1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quảng cáo của các doanh nghiệp ở việt nam

56 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 245,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy đứng trên cương vị là một nhà quản trịMarketing của doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm dầu gội đầu dành cho tóc "Sunsilk" mới thành lập ta phải làm như thế nào để sản phẩm của

Trang 1

v LỜI NÓI ĐẦU

I SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biếnmạnh mẽ Hoạt động sản xuất kinh doanh dưới sự quản lý của Nhà nướckhông còn tồn tại nữa Thay vào đó là nền kinh tế thị trường của thời mở cửađược tự do buôn bán, lưu thông ở trong và ngoài nước đang trên đà phát triểntốt đẹp vì vậy vai trò của Marketing ngày càng trở nên quan trọng và cần thiếtđối với các doanh nghiệp

Như ta đã biết, Marketing là "tìm hiểu thị trường" Vậy là một nhà quảntrị Marketing, chúng ta phải làm như thế nào để tìm hiểu, đáp ứng thoả mãnnhu cầu của người tiêu dùng và thị trường nhất là trong thời điểm hiện nay.Trên thị trường, các mặt hàng của các doanh nghiệp đang cạnh tranh nhau gaygắt Trong bối cảnh này, doanh nghiệp nào với phương pháp quảng cáo,quảng bá sản phẩm của mình hữu hiệu nhất sẽ dễ dàng chiếm được thị phầnlớn trên thị trường Do đó, quảng cáo là một việc làm hết sức quan trọng vàcần thiết đối với các doanh nghiệp trong đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề chúng

ta cần quan tâm

Ngày nay, vấn đề làm đẹp cho con người ngày càng được coi trọng vànâng cao nhất là mái tóc Mái tóc là một phần quan trọng của con người Nólàm tôn vinh vẻ đẹp của con người Nó cũng giúp con người thấy tự tin hơntrong cuộc sống Chính vì vậy đứng trên cương vị là một nhà quản trịMarketing của doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm dầu gội đầu dành cho tóc

"Sunsilk" mới thành lập ta phải làm như thế nào để sản phẩm của doanhnghiệp mình đứng vững trên thị trường và cạnh tranh một cách lành mạnh đốivới các doanh nghiệp khác mà vẫn đảm bảo 2 chức năng là chức năng thíchứng và chức năng tiêu thụ

Trang 2

II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trong nền kinh tế thị trường, hội nhập Quốc tế với tính cạnh tranhkhốc liệt như hiện nay thì vấn đề có tính chất quan trọng và quyết định đối với

sự tồn tại của một doanh nghiệp chính là hoạt động khuyếch trương khẳngđịnh vị thế tên tuổi của mình trên thị trường Vì điều này đồng nghĩa với việcdoanh nghiệp đó đang phát triển tốt mà vấn đề mấu chốt của việc chiếm thịphần kinh tế trên thị trường lại phụ thuộc nhiều vào quảng cáo thương hiệucủa doanh nghiệp đó ra thị trường

VD: dễ nhận thấy trước đây, chúng ta không biết hoặc biết rất ít đếncác sản phẩm như: dầu gội Enchanter, Doulberich hay bia Cashberg nhưng

do công tác quảng cáo, quảng bá sản phẩm một cách rộng khắp và liên tục vớinhiều hình thức như quảng cáo trên các thông tin đại chúng bán các sảnphẩm kèm theo những phần quà hấp dẫn mở các đợt khuyến mãi v.v thì cácsản phẩm nào giờ đây đã trở nên quen thuộc với mọi khách hàng Đó chính làhiệu quả của công tác quảng cáo Nó giúp cho khách hàng biết đến sản phẩmcủa Công ty mình rồi sau đó sẽ dẫn đến việc mua và dùng loại sản phẩm đãgây ra cho họ sự chú ý dẫn đến doanh thu bán của doanh nghiệp sẽ tăng lên

Vậy việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quảquảng cáo ở các doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng trong việc giúp chodoanh nghiệp đó tồn tại và phát triển

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động quảng cáo của các doanh

nghiệp ở Việt Nam

2 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 3

- Phương pháp khảo sát điều tra: Khảo sát điều tra hoạt động quảng cáocủa một số doanh nghiệp ở Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh của nhữngdoanh nghiệp đó.

- Phương pháp phân tích lịch sử: Thu thập các sách báo liên quan đếnhoạt động quảng cáo và Marketing

PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO

TRONG DOANH NGHIỆP

I CÁC KHÁI NIỆM VỀ QUẢNG CÁO

1.1 Theo quan niệm mọi người: Quảng cáo là hành vi đưa thương hiệusản phẩm của một doanh nghiệp đó tới người tiêu dùng thông qua các kênhphân phối và các phương tiện quảng cáo

1.2 Theo quan điểm của các nhà hoạt động thị trường (các chủ DN):Quảng cáo là hoạt động quảng bá thương hiệu sản phẩm của mình ra thịtrường đến với mọi người tiêu dùng nhằm mục đích bán thật nhiều sản phẩm

và thu được lợi nhuận cao

1.3 Theo giáo trình quản lý Marketing: Quảng cáo là phương sách cótính chất chiến lược để đạt được hoặc duy trì một lợi thế cạnh tranh trên thịtrường Trong nhiều trường hợp đầu tư cho quảng cáo là một sự đầu tư dàihạn

Đây là những vấn đề mấu chốt hiểu theo đúng nghĩa của hoạt độngMarketing Đó là chìa khoá để đạt được những mục tiêu trong kinh doanh củadoanh nghiệp là doanh nghiệp phải xác định đúng những nhu cầu và mongmuốn của thị trường (khách hàng) mục tiêu từ đó tìm mọi cách đảm bảo sự

Trang 4

thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng phương thức có ưu thế hơn so vớiđối thủ cạnh tranh.

II.Ý NGHĨA CỦA QUẢNG CÁO

- Quảng cáo giúp cho thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp tiếp cậnđến mọi khách hàng giúp cho khách hàng biết đến thương hiệu của sản phẩm

+ Quảng cáo có khuynh hướng xây dựng niềm tin của khách hàng vớicác nhãn hiệu sản phẩm

VD: Niềm tin của người tiêu dùng về ô tô chất lượng cao, sự sangtrọng, giá cả đắt đồng nhất với nhãn hiệu Mercedes - Benz

+ Quảng cáo giúp cho khách hàng biết đến sản phẩm của Công ty mình

và chấp nhận sản phẩm đó thông qua hình thức mua hàng làm cho doanh thucủa doanh thu của doanh thu tăng lên đồng nghĩa với lợi nhuận tăng

+ Quảng cáo giúp doanh nghiệp bán sản phẩm doanh thu cao và thịphần kinh tế trên thị trường ngày càng được mở rộng

III MỤC TIÊU CỦA QUẢNG CÁO

Bước đầu tiên phải thực hiện là xác định mục tiêu của quảng cáo Mụctiêu sẽ chi phối toàn bộ quá trình hoạt động của quảng cáo nhưng mục tiêunày phải xuất phát từ những quyết định về thị trường mục tiêu, về việc định vịsản phẩm hàng hoá của Công ty trên thị trường Thông thường, mục tiêuquảng cáo của doanh nghiệp thường hướng vào những vấn đề sau đây:

+ Tăng số lượng hàng tiêu thụ trên thị trường truyền thống

+ Mở ra thị trường mới

+ Giới thiệu sản phẩm mới

+ Xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệu hàng hoá và uy tíncủa Công ty

Bước đầu tiên phải thực hiện là xác định mục tiêu của quảng cáo.Mụctiêu sẽ chi phối toàn bộ quá trình hoạt động của quảng cáo nhưng mục tiêu

Trang 5

này phải xuất phát từ nhưng quyết định về thị trường mục tiêu này phải xuấtphát từ những quyết định về thị thị trường mục tiêu , về việc định vị sản phẩmhàng hóa của công ty trên thị trường Thông thường, mục tiêu quảng cáo củadoanh nghiệp thường hướng về những vấn đề sau đây:

+ Tăng số lượng hàng tiêu thụ trên thị trường truyền thống

+ Mở ra thị trường mới

+ Giới thiệu sản phẩm mới

+ Xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệu hàng hóa và uy tíncủa công ty

1 Tăng cường số lượng hàng tiêu thụ trên thị trường truyền thống.

Là việc xác định nhiệm vụ của xúc tiến bán hàng xuất phát từ mục tiêuchiến lược Marketing của công ty đối với sản phẩm hàng hóa ở thị trườngmục tiêu

Đối với người tiêu dùng thì khuyến khích họ tiêu dùng nhiều hơn, mua với

số lượng lớn hơn và mở ra những khách hàng mới

Đối với các thành viên trung gian: khuyến khích lực lượng này tăng cườnghoạt động phân phối hơn, đẩy mạnh các hoạt động mua bán, củng cố và mởrộng kênh phân phối, thực hiện dự trữ thị trường, phân phối thường xuyênliên tục, nhằm mở rộng mùa vụ tiêu thụ hàng tiêu dùng cho sản phẩm hànghóa

1.1 Lựa chọn phương tiện xúc tiến bán.

Có thể phân phối các công cụ xúc tiến bán thành các nhóm tùy thuộc vàomục tiêu, nội dung hoạt động xúc tiến bán thành các nhóm tùy thuộc vào mụctiêu, nội dung hoạt động xúc tiến khác nhau, bao gồm:

 Nhóm công cụ tạo nên lợi ích kinh tế trực tiếp thúc đảy người tiêu dùngbao gồm: hàng mẫu, phiếu thưởng, gói hàng chung, quà tặng v v

Hàng mẫu có chức năng khuyến khích dùng thử Một số hàng mẫu miễnphí hoặc với giá rất hạ Hàng mẫu có thể được phân phối tại cửa hàng hoặc

Trang 6

gửi tới tận nhà qua đường bưu điện hay qua đội ngũ nhân viên tiếp thị Thôngthường khi phân phối hàng mẫu thường được kèm theo thông điệp quảng cáohoặc một số câu hỏi về sản phẩm mà công ty cần biết.

Phiếu thưởng: Là giấy chứng nhận cho người khách được giảm một khoảntiền nhất điịnh khi mua một sản phẩm nào đó của công ty Phương thức nàyrất hiệu quả đối với việc khuyến khích tiêu dùng sản phẩm mới , nhãn hiệumới v v

Gói hàng chung: Là gói hàng công ty giới thiệu một số sản phẩm hàng hóanhất định song bán với giá hạ Chẳng hạn một gói với ba đơn vị hàng hóasong giá chỉ bằng hai đơn vị v v Gói hàng chung có giá trị trong việc tăngcường bán hàng trong thời kỳ ngắn hạn

Quà tặng: Là hàng được cho không hoặc được tính với giá thấp Quà tặngthường được phân phối cùng với việc mua hàng, có thể gói cùng với gói hàng

 Nhóm công cụ thúc đẩy hoạt động của các trung gian trong kênh phânphối : Các nhà sản xuất dùng kỹ thuật nhằm tăng cường sự hợp tác, đẩymạnh tiêu thụ của các nhàáphan phối như bán buôn, bán lẻ, các đại lý v v Các kỹ thuật thông dụng bao gồm: Tài trợ về tái chính khi mua hàng làkhoản tiền được giảm khi mua hàng của công ty trong một thời gian cụ thểnào đó.Tài trợ quảng cáo,các nhà quảng cáo được tài trợ để khuyến khích họtăng cường giới thiệu sản phẩm của công ty

Hàng miễn phí: là những lô hàng tặng thêm cho các nhà buôn khi họ muahàng với số lượng lớn nào đó Cũng có thể dùng tiền mặt hay quà tặng chocác nhà phân phối hoặc tặng cho lực lượng bán hàng của công ty để hộ đẩymạnh tiêu thụ hàng của công ty

 Hội nghị khách hàng, hội chợ và triển lãm thương mại

Các công ty thường tổ chức hội nghị khách hàng và công chúng, tìm hiểucặn kẽ hơn nhu cầu của họ đồng thời thu nhận những thông tin ngược chiều

Trang 7

Hội chợ triển lãm nhằm giới thiệu công ty, sản phẩm hàng hóa của công tyvới khách hàng và công chúng Duy trì sự có mặt, uy tín của công ty cũng nhưsản phẩm hàng hóa của công ty trên thị trường, tạo ra lòng tin của khách hàng

sự hưởng ứng của nhiều người Các trò chơi có thưởng vừa mang tính chấtgiải trí,vừa mang lại lợi ích cho những người tham gia

1.2 Soạn thảo, thí điểm và triển khai chương trình xúc tiến bán.

Để thực hiện tốt hoạt động xúc tiến bán hàng cần phải có chương trình phùhợp với điều kiện và hoàn cảnh của công ty Mục tiêu muốn vậy cần giảiquyết vấn đề sau:

 Cường độ kích thích: Cần phải kích thích mạnh đến mứ nào Để đảm bảothắng lợi cần cần có một mức độ kích thích tối thiểu Cường độ kích thích

tỷ lệ ngịch với nhịp độ tiêu dùng, vì vậy nhu cầu giảm càng nhiều càng cầnkích thích mạnh Tùy theo từng công ty, đối với những loại hàng cụ thểtrong thời gian và địa điểm thị trường cụ thể mà có mức độ kích thích phùhợp

 đối tượng tham gia : Cần các quy định cụ thể những đối tượng tham giachương trình xúc tiến bán của công ty và tuyên truyền cho nó Các phươngtiện xúc tiến như phiếu thưởng, quà tặng, gói hàng hạ giá, các cuộc thiv v được sử dụng như thế nào và cơ chế sử dụng tới đâu ? Cần quyết định

về cách phát hành các tài liệu cần thiết cho những người tham gia

 Thời gian kéo dài của chương trình : Nếu thời gian khuyến khích bán quángắn nhiều người tiêu dùng sẽ khách hàngông thu được lợi ích do chương

Trang 8

trình mang lại Ngược lại nếu kéo quá dài tác dụng thôi thúc mua cũng bịsuy giảm rất nhiều Do đó tùy theo điều kiện cụ thể mà công ty thực hiệnchương trình theo một khoảng thời gian hợp lý.

 Lựa chọn thời gian để thực hiện chương trình công ty bán Thời điểm cụthể cho các đợt khuyến mãi phụ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm và đặcđiểm của thị trường Sau khi xác định lịch trình của các bộ phận sản xuấttiêu thụ và phân phối sẽ căn cứ vào đó hoạt động

 Xác định ngân sách xúc tiến bán Tùy theo điều kiện cụ thể, có thể xácđịnh theo nhiệm vụ hoàn thành hoặc theo một tỷ lệ % nào đó của ngânsách marketing

Sau khi đã soạn thảo chương trình xúc tiến bán hàng cần được thí điểm đểkiểm tra tính thích hợp Khi đã chắc chắn chương trình đó cần đưa vàotriển khai

1.3 Đánh giá kết quả của chương trình xúc tiến bán.

Hiệu quả của chương trình xúc tiến bán hàng thường được đánh giá trênkết quả làm tăng doanh số Các công ty sản xuất thường sử dụng phươngpháp so sánh các chỉ tiêu doanh số tiêu thụ của thời gian trước, trong vàsau khi thực hiện chương trình Chẳng hạn trược khi thực hiện, công tychiếm 15% tỷ phần thị trường Trong khi thực hiện chiến dịch tăng lên25% và sau chiến dịch còn 18% Như vạy thấy rõ được tác dụng của việckhuyến khích bán Do khuyến khích bán mà trong khi thực hiện doanh sốtăng lên 25% chứng tỏ chương trình đã thu hút được nhiều khách hàngmới và sau khi kết thúc, tỷ lệ là 18% chứng tỏ nhiều khách hàng mới đã tintưởng và tiêu dùng hàng hóa của Công ty

2 Mở rộng thị trường

Là một quyết định về chủng loại và danh mục hàng hóa Chủng loạihàng hóa một nhóm hàng hóa có liên quan chặt chẽ với nhau do giống nhau

Trang 9

về chức năng hay bán chung cho cùng nột nhóm khách hàng, hay thông quacùng những kiểu tổ chức thương mại, hay trong khuôn khổ cùng một dãy giá.

2.1 Quyết định về bề rộng của chủng loại hàng hóa.

Mỗi Công ty thường có cách thức lựa chọn bề rộng chủng loại hàng hóakhác nhau Những lựa chọn này tùy thuộc vào mục đích công ty theo đuổi.Các công ty thiên về theo đuổi mục tiêu cung cấp một chủng loại đầy đủhay phấn đấu để chiếm lĩnh phần lớn thị trường thường có chủng loại hànghóa rộng Trong trường hợp này họ sản xuất cả những hàng hóa sinh lời ít.Ngược lại, có những công ty quan tâm trước hết đến sinh lời cao của hànghóa Nhưng dù quyết định ban đầu của công ty như thế nào thì hiện tại công

ty cùng vẫn gặp phải vấn đề gặp ra là mở rộng và duy trì bề rộng của chủngloại hàng hóa bằng cách nào ? Giải quyết vấn đề này công ty có hai hướng lựachọn:

Một là : Phát triển chủng loại có thể thực hiện bằng cách thức sau:

 Phát triển hướng xuống dưới

 Phát triển hướng lên trên

 Phát triển theo cả hai hướng trên

Hai là: Bổ xung chủng loại hàng hóa cách này có nghĩa là theo bề rộng màcông ty đã lựa chọn, công ty cố gắng đưa thêm những mặt hàng mới trongkhuôn khổ đó Việc bổ xung hàng hóa được đặt ra xuất phát từ các mụcđích sau:

 Mong mục tiêuốn có thêm lợi nhuận

 Để lấp chỗ trống trong chủng loại hiện có

 Tận dụng năng lực sản xuất dịch vụ dư thừa

 Mưu toan trở thành công ty chủ chốt với chủng loại đầy đủ

Khi bổ sung những sản phẩm mới trong củng một chủng loại công ty phảitính đến khả năng giảm mức tiêu thụ của sản phẩm khác Để giảm bớt ảnh

Trang 10

hưởng này công ty phải đảm bảo chắc chắn sản phẩm mới phải khác hẳn

so với sản phẩm đã có

2.2 Quyết định về doanh mục hàng hóa.

Danh mục hàng hóa là tập hợp tất cả các nhóm chủng loại hàng hóa và cácđợn vị do người bán cụ thể đem trào bán cho người mua Danh mục hàng hóađược phản ánh qua bề rộng, mức độ phong phú, bề sâu và mức độ hài hòa củanó:

 Bề rộng của danh mục hàng hóa là tổng số các nhóm chủng loại hàng hóa

Bốn thông số đặc chưng cho danh mục hàng hóa mở ra cho công ty bốnhướng chiến lược mở rộng hàng hóa

3 Giới thiệu sản phẩm mới.

3.1 Khái quát về sản phẩm mới.

Do những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu, công nghệ, tình hình cạnhtranh công ty không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào những hàng hóahiện có Vì vậy mỗi Công ty đều phải quan tâm đến chương trình phát triểnsản phẩm hàng hóa mới nếu muốn tồn tại và phát triển uy tín ngày càng tăng

Để có được sản phẩm mới công ty có thể có hai cách:

Trang 11

 Mua toàn bộ công ty nào đó, mua bằng sáng chế hay giấy phép sản xuấthàng hóa của người khác.

 Tự thành lập bộ phận nghiên cứu Marketing và thiết kế sản phẩm mới.Theo quan niệm Marketing sản phẩm mới có thể là những sản phẩm mới

về nguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ những sản phẩm mới hiện có hoặcnhững nhãn hiệu mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm của công ty.Nhưng dấu hiệu quan trọng nhất đánh giá sản phẩm đó là sản phẩm mới haykhông phải là đựoc sự thừa nhận của khách hàng

Thiết kế sản xuất sản phẩm mới: là một việc làm cần thiết nhưng có thể làmạo hiểm đối với doanh nghiệp bởi vì chúng có thể thất bại do những nguyênnhân khác nhau Để hạn chế bớt rủi ro các chuyên gia - những người sáng tạosản phẩm mới phải tuân thủ nghiêm ngặt trong quá trình tạo ra sản phẩm mới

và đưa nó vào thị trường

3.2 Các giai đoạn thiết kế sản phẩm mới.

Trong việc thiết kế sản phẩm mới thường phải trải qua ba giai đoạn hết sứcquan trọng là hình thành ý tưởng lựa chọn ý tưởng, soạn thảo và thẩm định dựán

3.2.1 Hình thành ý tưởng

Tìm kiếm những ý tưởng về sản phẩm mới là bước đầu tiên quan trọng

để hình thành phương án sản xuất sản phẩm mới Việc tìm kiếm này phảiđược tiến hành một cách có hệ thống và thường căn cứ vào các nguồn thôngtin sau:

 Từ phía khách hàng, qua thăm dò ý kiến của họ,trao đổi với họ, thư từ vàđơn khiếu nại họ gửi đến, các thông tin họ phản ánh trên báo chí vàphương tiện thông tin đại chúng…

 Từ cácngà khoa học

 Nghiên cứi những thành công và thất bại hàng hóa của các đối thủ cạnhtranh

Trang 12

 Nhân viên bán hàng và những người của công ty thường xuyên tiếp xúcvới khách hàng.

 Những người có bằng sáng chế phát minh, các trường đại học cácchuyêngia công nghệ và quản lý, các nhà nghiên cứu Marketing…

Ý tưởng về sảm phẩm mới thườnghàm chứa những tư tưởng chiến lược tronghoạt động kinh doanh và hoạt động Marketing của công ty Chẳng hạn như:tạo ra một ưu thế đặc biệt nào đó so với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh

3.2.2 Lựa chọn ý tưởng

Mục đích của việc lựa chọn là để cố gắng phát hiện sàng lọc và thảiloại những ý tưởng không phù hợp,kém hấp dẫn,nhằm chọn được những ýtưởng tôt nhất

Để làm được điều này mỗi ý tưởng về sản phẩm mới cần được trìnhbày bằng băn bản trong đó có nhỡng nội dung cốt yếu là: mô tả hàng hóa , thịtrường mục tiêu, các đối thủ cạnh tranh, các chi phí có liên quan đến việc thiết

kế, chi phí sản xuất sản phẩm , mục tiêu chiến lược Đó cũng chíng là nhữngtiêu chuẩn để lựa chọn và thẩm định ý tưởng và phương án sản phẩm mới

3.2.3 Soạn thảo và thẩm định dự án sản phẩm mới

Sau khi có những ý tưởng được lựa chọn, mỗi ý tưởng phải được xây dựng thành những dự án hàng hóa ítưởng là những tư tưởng khái quát về hàng hóa , còn dự án là sự thể hiện tư tưởng khái quát đó thành các phương án sản phẩm mới với các tham số

về đặc tính hay công dụng hoặc đối tượng sử dung khác nhau của chúng.

Sau đã có dự án về hàng hóa, cần phải thẩm địng từng dự án này Thẩm địng dự án là thử nghiệm quan điểm và thái độ của nhóm khách hàng mục tiêu đối với các phương án sản phẩm đã được mô tả Qua thẩm định dự án dựa trên ý kiến của khách hàng tiềm năng kết hợp với các phân tích khác nhau, công ty sẽ lựa chọn được một dự án sản phẩm chính thức.

3.3 Soạn thảo chiến lược Marketing cho sản phẩm mới

Trang 13

Sau khi dự án sản phẩm mới tốt nhất được thông qua , công ty cần soạnthảo chiến lược Marketing cho nó Chiến lược Marketing cho sản phẩm mớichia làm ba phần:

 Phần thứ nhất: mô tả quy mô, cấu trúc và thái độ của khách hàng trên thịtrường mục tiêu, dự kiến xác lập vị trí hàng hóa, chỉ tiêu về khối lượngbán, thị phần và lợi nhuận trong những năm trước mắt

 Phần thứ hai: trình bày quan điểm chung về phân phối hàng hóa và dựđoán chi phí marketing trong năm đầu

 Phần thứ ba: trình bày những mục tiêu tương lai về các chỉ tiêu: tiêu thụ,lợi nhuận quan điểm chiến lược lâu dài về các yếu tố Marketing

Trên cơ sở các tư liệu đã có trước khi quyết định cho thiết kế sản phẩmban lãnh đạo công ty tiến hành duyệt lần cuối về mức độ hấp dẫn của kinhdoanh hàng hóa mới, phân tích và cần nhắc kỹ các chỉ tiêu dự kiến về mứcbán, chi phí và lợi nhuận

4 Xây dưng và củng cố uy tín của nhãn hiệu hàng hóa và uy tín của công ty

Đây là việc làm hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của doanh nghiệp Nógóp phần khẳng định tên tuổi, thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp trênthị trường qua hoạt động tuyên truyền, liên tục đổi mới sản phẩm, đổi mớicông nghệ sản xuất.…Sẽ góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của quảng cáo

 Tuyên truyền có thể tác động sâu sắc đến sự hiểu biết của xã hội, khả năngthuyết phục người mua lớn và ít tốn kém hơn so với hoạt động quảng cáo.Tuyên truyền cho sản phẩm gồm các nỗ lực khác nhau nhằm cho côngchúng biết đến sản phẩm hàng hóa đó Tuyên truyền hợp tác hoạt động nàybao gồm việc truyền thồng trong nội bộ cũng như bên ngoài doanh nghiệp

để mọi người biết đến tổ chức của mình Nhằm tạo ra một hình ảnh tốt đẹp, tăng uy tín của công ty

Trang 14

 Liên tục đổi mới các sản phẩm hàng hóa cả về chất lượng sản phẩm đếnchất lượng phục vụ khách hàng Điều này tạo ra sự hứng thú đối với ngườimua đồng thời kích thích nhu cầu mua hàng Giúp khẳng định tên tuổithương hiệu và uy tín sản phẩm của công ty đó trên thị trường đồng thờigiúp công ty khẳng định một chỗ đứng vững chắc với một thương hiệu sảnphẩm nổi tiếng

Luôn tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới góp phần tạo ranhững sản phẩm phong phú về kiểu dáng, chất lượng, khả năng đáp ứng thịhiếu của khách hàng Từ đó khẳng định uy tín và vị thế của hàng hóa cũngnhư doanh nghiệp trên thị trường

IV CÁC QUYẾT ĐỊNH CHỦ YẾU TRONG QUẢNG CÁO

1 Các quyết định về mục tiêu quảng cáo :

Mục tiêu quảng cáo phải xuất phát từ các mục tiêu trong kinh doanh của công

ty và các mục tiêu tiếp thị Ví dụ; mục tiêu doanh số, lợi nhuận, thị phần, cácmục tiêu nâng cao uy tín của công ty, của sản phẩm các mục tiêu quảng cáothường được phân loại thành mục tiêu để thông tin,mục tiêu để thuyết phụchay mục tiêu để nhắc nhở

- Quảng cáo thông tin hình thành mạnh mẽ vào giai đoạn giới thiệu sảnphẩm tạo nên nhu cầu ban đầu Nó có thể giới thiệu cho thị trường biết về mộtsản phẩm mới, về cách sử dụng mới của một sản phẩm hay sự thay đổi về giácả

- Quảng cáo thuyết phục cần thiết và rất quan trọng trong giai đoạn cạnhtranh nhằm tạo ra sự ưa chuộng nhãn hiệu hoặc thuyết phục khách hàng muangay Quảng cáo thuyết phục có thể dùng thể loại so sánh Ví dụ: hãng Toyota

đã so sánh loại xe Lexus của họ với laọi xe Mercedes của đức cả về giá cả lẫn

về chất lượng Quảng cáo so sánh cũng được sử dụng nhiều đối với các loạithuốc khử mùi hôi, kem đánh răng, rượu và các loại thuốc giảm đau

Trang 15

- Quảng cáo nhắc nhở rất quan trọng trong giai đoạn trưởng thành (bão hào)của sản phẩm để nhắc nhở khách hàng luôn luôn nhớ đến nó đầu tiên nhắc nónhớ đến địa điểm mua của nó đầu tiên, và ở đâu

2 Quyết định về ngân sách quảng cáo:

Sau khi xác định các mục tiêu quảng cáo rồi, doanh nghiệp có thể quyết địnhngân sách quảng cáo cho mỗi sản phẩm nhằm hoàn thành mục tiêu bán hàng

Có bốn phương pháp để xác định ngân sách:

- Phương pháp tuỳ khả năng: Nhiều công ty xác định ngân sách quảng cáo tuỳtheo khả năng công ty có thể chi được Phương pháp này bỏ qua ảnh hưởngcủa quảng cáo đối với khối lượng tiêu thụ, nó dẫn đến ngân sách quảng cáohàng năm không ổn định

- Phương pháp tính theo phần trăm của doanh số, ví dụ: 5% hay 10% củadoanh số năm tới Ưu điểm của phương pháp này là chi phí quảng cáo gắnliền với kết quả hoạt động kinh doanh (với doanh số, lợi nhuận ) và đảm bảo

sự ổn định cạnh tranh

- Phương pháp mục tiêu và công việ

Phương pháp này đòi hỏi nhà tiếp thị lập ngân sách bằng cách:

Xác định mục tiêu của doanh nghiệp

Xác định những công việc,chương trình cần thực hiện để đạt mục tiêu(quảng cáo, trên báo, radio, TV như thế nào )

Ước tính chi phí để hoàn thành công việc tổng chi phí này chính làngân sách quảng cáo đề nghị cho năm tới

3.Quyết định nội dung truyền đạt:

Những nhà quảng cáo dùng nhiều giải pháp để hình thành những ý tưởngdiễn tả một mục tiêu quảng cáo Một số người sử dụng phương pháp quy nạpbằng cách nói chuyện với khách hàng, với các nhà buôn, các nhà khoa học,các đối thủ cạnh tranh để tìm ra nội dung cần truyền đạt Một số khác sử dụngphương pháp suy diễn để hình thành nội dung thông điệp quảng cáo

Trang 16

Nhìn chung nội dung quảng cáo thường được đánh giá dựa trên tính hấpdẫn, tính độc đáo và tính đáng tin Thông điệp quảng cáo phải nói lên nhữngđiều đáng mong ước hay thú vị về sản phẩm Nó cũng cần nói lên những khíacạnh độc đáo, khác biệt so với các sản phẩm khác Công ty cần phân tích 3tính chất này trong nội dung thông điệp quảng cáo của mình.

Sau đó công ty phải thể hiện được nội dung đó trong thôg điệp để bảo đảmcho sự thành công của hoạt động quảng cáo Phải chọn lựa ngôn ngữ, phải xácđịnh cấu trúc thông điệp, lựa chọn phương tiện truyền tin thích hợp, bảo đảmthoả mãn các yêu cầu của quảng cáo Các thông điệp của quảng cáo có thểtrình bày theo nhiều phong thái thể hiện khác nhau như thể hiện khác nhaunhư thể hiện một mẩu đời, một lối sống, một sự tưởng tượng

4.Quyết định về lời rao quảng cáo:

Quyết định về lời rao quảng cáo thường gồm 3 bước: tạo lời rao đánh giá

và tuyển chọn lời rao

Việc tạo lời rao đòi hỏi giải quyết 3 vấn đề:

- Nói cái gì (nội dung lời rao)

- Nói thế nào cho hợp lý (cấu trúc lời rao)

- Nói thế nào cho có hiệu quả (hình thức thực hiện lời rao)

Nội dung lời rao:

Cần thiết kế, phác hoạ những sự gợi dẫn để có được những đáp ứngmong muốn Có 3 loại gợi dẫn:

- Gợi dẫn sự hợp lý: Sản phẩm đem lại những ích dụng theo yêu cầu(bền, tiết kiệm, có giá trị )

- Những gợi dẫn tạo xúc cảm: Kích thích những tình cảm tích cực

để đưa dến một việc mua

- Những gợi dẫn đạo đức: hướng đến cái thiện nơi khách hàng

Cấu trúc lời giao:

Trang 17

Hiệu quả của quảng cáo phụ thuộc khá nhiều vào cấu trúc của lời rao

- Thứ nhất: có lên đưa ra kết luận dõ rằng hay để khách hàng tự kếtluận lấy Đưa ra kết luận thường hiệu quả hơn

- Thứ hai : trình bày luận chứng theo kiểu đơn tuyến hay song song?Thường đơn tuyến hiệu quả hơn

- Thứ ba : nên đưa luận chứng đanh thép nhất vào đàu hay cuối côngviệc

5 Quyết định phương tiện quảng cáo:

Công ty cần căn cứ vào đối tượng quảng cáo, mục tiêu quảng cáo và đốitượng nhận tin và chọn phương tiện truyền tin quảng cáo cụ thể Có thể chọnphương tiện truyền tin quảng cáo đại chúng hoặc phương tiện truyền thôngchuyên nghiệp, phương tiện quảng cáo chính và phương tiện bổ xung

Những đặc tính quan trọng nhất của các phưong tiện quảng cáo mà cácdoanh nghiệp quan tâm khi lựa chọn là mức độ trung thành của khách hàngmục tiêu đối với các phương tiện quảng cáo nhất định, sự thích hợp với hànghoá, đặc thù của thông tin và chi phí

Dưới đây là 1 số đặc tính nổi bật của 1 số phương tiện quảng cáo mà cáccông ty thường sử dụng

+ Báo : Ưu điểm để sử dụng, kịp thời, phổ biến rộng tại thị trường địaphương, được chấp nhận rộng rãi, độ tin cậy cao Nhược điểm là tuổi thọngắn, số lượng độc giả hạn chế

+ Tạp chí:Ưu điểm có độ lựa chọn theo doanh số và địa lý cao, có uy tín,quan hệ với người đọc lâu dài Nhược điểm là thời gian chờ đợi lâu, một sốlượng phát hành lãng phí

+ Tivi :Ưu điểm ở các nước có kinh tế phát triển quảng cáo qua ti vi rấtthông dụng Quảng cáo qua ti vi khai thác được lợi thế về âm thanh, ngônngữ, hình ảnh, màu sắc.Đối tượng khán giả rộng,thuộc nhiều tầng lớp xã hội,

Trang 18

khả năng truyền thông nhanh rễ ràng tạo nên sự chú ý.Nhược điểm của ti vi làthời lượng có hạn, chi phí cao, khán giả ít chọn lọc, thời gian quá ngắn.

+ Radio :Ưu điểm là người nghe nhiều, chi phí thấp, linh hoạt về đại lý.Hạn chế ở chỗ chỉ sử dụng được bằng âm thanh, khả năng gây chú ý thấp,tuổi thọ ngắn

+ Ngoài ra các công ty còn quảng cáo qua pano áp phích qua catalog, quathư, bao bì, qua sản phẩm khác và qua truyền miệng, computer marketing v.v.Mỗi loại phương tiện đều có những lợi thế và tác dụng nhất định

Để lựa chọn phương tiện truyền tin thích hợp người quảng cáo phải thôngqua quyết định về phạm vi tần suất, cường độ tác động của quảng cáo Phạm

vi quảng cáo chính là số khách hàng cần truyền tin đến họ Tần suất chính là

số lần suất hiện của quảng cáo Cường độ là mức độ gây ấn tượng của quảngcáo

Trang 19

V CHỨC NĂNG CỦA QUẢNG CÁO

Đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội việc tồn tại cáchoạt động của Marketing - quảng cáo là nhằm để thực hiện tốt các chức năngchủ yếu sau:

1 Chức năng thích ứng

Là làm cho sản phẩm luôn được thích ứng với nhu cầu của thị trường.Trên thực tế, chúng ta dễ dàng nhận thấy một sản phẩm hấp dẫn người mua cóthể là do mới hoặc là nó luôn được đổi mới theo hướng phát triển của giá trị sửdụng Ở khía cạnh này hoạt động của Marketing góp phần làm cho sản phẩmcủa doanh nghiệp sản xuất luôn đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của khách hàngnhưng để làm được điều đó chúng ta phải làm gì? và thực hiện ra sao?

+ Trước tiên khi sản phẩm của doanh nghiệp chúng ta được sản xuất thìnhiệm vụ đầu tiên là ta phải đi nghiên cứu tìm hiểu ý kiến, nhu cầu của ngườitiêu dùng Vì ý kiến của người tiêu dùng là yếu tố quyết định quan trọng nhấtđối với mỗi DN Trong trường hợp này ta có thể làm bằng nhiều cách Ta cóthể sử dụng phiếu điều tra cách này ta có thể hỏi được nhiều vấn đề, tuy nhiêncũng còn nhiều hạn chế vì nhiều khi không chính xác

VD: Câu 1: Bạn đang dùng loại dầu gội gì?

Ta còn có thể phỏng vấn qua điện thoại, cách này nhanh chóng thuậntiện về thời gian nhưng chi phí lại rất tốn kém, còn hạn chế đối với nhữngkhách hàng không có điện thoại, sự phản hồi của khách hàng cũng khôngchính xác, ta còn mất nhiều thời gian chuẩn bị câu hỏi Chính vì vậy, ngoàiphỏng vấn một cách gián tiếp qua phiếu điều tra, ta còn có thể phỏng vấn mộtcách trực tiếp, cách này rất hay thông tin hai chiều nhanh chóng chính xác.Tuy nhiên cũng đòi hỏi nhà quản trị Marketing sự khéo léo, giao tiếp giỏi,phản ứng nhanh và đặc biệt là phải mềm mỏng với người tiêu dùng

VD: Câu 1: Bạn đang dùng sản phẩm dầu gội gì vậy?

Trang 20

Câu 2: Bạn thấy chất lượng của sản phẩm ấy thế nào?

Câu 3:

+ Cách này ta sẽ nhận được câu trả lời của khách hàng ngay lập tức vànét mặt của họ cũng cho ta thấy họ nói đúng hay nói sai Ngoài ra cũng có thểphỏng vấn nhu cầu của khách hàng qua bưu điện bằng cách gửi thư Cáchnày có ưu điểm là cước phí rẻ ta có thể gửi được nhiều và cũng hỏi đượcnhiều vấn đề nhưng cũng rất hạn chế về mặt thời gian lâu và đôi khi cũngkhông chính xác lắm Tất cả các cách trên ta đều có thể tìm hiểu nghiên cứu,thăm dò ý kiến của người tiêu dùng trên thị trường/

+ Sau khi nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng trên thịtrường song thì công việc tiếp theo của chúng ta Lúc này là phải nghiên cứu,tìm hiểu thị trường Tìm hiểu xem hiện trên thị trường đang tiêu thụ nhữngloại sản phẩm nào đang được người tiêu dùng ưa chuộng nhất Như ta đã biết,hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại dầu gội như Clear, Doublerich,Rejoice, Dove Loại nào cũng phong phú cả về hình thức và chất lượng.Vậy ta phải làm như thế nào để sản phẩm của DN dầu gội ấy Trước hết,chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu yếu tố đầu vào cho sản phẩm Ta phải tìmđược những nguồn cung ứng nguyên vật liệu lâu dài và luôn đảm bảo về chấtlượng, phải sử dụng công cụ, máy móc thiết bị tiên tiến để tạo ra sản phẩm chỉ

có thể thì DN chúng ta mới có thể đứng vững trên thị trường lâu dài được.Chúng ta hãy đặt uy tín lên hàng đầu, phải tạo lòng tin cho khách hàng, tiếptheo chúng ta phải tìm hiểu nghiên cứu đến yếu tố đầu ra cho sản phẩm Yếu

tố đầu ra cho sản phẩm là một vấn đề quan trọng nó quyết định sự tồn tại vàphát triển của một DN Trong trường hợp này ta nên dùng biện pháp là quảngcáo trực tiếp đến tay người tiêu dùng Cách này ta sẽ nhận được sự phản hồinhanh chóng của khách hàng và trước khi sản phẩm của chúng ta chuẩn bị rađời, chúng ta cũng không thể bỏ qua việc nghiên cứu các vấn đề như kinh tế,

Trang 21

chính trị, xã hội, môi trường Nền kinh tế chính trị của đất nước cũng ảnhhưởng rất nhiều đến hoạt động của đất nước cũng ảnh hưởng rất nhiều đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.

VD sống trong một đất nước nền kinh tế luôn bị khủng hoảng, tình hìnhchính trị bất ổn định, lũ lụt luôn hoành hành thì thử hỏi rằng người dân còntâm trí đâu để nghĩ đến việc làm đẹp mua những cái xa xỉ cho riêng mìnhđược? Chúng ta cũng phải nghiên cứu tìm hiểu xem việc sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp mình có ảnh hưởng tơí xung quanh không?

VD: Ta không thể đặt nhà máy sản xuất vào giữa trung tâm thành phố,như vậy sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh

+ Tiếp theo chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu sản phẩm của đối thủcạnh tranh Ta phải tìm hiểu xem xét sản phẩm của họ thế nào? Chất lương ralàm sao? hình thức mẫu mã của họ thế nào? và dùng những biện pháp nào để

hỗ trợ cho iệc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Tất cả các vấn đề đóchúng ta đều phải lưu tâm để còn có thể giúp ích cho việc sản xuất, kinhdoanh sản phẩm của mình Khi nghiên cứu tìm hiểu ta có nhiều cách để thăm

dò, ta sẽ mua sản phẩm của họ về dùng và phân tích theo mẫu mã, chất lượngcủa họ như thế nào? mà đang được người tiêu dùng ưua chuộng như thế, cưmsản phẩm của họ như thế nào? mà thu hút được nhiều người mua đến vậy Tacũng phải tìm hiểu, phân tích xem giá cả của họ đã hợp lý chưa?

VD: Sản phẩm dầu gội Clear (200ml) giá : 19.000đ

Pentean (200ml) giá: 27.000đDove (200ml) giá: 26.000đTrong trường hợp này nên để sản phẩm của mình là 19.500đ/200ml đểphù hợp với khả năng và nhu cầu của khách hàng Nhưng đôi khi chúng tacũng nên dùng mẹo vặt của các doanh nghiệp là chúng ta sẽ sản xuất bao bìdầy hơn và ta để lượng sản phẩm vơi đi một chút để phù hợp với khả năngngười tiêu dùng và đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp Chúng ta cũng

Trang 22

cần phải chú ý xem xét biện pháp phân phối sản phẩm, phương tiện vậnchuyển ra sao, hệ thống của cửa hàng như thế nào?

VD: Doanh nghiệp họ chỉ phân phối và đặt các cửa hàng ở 2 thành phốlớn là Hà Nội và HCM thì doanh nghiệp chúng ta sẽ mở rộng hệ thống cửahàng đại lý rộng rãi hơn và đến các vùng xa hơn như: Hải Phòng, TháiNguyên, Đà Nẵng

Nghệ thuật bán hàng rất quan trọng, người bán hàng không chỉ quanniệm ở 2 câu: " Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi"

Mà còn đối với người bán hàng có chuyên môn giao tiếp nhanh nhạy,vui vẻ, mềm mỏng với khách hàng Chúng ta cũng cần phải để ý xem xét cácbiện pháp yểm trợ của họ ra sao Doanh nghiệp họ dùng biện pháp gì để hỗtrợ các sản phẩm của họ

Như ta đã biết mặt hàng về dầu gội là một mặt hàng phổ biến, tiện dụng

và lại là mặt hàng được nhiều người ưa chuộng nhất là giới trẻ hiện nay, chonên sản phẩm dầu gội " Sunsilk" của chúng ta không chỉ đơn thuần là làmsạch gầu, trị gầu hữu hiệu mà còn phải mang lại cho người tiêu dùng cảm giácthoải mái, tự tin về mái tóc óng mượt của mình Chính vì thế, để sản xuất ramặt hàng để lấy lòng người tiêu dùng trên thị trường để đánh bại được các sảnphẩm của các doanh nghiệp cạnh tranh quả là một vấn đề không đơn giản

Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng sản phẩm của các doanhnghiệp khác cũng như ý kiến của người tiêu dùng trên thị trường và nhữngcông đoạn cần thiết để sản xuất ra sản phẩm Lúc này doanh nghiệp sẽ tung rathị trường một loại sản phẩm dầu gội mới "Sunsilk" với nhãn mác, bao bì,hình thức, chất lượng hoàn toàn mới để thu hút sự chú ý của người tiêu dùngtrên thị trường Nhưng sau khi sản phẩm được tung ra thị trường thì chúng tavẫn phải luôn theo sát công việc nghiên cứu tìm hiều nhu cầu của người tiêu

Trang 23

dùng trên thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp mình cách như phỏng vấntrực tiếp.

VD: Câu 1: Bạn thấy sản phẩm dầu gội "Sunsilk" thế nào?

Câu 2: Chất lượng có phù hợp với nhu cầu của bạn không?

Câu 3:

Hay phỏng vấn qua điện thoại, qua thư từ Ta cũng có thể dùng phiếuđiều tra để thăm dò ý kiến của người tiêu dùng Trong đó, chúng ta sẽ hỏinhiều câu hỏi mà nhiều khi phỏng vấn trực tiếp lại không hiệu quả bằng

VD: Câu 1: Bạn thấy giá cả của loại dầu gội trên thị trường thế nào? Câu 2: Trong các loại dầu gội sau, loại nào phù hợp với khả năng của bạnnhất

Sunsilk : 19.500đ/200mlClear : 26.000đ/200mlRejoice : 19.000đ/200mlPentean : 27.000đ/200mlEnchanter : 29.000đ/200mlCâu 3:

Câu 4:

Khi sản phẩm của doanh nghiệp chúng ta có mặt trên thị trường thì tavẫn phải nghiên cứu tìm hiểu thị trường, tìm hiểu xem hiện trên thị trườngđang tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp nào nhiều nhất và luôn phải tìmhiểu trên thị trường có doanh nghiệp mới nào cạnh tranh hay không? Lúc này,

ta phải luôn nắm vững tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp mìnhtrên thị trường Yếu tố đầu ra cho sản phẩm là vấn đề cực kỳ quan trọng đốivới một doanh nghiệp mới thành lập Nhưng cũng không quên mục đích củadoanh nghiệp là sản xuất ra sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu và chi phívừa với người tiêu dùng trên thị trường

Trang 24

Chúng ta cũng phải luôn nẵm vững theo sát các sản phẩm của cácdoanh nghiệp cạnh tranh Ta nhận thấy sản phẩm của họ cải tiến về chấtlượng, họ đã kết hợp hương hoa thiên nhiên vào sản phẩm.

VD: Sản phẩm dầu gội của doanh nghiệp Clear đã đưa hương bạc hàvào sản phẩm thì ta cũng phải cải tiến sản phẩm ta sẽ đưa hương chanh haytinh dầu từ quả bồ kết thiên nhiên vào sản phẩm để tăng khả năng thích ứngcủa sản phẩm đối với người tiêu dùng, đồng thời phù hợp với nhu cầu củakhách hàng

Như vậy chỉ có nhu cầu của người tiêu dùng mới giúp ta tạo ra đượcnhững tính đặc thù của cùng một loại sản phẩm, nhờ vậy mà tăng khả năngthích ứng và cạnh tranh trên thị trường góp phần nâng cao hiệu quả kinhdoanh cho doanh nghiệp

Trang 25

2 Chức năng tiêu thụ

Là chức năng làm thế nào để sản phẩm của doanh nghiệp mình bánđược số lượng càng nhiều càng tốt Chính vì điều này nên doanh nghiệp phảilưu ý một số điểm sau:

Sản phẩm của chúng ta lần đầu được tung ra thị trường cần phải là sảnphẩm có chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn thị trường yêu cầu Mọi quy mô đầu tưđều dồn vào dây chuyền sản xuất đầu tiên Có như vậy sản phẩm mới thu hútđược sự chú ý của người tiêu dùng

Sản phẩm dầu gội của chúng ta phải được sản xuất với chất lượng caonhất Ta phải tạo sự sáng khoái, mát mẻ cho người tiêu dùng sau một ngàylàm việc mệt mỏi Chúng ta cũng phải luôn cải tiến sản phẩm để phù hợp vớinhu cầu của từng đối tượng khách hàng mà chúng ta nhắm tới Ta nên kết hợpcác hương hoa thiên nhiên vào sản phẩm như hương chanh, hương bưởi,hương bạc hà

Chúng ta cũng sẽ cải tiến sản phẩm không chỉ bằng cách sản xuất mộtsản phẩm mà sẽ sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau để phù hợp vớinhiều loại đối tượng khách hàng

VD: Loại dành cho tóc khô, tóc xơ Loại dành cho tóc dầu

Mẫu mã sản phẩm cũng rất quan trọng hình ảnh, màu sắc in trên bao bìphải độc đáo, bắt mắt người tiêu dùng nhưng cũng phải phù hợp với từng loạisản phẩm Nhưng ngoài chất lượng cao, mẫu mã đẹp ta còn phải lưu ý đến giácả

Nhưng nếu chúng ta chỉ quan tâm đến chất lượng, giá cả mà không cócác biện pháp phân phối, hỗ trợ cho việc tiêu thụ lượng sản phẩm trên thịtrường thì sẽ không được nhiều Với các biện pháp quảng cáo sẽ làm chongười tiêu dùng biết được sản phẩm của doanh nghiệp mình Ta cũng cầnphải có chính sách phân phối sản phẩm một cách hợp lý, các hệ thống phươngtiện vận chuyển uyển chuyển, nhanh nhạy nhất Bố trí cửa hàng phân phối,

Trang 26

đại lý rộng khắp trên toàn quốc Hệ thống kho bãi hợp lý Với hệ thống biệnpháp trên sẽ giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đạt đượcnhững kết quả mong muốn ở mức độ cao nhất và thu được lợi nhuận một cáchtối đa Chúng ta phải có nghệ thuật bán hàng nhanh nhậy, có các khẩu thuậtmời chào thu hút khách hàng như câu: " Khách hàng là thượng đế" hay "vuilòng khách đến, vừa lòng khách đi"

Ngoài cách bán hàng truyền thống là bán hàng trực tiếp, bán buôn, bán

lẻ ta còn có thể bán hàng qua mạng Internet và bán hàng theo kiểu ký hợpđồng dài hạn với các Công ty phân phối mỹ phẩm

Sau khi sản phẩm của chúng ta đã được tiêu thụ trên thị trường, ngườitiêu dùng đã sử dụng một thời gian rồi Ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu để cảitiến sản phẩm để đảm bảo sự tăng trưởng của doanh nghiệp và sự cạnh tranhđối với doanh nghiệp khác Ta cần phải cải tiến thêm về chất lượng sản phẩm,mẫu mã, bao bì của sản phẩm cũng phải đẹp hơn, phù hợp hơn nữa, giá cảcũng phải chỉnh đốn lại Tuy nhiên vẫn phải đặt mục tiêu của người tiêu dùnglên hàng đầu Giá cả tuy tăng nhưng không đáng kể đối với người tiêu dùng

Khi sản phẩm của doanh nghiệp ta đã đứng vững trên thị trường thì tavẫn phải luôn luôn nghiên cứu và nghĩ tới sau này sản phẩm của doanh nghiệpmình có còn thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng nữa hay không Và lúcnày công việc của chúng ta là làm thế nào để sản phẩm của chúng ta gần gũivới người tiêu dùng hơn ta sẽ dùng hình thức quảng cáo Ta sẽ triển khaiquảng cáo trên tất cả các kênh truyền hình có thể như VTV1, VTV2, VTV3

và thậm chí ra cả các kênh truyền hình nước ngoài để len lỏi từ từ vào thịtrường nước ngoài Ta cũng phải luôn dùng biện pháp chiết khấu, giảm giá để

hỗ trợ sản phẩm để đảm bảo cho sự phát triển đi lên của doanh nghiệp

Chức năng tiêu thụ là chức năng giữ vị trí khá quan trọng đối với cácdoanh nghiệp Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệ và mục

Trang 27

tiêu của các nhà doanh nghiệp Vì vậy để đạt được tốt các mục tiêu này doanhnghiệp sản xuất dầu gội "Sunsilk" của chúng ta phải thực hiện:

+ Đạt được mức tiêu dùng cao nhất

+ Mục tiêu thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng

+ Giới thiệu sản phẩm để người tiêu dùng lựa chọn

+ Phù hợp với đời sống xã hội

Tất cả những yếu tố này đã và đang góp phần vào sự thành công và đạtkết quả cao trong kinh doanh của doanh nghiệp ta

Trang 28

PHẦN II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢNG CÁO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

I DOANH SỐ QUẢNG CÁO Ở CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Sau khi giải phóng đất nước 1975 đảng ta bắt tay vào xây dựng nên KT– XHCN nhiều thành phần dưới sự chỉ đạo của nhà nước Trong thời kỳ nàynền KT bao cấp là chính nghĩa là các doanh nghiệp chỉ sản xuất những sảnphẩm do nhà nước yêu cầu và với số lượng quy định, những sản phẩm này khibán ra thị trường lại được nhà nước chỉ định về thị phần kinh tế Chính vì vậytrong thời kỳ này xảy ra hiện tượng chỗ thừa, chỗ thiếu mà do nhu cầu củangười dân về các sản phẩm hàng hóa ra không được cải tiến về chất lượngmẫu mã, kiểu dáng lẫn chất lượng phục vụ khách hàng Bởi trong giai đoạnnày các doanh nghiệp kinh tế không phải cạnh tranh nhau trên thị trường hơnnữa nếu có sản xuất lỗ thì các doanh nghiệp đã được nhà nước bù lỗ chính vìvậy giai đoạn này nền kinh tế không phát triển, các hoạt động quảng cáo,maketting không được quan tâm đến, nhưng từ 1980 nhà nước đã từng bướccải cách nền kinh tê và đến 1993 xóa bỏ nền kinh tế bao cấp

Từ 1986 đến nay nền KT việt nam đã từng bước phát triển hàng hóasản xuất ra ngày càng nhiều đa dạng về chủng loại, nhu cầu của khách hàngngày càng cao cả về số lượng và chất lượng sản phẩm lẫn chất lượng phục vụ

Do đó hoạt động quảng cáo của các doanh nghiệp việt nam cũng từng bướcphát triển phong phú và đa dạng Chi phí của các doanh nghiệp - VN dànhcho quảng cáo cho ta thấy rõ điều đó doanh số quảng cáo trong năm 1993 là12,17 triệu USD năm 1994 là 70 triệu USD năm 1995 là 141 triệu USD đến

1996 con số này đã lên 271 triệu USD và đến 1997 doanh số quảng cáo đãphát triển với tốc độ cao và đạt con số kỷ lục là 448 triệu USD

1994 doanh số quảng cáo tăng 58,33% so với năm 1993 đến 1995doanh số quảng cáo tăng 1075% so với năm 1993 Nhưng tốc độ phát triển

Ngày đăng: 18/12/2014, 08:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w