Nghiên cứu về sán lá đơn chủ, Gussev, 1976 cho rằng sự phân loại và tiến hoá củ họ Dactylogyridae, Ancylodiscoididae, Diplozoonidae có liên hệ với ký chủ của chúng, khoảng 7/10 sán lá đơ
Trang 1
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Điều tra tình hình nhiễm ngoại ký sinh trùng ở cá chép giai đoạn cá bột và cá hương tại khu vực Đình Bảng - Từ
Sơn - Bắc Ninh”
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hải
Lớp: NTTS Khoá: 51
Khoa: Chăn nuôi và Nuôi trồng Thuỷ sản
Giáo viên hướng dẫn: ThS.Kim Văn Vạn
Bộ môn: Nuôi trồng Thuỷ sản – Khoa CN và NTTS
Địa điểm thực hiện: Hợp tác xã thuỷ sản Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc NinhThời gian thực hiện: 01/2010 – 06/2010
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Là sinh viên năm cuối nỗi băn khoăn trước tiên và lớn nhất của chúng em
là làm sao lựa chọn được một đề tài tốt nghiệp và hoàn thành nó Hiểu được vàcảm thông với những băn khoăn đó các thầy cô trong bộ môn CN & NTTS đãgiúp đỡ chúng em rất nhiều từ việc liên hệ đề tài đến việc hướng dẫn tận tìnhcho chúng em hoàn thành nó
Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn thầy Kim Văn Vạn, đãđịnh hướng và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian thực tập Em xin cảm
ơn các thầy cô trong bộ môn CN & NTTS đã tạo điều kiện, giúp đỡ em hoànthành đề tài tốt nghiệp của mình
Để hoàn thành đề tài của mình em xin chân thành cảm ơn và không quên
sự giúp đỡ vô cùng tận tình và nhiệt tình của các anh, các chú là chủ các trạigiống của khu vực Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Cuối cùng em xin cảm ơn cha mẹ, bạn bè, họ là những người luôn bệncạnh động viên, giúp đỡ em cả về vật chất và tinh thần nhờ đó em có thêm độnglực để làm và hoàn thành công việc
Hà Nội, Ngày 23, tháng 6, năm 20
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 Tổng quan cá chép 3
1.1 Vị trí phân loại 3
1.2 Một số đặc điểm sinh học 3
1.2.1 Hình thái, nguồn gốc, phân bố 3
1.2.2 Môi trường sống 4
1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.2.4 Sự tăng trưởng 5
1.2.5 Đặc điểm sinh sản 5
1.3 Cấu tạo mang cá chép 6
2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới và Việt Nam 6
2.1 Trên thế giới 6
2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng và bệnh cá ở Việt Nam 10
3 Một số bệnh ngoại ký sinh trùng gây nguy hiểm cho cá chép thường gặp 11
Trang 43 1 Bệnh do nguyên sinh động vật 11
3.2 Bệnh sán lá đơn chủ 16 móc – Dactylogyrosi 13
3.3 Bệnh do giáp xác – Crustacea 14
4 Tìm hiểu vài nét về tình hình nuôi trồng thủy sản ở khu vực Từ Sơn - Bắc Ninh 16
4.1 Vị trí địa lý 16
4.2 Tài nguyên 16
4.3 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở thị xã Từ Sơn 17
PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 V,ật liệu nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Phương pháp lấy mẫu 22
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá 23
3.4 Xử lý số liệu 23
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Thành phần giống, loài ngoại ký sinh trùng trên cá chép (Ciprinus capio) giai đoạn bột, hương tại Bắc Ninh 24
4.1.1 Số lượng, chiều dài và trọng lượng cá kiểm tra ngoại ký sinh trùng 24
4.1.2 Thành phần giống loài, vị trí phân loại, cơ quan ký sinh, mức độ nhiễm của ngoại ký sinh trùng trên cá chép bột, hương tại Bắc Ninh 25
4.2 Kết quả kiểm tra ngoại ký sinh trùng trên cá chép 28
4.2.1 Kết quả kiểm tra TLN, CĐN trùng bánh xe Trichodina ký sinh trên cá Chép 28
4.2.2 Kết quả kiểm tra CĐN, TLN sán lá đơn chủ Dactylogyrus ký sinh trên cá Chép hương 31
Trang 5PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34
5.1 Kết luận 34
5.2 Đề xuất 34
PHẦN VI: TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Kết quả nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2006 – 2010 18
Bảng 2 : Diện tích nuôi trồng thuỷ sản của thị xã Từ Sơn năm 2010 (tại thời điểm 01/04/2010) 20
Bảng 3: Diện tích, sản lượng NTTS và đánh bắt tại khu vực Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh từ 2001 - 2010 21
Bảng 4: Kích cỡ cá chép kiểm tra ngoại ký sinh trùng 24
Bảng 5: Tỷ lệ, cường độ nhiễm Trichodina của các hộ kiểm tra 28
Bảng 6: Tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá đơn chủ Dactylogyrus của các hộ kiểm tra 31
Bảng 7: Tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá song chủ (Centrocestus formosanus) ở các hộ kiểm tra 33
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1:Cá chép Việt nam Cyprinus carpio 3
Hình 2: Trùng bánh xe Trichodina bám nhiều ở trên da cá chép 26
Hình 3: Sán lá đơn chủ ký sinh trên mang cá chép 27
Hình 4: Ấu trùng sán lá song chủ ký sinh trên mang cá chép hương 33
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CĐN: Cường độ nhiễm KST: Ký sinh trùng NTTS: Nuôi trồng thuỷ sản TLN: Tỷ lệ nhiễm
Trang 9PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trongcác hoạt động kinh tế thế giới Trong đó, Việt Nam là một nước mà nông nghiệpđóng vai trò chính trong nền kinh tế quốc dân thì việc phát triển nuôi trồng thuỷsản rất bức thiết Nhờ áp dụng thành công những tiến bộ khoa học kỹ thuật nêntổng sản lượng NTTS của nước ta ngày càng tăng: từ 310.000 tấn năm 1990 đến2.085.200 năm 2007 Sản phẩm thuỷ sản của ta không chỉ đáp ứng được nhu cầutrong nước mà lượng xuất khẩu sang nước ngoài cũng ngày một tăng Kimngạch xuất khẩu từ NTTS đạt 3.350 triệu USD năm 2006 đến 2007 tăng 12%.Mục tiêu của NTTS là sản xuất thực phẩm cho con người Lượng thực phẩm cónguồn gốc từ thuỷ sản có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người Sảnphẩm thuỷ sản giàu chất dinh dưỡng, dễ hấp thu, ngon miệng…
Nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới nhìn chung có nhiều điều kiện cho sựsinh tồn và phát triển của các giống loài thuỷ sinh vật nói chung và các loài cánói riêng Cá chép là một trong những loài nuôi truyền thống từ lâu đời Nuôi cáchép đơn giản, thịt cá chép có chất lượng thơm ngon, giàu dinh dưỡng ngoài racũng có thể làm thuốc hiệu quả Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuậtviệc nuôi cá chép ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức khác nhau: từnuôi quảng canh cải tiến, nuôi ghép, bán thâm canh đến thâm canh Quy mô mởrộng hơn nhưng việc kiểm soát về chất lượng con giống lại khó khăn hơn Hiệntượng cá chép giống nuôi có tỷ lệ nhiễm bệnh cao phổ biến đặc biệt ở nhưng nơi
mà kỹ thuật người nuôi còn hạn chế
Trang 10Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của bộ môn Nuôi Trồng Thuỷ sản
- Đại học Nông Nghiệp Hà Nội chúng tôi quyết định tiến hành làm chuyên đề
“Điều tra tình hình nhiễm ngoại ký sinh trùng ở cá chép (Cyprinus carpio)
giai đoạn cá bột và cá hương tại hợp tác xã thuỷ sản Đình Bảng Từ Sơn Bắc Ninh”.
-*Nội dung nghiên cứu:
Xác định loài ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá chép giai đoạn cá bột và cá hương ương nuôi tại Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Đánh giá tỷ lệ và cường độ nhiễm loài ngoại ký sinh trùng qua các giai đoạn kiểm tra
Trang 11PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Loài cá Chép: Cyprinus carpio (Linnaeus, 1758)
Hình 1:Cá chép Việt nam Cyprinus carpio
1.2 Một số đặc điểm sinh học
1.2.1 Hình thái, nguồn gốc, phân bố
Cá chép thân cao, hình thoi, mình dẹt hai bên Đầu thuôn, cân đối Mõm tù
Có từ 2 đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm hoặc bằnghoặc lớn hơn đường kính mắt Mắt vừa phải ở hai bên thiên về phía trên của đầu.Khoảng cách hai mắt rộng và lồi Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình
Trang 12cung khá rộng, rạch miệng chưa tới viền trước mắt Hàm dưới hơi dài hơn hàmtrên Môi dưới phát triển hơn môi trên Màng mang rộng gắn liền với eo Lượcmang ngắn, thưa Răng hầu phía sau là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ.Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vâyđuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc vàphía sau có răng cưa Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn Vây đuôi phân thuỳ sâu
và hai thuỳ tương đối bằng nhau Vẩy tròn lớn Đường bên hoàn toàn, chạythẳng giữa thân và cuối đuôi Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài Lưng xanhđen, hai bên phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc Gốc vây lương vàvây đuôi hơi đen Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam
Trên thế giới: Cá chép phân bố rộng khắp các vùng trên toàn thế giới trừNam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca và châu Úc
Ở Việt Nam: Cá chép phân bố rộng ở ao hồ, sông ngòi, ruộng ở hầu hết cáctỉnh phía Bắc Việt Nam Cá có nhiều dạng như chép trắng, chép cấm, chéphồng, chép đỏ, chép lưng gù, chép thân cao, chép Bắc Kạn v v… là loài có giátrị kinh tế cao Loài nuôi phổ biến ở nước ta là chép trắng
Từ năm 1970 – 1975, PGS, TS Trần Mai Thiên và tập thể cán bộ Việnnghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I đã nghiên cứu lai tạo thành công giống cá chépV1 (cá chép trắng Việt Nam lai với chép vàng Indonesia và chép vảy Hungari)
có đặc điểm chất lượng di truyền cao, thích ứng với nhiều hình thức nuôi
1.2.2 Môi trường sống
Cá Chép sống ở tầng đáy nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy Có thểsống được trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt, chịu đựng được nhiệt độ từ 0 –
40oC thích hợp từ 20 – 27oC Hàm lượng oxy hoà tan tối thiểu 2 mg/l, pH
Trang 13khoảng 4 – 9 Cá sống ở nước ngọt, đôi khi sống ở nước lợ nồng độ muối dưới
14 ‰
1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Khi còn nhỏ cá chép ăn động vật phù du là chính, đặc biệt thích ăn rotifer.Khi trưởng thành chúng ăn tạp, ăn động vật không xương sống ở đáy Thức ăncủa cá khá đa dạng như mảnh vụn thực vật, rễ cây, các loài giáp xác (copepoda,decapoda, Gastropoda), ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm Tuỳ theokích cỡ và mùa vụ mà thành phần thức ăn có sự thay đổi nhất định Ngoài thức
ăn tự nhiên có trong thuỷ vực cá còn ăn thức ăn nhân tạo như cám nổi
1.2.4 Sự tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng của cá chép phụ thuộc rất nhiều vào mật độ thả và mức
độ cung cấp thức ăn cho chúng Tốc độ tăng trưởng của cá chép V1 Gấp 1,5 –đến 3,0 lần so với cá chép trắng Việt Nam trong cùng điều kiện nuôi Cá 1 nămtuổi có kích cỡ trung bình 0,8 – 1,0 kg/ cá thể, nếu nuôi thưa có khả năng đạt 1,5– 2,0 kg/cá thể
1.2.5 Đặc điểm sinh sản
Cá chép thành thục trên 1 năm tuổi (1+) Sức sinh sản của cá lớn, khoảng150.000 – 200.000 trứng/kg cá cái, số lượng trứng tăng nhanh ở lứa tuổi thứ 3đến thứ 5, sau đó tăng không đáng kể
Kích cỡ cá thành thục ở cá chép Việt là trên dưới 200g Mùa vụ sinh sản kéodài từ mùa xuân đến mùa thu nhưng tập trung nhất vào các tháng xuân – hèkhoảng tháng 3 – 6 và mùa thu khoảng tháng 8 – 9 Trứng cá chép ở dạng dính.Trứng cá sau khi đẻ bám vào thực vật thuỷ sinh Ở các con sông, cá thường di
cư vào các bãi ven sông, vùng nhiều cỏ nước Cá thường đẻ nhiều vào ban đêm,
Trang 14nhất là từ nửa đêm đến lúc mặt trời mọc hoặc đẻ nhiều sau các cơn mưa rào,nước mát.
Sự ấp nở trứng: ở điều kiện bình thường, trứng cá nở sau 2 – 3 ngày ấp,nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của phôi trứng là 22 – 28oC
1.3 Cấu tạo mang cá chép
Mang cá xương có nguồn gốc từ ngoại bì Mang cá nằm hai bên đầu, mang
cá có 4 đôi cung mang, có nắp mang che phủ nên chỉ thông ra ngoài bằng 2 khemang ở 2 bên Cấu tạo 1 cung mang gồm 1 đường cung mang, phía ngoài có 2phiến mang (lá mang) phần gốc dính nhau, phần ngọn rời nhau hoặc ít nhiều tạothành chữ V Trên mỗi lá mang có nhiều tia mang rất nhỏ, số lượng nhiều, cáctia mang xếp sít vào nhau, tia mang là nơi trao đổi khí giữa mạch máu và môitrường, lá mang có màu đỏ Đối diện phía trong là lược mang có màu trắng làmnhiệm vụ tiêu hoá Trên tầng biểu bì của tia mang có phân bố rải rác các tế bàonhầy tiết dịch nhờn để bảo vệ, chống sự xâm nhập của vi sinh vật, có tế bàoChlo có tác dụng điều chỉnh sự trao đổi ion hoá trị I đặc biệt là Na Diện tíchtiếp xúc của các tia mang là rất lớn Cá xương tất cả các cung mang nằm trongbuồng mang, bên ngoài có xương nắp mang che, quanh nắp mang có diềm damỏng có vai trò quan trọng trong hoạt động hô hấp
2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới và Việt Nam
2.1 Trên thế giới
Trên thế giới có nghề cá thì có nghiên cứu ký sinh trùng – bệnh cá Tuỳ theonhu cầu và khả năng của từng nước mà mức độ nghiên cứu có khác nhau
Ở Liên Xô (cũ) là cái nôi đầu tiên của ngành ký sinh trùng học Viện sỹDogiel là người đầu tiên đặt nền móng cho nghiên cứu ký sinh trùng cá Năm
1929 ông đã đưa ra phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng cá Cho đến nay có
Trang 15nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực này ở hầu khắp các nước trên thế giới Năm
1962, Bychowsky và cộng tác viên đã xuất bản cuốn sách phân loại ký sinhtrùng cá nước ngọt Liên Xô, cuốn sách đã mô tả 1211 loài ký sinh trùng pháthiện được Năm 1984 – 1987, Bauer, Schulman, Gussev tái bản và bổ sung gần
2000 loài ký sinh trùng cho khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt này Cho đến tậnbây giờ nó vẫn là cuốn tài liệu được lưu hành ở hầu khắp các nước và được dùnglàm tài liệu tham khảo phân loại ký sinh trùng cá
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô cho thấy các loài sán lá
đơn chủ thuộc một số bộ Dactylogyridae, Tetraonchidea có tính đặc hữu rất cao,
mỗi loài cá chỉ bị một số loài sán lá đơn chủ nhất định ký sinh, nghĩa là nhữngsán lá đơn chủ chỉ ký sinh ở một ký chủ nhất định
Nghiên cứu về sán lá đơn chủ, Gussev, 1976 cho rằng sự phân loại và tiến
hoá củ họ Dactylogyridae, Ancylodiscoididae, Diplozoonidae có liên hệ với ký chủ của chúng, khoảng 7/10 sán lá đơn chủ (Monogenea) ở cá nước ngọt ký sinh trên bộ cá chép và hầu hết giống cá chép là ký chủ của họ Dactylogyridae và
Diplozoonidae.
Ở Trung Quốc việc nghiên cứu ký sinh trùng – bệnh cá và động vật thuỷ sảnnói chung khá phát triển so với các nước ASEAN Về ký sinh trùng có rất nhiềucông trình nghiên cứu, chỉ riêng tỉnh Hồ Bắc, Chen Chin Lue và ctv, 1975 đãkiểm tra ký sinh trùng ở 50 loài cá nước ngọt, kết quả phân loại được 379 loài
ký sinh trùng trong đó: Nguyên sinh động vật (Protozoa) 159 loài, sán lá đơn chủ (Trematoda) 33 loài, sán dây (Cestoidea) 10 loài, giun tròn (Nematoda) 21 loài, giun đầu móc (Acanthocephala) 7 loài, đỉa cá (Hirudinea) 2 loài, giáp xác (Crustacea) 29 loài, nếu tính riêng trên một số đối tượng nuôi chính thì: Cá chép
đã phát hiện đựơc 61 loài ký sinh trùng sống ký sinh, trắm đen 59 loài, trắm cỏ
71 loài, mè trắng 75 loài, cá diếc 75 loài
Trang 16Ở một số nước trong khu vực như Thái Lan công trình nghiên cứu đầu tiên
về bệnh ký sinh trùng cá nuôi là của C.B Wison, 1926 – 1927 thông báo về hiện
tượng hai loài rận cá thuộc giống Argulus ký sinh trên cá nước ngọt Thái Lan và
đến năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan có
một loài thuộc giống Caligus ký sinh Cho đến nay khu hệ ký sinh trùng cá nước
ngọt Việt Nam ngày càng được chú ý Qua tổng kết, một số nguyên sinh động
vật, sán lá đơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng như: Chilodonella,
Trichodina, Costia, Heneguya, Dactylogyus, Gyrodactylus… Theo Tonguthai
(1992), các nhà khoa học Thái Lan không chỉ dừng lại ở đó mà còn đi sâu
nghiên cứu một số bệnh ký sinh trùng như bệnh: Opisthorchosis do
Opisthorchis viverini ký sinh trong gan người Không những thế khu hệ ký sinh
trùng cá Thái Lan ngày càng phong phú bởi sự bổ sung của ký sinh trùng cánước mặn Năm 1981 L.Ruangpan đã viết cuốn sách đầu tiên về ký sinh trùng
ký sinh ở cá biển dọc theo bờ biển Thái Lan Hiện nay bà vẫn đang tiếp tụcnghiên cứu lĩnh vực này
Ở Indonexia năm 1952, sự ra đời của cuốn sách “Note on the parasites offresh water fishes Indonesia” thực sự là một bước ngoặt trong ngành ký sinhtrùng học nước này Tác giả của cuốn sàch này là M.Sachlan nhà khoa họcIndonesia đầu tiên nghiên cứu về ký sinh trùng cá Đây là một tài liệu đóng gópkhông nhỏ vào khu hệ ký sinh trùng cá ở Indonesia nói riêng và vùng ĐôngNam Châu Á nói chung Theo Akhmad Rukyani, cho đến nay ở Indonesia bệnh
ký sinh trùng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự thiệthại về kinh tế đối với các loài cá nuôi nước ngọt thường gặp, đặc biệt những
bệnh như: Myxobolosis, Trichodinois, Lernaeosis, Ichthyophthyriosis,
Gyrodactylosis… trong đó Ichthyophthyrisis là bệnh ký sinh trùng quan trọng
đối với cá Đối với bệnh này sự điều trị bằng thuốc ít hiệu quả
Trang 17Ở Malaysia, trong giai đoạn 1861 – 1973 J.I.Furtado và C.H.Fernanda có báocáo về phân loại và hình thái của một số giun sán ký sinh ở cá nước ngọtMalaysia (Leong, 1992) Đến giai đoạn 1983 – 1987, khi nghiên cứu về ký sinhtrùng ký sinh trên cá nước ngọt ở vùng bán đảo Malaysia, Lim và J.I.Futado đã
phát hiện ra 54 loài Monogenea Cũng như ở Thái Lan và nhiều nước khác khu
hệ ký sinh trùng ở Malaysia ngày càng phong phú, sự nghiên cứu được chuyênsâu theo nhiều hướng khác nhau Khác với các tác giả trước, năm 1988 LeongTek – Seng đề cập đến ký sinh trùng cá vùng Châu Á trong đó chủ yếu là giunsán ký sinh ở một số loài cá biển quan trọng ở Panang, cho đến nay ông vẫn tiếptục con đường nghiên cứu vế ký sinh trùng và bệnh cá biển nuôi lồng ởMalaysis
Ở Philippin từ 1947, M.A.Tubangui đã công bố về kết quả nghiên cứu một số
loài mới thuộc sán lá đơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ (Trematoda
-Digenea), giun tròn (Nematoda) và giun đầu móc (Acanthocephala) Trong cuốn
sách dày 30 trang, tác giả C.C.Velasquez đã đề cập đến sự phân loại và chu kỳsống của ký sinh trùng giun sán Năm 1975 C.C.Velasquez xuất bản cuốn sáchdày 140 trang về sán lá song chủ ở cá Philippin, tổng kết khoá phân loại sán lá
song chủ “Digenetic Trematodes of Philippin fishes” Đây là một tài liệu chuyên
khảo có giá trị
Ngoài ra một số nước như Ấn Độ, có công trình nghiên cứu của Thapar,
1976 đã tổng kết về sán lá đơn chủ (Monogenea) có 100 loài ký sinh trùng ký
sinh ở các loài cá ở Ấn Độ Năm 1976 – 1974 Gussev nghiên cứu 38 loài cánước ngọt Ấn Độ đã phát hiện 40 loài sán lá đơn chủ là mới với khoa học
Ở Nhật Bản đáng lưu ý nhất là các công trình nghiên cứu tổng kết về hệ
thống giun sán “Systema Helminthum” của tác giả S.Yamaguti (1958 – 1963).
Trang 182.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng và bệnh cá ở Việt Nam
Ngay từ những năm 1959 – 1961, một số nhà khoa học Liên Xô đã nghiêncứu ký sinh trùng ở cá biển Việt Nam Năm 1988 – 1989, Sey và F Moravecngười Tiệp Khắc và Hungari đã nghiên cứu sán lá, giun tròn, giun đầu móc ởmột số loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam
Tuy nhiên, có thể nói người nghiên cứu đầu tiên có quy mô và đầy đủ nhất về
ký sinh trùng cá ở Việt Nam là TS Hà Ký Từ 1960 – 1968, ông tiến hành điềutra ký sinh trùng của 16 loài cá nước ngọt Miền Bắc Việt Nam, đã công bố 120loài ký sinh trùng trong đó 41 loài mới, 1 giống mới, 1 họ phụ mới đối với khoahọc
Nguyễn Thị Muội và ctv, 1976 đã điều tra giun đầu móc ở một số loài cánước ngọt đồng bằng Bắc bộ Bùi Quang Tề, 1984 đã điều tra khu hệ ký sinhtrùng sáu loại hình cá chép ở đồng bằng Bắc bộ Từ 1981 – 1985 Nguyễn ThịMuội và Đỗ Thị Hoà đã tiến hành điều tra thành phần giống loài KST trên cánước ngọt các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu đã phát hiện
và phân loại được 117 loại hình KST, trong đó lớp sán lá đơn chủ (Monogenea)
chiếm số lượng loài đáng kể
Từ 1984 – 1990, Bùi Quang Tề và ctv đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu khu
hệ KST trên 39 loài cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long Kết quả điều tra
đã phát hiện một số lượng phong phú giống loài KST, gồm 155 loài KST thuộc
78 giống, 55 họ, 27 bộ, 16 lớp
Theo tổng kết của Bùi Quang Tề, từ một số công trình của một số tác giảtrong và ngoài nước, cho đến nay Việt Nam đã điều tra nghiên cứu KST của 78loài cá nước ngọt và nước lợ thuộc 22 họ, phát hiện và phân loại được 314 loài
ký sinh trùng thuộc 112 giống, 17 lớp Trong đó có 1 họ phụ, 2 giống và 57 loài
Trang 19mới đối với khoa học Nhiều nhất là lớp sán lá đơn chủ Monogenea gặp 98 loài chiếm 31,2%, tiếp đến là lớp thích bào tử trùng Cnidosporidea gặp 42 loài chiếm 13,4%, lớp sán lá song chủ - Trematoda gặp 39 loài chiếm 12,4%, lớp giun tròn Nematoda gặp 38 loài chiếm 12,1%, lớp giáp xác Crustacea 2 loài chiếm 0,6%, lớp Peritricha gặp 20 loài chiếm 6,4% Tác giả cũng thông báo
rằng nhiều loài ký sinh trùng được tìm thấy trên cá với tỷ lệ nhiễm cao và lànguyên nhân của tỷ lệ tử vong lớn, đặc biệt là giai đoạn cá hương và cá giống
3 Một số bệnh ngoại ký sinh trùng gây nguy hiểm cho cá chép thường gặp
3 1 Bệnh do nguyên sinh động vật
Bệnh nguyên sinh động vật (Protozoa) gây ra, nhiều nhất thuộc loại đơn bàokích thước hiển vi Trong các bệnh ký sinh trùng thì bệnh do nguyên sinh độngvật chiếm một vị trí đáng kể, phần lớn do nguyên sinh động vật sinh sản vô tínhbằng cách phân đôi hay phân chia nhiều phần Do chúng sinh sản trực tiếp trongcác điều kiện nuôi (mật độ dày, môi trường ô nhiễm, thành phần đàn cá nuôikhông hợp lý…) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện lan tràn và là tácnhân gây bệnh Một số nguyên sinh động vật gây bệnh cho cá nuôi thường gặpnhư:
* Bệnh trùng bánh xe – Trichodinosis
Trùng bánh xe tìm thấy hầu hết trên da và mang cá nhưng một số thấy trongbọng nước tiểu (Lom và Holdar, 1976) Có những loài ký sinh trên nòng nọc vàcopepoda (Migala và Grygierek, 1972) Một số loài có xu hướng ký sinh trênnhững ký chủ đặc biệt (Kazubski, 1965; Lom, 19861; Wellborn, 1967) Sựnhiễm trùng bánh xe có tính mùa vụ cao, ở nhiệt độ cực thuận, ký sinh trùngthường phát triển với số lượng lớn hơn, nhất là khi thời tiết mát (Kazubsky vàMigala, 1968, F.Meger, 1970) Trùng bánh xe gây hại cho nhiều loài cá nuôi ởnước ta, gây tác hại chủ yếu cho cá hương và giống (Hà Ký, 1986 ; Bùi Quang
Trang 20Tề, 1990) Trong các ao hồ ương nuôi cá, bệnh phát triển quanh năm, phổ biếnnhất vào mùa xuân, đầu hạ và mùa thu ở miền Bắc, vào mùa mưa ở Miền Nam,nhiệt độ thích hợp là 20 – 30o C, nhiệt độ quá nóng về mùa hè, mùa khô và quálạnh về mùa đông ít gặp bệnh này (Bùi Quang Tề, 1997) Trong các mùa thíchhợp, trùng bánh xe sinh sản nhanh chóng, gây thành dịch bệnh làm cá chết hàngloạt Theo Hà Ký, 1968 mật độ cá thả quá dày cường độ nhiễm trùng bánh xe
tăng gấp 4 – 12 lần Có nhiều giống thuộc Trichodina gây bệnh cho cá nhưng thường gặp nhất là các loài thuộc giống sau: Trichodina, Tripartiella,
Trichodinella.
* Bệnh thích bào tử trùng – Myxobolosis
Thích bào tử trùng ký sinh trên da, mang , vây, thành ruột và cơ Theo BùiQuang Tề, 1984 cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương, cá giốngthường mắc bệnh thích bào tử trùng với tỷ lệ nhiễm cao (có trường hợp tới96%), cường độ nhiễm rất cao, bào nang bám dày đặc trên các cung mang làm
cá không khép nổi nắp mang Bệnh phát triển ở nhiệt độ nước cao 30 – 32oC đàn
cá chép giống bị bệnh thường có tỷ lệ tử vong rất cao Bào nang thích bào tửtrùng có thể sống lâu trong bùn đáy ao hồ nên các loài cá ăn đáy dễ bị nhiễmbệnh và cường độ nhiễm rất cao gây thành dịch bệnh và làm chết hàng loạt Bào
tử có lớp vỏ kitin dày nên rất khó điều trị, tốt nhất là phòng bệnh Dùng vôi tẩytrùng 14 – 20 kg/100m2 để diệt mầm bệnh trước khi ương cá, phơi đáy ao từ 3 –
5 ngày cùng với việc cày xới đáy ao dể diệt bào nang và bào tử (Bùi Quang Tề,1984)
Theo tổng kết, ở cá nước ngọt Việt Nam có hơn 50 loài thích bào tử trùng ký
sinh thuộc 6 giống Thường gây bệnh nhất là giống hai cực nang (Myxobolus) và một cực nang (Thelohanellus).
Trang 21* Bệnh trùng quả dưa – Ichthyophthyriosis
Bệnh do Ichthyophthyrius multiliis gây ra, trùng ký sinh trên da, mang , vây
cá Theo Blazer và Kocon (1988) và cộng tác viên (1986), có rất nhiều yếu tốảnh hưởng đến sự phát triển cũng như lây nhiễm của trùng quả dưa Tuy nhiênnhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất Nhiệt độ là yếu tố chủ yếu làm thay đổi
đặc tính sinh lý của Ichthyophthyrius (Hermon và ctv, 1959) Theo các tác giả
người Nga, trong giai đoạn sống ký sinh chúng không chỉ chịu ảnh hưởng củanhiệt độ mà còn phụ thuộc vào phản ứng miễn dịch của cá Cá đã khỏi bệnh
Ichthyophthyrius có khả năng miễn dịch bởi thế sự nhiễm bệnh về sau giảm đi.
Paperrna, 1980 đã giải thích rằng cá chép sống sót sau khi nhiễm bệnh này thìgiữ được khả năng tái nhiễm bệnh trong 8 tháng Trùng quả dưa có thể là kýsinh của hầu hết các loài cá nước ngọt trên thế giới Bệnh tấn công chủ yếu trên
cá hương và cá giống (Sachlan, 1974) Bệnh được ghi lại tại Philippines trên cácđối tượng nuôi như Rohu, Mrigan, mè trắng, chép với tỷ lệ nhiễm trung bình là6,71% Tại Nepal trùng quả dưa gây bệnh cho cá chép giai đoạn cá hương và cágiống (Shresth, 1976; 1990; Ishikawa, 1992) Trùng ký sinh trên da, mang, vây
cá Ở Việt Nam bệnh trùng quả dưa được phát hiện lần đầu tại ao cá giống ĐìnhBảng (Bắc Ninh) trên cá rô phi và mè trắng, làm chết nhiều cá hương và cágiống (Hà Ký, 1968; Bùi Quang Tề, 1990) Tiếp đó trùng quả dưa được pháthiện trên cá trắm cỏ, cá chép, mè trắng, mè hoa, cá trôi, cá rô phi (Hà Ký ,1968); Trùng quả dưa đã gây thành dịch bệnh ở cá giống các loài: mè trắng, rôphi, cá tra, trê vàng, trê phi tỷ lệ nhiễm 70 – 10%, cường độ cảm nhiễm 5 – 7trùng/lamen
3.2 Bệnh sán lá đơn chủ 16 móc – Dactylogyrosi
Tác nhân gây bệnh là sán lá đơn chủ 16 móc thuộc giống Dactylogyus.
Dactylogyus có thành phần loài phong phú, qua tổng kết thành phần giống loài ở
Trang 22Bắc Mỹ, Hoffman, 1998 đã liệt kê 168 loài xuất hiện và gây hại cho cá Ở nước
ta phát hiện khoảng 49 loài Dactylogyus ký sinh trên nhiều loài thuộc họ cá chép
Ciprilidae và các loài cá phân bố tự nhiên trong cả nước (Bùi Quang Tề, 1998).
Sán lá đơn chủ này ký sinh trên nhiều loài cá nước ngọt ở nhiều lứa tuổi nhưnggây hại nghiêm trọng nhất đối với cá hương và cá giống Bệnh phát triển mạnhtrong các ao nuôi mật độ dày, chất lượng nước kém nhiệt đọ thích hợp chochúng phát triển từ 22 – 28 oC Với các móc răng, nó có thể phá huỷ mang cá,hút máu qua lớp biểu bì của ký chủ, kết quả là cá có thể bị chết vì thiếu máu, hệthống hô hấp bị hoại tử làm cho cá gầy yếu và chết Theo Bauer (1963, 1977)
cho biết cá chép cỡ 3,0 – 4,0 cm bị Dactylogyrus ký sinh với cường độ nhiễm
20 – 30 con/cá thể làm cá chết Tại Nepal Dactylogyus lần đầu tiên được tìm thấy ở cá Chép năm 1968 (Shresth, 1978) Dactylogyus ký sinh ở tất cả các giai
đoạn nhưng nguy hiểm nhất ở giai đoạn cá hương và cá giống Tỷ lệ nhiễm cóthể lên tới 100% ở cá mè hoa 7cm Cường độ nhiễm đôi khi lên tới 100 trùng/cá,
bệnh có thể làm chết hơn 90% cá (Hà Ký, 1995) Dactylogurus phân bố rộng và
thường phát triển vào mùa xuân, mùa thu và mùa đông ở miền Bắc, mùa mưa ởmiền Nam Công trình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chép Ấn Độ từ tháng 4 –
10 năm 1998, Nguyễn Văn Thành nhận thấy tỷ lệ cảm nhiễm Dactylogyus ở
mang cá Mrigal lên tới 62,5 %
3.3 Bệnh do giáp xác – Crustacea
*Bệnh trùng mỏ neo – Lernaeosi
Trùng mỏ neo có số lượng loài không lớn nhưng tác hại của chúng gây racũng đáng phải quan tâm Hoffman (1998) vừa tổng kết 21 trùng mỏ neo thườnggây bệnh cho cá ở Bắc Mỹ Theo các tác giả nghiên cứu về ký sinh trùng ở ViệtNam: Hà Ký, 1968 ; Nguyễn Thị Muội, 1986; Bùi Quang Tề (1990 – 1999) tổngkết đã phát hiện 6 loài trùng mỏ neo ký sinh trên 7 loài cá nuôi Tid, 1934 đã ghi
Trang 23lại trường hợp xảy ra ở Bắc Mỹ, trùng mỏ neo làm thiệt hại 18 tấn cá chép trongvòng 2 tuần lễ, cường độ nhiễm 1246 trùng/cá Ở nước ta trong một số cơ sở sảnxuất và nuôi cá, trùng mỏ neo ký sinh trên các loài cá nuôi với tỷ lệ và cường độnhiễm cao, gây thiệt hại cho sản xuất đặc biệt là với các trại ương nuôi cá hương
và cá giống
Bệnh trùng mỏ neo tương đối phổ biến và gây hại cho đàn cá nuôi Trùng kýsinh trên toàn bộ thân phía ngoài của cá (da, vây, mắt, mang, xoang miệng, hốcmũi) Bệnh gây tác hại lớn cho cá hương và cá giống, nhiều đàn cá hương cỡ 2,5– 3 cm bị trùng mỏ neo ký sinh, làm cá bơi không nổi, chết hàng loạt Các cơ sởương cá giống lưu thường xảy ra hiện tượng trùng mỏ neo ký sinh, tỷ lệ nhiễmlên tới 95%, gây chết nhiều cá Ở miền Bắc bệnh thường xuất hiện vào mùaxuân, mùa thu và mùa đông Theo các tác giả nghiên cứu về ký sinh trùng ở ViệtNam: Hà Ký, 1968; Nguyễn Thị Muội, 1986; Bùi Quang Tề (1990 – 1999) tổngkết đã phát hiện 6 loài trùng mỏ neo ký sinh trên 7 loài cá nuôi
* Bệnh rận cá – Argulosis
Bệnh Argulus là bệnh phổ biến của cá ở nhiều nước trên trên thế giới nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Ucraina Ucraina năm 1960 bệnh do rận cá làm thiệthại gần 2 triệu cá chép, gần 3 triệu con khác bị thương Ở Nhật Bản có trườnghợp Argulus gây tử vong 20% cá chép Đây là một loại ký sinh trùng khá nguyhiểm đặc biệt đối với cá con bởi nó hút máu và mô lỏng qua 1 tổ chức ống hútđồng thời tiêm chất độc tạo điều kiện cho sự nhiễm của vi khuẩn và nấm Bệnh
do rận cá không chỉ gây hại cho cá hương và giống mà ở cá trưởng thành tuy nókhông nguy hiểm nhưng nó làm tổn thương tổ chức da, tạo thành những vết ănsâu vào biểu bì làm mất giá trị cảm quan, giảm giá trị thương phẩm cho cá ngoài
thị trường Trùng gây bệnh là một số loài thuộc giống Argulus, Alitropus Trùng
khi còn sống có màu sắc giống ký chủ (cá), trùng ký sinh trên vây, da và mang
Trang 24cá, hút máu cá và tiết chất độc khiến da cá bị tổn thương và sưng đỏ Bệnhthường tập trung vào mùa xuân và thu ở miền Bắc Năm 1961 bệnh được pháthiện tại một số ao ương cá tại Hải Phòng, làm chết nhiều cá rô phi giống Nước
ta đã phát hiện 5 loài rận cá (Argulus) trên 11 loài cá (Hà Ký, 1968; Bùi Quang
đô Hà Nội Trên địa bàn có đường quốc lộ 1A, 1B và tuyến đường sắt chạy qua.Những tuyến đường này đều là huyết mạch giao thông quan trọng từ Hà Nội lênbiên giới Lạng Sơn Phía Tây Bắc có dòng sông Ngũ Huyện Khê chảy qua, rộng
từ 100 – 150 m với lưu lượng nước vừa phải đáp đủ nguồn nước cho sản xuấtnông nghiệp
Về địa giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Yên Phong, với dòng sông NgũHuyện Khê làm ranh giới Phía Đông giáp huyện Tiên Du Phía Tây giáp huyệnĐông Anh (Hà Nội) Phía Nam giáp huyện Gia Lâm (Hà Nội)