1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn

52 2,6K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Khoa Học Kinh Tế
Thể loại Công trình dự thi
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

“NHÀ KINH TẾ TRẺ - NĂM 2010”

TÊN CÔNG TRÌNH:

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC

TRONG THỰC TIỄN

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Tóm tắt đề tài 4

Lời mở đầu 6

1 Lý luận tổng quan 7

1.1 Chính sách cổ tức trong thị trường hoàn hảo 7

1.2 Các chính sách cổ tức trong thực tiễn 7

1.2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động 7

1.2.2 Chính sách tiền mặt ổn định 10

1.2.3 Các chính sách khác 11

1.3 Các phươngbthức chi trả cổ tức 12

1.3.1 Cổ tức trả bằng tiền mặt 12

1.3.2 Cổ tức trả bằng cổ phiếu 15

1.3.3 Cổ tức trả bằng tài sản và cổ phiếu thưởng 16

1.4 Quá trình chi trả cổ tức 18

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách cổ tức trong thực tiễn của doanh nghiệp 21

1.5.1 Chi phí giao dịch 21

1.5.2 Chi phí phát hành 22

1.5.3 Lạm phát 25

1.5.4 Lãi suất 27

1.5.5 Điều khoản hạn chế 28

1.5.6 Hạn chế pháp lý 29

1.5.7 Ảnh hưởng của thuế 30

1.5.7.1 Đối với doanh nghiệp 30

1.5.7.2 Đối với nhà đầu tư cá nhân 30

1.5.8 Ưu tiên cổ đông 31

1.5.9 Nhu cầu thanh khoản 32

1.5.10 Khả năng vay và tiếp cận thị trường vốn 32

1.5.11 Các cơ hội tăng trưởng vốn 32

Trang 3

1.5.12 Bảo vệ chống loãng giá 33

2 Thực trạng chính sách cổ tức của một số công ty trên thị trường Việt Nam 33

2.1 Số liệu chi trả cổ tức qua các năm 33

2.2 Xây dựng mô hình hồi quy kiểm định những nhân tố nội sinh tác động đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp Việt Nam 36

2.2.1 Tính toán các biến 37

2.2.2 Phương pháp tiến hành 38

2.2.3 Kết quả hồi quy 39

2.2.4 Tóm tắt và nhận xét 44

3 Những bất cập trong chính sách cổ tức tại Việt Nam 46

3.1 Chính sách trả cổ tức theo nhu cầu của nhà đầu tư mà không quan tâm đến sự phát triển bền vững của công ty 46

3.2 Sử dụng công cụ cổ tức để đánh bóng hình ảnh của doanh nghiệp 47

3.3 Chính sách cổ tức bị chi phối bởi ban quản lý, tiếng nói của cổ đông nhỏ chưa được bảo vệ 48

Kết luận 50

Tài liệu tham khảo 51

Phụ lục 53

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Lý do chọn đề tài:

Trong điều kiện Viêt Nam hiện nay, cổ tức là chỉ tiêu nhạy cảm và có thể nói là quan trọng đối với nhà đầu tư Chính sách cổ tức của các công ty niêm yết ảnh hưởng lớn đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Nhưng chính sách cổ tức lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trực tiếp và gián tiếp khác, nó ảnh hưởng lớn đến lợi ích của mỗi nhà đầu tư và của chính công ty Vì vậy chúng em quyết định nghiên đề tài chính sách cổ tức trong thực tiễn Việt Nam để có thể tìm ra hướng giải quyết mới cho vấn đề chi trả cổ tức của các công ty niêm yết

Mục tiêu nghiên cứu:

 Xem xét thực trạng chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm qua

 Đánh giá các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của các công ty niêm yết

 Phân tích những bất cập nổi lên trong việc lựa chọn chính sách cổ tức của các công ty niêm yết thời gian qua

Phương pháp nghiên cứu:

 Phương pháp thống kê nhằm tập hợp các số liệu và đánh giá thực trạng

 Phương pháp mô tả nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về những chính

sách cổ tức đang được áp dụng tại các công ty niêm yết

 Phương pháp lịch sử nhằm so sánh, đối chiếu các thông tin trong quán

khứ để tìm hiểu nguyên nhân và có các kết luận phù hợp

 Phương pháp hồi quy nhằm phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố nội sinh đến sự chi trả cổ tức của công ty

Nội dung nghiên cứu : bài nghiên cứu chia làm phần

Một là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách chi trả cổ tức trong thực tiễn Việt Nam như chi phí giao dịch, chi phí phát hành, lạm phát, lãi suất,

Trang 5

các điều khoản hạn chể trong hợp đồng, hạn chế pháp lý, thuế, ưu tiên của cổ đông và bảo vệ chống loãng giá

Hai là các chính sách chi trả cổ tức trong thực tiễn Việt Nam hiện nay, quá trình chi trả cổ tức

Ba là các phương thức chi trả cổ tức của các doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay các công ty Việt Nam chủ yếu chi trả cổ tức bằng tiền mặt, chi trả bằng cổ phiếu, bằng tài sản và cổ phiếu thưởng

Bốn là thực trạng chi trả cổ tức của một vài công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, xây dựng mô hình hồi quy kiểm định sự tác động của các yếu

tố nội sinh đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 6

cập gì thì chúng ta cùng xem qua bài nghiên cứu “Những nhân tố tác động đến

chính sách cổ tức trong thực tiễn” sau đây

Trang 7

1 Lý luận tổng quan:

1.1 Chính sách cổ tức trong thị trường hoàn hảo:

Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu

tư và chi trả cổ tức cho cổ đông Lợi nhuận giữ lại cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận tiềm năng tương lai thông qua tái đầu tư, trong khi cổ tức cung cấp cho họ một phân phối hiện tại Nó ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công

ty sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu phần trăm được giữ lại để tái đầu

tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông

1.2 Các chính sách chi trả cổ tức trong thực tiễn:

1.2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động:

Chính sách này xác nhận rằng doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà cổ đông đòi hỏi thì nên giữ lại lợi nhuận hay nói cách khác thì doanh nghiệp không nên chi trả

cổ tức Bởi lẽ, việc chi trả cổ tức sẽ dẫn đến hoặc là doanh nghiệp phải hi sinh các cơ hội đầu tư hoặc phải chấp nhận huy động các nguồn tài trợ khác vốn không có sẵn và

có thể phải tốn kém hơn nhiều so với lợi nhuận giữ lại

Mức chi trả cổ tức sẽ thay đổi từ năm này sang năm khác tuỳ thuộc vào cơ hội đầu tư có sẵn Tuy nhiên, cổ tức có thể được duy trì hàng năm theo hai cách:

 Thứ nhất là doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỉ lệ khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao, và nếu công ty cứ tiếp tục tăng trưởng thì các giám đốc tài chính có thể tiếp tục thực thi chính sách này mà không cần cắt giảm cổ tức

 Thứ hai là doanh nghiệp có thể vay vốn để thực hiện cơ hội đầu tư của mình

mà không cần cắt giảm cổ tức Nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức Sau đó, trong những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần giữ lại lợi

nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp

Ở Việt Nam hiện nay, một nghịch lí đang xảy ra ở chính sách này Đó là phải thỏa mãn nhu cầu cổ tức cao trong khi lại thiếu vốn đầu tư phát triển Nguồn vốn của một doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay Hầu hết các doanh nghiệp

Trang 8

hiện nâng vốn thông qua việc nâng vốn vay, thường bằng cách vay ngân hàng, chính điều này đã gây một áp lực trả nợ lớn cho doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp cổ phần đã niêm yết và chưa niêm yết, việc nâng vốn chủ sở hữu có thể được tiến hành bằng nhiều cách, trong đó có cách phát hành cổ phiếu mới Tuy nhiên, cách này sẽ phát sinh chi phí, thông thường từ 5-10% tổng giá trị đợt phát hành Trong khi đó, việc tăng vốn chủ sở hữu bằng cách giữ lại một phần hay toàn bộ lợi nhuận hầu như không tốn chi phí Vướng mắc duy nhất có lẽ là làm sao đạt được sự đồng thuận của cổ đông Cổ đông của một doanh nghiệp thường bao gồm nhà đầu tư ngắn hạn và nhà đầu tư chiến lược Nhà đầu tư chiến lược luôn có xu hướng nắm giữ lâu dài cổ phiếu và sẵn sàng hi sinh lợi nhuận ban đầu (cổ tức) để dành vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp và hưởng những giá trị nâng cao trong tương lai Trong khi đó, nhà đầu tư ngắn hạn không có ý định gắn bó lâu dài với doanh nghiệp nên muốn được chia cổ tức cao và có xu hướng bán cổ phiếu ra khi được giá Không thể đánh giá thấp nhà đầu tư nào, dù là ngắn hạn hạn hay dài hạn vì chính nhà đầu tư ngắn hạn tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu và làm cho thị trường chứng khoán sôi động Tuy nhiên, xét từ góc độ doanh nghiệp, nhà đầu tư dài hạn đóng vai trò quan trọng trong chính sách cổ tức Việc phân chia lợi nhuận như thế nào được quyết định tại Đại hội cổ đông, nơi nhà đầu từ chiến lược có tiếng nói quan trọng Vấn đề quan trọng là phân chia lợi nhuận phải phù hợp với tình hình kinh doanh và phát triển Nếu doanh nghiệp cần vốn đầu tư, đặc biệt trong trường hợp các doanh nghiệp mới, đang phát triển, thì tăng phần lợi nhuận giữ lại, chia cổ tức ít Khi doanh nghiệp đã phát triển ổn định thì nâng mức cổ tức lên cao, thậm chí rất cao

Ở nước ngoài, ví dụ điển hình cho chính sách này là tập đoàn Microsoft

Trang 9

Nguồn: www.dividendinformation.com

Qua đó ta có thể rút ra nhận xét : Mặc dù thừa khả năng chi trả cổ tức tiền mặt, nhưng trong chính sách của công ty họ đã chọn việc mua lại cổ phần và tái đầu tư Mấy năm trở lại đây Microsoft có thực hiện chi trả cổ tức nhưng không nhiều Tuy nhiên, công bằng mà nó thì các cổ đông của Microsoft đã kiếm những khoản lời cực lớn từ lãi vốn, vì giá cổ phiếu của họ tăng nhanh trên thị trường chứng khoán

Q1- 05

Q2- 05

Q3- 05

Q4- 06

Q1- 06

Q2- 06

Q3- 06

Q4- 07

Q1- 07

Q2- 07

Trang 10

Nhìn vào biểu đồ trên, Microsoft có mức chi trả cổ tức tiền mặt khá ổn định (qua các quí từ đầu năm 2005 đến nay) với mức cổ tức trung bình 0.08634$ Nhưng tỷ lệ chi trả cổ tức vẫn còn rất thấp và không ổn định(cao nhất 34.78%-qu í I/2005 và thấp nhất 19.6%-quí III/2007) do EPS của doanh nghiệp có tính chu kỳ, và cũng do kết quả kinh doanh thuận lợi của sản phẩm mới – Window Vista làm EPS qu í III/2007 tăng đột biến

1.2.2 Chính sách tiền mặt ổn định:

Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tiền mặt tương đối ổn định Mục tiêu của chính sách này là nhằm duy trì cổ tức ở một mức độ nhất định và chỉ tăng cổ tức lên mức cao hơn khi công ty có thể đạt được sự gia tăng lợi nhuận một cách vững chắc, đủ khả năng cho phép tăng cổ tức và một khi đã tăng cổ tức thì công ty cố gắng duy trì cổ tức ở mức đã định cho đến khi công ty thấy rõ không thể hi vọng ngăn chặn được sự giảm sút lợi nhuận kéo dài trong tương lai Chính sách cổ tức ổn định phù hợp với những công ty đã đi vào giai đoạn ổn định Chính sách này mang lại cho công ty những ưu điểm sau:

 Với mức cổ tức nhận được ổn định thì giá cổ phiếu của công ty trên thị trường sẽ tăng lên và ngày càng nhận được sự tín nhiệm của nhà đầu tư Nếu có sự thay đổi trong mức chi trả cổ tức thì nhà đầu tư được xem có nhiều rủi ro hơn, và chính điều này thì các công ty có cùng mức chi trả cổ tức nhưng công ty nào có chính sách ổn định hơn thì nhà đầu tư sẽ quan tâm và trả giá cao hơn

 Với việc ổn định cổ tức giúp công ty định hướng được những cơ hội về đầu

tư, việc phân phối lợi nhuận, việc sản xuất kinh doanh…từ đó tạo được sự phát triển bền vững cho công ty

 Thực hiện ổn định cổ tức có thể giúp công ty ổn định về số cổ đông, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý công ty Ở nhiều nước trên thế giới, thu nhập của các cổ đông phụ thuộc vào số cổ tức họ nhận được, nên nếu chính sách cổ tức của công ty bất ổn có thể các cổ đông sẽ nhắm đến những cổ phiếu có tính ổn định hơn

Trang 11

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích nêu trên chính sách này cũng có một vài những nhược điểm sau:

 Tạo một áp lực rất lớn cho ban giám đốc công ty và có thể gây khó khăn cho họ trong việc điều hành công ty

 Nếu thực thi chính sách này thì ngay cả khi lợi nhuận của doanh nghiệp đang giảm sút, doanh nghiệp vẫn phải vay nợ hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới để chi trả cổ tức Và trong một vài năm tiếp theo, tình hình của doanh nghiệp vẫn không ổn định, thu nhập ngày càng giảm sút thì chính sách này không thể thực hiện tiếp được

 Việc duy trì một chính sách cổ tức ổn định có thể sẽ đẩy công ty đến tình thế phải từ bỏ các dự án đầu tư vì không tận dụng được tối đa lợi nhuận của công ty mà phải thực hiện cho việc chi trả cổ tức

Việc chi trả cổ tức này trong trường hợp doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong kinh doanh cũng có thể gây nên sự phản đối lớn từ các chủ nợ

 Chính sách trả cổ tức nhỏ từng đợt cộng với cổ tức thưởng thêm cuối năm; chính sách này thích hợp cho doanh nghiệp có lợi nhuận biến động và nhu cầu tiền mặt biến động Khi có lợi nhuận thấp doanh nghiệp chi trả theo mức cổ tức đều đặn và thấp Khi có lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử dụng tiền mặt cuối năm, doanh nghiệp sẽ trả thêm phần cổ tức thưởng Chính sách này tạo khả năng linh hoạt để giữ lại lợi nhuận mà vẫn thoả mãn nhu cầu của nhà đầu tư

Trang 12

Ở Việt Nam, hình thức này được rất nhiều công ty áp dụng, họ thường chia cổ tức làm thành 2 đợt:

 Đợt 1 (thường là vào tháng 3,4): đây là thời điểm sau khi kết thúc năm tài chính, các công ty có kết quả của kiểm toán và công bố kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cả năm vừa rồi và thông báo phân chia lợi nhuận,

cổ tức (sau khi đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua)

 Đợt 2 (thường là vào tháng 7,8): các công ty sau khi có kết quả nửa năm (2 quý đầu năm) thường tạm ứng cổ tức cho các cổ đông dựa vào chỉ tiêu kế

hoạch và kết quả thực tế đạt được trong nửa năm

1.3 Các phương thức chi trả cổ tức:

1.3.1 Cổ tức trả bằng tiền mặt:

Đây là phương thức cơ bản nhất trong các phương thức chi trả cổ tức, hầu hết các công ty hiện nay đều chọn phương thức này Bởi vì, khi các nhà đầu tư mua cổ phiếu của một công ty, họ đều nhắm đến đạt được khoảng bao nhiêu lợi nhuận trong tương lai, trong đó cổ tức cũng là một phần họ kỳ vọng Đồng thời, việc chi trả cổ tức thường diễn ra vào cuối mỗi năm, giai đoạn này các cổ đông rất cần tiền mặt để chi cho tiêu dùng cá nhân, nếu công ty trả cổ tức bằng tiền mặt thì sẽ giúp tài khoản của

họ có tính thanh khoản cao hơn

 Ưu điểm của phương thức này:

Nếu chi trả cổ tức bằng tiền mặt đều đặn qua các năm thì sẽ đưa ra một dấu hiệu khả quan cho thị trường Muốn làm được điều này thì công ty phải thể hiện được qua khả năng thanh toán tốt, đồng thời phải đảm bảo một khoản lợi nhuận nhất định để chi trả cổ tức và giữ lại để đem đi tái đầu tư Từ đó, doanh nghiệp muốn gửi đến một thông điệp cho nhà đầu tư là tình hình kinh doanh của doanh nghiệp vẫn tốt

Việc trả cổ tức bằng tiền mặt cao có mặt tích cực là tạo một sức ép lớn cho ban giám đốc có những chính sách điều hành công ty phù hợp để đưa doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng đều qua hằng năm, và qua đó có thể đào thải những người còn hạn chế về năng lực

Trang 13

Đáp ứng được tâm lý của đa số các nhà đầu tư, do sợ các rủi ro về lãi suất, lạm phát, rủi ro hệ thống, nên các nhà đầu tư này thích nhận được cổ tức tiền mặt ngay lập tức hơn là kỳ vọng vào phần lãi vốn không chắc chắn ở tương lai

 Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên, phương thức này cũng có vài

nhược điểm sau:

Ảnh hưởng lớn đến tính thanh khoản của công ty Việc chi trả cố tức là dòng tiền

đi ra, điều này sẽ làm giảm một lượng đáng kể của công ty

Có thể sẽ làm tăng khoản nợ vay ngân hàng Vì nếu trong quá trình chi trả cổ tức

mà phát sinh một dự án đầu tư thì công ty buộc phải tăng tỉ lệ nợ của công ty lên Làm hạn chế việc tích lũy nguồn vốn lưu động nhằm đáp ứng cho nhu cầu thanh toán thường xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp lớn thường có mức chi trả cổ tức cao và thường tăng lên qua các năm Nếu doanh nghiệp có chính sách thích hợp chuyển nguồn vốn này để tái đầu tư thì sẽ có ý nghĩa kinh tế hơn nhiều Tốc độ đầu tư của các dự án mới sẽ bị ảnh hưởng Như ta đã biết, các dự án thường triển khai theo từng giai đoạn, có những lúc không cần tiền nhưng có những lúc tiền là một vấn đề cấp bách Còn việc chi trả cổ tức thì dựa vào bản báo cáo tài chính mang tính thời điểm Vì vậy nhiều lúc chi trả cổ tức sẽ ảnh hưởng đến việc giải ngân của các dự án, từ đó gây ảnh hưởng chung cho toàn bộ dự án

Ví dụ: Công ty cổ phần dược Hậu Giang (DHG) đã tiến hành chi trả cổ tức

bằng tiền mặt trong 3 năm gần đây Đây là một hình thức phù hợp với công ty này Vì sản phẩm của công ty hầu hết đều là sản phẩm thiết yếu nên doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng đều qua hằng năm Qua đó, công ty đã làm tăng độ tin cậy của mình trên thị trường chứng khoán và sẽ đẩy giá cổ phiếu tăng lên so với các mã chứng khoán khác Năm 2007 và 2008 trả cổ tức bằng tiền mặt như nhau (2000VND/CP) Năm 2009 cổ tức bằng tiền mặt tăng lên 3000VND/CP

Trang 14

Biểu đồ giá năm 2007 – 2010 cho thấy giá chứng khoán DHG giảm trong năm

2009 tuy nhiên so với thị trường chứng khoán đây chỉ là sự giảm nhẹ, so với cú tuột

dốc của VN-Index

Trang 15

1.3.2 Cổ tức trả bằng cổ phiếu:

Đây là hình thức kết hợp của việc phân chia lợi nhuận với việc huy động vốn của công ty Các cổ đông không nhận được tiền mặt mà nhận được cổ phiếu, từ đó có thể

sẽ nhận được phần lãi vốn trong tương lai

Trong thời gian hoạt động đầu của thị trường chứng khoán Việt Nam, đa phần các công ty chi trả bằng hình thức tiền mặt Nhưng trong vòng khoảng 5 năm gần đây, hình thức trả bằng cổ phiều đã được nhiều công ty áp dụng hơn

Ví dụ: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB) trong năm

2007 và 2008 đã trả cổ tức bằng hình thức cổ phiếu với tỉ lệ (20:3), ngoài ra số lẻ phần

cổ phiếu sẽ được trả bằng tiền mặt với tỉ lệ 1500 VND/cổ phiếu, công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình (HBC) trong năm 2007 và 2008 cũng đã trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỉ lệ (100:12)

 Ưu điểm của phương thức này như sau:

Trả cổ tức bằng cổ phiếu thay cho trả cổ tức bằng tiền mặt trong trường hợp công

ty đang có nhiều cơ hội đầu tư thì sẽ làm tăng tỉ lệ lợi nhận của công ty, và từ đó làm tăng tỉ lệ cổ tức và giá trị cổ phiếu trên thị trường

Giảm bớt chi phí so với việc phát hành cổ phiếu Trả cổ tức bằng cổ phiếu để tài trợ cho tiền mặt sẽ có lợi nhiều hơn so với hình thức phát hành cổ phiếu mới vì không phải mất chi phí phát hành

Hạn chế được lượng tiền mặt ra khỏi công ty, đồng thời các cổ đông cũng nhận

cổ tức bằng cách chuyển hóa lợi nhuận giữ lại sang vốn cổ phần Qua đó, gia tăng việc tái đầu tư, khả năng đầu tư, mở rộng sản xuất đem lại lợi tức thu được cao hơn qua các năm

Khắc phục giới hạn của công cụ vay nợ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh Khi công ty tăng trưởng thì công ty có thể đi vay để mở rộng sản xuất, đầu tư mới do thâm hụt tiền mặt Nhưng số nợ vay sẽ luôn bị giới hạn vì các chủ nợ không muốn nhận một rủi ro cao Vì thế, chi trả cổ tức bằng cổ phiếu vừa tăng tỉ lệ lợi nhuận giữ lại, giữ hình ảnh tốt đẹp về sự tăng trưởng của công ty vừa không làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu

do phải cắt giảm tiền mặt chi cho cổ tức

Trang 16

 Nhược điểm của phương thức này:

Làm số lượng cổ phiếu đang lưu hành của công ty tăng lên, do đó có thể làm giảm giá của cổ phiếu do các chỉ số tài chính như EPS sẽ giảm trong ngắn hạn

Việc chi trả cổ tức thưởng thường rất cao, thường là hơn 30%/vốn cổ phần và sau

đó tiếp tục với chính sách trả bằng tiền mặt cao Và điều này cứ tiếp tục xảy ra thì sẽ rất khó áp dụng thường xuyên chính sách trả cổ tức bằng cổ phần

Gây nên một áp lực lớn trong việc trả cổ tức trong tương lai Vì khi số cổ phần tăng lên thì để duy trì một mức tỉ lệ cổ tức và tỉ lệ lợi nhuận trả cổ tức, công ty cần có một mức lợi nhuận cao hơn

Phương thức này khó duy trì thường xuyên vì sẽ làm loãng giá cổ phiếu

1.3.3 Cổ tức trả bằng tài sản và cổ phiếu thưởng:

Doanh nghiệp trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản hay cổ phiếu của công ty khác do doanh nghiệp sở hữu Hình thức này rất hiếm xảy ra trong thực tiễn

Cổ phiếu thưởng là hình thức doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu cho người được hưởng tương tự như việc chia phần lợi nhuận

Về nguyên tắc, có nhiều nguồn vốn được sử dụng cho cổ phiếu thưởng như thặng

dư vốn, lợi nhuận tích lũy, quỹ đầu tư phát triển, các quỹ khác Nhưng trong phần này ta chỉ xem xét việc dùng lợi nhuận sau thuế để phát hành cổ phiếu thưởng như một phương thức phân chia lợi nhuận thay thế việc chi trả cổ tức

Thông thường, công ty phát hành thêm một lượng cổ phiếu mới và phân chia cho cổ đông theo tỷ lệ cổ phiếu hiện họ đang nắm giữ Như vậy, thay vì nhận cổ tức bằng tiền, cổ đông nhận được thêm một số cổ phiếu mới không phải trả tiền Đây chính là quá trình vốn cổ đông hóa một phần lợi nhuận giữ lại của công ty

Thời gian qua, có một số công ty sử dụng hình thức cổ phiếu thưởng cho các cổ đông hiện hữu, như: FPT (30 triệu cổ phiếu), VNM (hơn 8 triệu), STB (gần 19 triệu), REE (gần 5 triệu) Mặc dù, cổ phiếu thưởng không được coi là cổ tức thực sự bởi vì cổ tức này không được thanh toán bằng tiền mà chỉ làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành, nhưng do tâm lý không phải trả thêm tiền mà có thêm cổ phiếu nên hấp dẫn được nhiều nhà đầu tư Vì thế, các nhà đầu tư sẽ tìm mua những cổ phiếu này trước khi chia

Trang 17

cổ phiếu thưởng (nhất là cổ phiếu của các công ty có tính thanh khoản cao), làm cho cầu về cổ phiếu tăng cao Hơn nữa, việc này cũng có nghĩa là doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, dẫn đến gia tăng kỳ vọng của nhà đầu tư về sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Các yếu tố này đã tạo tính hấp dẫn trong việc áp dụng hình thức này đối với cả nhà đầu tư lẫn nhà quản lý của công ty

Ngoài ra, cổ phiếu thưởng còn có thể áp dụng cho người làm việc trong doanh nghiệp như là phần thưởng cho nhân viên khi đạt kết quả tốt (đây thường gọi là chương trình ESOP) nhằm gắn kết người lao động với công ty, khuyến khích họ cống hiến cho công ty, thu hút lao động trình độ cao Cổ phiếu ESOP có 2 dạng cơ bản: thưởng liền cổ phiếu cho nhân viên (các công ty Việt Nam thời gian qua sử dụng) hoặc cho quyền mua với giá thị trường ở thời điểm tương lai (cách truyền thống được sử dụng phổ biến tại các nước phát triển) Vừa qua, có một số công ty áp dụng phương thức này như: Vinamilk, REE, Kinh Đô, Alphanam, Sacombank, FPT Nhưng nếu lạm dụng cách làm này bằng việc bán khối lượng cổ phiếu lớn với giá rẻ cho cổ đông nội bộ sẽ gây ra thiệt hại cho các nhà đầu tư khác

Vì vậy, việc phát hành cổ phiếu thưởng nên có sự chọn lọc kỹ, không áp dụng đại trà hay áp dụng cho có phong trào để thu hút nhà đầu tư Cần phải cân nhắc cẩn thận trước khi phát hành cổ phiếu thưởng vì có thể làm cho giá cổ phiếu bị "pha loãng", quyền kiểm soát công ty bị ảnh hưởng, và những năm sau công ty còn cần phải trả thêm cổ tức cho những cổ phiếu này

Khi triển khai các chương trình ưu đãi cổ phần cho nhân viên, công ty nên chú trọng đến các yếu tố như: Xác định mục tiêu trong từng giai đoạn của mình để trên cơ

sở đó xây dựng một chương trình cổ phần ưu đãi thích hợp Do người lao động chưa hiểu nhiều về ích lợi của các chương trình này, doanh nghiệp cần phải tuyên truyền để mọi người có được sự nhận thức đúng đắn Nếu không, chương trình sẽ không được hưởng ứng mạnh mẽ Công ty không nên chỉ áp dụng chương trình này cho một nhóm ít người, như vậy sẽ không công bằng và tác dụng không cao Khi thực hiện các chương trình cổ phần ưu đãi công ty nên chú ý đến khía cạnh chi phí-hiệu quả Ban đầu

có thể nâng cao tiêu chuẩn để giới hạn số người tham gia nhưng dần dần nên mở rộng cho mọi nhân viên

Trang 18

Ngày công bố cổ tức (dividend declaration date): là ngày công ty công bố mức

chi trả cổ tức Đây là ngày quan trọng bởi vì thông qua việc công bố cổ tức, nhà đầu tư

sẽ đánh giá được mức cổ tức là tăng hay giảm, hay vẫn được duy trì; qua đó, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được những tín hiệu thông tin mà các công ty phát ra Vì vậy, nếu công ty thay đổi cổ tức đột ngột thì đây là ngày mà phản ứng trên thị trường thường sẽ xuất hiện rất rõ

Ngày giao dịch không hưởng quyền: là ngày mà nếu các nhà đầu tư mua cổ

phiếu sẽ không được hưởng cổ tức Do đó, giá tham chiếu của cổ phiếu ngày này thường được điều chỉnh xuống tương ứng với số cổ tức để đảm bảo bình đẳng giữa các cổ đông, tức là cổ đông được lợi về cổ tức thì bị thiệt về giá và ngược lại

Giá tham chiếu ngày giao dịch không hưởng quyền = giá đóng cửa ngày giao dịch hưởng quyền cuối cùng - cổ tức

Ngày chốt danh sách cổ đông hay ngày đăng ký cuối cùng (holder-of- record date): là ngày Trung tâm lưu ký đóng sổ, chốt danh sách những cổ đông được hưởng

cổ tức Ở Việt Nam, do qui chế giao dịch là T+3 nên ngày chốt danh sách cổ đông thường sau 3 ngày so với ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền hay sau 2 ngày

so với ngày giao dịch không hưởng quyền

Ngày thanh toán cổ tức (dividend payment date): là ngày mà các cổ đông sẽ

nhận được cổ tức (thường là 2-3 tuần sau ngày chốt danh sách cổ đông)

Ngày chốt danh sách

Ngày thanh toán

Trang 19

Ví dụ : Ngày 30/07/2009

Công ty cổ phần CƠ ĐIỆN LẠNH Thông báo trả cổ tức đợt 1 năm 2009 bằng tiền mặt

HĐQT CTCP CƠ ĐIỆN LẠNH trân trọng thông báo đến quý cổ đông:

1.Chi trả cổ tức đợt 1 năm 2009 bằng tiền mặt :

Tên cổ phiếu : Cổ phiếu CTCP CƠ ĐIỆN LẠNH

Mã chứng khoán : REE

Mệnh giá : 10000VND/cổ phiếu

Loại cổ phiếu : cổ phiếu phổ thông

Mục đích : chi trả cổ tức đợt 1 năm 2009 bằng tiền mặt

Nguồn chi trả : từ lợi nhuận sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm 2009

2 Tỉ lệ và ngày chốt danh sách cổ đông trả cổ tức đợt 1 năm 2009 bằng tiền mặt :

Tỉ lệ thực hiện : 7% mệnh giá cổ phiếu

Ngày giao dịch không hưởng quyền : 12/08/2009

( trường hợp giao dịch thoả thuận từ 100.000 cổ phiếu trở lên trong các ngày 12 và 13/08/2009 thì người bán không được hưởng quyền )

Ngày đăng kí cuối cùng : 14/08/2009

cổ phần của các cổ đông được nhận sổ cổ tức đã công bố

Ngày công bố Ngày không

có cổ tức

Ngày ghi sổ Ngày chi trả 12/08 14/08 14/09 30/7

Trang 20

Các thị trường chứng khoán đòi hỏi vài ngày làm việc (trong trường hợp này là 2

ngày) trước ngày liệt kê danh sách để ghi nhận các thay đổi quyền sở hữu chứng

khoán Ngày đầu tiên của thời gian này (12/08) gọi là ngày không cổ tức, các nhà đầu

tư mua cổ phần trước ngày này được hưởng cổ tức vào ngày 14/09, các nhà đầu tư

mua cổ phần sau ngày 12/08 không được hưởng cổ tức Vào ngày 12/08 là ngày

không có cổ tức, giá cổ phần dự kiến sụt giảm một khoản bằng với số tiền cổ tức vì

giá trị này đã được rút ra khỏi doanh nghiệp Chứng cứ thực nghiệm cho thấy rằng

bình quân giá cổ phần sụt ít hơn số tiền cổ tức vào ngày không có cổ tức Trên đồ thị

ta thấy giá cổ phiếu REE vào ngày 12/08/09 đã sụt giảm còn 47000VND/CP, sau đó

tăng mạnh

Ngày chi trả thường từ 2 đến 4 tuần sau ngày ghi sổ, trong trường hợp này là

ngày 14/09 Vào ngày này, REE gởi các chi trả cổ tức đến những người nằm trong

danh sách

Nguồn: www.sbsc.com.vn

Trang 21

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách cổ tức trong thực tiễn của doanh nghiệp:

Trong thị trường hoàn hảo, MM không xét đến các yếu tố như chi phí giao dịch, chi phí phát hành, thuế Tuy nhiên, thực tế những yếu tố này tác động rất lớn đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp Mà chính sách cổ tức lại gửi tín hiệu đến các nhà đầu tư, thông qua đó quyết định trực tiếp đến giá cổ phiếu sau khi chia cổ tức, ảnh hưởng đến tính thanh khoản cổ phiếu của công ty trên thị trường thứ cấp Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đã từng bước loại bỏ giả định của mô hình thị trường hoàn hảo, nghiên cứu những yếu tố tác động đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp

1.5.1 Chi phí giao dịch:

Đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán:

Nhà đầu tư sẽ chịu chi phí giao dịch khi mua cổ phiếu của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Khoản phí giao dịch do công ty chứng khóan thu và công ty chứng khoán phải trích một phần chi phí giao dịch này cho sở chứng khoán Công ty niêm yết không nhận được khoản thu nhập nào, nên không tác động đến lợi nhuận của công ty, nên không có tác động đến chính sách cổ tức của công ty niêm yết

Nhà đầu tư mua bán cổ phiếu của công ty cổ phần niêm yết sẽ chịu mức phí giao dịch như sau:

BIỂU MỨC THU PHÍ TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN

1.Phí sử dụng hệ thống thiết bị 20.000.000 đồng/1 thiết bị đầu cuối/năm 2.Phí giao dịch:

2.1.Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư 0,03%/trị giá giao dịch

2.2.Trái phiếu 0,0075%/trị giá giao dịch 3.Phí quản lý niêm yết hàng năm:

3.1.Niêm yết dưới 10 tỷ đồng 5.000.000 đồng

3.2.Niêm yết từ 10 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ

đồng 10.000.000 đồng 3.3.Niêm yết từ trên 50 tỷ đồng đến dưới

100 tỷ đồng 15.000.000 đồng

Trang 22

(Thông tư số 11/2006/TT-BTC ngày 21/02/2006 sửa đổi, bổ sung

Thông tư số 110/2002/TT-BTC ngày 12/12/2002,

và Quyết định số 1351/QĐ– BTC ngày 13/6/2008 của Bộ Tài chính)

Đối với công ty chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán:

Những công ty này sẽ trực tiếp thu phí giao dịch của nhà đầu tư Khoản thu nhập này sẽ làm tăng lợi nhuận của công ty Lợi nhuận tăng, công ty sẽ chi trả cổ tức nhiều hơn Vì vậy, chi phí giao dịch tác động không nhỏ đến các quyết định về chính sách cổ tức

1.5.2 Chi phí phát hành:

Hiện nay, chi phí khi phát hành cổ phần mới thường chiếm từ 5-10% tổng giá trị đợt phát hành trong khi giữ lại 1 phần hay toàn bộ lợi nhuận hầu như không tốn chi phí nên rre< rne

Nhiều loại phí trong hoạt động đầu tư chứng khoán đã tăng mạnh theo Thông tư

số 134/2009/TT-BTC về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí và lệ phí trong lĩnh vực chứng khoán

BIỂU MỨC THU PHÍ, LỆ PHÍ TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN

ÁP DỤNG TẠI ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC

4.1.Lưu ký chứng khoán 2 đồng/lô chứng khoán/tháng

4.2.Chuyển khoản chứng khoán

5 đồng/lô chứng khoán (tối đa không quá 500.000đ/1lần chuyển

khoản)

Trang 23

2 Lệ phí cấp giấy phép hoạt động công ty quản

lý quỹ 10 trđ 30 triệu đồng

3

Lệ phí cấp giấy phép hoạt động của chi

nhánh công ty quản lý quỹ đầu tư nước

ngoài

10 trđ 20 triệu đồng

4

Lệ phí cấp giấy phép đặt văn phòng đại diện

hoặc gia hạn giấy phép văn phòng đại diện

của tổ chức chứng khoán nước ngoài tại VN

6 Lệ phí cấp giấy phép thành lập và hoạt động

a) Từ 50 tỷ đến dưới 150 tỷ - 10 triệu đồng b) Từ 150 tỷ đến dưới 250 tỷ - 20 triệu đồng c) Từ 250 tỷ trở lên 30 triệu đồng

7 Lệ phí chấp thuận chào bán cổ phiếu, trái

phiếu, chứng chỉ quỹ ra công chúng

a) Dưới 50 tỷ - 10 triệu đồng b) Từ 50 tỷ đến dưới 150 tỷ - 20 triệu đồng c) Từ 150 tỷ đến dưới 250 tỷ - 35 triệu đồng d) Từ 250 tỷ trở lên - 50 triệu đồng

8 Lệ phí cấp giấy phép hoạt động công ty đầu

tư chứng khoán

a) Từ 50 tỷ đến dưới 150 tỷ - 20 triệu đồng b) Từ 150 tỷ đến dưới 250 tỷ - 35 triệu đồng c) Từ 250 tỷ trở lên - 50 triệu đồng

9

Lệ phí cấp phép thành lập chi nhánh công ty

chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư

chứng khoán trong nước

10 triệu đồng/giấy phép

10 Lệ phí cấp phép cho cá nhân hành nghề kinh 1 triệu

Trang 24

MỨC THU

TT 110

2002 TT 134 2009

doanh dịch vụ chứng khoán và quản lý quỹ đồng/giấy phép

11 Lệ phí cấp giấy phép hoạt động lưu ký

chứng khoán

6 triệu đồng/giấy phép

12 Phí quản lý công ty đại chúng 10 triệu đồng/năm

10%/doanh thu từ hoạt động thu phí lưu ký và phí chuyển khoản

Trong chi phí phát hành có các chi phí như bảo lãnh phát hành, chi phí kiểm toán, chi phí thuê đơn vị tư vấn, chi phí phát sinh khi nộp hồ sơ, chi phí in ấn, vận chuyển, chi phí đăng báo, chi phí phát hành khác Mức cao nhất lên tới 100 triệu đồng thuộc

về phí bảo lãnh phát hành chứng khoán Các khoản chi phí phát sinh này làm chi phí

sử dụng vốn của các công ty niêm yết tăng lên, làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp Nếu một công ty thiếu vốn nhưng không muốn bỏ qua cơ hội đầu tư tốt, công ty có thể huy động vốn bằng cách đi vay hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới, nhưng cả hai cách này đều sẽ tốn kém nhiều chi phí Vì vậy, các doanh nghiệp thường thích giữ lại một tỷ lệ lớn trong lợi nhuận đạt được để có đủ vốn cho các cơ hội đầu tư hơn là việc phát hành cổ phần mới với chi phí sử dụng vốn cao Do đó, chi trả cổ tức của doanh nghiệp thường thấp hơn khi chi phí phát hành cao Nhưng chính việc giữ lại lợi nhuận này đôi khi sẽ phải đánh đổi bằng sự từ bỏ sở hữu của một số các cổ đông mà mối quan tâm hàng đầu của họ là được hưởng cổ tức cao, ổn định

Trang 26

Ngay sau khi chỉ thị 03/2007/CT-NHNN về kiểm soát quy mô, chất lượng tín

dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ban hành, nhiều nhà đầu tư bắt đầu bán tháo cổ phiếu khiến cho thị trường liên tiếp đi vào những phiên mất điểm hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán khiến cho nhiều nhà đầu tư e ngại về tính thanh khoản của thị trường Ngay sau đó là những chính sách vĩ mô của nhà nước liên tục đẩy thị trường vào tình thế “hiểm nghèo” Những dự báo về khả năng đột biến của lạm phát thời gian tới là một áp lực chính trong những phiên giao dịch vào tháng 5/2008

Còn trên thực tế, thị trường này giảm mạnh cả về điểm số, giá chứng khoán và khối lượng giao dịch Có ngày tại sàn Tp.HCM, chỉ còn 3.5 triệu đơn vị, bằng phân nửa khối lượng những phiên gần đây và có giá trị 148 tỷ đồng Chỉ số VN-Index qua phiên này chính thức về mốc 500 điểm, giảm 7.61 điểm, còn 500.33 điểm HASTC-Index chỉ còn 154.23 điểm, giảm 3.19 điểm Đúng như dự đoán, thị trường chứng khoán đã xuống mức “đáy” 366 điểm vào ngày 20/6 nếu xét diễn biến thị trường thời gian qua theo các con số thống kê thì VN-Index đang có xu hướng tăng, tuy có xen kẽ với những phiên giảm Điều này làm cho các nhà đầu tư lo ngại không dám đầu tư vào thị trường chứng khoán mà chuyển sang đầu tư vào các thị trường an toàn hơn như bất động sản Doanh nghiệp khó khăn trong việc huy động vốn, nếu được thì phải chịu một chi phí sử dụng vốn cao hơn bình thường, vì vậy chính sách giữ lại lợi nhuận là một quyết định đúng đắn nhất trong giai đoạn này

Trong giai đoạn đầu tiên của lạm phát REE và cũng như các mã chứng khoán khác trong suất 4 tháng giá cổ phiếu của REE đều giảm theo từng biên độ nhỏ nhưng

do kéo dài nên giá của cổ phiếu lúc này chỉ còn 1/8 so với giá đỉnh Và giá thấp nhất trong giai đoạn này là 25000đồng Trong giai đoạn này giá của REE đã cũng có những phiên giao dịch màu xanh khi Chính phủ có những chính sách cáp bách nhằm cứu vãn thị trường chứng khoán, cụ thể: ngày 25/03/2008 Chính phủ đưa ra các chính sách để hạn chế sự tụt dốc của VN-index xuống xa ngưỡng 500 điểm thì REE có dấu hiệu tăng trong 10 phiên dao dịch liên tiếp Tuy nhiên sau những cố chính sách không thật đầy

đủ và đồng bộ của Chính phủ thì VN-index vẫn tụt xa mốc 500 kéo theo REE tiếp tục

đà giảm Khả năng huy động vốn của REE giảm, công ty quyết định sử dụng tối đa 90% lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư vào các dự án mới của công ty

Ngày đăng: 28/03/2013, 08:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ở nước ngoài, ví dụ điển hình cho chính sách này là tập đoàn Microsoft. - Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
n ước ngoài, ví dụ điển hình cho chính sách này là tập đoàn Microsoft (Trang 8)
Năm 2008, tình hình lạm phát đã kéo thị trường chứng khoán Việt Nam trở lại v ới  những  con  số  thực  của  nó - Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
m 2008, tình hình lạm phát đã kéo thị trường chứng khoán Việt Nam trở lại v ới những con số thực của nó (Trang 25)
Biểu đồ: Tình hình chi trả cổ tức của các công ty cổ phần niêm yết - Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
i ểu đồ: Tình hình chi trả cổ tức của các công ty cổ phần niêm yết (Trang 34)
2.2.1 Tính toán các biến: - Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
2.2.1 Tính toán các biến: (Trang 37)
Bảng: Liệt kê các công ty trong mẫu - Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
ng Liệt kê các công ty trong mẫu (Trang 37)
Do hạn chế về mặt tìm kiếm số liệu cho mô hình nên chúng tôi chỉ xác định được chu ỗi thời gian chi trả cổ tức từ 2007 đến 2009, do đó sẽ tiến hành chãy hồ i quy trên  d ữ liệu chéo - Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
o hạn chế về mặt tìm kiếm số liệu cho mô hình nên chúng tôi chỉ xác định được chu ỗi thời gian chi trả cổ tức từ 2007 đến 2009, do đó sẽ tiến hành chãy hồ i quy trên d ữ liệu chéo (Trang 38)
Bảng: Tóm tăt chỉ số R-squares - Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức trong thực tiễn
ng Tóm tăt chỉ số R-squares (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w