt hại lớn.Trong giai đoạn 1994 - 2000, RNM tại các khu vực Đình Vũ, Tràng Cát và PhùLong RNM đã bi mất đi một phần chuyển sang ao đầm nuôi tôm và một phầnlớn diện tích đã chuyển sang vào các loại hình kinh tế khác

Bảng 4 Mức độ bồi tụ ngang bãi triều ở một số điểm ven bờ Hải Phòng trong

giai doạn 1994 - 2008 (m/năm)

Tiên Lãng 800 - 2500 1800 36 800 - 3000 1500 30 Đại Hợp 20 - 50 40 1 1700 - 2500 2000 40 Đường 14 700 - 1500 1000 20 100 - 200 150 3

Trang 38

Tràng Cát 300 - 600 400 8 150 - 250 200 4 Nam Đình Vũ 200 - 500 300 6 120 - 200 160 4 Tổng

trung bình 708 14,2 802 16,2

Nguồn: Theo Viện Tài nguyên và Môi trường, năm 2008)

Từ bảng 4 cho thấy, mức độ bồi tụ ngang ở Tiên Lãng là rất lớn với bãi triềucao là 36 m/năm, bãi triều thấp là 30 m/năm Ngoài ra, các khu vực khác cũng cómức bồi tụ ngang lớn như bãi triều cao ở đường 14 (20 n/năm), bãi triều thấp ởĐại Hợp (40 m/năm) Nhìn chung, các khu vực này đều nằm ở phía Tây Nam -

Đồ Sơn có tích thất vùng cửa sông châu thổ bồi tụ Mặt khác, mức độ bồi tụ cả ởbãi triều cao và bãi triều thấp tại khu vực Tràng Cát và phía Nam Đình Vũ làkhông nhiều, chỉ dao động từ 4 - 6 m/năm Ở các khu vực Tràng Cát và Đình Vũ

có tích chất vùng cửa sông hình phễu bồi tụ ít

Như vậy, đối với bãi triều cao (tổng trung bình xói lở ngang là 6 m/năm, tổngtrung bình bồi tụ ngang là 14,2 m/năm); đối với bãi triều thấp (tổng trung bình xói

lở ngang là 14,4 m/năm, tổng trung bình bồi tụ ngang là 16,2 m/năm) Trong giaiđoạn 1994 - 2008, cân bằng tổng trung bình m/năm được bồi tụ và bị xói lở củabãi triều cao là 8,2 m/ năm, bãi triều thấp là 1,8 m/năm Như vậy, diễn biến củaquá trình xói lở và bồi tụ ở các khu vực khác nhau có tích chất phức tạp

3.1.4 Kết quả phân tích hiện trạng ao đầm nuôi tôm sú bằng giải đoán ảnh

vệ tinh SPOT đa phổ

* Đối với các ao đầm nuôi tôm sú quảng canh, quảng canh cải tiến

Diện tích ao đầm nuôi rất lớn (từ vài chục đến hàng trăm ha) gây rất nhiềukhó khăn cho công tác chăm sóc và quản lý trong quá trình nuôi

Màu nước trong các ao đầm nuôi thể hiện trên ảnh đậm hơn nhiều so vớimàu nước biển tự nhiên vùng ven bờ bãi triều tự

Cỏ trong các ao đầm nuôi và xung quanh bờ phát triển rậm rạp

Trang 39

Hình 8 Vị trí các ao (đầm) nuôi tôm sú quảng canh, quảng canh cải tiến

* Đối với các ao đầm nuôi tôm sú bán thâm canh, nuôi công nghiệp

Diện tích ao đầm nhỏ và vừa phải rất thuận tiện cho việc chăm sóc và quản

lý trong quá trình nuôi

Màu nước trong các ao đầm nuôi thể hiện trên ảnh gần giống với màu nướcbiển tự nhiên vùng ven bờ bãi triều

Cỏ trong ao đầm nuôi và xung quang bờ không đáng kể

Trang 40

Hình 9 Vị trí các ao (đầm) nuôi tôm sú bán thâm canh, nuôi công

nghiệp

* Đối với các ao đầm nuôi tôm sú đang giảm năng suất hoặc bị bỏ hoang

Màu nước trong các ao đầm thể hiện trên ảnh đậm hơn nhiều so với màunước biển tự nhiên vùng ven bờ bãi triều

Cỏ trong các ao đầm nuôi và xung quanh bờ phát triển rậm rạp

Không thường xuyên ngập nước, kết hợp với khảo sát thực địa để phân tíchgiải đoán

Ngày đăng: 18/12/2014, 09:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mô hình tổng quát các bước giải đoán ảnh vệ tinh SPOT - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Hình 1. Mô hình tổng quát các bước giải đoán ảnh vệ tinh SPOT (Trang 24)
Hình 2. Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 24/12/1994 khu vực vùng ven biển Hải Phòng - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Hình 2. Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 24/12/1994 khu vực vùng ven biển Hải Phòng (Trang 29)
Hình 3. Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 14/09/2000 khu vực vùng ven biển Hải Phòng - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Hình 3. Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 14/09/2000 khu vực vùng ven biển Hải Phòng (Trang 30)
Hình 4. Bản đồ hiện trạng đầm nuôi khu vực vùng ven biển  Hải Phòng năm 2000 - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Hình 4. Bản đồ hiện trạng đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phòng năm 2000 (Trang 30)
Hình 5. Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 05/11/2008 khu vực vùng  ven biển Hải Phòng - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Hình 5. Ảnh vệ tinh SPOT đa phổ thu ngày 05/11/2008 khu vực vùng ven biển Hải Phòng (Trang 31)
Bảng 2. Biến động diện tích đầm nuôi ở Hải Phòng giai đoạn 1994 - 2008 - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Bảng 2. Biến động diện tích đầm nuôi ở Hải Phòng giai đoạn 1994 - 2008 (Trang 33)
Hình 7. Bản đồ biến động diện tích đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2008 - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Hình 7. Bản đồ biến động diện tích đầm nuôi khu vực vùng ven biển Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2008 (Trang 34)
Bảng 3 cho thấy, những khu vực như Đình Vũ, Cát Hải, Phù Long mức độ xới lở ngang rất lớn cả bãi triều cao và bãi triều thấp - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Bảng 3 cho thấy, những khu vực như Đình Vũ, Cát Hải, Phù Long mức độ xới lở ngang rất lớn cả bãi triều cao và bãi triều thấp (Trang 35)
Hình 8. Vị trí các ao (đầm) nuôi tôm sú quảng canh, quảng canh cải tiến - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Hình 8. Vị trí các ao (đầm) nuôi tôm sú quảng canh, quảng canh cải tiến (Trang 37)
Bảng 6. Diễn biến diện tích, sản lượng và năng suất nuôi tôm sú tại Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2008 - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Bảng 6. Diễn biến diện tích, sản lượng và năng suất nuôi tôm sú tại Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2008 (Trang 44)
Bảng 7. Kết quả quan trắc môi trường nước tại một số vùng nuôi tôm sú trọng điểm Hải Phòng  giữa vụ nuôi năm 2004 - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Bảng 7. Kết quả quan trắc môi trường nước tại một số vùng nuôi tôm sú trọng điểm Hải Phòng giữa vụ nuôi năm 2004 (Trang 45)
Bảng 8. Kết quả quan trắc môi trường nước tại một số vùng nuôi tôm sú trọng điểm Hải Phòng  giữa vụ nuôi năm 2008 - nghiên cứu nguyên nhân các ao nuôi tôm sú bị bỏ hoang ở vùng ven biển hải phòng
Bảng 8. Kết quả quan trắc môi trường nước tại một số vùng nuôi tôm sú trọng điểm Hải Phòng giữa vụ nuôi năm 2008 (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w