1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo thực tập ngành du lịch chuyến đi thực tế miền trung

120 7,1K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là tượng Hợp đồng binhchủng, tượng Cô gái chữa đường ống xăng dầu, tượng Tuổi trẻ hành quầnvào giải phóng miền Nam, tượng Bà mẹ và em bé Lào với anh bộ độiViệt Nam, tượng Cô gái Vân K

Trang 1

Lời mở đầu

Đất nước Việt Nam với biết bao danh lam thắng cảnh kì vĩ phân bốdọc theo chiều dài đất nước là điều kì thú mà biết bao người muốn khámphá.Trong số những vùng đất đó chúng ta không thể không nhắc đến dảiđất miền Trung gắn liền với con đường di sản: Quảng Bình – Huế - QuảngNam

Chuyến đi thực tế miền Trung của sinh viên K50 Du lịch – Trường

ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn là một chuyến đi rất bổ ích Qua đó, sinhviên đã học hỏi, tiếp thu và bồi dưỡng được nhiều kiến thức chuyên mônthực tế đồng thời đã có một chuyến du lịch vui vẻ cùng tập thể lớp và cácthầy cô Những kiến thức ấy được nhóm chúng em đề cập đến trong bàibáo cáo này kết hợp với những tài liệu tự nghiên cứu

Qua chuyến đi thực tế vừa rồi chúng em xin được chân thành cám ơnBan chủ nhiệm Khoa Du lịch học – Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhânvăn Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô giáo chủnhiệm lớp K50 du lịch và các thầy cô đi cùng đã dẫn dắt, chỉ bảo cho chúng

em trong suốt hành trình vừa qua

Trang 2

- Bánh cuốn – Kim sơn - xi măng - Đền Bà Triệu (Nga Sơn) chả nướng (ăn sáng) Cầu ngói Nhật Bản

- Ngũ động Thi Sơn - Tam cốc bích động - Đền Sòng - Bãi biển Sầm Sơn

- Chùa Bà Đanh - Cúc Phương (Thờ Mẫu Liễu) - Nem chua

- Đèo Tam Điệp

Diễn Châu TP Vinh Bãi biển Xuân Thành

- Ngã ba quán hành “ Phượng hoàng trung đô” - Nhà tưởng niệm

quán bánh khắc trên núi đá Nguyễn Du

- Quảng trường ( Quang Trung phong cho TP Vinh)

Hồ Chí Minh

Thị trấn Hồng Lĩnh Thị xã Hà Tĩnh Đèo Ngang Bãi đá Nhảy

- Đền ông Hoàng Mười - đặc sản chim bồ câu - Quảng Bình quan (đá lô nhô chân

- Ngã ba Đồng Lộc đèo Lý Hoàng )

TP Đồng Hới Phong Nha Nghĩa trang Đông Hà liệt sỹ Trường Sơn Quảng Trị

- Nhà máy bia Hà Nội - Sông son - Cầu treo bến tắt - Thành cổ

- Thượng nguồn sông Bến Hải - Nhà thờ

- Ông Đồng Sỹ Nguyên Lang Bang

- Binh đòan 559

Huế Đèo Hải Vân TP Đà Nẵng Quảng Nam

- Phá Tam Giang - Hầm đèo 6km - Ngũ Hành Sơn - Thánh địa Mỹ Sơn

- Đại nội - Biển Lăng Cô - Bảo tàng Chăm ( cách ĐN 70km)

- Chùa Thiên Mụ – Làng đúc đồng – Kinh đô Trà Kiệu

- Lăng Tự Đức, Khải Định - Phố cổ Hội An

- Sân bay Phú Bài

Pháp Vân, Cầu Giẽ

Cầu Hàm Rồng

Trang 3

6h40 Nghỉ ăn sáng tại Phủ Lý (Hà

Nam)7h00 Lên xe đi tiếp đến Vinh12h25 Đến Vinh

12h30 Ăn trưa tại Vinh Nhà hàng Minh

Hồng (3 Phan BộiChâu/118 Trường Chinh, TP Vinh)13h20 Lên xe đi tiếp tới Đồng Hới

16h10 Đến Đèo Ngang, dừng chân tại

đỉnh Đèo Ngang16h30 Lên xe đi tiếp đến Đồng Hới17h30 Dừng chân tại Bãi Đá Nhảy17h45 Lên xe đi tiếp đến Đồng Hới18h20 Đến Đồng Hới, nhận phòng

khách sạn

Khách sạn Hữu Nghị (22 Quách Xuân Kỳ, Đồng Hới, Quảng Bình)

19h00 Ăn tối tại khách sạn

Nghị (22 Quách Xuân Kỳ, Đồng Hới, Quảng Bình)7h00 Lên xe đến Phong Nha – Kẻ

Bàng8h10 Đến Phong Nha8h30 Xếp đò và đi vào hang9h15 Đến cửa hang Phong Nha – Kẻ

Bàng11h00 Ra cửa hang

Nha Quán (Sơn Trạch, Bố trạch, Quảng Bình)

Trang 4

13h00 Lên xe đi tiếp đến Nghĩa trang

liệt sĩ Trường Sơn15h00 Đến Nghĩa trang LSTS16h00 Lên xê đi tiếp đến Huế18h45 Đến Huế, nhận phòng khách

sạn

Khách sạn Công Đoàn Sông Hương ( 70 Nguyễn Sinh Cung, TP Huế)

19h30 Ăn tối tại khách sạn

Ngày3:

Cố đô Huế

6h30 Ăn sáng tự túc7h45 Đi thăm Đại Nội10h45 Lên xe đến chùa Thiên Mụ11h00 Thăm chùa Thiên Mụ12h00 Ăn trưa tự túc

13h40 Lên xe đến Lăng Tự Đức, khảo

sát thực tế tại lăng Tự Đức15h40 Lên xe đi tiếp đến lăng Khải

Định16h00 Khảo sát thực tế tại lăng Khỉa

Định16h35 Lên xe về khách sạn Khách sạn Công

Đoàn Sông Hương ( 70 Nguyễn Sinh Cung, TP Huế)

17h5 Về đến khách sạn17h45 Ăn tối tại khách sạn19h00 Lên thuyền đi nghe ca Huế trên

sông Hương20h30 Về khách sạnNgày4:

An12h20 Ăn trưa tự túc14h00 Lên xe đi tới Ngũ Hành Sơn14h50 Thăm Ngũ Hành Sơn

17h00 Lên xe về Đà Nẵng17h40 Đến Đà Nẵng, nhận phòng

khách sạn

Khách sạn Thanh Long (130 Điện Biên Phủ, Thanh Khê, Đà Nẵng)18h30 Ăn tối tại khách sạn

Trang 5

8h30 Khảo sát thực tế Mỹ Sơn11h30 Nghỉ và ăn trưa tự túc12h35 Lên xe đi tới Bảo tàng Chăm13h00 Đến và thăm bảo tàng Chăm14h30 Lên xe về Huế

15h40 Dừng chân nghỉ tại bãi biển

Lăng Cô16h35 Lên xe đi tiếp về Huế18h10 Đến Huế, nhận phòng khách

sạn

Khách sạn Kinh

Đô (01 Nguyễn Thái Học, TP Huế)

19h00 Ăn tối tại khách sạn

7h30 Lên xe đi tới suối khoáng

Thanh Tân (Huế)8h30 Đến Thanh tân, tắm khoáng11h00 Lên xe về khách sạn Khách sạn Kinh

Đô (01 Nguyễn Thái Học, TP Huế)

Trị8h30 Đến thăm Thành cổ Quảng Trị9h45 Lên xe về Đồng Hới

10h35 Dừng chân thăm quan 5ong

Bến Hải – Cầu Hiền Lương10h45 Lên xe đi tiếp tới Đồng Hới

Trang 6

12h05 Đến Đồng Hới, ăn trưa tại

khách sạn Hữu Nghị

Khách sạn Hữu Nghị(22 Quách Xuân Kỳ, Đồng Hới, Quảng Bình)13h00 Lên xe về Cửa Lò

17h55 Đến Cửa Lò, nhận phòng khách

sạn

Khách sạn Hòn Ngư (84 Bình Minh, TP Vinh, Nghệ An)

18h45 Ăn tối tại khách sạn20h00 Giao lưu văn nghệ giữa hai lớp

K50 và K49 TC tại khách sạnNgày8:

Cửa Lò –

Hà Nội

Sáng Tham quan tự do11h00 Trả phòng và ăn trưa tại khách

sạn

Khách sạn Hòn Ngư (84 Bình Minh, TP Vinh, Nghệ An)

12h10 Lên xe về Hà Nội15h30 Dừng chân tại Thanh Hóa mua

nem chua15h50 Lên xe đi tiếp về Hà Nội20h00 Về đến cổng trường

ĐHKHXH&NV Kết thúc chuyến đi thực tế

1.3 Bảng kiểm kê cây số

Trang 7

Đông Hà Địa đạo Vịnh Mốc 20

Đông Hà Thành cổ Quảng Trị

702040

1.4 Giá tour của đoàn( 90 sinh viên)

1.4.1 Chi phí cụ thể

 Giá vé thắng cảnh:

- Động ướt Phong Nha – Kẻ Bàng: 30.000đ/người

- Đại Nội: 35.000đ/người

- Lăng Tự Đức: 30.000đ/người

- Lăng Khải Định: 30.000đ/người

- Phố cổ Hội An: 30.000đ/người

- Non nước Ngũ Hành Sơn: 5.000đ/người

- Thánh địa Mỹ Sơn: 30.000đ/ người

- Bảo tàng Chăm: 5.000đ/người

 Phương tiện tham quan:

- Tàu ra động ướt Phong Nha – Kẻ Bàng:150.000đ/14người/1tàu (thuê 7 tàu)

- Thuyền nghe ca Huế trên sông Hương:600.000đ/1người/1tàu (thuê 5 tàu)

 Xe ôtô: 23.200.000đ/1xe (thuê 2 xe)

Trang 8

 Chi phí ăn: 315.000đ/người (gồm giá của tất cả các bữa ăn tậptrung từ: 09/03/2008 đến 16/03/2008)

 Chi phí lưu trú: 272.500đ/người (gồm toàn bộ giá lưu trú tạicác khách sạn từ 09/03/2008 đến 16/03/2008)

 Bảo hiểm: 2.000đ/1người/1ngày (đi 8 ngày)

Trang 9

II Nội dung thuyết minh

2.1 Giới thiệu về Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng BắcTrung Bộ Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía nam giáp Hà Tĩnh, phía tâygiáp Lào, phía đông giáp biển Đông Trung tâm hành chính của tỉnh làthành phố Vinh nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam

Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt:xuân, hạ, thu, đông Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịuảnh hưởng của gió phơn tây nam khô và nóng Vào mùa đông, chịu ảnhhưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt

Nghệ An được biết đến với nhiều danh lam thắng cảnh như: Thànhphố Vinh, khu nghỉ mát bãi tắm Cửa Lò, khu di tích Hồ Chí Minh, khu ditích đền Cuông, điểm du lịch Kim Liên-Nam Đàn, khu lưu niệm Đại thihào Nguyễn Du, Cầu Bến Thủy,

Thành phố Vinh là tỉnh lỵ của tỉnh Nghệ An và là thành phố trungtâm kinh tế- xã hội- văn hóa- giáo dục- an ninh- quốc phòng vùng BắcTrung Bộ của Việt Nam

Vinh, tên ban đầu là Kẻ Ván Sau đó, lần lượt đổi thành Kẻ Vinh,Vinh Giang, Vinh Doanh, Vinh Thi Cuối cùng, tên chính thức của thànhphố được rút gọn lại thành một tiếng là Vinh và tồn tại mãi cho đến tận bâygiờ

Khi Việt Nam độc lập năm 1945, Vinh trở thành thị xã tỉnh lị tỉnhNghệ An Ngày 10 tháng 10 năm 1963, Vinh trở thành thành phố trựcthuộc tỉnh, là đô thị loại 3

Trong những năm Chiến tranh Việt Nam, Vinh là một trong nhữngthành phố miền Bắc bị không quân Mỹ ném bom tàn phá nặng nề nhất Sau

Trang 10

chiến tranh, thành phố được xây dựng lại theo kiểu thiết kế đô thị của ĐôngĐức và Liên Xô như các đại lộ lớn, rộng và các dãy nhà chung cư.

Hiện nay, thành phố phấn đấu trở thành đô thị loại I vào năm 2010hướng tới đô thị trung tâm vùng Bắc Trung bộ

Ở thành phố Vinh có rất nhiều những danh lam thắng cảnh, địa danhlịch sử văn hóa có tiềm năng như Thành cổ Nghệ An, Cồn Mô, ngã ba BếnThủy, Đình Trung, đền thờ Trần Trùng Quang, tượng đài Hồ Chí Minh…

Thị xã Cửa Lò, thuộc tỉnh Nghệ An có diện tích đất 28,68 km2.

Toàn bộ chiều dài bờ biển 12km, trong đó 8,2km là bãi biển cát trắng, mịn,đẹp và liên tục Ngoài khơi có 2 hòn đảo Đảo Ngư cách đất liền 4km, lànơi sinh sống của các hệ động thực vật rất phong phú, gồm có các loài khỉ

và các loài dê hoang dã, chim v.v Hiện nay, Cửa Lò đang xây dựng khu

du lịch sinh thái trên hòn đảo này Đảo Mắt cách đất liền 18 hải lý, cũngnhư Đảo Ngư nó là một hòn đảo có ý nghĩa về mặt quân sự Tuy nhiên, dukhách có thể đến thăm đảo Mắt khi cơ quan quân sự địa phương cấp giấyphép

Cửa Lò trước đây gồm 4 xã và một thị trấn của huyện Nghi Lộc, tỉnhNghệ An Năm 1994, Cửa Lò được tách ra và nâng thành cấp thị xã với 2

xã và 5 phường

Trang 11

Khu nghỉ mát Cửa Lò

Bãi biển Cửa Lò là một trong các bãi tắm đẹp ở Việt Nam Khu nghỉmát Cữa Lò nằm ở vĩ độ 14,9 và kinh độ 105,43 cách thành phố Vinh, thủphủ của tỉnh Nghệ An 16km về phía

Đông Bắc Cửa Lò cách thủ đô Hà

Nội hơn 300km và cách TP Hồ Chí

Minh 1400km Thị xã Cửa Lò cũng

được nối với Lào và Bắc Thái Lan bởi

đường Quốc lộ 8 và cách Viên Chăn

thủ đô của Lào 468km Thị xã Cửa Lò

nằm ở giữa 2 con sông, sông Cấm ở

phía Bắc và sông Lam ở phía Nam Dân số Cửa Lò hiện nay trên 45 ngànngười Theo dự đoán, dân số Cửa Lò sẽ tăng lên vào những năm tới Lựclượng lao động xấp xỉ 23 ngàn người

Vào những ngày cuối tuần, Cửa Lò (Nghệ An) vẫn tấp nập du khách cáctỉnh phía Bắc về nghỉ dưỡng Ấn tượng tốt của du khách đầu tiên về Cửa

Lò là sự đông vui, náo nhiệt, song sau đó là sự thất vọng vì nghèo nàn điểm

Không có những doi biển trắng mịn như Nha Trang, Phan Thiếtnhưng bãi biển từ Cửa Lò đến Cửa Hội trên 10 km luôn có nhiều nhà nghỉ,quán xá bình dân

Nhiều người đã ví Cửa Lò như một Phuket của Việt Nam bởi khôngkhí du lịch sầm uất vào ngày cuối tuần trong mùa hè, chỉ khác là thiếu chỗchơi Dịch vụ cho khách vui chơi ở đây còn thưa vắng và mang tính bìnhdân

Ban đêm, Cửa Lò huyên náo bởi hàng trăm chiếc loa thùng karaoke

từ dãy quán xá chen chúc chật chội trên bãi biển Những quán lá và rổ hàngrong rao bán, chèo kéo hải sản là hình ảnh phổ biến ở đây Hải sản được

Trang 12

ngư dân vừa đi thuyền thúng câu lên như cá, mực nhảy, tôm, cua ghẹ Mộtchuyến lên thuyền thúng ra khơi câu mực với ngư dân cũng chỉ tốn 30 ngànđồng Nếu la cà những dãy hàng quán xọp xẹp huyên náo ven biển về đêm,

du khách tha hồ "chén" hải sản

Đi về hướng Cửa Hội có thể gặp những bãi biển hoang sơ, và thấpthoáng trong vành đai thùy dương, có những khu resort nhỏ còn vắngkhách Chị Mai Chi, người quản lý mua hàng của công ty du lịch Fiditoursau khi khảo sát phòng ốc tại đây, cho biết, tất cả những khách sạn đượccoi là sang tại đây đều đã đầy phòng trong mùa hè Tuy nhiên, chất lượngphòng rất kém so với Nha Trang, Vũng Tàu hay Phan Thiết Hiện nay, resort và khách sạn có gắn sao tại Cửa Lò chỉ đếm trên đầu ngóntay Một số vừa được xây mới: khách sạn Xanh (3 sao), Sài Gòn - KimLiên resort (4 sao), Hoàng Mai với những dịch vụ mới, cao cấp đang dầnđáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng cho khách cao cấp đến Cửa Lò Đêm cuối tuần trong mùa cao điểm, khách đông như hội nhưng thị

xã du lịch lại ngủ sớm vì thiếu dịch vụ vui chơi Ngoài đi ghe câu mực,khách chỉ có thể hát karaoke trong các “nhà hàng chòi” ven biển và thuê xeđạp đôi đi dạo thị xã Sau chuyến tham quan, nhiều người nói họ “ghiền”Cửa Lò chỉ vì được tắm biển và ăn hải sản no say mà không lo chặtchém.Dịch vụ kiểu bình dân, tự phát và đại trà đang đặt ra cho Cửa Lò mộtthách thức trước sự phát triển du lịch bền vững và có đẳng cấp trong tươnglai

2.2 Giới thiệu về Quảng Bình

Quảng Bình là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ ViệtNam Quảng Bình nằm ở nơi hẹp nhất của dải đất hình chữ S của ViệtNam

Địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông 85%Tổng diện tích tự nhiên là đồi núi Toàn bộ diện tích được chia thành vùng

Trang 13

sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng,vùng cát ven biển.

Địa hình có đặc trưng chủ yếu là hẹp và dốc, nghiêng từ tây sangđông, đồi núi chiếm 85% diện tích toàn tỉnh và bị chia cắt mạnh Hầu nhưtoàn bộ vùng phía tây tỉnh là núi cao 1.000-1.500 m, trong đó cao nhất làđỉnh Phi Co Pi 2017 m, kế tiếp là vùng đồi thấp, phân bố theo kiểu bát úp.Gần bờ biển có dải đồng bằng nhỏ và hẹp Sau cùng là những tràng cát venbiển có dạng lưỡi liềm hoặc dẻ quạt

Các nhà nghiên cứu hang động xác định nguồn gốc của động PhongNha từ con sông Son chảy lộ thiên ở phía bên kia dãy núi Do không thể xénúi mà vượt qua được, dòng sông bé nhỏ đã xâm thực hóa học, hòa tan đávôi ở chân núi để tự đào lấy một dòng sông ngầm chảy xuyên qua núi sangsườn núi bên này Thủy văn học gọi chỗ sông Son chui vào lòng núi là cửabiển và từ chỗ lòng núi chảy ra là cửa hiện Phong Nha chính là cửa hiệncủa con sông nhỏ sau kỳ công khoét núi vĩ đại mà thành

Hệ thống Phong Nha - Kẻ Bàng đã được phát hiện có đến 31 hang(Hội Hang động Hoàng gia Anh phát hiện 27 hang và mới phát hiện thêm

3 hang nữa vào tháng 3-1997) Động Phong Nha được hình thành donhững kiến tạo địa chất xảy ra trong lòng dãy núi đá vôi Kẻ Bàng cách

Trang 14

đây hàng trăm triệu năm.Có thể nói hang động Phong Nha cótuổi địa chất

cổ nhất khu vực Châu Á Dấu tích những văn tự khắc trên vách đá bằngngôn ngữ Chăm Pa cổ cho thấy Động Phong Nha được người Chăm pháthiện từ thời xa xưa

Hệ thống hang Phong Nha bắt nguồn từ giới hạn phía nam của khốinúi đá vôi Kẻ Bàng Cửa chính của hệ thống này là hang Khe Ri và hang

Én nằm ở độ cao trên mực nước biển gần 300m Các cửa hang đều rộng(nhất 170m) và cao (nhất 100m) Các cửa hang phía này đều là nơi có cácdòng sông, suối bắt nguồn từ khu vực địa hình cao (nhất 1.500m) pháttriển trên đá vôi đổ vào Hệ thống hang Vòm cũng là hang sông trên độcao khoảng 360m

Động Phong Nha dài 7.729m Cửa động rộng 20-25m, cao khoảng10m Vào sâu trong động Phong Nha hơn 600m là hang Bi Ký với nhữngthạch nhũ tuyệt đẹp màu cẩm thạch, vòm hang rộng, không gian tronghang huyền ảo Vô vàn những nhũ đá mang dáng vẻ của Đức mẹ Maria,các thiên thần bay lượn, hình những cây thánh giá, những bầy sư tử, cásấu, và đặc biệt có 2 cột nhũ đá rũ dài từ trên trần hang xuống tận đáynước Hang Bi Ký dài khoảng 130m và rộng như một hội trường lớn, phíadưới là một lớp cát mịn làm nền, có lẽ vì vậy mà hang Bi Ký còn có tên làhang Hội Trường

Rời hang Bi Ký, du khách sẽ sang hang Tiên và hang Cung Đìnhcùng những cột nhũ đá cao trên 20m được thiên nhiên tạo nên Đây cũng

là hai hang tiêu biểu của động Phong Nha có hệ thống nhũ đá huyền ảo và

kỳ vĩ cùng hàng ngàn những kiệt tác được hình thành bởi tạo hoá, với vô

số những hình ảnh kỳ lạ và hấp dẫn Trong hang Tiên, thiên nhiên đã tạotrên vách đá hình dáng những nàng tiên với mái tóc dài, màu vàng óng ả.Hang Cung Đình có nhũ đá giống ngai vàng, được thiên nhiên "chạm trổ"

Trang 15

cực kỳ tinh xảo Nếu gõ nhẹ vào chuỗi thạch nhũ giống hình phím đànthì người ta tưởng như đang thưởng thức âm điệu của tiếng đàn tơ-rưngtrầm bổng âm vang, nó thật xứng đáng là “Nam Thiên đệ nhất động”

Từ lâu, Phong Nha là tuyến điểm du lịch hấp dẫn của vùng BắcTrung Bộ mà du khách trên đường xuyên Việt không thể bỏ qua Chiều2-7-2003, tại Paris, Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là

“Di sản thiên nhiên và văn hóa lịch sử thế giới” Một địa danh vừa quenvừa lạ, vừa xa vừa gần Quần thể hang động ở Phong Nha-Kẻ Bàng đượcđánh giá là một trong những cảnh quan đẹp nhất thế giới với các đặc trưng

có sông ngầm dài nhất, các hang có chiều cao và rộng nhất, các bãi cáttrong hang dài nhất và có thạch nhũ đẹp nhất Đây cũng có thể coi là thiênđường cho bộ môn hang động học và du lịch hang động

Tháng 4/1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắngPhong Nha-Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình Tổ chức BCRAchính thức công nhận Động Phong Nha là một trong 3 hang nước tiêubiểu trên thế giới và là hang động duy nhất ở Việt Nam đạt 7 tiêu chuẩn:

1 Hang nước dài nhất

2 Cửa hang cao và rộng nhất

Trang 16

ngầm Du khách vừa xúc động vừa ít nhiều hồi hộp lo sợ khi thấy mình nhưđang nằm trong miệng một con quái vật khổng lồ: nó đen cái màu đen củavực sâu nhưng nó lại đẹp cái đẹp những hình thù kỳ dị nguyên sơ mà trítưởng tượng của con người tha hồ gán cho chúng biết bao huyền thoại, sựtích Sau hàng chục cuộc thám sát khoa học của người Việt, người Pháp,người Anh động Phong Nha vẫn còn đó với những điều bí ẩn Hàng trămnăm nữa nó còn thu hút bao nhiêu du khách và các nhà hang động học Nếungành văn hoá - du lịch Việt Nam khéo tổ chức khai thác thì kỳ quanPhong Nha sẽ là một trong những đỉnh cao của du lịch thế giới, một con gà

đẻ trứng vàng giàu có nhất của du lịch Việt Nam

2.3 Giới thiệu về Quảng Trị

Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, sốdân là 616,600 nghìn người, mật độ dân số 130 người/km2 Phía bắc giáptỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây giáp nướcCộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông Trung tâmhành chính của tỉnh là thị xã Đông Hà nằm cách 598 km về phía nam thủ

đô Hà Nội và 1.112 km về phía bắc thành phố Hồ Chí Minh Nơi đây cósông Bến Hải - cầu Hiền Lương, giới tuyến chia cắt hai miền Nam - BắcViệt Nam trong suốt 20 năm (1954 - 1975)

Trong những năm Chiến tranh , Quảng Trị là một trong những nơi bịthả bom nhiều nhất Ngày nay Quảng Trị là nơi có nhiều địa danh, di tíchlịch sử Trong đó phải kể đến Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn

Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn là nơi quy tập phần mộ các liệt sĩ trên tuyếnđường Trường Sơn trong những năm chiến tranh thống nhất đất nước

Trang 17

Nghĩa trang được xây dựng tại khu vực BếnTắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xãVĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách thị xã Đông

Hà, tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị khoảng 38km vềphía tây bắc, cách quốc lộ 1A (đoạn thị trấn huyện

lỵ Gio Linh) chừng hơn 20km về phía tây bắc Nghĩa trang có diện tích140.000m², nằm trên 3 quả đồi ở cạnh thượng nguồn sông Bến Hải, ranhgiới cắt chia hai miền Bắc - Nam thời kháng chiến chống Mỹ Đây là nơi

Bộ tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn đã chọn Đây là một trong 72 nghĩatrang liệt sỹ của tỉnh Quảng Trị Nơi đây đã an táng 10.263 liệt sĩ đã anhdũng vị quốc vong thân với 68 ngôi mộ liệt sĩ vô danh Nghĩa trang đượcquy hoạch thành các khu như sau:

Khu Khánh Tiết nằm ở bên phải cổng vào, trên một quả đồi cao 30mét, gồm nhà và sân khánh tiết, nhà đón tiếp khách, nhà làm việc của Banquản lý

Khu Tưởng niệm (Khu 1): Nằm ở trung tâm nghĩa trang trên mộtngọn đồi cao 32,4 mét Từ dưới chân đồi đi lên đến đỉnh có 6 bức phù điêubằng đá chạm khắc hình ảnh những binh chủng của bộ đội Trường Sơn.Giữa sân hành lễ là tượng đài chính, phía sau tượng đài có một cây bồ đềthiêng tự mọc Phía bên trái của tượng đài là mộ của các liệt sĩ là người HàNội, Bình Trị Thiên và các tỉnh phía Nam

Khu mộ: bao gồm các khu 2, 3, 4, 5 Đây là nơi an giấc nghìn thucủa các liệt sĩ thuộc các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình,Hòa Bình (Khu 2), Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, BắcGiang (Khu 3), Nghệ An, Hà Tỉnh, Thanh Hóa (Khu 4), Hà Giang, TuyênQuang, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,

Trang 18

Quảng Ninh, Hải Phòng, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu (Khu5).

Khu quần thể tượng: nằm giữa khu 4 và khu 5, bao gồm các tượngbằng đồng chạm khắc rất đẹp, phản ánh cuộc chiến đấu hào hùng củaquân dân ta trong công cuộc "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòngphơi phới dậy tương lai" (thơ Tố Hữu) Đó là tượng Hợp đồng binhchủng, tượng Cô gái chữa đường ống xăng dầu, tượng Tuổi trẻ hành quầnvào giải phóng miền Nam, tượng Bà mẹ và em bé Lào với anh bộ độiViệt Nam, tượng Cô gái Vân Kiều tải đạn ra chiến trường, tượng Cô gáigiao liên đi làm nhiệm vụ, tượng Bà mẹ tiễn con đi chiến đấu, tượng Anhlái đò tải đạn qua sông, tượng Cô giao liên nằm nghỉ trên võng … Ngoài

ra, ở đây còn có một bia Công tích được xây ba mặt:

+ Mặt 1: Chạm khắc phát biểu của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước

và Quân đội ta

+ Mặt 2: Chạm khắc những đơn vị và cá nhân có nhiều thành tíchđược Quốc hội và Nhà nước tuyên dương Anh hùng

+ Mặt 3: Chạm khắc những hoạt động và chiến công hiển hách của

bộ đội Trường Sơn trong những năm thánh đánh Mỹ trên đường Hồ ChíMinh

Mộ bắt đầu được quy tập từ đây từ cuối năm 1974 Nghĩa trang đượcxây từ cuối năm 1974 đến năm 1977 thì hoàn thành, đây là nghĩa trang cóquy mô lớn nhất Việt Nam, có kiến trúc, bố cục độc đáo, không giống đaphần nghĩa trang liệt sĩ khác ở Việt Nam Nơi đây có tới 210 ngôi mộ tậpthể, trong đó có ngôi mộ chứa 105 người lính của tiểu đoàn 1, trung đoàn

48 hy sinh đêm 30 Tết Mậu Thân ở Cam Lộ

Trang 19

Tại thời điểm tháng 4 năm 2006 ở đây có 10.263 phần mộ; được chiathành 10 khu vực theo địa phương: Hà Nội, Bình Trị Thiên, Hà Nam Ninh,

Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Bắc, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa,Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hải Phòng, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tiên nơi liệt sĩ sinh ra và một khu dành cho 68 liệt sĩ khuyết danh Các phần mộđược xây kiên cố, có sơ đồ mộ chí, được 21 quản trang trông nom, giữ gìnchu đáo Đến đây vào những ngày này, dưới cái nắng chói chang của miềnTrung, nhiều người sẽ có cảm giác rợn ngợp trước hàng ngàn ngôi mộtrắng san sát nối nhau Hàng năm, có rất nhiều đoàn người về thăm viếng,thắp hương cho mộ các liệt sĩ

2.4 Giới thiệu về Huế

Thành phố Huế tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương Huế nằm ởphía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112km, có diện tích 67,7 km2, có cảvùng gò đồi, vùng đồng bằng, diện tích mặt nước Huế cách biển Thuận An

12 km, cách sân bay Phú Bài 18 km, cách Cảng nước sâu Chân Mây 50

km Mật độ dân số gần 4200 người/km2

Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình vàkiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúctruyền thống và kiến trúc hiện đại Những công trình kiến trúc công phu,đồ

sộ nhất chính là Quần thể di tích Cố đô Huế hay quần thể di tích Huế.Đó lànhững di tích lịch sử -văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trongkhoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20.Trên địa bàn kinh

đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cậnthuộc tỉnh Thừa Thiên -Huế, Việt Nam

Kinh thành Huế

Trang 20

Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ 1803 đến 1832), dovua Gia Long bắt đầu và được vua Minh Mạng tiếp tục hoàn thành Tạiđây các vua triều Nguyễn đã cho xây dựng khá nhiều thành quách, cungđiện và các công trình của hoàng gia Trải qua gần 200 năm khu kinh thànhhiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớnnhỏ Kinh thành Huế là một dãy thành lũy dài cao 6,60m, dày 21m, vớichu vi gần 9.000m Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài.Bên ngoài,dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua

8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc,Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam Ngoài ra hai bên Kỳ Ðài còn

có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức Ngoài ra còn có hai cửa bằng đườngthủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Ðông Thành Thủy Quan và Tây ThànhThủy Quan Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời GiaLong gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Ðài cóchu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với hào của Hoàng Thành

Theo nguyên tắc địa lý phong thủy của Ðông Phương và thuyết

âm dương-ngũ hành của Dịch học Kinh thành quay mặt về hướngNam, dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng 2 hòn đảo nhỏ trên sôngHương (Cồn Hến - Cồn Dã Viên) làm rồng chầu hổ phục (Tả ThanhLong - Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ đế đô Dòng Sông Hương chảyngang trước mặt dùng làm Minh Ðường Bốn mặt kinh thành đềuđược bao bọc bởi hệ thống sông ngòi gọi là sông Hộ Thành

Nằm trong lòng Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành được gọichung là Ðại Nội Hoàng Thành dùng để bảo vệ khu vực các cơ quan lễnghi, chính trị quan trọng nhất của triều đình và các điện thờ Tử Cấm

Trang 21

thành bảo vệ nơi làm việc, ăn ở và sinh họat hàng ngày của nhà vua và giađình

Ðược xây dựng từ 1804-1833, Ðại Nội có mặt bằng xây dựng theohình gần vuông, mặt trước và mặt sau dài 622m, mặt trái và phải 604m.Thành xung quanh xây bằng gạch (cao 4,16m, dày 1,04m), bên ngoài có hệthống hộ thành hào, gọi là Kim Thủy Hồ, để bảo vệ thành Mỗi mặt trổ mộtcửa để ra vào: Ngọ Môn (trước), Hòa Bình (sau), Hiển Nhơn (trái),Chương Ðức (phải) Cửa chính của Ngọ Môn chỉ dành cho vua đi Hệthống kiến trúc ở Ðại Nội đã được hoạch định theo những nguyên tắc chặtchẽ, đăng đối: chia ra các vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ, chiêu mục tất cảđều nhất quán Nó thể hiện những khái niệm về triết lý chính trị Nho giáophương đông Phần lớn các công trình kiến trúc ở đây đều làm bằng gỗ quý ,nhưng cũng không chịu đựng nổi với thiên tai, khí hậu khắc nghiệt hàng thế

kỷ qua và các cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề Cho nên một số công trình đã

bị hư hỏng, các di tích quý này hiện nay đang được Nhà nước quan tâm đầu

tư kinh phí để phục hồi, tôn tạo

Hoàng Thành

Hoàng Thành (Ðại Nội): Nằm ở khoảng giữa kinh thành là nơi đặtcác cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ và là nơi thờ tự các vua chúa đãquá cố Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600m, xâybằng gạch, cao 4m, dày 1m, xung quanh có hào bảo vệ, có 4 cửa để ra vào,riêng Ngọ Môn chỉ dành để cho vua đi

Kỳ Đài, tục gọi Cột cờ là di tích kiến trúc thời Nguyễn Kỳ Đài đượcxây dựng năm Gia Long thứ 6 (1807) ở vị trí chính giữa trên mặt nam củaKinh thành, thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh

Trang 22

Kỳ Đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ Đài cờ là một cái đài đồ sộ gồm 3tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau Tầng thứ nhất cao hơn 5,5m,tầng giữa cao gần 6m, tầng trên cùng cao hơn 6m Tổng cộng của ba tầngđài cao khoảng 17,5m

Chung quanh mỗi tầng đều có xây lan can, mặt nền của các tầng đàiđều lát gạch Bát Tràng Lối đi từ tầng dưới lên tầng trên cùng trổ ở mặtbắc ở tầng trên cùng, xưa có hai điếm canh và pháo xưởng để bố trí cáckhẩu đại bác Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm 2 tầng, cao gần 30m.Năm Thiệu Trị 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài suốthơn 32m Đến năm Thành Thái 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớnthổi gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang Năm 1947, khi quân Pháptái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa Năm 1948, cột cờbằng bê-tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m hiện thấy mới được xây dựng

Thời Nguyễn, trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du chođến việc cấp báo đều có hiệu cờ Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quansát gọi là Vọng Đẩu Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùngkính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển

Cùng với những bước thăng trầm của Huế, Kỳ Đài là nơi chứng kiếnnhiều sự kiện lịch sử quan trọng Ngày 23/8/1945, lần đầu tiên lá cờ củanước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tung bay phất phới trên đỉnh Kỳ Đài,báo hiệu sự chấm dứt của chế độ quân chủ Kỳ Đài không chỉ là vị trí trungtâm của Thành phố Huế mà còn là một biểu tượng của mảnh đất này

Ngọ Môn

Là di tích kiến trúc thời Nguyễn, cổng

chính phía nam của Hoàng thành Ngọ môn

Trang 23

được xây dựng năm Minh Mạng 14 (1833), khi triều Nguyễn tổ chức quyhoạch, sắp xếp lại toàn bộ mặt bằng kiến trúc Hoàng Thành và Tử CấmThành Nguyên tại vị trí này là Nam Khuyết Đài, xây dựng vào đầu thờiGia Long Trên đài có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa là Tả ĐoanMôn và Hữu Đoan Môn.

Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ Theo quanniệm của địa lý phong thủy Phương Đông, đây là hướng Nam (theo mộttrục rộng từ đông nam đến tây nam) Hướng của Ngọ Môn cũng như toàn

bộ kinh thành Huế trên thực tế là hướng càn – tốn (tây bắc – đông Nam)nhưng vẫn được xem là hướng Ngọ, hướng Nam, hướng mà dịch học dànhcho các vị vua chúa Ngọ Môn là một chiếc cửa đặc biệt, bởi nó không đơnthuần là một chiếc cửa thành mà còn là một lễ đài quan trọng bậc nhất củatriều Nguyễn Cấu trúc của Ngọ Môn, vì vậy cũng rất đặc biệt

Trên nền Nam Khuyết Đài xưa, triều Nguyễn đã cho xây dựng mộtchiếc cửa thành mới là Ngọ Môn với bình diện thoáng nhìn ngỡ như tương

tự Nhưng trên thực tế, cấu trúc của Ngọ Môn khác xa Nam Khuyết Đài!Hiện nay ba mặt Đông-Tây-Bắc của Hoàng thành Huế vẫn còn các khuyếtđài Đó là những cấu trúc được đặt lồi hẳn ra bên ngoài tường thành vàkhông có cửa trổ xuyên qua Có lẽ Nam Khuyết Đài cũng có bình diệntương tự các khuyết đài này nhưng lại có trổ 2 cửa ở hai bên, mang tên là

Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn Ngọ Môn, trái lại, cấu trúc cũng đượcđặt lồi ra phía ngoài tường thành nhưng lại tạo nên một hình chữ U vớiphần bụng-lõm đặt hướng ra phía ngoài Cấu trúc này khiến nhiều ngườiliên tưởng đó là một vòng tay rộng mở để đón khách muôn phương Nhưng điểm khác nhau quan trọng nhất giữa Đoan Môn và Ngọ Môn là cấutạo và ý nghĩa của hai công trình này Theo quy chế thành trì Trung Hoa

Trang 24

được quy định trong Khảo Công Ký, Đoan Môn với 2 lối đi trổ hai bên chỉ

là chiếc cửa dành cho Chư hầu, còn Ngọ Môn với 5 lối đi thực sự là chiếccửa của bậc hoàng đế Trước đây nhiều quan điểm cho rằng việc xây cửanhư vậy là do ảnh hưởng của kiến trúc nước ngoài nhưng thực sự khôngphải

Về kiến trúc, Ngọ môn gồm hai phần chính: Đài – cổng và lầu NgũPhụng

Phần đài – cổng có bình diện hình chữ U vuông góc, đáy dài 57.77m,xây bằng gạch đá kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau Đàicao 5m, trên diện tích hơn 1560m2 Vật liệu xây dựng đài chủ yếu là gạch

vồ, đá Thanh và vữa tam hợp cùng những thanh đồng thau dung làm xàchịu lực ở trên 3 cửa giữa Bộ mái chính giữa lợp ngói Hoàng lưu ly, tám

bộ còn lại lợp ngói Thanh lưu ly

Thân đài có 5 lối đi: lối chính giữa là Ngọ Môn, nơi chỉ giành chovua đi; hai bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, dành cho quan văn võtheo cùng trong đoàn Ngự đạo Hai lối đi bên ngoài cùng Tả Dịch Môn vàHữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu Lối kiến trúc 5cổng kiểu “ba cửa thắng, hai cửa quanh” rất giống “minh tam ám ngũ”(nhìn rõ 3 nhưng thực ra trong long là 5) của Ngọ Môn ở Cố cung BắcKinh Điểm đặc biệt của 2 chiếc cửa có lối đi hình chữ L này là mỗi cửađều được bố trí thêm một cửa sổ hình tròn trang trí hình chữ thọ cách điệutrên bức tường ngoài thân đài Mỗi cửa sổ này có đường kính 87cm, đượcđặt chéo một góc 300, tương ứng với đoạn bẻ vuông góc của lối đi, nhằmtăng cường thêm ánh sáng cho đường hầm.Phía trên của 5 lối đi này đềuxây kiểu vòm cuốn, phần lớn ốp bằng đá thanh, riêng ở hai đầu ba lối đigiữa thì có những hệ thống xà đồng hình khối chữ nhật đặt ngang dọc Đây

là hệ thống xà nhằm gia cường khả năng chịu lực của thân đài, bởi bên trên

Trang 25

nó còn có cả hệ thống kiến trúc đồ sộ của lầu Ngũ Phụng Bên ngoài cácthanh xà đồng này có bọc một lớp đồng dát mỏng và được mài bóng quathời gian Phía trước cửa chính giữa, ở phía trên có một ô hộc hình chữnhật, trong gắn hai chữ Hán lớn “Ngọ Môn”

Hệ thống bậc cấp từ mặt đất lên nền đài được bố trí ở hai bên thânđài và nằm hẳn về phía sau, lùi vào trong so với bức tường trước củaHoàng thành Mỗi hệ thống bậc cấp gồm 21 bậc, làm hoàn toàn bằng đáthanh, mỗi bậc cao 22cm Quanh trên nền đài là hệ thống nữ tường (lancan) được trang trí bằng nhiều kiểu gạch hoa đúc rỗng tráng men màu

Kiến trúc của Ngọ Môn có dáng dấp tương tự Thiên An môn ở Cốcung Bắc Kinh nhưng vẫn thể hiện rõ phong cách kiến trúc dân tộc NgọMôn của Huế trông nhẹ nhàng, duyên dáng và xưa nay vẫn được xem làmột đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc cung đình Huế Ngọ Môn cũng là nơichứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Nơi đây ngày xưa vẫn thườngdiễn ra các lễ lạc quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Ban sóc (banlịch mới), Truyền Lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa) Ngày 30 tháng 8năm 1945, Ngọ Môn là nơi chứng giám lễ thoái vị của hoàng đế Bảo Đại,

vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam

Tử Cấm Thành

Tử Cấm Thành: Có mặt bằng cũng gần vuông, cao 3,7m, mặt trước

và sau dài 324m; mặt trái và phải dài 290m Quanh thành trổ 10 cửa ÐạiCung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua ra vào, hiện nay đã hưhại hòan toàn Bức bình phong to rộng dăng ngang sau lưng đIện CầnChánh (nơi vua làm việc hàng ngày) là dấu hiệu cho biết thế giới sau đóchỉ dành riêng cho vua và gia đình Trong đó có hàng trăm cung nữ vàhàng chục thái giám thường trú để phục vụ hoàng gia Trong khu vực này

có gần 50 công trình kiến trúc vàng son lộng lẫy bao gồm: điện Càn Thành

Trang 26

(nơi vua ở), điện Khôn Thái (nơi vợ chính vua ở), Duyệt Thị Ðường (nhàhát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu (nơi vua đọcsách),.điện Quang Minh (nơi ở các hòang tử), điện Trinh Minh (nơi cáchòang hậu ở), điện Kiến trung, vườn Cẩm Uyển

Cửu Đỉnh

Ðặt tại sân Thế Miếu, là sản phẩm độc đáo, tinh xảo, được Bộ Côngđúc tại Huế từ cuối năm 1835-đầu 1837 Cửu

Ðỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn mãi

mãi của triều đinh nhà Nguyễn và sự giàu đẹp

của đất nước Ðiều đó được thể hiện rất rõ trong

việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc và các hoa văn

chạm nổi trên Cửu Ðỉnh Mỗi đỉnh có khắc một

tên riêng bằng chữ Hán, lấy từ miếu hiệu (tên để thờ cúng) của một vị vuanhà Nguyễn Và cái đỉnh đó được xem là biểu tượng của vị vua đó CaoÐỉnh (vua Gia Long) ở vị trí chính giữa, Ðỉnh hai bên trái phải lần lượt là:Nhân Ðỉnh (vua Minh Mạng), Chương Ðỉnh ( vua Thiệu Trị), Anh Ðỉnh (vua

Tự Ðức), Nghị Ðỉnh (vua Kiến Phúc), Thuần Ðỉnh (vua Ðồng Khánh), TuyênÐỉnh (vua Khải Ðịnh), Dụ Ðỉnh, Huyền Ðỉnh (chưa tượng trưng cho ôngvua nào cả, mặc dù triều Nguyễn còn có 6 vị vua khác)

Giá trị của 9 Ðỉnh trước hết ở tầm vóc to lớn và trình độ đúc đồng tinhxảo của các nghệ nhân đúc đồng Huế Cao Ðỉnh cao 2,5m, nặng 2601kg-làđỉnh cao và nặng nhất Huyền Ðỉnh cao 2,31m, nặng 1935kg - là đỉnh thấp vànhẹ nhất Thoạt nhìn 9 đỉnh trông có vẻ giống nhau nhưng thực ra mỗi đỉnhlại là một nét khác biệt, điều này thể hiện ở các hình chạm trổ trên mỗi đỉnh.Quanh hông đỉnh đều chạm trỗ 17 cảnh vật Như vậy có tới 153 cảnh vậtđược chạm nổi trên Cửu Ðỉnh Ðó là các hình ảnh: núi, sông, trăng, sao, cây

Trang 27

cối, hoa, súc vật, vũ khí, xe, thuyền Có thể xem 153 bức chạm khắc ấy là

153 bức tranh Ta sẽ thấy sông Hồng trên Tuyên Ðỉnh, sông Cửu Long trênHuyền Ðỉnh, sông Hương trên Nhân Ðỉnh

Chín đỉnh được sắp thành một hàng ngang dưới thềm Hiển LâmCác, nằm theo thứ tự các án thờ trong Thế Miếu Riêng Cao Ðỉnh được đặtnhích về phía trước 8 đỉnh kia một khoảng gần 3m, vì vua Minh Mạng chorằng Gia Long là vị vua có công lớn nhất đối với triều đại

Cửu Đỉnh là di sản văn hóa truyền thống duy nhất hầu như cònnguyên vẹn, hiếm có ở mảnh đất khắc nghiệt và chiến tranh liên miên nhưThừa Thiên Huế

Thế Miếu

Thế Miếu là nơi thờ cúng các vua Nguyễn Đây là một trong những

công trình to lớn bậc nhất so với các miếu, điện ở

Năm 1804, Gia Long cho xây dựng miếu HoàngKhảo ở vị trí của Thế Miếu ngày nay để thờ chamình là Nguyễn Phúc Luân Sau khi vua Gia Longmất, Minh Mạng lên nối ngôi, năm 1821 ông đã chodời miếu Hoàng Khảo lui về phía sau vài chục mét, đổi thành Hưng Miếu,còn xây Thế Miếu vào vị trí ấy vào năm 1821 - 1822 để thờ vua Gia Long,

và các vua kế vị về sau

Thế Miếu được xây dựng trên mặt bằng 1.500m² , cũng là toà nhàkép theo kiểu "trùng thiềm, trùng lương" như Ðiện Thái Hoà Tiền doanh( nhà trước) có 11 gian và chính doanh (nhà sau) có 9 gian Hai doanh nối với nhau bằng trần vỏ cua Tất cả có chung một đường mà

Trang 28

ngăn riêng từng thất tức là cùng một toà nhà mà chia ra nhiều ngăn, mộtgian thiết trí, một án thờ giành cho một vị vua Nền Thế Miếu cao, ngày xưa lát gạch men Bát Tràng màu vàng và lục Quacác lần tu sửa trước năm 1975, nền tiền doanh được lát lại bằng gạch hoatráng men vàng, nền chính doanh tráng xi măng Các cột kèo, đòn tay, liên

ba, đố bản đều sơn thếp nhưng màu sắc nay đã phai úa đi nhiều Chỉ cócác khám thờ và án thờ còn giữ được màu sơn son thếp vàng Trước mỗikhám thờ đều treo một bức sáo để che Bộ mái trước kia lợp ngói ống menvàng (hoàng lưu ly) nay đã thay bằng ngói thường Trên nóc nhà trướcchắp bằng pháp lam ngũ sắc Các bờ nóc, bờ quyết đều đắp hình rồng

Nội thất Thế Miếu, cho đến giữa thế kỷ 20 (1954) chỉ có 7 án thờ, mỗi ánmột gian, các gian thừa để trống

Cung Diên Thọ

Cung Diên Thọ nằm ở phía tây bắc

trong Hoàng thành, phía trước cung

Trường Sanh, phía sau điện Phụng Tiên

Cung Diên Thọ, tên ban đầu là cung

Trường Thọ, được xây dựng từ năm 1803,

dùng làm nơi ở và sinh hoạt hàng ngày của hoàng thái hậu (mẹ vua) Vềsau, cung được đổi tên bốn lần nữa là Từ Thọ, Gia Thọ, Ninh Thọ và DiênThọ, kiến trúc cung cũng có thay đổi, nhưng chức năng vẫn không thay đổi,tức vẫn là một biệt cung của các hoàng thái hậu (có khi cả thái hoàng tháihậu) triều Nguyễn và bản thân tên cung vẫn giữ nguyên ý nghĩa mongmuốn kéo dài tuổi thọ, kéo dài sự sống

Trang 29

So với các khu vực khác bên trong Hoàng thành, cung Diên Thọ cóquy mô tương đối lớn Cung có vòng tường gạch cao trên 2m ngăn cách.Bốn hướng trổ 4 cổng, quan trọng nhất là cổng Thọ Chỉ, cổng chính ở mặtnam và cổng ở phía đông, cổng có hành lang thông qua Tử Cấm thành.Hướng chính của cung Diên Thọ là hướng Tây Bắc - Đông Nam, tức làtheo hướng chung của Kinh thành Huế.

Trong khu vực cung có khoảng 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ Cáccông trình này vừa phong phú về loại hình (điện, tạ, lầu, các) vừa đa dạng

về phong cách kiến trúc, bởi chúng được xây dựng, cải tạo trong nhữngthời kỳ lịch sử khác nhau Có thể nói, khu vực cung Diên Thọ là một tậphợp điển hình các phong cách kiến trúc thời Nguyễn

Công trình kiến trúc trung tâm của cung Diên Thọ là ngôi điện chính.Điện là một tòa nhà kép kiểu trùng thiềm điệp ốc rất đồ sộ, có diện tích nềnđến 960m2 Chính điện 7 gian 2 chái, tiền điện 5 gian 2 chái kép, được nốiliền với nhau bằng bộ vì vỏ cua chạm trổ tinh xảo

Phía sau điện chính của cung là điện Thọ Ninh, ngôi điện thườngdành cho bà thái hậu thứ hai Xưa, kiến trúc điện khá lớn, có đến 7 gian,sau thu hẹp còn 3 gian 2 chái Từ điện Thọ Ninh qua ngôi điện chính cóhành lang nối thông

Phía đông điện chính là nhà tạ Trường Du, một công trình kiến trúc

gỗ xinh xắn đặt trên một cái hồ hình chữ nhật, diện tích 530m2 Tòa thủy tạnày được xây dựng năm 1849, làm nơi hóng mát, tiêu giao cho các bà tháihậu Ở mặt nam, Tạ Trường Du lại được gắn liền với một ngôi đình nhỏmang tên đình Lương Phong Từ đình Lương Phong, có cầu nối qua hai

Trang 30

cụm giả sơn đặt giữa hồ Từ Tạ Trường Du cũng có hành lang nối thôngđến điện chính.

Phía tây bắc của điện chính là am Phước Thọ, còn có tên gọi khác làgác Khương Ninh Đây là một tòa kiến trúc gỗ hai tầng, dựng từ năm 1831,làm nơi các bà thái hậu thờ phật và các vị thánh thần khác Tầng trên gồmnăm gian, dành làm nơi thiết trí tượng phật, tượng thần và các án thờ Tầngdưới, ngoài năm gian chính, còn có một hệ thống chái chạy quanh 4 mặt

Am hướng về phía tây nam, trước mặt có giả sơn

Phía tây nam của điện chính, xưa có tòa Thông Minh Đường, mộtnhà hát cung đình đặc biệt dành cho hoàng thái hậu Năm 1927, người taxây một tòa nhà hai tầng theo kiểu mới, thay vào chỗ của Thông MinhĐường Năm 1950, ngôi nhà mới này được cải tạo lại rộng hơn để làm nơi

ở và sinh hoạt tạm thời cho quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại

Đối diện với Tịnh Minh Lâu là Tả Trà, dành cho khách ngồi đợi khiđến cung Diên Thọ thăm thái hậu

Ngay phía trước điện chính là mộttấm bình phong dài bằng gạch, mặt trước cótrang trí đắp nổi rất sinh động, ở phía đôngcủa bình phong này là hành lang nối thôngqua Tử Cấm thành để vua có thể qua về vấn

an thái hậu hoặc thái hoàng thái hậu Hệthống hành lang ở cung Diên Thọ đều cómái che lợp ngói, nối thông tất cả các công trình kiến trúc chính trongcung Vì vậy, sự có mặt của hệ thống trường lang này vừa tạo nên sự thống

Trường Du Tạ

-cung Diên Thọ

Trang 31

nhất bền vững của quần thể các công trình, vừa tạo được vẻ mềm mại, uyểnchuyển của tổng thể kiến trúc trong khu vực cung.

Chùa Thiên Mụ (Linh Mụ)

Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùanằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sôngHương, cách trung tâm thành phố Huếkhoảng 5km về phía tây Chùa Thiên Mụchính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601),đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng -vị chúaNguyễn đầu tiên ở Đàng Trong Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất củaHuế Trước thời điểm khởi lập chùa, trên đồi Hà Khê có ngôi chùa cũngmang tên Thiên Mỗ hoặc Thiên Mẫu, là một ngôi chùa của người Chăm1

Truyền thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứThuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam, ông đã đích thân đi xem xét địa thế

ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơncho dòng họ Nguyễn sau này Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờsông Hương ngược lên phía đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhôlên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồngđang quay đầu nhìn lại, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê

Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà

lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người: "Rồi đây sẽ

có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho

Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịpđược với ý nguyện của dân chúng Nguyễn Hoàng cả mừng, vào năm 1601

Trang 32

đã cho dựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là

"Thiên Mụ"

Dựa theo huyền thoại, đồng thời căn cứ hình dạng Hán tự từng ghitrên bao tài liệu cấu tạo bằng nhiều chất liệu, đủ khẳng định rằng trong tênThiên Mụ, ngữ tố "Thiên" có nghĩa là "trời"

Năm 1862, dưới thời vua Tự Đức, để cầu mong có con nối dõi, nhàvua sợ chữ "Thiên" phạm đến Trời nên cho đổi từ "Thiên Mụ" thành "LinhMụ" (hay "Bà mụ linh thiêng")

Vấn đề kiêng cữ như đã nêu chỉ diễn tiến từ năm Nhâm Tuất (1862)cho tới năm Kỷ Tỵ (1869) Sau đó, người dân thoải mái gọi hai tên: chùaThiên Mụ và chùa Linh Mụ

Vì rằng từ "Linh" đồng nghĩa với "Thiêng", âm người Huế khi nói

"Thiên" nghe tựa "Thiêng" nên khi người Huế nói "Linh Mụ", "Thiên Mụ"hay "Thiêng Mụ" thì người nghe đều hiểu là muốn nhắc đến chùa này

Một số người còn đặt tên cho chùa là Tiên Mụ (hay "Bà mụ thầntiên") Cách gọi này không được giới nghiên cứu chấp nhận

Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúaTiên - Nguyễn Hoàng.Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộngngay từ thời đó, chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ ĐàngTrong Trải qua bao biến cố lịch sử, chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làmđàn Tế Đất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788), rồi được trùng tu táithiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn

Năm 1844, nhân dịp mừng lễ "bát thọ" của bà Thuận Thiên CaoHoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị

Trang 33

kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn: xây thêm một ngôi tháp bátgiác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên), đình Hương Nguyện vàdựng 2 tấm bia ghi lại việc dựng tháp, đình và các bài thơ văn của nhà vua.

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùaThiên Mụ Tháp cao 21 m, gồm 7 tầng, được xây dựng ở phía trước chùavào năm 1844 Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật Bên trong có cầuthang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phậtbằng vàng Phía trước tháp là đình Hương Nguyện, trên nóc đặt Pháp luân(bánh xe Phật pháp, biểu tượng Phật giáo.Pháp luân đặt trên đình HươngNguyện quay khi gió thổi) Tháp được coi là tháp cổ nhất Việt Nam

Trận bão năm 1904 đã tàn phá chùa nặng nề Nhiều công trình bị hưhỏng, trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn (nay vẫn còn dấutích) Năm 1907, vua Thành Thái cho xây dựng lại, nhưng chùa không cònđược to lớn như trước nữa Hai bên tháp có hai nhà tứ giác, đặt hai tấm biađời Thiệu Trị Sâu vào bên trong là hai nhà lục giác, một nhà để bia và mộtnhà để quả chuông đúc đời chúa Nguyễn Phúc Chu

Chùa Thiên Mụ được xếp vào hai mươi thắng cảnh đất Thần Kinhvới bài thơ Thiên Mụ chung thanh do đích thân vua Thiệu Trị sáng tác vàđược ghi vào bia đá dựng gần cổng chùa

Qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ, ngoài những công trình kiến trúcnhư tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ ngày nay còn là nơi có nhiều cổvật quí giá không chỉ về mặt lịch sử mà còn cả về nghệ thuật Những bứctượng Hộ Pháp, tượng Thập Vương, tượng Phật Di Lặc, tượng Tam Thế

Trang 34

Phật hay những hoành phi, câu đối ở đây đều ghi dấu những thời kỳ lịch

sử vàng son của chùa Thiên Mụ

Trong khuôn viên của chùa là cả một vườn hoa cỏ được chăm sócvun trồng hàng ngày Ở đó, hòn non bộ của vị tổ nghề hát tuồng Việt Nam

là Đào Tấn được đặt gần chiếc xe ô tô - di vật của cố Hòa thượng ThíchQuảng Đức để lại trước khi châm lửa tự thiêu để phản đối chính sách đàn

áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963.Cuối khu vườn là khu

mộ tháp của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, vị trụ trì nổi tiếng của chùaThiên Mụ, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những hoạt động íchđạo giúp đời

Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng)

Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kì, phong cảnh hữu tình, là một trongnhững công trình kiến trúc đẹp nhất của nhà Nguyễn Lăng tọa lạc trongmột thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng cư Chánh,không xa Đàn Nam Giao là mấy (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân,thành phố Huế) Lăng được xây dựng năm 1864 và hoàn thành năm 1867

Với 36 năm trị vì, Tự Đức (1848-1883) là ông vua tại vị lâu nhấttrong số 13 ông vua triều Nguyễn Ông tên là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm,con trai thứ hai của vua Thiệu Trị Là con

thứ hai, nhưng do người anh cả là Hồng Bảo

tài năng thấp kém, tính cách ngang ngược

nên bị truất quyền thừa kế, Hồng Nhậm lên

ngôi và lấy niên hiệu là Tự Đức

Tự Đức sớm nghĩ đến việc xây dựng lăng cung này như một hànhcung thứ hai, vừa để tiêu sầu vừa để đề phòng “ra đi bất chợt”

Trang 35

Toàn bộ công tác kiến trúc của lăng tẩm này được dự liệu sẽ thi côngtrong 6 năm với 3000 lính và thợ, họ sẽ được thay phiên nhau về nghỉ 3tháng 1 lần Nhưng viên Biện lý bộ Công lúc bấy giờ là Nguyễn Văn Chấttâu xin thực hiện trong 3 năm mà thôi Triều đình cử ông và thống chế LêVăn Xa ở bộ Binh đứng ra coi sóc việc thi công.

Lúc mới khởi công, vua Tự Đức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt cho côngtrình, với mong muốn được trường tồn Cuộc nổi loạn Chày Vôi của anh

em Đoàn Hữu Trưng tiến hành vào đêm 16 rạng 17/9/1866 Sau sự kiệnnày, vua đổi tên lăng thành Khiêm Cung Sau khi Tự Đức mất, lăng đượcđổi thành Khiêm Lăng

- Bố cục lăng:

Trong số 13 vua triều Nguyễn, vua Tự Đức là người uyên thâm nhất

về nền học vấn phương Đông, nhất là Nho học Vua giỏi cả về triết học, sửhọc, văn học nghệ thuật và đặc biệt rất yêu thơ Tư chất ấy cũng được thểhiện rõ trong kiến trúc của Khiêm Lăng

Bố cục lăng gồm 2 phần chính, bố trí trên 2 trục dọc song song vớinhau Cả hai khu cùng lấy núi Giáng Khiêm là tiền án, núi Dương Xuânlàm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố Minh Đường

Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên với phong cảnh hữu tình,chim muông ca hát quanh năm Có suối chảy, thông reo như một bức tranhsơn thủy với những nét chấm phá tuyệt đẹp

Trong vòng La Thành rộng khoảng 12ha, gần 50 công trình kiến trúclớn nhỏ dàn trải thành cụm trên những thế đất phức tạp cao thấp hơn nhauchừng 10m.Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng

mộ này đều có chữ Khiêm trong tên gọi Con đường lát gạch Bát Tràng bắtđầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn Con đường này đãnối tất cả các công trình kiến trúc lại thành một thể thống nhất, tương quan,gần gũi

Trang 36

Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần là khu điện thờ, nơitrước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua Đầu tiên là Chí Khiêm Đường

ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanhdẫn vào Khiêm Cung Môn - một công trình hai tầng dạng vọng lâu như mộtthế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước Giữa hồ có đảo TịnhKhiêm với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm.Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đếnngắm hoa, làm thơ, đọc sách…

Bên trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗikhi đến đây Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờcúng bài vị của vua và Hoàng hậu Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và

Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu Sau điện Hòa Khiêm làđiện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờvong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức Bên phải điện Lương Khiêm là ÔnKhiêm Đường - nơi cất đồ ngự dụng Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm

có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong nhữngnhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn Có một hành lang từ điện ÔnKhiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phitheo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết.Cạnh đó là Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện và vườn nuôi nai của vua

Qua khỏi khu vực tẩm điện là khu lăng mộ Ngay sau Bái Đình vớihai hàng tượng quan viên văn võ uy nghi là Bi Đình với tấm bia bằng đáThanh Hóa nặng 20 tấn có khắc bài “Khiêm Cung Ký” do chính Tự Đứcsoạn Toàn bài văn dài 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộcđời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, kể công vànhận tội của Tự Đức trước lịch sử Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu sừng

Trang 37

sững như hai ngọn đuốc tỏa sáng cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng nonđựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội.

Lăng Tự Đức là bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thuỷ hữu tình,gợi cho du khách một "hồn êm thơ mộng"

Lăng Khải Định

Vua Khải Định (1885-1925) là vị vua thứ

12 của nhà Nguyễn, trị vì từ 1916 đến1925.Trị vì được một thời gian, Khải Địnhnghĩ đến việc xây dựng sinh phần chomình.So với 6 khu lăng của các vua nhàNguyễn, lăng Khải Định là lăng sau cùng,

và mặt bằng kiến trúc nhỏ nhất, nhưng lại là lăng có thời gian xây dựng dàinhất (11 năm từ 1920 đến 1931) và chi phí tốn kém nhất

Năm 1920, sau khi các thầy địa lý đi coi đất và chọn địa điểm xong, triềuđình huy động nhiều tù nhân và binh lính ở Huế lên làm việc khổ sai như

mở đường, phá núi, làm toại đạo, tạo ra một mặt bằng xây dựng ở triền phíatây một ngọn núi thuộc vùng Châu Chữ Tọa lạc tại vị trí này, lăng KhảiĐịnh lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp Vung vàKim Sơn châu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”, có kheChâu E chảy từ trái qua phải làm “thủy tu”, gọi là “minh đường” Nhà vuađổi tên núi Châu Chữ vừa là hậu chẩm, vừa là tiền án của lăng, thành ƯngSơn và gọi tên lăng theo tên núi: Ưng Lăng Lăng khởi công ngày 4-9-1920

Khởi đầu xây dựng, Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép,

xi măng, ngói Ardoise…, cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ

Trang 38

sứ, thủy tinh màu để kiến thiết công trình So với lăng của các vua tiềnnhiệm, lăng Khải Định có diện tích rất khiêm tốn:117m x 48.5m nhưng cực

kỳ công phu và tốn kém Toàn cảnh lăng Khải Định có nét gì đó vừa quenvừa lạ

Tổng thể lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao với 127 bậccấp dường như là muốn thể hiện khát vọng tự do của ông vua bù nhìnnày.Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc: Ấn Độ giáo, Phật giáo,Roman, Gothique… đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể: nhữngtrụ cổng hình tháp ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ; trụ biểu dạng stoupa củanhà Phật; hang rào như những cây thánh giá khẳng khiu; nhà bia với nhữnghàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể… Điều này là kếtquả của hai yếu tố: sự giao thoa văn hóa Đông-Tây trong thời điểm giaothoa của lịch sử và cá tính của Khải Định

Dưới thời Khải Định, chủ quyền Việt Nam đã lọt hẳn vào tay Pháp,văn hóa phương Tây đang du nhập mạnh vào Việt Nam nên lăng Khải Địnhmang nhiều yếu tố kiến trúc phương Tây Các yếu tố kiến trúc không còngiữ được tính dân tộc nói chung, kiến trúc Nguyễn nói riêng Thoạt nhìn,lăng giống như một lâu đài ở châu Âu với những yếu tố hiện đại quá mứclấn át truyền thống Hình khối bê tông nặng của tông thể lăng, của các conrồng to lớn, cứng đã làm cho lăng Khải Định khác hẳn các lăng vuaNguyễn trước đó Nhiều ý kiến cho rằng kiến trúc của lăng mang tính laicăng nhưng nhiều ý kiến lại nhận định đây là công trình có giá trị nghệthuật cao Chính óc thông minh, sự chọn lọc tinh tế và đôi tay tài hoa khéoléo của người thợ Việt Nam đã tạo cho công trình những tuyệt tác nghệthuật

Trang 39

Cung Thiên Định ở vị trí cao nhất là kiến trúc chính của lăng, nơi tàihoa của những người thợ được phô diễn một cách hoàn hảo nhất Côngtrình này gồm 2 phần liền nhau: 2 bên là Tả, Hữu Trực phòng dành cholính hộ lăng; phía trước là điện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dungvua Khải Định, chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua và mộ phần phíadưới; trong cùng là khám thờ bài vị của ông vua quá cố Toàn bộ nội thấtcủa 3 gian giữa trong cung Thiên Đình đều được trang trí những phù điêughép bằng sành sứ và thủy tinh Những bức họa long vân với diện tích hàngchục mét vuông trên trần 3 phòng giữa cung Thiên Định được coi là nhữngbức họa hoành tráng có giá trị nghệ thuật đặc biệt của nền hội họa ViệtNam Đó là những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vươngmiện… Những vật liệu cứng, biệt lập, qua bàn tay vàng khéo léo của cácnghệ nhân đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật mềm mại, sống động và

vô cùng rực rỡ Dưới bửu tán là hai pho tượng bằng đồng tạc hình vua:tượng ngồi trên ngai vàng được thực hiện vào năm 1920 tại Paris, do haingười Pháp là P.Ducuing tạc tượng và F.Barbedienne đúc, trong long rỗng,sau đó đưa về Huế mới mạ vàng bên ngoài.Thi hài nhà vua được đưa vàodưới pho tượng bằng một loại toại đạo dài gần 30m, bắt đầu từ phía sau Biđình Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết củavua

Bãi biển Lăng Cô

Bãi biển Lăng Cô là một danh lam thắng cảnh thiên nhiên của tỉnhThừa Thiên - Huế Bãi biển Lăng Cô từ lâu đã nổi tiếng là một bãi biển cócác điều kiện tự nhiên và phong cảnh vào loại đẹp nhất ở Việt Nam – vớibãi cát trắng dài tới hơn 10 km, làn nước biển

trong xanh bao la tuyệt đẹp, bên cạnh đó là

Trang 40

những cánh rừng nhiệt đới rộng lớn trên những dãy núi nhấp nhô, nằm giữanúi rừng và biển là đầm Lập An rộng lớn (800 ha) đầy huyền bí.

Địa danh "Lăng Cô" có người cho rằng là do người Pháp đọc trại tên

"An Cư", vốn là làng chài ở phía nam đầm Cũng có người cho rằng lúctrước ở Lăng Cô có nhiều đàn cò, nên được gọi là Làng Cò, sau đó được

dân địa phương đọc trại lại là Lăng Cô Bãi biển Lăng Cô là một danh lam

thắng cảnh thiên nhiên của tỉnh Thừa Thiên - Huế Bãi biển Lăng Cô từ lâu

đã nổi tiếng là một bãi biển có các điều kiện tự nhiên và phong cảnh vàoloại đẹp nhất ở Việt Nam – với bãi cát trắng dài tới hơn 10 km, làn nướcbiển trong xanh bao la tuyệt đẹp, bên cạnh đó là những cánh rừng nhiệt đớirộng lớn trên những dãy núi nhấp nhô, nằm giữa núi rừng và biển là đầmLập An rộng lớn (800 ha) đầy huyền bí

Địa danh "Lăng Cô" có người cho rằng là do người Pháp đọc trại tên

"An Cư", vốn là làng chài ở phía nam đầm Cũng có người cho rằng lúctrước ở Lăng Cô có nhiều đàn cò, nên được gọi là Làng Cò, sau đó đượcdân địa phương đọc trại lại là Lăng Cô

Lăng Cô có vị trí địa lý nằm giữa 3 trung tâm Bảo tồn Di sản Vănhóa Thế giới là: Cố đô Huế, Khu phố cổ Hội An và Khu Thánh địa Mỹ Sơnvới bán kính là 70 km Lăng Cô có thể thu hút khách tham quan, nghiêncứu tại các trung tâm trên và giải tỏa áp lực những thời điểm đông khách

Lăng Cô nằm trên tuyến du lịch Bắc - Nam cách thành phố Đà Nẵng

30 km và thành phố Huế 70 km, có thể hỗ trợ phát triển các loại hình dulịch đa dạng cho 2 trung tâm du lịch quốc gia trên và tăng ngày nghỉ củakhách dừng chân tại Lăng Cô, như các du khách thường nói: “Lên non gặpNgười Hùng Bạch Mã, xuống biển gặp Người Đẹp Lăng Cô”

Ngày đăng: 18/12/2014, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tuyến điểm du lịch Việt Nam –Bùi Thị Hải Yến, NXB Giáo dục, 2006 Khác
2.Cẩm nang du lịch Việt Nam của Minh Anh - Hải Yến NXB thế giới, 2006 Khác
3. Non Nước Việt Nam – Tổng cục du lịch, trung tâm công nghệ thông tin – NXB Văn hóa thông tin, 2004 Khác
4. Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch – Đinh trung Kiên, nxb Đại học Quốc gia, 2006 Khác
5. Giáo trình nghiệp vụ lữ hành – Đinh Trung Kiên, Nguyễn Quang Vinh, NXB Đại học Quốc Gia, 2006 Khác
6. www. webdulich .com 7. www.mang dulich .com 8. www.travel.com.vn Khác
9. www. vietnamtourism-info.com 10. www. hotels-in-vietnam.com 11. www. hotels84.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w