những dẫn liệu quan trọng về thành phần loài và nơi tìm thấy của nhiều nhómđộng vật đáy nước ngọt vùng Đông Dương như trai ốc, giáp xác,…có thể coiđây là một trong những tài liệu cơ bản
Trang 1Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng thì yêu cầu bảo
về các nguồn lợi tự nhiên của mặt nước ngày càng bức thiết.Việt phát triển ồ
ạt, không quy hoạch và thiếu kỹ thuật đang làm ô nhiễm nguồn nước đồngthời làm mất đi các nguồn lợi tự nhiên có trong các thủy vực Trong đó cómột nguồn lợi mà ít ai để ý và quan tâm tới là các loài động vật đáy tồn tạitrong thủy vực
Động vật đáy là thành phần của chuỗi, mạng lưới thức ăn tự nhiên trongthủy vực, nó còn có vai trò lọc sạch nước nuôi trong thủy vực nuôi trồng thủysản, và là sinh vật chỉ thị Sự tồn tại của quần xã động vật đáy trong thủy vực
có ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản Đã cónhiều nghiên cứu về các thủy vực trong khu vực nhưng hầu như chỉ tập trungvào loại hình mặt nước
Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát thành phần khu hệ động
vật đáy tại các thủy vực trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội” nhằm cung
cấp dữ liệu cho việc đề xuất các biện pháp nâng cao sản lượng và hiệu quảkinh tế cho các thuỷ vực nuôi trồng thủy sản tại trường
Trang 3PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về động vật đáy.
Sinh vật đáy (Benthos) là tập hợp sinh vật sống trên nền và trong nền đáy, gồm: Động vật đáy (zoobenthos) và thực vật đáy (phytobenthos) Tuỳ
theo đặc điểm sinh thái, động vật đáy được chia thành loại sống trên nền đáy
và loại sống trong nền đáy, loại bám một phần và loại bám hoàn toàn vào đáy.Theo kích thước, động vật đáy chia thành nhóm động vật đáy lớn
(macrobenthos), động vật đáy trung bình (mesobenthos), động vật đáy nhỏ (microbenthos) và động vật đáy rất nhỏ (meiobenthos)
Các động vật đáy lại được chia thành nhóm ăn mùn bã hữu cơ, nhóm ănthực vật, nhóm ăn động vật: loại di động, loại ít di động và loại không diđộng, v v Động vật đáy là tập hợp những động vật không xương sống, sốngtrên mặt nền đáy (epifauna) hay trong tầng đáy (infauna ) của thủy vực Ngoàicác đối tượng trên, có một số loài sống tự do trong tầng nước nhưng cũng cóthời gian khá dài sống bám vào giá thể hay vùi mình trong tầng đáy thì vẫnđược xếp vào nhóm động vật đáy Động vật đáy sống trong thủy vực khôngchỉ chịu sự tác động của các yếu tố lý hóa của môi trường mà còn chịu sự tácđộng trực tiếp của chất đáy
Sinh vật đáy ở các vực nước ngọt ít hơn về lượng và kém phong phú vềchủng, loài so với các thủy vực nước mặn Động vật đáy chủ yếu gồm độngvật nguyên sinh, thân lỗ, giun ít tơ, thân mềm và ấu trùng côn trùng Thực vậtđáy có dạng sợi của tảo lục, tảo silic và các thực vật ven bờ gồm nhiều tầng.Hai nhóm sinh vật đáy quan trọng nhất, chiếm tỉ trọng cao trong tổng sảnlượng các động vât không xương sống được khai thác hàng năm trên thế giới
là thân mềm ( hầu, vẹm, trai, ốc, v v …) chiếm 62% và giáp xác ( tôm, cua v
v …) chiếm 30% ; các loài thân lỗ và san hô cũng có giá trị cao trong khai
Trang 4thác Nhiều loài thực vật đáy được dùng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi vànguyên liệu cho công nghiệp ( ví dụ : : rong câu, rong bún, rong mơ, các loàirong nước ngọt …).
Trong các thủy vực nuôi trồng thủy sản, các loài động vật thủy sinhhoang dã thường là nguồn thức ăn thích hợp và giàu dinh dưỡng của các đốitượng thủy sản nuôi Khi chêt đi, chúng có thể cung cấp cho vùng nuôi mộtlượng muối dinh dưỡng cần thiết để duy trì cơ sở thức ăn tự nhiên của vùngnuôi
- Động vật đáy là thành phần của chuỗi, mạng lưới thức ăn tự nhiên
trong thủy vực
Mối quan hệ chủ yếu của các sinh vật trong thủy vực là quan hệ về thức
ăn thông qua chu trình vật chất Mắt xích đầu tiên là tảo ( sinh vật tự dưỡng )cho tới mắt xích cuối cùng của lưới thức ăn là cá ( nguồn lợi sinh vật mà conngười có thể sử dụng ) Một đặc tính trong chu trình vật chất là chu trình càngdài thì năng lượng tiêu hao càng lớn
- Lọc sạch nước của thủy vực.
Do đặc tính dinh dưỡng của từng nhóm sinh vật trong quần xã mà tínhchất này được coi là đặc tính ưu việt nhất của thủy sinh vật Quá trình lọcsạch thể hiện dưới các dạng sau:
+ Làm giảm nguồn hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Đặc tính ăn lọccủa các loài thuộc nhóm sinh vật không xương thủy sinh như Protozoa,Rotatoria và Mollusca sẽ làm giảm đi nguồn vật chất hữu cơ trong nước
+ Tích lũy chất độc, kim loại nặng Khả năng sinh vật có thể tích luỹ
một số lượng giới hạn chất độc trong một thời gian ngắn, nhưng trong quátrình sinh trưỏng và phát triển do sự hấp thu lâu dài nên cơ thể sinh vật có khảnăng tích tụ một lượng chất độc khá cao Quá trình này làm giảm đi đáng kểlượng chất độc lơ lửng trong môi trường nước
Trang 5- Là sinh vật chỉ thị
Sự tồn tại và phát triển của một nhóm sinh vật bất kỳ trong môi trườngnào đó là kết quả của quá trình thích nghi Sự phát triển mạnh của một nhómsinh vật nhất định sẽ biểu hiện được tính chất của môi trường ở đó thích hợpcho sự phát triển của quần xã này Ví dụ, môi trường giàu chất hữư cơ sẽ làmôi trường thuân lợi cho nhóm sinh vật ăn lọc như Protozoa, Rotatoria hayCladocera
Mặt khác sự không thích ứng hay mất đi một nhóm sinh vật bất kỳtrong khu hệ cũng là dấu hiệu cho thấy khuynh hướng diễn biến của môitrường Ví dụ, trong môi trường có hàm lượng độc tố của nông dược cao sẽlàm ức chế quá trình phát triển hoặc tiêu diệt các nhóm sinh vật nhưRotatoria, Cladocera
Sự xuất hiện hay mất đi của một nhóm sinh vật nào đó thể hiện đượcđặc tính môi trường được gọi là sinh vật chỉ thị Động vật thủy sinh với đặctính sinh trưởng nhanh, sức sinh sản cao, vòng đời ngắn rất thích hợp cho việcnghiên cứu làm sinh vật chỉ thị đặc tính của môi trường nước
- Tuy vậy, động vật, đặc biệt là động vật thủy sinh khi cùng tồn tạitrong môi trường nuôi có những tác động tiêu cực tới động vật nuôi thủy sản
+ Động vật hoang dã có thể cạnh tranh oxy và thức ăn của động vậtnuôi thủy sản Cùng sống trong môi trường ao nuôi, nếu động vật hoang dã cómật độ cao, chúng có thể cạnh tranh oxy và nguồn thức ăn nhân công do conngười đưa xuống, gây thiệt hại về kinh tế cho người nuôi và hạn chế sinhtrưởng của vật nuôi
+ Động vật thủy sinh và động vật trên cạn có thẻ trở thành ký chủ trunggian, ký chủ cuối cùng hoặc là các sinh vât mang mầm bệnh lây nhiễm chođộng vật thủy sản nuôi Trong các ao nuôi cá, giáp xác và động vật thân mềmchính là ký chủ trung gian của nhiều loài giun sán ( Digenea, Cestoidea,
Trang 6Acanthocephala) ký sinh gây bệnh ở cá nuôi Trong ao nuôi giáp xác và độngvật thân mềm, thì cá lại là các ký chủ cuối cùng của nhiều giun sán mà giaiđoạn ấu trùng ký sinh gây bệnh ở động vật không xương sống Trong các aonuôi tôm he, giáp xác hoang dã chính là sinh vật mang virus WSBV, gâybệnh đốm trắng rất nguy hiểm Người, chim và động vật trên cạn chính là kýchủ cuối cùng của nhiều giun sán gây bệnh ở động vật thủy sản
2 2 Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở nước ta.
Theo các tài liệu đã biết hiện nay, các dẫn liệu về động vật nói chung
và động vật đáy nói riêng trong các thủy vực nước ngọt của nước ta đã có từthế kỷ XVIII Trong sách “ Vân đài loại ngữ “ của Lê Quý Đôn ( 1773) đã nóiđến một số động vật đáy trong các thủy vực được coi như là các sản vật có giátrị, cùng những ghi chép về địa điểm tìm thấy, sinh học và giá trị thực tiễn Cóthể coi đây là những dẫn liệu đầu tiên về các loài động vật ở nước ta nóichung và động vật đáy nói riêng còn lưu lại trong văn liệu cổ nước ta
Tuy nhiên, những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ động vật đáy trong cácthủy vực nội địa chỉ thực sự bắt đầu từ những năm giữa thế kỷ XIX với nhữngcông trình nghiên cứu về trai ốc nước ngọt ở Việt Nam của Crosse và Fischer(1863) Ở Bắc Việt Nam, phải tới năm 1886 mới thấy có công trình nghiêncứu về trai ốc nước ngọt của Morlet
Các nghiên cứu về động vật đáy trong thời kỳ trước cách mạng Tháng 8phải kể đến sự hoạt động của đoàn Pavie ( Mission Pavie, 1879-1895 ) ở vùngĐông Dương, trong đó có nghiên cứu về khu hệ động vật nước ngọt Trong tàiliệu công bố về mặt này năm 1904 (M.Pavie – Indochine, 1879-1895, III ) có
Trang 7những dẫn liệu quan trọng về thành phần loài và nơi tìm thấy của nhiều nhómđộng vật đáy nước ngọt vùng Đông Dương như trai ốc, giáp xác,…có thể coiđây là một trong những tài liệu cơ bản về khu hệ động vật đáy trong các thủyvực nội địa ở Việt Nam và vùng Đông Dương Ngoài ra còn có các công trìnhnghiên cứu của các nhiều tác giả khác nhau như : Công trình nghiên cứu vềcua nước ngọt của Rathbun (1902-1906), trai ốc biển và nước ngọt củaFischer (1891), tôm cua nước ngọt của Bouvier (1904, 1920, 1925),…cáccông trình này đã cung cấp thêm nhiều dẫn liệu về thành phần loài và nơi tìmthấy của các động vật này ở nước ta.
Điểm lại tình hình nghiên cứu của giai đoạn này mặc dù đã cho nhữngkết quả nghiên cứu bước đầu nhưng còn hạn chế Sự nghiên cứu chỉ giới hạn
ở các nghiên cứu về phân loại học, chú trọng tới các đối tượng có kích thướclớn dễ thu thập (trai ốc, giáp xác), hầu như chưa quan tâm tới các đối tượngnhỏ, khó thu thập (giun ít tơ…) Hàng loạt các vấn đề cơ bản như đặc tínhphân bố, số lượng, địa động vật học hầu như chưa được đề cập tới hoặc chỉmới là những ý kiến sơ bộ Những nghiên cứu này hầu hết là do các tác giảngười nước ngoài làm, vì vậy cho tới giữa những năm của thế kỷ XX khu hệđộng vật đáy trong các thủy vực nước ngọt Việt Nam, trừ một số nhóm nhưtrai, ốc, tôm, cua biết ít nhiều về thành phần loài còn lại nhìn chung vẫn cònrất ít được hiểu biết trong thủy sinh học thế giới
Từ sau cách mạng Tháng Tám, nhất là từ năm 1954 đến nay tình hìnhnghiên cứu khu hệ thủy sinh vật nói chung và khu hệ động vật đáy nói riêngtrong các thủy vực nội địa cũng như ở biển đã thay đổi hẳn, các vấn đề tiếnhành có kế hoạch và toàn diện Chúng ta đã tiến hành điều tra nghiên cứu vềthành phần loài, sinh vật lượng, sự phân bố, sinh vật học, sinh thái học, địa
Trang 8động vật học…Các công trình có thể kể đến như của Đặng Ngọc Thanh vàPhạm Văn Miên (1965-1967, 1968, 1971, 1976) về giáp xác, của Thái TrầnBái (1976,1976a) về giun ít tơ nước ngọt Công trình nghiên cứu của ĐặngNgọc Thanh và Phạm Văn Miên (1978) đưa ra danh sách 30 loài giáp xác ởmiền Nam Việt Nam Đặng Ngọc Thanh (1980) với Khu hệ động vật khôngxương sống nước ngọt miền Bắc Việt Nam Đặng Ngọc Thanh, Thái TrầnBái, Phạm Văn Miên đã xem xét lại các vấn đề danh pháp định loại, đưa rakhóa phân loại các nhóm trong khu hệ động vật không xương sống nói chung
và động vật đáy nói riêng
Thời gian sau đó có các công trình nghiên cứu tại một số khu vực nhưthành phần loài giáp xác ở Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An (Hồ Thanh Hải,1985), Danh mục động vật không xương sống nước ngọt Việt Nam của ĐặngNgọc Thanh, Hồ Thanh Hải, 1991-1992 Trong danh mục động vật khongxương sống nước ngọt kể trên các tác giả đã tu chỉnh về phân loại học củamột số loài đồng thời công bố 603 loài trong đó có cả động vật đáy Tuynhiên thành phần loài động vật không xương sống nói chung và động vật đáynước ngọt nói riêng ở nước ta đã biết cho tới nay vẫn còn chưa đủ vì vắng mặtnhiều nhóm chưa có các chuyên gia phân tích, nhất là nhóm ấu trùng côntrùng ở nước ta
Qua đây có thể nêu ra một số nhận xét chung về tình hình nghiên cứuđộng vật đáy trong các thủy vực nước ngọt từ trước đến nay ở nước ta Với sựkhởi đầu của các đoàn nghiên cứu và các chuyên viên nước ngoài như đoànPavie (1879-1895), của H.Fischer Phần lớn các công trình nghiên cứu nước
ta được tiến hành từ những năm giữa thế kỷ XIX tiếp sau đó là một khoảngthời gian gián đoạn dài do tình hình chiến tranh, sau khi kết thúc chiến tranh
Trang 9các công trình lại được tiếp tục So với hiện nay, từ đó đến nay đã có nhữngbước phát triển dài với nhiều thay đổi cơ bản trong hình thái học cũng nhưdanh pháp phân loại, một số dẫn liệu khong phù hợp của thời kỳ trước đãđược chấn chỉnh qua các tu chỉnh về sau Do có nhiều hạn chế, đặc biệt làhoàn toàn không có các dẫn liệu về số lượng, sinh học, sinh thái học, các dẫnliệu nghiên cứu thuộc thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám ít có giá trị thựctiễn, tuy nhiên phải coi đây như những dẫn liệu cơ bản đầu tiên đáng quý.Loại bỏ những sai lầm trong các dẫn liệu này thì ngoài giá trị lịch sử các dẫnliệu này còn phản ánh một giai đoạn phát triển của một bộ phận thiên nhiênnước ta cách đây hàng trăm năm đã ít nhiều sai khác so với hiện nay, vì vậycần phải được xem xét nghiêm túc lại, chọn lọc vào những nghiên cứu hiệnnay.
2.3 Thành phần loài động vật đáy
2.3.1 Tính đa dạng về thành phần loài
Trong các thủy vực nội địa nước ta đã gặp hầu hết các ngành, các lớpđộng vật phổ biến, sống tự do hoặc sống chui rúc trong bùn đáy Đối vớinhóm động vật đáy tới nay về mặt thành phần loài mới chỉ thấy các nhóm :Thân mềm (Mollusca), giáp xác (Crustacea), giun ít tơ (Oligochaeta), đỉa(Hirudinea), giun nhiều tơ (Polychaeta), ấu trùng côn trùng ( Insecta Larvae)
đã được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau còn một số nhóm khác có gặpnhưng cho tới nay còn chưa được nghiên cứu đủ về thành phần loài
Trang 10Bảng 1 Thành phần loài động vật đáy các thủy vực nội địa
(theo Hồ Thanh Hải, 1995)
( loài )
Phía Bắc ViệtNam ( loài )
Phía Nam ViệtNam ( loài )
Chú thích: - chưa được nghiên cứu
* Nghiên cứu chưa đầy đủQua bảng có thể thấy ngay số loài đã biết hiện nay không đều ở cácnhóm loài khác nhau và ở các vùng sinh thái khác nhau Một mặt phản ánhtính đặc trưng của cấu trúc thành phần loài khu hệ động vật đáy nhưng đồngthời cũng còn tùy thuộc vào mức độ nghiên cứu nhiều ít khác nhau hiện nayđối với mỗi nhóm
Trang 11Nhóm ấu trùng côn trùng hiện nay do những khó khăn về chuyên mônnên chưa thể phân loại được tới loài Như vậy số loài chắc chắn sẽ còn nhiềuhơn nữa trong tương lai khi tất cả các nhóm động vật được nghiên cứu đầy đủ
về phân loại học
2.3.2 Đặc điểm thành phần loài động vật đáy trong các thuỷ vực nội địa nước ta.
Thành phần hiện nay của một khu hệ động vật sống trong các thuỷ vực
ở một vùng lãnh thổ nào đó có thể coi là kết quả của một quá trình phát triểnlịch sử lâu dài dưới tác động của các nhân tố lịch sử và hiện đại, tự nhiêncũng như những tác nhân trong mối quan hệ chặt chẽ giữa khu hệ động vậtvới các nhân tố trên cũng như trong mối quan hệ tương quan giữa các nhân tố
ấy với nhau trong từng giai đoạn phát triển lịch sử
Đặc điểm cơ bản nhất của thành phần loài khu hệ động vật đáy nướcngọt Bắc Việt Nam là sắc thái nhiệt đới của thành phân loài, thể hiện ở cácmặt : thành phần phân loại học, cấu trúc thành phần loài và sự phong phú về
số lượng loài của một số đơn vị phân loại Trong thành phần loài, trên nềnchung của tập hợp các giống loài có phân bố rộng trong vùng nhiệt đới và cậnnhiệt đới cũng như ôn đới, có thể thấy sự có mặt của các nhóm giáp xác(Somanniathelphusa, Tiwaripotamon…), thân mềm (Pila), giun ít tơ(Stephensoniana), ấu trùng côn trùng, các giống này cho tời nay không thấy
có ở các vùng cận nhiệt đới tiếp cận như Trung Quốc Tập hợp loài nhiệt đớinày đã tô đậm sắc thái nhiệt đới cho thành phần loài các thủy vực nước ngọtnội địa vùng này, dù rằng vẫn có mặt một số giống loài có phân bố cả ở vùngcận nhiệt đới phía Bắc
Trang 12Tính chất nhiệt đới về mặt thành phần loài còn thể hiện ở cả mặt cấutrúc, thể hiện ở sự phong phú của nhóm tôm cua nước ngọt, nhưng lại kémphong phú hơn về trai Pisididae…Số lượng loài nhiều của một nhóm như tômCaridina, trai Cristaria, ốc Angulyagra, hến Corbicula…cũng thể hiện tínhchất phong phú, đa dạng nhiệt đới của thành phần loài ở vĩ độ thấp.
Tính chất nhiệt đới của thành phần loài động vật đáy trong các thủy vựcnội địa Bắc Việt Nam ít nhiều bị hạn chế, kém điển hình so với các vùng nhiệtđới phía Nam Châu Á do sự có mặt của nhiều giống loài có phân bố rộng từvùng ôn đới hoặc cận nhiệt đới xuống tới vùng này Sự có mặt của các giốngloài này tạo nên tính chất hỗn hợp của thành phần loài động vật các thủy vựcnội địa Bắc Việt Nam
Trong thành phần loài động vật đáy nước ngọt ở Bắc Việt Nam, về mặtlịch sử tiến hóa, có thể thấy nhiều nhóm thích ứng với đời sống nước ngọt ởcác mức độ tiến hóa khác nhau Tuy nhiên nếu căn cứ các dẫn liệu đã có hiệnnay, có thể thấy nhiều nhóm động vật cổ di nhập (Palaeolimnetic) kém khảnăng phát tán như : ốc Pilidae, Bithyniidae, trai Pisidiidae,có số loài khôngnhiều, trong khi đó các nhóm động vật trung di nhập (Misolemnetic) và nhất
là tân di nhập (Neolimnetic) tương đối đa dạng và phong phú về số loài tiêubiểu là các nhóm ốc Thiaridae, trai Amblemidae, Unionidae, hếnCorophiidae, tôm Palaemonidae, cua Potamonidae, giáp xác chân khácCorophiidae (Amphipoda)
Đặc điểm thành phần loài khu hệ động vật đáy nước ngọt Bắc ViệtNam về thành phần phân loại học cũng như cấu trúc thành phần loài có liênquan chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên các thủy vực vùng này, đồng thời
Trang 13ảnh hưởng tói đặc tính số lượng các quần xã sinh vật sống trong các thủy vực
đó Sự phong phú của các nhóm trai hến là phù hợp với đặc tính thiên nhiên
có mạng song suối dày đặc trên lãnh thổ Sự phong phú của các nhóm trai ốcViviparidae liên quan tới các thủy vực nhỏ, nông, nhiều thực vật lớn như ao,
hồ, ruộng lúa rất phổ biến ở vùng này Sự có mặt của một số động vật biểntrong tập hợp loài sống trong các thủy vực nội địa có liên quan tới đặc tínhvùng đồng bằng thấp, nhiều cửa sông
Khu hệ động vật đáy ở các thủy vực nội địa phía Nam Việt Nam cho tớinay có thể nói là chưa thực sự được nghiên cứu đầy đủ do đó chưa thể đưa ranhận xét chung về đặc điểm thành phần loài khu hệ động vật đáy ở vùng này
2.4 Phân bố khu hệ động vật đáy nước ngọt
Phân bố của động vật đáy trong các thủy vực nội địa một mặt phụ thuộcvào khả năng thích ứng sinh thái rộng hay hẹp của từng nhóm, loài, mặt khácgắn liền với các đặc điểm sinh thái của các thủy vực ở từng loại cảnh quan,từng vùng địa lý tự nhiên khác nhau
2.4.1 Phân bố theo cảnh quan.
Về cảnh quan thiên nhiên có thể lấy các loại cảnh quan tiêu biểu là:núi, đồi, đồng bằng, ven biển nước lợ…mỗi loại cảnh quan này có thể chiếm
vị trí quan trọng khác nhau trong từng vùng phân chia địa lý tự nhiên Về mặtđiều kiện sống, mỗi loại cảnh quan tiêu biểu có các thủy vực đặc trưng chomỗi loại Liên hệ với đặc điểm các thủy vực ở mỗi loại cảnh quan có một tập
Trang 14hợp loài thích ứng, sai khác kha rõ với nhau về mặt thành phần loài và cả vềcấu trúc các nhóm động vật trong mỗi tập hợp loài.
- Hệ thống các thủy vực vùng núi đặc trưng bởi các dòng suối, thượnglưu sông, các hồ chứa nước, các ruộng bậc thang Nhìn tổng quan chế độnước chảy, nền đáy cứng là đặc điểm cơ bản của các thủy vực vùng này Vềmặt cấu trúc, đặc trưng của khu hệ động vật đáy vùng này là các nhóm ấutrùng côn trùng, cua Parathelphuisdae, Potamidae, tôm Macrobrachium, traiAmblemidae (Lamprotura, Gibbosula), ốc Thiridae Thiếu hẳn các nhómAmphipoda, Tanaidacea, sự kém phong phú về số loài của nhóm Oligochaeta
so với vùng đồng bằng Về thành phần loài, ở hầu hết các nhóm đều thấy cóloài đặc trưng cho các thủy vực vùng núi, rõ rệt nhất là ở các nhóm thân mềm,tôm, cua, ít rõ hơn ở nhóm giun ít tơ Các loài này đặc trưng cho các thủy vựcvùng núi
- Các thủy vực vùng đồng bằng và đồng bằng ven biển đặc trưng bởicác phần hạ lưu con sông lớn, các sông đào, đầm ao và ruộng lúa với chế độnước tĩnh hay nước chảy yếu, nền đáy mềm Nền thổ nhưỡng vùng đồng bằng
là đất phú sa giàu chất dinh dưỡng, các thủy vực lại còn luôn nhận được chấthữu cơ từ các nơi đổ tới Những đặc điểm đó tạo nên đặc điểm cấu trúc thànhphần loài của động vật đáy trong các thủy vực vùng đồng bằng Đặc trưng cấutrúc khu hệ động vật đáy vùng đồng bằng là sự phong phú của các nhómOligochaeta, Polychaeta, Isopoda, Tanaidacea, các nhóm ốc Viviparidae,Bithyniidae, Pilidae, trai Unionidae nhưng đồng thời lại nghèo hẳn so vớivùng núi nhóm ấu trùng côn trùng Ephemeroptera, cua nước ngọt Potamidae,
ốc Thiaridae, trai vỏ dày Amblemidae, hoàn toàn không có các nhóm ốcCremnoconchus, Lithoglyphopsis, Pettancylus đặc trưng cho các thủy vực
Trang 15nước chảy vùng núi Về thành phần loài, các loài đặc trưng cho vùng đồngbằng nhiều và rõ nhất ở các nhóm Amphipoda, Isopoda, Pila, Cristaria,Sinohyriopsis, cũng thấy những loài đặc trưng hay hiện nay chỉ mới thấy ởvùng đồng bằng, nhưng một số loài ít hơn Một đặc điểm quan trọng trongthành phần loài ở đây là có những động vật biển ( Decapoda, Amphipoda,Polychaeta) từ biển di nhập vào qua vùng cửa sông, vùng nước lợ làm chothành phần loài thêm đa dạng.
- Vùng đồi hay vùng trung du có vị trí chuyển tiếp giữa vùng núi phíatrên và vùng đồng bằng phía dưới Tính chất trung gian cũng thể hiện cả ở đặctính thủy vực, nhất là sông và ruộng Nền đáy có tính chất hỗn hợp, vừa đáymềm, vừa đáy cứng Nền thổ nhưỡng phần lớn là đất ferralis, là đất bạc màu ítdinh dưỡng Thành phần loài cũnh như cấu trúc khu hệ động vật các thủy vựcvùng này khá phong phú mang tính chất hỗn hợp, vừa có những nhóm độngvật miền núi, vừa có những nhóm động vật vùng đồng bằng hay có cả độngvật biển du nhập vào ( giun nhiều tơ – Polychaeta) Thành phần loài đặc trưngcủa các thủy vực vùng này không nhiều, tính chất đặc trưng của vùng nàykém rõ rệt so với vùng đồng bằng
2.4.2 Phân bố theo các thủy vực.
Các loại thủy vực thường gặp là sông, suối, ao, hồ, ruộng Sự phân bốtheo các loại hình thủy vực phụ thuộc vào tình thích ứng sinh thái rộng hayhẹp của từng nhóm động vật, nhưng đồng thời lại còn tùy thuộc theo từng loạicảnh quan hay vùng địa lý tự nhiên mà đặc điểm của các thủy vực cùng dạngcũng lại khác nhau, biến đổi theo địa hình, chế độ canh tác, sử dụng Vì vậyđặc trưng phân bố khu hệ động vật đáy theo các loại thủy vực thường chỉ nêu
Trang 16lên được và chỉ đúng với mỗi loại cảnh quan hay vùng địa lý tự nhiên nhấtđịnh, không thể coi là quy luật chung cho toàn lãnh thổ.
Về mặt sinh thái học có thể chia động vật đáy thành hai nhóm:
- Nhóm loài phân bố rộng ở mọi loại hình thủy vực hay hầu như ở mọi
loại hình thủy vực
Đây cũng là nhóm loài có phân bố rộng nhất ở các vùng cảnh quancũng như địa lý tự nhiên Số loài phân bố rộng ở nhóm giun ít tơ khá nhiều:Branchiodrilus semperi, Chaetogaster limnaei, C cristalinus, Nais communis
N pardalis, Dero digitata, D pectinata, Aulophorus tonkinensis,Stephensoniana trivandiana, Branchiura sowerbyi, Limnodrilus hoffmeisteri,trong khi đó các loài trai ốc phân bố rộng ở mọi thủy vực không nhiều:Limnaca swinhoei, L viridis, Angulyagra polyzonata, Sinotaia aeruginosa,Tarebia granifera, Melanoides tuberculatus, Stenothyra mesageri,Sinanodonta jourdyi, S lucida, Corbicula baudoni, C bocourti Các loài giápxác phân bố rộng trong mọi thủy vực cũng không nhiều: Macrobranchiumnipponense, Palaemonetes tonkinensis, Caridina flavilineata, C subnilotica.Nhóm côn trùng ấu trùng, nhất là ấu trùng Ephemeroptera thường chỉ có ở cácthủy vực nước chảy, chỉ một số ít loài ấu trùng Chironomidae (Cladopelma
sp, Chironomuss sp, Polipedilum sp, Microsecta sp) là có phân bố rộng
- Nhóm loài đặc trưng cho một số dạng hay loại hình thủy vực : về mặt
phân bố theo thủy vực, tính chất đặc trưng thành phần loài có quan hệ chặtchẽ với chế độ thủy học nước chảy hay nước tĩnh, chế độ thổ nhưỡng của nềnđáy Ở mỗi nhóm thủy vực này có một nhóm loài đặc trưng rõ rệt, thích ứngvới điều kiện sống Mặt khác cùng một loại thủy vực ở các loại cảnh quan
Trang 17khác nhau hay vùng địa lý tự nhiên khác nhau lại có một nhóm loài đặc trưngkhác nhau cho mỗi loại hình thủy vực nhất định.
+ Sông suối vùng núi đặc trưng bởi một số loài tôm Macrobranchium(M yeti, M vietnamense), cua Potamidae, trai Amblemidae, Margaritiferidae,hến Corbicula lamarckiana, C messageri, C leviuscula, ốc Cremnoconchus,Panchidrobia, Antimelania, Stenomelania, Pettancylus
+ Thành phần loài ở sông vùng đồng bằng lại sai khác rõ rệt, nhóm traiSinohyriopris, Cristaria, Dletolophus (Unionidae) Nhóm ốc Thiaridae, tômcua nước ngọt cũng có một số đại diện, nhung không mang tính chất đặctrưng cho loại thủy vực này Bên cạnh đó sông ở vùng đồng bằng thấp lại cóthành phần loài đặc trưng bởi sự có mặt của các nhóm động vật biển và nước
lợ di nhập vào Tính chất đặc trưng của thành phần loài động vật đáy ở các hồ
tự nhiên và nhân tạo ít thể hiện
+ Ao và ruộng vùng đồng bằng trên có thành phần loài phong phú baogồm các loài thân mềm Viviparidae, Pilidae, Bithyniidae, Unionidae, giun ít
tơ Oligochaeta, đỉa Hirudinea, giap xác Decapoda sai khác rõ rệt với aoruộng vùng đồng bằng dưới Ruộng vùng đồng bằng dưới có thành phần loàigần tương tự như sông nhưng lại có cả những loài chung với ao, ở vùng này
có các nhóm thân mềm Pilidae, Viviparidae, giáp xác Caridina, giun ít tơOligochaeta
2.5 Sinh vật lượng.
Sinh vật lượng động vật đáy không đồng đều trong các thủy vực khácnhau và các vùng sinh thái khác nhau Nhìn chung các loại thủy vực có sinhvật lượng cao trung bình đều tập trung ở vùng đồng bằng có nền đất màu mỡ,nước đứng hay chảy chậm, diện tích mặt nước và độ sâu nhỏ, thành phần loài
Trang 18phong phú do có them các động vật biển di nhập vào, còn các thủy vực cósinh vật lượng thấp thường tập chung ở vùng núi.
2 5.1 Một số dẫn liệu về sinh vật lượng động vật đáy ở các thủy vực
2.5.1.1 Ruộng.
-Các dẫn liệu về thủy sinh trong ruộng lúa được Phạm Văn Miên vàĐặng Ngọc Thanh thu thập trong khoảng thời gian từ 1961-1974 ở nhiềuvùng cảnh quan khác nhau ở Bắc Việt Nam
-Ruộng trũng vùng đồng bằng dưới có thể lấy vùng ruộng trũng Nam
Hà đã được nghiên cứu trong nhiều năm từ 1962-1974 làm tiêu biểu cho loạihình ruộng này.Sinh vật lượng động vật đáy trong thời gian 1962-1963khoảng 130-151ct/m2, 5.1 g/m2, cao nhất có thể tới 302 ct/m2 (IV,1963); 12,8g/m2 (XI,1962) Dẫn liệu năm 1970 cho thấy sinh vật lượng động vật đáy đạt
195 ct/m2; 8.62 g/m2, cao nhất có thể tới 569 ct/m2; 15,103 g/m2
- Ruộng vùng núi với tính chất nước chảy, khối lượng nước không ổnđịnh, chất mùn ít nên thành phần loài cũng như sinh vật lượng động vật đáy ởruộng vùng núi rất khác so với vùng đồng bằng (lấy vùng Bạch Thông – BắcCạn làm đại diện) động vật đáy có sinh vật lượng thấp 121 ct/m2; 0,509 g/m2,cao nhất cũng chỉ tới 310 ct/m2; 0,894 g/m2
2.5.1.2 Ao.
- Ao là 1 loại hình thủy vực rất phổ biến Đặc điểm của loại hình thủyvực dạng này là rất nhỏ, nước đứng, nền đáy mềm, là bùn nhuyễn hoặc đất
Trang 19thịt, sét Thành phần cũng như sinh vật lượng động vật đáy ở ao biến đổi rấtlớn phụ thuộc nhiều vào chế độ canh tác như bón phân, có nuôi cá hay không,loại cá gì trong ao…động vật đáy trong các ao bón phân đạt 10-67 ct/m2,trong thành phần số lượng Oligochaeta (35%), ấu trùng chironomidae (43%)chiếm ưu thế, các ao bón phân ủ trong giai đoạn đầu ấu trùng chironomidaethường chiếm ưu thế Các ao vùng núi Yên Bái (tổ điều tra, 1971, trạm nghiêncứu cá nước ngọt Đình Bảng ) cho thấy động vật đáy ao rất nghèo Động vậtđáy chỉ 0,735 g/m2 trong đó giun ít tơ Oligochaeta và ấu trùng Diptera chiếm
ưu thế
2.5.1.3 Sông.
- Các nghiên cứu về sinh vật lượng thủy sinh vật tại các thủy vực dạngsông còn rất tản mạn và chưa thực hiện được nhiều Loại hình thủy vực dạngsông với đặc tính chung là nước chảy, nền đáy sông vùng thượng lưu là cát,sỏi thô, vùng hạ lưu mềm hơn, thường là bùn cát phù sa
- Sông vùng đồng bằng có sinh vật lượng động vật đáy khá cao Ở hệthống Bắc Hưng Hải về mùa hè có sinh vật lượng trung bình 683 ct/m2; 8.7g/m2, mùa đông cao hơn trung bình 9,3 g/m2 Ở sông Hồng cũng có xu thếtương tự, nhưng mức độ thấp hơn nhiều, về mùa hè có khối lượng 0.004 g/m2,nhưng mùa đông là 0.097 g/m2 Tại sông Đà, mùa lũ có khối lượng 0.056 g/
m2, nhưng mùa khô lên đến 0.423 g/m2; sông Lô Gâm mùa lũ có khối lượng0.132 g/m2, nhưng mùa khô lên đến 19.639 g/m2
- Sông Tiền và sông Hậu sinh vật lượng động vật đáy trung bình từ 115– 3070 ct/m2; 3.4-28.5 g/m2
Trang 202.5.2 Biến động sinh vật lượng động vật đáy trong các thủy vực nước ngọt.
2.5.2.1 Biến động theo mùa.
- Sinh vật lượng động vật đáy ở các hồ phụ thuộc chặt chẽ vào chutrình phát triển của ấu trùng côn trùng (chironomidae, Chaoborus) –thànhphần số lượng quan trọng ở hồ, sự phát triển của chúng liên quan đến điềukiện nhiệt độ theo mùa vụ Nhìn chung số lượng ấu trùng côn trùng thườngtăng cao vào vụ xuân và cuối thu ( tháng IV-V, IX-X) là vụ sinh sản rồi lạigiảm hẳn vào vụ hè hoặc đầu thu ( thang VII- IX) do côn trùng lột xác bay rakhỏi hồ hàng loạt ở nhiệt độ nước khoảng 28-320C
- Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với số lượng động vật đáy cũng còn thểhiện ở ruộng trũng, số lượng động vật đáy tăng cao vào vụ xuân ( tháng IV)
do thời gian này giáp xác ở đáy (Amphipoda) và giun ít tơ Oligochaeta sinhsản mạnh
- Sự biến đổi của nền đáy ruộng do hoạt động canh tác cũng ảnh hưởngtới số lượng động vật đáy cũng nhu thành phần loài động vật đáy ở ruộng Ởruộng vùng đồng bằng trên vào tháng 2, giun ít tơ có số lượng lớn làm sinhvật lượng động vật đáy cao, do nền đáy còn nhuyễn, sau khi cải tạo thuận lợicho bọ Oligochaeta phát triển số lượng giun ít tơ giảm đi theo mức độ nềnđáy ruộng cứng dần lại (tháng III,IV), thời vụ cải tạo tháng 7, cày bừa làmsinh vật lượng động vật đáy cũng giảm thấp Trong vụ hè nhiệt độ ở ruộngcao, nền đáy cứng lại, sinh vật lượng động vật đáy cũng ít so với thời giankhác
Trang 21- Sinh vật lượng động vật đáy trong ao phụ thuộc vào nhiều tác nhân:chế độ canh tác, thả cá, bón phân…nên thể hiện không rõ rệt lắm, nói chungthường có khối lượng cao về mùa xuân và thấp về hạ thu.
- Như vậy, khác với thành phần loài, sinh vật lượng động vật đáy ở cácthủy vực nội địa biến đổi rõ rệt theo các mùa trong năm Ở các hồ lớn chịu tácđộng nhân tác, nhiệt độ biến đổi có xu hướng một đỉnh cao nhất trong năm,còn ở các hồ nhỏ, các thủy vực nhân tạo điều kiện sống biến đổi phức tạp, có
xu hướng có nhiều đỉnh cao trong năm Sự biến đổi theo mùa sinh vật lượng ởđây ko phải chỉ quy định ở nhân tố nhiệt độ, tuy rằng nhiệt độ có ảnh hưởngtới nhịp độ sinh sản và gián tiếp ảnh hưởng tới số lượng mà là sự tác độngđồng thời, tương hỗ giữa nhiều nhân tố : mực nước, chế độ canh tác, nền đáy,phân bón, nồng độ muối…Tuy nhiên các nhân tố này kể cả các họat độngcanh tác, cũng tác động lên thủy vực theo nhịp điệu mùa vụ vì vậy tính chấtmùa vụ trong sinh vật lượng động vật đáy nhìn chung thể hiện khá rõ rệt
2.5.2.2 Biến động qua thời gian nhiều năm.
- Biến động sinh vật lượng động vật đáy qua thời gian nhiều năm liên
hệ với biến đổi thành phần loài ở các thủy vực nước ngọt có một ý nghĩa quantrọng trong sự nghiên cứu và dự đoán xu hướng phát triển của mỗi loại thủyvực dưới tác động của các nhân tố tự nhiên và nhân tác Những nghiên cứuthủy sinh vật học ở một số hồ, ruộng ở Bắc Việt Nam trong khoảng 10 đến 15năm trước đã cung cấp một số dẫn liệu có thể nhận xét về vấn đề này
- Sinh vật lượng động vật đáy ở các hồ chứa nước nhỏ vùng trung duqua 10 năm hình thành đã cho thấy những biến đổi; ở hồ Suối Hai (hình thành
Trang 221963), các nghiên cứu năm 1963, 1965 cho thấy hệ sinh vật đáy chưa hìnhthành, nền đáy hồ có ít bùn đáy, thành phần chủ yếu là mùn bã thực vật chưaphân hủy, có kích thước lớn và sỏi nhỏ trừ một vài rãnh sâu có bùn ở gần đập.Qua 10 năm các nghiên cứu của trại nghiên cưứ cá nước ngọt Đình Bảng(1972-1973) cho thấy nền đáy hồ sinh vật đáy đã hình thành và phát triển,động vật đáy đã gặp nhiều loại:Oligochaeta, Insecta larvae, Mollusca,Decapoda, sinh vật lượng động vật đáy đạt trung bình 59 ct/m2; 0.061 g/m2năm 1972 và tăng lên 142 ct/m2; 0.026 g/m2 năm 1973 thể hiện xu thế giàulên của động vật đáy hồ này.
2.6 Tình hình sử dụng động vật đáy.
Hai nhóm động vật đáy quan trọng nhất, chiếm tỉ trọng cao trong tổngsản lượng các động vật không xương sống được khai thác hằng năm trên thếgiới là thân mềm (hàu, vẹm, trai, ốc, vv.) chiếm 62% và giáp xác (tôm, cua,vv.) chiếm 30%; các loài thân lỗ và san hô cũng có giá trị Nhiều loài thực vậtđáy được dùng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu cho côngnghiệp (vd rong câu, rong mơ, rong bún, các loài rong nước ngọt)
Một ít loài động vật đáy gây hại cho các công trình hoặc phương tiện kĩthuật (vd hà bám vào đáy tàu làm giảm tốc độ tàu), một số là kí chủ trunggian truyền bệnh cho vật nuôi và người
Trang 23III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu.
Các mẫu vật thu được tại các thủy vực thuộc trường Đại học NôngNghiệp Hà Nội
3.2 Thời gian nghiên cứu.
Các thủy vực tại trại cá thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Trang 24Sơ đồ tổng quát hệ thống thủy vực Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Ghi chú: : Điểm thu mẫu
Nhà hàng Kinh Bắc
Bộ môn
Trung tâm chó nghiệp vụ
Ao cá thuộc trại cá Kinh Bắc Khu tập
thể khảo nghiệm
Trường trung cấp QTKD
Trại cá
chú Hùng
Trại cá Kinh Bắc
Trại cá khoa
Bệnh viện thú y
Cơ sở sản xuất thuốc thú y Hải Nguyên
Mương cấp thoát nước
Mương cấp thoát nước
Trang 25Mương cấp thoát nước
Mương cấp thoát nước
A1 A2
Trang 271
Trang 283.3.2 Phương pháp phân tích.
3.3.2.1 Phân tích mẫu.
Thành phần loài động vật đáy được xác định dựa vào các tài liệu phân loạiphổ biến đang sử dụng hiện nay trong phân tích thủy sinh vật.Tài liệu chính làcuốn “Định loại động vật không xương sống các tỉnh miền Bắc Việt Nam “của Đặng Ngọc Thanh, Phạm Văn Miên và Thái Trần Bái (1980)
Số lượng sinh vật đáy được tính bằng cách đếm số lượng tất cả các cá thể thuđược trong mẫu định lượng qua kính hiển vi chuyên dụng, từ đó tính ra sốlượng động vật đáy trên 1m2
Sinh khối động vật đáy được tính bằng cách cân tất cả các mẫu vật thu đượctrong mẫu đinh lượng qua cân điện tử có độ sai lệch 0,005g từ đó tính ra sinhkhối động vật đáy trên 1m2
3.3.2.1 Phân tích số liệu.
Dùng phương pháp thống kê sinh học để xử lý số liệu Sử dụng phầnmềm Excell trong các tính toán thống kê