Vìvậy để để đánh giá khả năng sản xuất của đàn bò lai hướng sữa và theo dõitình hình dịch bệnh chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá sức sản xuất và theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn
Trang 1PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất nước ta đang trên đà phát triển kinh tế - xã hội Mức sống của nhândân không ngừng được tăng lên Vì vậy nhu cầu về thực phẩm của người dânkhông chỉ dừng lại ở thịt, trứng, cá… mà còn thêm cả sữa Để đáp ứng nhucầu tiêu dùng, từng bước thay thế sữa nhập ngoại, tăng thu nhập cho nôngdân, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông thôn; ngày26/10/2001 Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 167/2001/QĐ-TTg về
“Một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời
kỳ 2001 - 2010” Mục tiêu: Khai thác triệt để tiềm năng hiện có để phát triểnđàn bò sữa, tạo sản lượng sữa lớn cung cấp cho thị trường, tăng thu nhập chonông dân, đưa chăn nuôi bò sữa thành một nghề trong sản xuất nông nghiệpgóp phần đẩy nhanh tỉ trọng chăn nuôi sớm đạt 30 – 35% so tổng giá trịngành nông nghiệp
Quyết định của Chính phủ đã thúc đẩy phong trào chăn nuôi bò sữatrong cả nước, từ 35.000 con năm 2000 tăng lên 114.000 con năm 2006 Bòsữa được phát triển trong các nông hộ là chính, chiếm khoảng 95%; còn 5%đàn bò sữa chăn nuôi tập trung tại các cơ sở của địa phương Đàn bò đượcnuôi tập trung ở hai vùng: Đông Nam Bộ chiếm 81,5% đàn bò miền Nam và58,41% chăn nuôi đàn bò cả nước, đồng bằng sông Hồng chiếm 42,94% đàn
bò miền Bắc
Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội là xã có nghề chăn nuôi bò sữa tại cácnông hộ tương đối phát triển Với truyền thống chăn nuôi bò sữa từ năm 1991nên đã tạo ra số lượng bò sữa tương đối lớn với sức sản xuất khá tốt, tuy
Trang 2nhiên hai năm qua đàn bò sữa ở Phù Đổng cũng như các địa phương kháctrong cả nước đã có sự biến động cả về số lượng và chất lượng Do kỹ thuậtchăm sóc nuôi dưỡng của các nông hộ còn hạn chế, mặt khác điều kiện khíhậu bất lợi đã làm cho tình hình dịch bệnh ở đàn bò ngày càng phức tạp Vìvậy để để đánh giá khả năng sản xuất của đàn bò lai hướng sữa và theo dõi
tình hình dịch bệnh chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá sức sản xuất và theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn bò lai hướng sữa nuôi ở xã Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội”.
1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
+ Số liệu phải đảm bảo chính xác, trung thực, khách quan, phản ánhđược tình hình thực tế
+ Các số liệu thu thập được xử lý bằng các phần mềm Office Excel,Minitab 14
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu ở xã Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ 15/09/2006 – 15/01/2007
Trang 3PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ SỮA
2.1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa ngày càngtăng cao vì vậy đã thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa, số lượng đàn bò sữa tăngnhanh Chăn nuôi bò sữa trên thế giới được phân bố rộng khắp các châu Tuynhiên trung tâm sản xuất sữa là vùng khí hậu ôn đới, đặc biệt ở Tây Bắc Âu,Đông Âu, Nga, Bắc Mỹ và châu Đại Dương Do điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia khác nhau nên sự phát triển chăn nuôi bò sữa cũngkhác nhau Những nước có số lượng bò sữa lớn như: Ấn Độ: 35.900.000 con,Braxin: 16.9045.000 con… nhưng năng suất sữa trung bình không cao, Ấn
Độ là 1.010 kg/con/chu kỳ, Braxin là 1.407 kg/con/chu kỳ Một số nước có sốlượng bò sữa không nhiều như Nhật Bản có 971.000 con, Đài Loan có 110.00con… nhưng năng suất sữa trung bình lại rất cao, Nhật Bản đạt 8.548kg/con/chu kỳ, Đài Loan đạt 7.000 kg/con/chu kỳ Mỹ vừa là nước có sốlượng bò sữa lớn 9.125.000 con, vừa có năng suất sữa trung bình cao đạt8.227 kg/con/chu kỳ và vừa có sản lượng sữa cao nhất thế giới là: 71.000.000tấn năm Trong khi đó, Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giớinhưng sản lượng sữa chỉ đạt 8,66 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 3688kg/chu kỳ 305 ngày (Hoàng Kim, 2003)
Trong thời gian tới nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa ngày một tăngcao do thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng vì vậy sẽ hạn chế xuấtkhẩu sữa tới các nước đang phát triển do các nước này thiếu ngoại tệ mạnh.Vấn đề đặt ra với các nước đang phát triển là tự sản xuất sữa bằng cách tạo ra
Trang 4những giống bò sữa thích nghi với khí hậu từng vùng, nhân đàn, áp dụng cá
kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản xuất, đồng thời chăm sóc, nuôi dưỡng,quản lý và khai thác hợp lý nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng sữa
2.1.2 Tình hình chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
Ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta ra đời tương đối muộn và chỉ mới thực
sự phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây Cụ thể là bắt đầu vào những năm
1920 trong thời kỳ thuộc địa, khi thương nhân Pakistan và Ấn Độ đưa giống bòsữa Zebu Ấn Độ (Red Sind, Ongle, Sahiwal và Thaparkar) vào Việt Nam
Khoảng năm 1920 – 1923, bò sữa Red Sind được đưa vào Việt Namnuôi ở trại bò Lò Đúc, trại Mursen ở Ba Vì – Hà Tây và một số đồn điền ởmiền Đông Nam Bộ Thời đó sản xuất sữa chỉ để phục vụ cho người Pháp ởmột số ít nơi chính là Hà Nội, Sài Gòn và Đà Lạt Bò đực giống Ấn Độ RedSind phối với bò lai vàng Việt Nam tạo ra bò lai Sind, từ đó lan rộng ra khắpcác tỉnh, mở đầu cho việc cải tạo đàn bò ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọngcho sự lai tạo và phát triển đàn bò sữa sau này (ACI & VSF – CIDA, 2005)
Năm 1958 bò Jersey được nhập vào miền Nam, đưa về nuôi ở huyệnBến Cát (Bình Dương), thông qua một số dự án do Úc tài trợ; nhiều nghiêncứu về vấn đề dùng bò Zebu (Red Sind, Ongle, Sahiwal…) lai với bò vàng địaphương để cải tạo tầm vóc, sau đó lai với bò ôn đới để cải thiện năng suất sữa
bò đã được thực hiện Năm 1959 bò lang trắng đen Bắc Kinh nhập vào miềnBắc được nuôi ở nông trường Ba Vì, ở đây đàn bò biểu hiện thích nghi kém,trọng lượng sơ sinh là 31kg, sản lượng sữa/chu kỳ 1.947kg, tỷ lệ mỡ 3,36%.Năm 1962, một số con được đưa về nuôi ở nông trường Mộc Châu (Sơn La),tại đây đàn bò biểu hiện thích nghi tốt hơn, trong lượng sơ sinh đạt 35,9kg,sản lượng sữa chu kỳ đạt 2.877 kg, bệnh ký sinh trong đường máu mắc ít vànhẹ hơn Năm 1963 ở miền Bắc đã dùng bò lang đen trắng Bắc Kinh lai với
bò vàng Việt Nam, đời con sinh ra được gọi là bò Hà Việt; bò lai F1 Hà
Trang 5-Việt có trọng lượng sơ sinh 20kg, sản lượng sữa chu kỳ 1.200kg, tỷ lệ mỡ4,2% (Vũ Ngọc Tú, Nguyễn Văn Thiện, Tô Du, 1978) Giữa những năm 1963
và 1968, một số nhà chăn nuôi ở miền Nam đã nhập bò HF từ Nhật Bản về laitạo với đàn bò sữa hiện có để gia tăng sản lượng sữa; Nguyễn Trí Thức (1974),Phan Văn Xương (1972), Quảng Trọng Hùng (1974) cho thấy bò sữa lai HF có
số lượng đầu con và sản lượng sữa cao hơn các nhóm giống bò sữa lai ôn đớikhác Như vật công cuộc tạo đàn bò sữa Việt Nam bằng tạp giao giữa bò vàngViệt Nam, bò lai Zebu với bò ôn đới được bắt đầu từ cuối thập kỷ 60
Năm 1970, Cuba tặng trên 1.000 con bò HF được nuôi tại Mộc Châu –Sơn La và giúp xây dựng trung tâm tinh đông viên Moncada - Ba Vì – HàTây Sự kiện này đánh dấu bước khởi đầu của một “chương trình” sản xuấtsữa và mở rộng các hoạt động của ngành sữa ra các tỉnh khác ngoài vùng sảnxuất sữa truyền thống Năm 1976 khi chuyển 255 con bò sữa từ Mộc Châuvào Đức Trọng (Lâm Đồng) để nuôi nhân đàn, là năm đánh dấu sự mở đầucác hoạt động sản xuất sữa ở miền Trung (ACI & VSF – CIDA, 2005) Đàn
bò HF thuần chủng Cuba nuôi ở Mộc Châu nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuậtchăn nuôi bò sữa, có chuyên gia cuba hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật nên sảnlượng sữa chu kỳ đạt tới 3.900 - 4.215kg, còn ở Đức Trọng sản lượng sữa chu
kỳ đạt 3.318kg Từ kết quả trên cho thấy nước ta có thể nuôi bò sữa cao sản
ôn đới ở các vùng cao nguyên có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân nămthấp dưới 210C Sau khi miền Nam giải phóng năm 1975, đàn bò sữa ở miềnNam giảm sút nhanh chóng, quanh Sài Gòn chỉ còn 298 bò sữa, trong đó bòvắt sữa 198 con với sản lượng rất thấp (Lê Đăng Đảnh, Vũ Văn Nội, 1977).Trước trình hình đó, Bộ Nông nghiệp đề ra kế hoạch phát triển nhanh đàn bòsữa ở miền Đông Nam Bộ, dựa trên đàn bò lai Sind có tầm vóc lớn, để lai tạovới các giống bò sữa cao sản ôn đới (HF, Jersey, Brown Swiss…) (NguyễnQuốc Đạt, 1998) nhằm đẩy mạnh công cuộc tạo giống bò sữa ở miền Nam
Trang 6Giữa những năm 1970 và 1980, chăn nuôi bò sữa Việt Nam tập trung vàomột số ít các nông trường quốc doanh lớn tại Mộc Châu (Sơn La), Ba Vì (HàTây), Phù Đổng(Hà Nội), Phụng Thượng (Ninh Bình), Đức Trọng (Lâm Đồng)
Từ năm 1980 – 2000, nhờ có chăn nuôi bò sữa ở nông hộ và áp dụng kỹthuật thụ tinh nhân tạo mà đàn bò sữa trong giai đoạn này tăng cả về số lượng
và chất lượng Bên cạnh đó là Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa ở ngoại thành HàNội là Từ Liêm, Gia Lâm(ACI & VSF – CIDA, 2005) Tổng số đầu con năm
1993 là 11.150 con, so với năm 1978 tăng 14 lần Đặc biệt ở Thành phố HồChí Minh phát triển rất nhanh, tốc độ tăng đàn nhanh từ 1978 – 1993, bìnhquân mỗi năm tăng 60% Từ số liệu trên cho thấy vai trò của con người, khoahọc kỹ thuật, công tác thụ tinh nhân tạo và các yếu tố kỹ thuật khác; đặc biệt
là chăn nuôi bò sữa ở nông hộ đã trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩyngành bò sữa phát triển (Trần Trọng Thêm, 2000) Mặc dù thời gian này đàn
bò sữa tăng, nhưng sự phân bố chỉ tập trung ở một số ít vùng; đàn bò sữathuần chủ yếu nuôi ở Mộc Châu và Đức Trọng; đàn bò sữa lai được nuôi ởcác hộ gia đình tập trung chủ yếu ở phụ cận Thành phố Hồ Chí Minh,Hà Nội
và Hà Tây; sản lượng sữa tăng nhanh song còn xa mới đáp ứng được nhu cầutiêu thụ (Phùng Quốc Quảng và cộng sự, 2000) Từ năm 1986, do chuyển đổi
cơ chế quản lý từ tập trung bao cấp sang hoạch toán kinh doanh theo cơ chếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các nông trường chăn nuôi bò sữagặp nhiều khó khăn, đàn bò sữa mất dần vị trí và giảm dần số lượng đáng kể,đàn bò thuần HF liên tục giảm từ khoang 3.500 con năm 1985, đến năm 1990còn 2.000 con Trước thực tế trên đòi hỏi các nông trường, trung tâm phảichuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất trong chăn nuôi, cơ cấu và mục tiêu sảnxuất kinh doanh; hình thức chăn nuôi tập trung được chuyển sang chăn nuôitheo cơ chế hộ gia đình Trong hai năm (1995 – 1997) tình hình chăn nuôi bòsữa ở Hà Nội và cả ở Thành phố Hồ Chí Minh đã chửng lại và có nhiều giảm
Trang 7xút do chất lượng đàn bò xấu, sản lượng sữa làm ra khó tiêu thụ, đầu vào caohơn đầu ra, giá cả thức ăn không ổn định (Nguyễn Văn Thưởng, 2000); nhưngnguyên nhân quan trọng và cơ bản là do nó chưa có và không được phát triểntrên một nền tảng vững chắc nên ngay cả khi đã được phục hồi thì trong chănnuôi bò sữa vẫn tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng (Paul pozg, Phùng QuốcQuảng, 2000).
Quyết định số 167/2001/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính Phủ đã dấylên phong trào phát triển chăn nuôi bò sữa rất rầm rộ trong cả nước Quyếtđịnh đã thúc đẩy chương trình chọn và nhân giống bò sữa, sản xuất bò lai HF(HF x Lai Zebu) được coi là xương sống của chương trình, đồng thời nhậpnguồn gen bò sữa chất lượng cao từ các nước nhiệt đới để thoả mãn nhu cầugiống bò sữa trong nước; bên cạnh việc nâng cao số lượng và chất lượng đàn
bò giống, cũng có kế hoạch tăng cường các dịch vị (thụ tinh nhân tạo, khuyếnnông, thú y) và cải thiện công nghiệp chế biến sữa, sản xuất thức ăn tinh, sảnxuất thức ăn xanh, tăng cường hệ thống thu mua sữa; hỗ trợ kinh phí muagiống, ưu đãi trong vay vốn để nông dân phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 2.1 Số lượng bò, sản lượng sữa, tốc độ tăng trưởng hàng năm
Số lượng đàn bò
(con) 41200 55800 80000 95800 104120Tốc độ tăng đàn
Tổng sản lượng
sữa (tấn) 64703 78453 126000 151314 197679Tốc độ tăng sản
lượng sữa (%) 2574 2125 6060 2009 3064
(Nguồn: Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2006)
Trang 8Nhờ đó tốc độ tăng trưởng hàng năm tăng nhanh(Bảng 2.1), tốc độ tăngtrưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2005 của đàn bò sữa là 26,7%, sản lượngsữa là 33%, tốc độ tăng sản lượng sữa cao hơn tốc độ tăng của đàn bò do năngxuất, chất lượng của đàn bò sữa được nâng lên rõ rệt (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Năng suất sữa trên chu kỳ (kg )
Bò lai HF 3.100 3.200 3.300 3.350 3.500
Bò lai HF thuần 3.900 4.200 4.400 4.500 4.600
(Nguồn: Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2006)
Theo đánh giá của Akey (2004) mức tăng trưởng sản xuất sữa ViệtNam cao nhất thế giới khoảng 10% năm 2004 Tuy nhiên mức sản xuất so vớithế giới còn rất khiêm tốn, năm 2004 tổng sản lượng sữa chiếm 0,03% tổngsản lượng sữa trên thế giới (AIC & VSF – CICD, 2005) và sau một thời gianphát triển mạnh, xu hướng phát triển đang có dấu hiệu chững lại
2.1.3 Sự phát triển của bò lai hướng sữa ở Việt Nam
Những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã bắt đầu tạođàn bò lai hướng sữa bằng tạp giao giữa bò vàng Việt Nam, bò lai Zebu với
bò sữa ôn đới Từ đó đến năm 1980 do chiến tranh, do cơ chế tập trung baocấp nên đàn bò hướng sữa không được phát triển Sau năm 1980, nhờ cơ chếkhoán hộ, đàn bò lai hướng sữa bắt đầu phát triển ở vùng phụ cận Thành phố
Hồ Chí Minh Từ năm 1986 do chuyển đổi cơ chế quản lý sản xuất từ tậptrung bao cấp sang hoạch toán kinh doanh, đàn bò lai hướng sữa được pháttriển nhanh ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận, nhưng ở Hà Nội vàvùng phụ cận phải sau “khoán mười” (1989) đến năm 1991 mới phát triển
Trang 9Bảng 2.3 Tình hình phát triển đàn bò lai hướng sữa
bình/chu kỳ (kg)
199019911992199319941995199619971998199920002001 2002
2003
2004
2005
9.0009.30011.50013.60015.00017.20020.50023.05025.65027.80033.00038.000 40.500 72.000 79.950 90.600
2.1002.2002.2002.2502.3001.3302.5002.7002.8803.0003.3003.1003.2003.3503.3503.500
(Nguồn:Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006)
Từ quyết định 167/2001/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày26/10/2001 thì đàn bò lai hướng sữa mới phát triển mạnh khắp các vùng sinhthái của cả nước Tính đến ngày 31/07/2005 cả nước có tổng đàn bò sữa107.045 con, trong đó:
Bò lai 1/2 máu HF: 25.862 con (24,16%)
Bò lai 3/4 máu HF: 27.948 con (26,11%)
Bò lai 7/8 máu HF: 21.907 con (20,46%)
Trang 10Bò lai trên 7/8 máu HF: 14.591 con (13,92%).
835885.110280
16582.79891
4565619.0162.359
2112331.5092.092
( Nguồn: Viện Chăn nuôi, 2005 )
Tình hình chăn nuôi bò lai hướng sữa ở các địa phương được thể hiện
ở bảng 2.4 Đàn bò phát triển mạnh ở các tỉnh phía Nam chiếm tới 78,75%tổng số đàn bò lai hướng sữa của cả nước Các tỉnh phía Nam nuôi tập trung ởvùng Đông Nam Bộ chiếm 85,85% đàn bò lai hướng sữa của miền Nam Còn
ở các tỉnh phía Bắc chỉ chiếm tỷ lệ là 21,25% Các tỉnh phía Bắc nuôi tậptrung ở đồng bằng sông Hồng chiếm 66,17% đàn bò lai hướng sữa của miềnBắc Trong đó, cơ cấu đàn bò lai hướng sữa là: đàn bò sữa 1/2 máu HF chiếm
Trang 11tỷ lệ 28,54%; đàn bò lai 3/4 máu HF chiếm 30,85%; đàn bò lai hướng sữa 7/8máu HF trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất 40,61%.
2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ GIỐNG BÒ SỮA VÀ BÒ LAI HƯỚNG SỮA 2.2.1 Bò Holstein Frisian thuần(HF)
Trên thế giới có rất nhiều giống bò sữa, nhưng phổ biến nhất vẫn làgiống bò Holstein Frieian (HF) Bò có nguồn gốc từ vùng Fulixion của HàLan nên bò này còn được gọi là bò sữa Hà Lan Mặc dù có nguồn gốc ôn đớinhưng đã được lai tạo thành những dòng khác nhau có thể nuôi thích nghiđược ở các vùng nhiệt đới Bò HF có màu lang trắng đen, tầm vóc lớn (khốilượng con cái từ 450 - 750kg/con) Bò cái có dáng thanh, thân hình nêm, bầu
vú phát triển, sinh sản tốt, khả năng sản suất sữa rất cao Tại Pháp, năng suấtsữa trung bình khoảng 20kg/con/ngày, có con đạt 9.000kg/chu kỳ Một số bò
HF thuần được nuôi tại Đức Trọng - Lâm Đồng có khả năng sản suất trên5.000kg/chu kỳ Tại Việt Nam hiện có nhiều loại tinh bò HF đã và đang được
sử dụng như tinh bò HF từ Cuba, Pháp, Canada, Mỹ, Nhật
2.2.2 Bò Lai Holstein Friesian F1 (1/2 HF)
Bò lai F1 được tạo bằng cách lai giữa bò đực HF thuần với bò với bòcái Lai Sind Bò F1 thường có màu đen tuyền, đôi khi đen xám và nâu đen
Bò có tầm vóc lớn, bò cái trưởng thành có trọng lượng từ 350 - 500 kg Bò cóbầu vú phát triển, thích nghi tốt với điều kiện môi trường chăn nuôi ViệtNam Năng suất trung bình khoảng 8 - 9 kg/ngày, năng suất một chu kỳ bìnhquân 2.700 kg Cá biệt có một số bò HF F1 nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh
có sản lượng sữa trên 4.000 kg/chu kỳ
Trang 122.2.3 Bò lai hướng sữa F2 (3/4 HF)
Bò lai lai hướng sữa F1 được tiếp tục lai với bò đực Holstein Frisien đểtạo ra bò lai hướng sữa F2 Bò F2 thường có màu lang trắng đen Bò có tầmvóc lớn, bò cái trưởng thành có khối lượng khoảng 400 - 500kg Bò lai hướngsữa F2 có bầu vú phát triển, thích nghi tốt với điều kiện môi trường chăn nuôiViệt Nam Năng suất sữa của bò này trung bình khoảng 10 - 12 kg/ngày, cóthể đạt 15 kg/con/ngày
2.2.4 Bò lai hướng sữa F3 (7/8 HF)
Bò F3 được tạo ra bằng cách cho bò đực HF thuần phối với bò laihướng sữa F2 Bò lai F3 thường có màu lang trắng đen Bò cái trưởng thành
có trọng lượng từ 400 - 550 kg Bò có bầu vú phát triển, bò thích nghi kémhơn bò lai hướng sữa F1 và lai hướng sữa F2 nhưng nếu được chăm sóc nuôidưỡng tốt thì vẫn cho năng suất cao Năng suất sữa trung bình khoảng 13 -14kg/ngày
2.3 KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA BÒ LAI HƯỚNG SỮA
Quá trình sinh sản là một hiện tượng tự nhiên nhưng cũng là một quá trìnhchọn lọc hết sức phức tạp và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Sinh vật muốnduy trì, ổn định và phát triển nòi giống cần phải có quá trình sinh sản
Trong chăn nuôi, sinh sản không những duy trì nòi giống, mà còn đểtạo ra sản phẩm Con người đã lợi dụng quá trình sinh sản của vật nuôi đểkhai thác sản phẩm (sữa, trứng, con giống…) phục vụ nhu cầu cuộc sống Vìvậy, sinh sản là một trong những tính trạng được chú ý cải tạo, nó ảnh hưởngtrực tiếp đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Một số chỉ tiêu chính đánh giá khả năng sinh sản của bò sữa như sau:
Trang 132.3.1 Tuổi phối giống lần đầu
Thành thục về tính thường diễn ra sớm hơn thành thục về thể vóc, bòsữa có thể thành thục về tính khi khối lượng cơ thể đạt 30 – 40% khối lượngcủa gia súc trưởng thành Tuổi phối giống lần đầu quá sớm sẽ ảnh hưởng đếnkhối lượng bê sơ sinh, kìm hãm sự phát triển thể vóc nói chung và tuyến vúnói riêng, vì vậy ảnh hưởng đến khả năng sản xuất sữa và sản lượng sữa của
cả đời bò, thậm chí còn ảnh hưởng đến tuổi sử dụng của bò cái sinh sản Chỉphối giống cho bò hậu bị khi chúng đạt 65 – 70% khối lượng cơ thể trưởngthành, chỉ tiêu này do người chăn nuôi bò sữa quyết định
Theo Tăng Xuân Lưu (1999) nghiên cứu trên đàn bò lai hướng sữa ở
Ba Vì thì tuổi phối giống lần đầu khá cao của bò F1 là 26,4 tháng, F2 là 27,4tháng Nghiên cứu của Vũ Văn Nội và cộng sự (2001) trên đàn bê lai hướngsữa F2, F3 trong nông hộ gia đình có điều kiện chăn nuôi khá ở Thành phố
Hồ Chí Minh và Ba Vì cho thấy kết quả: ở thành phố Hồ Chí Minh tuổi phốigiống lần đầu của bò F2 và F3 từ 14,8 đến 15,8 tháng, ở Ba Vì từ 16,6 đến18,6 tháng Như vậy, quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều kiện môi trườngảnh hưởng đến tuổi phối giống lần đầu của bò sữa
2.3.2 Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu là một trong những chi tiêu đánh giá khả năng sinh sảncủa gia súc cái, là thước đo sức tái xuất của từng cá thể Tuổi đẻ lứa đầu càngngắn thì con vật càng sớm tạo ra sản phẩm cho xã hội, tuổi đẻ lứa đầu quámuộn sẽ có nhiều trường hợp đẻ khó gây thiệt hai cho ngành chăn nuôi
Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào yếu tố di truyền và ngoại cảnh như chế độchăm sóc, nuôi dưỡng bê, khí hậu và khả năng sinh trưởng và phát dục củagiống… Vì vậy nó là tính trạng phản ánh đặc điểm sinh lý sinh sản của từnggiống, cũng như đặc điểm của môi trường sống và quá trình chọn lọc Vì thời
Trang 14gian mang thai của bò ít biến đổi nên tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phốigiống lần đầu có chửa Tuổi đẻ lứa đầu của giống bò lai có khuynh hướng tăngdần theo sự gia tăng tỷ lệ máu bò ôn đới Theo Nguyễn Xuân Trạch, Mai ThịThơm (2004) thì tuổi đẻ lứa đầu của bò lai F1, F2, F3 Hà Ấn vào khoảng 27 – 28tháng Mai Thị Thơm (2004) nghiên cứu trên đàn bò lai (lai Sind x HF) ở xãVĩnh Thịnh - Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc cho kết quả tuổi đẻ lứa đầu của bò F1 là31,6 tháng và của F2 là 30,3 tháng Trong khi đó, Nguyễn Quốc Đạt (1998)nghiên cứu trên đàn bò lai (HF x Lai Sind) nuôi ở thành phố Hồ Chí Minh chobiết tuổi đẻ lứa đầu của bò lai F1, F2, F3 lần lượt là 26,8; 27,17 và 26,8 tháng.Như vậy tỷ lệ máu HF trong con lai không ảnh hưởng đến tuổi đẻ lứa đầu, kếtquả nghiên cứu của các tác giả cho thấy: tuổi đẻ lứa đầu cảu con lai (lai Sind xHF) muộn hơn so với bố mẹ chúng và có khoảng biến thiên khá rộng.
2.3.3 Khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giákhả năng sinh sản Độ dài thời gian mang thai là một hằng số sinh lý và khôngthể rút ngắn được Cho nên khoảng cách lứa đẻ chủ yếu do thời gian có chửalại sau khi đẻ quyết định
Bò mang thai thường ổn định trong khoảng 270 – 285 ngày, thôngthường chu kỳ khai thác sữa đúng khoa học là 10 tháng, thời gian cạn sữa là 2tháng, do vậy khoảng cách lứa đẻ lý tưởng là 12 tháng Tuy nhiên theo nghiêncứu của Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004) trong thực tế do nhiềunguyên nhân như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, đặc biệt phẩm giống, thờigian động dục trở lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, văt sữa, cạn sữa… làmcho khoảng cách lứa đẻ thường kéo dài 390 – 420 ngày hoặc hơn Khoảngcách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sảnlượng sữa và số bê con sinh ra trong một đời gia súc
Nguyễn Xuân Trạch (2003) nghiên cứu trên đàn bò lai HF nuôi tại Phù
Trang 15Đổng thì khoảng cách lứa đẻ ngắn nhất ở bò F1 là 475,6 ngày, sau đến bì F2
là 480,3 ngày và dài nhất là bò F2 là 497,8 ngày Mai Thị Thơm (2004)nghiên cứu trên bò lai (HF x lai Sind) ở Vĩnh Thịnh cho biết khoảng cáchgiữa hai lứa đẻ ở bò F1 là 466,27 ngày, ở bò F2 là 492,23 ngày; khoảng cáchlứa đẻ ở bò F1 ngắn hơn ở bò F2 và sự khác nhau giữa chúng có ý nghĩathống kê (P<0,05) Như vậy khi lai cấp tiến giữa bò ôn đới với bò nhiệt đới thìkhoảng cách lứa đẻ tăng theo tỷ lệ máu bò ôn đới trong con lai Mặt khác,cùng một giống nhưng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng kém làm kéo dàikhoảng cách lứa đẻ
2.3.4 Hệ số phối giống
Hệ số phối giống là một chỉ tiêu kỹ thuật khá quan trọng trong chăn nuôi
bò sữa, phụ thuộc vào chất lượng của từng phẩm giống, điều kiện khí hậu, thờitiết, kỹ thuật, nuôi dưỡng, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, phẩm chất tinh dịch …
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quốc Đạt (1998) trên đàn bò lai (HF xlai Sind) ở thành phố Hồ Chí Minh cho biết hệ số phối giống của con lai cókhuynh hướng tăng dần theo tỷ lệ gia tăng máu bò ôn đới Hệ số phối giốngthấp nhất ở bò F1 là 1,68; sau đó đến bò F2 là 1,94 và cao nhất ở F3 là 2,07.Như vậy sự khác biệt giữa các phẩm giống là khá rõ rệt Mai Thị Thơm(2004) nghiên cứu trên đàn bò lai hướng sữa ở Vĩnh Thịnh cho kết quả phùhợp với khuynh hướng trên nhưng cao hơn, hệ số phối giống của F1 là 2,13
và F2 là 2,37; giữa chúng có sự sai khác (P<0,05)
Theo Balain và Raheja (1999) nghiên cứu trên bò sữa lai giữa bò sữa ônđới với bò Zezu ở Ấn Độ nhận thấy hệ số phối giống tăng dần theo sản lượngsữa chu kỳ (từ 2,32 ± 0,14 đến 2,63 ± 0,19), giảm dần theo lứa sữa (từ 2,74 ±0,11 ở lứa 1 xuống 2,27 ± 0,13 ở lứa 5) Hệ số phối ở con lai ba giống (2,04 ±1,19 – 2,39 ± 0,18) cao hơn con lai hai giống (2,11 ± 0,14 – 2,19 ± 0,13), ở bê tơ
Trang 162.4 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT SỮA
Trong chăn nuôi bò sữa sản phẩm thu được sẽ quyết định mức thu nhậpcủa người chăn nuôi bò sữa Sản phẩm thu được ở đây chính là sữa và bê Sữarạo ra lợi nhuận tức thì, thu nhập từ sữa chiếm phần lớn tổng thu bán sảnphẩm Do vậy sữa được người chăn nuôi bò sữa quan tâm hàng đầu Sức sảnsữa được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
2.4.1 Thời gian cho sữa
Thời gian cho sữa trong chu kỳ tiết sữa là chỉ tiêu thể hiện sức sản xuấtdẻo dai của gia súc hướng sữa Thời gian cho sữa thực tế cùng với năng xuấtsữa/ngày quyết định sản lượng sữa Chu kỳ cho sữa chuẩn của bò sữa là 300 –
305 ngày, nhưng biến động trong khoảng rất lớn 100-1000 ngày, bởi vì chỉ tiêunày phụ thuộc nhiều vào giống, môi trường, trong đó các yếu tố ảnh trực tiếpnhất là đặc điểm sinh vật của cá thể, thức ăn thời gian có chửa lại sau khi đẻ…
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) nghiên cứu trên đàn bò lai HF ở HàNội cũng cho thấy thời gian cho sữa dài nhất ở bò F2 là 326,8 ngày, sau đó bòF3 là 320,9 ngày, ngắn nhất ở bò F1 là 303,7 ngày Nguyễn Quốc Đạt (1998)nghiên cứu đàn bò lai hướng sữa (HF x Lai Sind) nuôi ở Thành phố Hồ ChíMinh cho rằng thời gian cho sữa dài nhất ở bò F2 là 307,54 ngày, sau đến bòF1 là 306,02 ngày, còn ngắn nhất ở bò F2 là 302,40 ngày
Khan (1986) nghiên cứu đàn bò lai HF và jersey với bò Sahiwal và RedSind ở Pakisan cho biết hệ số di truyền và thời gian cho sữa từ 0,2 – 0,6.Tajane và Rai (1989) khi nghiên cứu về đàn bò lai HF với Sahiwal ở Ấn Độlại cho rằng hệ số di truyền về thời gian cho sữa chỉ bằng 0,01 – 0,16 tuỳthuộc vào tỷ lệ máu HF trong con lai Như vậy thời gian cho sữa của bò sữa
có hệ số di truyền biến động lớn, các nhân tố bên ngoài (chăm sóc, dinhdưỡng, khí hậu, quản lý…) ảnh hưởng lớn đến thời gian cho sữa
Trang 172.4.2 Sản lượng sữa
Sản lượng sữa là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá khả năng sản xuấtsữa của bò sữa vì nó quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa.Sản lượng sữa còn là chỉ tiêu quan trọng cho phép đánh giá phẩm giống convật Do đó sản lượng sữa là tính trạng được các nhà chăn nuôi rất quan tâm.Tính trạng này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố (di truyền, điều chăn sóc, nuôidưỡng, quản lý…), cho nên sản lượng sữa của từng giống, từng cá thể, từngchu kỳ và ở môi trường sống khác nhau đều khác nhau
Bò HF nuôi ở Cuba có sản lượng sữa bình quân đạt 4099kg, ở MộcChâu đạt 3766kg, còn ở Lâm Đồng là 3315kg(Trần Công Thành, 2000)
Nguyễn Quốc Đạt (1998) nghiên cứu trên đàn bò lai HF ở thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy kết quả: sản lượng sữa thực tế của bò F1 là 3.671kg,còn bò F3 là 3.457kg; Nguyễn Xuân Trạch (2003) theo dõi trên đàn bò lai HFnuôi ở Phù Đổng cho biết sản lượng sữa của bò F1 là 3.615kg, còn bò F2 là3.757kg, còn bò F3 là 3.610kg (sản lượng sữa 305 ngày)
Như vậy, thông qua các tác giả nghiên cứu trên đàn bò lai HF đều chorằng sự gia tăng sản lượng sữa theo sự gia tăng máu HF trong con lai Tuynhiên, sản lượng sữa còn phụ thuộc vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng và thời giankhai thác sữa
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Văn Thưởng (2000) bò F1(1/2 máu HF) làthích hợp nhất, sau đó là bò F2 (3/4 máu HF) Lê Xuân Cương (2000) thôngbáo, kết quả nghiên cứu khoa học là dùng bò F1 có 50% và F2 có 75% máu
HF để sản xuất sữa là tốt nhất, không nên tiếp tục lai thêm máu bò HF quácao vì bò lai F3, F4 rất khó nuôi trong điều kiện nuôi gia đình hiện nay Tuynhiên, Lê Việt Anh (1995) lại cho rằng thì bò F1, F2, F3 và cả HF đều chosữa tốt, nhưng mức độ nuôi dưỡng phải thay đổi tuỳ theo phẩm giống
Trang 182.5 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ SỨC SẢN XUẤT SỮA
Khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa của bò ảnh hưởng của rất nhiềuyếu tố như giống, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc, quản lýchúng Mỗi yếu tố khác nhau có sự ảnh hưởng khác nhau đến khả năng sinhsản và sức sản xuất của bò sữa
2.5.1 Giống
Các giống khác nhau có khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa khác nhau.Khả năng sinh sản của bò có hệ số di truyền rất thấp, theo Nguyễn VănThiện (1995) hệ số di truyền về khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò h2 = 0,1.Cho nên sự khác nhau về sinh sản chủ yếu do ngoại cảnh chi phối Nhữnggiống có khả năng thích nghi cao với khí hậu, chống đỡ bệnh tật tốt trong mộtmôi trường cụ thể sẽ có khả năng sinh sản cao hơn
Giống có ảnh hưởng lớn đến năng xuất và chất lượng sữa Tuy vậy hệ
số di truyền về năng xuất sữa lại tương đối thấp, theo Panda và Sudhu (1983)
hệ số di truyền về sản lượng sữa bò lai HF và Jersey với bò Hariana vàBengal h2 = 0,07 ± 0,06 - 0,49 ± 0,43, cho nên sản lượng sữa chịu ảnh hưởngrất nhiều của yếu tố bên ngoài Chất lượng sữa có hệ số di truyền cao
Giống chuyên môn hoá theo hướng sữa có năng suất sữa cao, thường tỷ lệ
mỡ và protein sữa thấp; giống kiêm dụng có năng suất sữa thấp, nhưng tỷ lệ mỡ
và protein sữa cao; con lai giữa bò chuyên sữa với bò kiêm dụng có năng suấtsữa, tỷ lệ mỡ sữa và protein sữa ở mức trung bình giữa hai giống bố và mẹ
2.5.2 Dinh dưỡng
Mức độ dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn có ảnh hưởng tới khả năngsinh sản, năng suất và chất lượng sữa Nuôi dưỡng thấp sẽ kìm hãm sinhtrưởng của bò cái tơ làm chậm thời gian đưa vào sử dụng và giảm khả năng
Trang 19sinh sản về sau, đồng thời kèm theo sự kém phát triển của bầu vú, vì thế saunày năng suất sữa thấp.
Đối với những bò trưởng thành, mức độ dinh dưỡng thấp dẫn đến kéodài thời gian phục hồi sau đẻ, làm bò gầy yếu dễ bị bệnh tật, làm giảm khảnăng sinh sản; thiếu năng lượng bò phải huy động năng lượng dự trữ trong cơthể để sản xuất sữa, cho nên khẩu phần thiếu năng lượng trong thời gian dàilàm năng suất sữa và sức khoẻ của bò giảm sút; ngược lại nếu dinh dưỡng quánhiều, nhất là gluxit sẽ làm cho bò quá béo, buồng trứng bị tích luỹ mỡ nêngiảm hoạt động chức năng sinh sản; thiếu thức ăn thô trong khẩu phần ăncũng làm giảm năng suất sữa và tỷ lệ mỡ sữa Mức protein trong khẩu phần ănkhông hợp lý ảnh hưởng xấu đến sự tiết sữa, thiếu protein thường dẫn đến hàmlượng chất khô, mỡ, protein và các thành phần trong sữa giảm; đồng thời thiếuprotein làm cho chu kỳ sinh dục không đồng đều, tế bào trứng hình thànhkhông đảm bảo chất lượng sẽ ảnh hưởng đến thế hệ sau Các loại khoáng trongkhẩu phần thức ăn rất quan trọng; thiếu phốt pho làm cho trứng nhỏ lại và noãnbào ít đi, động đực thất thường, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Thiếu Ca(canxi) và P có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sữa vì đây là cácnguyên tố có thành phần ổn định trong sữa và trong xương của bò
Trong khi đó, loại hình thức ăn cũng rất quan trọng Thức ăn kiềm tínhphù hợp cho sự phát triển của hợp tử và bào thai, thức ăn toan tính làm giảm
tỷ lệ thụ thai và không thích hợp cho hình thành hợp tử
Như vậy, trong quá trình nuôi dưỡng cần căn cứ nhu cầu dinh dưỡngcủa từng giai đoạn để tính toán đưa ra khẩu phần ăn sao cho đầy đủ, cân bằngcác chất dinh dưỡng và loại hình thức ăn phù hợp
2.5.3 Môi trường
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ ánh sáng mặt trời,
Trang 20áp xuất khí quyển, lượng mưa đều có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sứcsản xuất sữa, sinh sản của bò Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp qua kíchthích thần kinh điều chỉnh duy trì thân nhiệt, hệ thống enzym và các hoócmôn khác, gây ảnh hưởng gián tiếp thông qua năng suất và phẩm chất củathức ăn Do đó ở nước ta năng suất và chất lượng sữa thường giảm trong vụđông xuân do thiếu cỏ, khả năng sinh sản lại giảm vào mùa hè.
Sức sản xuất sữa của bò sữa chịu ảnh hưởng rõ rệt của nhiệt độ và độ
ẩm môi trường Ở bò, sản lượng sữa không ảnh hưởng trong phạm vi nhiệt độ
từ 0 - 210C, nhiệt độ thấp hơn -50C và từ 26 - 270C sản lượng sữa giảm từ từ,khi nhiệt độ trên 270C sản lượng sữa giảm rõ rệt; tỷ lệ mỡ sữa giảm trongnhiệt độ môi trường từ 21 - 270C, khi nhiệt độ tăng hơn 270C tỷ lệ mỡ sữa có
xu hướng tăng Độ ẩm môi trường tăng cao làm sản lượng sữa giảm rõ rệt,một số thành phần của sữa như nitơ protein, palmetic và axits stearic có xuhướng tăng; trong khi đó các thành phần khác như mỡ sữa, vật chất khôkhông mỡ, nitơ tổng số, axít béo mạch ngắn và axít oleic có xu hướng giảmthấp (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004)
Nhiệt độ môi trường thích hợp của bò sữa phụ thuộc vào giống và khảnăng chịu nóng và lạnh của con vật Trong khi đó, nhiệt độ tối đa và tối thiểucho sức sản xuất ở mỗi giống bò cũng khác nhau Sức sản xuất sữa của bò HFgiảm đi nhanh chóng ở nhiệt độ trên 210C, bò Brown swiss và Jersey nhiệt độnày khoảng 24 – 270 Nhiệt độ thích hợp của bò Jersey khoảng 20C Trong khi
đó ở bò HF không ảnh hưởng nhiều thậm chí -130C (Nguyễn Xuân Trạch,Mai Thị Thơm, 2004)
2.5.4 Chăm sóc nuôi dưỡng
Nhu cầu của bò sữa là rất cao trong quá trình khai thác và sử dụngchúng Vì vậy nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt để bò gầy yếu, sảy thai,mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh sản khoa sẽ làm giảm khả năng sinh sản và sức
Trang 21sản xuất sữa Không phát hiện động dục kịp thời, phối giống không đúng kỹthuật, phẩm chất tinh dịch kém… là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đếnsinh sản của bò, kéo dài thời gian không có chửa sau đẻ, ảnh hưởng đến năngsuất sữa, làm giảm tổng sản lượng sữa.
Nếu vắt sữa không đúng kỹ thuật sẽ ức chế sự tiết sữa, làm tăng tỷ lệ
mỡ sót, dẫn đến ức chế tạo sữa Số lần vắt sữa trong ngày cũng ảnh hưởngđến năng suất sữa, đối với bò cao sản số lần vắt sữa quá ít sẽ làm tăng áp xuấttrong bầu vú và ức chế quá trình tạo sữa tiếp theo
2.6 KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA ĐÀN BÒ LAI HƯỚNG SỮA
Như chúng ta đã biết, bò sữa là động vật máu nóng, vì thế chúng phải duytrì nhiệt độ ổn định mặc dù nhiệt độ môi trường luôn thay đổi Muốn vậy bò phảiđược sự cân bằng giữa nhiệt sinh ra trong cơ thể và nhiệt thải ra môi trường
độ môi trường ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận vào, sức sản xuất vàđiều hoà nhiệt ở bò có tác động lớn đến tốc độ và quá trình sản xuất nhiệt
Trang 22Quá trình thải nhiệt ra khỏi cơ thể bò sữa phụ thuộc và các yếu tố:Nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt, lưu thông gió của môi trường và diện tích bềmặt da của cơ thể Độ ẩm môi trường cao, cản trở bốc hơi nước của gia súc,làm cho quá trình thải nhiệt gặp khó khăn Nhiệt độ môi trường cao lại cản trởthải nhiệt của cơ thể qua con đường dẫn nhiệt Bức xạ nhiệt của môi trườngcao, lưu thông gió kém, làm cho quá trình thải nhiệt thông qua bức xạ nhiệt vàđối lưu kém Bò gốc ôn đới khả năng thải nhiệt hạn chế hơn bò nhiệt đới
2.6.3 Stress nhiệt
Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể lớn hơn khả năng thải nhiệt vào môitrường thì thân nhiệt tăng, bò xuất hiện stress nhiệt Stress ở bò được hiểu làtrạng thái mà tại đó do tác động của nhiệt độ, độ ẩm… bắt đầu xuất hiện cácđiều chỉnh ở mức độ mô bào và toàn cơ thể gia súc giúp nó tránh được cácchức năng sinh lý và làm cho gia súc thích nghi tốt với môi trường ngoài
Nhiệt độ và độ ẩm có tầm quan trọng đặc biệt với khả năng thích nghicủa bò với các vùng khí hậu khác nhau Cho nên người ta đã sử dụng chỉ sốnhiệt ẩm THI làm chỉ thị về stress nhiệt Chỉ số nhiệt ẩm được tính theo côngthức sau:
Trong đó: W là nhiệt độ của nhiệt kế ướt tính bằng 0C
D là nhiệt độ của kế khô tính bằng 0C
THI ≤ 70 là thích hợp với bò sữa, THI trong khoảng 75 – 78 bò sữa bịstress nhiệt, THI > 78 bò sữa bị stress nghiêm trọng không còn khả năng duytrì cơ thể, điều hoà nhiệt và không thể duy trì nhiệt độ cơ thể ở mức độ bìnhthường, THI > 98 bò sẽ chết
THI = 0,72 (W + D) + 40,6
Trang 232.6.4 Khả năng thích nghi
Khả năng điều hoà nhiệt là một quá trình thích nghi tiến hoá, cho phépgia súc giữ được thân nhiệt trong khi nhiệt độ môi trường thay đổi Thực tếcho thấy năng suất sữa cao nhất chỉ đạt được ở vùng ôn đới, bò sữa năng suấtcao ở vùng ôn đới khi chuyển đến vùng nhiệt đới năng suất sữa bị giảm, điều
đó chứng tỏ sức sản xuất thực tế của bò là do kết quả của sự tương tác giữatiềm năng di truyền của con vật và các yếu tố môi trường
Các yếu tố khí hậu và thời tiết nóng ẩm ảnh hưởng không thuận lợi đếnsức khoẻ và sức sản xuất thông qua hai con đường: ảnh hưởng trực tiếp củanhiệt độ và độ ẩm lên cơ thể con vật, ảnh hưởng gián tiếp qua chất lượng thức
ăn và bệnh tật
Trong điều kiện stress nhiệt ngoài những biến đổi sinh lý trên, người tacòn thấy quá trình trao đổi chất: trao đổi muối khoáng, trao đổi nước, hoạtđộng tiêu hoá cũng bị ảnh hưởng Quá trình bò bị stress nhiệt Na trong nướctiểu tăng, tăng lượng lưu huỳnh ăn vào cơ thể làm tăng tỷ lệ tiêu hoá, bổ sungthêm Na và K cao hơn tiêu chuẩn thấy năng suất sữa tăng lên đáng kể Khicon vật bị stress nhiệt, tốc độ mất nước cao hơn dẫn đến lượng nước tiêu thụcủa bò tăng, lượng thức ăn ăn vào giảm Nhiệt độ môi trường cao ảnh hưởngquá trình tổng hợp Vitamin nhóm B, axít béo bay hơi trong dạ cỏ giảm làmcho nhu động dạ cỏ và dạ múi khế giảm, làm tăng thời gian lưu thức ăn trongđường tiêu hóa, các chất dinh dưỡng tăng lên đôi chút
Đối với thức ăn, đặc biệt là thức ăn thô ở các nước nhiệt đới nhiệt cũngnhư Việt Nam thường có chất lượng không cao như ở các nước ôn đới Thức
ăn thô giàu xơ, nghèo đạm và khoáng, tỷ lệ tiêu hoá thấp, nên bò không thuđược nhiều năng lượng từ thức ăn này
Stress nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của gia súc, bò đẻ vào
Trang 24các tháng mùa hè gây viêm tử cung nhiều hơn đẻ vào các mùa khác, tỷ lệ sátnhau cao hơn, và thời gian chửa ngắn hơn Nguy hiểm hơn nữa, là các loại kýsinh trùng, mầm bệnh thường phát triển mạnh vào mùa hè, đây cũng là nhữngnhân tố ảnh hưởng đến sức khoẻ của gia súc, mùa hè các bệnh truyền nhiễm
dễ phát sinh và lan truyền mạnh
Mặt khác, các đáp ứng stress nhiệt phụ thuộc vào giống, thông thường
bò ôn đới mẫn cảm hơn bò nhiệt đới, bò HF mẫn cảm hơn bò Jersey, bò F2mẫn cảm hơn bò F1 Bò F1 có ảnh hưởng stress nhiệt nhưng không lớn,chứng tỏ khả năng thích nghi của bò F2 kém hơn bò F1 được nuôi tại cácvùng nhiệt đới
2.7 MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở BÒ SỮA
Hiện nay nước ta có khoảng 114.000 con bò sữa Theo kế hoạch pháttriển chăn nuôi bò sữa đến năm 2010 nước ta sẽ có khoảng 200.000 bò sữanhằm tăng lượng sữa cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng, hạn chế việc nhập khẩusữa từ nước ngoài
Trong chăn nuôi bò sữa chúng ta đã có nhiều thành tựu về lai tạo một
số giống bò sữa cao sản nhập ngoại với bò nội và áp dụng các tiến bộ kỹ thuậtmới trong nuôi dưỡng, nâng cao phẩm giống đàn bò sữa, nâng cao sản lượng
và chất lượng sữa nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế Bên cạnh đó, chúng ta còn
có nhiều khó khăn về mặt chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trừ dịch bệnh Bòsữa thường có nguồn gốc từ các nước ôn đới nên khi nuôi trong điều kiệnnhiệt đới ở Việt Nam chúng rất dễ mẫn cảm với các bệnh, đặc biệt hay mắcbệnh sản khoa, bệnh nội khoa, bệnh ngoại khoa và bệnh ký sinh trùng Tìnhhình dịch bệnh rất phức tạp gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi bò sữa
2.7.1 Bệnh sản khoa
Bệnh sản khoa chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tất cả các bệnh mà bò sữa hay
Trang 25mắc Nếu không chữa trị kịp thời thì bệnh gay thiệt hại vô cùng to lớn Bệnh
về sinh sản có thể làm cho bò mất khả năng sinh sản (như bệnh viêm tử cung),mất khả năng cho sữa (nếu viêm vú nặng)…
2.7.1.1 Bệnh viêm vú
Bệnh viêm vú là phản ứng viêm của tuyến vú Đây là bệnh phổ biếnnhất và gây tổn thất và chi phí tốn kém nhất trong các bệnh của bò sữa Tổnthất của bệnh lớn gấp hai lần so với bệnh vô sinh và các bệnh sản khoa
Bệnh viêm vú làm giảm sản lượng và chất lượng sữa; chi phí điều trịrất tốn kém Thậm trí nhiều bò cái phải loại thải sớm, trước khi đạt tới năngsuất tối đa
Các loại liên cầu khuẩn gồm 3 loài: Streptococcus agalactiae,St.dysgalactiae, St.uberis
- Strep.agalactiae: Là vi khuẩn gram (+), tác nhân gây bệnh duy nhấtcần đến mô tuyến vú để phát triển và nhân lên Nó rất mẫn cảm với Penicillin
và bị khống chế một cách dễ dàng Thông thường thì viêm nhiễm ở dạngkhông có triệu chứng, đôi khi tái phát thành bệnh thể cấp tính Thường bệnhlây truyền do người vắt sữa
- Strep.dysgalactiae và Strep.uberis: Có thể nhân lên và phát triển ở bênngoài mô tuyến vú Vì vậy rất khó loại trừ chúng Trong những điều kiện
Trang 26thuận lợi chúng tấn công vào tuyến vú và thường gây ra chứng viêm vú không
có triệu chứng
+ Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus aurus): Là vi khuẩn Gram (+), đây làloại tụ cầu gây bệnh mạnh nhất đối với tuyến vú Việc viêm nhiễm thường cónguồn gốc từ môi trường bên ngoài và người vắt sữa là tác nhân truyền bệnhchủ yếu Vi khuẩn này gây ra chứng viêm vú, thay đổi từ thể không triệuchứng đến thể cấp tính
+ Vi khuẩn dạng coli (E.coli, Klebsiella, Enterobacter): Đây là vi khuẩngram (–), ít gặp hơn, nhưng sức tàn phá mô tuyến vú của chúng mạnh hơn.Các vi sinh vật này sống trong phân, đất, nước bị ô nhiễm, các chất độnchuồng… và đây chính là nguồn lây bệnh cho bò sữa Các chứng viêm do vikhuẩn dạng Coli có thể là kết quả của biện pháp điều trị không cẩn thận khi cạnsữa, nhốt bò trong môi trường bẩn… Bệnh viêm vú do E.coli gây ra thường ởthể cấp tính hoặc trên cấp tính Thông thường chỉ một khoang vú bị bệnh
+ Actinomyces pyogenes: Là nguyên nhân gây bệnh có tính chất apxe.Việc viêm nhiễm thường gặp ở bò cái tơ và bò cái cạn sữa vào thời kỳ gần đẻ.Mầm bệnh thường lây qua côn trùng
Ngoài các mầm bệnh trên còn các mầm bệnh khác có thể gây viêm vúnhư: Pasteurella, Nocardia, các bệnh nấm, Mycoplasma (M.bovis,Malgini…), Leptospira Hardjo, Brucella
2.7.1.2 Hội chứng không sinh sản ở gia súc cái
Gia súc cái đến tuổi sinh sản hoặc sau khi đẻ xong, đến thời kỳ hưng phấn
và động dục trở lại nhưng không xuất hiện chu kỳ sinh dục sinh lý hoặc gia súcbiểu hiện các trạng thái bệnh lý sinh dục gọi là hiện tượng không sinh sản
Hội chứng này có rất nhiều nguyên nhân như:
+ Không sinh sản do bẩm sinh: ấu trĩ, lưỡng tính, Free – martin
Trang 27+ Không sinh sản do chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng.
+ Không sinh sản do già yếu
+ Không sinh sản do quá trình bệnh lý ở cơ quan sinh dục và một sốbệnh khác của cơ thể:
- Bệnh ở tử cung: Viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm tửcung tích mủ
- Bệnh ở buồng trứng: Viêm, thiểu năng, teo, u xơ buồng trứng, thểvàng tồn tại
- Một số quá trình bệnh lý khác: Viêm tiền đình, âm đạo, viêm ống dẫntrứng, sảy thai truyền nhiễm…
Trong thực tế chăn nuôi bò sữa, hội chứng vô sinh chủ yếu do bệnhbẩm sinh đường sinh dục, viêm tử cung và viêm âm đạo
2.7.2 Bệnh nội khoa
Bệnh nội khoa cũng là bệnh phổ biến đối với bò sữa Nếu điều trịkhông kịp thời nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của bò sữa, ảnh hưởngđến chất lượng và sản lượng sữa và có thể gây chết bò Các bệnh nội khoathường hay xảy ra ở bò sữa như sau:
2.7.2.1 Hội chứng ỉa chảy
Hội chứng ỉa chảy xảy ra phổ biến ở bò sữa, đặc biệt là bê dưới 6 thángtuổi Bệnh chủ yếu xảy ra vào mùa hè và đầu thu khi thời tiết nóng, có mưa
ẩm ướt, bãi chăn và chuồng trại ẩm ướt và ô nhiễm Tuy vậy, trong điều kiệnthực tiễn mùa đông vào ngày lạnh đột ngột, mưa phùn thì bệnh cũng xảytương đối nhiều
Nguyên nhân
Hội chứng ỉa chảy xảy ra do rất nhiều nguyên nhân:
Trang 28+ Do nhiễm khuẩn: vi khuẩn gây ra ở ruột bò, nhất là bê thường làE.coli, Proteus Vulgais, Salmonella Enteritidis, Clostridium Perfringens…Các vi khuẩn này thường phối hợp gây bệnh hoặc nhiễm thứ phát sau khi ruột
bị tổn thương do ký sinh trùng hoặc ngoại vật
+ Do virus: Virus gây hội chứng ỉa chảy có nhiều nhưng thường thấy làPavovirus
+ Do nấm: Nấm Candida là loại thường gây ỉa chảy ở bê con
+ Do ký sinh trùng: Giun đũa Toxocara Vitulorum gây ra ỉa chảy phântrắng cho bê 1 – 3 tháng tuổi Sán lá gan Fasciola Gigantica hoặc F.hepatica… Trong quá trình ký sinh chúng tiết độc tố gây ỉa chảy cho bò và bê
+ Do thức ăn: Thay đổi thức ăn đột ngột đặc biệt là tăng lượng đạm vàchất béo thường làm bê rối loạn tiêu hoá, dẫn đến viêm ruột Ngoài ra còn dothức ăn bị ôi, mốc cũng dẫn đến viêm ruột ỉa chảy
2.7.2.2 Bệnh chướng hơi dạ cỏ
Bệnh xảy ra do bò sữa ăn quá nhiều cỏ non, đặc biệt là vào đầu mùamưa, do ăn phải các loại thức ăn bị ôi, mốc, thức ăn quá chua hoặc thay đổithức ăn đột ngột, làm rối loạn vi sinh vật dạ cỏ và gây các phản ứng lên mensinh hơi quá mức Ngoài ra, cũng có thể do bò sữa mắc một số bệnh truyềnnhiễm hoặc nội khoa như: bệnh giả ung khí thán, bệnh tụ huyết trùng, bệnhviêm dạ tổ ong do ngoại vật…
2.7.3 Bệnh ngoại khoa
Bệnh ngoại khoa là bệnh phổ biến đối với ngành chăn nuôi bò sữa,thường mắc với số lượng tương đối nhiều Bệnh gây thiệt hại đối với người
Trang 29chăn nuôi: Tốn nhiều công điều trị, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của convật như năng xuất và chất lượng sữa, ảnh hưởng đến quá trình nuôi dưỡng bàothai, đến khả năng sinh trưởng, sinh sản của con vật Nguyên nhân dẫn đếnbệnh ngoại khoa thường là do bò bị va đập, chạy nhảy, nền chuồng, bãi chănkhông bằng phẳng, do quá trình chăn sóc, nuôi dưỡng, khai thác sữa khônghợp lý
2.7.4 Bệnh ký sinh trùng
Với chăn nuôi bò sữa, bệnh ký sinh trùng rất hay gặp Các bệnh ký sinhtrùng bò sữa thường mắc là bệnh ký sinh trùng đường máu và ngoại ký sinhtrùng gây bệnh trên da Bệnh ký sinh trùng đường máu có nhiều dạng nhưbiên trùng, lê dạng trùng… nhưng ở nước ta hay gặp nhất là bệnh tiên maotrùng Bệnh thường phát ra vào mùa mưa từ tháng 5 – 9 hàng năm
Nguyên nhân của bệnh tiên mao trùng do chủng T evansi gây ra Bò bị
nhiễm bệnh do vật môi giới gieo truyền là Tabanus, Stomoxys Ký sinh trùngkhông tiến triển trong côn trùng này, căn bệnh được truyền cơ giới và chỉ duytrì sức sống trong vật môi giới sau 24 - 44 giờ mới có thể gây bệnh được Mùaphát bệnh thường vào mùa vật gieo truyền hoạt động mạnh(từ tháng 5 – 9 ởnước ta) Ngoài ra đỉa, muỗi có thể cũng truyền bệnh Bệnh chủ yếu ở dạng
mạn tính vì T Evansi thường ký sinh trong cơ thể bò khoảng 2- 3 năm Bệnh
gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta
Trang 30PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện trên đàn bò lai hướng sữa F1, F2, F3 nuôi tại các
hộ nông dân ở xã Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thông tin chung về xã Phù Đổng
3.2.2 Điều tra tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa tại xã Phù Đổng 3.2.3 Khả năng sinh sản của đàn bò lai hướng sữa (F1, F2, F3)
3.2.4 Khả năng sản xuất sữa của đàn bò lai hướng sữa (F1, F2, F3)
3.2.5 Theo dõi tình hình dịch bệnh của đàn bò lai hướng sữa nuôi tại xã Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Thông tin chung về xã Phù Đổng
Những số liệu về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa chúng tôi thu thập từPhòng Tài nguyên – Môi Trường UBND huyện Gia Lâm – Hà Nội; còn sốliệu về tình hình sử dụng đất và kết quả sản xuất của một số loại cây trồng,vật nuôi được lấy từ Ban thống kê xã Phù Đổng - Gia Lâm – Hà Nội
3.3.2 Các chỉ tiêu sinh sản
Đánh giá khả năng sinh sản chúng tôi thu thập số liệu từ các thông tin
có sẵn trong các báo cáo định kỳ hàng năm của địa phương, phỏng vấn trựctiếp các nông hộ, dựa vào sổ theo dõi của hộ nông dân, sổ ghi chép, sổ phốigiống của dẫn tinh viên và kết hợp với biểu mẫu điều tra
Trang 31- Tuổi phối giống lần đầu được tính từ khi con vật sinh ra đến khi phốigiống lần đầu (tính bằng tháng).
- Tuổi đẻ lứa đầu: được tính từ khi con vật sinh ra đến khi đẻ lứa đầutiên (tính bằng tháng)
- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ: là khoảng thời gian từ ngày đẻ lứa trướcđến ngày đẻ lứa sau (thời gian tính bằng ngày)
Hệ số phối (HSP): được tính bằng số lần phối cho 1 lần có chửa của bò:
Tổng số lần phốiHSP = (lần)
Số lần đậu thai
3.3.3 Các chỉ tiêu sản xuất sữa
Để xác định các chỉ tiêu về sức sản xuất sữa chúng tôi dựa vào sổ ghichép của các hộ chăn nuôi, sổ ghi chép của các các cơ sở thu gom sữa vàlượng sữa thực tế chúng tôi cân được trong thời gian thực hiện đề tài
- Thời gian cho sữa thực tế: là khoảng thời gian tính từ lúc bò đẻ chođến lúc bắt đầu cạn sữa trong cùng một lứa đẻ (thời gian tính bằng ngày)
- Sản lượng sữa chu kỳ 305 ngày: là sản lượng sữa vắt được trong thờigian 305 ngày
Trang 32PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ XÃ PHÙ ĐỔNG
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phù Đổng
* Vị trí địa lý
Phù Đổng là một xã thuần nông ở ven sông Đuống có hệ thống giaothông khá thuận lợi là Quốc lộ 1A mới chạy qua, có cầu Phù Đổng nối vớiquốc lộ 5 vào nội thành thuận lợi và lưu thông hàng hoá với các tỉnh lân cận.Mặt khác Phù Đổng rất gần nhà máy sữa Vinamilk nên rất dễ dàng cho việcnhập sữa Đây là những điều kiện rất thuận lợi và quan trọng để Phù Đổngphát triển chăn nuôi bò sữa và lưu thông trao đổi hàng hoá, đặc biệt là các sảnphẩm về sữa
* Khí hậu thời tiết
Phù Đổng nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng có khí hậu nhiệtđới gió mùa, mỗi năm chia là 4 mùa rõ rệt Mùa xuân khí hậu ấm áp vớinhững cơn mưa phùn Mùa hạ khí hậu nóng bức kèm theo những cơn mưarào Mù thu khí hậu mát mẻ còn mùa đông khí hậu lạnh và hanh khô Tìnhhình khí hậu, thời tiết của Phù Đổng được trình bày ở bảng 4.1
Qua bảng 4.1 chúng tôi thấy ở Phù Đổng có nhiệt độ trung bình củanăm khoảng 24,30C, nhiệt độ cao nhất trong năm vào các tháng 5 – 7, có ngàylên tới 38,80C, nhiệt độ cao ảnh hưởng rất lớn đến quá trình điều tiết nhiệt của
bò sữa làm giảm khả năng thu nhận thức ăn và ảnh hưởng không nhỏ tớinăng suất cũng như chất lượng sữa Nhiệt độ thấp nhất vào khoảng tháng 12năm trước cho đến tháng 2 năm sau Trong thời gian này nhiệt độ trung bình
Trang 33dưới 200C, thời tiết lạnh nhất vào tháng 2 nhiệt độ hạ xuống còn 8,20C Nhưvậy thời tiết vào cuối mùa đông và đầu mùa xuân nhiệt độ thích hợp cho việcchăn nuôi bò sữa.
Bảng 4.1 Nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa ở xã Phù Đổng
27,327,128,636,437,638,836,435,535,833,832,128,6
8,210,112,617,322,424,224,324,623,718,115,19,3
787883848579788478767868
10,224,728,233,4222,2273,4271,5366,4160,526,430,722,8
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường – UBND huyện Gia Lâm)
Qua bảng 4.1 chúng tôi thấy độ ẩm trung bình trong năm là 79% Độ
ẩm trung bình cao nhất là 85%, độ ẩm trung bình thấp nhất là 76% Khi độ ẩmtương đối cao vào các tháng 5 – 8 kết hợp với nhiệt độ cao làm cho bò bịstress nhiệt ảnh, ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá các chất trong cơ thể,