Trong các biện pháp cụ thể để thực hiện được điều đó thì việc hoàn thiện và xây dựng các cơ chế, chính sách để đưa ra áp dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng, sẽ là tiền đề đảm bảo sự th
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
CH NG I: LÝ LU N V U T PH T TRI N V CHI U T PH T TRI N T ƯƠ Ậ ỀĐẦ Ư Á Ể À ĐẦ Ư Á Ể Ừ NG N S CH NH N C Â Á À ƯỚ 5
I U T PHÁT TRI N VÀ M T S KHÁI NI M LIÊN QUAN ĐẦ Ư Ể Ộ Ố Ệ 5
1 Khái ni m u t phát tri n ệ đầ ư ể 5
2 c i m c a u t phát tri n qu c gia Đặ để ủ đầ ư ể ố 6
3 Đầ ư à ệ u t v hi u qu u t ảđầ ư 6
1 Khái ni m Ngân sách Nh n ệ à ướ 7 c 2 Vai trò c a v n NSNN i v i s phát tri n c a qu c gia ủ ố đố ớ ự ể ủ ố 8
3 Quy trình qu n lý chi u t phát tri n t NSNN ả đầ ư ể ừ 10
3.1 Quy trình chung qu n lý v n u t t NSNN ả ố đầ ư ừ 10
3.2 Quy trình qu n lý v n d án quy ho ch ả ố ự ạ 11
3.3 Quy trình qu n lý d án u t ả ự đầ ư 11
3.4 Quy trình quy t toán v n u t ế ố đầ ư 12
CH NG II: TH C TR NG QU N LÝ CHI U T ƯƠ Ự Ạ Ả ĐẦ Ư 14
PH T TRI N T NG N S CH NH N C V Á Ể Ừ Â Á À ƯỚ À 14
NH NG V N T RA HI N NAY Ữ Ấ ĐỀĐẶ Ệ 14
I KHÁI L C V TÌNH HÌNH CHI U T PHÁT TRI N T NGÂN SÁCH ƯỢ Ề ĐẦ Ư Ể Ừ NHÀ N C N C TA TRONG TH I GIAN QUA ƯỚ Ở ƯỚ Ờ 14
1 ánh giá chung v tình hình chi NSNN cho ho t ng u t phát Đ ề ạ độ đầ ư tri n th i gian qua ể ờ 14
2 C c u chi u t phát tri n t NSNN trong th i gian qua ơ ấ đầ ư ể ừ ờ 15
Chi u t phát tri n t NSNN trong th i gian qua bao g m nh ng n i đầ ư ể ừ ờ ồ ữ ộ dung chi chính: 15
2.1 Chi u t xây d ng c b n đầ ư ự ơ ả 16
2.1.2 Tình hình chi u t xây d ng c b n c a NSNN theo vùng đầ ư ự ơ ả ủ 18
m b o m c tiêu phát tri n n nh b n v ng bên c nh vi c ti p t c Đểđả ả ụ ể ổ đị ề ữ ạ ệ ế ụ t p trung ngu n v n u t cho nh ng vùng, ng nh kinh t tr ng i m ậ ồ ố đầ ư ữ à ế ọ để theo chi n l c qu c gia d i h n nh m t o ng l c thúc y c n n kinh ế ượ ố à ạ ằ ạ độ ự đẩ ả ề t i lên, c bi t l ph n v n m i r t quan tr ng c a NSNN, Chính ếđ đặ ệ à ầ “ ố ồ ” ấ ọ ủ Ph c n ti p t c nâng cao s quan tâm n nh ng vùng khó kh n, ủ ầ ế ụ ự đế ữ ă để các ng v n u t c a Nh n c i đồ ố đầ ư ủ à ướ đ đượ đế c n n i c n n v phát huy ơ ầ đế à c hi u qu cao nh t có th , t o th phát tri n cân b ng chi n l c đượ ệ ả ấ ể ạ ế ể ằ ế ượ trong c n ả ướ 20 c 2.2 Chi h tr v n cho các doanh nghi p Nh n c ỗ ợ ố ệ à ướ 20
2.3 Chi bù lãi su t tín d ng c a Nh n c ấ ụ ủ à ướ 21
2.4 Tình hình chi u t phát tri n t NSNN cho các ch ng trình m c đầ ư ể ừ ươ ụ tiêu v các qu c a Nh n à ỹ ủ à ướ 21 c. II TÌNH HÌNH QU N LÝ CHI NSNN CHO HO T NG U T PHÁT TRI N Ả Ạ ĐỘ ĐẦ Ư Ể TRONG TH I GIAN QUA Ờ 24
1 Th c tr ng qu n lý chi u t phát tri n t ngân sách Nh n c trong ự ạ ả đầ ư ể ừ à ướ th i gian qua ờ 24
1.1 Giai o n n m 1981 tr v tr c đ ạ ă ở ề ướ 24
1.2 Giai o n t 6/6/1981 n 7/11/1990: đ ạ ừ đế 24
1.3 Giai o n t sau 7/11/1990 n nay: đ ạ ừ đế 25
2 Nh ng k t qu thu ữ ế ả đượ 29 c. 2.1 Nh ng k t qu t ữ ế ảđạ đượ c trong công tác qu n lý chi u t phát tri n ả đầ ư ể t Ngân sách Nh n ừ à ướ 29 c 2.2 Nh ng k t qu t ữ ế ảđạ đượ ề ặ c v m t kinh t - xã h i ế ộ 31
2.3 Nh ng k t qu t ữ ế ảđạ đượ c trong ho t ng u t phát tri n ạ độ đầ ư ể 31
CH NG III: M T S T N T I V GI I PH P NH M ƯƠ Ộ Ố Ồ Ạ À Ả Á Ằ 34
T NG C NG HI U L C QU N LÝ CHI U T PH T TRI N T NG N S CH Ă ƯỜ Ệ Ự Ả ĐẦ Ư Á Ể Ừ Â Á NH N C GIAI O N 2001-2010 À ƯỚ Đ Ạ 34
I NH NG U, NH C I M C A CÔNG TÁC QU N LÝ CHI U T PHÁT TRI N Ữ Ư ƯỢ ĐỂ Ủ Ả ĐẦ Ư Ể
Trang 26 Ho n thi n c ch qu n lý chi phí u t à ệ ơ ế ả đầ ư 44
7 Không ng ng nâng cao ch t l ng v ph m ch t c a i ng cán b ừ ấ ượ à ẩ ấ ủ độ ũ ộ
l m công tác qu n lý chi NSNN cho TPT à ả Đ 45
KẾT LUẬN 47 Nâng cao hiệu quả trong sử dụng đồng vốn đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước là một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn đầu tích luỹ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hoá hiện nay Quản lý sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trong hoạt động đầu tư phát triển một cách hiệu quả là lĩnh vực rộng lớn, phức tạp, liên quan tới nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều người, nhất là những người có trách nhiệm quản lý, do đó càng khó khăn gấp bội Trong các biện pháp cụ thể để thực hiện được điều đó thì việc hoàn thiện và xây dựng các cơ chế, chính sách để đưa ra áp dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng, sẽ là tiền đề đảm bảo sự thành công trong công tác quản lý Nhà nước nói riêng và công tác quản lý vốn đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước nói riêng 47 Thực tiễn luôn thay đổi không ngừng vì vậy một yêu cầu tất yếu đặt ra là các cơ chế, chính sách điều chỉnh phải luôn được hoàn thiện, bổ sung trình độ Các cơ chế, chính sách này luôn cần được sự quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu và phối hợp thực hiện đồng bộ của các chủ thể quản lý 47 Cùng với các lĩnh vực khác, việc quản lý sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho hoạt động đầu tư phát triển
sẽ dần đi vào nề nếp, sẽ ngày càng được hoàn thiện hơn, tạo điều kiện thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 9, góp phần vào tiến trình đổi mới theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hoá đưa nước ta vững bước trên con đường đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội, thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong vòng hơn 10 năm qua, đặc biệt là giai đoạn 1991 – 2000 lĩnh vựcđầu tư phát triển ở nước ta – trong đó có đầu tư phát triển (ĐTPT) thuộc ngânsách Nhà nước (NSNN) đã đạt được những kết quả rất quan trọng.Tínhchung 10 năm 1991- 2000, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã thực hiện đượckhoảng 683 ngàn tỷ đồng (tương đương 61,5 tỷ USD), trong đó vốn đầu tưphát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 22% (khoảng 150ngàn tỷ đồng); bằng 32,2% tổng số thu ngân sách Nhà nước và tương đươnggần 6,6% GDP Những cơ chế chính sách mới được áp dụng trong thời gianqua đã giảm thiểu sự bao cấp của Ngân sách Nhà nước, nâng cao ý thức tráchnhiệm, mở rộng quyền hạn cho các cấp, các ngành, địa phương trong quản lýđầu tư và xây dựng
Bên cạnh đó cơ cấu nền kinh tế (ngành, lãnh thổ, khu vực) còn chuyểnbiến chậm, tình trạng phân tán, lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư thuộcnguồn ngân sách Nhà nước còn khá phổ biến Mặc dù hệ thống cơ chế, chínhsách quản lý vốn đầu tư thuộc nguồn ngân sách Nhà nước đã được bổ sungsong chưa thật phù hợp với sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường.Trong khi đó việc quản lý sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là rất cấp
Từ yêu cầu bức xúc của thực tiễn sử dụng và công tác quản lý vốn đầu
tư thuộc nguồn ngân sách Nhà nước trong thời gian qua, và để quản lý sửdụng vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển trong thời gian tới Với sựgiúp đỡ thầy, cô sự tìm hiểu thực tiễn quản lý vốn ngân sách Nhà nước ởnước ta, cũng như sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ Vụ pháp chế- Bộ Tài
Chính, em xin chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho hoạt động đầu tư phát triển ở nước ta giai đoạn 2001-2010” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở nhận thức lại những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển,đánh giá hiện trạng tình hình quản lý vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sáchNhà nước để tìm ra các giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần hoàn thiệnchính sách và cơ chế quản lý sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cho hoạt độngđầu tư phát triển trong giai đoạn 2001- 2010 tới đây
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phù hợp với mục tiêu trên, nhưng cũng do hạn chế điều kiện khảo sát
Trang 4trong khuôn khổ đánh giá, tổng hợp các chính sách, cơ chế quản lý vốn đầu tưphát triển thuộc ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 1991-2000 cùng với cáctài liệu từ các ấn phẩm của các cơ quan, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học
và các nhà kinh tế trong nước là chủ yếu
Kết cấu đề tài
Chương I: Lý luận về đầu tư phát triển và chi đầu tư phát triển từ
ngân sách Nhà nước
Chương II: Thực trạng quản lý sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà
nước cho đầu tư phát triển
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng
nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho hoạt động đầu tư phát triển ở nước ta giaiđoạn 2001-2010
Với khả năng suy luận tổng hợp, và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chếnên chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót, vì vậy kính mong sự góp ý chânthành của thầy cô và các bạn.Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn sựhướng dẫn tận tình của Giáo viên Võ Thị Phương Lan và các cô, chú cán bộ
Vụ pháp chế - Bộ Tài Chính đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Trang 5CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ CHI ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung, là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quảnhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kếtquả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động
và trí tuệ Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiềnvốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, các của cải vật chất khác ), tài sảntrí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn , khoa học kỹ thuật ) và nguồn nhânlực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội
Trong các kết quả đã đạt được trên đây những kết quả là các tài sản vậtchất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trongmọi lúc mọi nơi, không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh
tế Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế được thụ hưởng
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng cácnguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế- xã hội những kết quảtrong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.Như vậy, nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có hoạt động sử dụngcác nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng tài sản vật chất, nguồn nhân lực
và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lựcsẵn có thuộc phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay phạm trù đầu tư phát triển
Từ đây ta có định nghĩa về đầu tư phát triển như sau:
“Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế- xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội”.
Trang 62 Đặc điểm của đầu tư phát triển quốc gia
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hìnhđầu tư khác, thể hiện ở các mặt sau đây :
- Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng trongsuốt quá trình thực hiện đầu tư Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển
- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của
nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra
- Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi trong thờigian dài và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cựccủa các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị , kinh tế
- Các thành quả của đầu tư phát triển có giá trị sử dụng nhiều năm, cókhi hàng trăm, hàng ngàn năm Điều này nói lên giá trị lớn lao của thành quảđầu tư phát triển
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xâydựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng lên Do đó, các điều kiện
về địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng nhưtác dụng sau này của các kết quả đầu tư
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lí của khônggian
- Từ các đặc điểm trên có thể khẳng định đầu tư phát triển là hoạt độngmang nặng tính rủi ro
3 Đầu tư và hiệu quả đầu tư.
Mục tiêu của bất kỳ một hoạt động đầu tư nào cũng là phải tạo đượcnhững kết quả đầu tư nhất định Đó có thể là các công trình xây dựng hoặccác kết cấu hạ tầng như nhà máy, hầm mỏ, công trình thuỷ điện, các côngtrình thuỷ lợi Những kết quả đầu tư này phải đáp ứng được nhu cầu nào đócủa nền kinh tế Hay nói cách khác vốn đầu tư bỏ ra phải mang lại hiệu quả
Trang 7Hiệu quả đầu tư chính là biểu hiện của các mục tiêu chiếm dụng lợi ích cụthể:
- Hiệu quả tài chính: là các lợi ích về tài chính thu thập được từ dự án,biểu hiện bằng giá trị tính theo giá thị trường Đây là loại hiệu quả đầu tưmang lại lợi trực tiếp cho người đầu tư
- Hiệu quả kinh tế: là các lợi ích biểu hiện bằng giá trị tính theo phương
án kinh tế
- Hiệu quả xã hội: là hiệu quả mà chủ thể nhận được trong việc thực hiệncác chương trình, chính sách kinh tế xã hội của quốc gia từ quá trình hiện đầu tư Thông thường, hiệu quả về mặt xã hội không thể lượng hoá hết được vàthực tiễn cho thấy nó luôn mâu thuẫn với các mục tiêu tài chính của ngườiđầu tư Do vậy, trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và quản lý sử dụngvốn đầu tư nói riêng luôn phải kết hợp hài hoà giữa các loại ích để có thể vừađảm bảo lợi ích cho người đầu tư, vừa đảm bảo lợi ích chung của nền kinh tế.Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả đầu tư không phải là một việc dễ dàng
vì có rất nhiều tiêu chí để đánh giá hiệu quả đầu tư Trên các góc độ xem xétkhác nhau thì việc đưa ra kết luận đầu tư hiệu quả cũng rất khác nhau Ví dụnhư nhiều chủ trương đầu tư của Nhà nước, như chương trình 1 triệu tấnđường, chương trình 135, chương trình giao thông nông thôn, chương trìnhkiên cố hoá kênh mương, chương trình nuôi trồng thuỷ sản, chương trình khôiphục làng nghề rõ ràng xét về hiệu quả tài chính là không cao, thậm chí phảicần đến một lượng vốn Nhà nước rất lớn nhưng nếu xét về khía cạnh hiệu quả
xã hội thì đây là những dự án rất quan trọng, có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội
Nó đã giải quyết rất tốt vấn đề công ăn việc làm cho nhiều vùng dân cư, làmthay đổi bộ mặt của nhiều địa phương, giảm bớt sự chênh lệch phát triển giữacác vùng miền trong cả nước Do đó, việc xem xét, đánh giá hiệu quả đầu tưchỉ mang tính chất tương đối
II NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam (năm 1996) đã quy định:
“ Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
Trang 8thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Theo nghĩa rộng, NSNN không bị giới hạn về mặt thời gian và khônggian Về mặt thời gian, NSNN là một quá trình liên tục, ra đời và tồn tại cùngvới sự tồn tại của Nhà nước Về mặt không gian, NSNN không chỉ giới hạntrong quản lý việc sử dụng các nguồn lực tài chính của Nhà nước, mà nó cònđóng vai trò quan trọng trong việc chi phối, định hướng, phối hợp của Nhànước với việc sử dụng các nguồn lực tài chính của khu vực tư nhân, nhằmthực hiện các chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước NSNN là một công cụ tài chính quan trọng của quốc gia để quản lý quátrình hình thành và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực tài chính khan hiếmcủa quốc gia đó nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược, thực hiện thành côngcác kế hoạch, các chương trình dài, trung và ngắn hạn của quốc gia trong từngthời kỳ phát triển khác nhau
2 Vai trò của vốn NSNN đối với sự phát triển của quốc gia
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Ngân sách Nhà nước được sửdụng như một công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước có thể khắc phụcnhững khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế tăngtrưởng, tạo đầy đủ công ăn việc làm, ổn định giá cả, kìm chế lạm phát
Vốn NSNN có những vai trò riêng biệt được xác lập dựa trên cơ sở chứcnăng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể:
* Vốn NSNN được sử dụng để duy trì hoạt động của Nhà nước, phân bổmột cách cân đối các nguồn lực tài chính khan hiếm của quốc gia nhằm phục
vụ các mục tiêu phát triển, ổn định, bền vững, công bằng và dân chủ của đấtnước Nó gắn với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ củamình
* Vốn NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế , xã hội của Nhà nước
- Về mặt kinh tế :
Phần vốn NSNN chi cho hoạt động đầu tư phát triển có ý nghĩa đặc biệtquan trọng đối với sự phát triển kinh tế, vì nó tạo ra điều kiện và môi trườngthuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác, hay nóicách khác là đầu tư của Nhà nước là phần “vốn mồi”, tạo ra sự khởi động banđầu, kích thích quá trình vận động vốn từ các nguồn khác để hướng tới sự tăng trưởng.Với những mục tiêu có tính lâu dài và tính xã hội cao, vốn NSNNthường được sử dụng để đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp,
Trang 9thời gian thu hồi vốn dài, những ngành kinh tế mũi nhọn và những công trìnhkinh tế mà không thể dựa vào đầu tư tư nhân nhưng lại có ảnh hưởng quantrọng đến công cuộc phát triển kinh tế xã hội đất nước như đầu tư xây dựng
hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển như điện, đường, trường, trạm
Các ngành công nghiệp non trẻ cũng cần có vốn đầu tư của Nhà nước
Sự phát triển của các ngành này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của cácngành kinh tế khác
Cùng với đầu tư phát triển công cộng, Nhà nước sử dụng vốn đầu tưNSNN để thu hút vốn đầu tư từ các nguồn phi Nhà nước hình thành nênnguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, nguồn vốn này tham gia đầu tư vàolĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ, là nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh
tế của đất nước, để khuyến khích đầu tư ưu đãi cho nhiều ngành xản xuất kinhdoanh, tạo điều kiện hình thành nên các ngành sản xuất quan trọng có vai trò
to lớn trong nền kinh tế quốc dân, như ngành năng lượng, sản xuất lươngthực, công nghiệp dầu khí, thuỷ sản, một số ngành công nghiệp nhẹ
Các khoản chi của ngân sách để hỗ trợ cho các DNNN hoặc trợ cấp chomột số doanh nghiệp Nhà nước trong trường hợp đặc biệt góp phần khôngnhỏ trong quá trình khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước tronggiai đoạn phát triển hiện nay
Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, bằng chính sách đầu tư và phân bổcác nguồn lực hạn chế tương đối thích hợp, NSNN đã có tác động đến việcđảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc hình thành cơ cấu kinh tế mới hợp lýhơn, đến việc chống độc quyền, đến việc tạo ra môi trường và điều kiện thuậnlợi cho sản xuất kinh doanh, tạo thế và lực cho sự phát triển của đất nước trongtương lai
- Về mặt xã hội:
Chính sách chi của NSNN cũng góp phần đáng kể trong quá trình phânphối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền trong cả nướcqua việc sử dụng các khoản trợ cấp mang tính chất chuyển giao, các hoạtđộng đầu tư có định hướng Ví dụ, việc chú trọng đến chi cho các chươngtrình công cộng nông thôn sẽ có tác động nhiều hơn đến việc giảm bớt sự bấtcông trong phân phối thu nhập với các khoản chi cho công trình công cộng ởthành thị vì đa số người nghèo sống ở nông thôn hay việc đầu tư phát triển hệthống giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, các chương trình bảo vệ mội trường
Trang 10Tuy nhiên, trong điều kiện NSNN còn eo hẹp, chi phí cho các vấn đề xãhội thường rất lớn nên các khoản chi của NSNN để giải quyết các vấn đề xãhội phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, đúng đối tượng và đúng việc cần chi.
- Về mặt thị trường:
Sự hình thành Quỹ dự phòng trong NSNN có vai trò cực kỳ quan trọng
để đối phó với sự biến động của thị trường, góp phần bình ổn giá cả
Bên cạnh đó, bằng các biện pháp thu chi của ngân sách có thể nâng đỡcung, giảm bớt cầu, để có thể ngăn chặn nguy cơ lạm phát do tăng giá có thể sảy ra.Thực tế đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của Vốn NSNN đặcbiệt là chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực đầu tư phát triển nói riêng và cho
sự phát triển nền kinh tế nói riêng Nó không chỉ tạo tiền đề cho sự phát triển
mà còn khuyến khích, định hướng sự phát triển, tác động vào việc hình thànhmột cơ cấu đầu tư và một cơ cấu kinh tế hợp lý Do đó, yêu cầu phải hoànthiện cơ chế quản lý sử dụng vốn Ngân sách nói chung và cơ chế quản lý sửdụng vốn NSNN cho hoạt động đầu tư phát triển là vấn đề rất cần thiết đối vớithực tiễn hiện nay
3 Quy trình quản lý chi đầu tư phát triển từ NSNN
Căn cứ vào quy trình quản lý NSNN và chu trình hoạt động của dự ánđầu tư (Chuẩn bị đầu tư - Thực hiện đầu tư - Kết thúc và vận hành kết quảnđầu tư) thì việc quản lý vốn đầu tư có nguồn gốc NSNN có thể được thực hiệntheo quy trình sau:
3.1 Quy trình chung quản lý vốn đầu tư từ NSNN
Như phần trên đã trình bày, đầu tư và hoạt động đầu tư được tuân thủtheo một chu trình, do vậy trong quản lý vốn đầu tư cũng được thực hiện mộtquy trình tương tự như quá trình hoạt động của một dự án đầu tư
3.1.1 Trong quá trình thanh toán vốn đầu tư có nhiều loại văn bản, hồ sơchứng từ để xác minh và khẳng định tính hợp pháp và đúng đắn của nghiệp
vụ kinh tế phát sinh được tuân thủ theo quá trình hoạt động kinh tế Do vậy,
để thanh toán cho một hoặc một nhóm nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quátrình đầu tư thì chúng ta phải thụ lý hồ sơ của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
đó để cấp phát, thanh toán theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nướctheo điều kiện cụ thể mà mỗi văn bản của Nhà nước điều chỉnh với nghiệp vụ kinh tế trongtừng thời kỳ, điều kiện cụ thể
3.1.2 Trước khi tiến hành cấp phát, thanh toán cho nghiệp vụ kinh tếphát sinh cụ thể nào đó chúng ta phải tiến hành kiểm tra về mặt phát lý của
Trang 11nội dung đó: Là kiểm tra tính hợp pháp của quá trình đầu tư thể hiện qua cácvăn bản hồ sơ có liên quan đến việc mà nghiệp vụ kinh tế cụ thể, kiểm tra,thẩm tra (kiểm tra) về mặt giá trị: Đó là việc thẩm định về mặt giá trị của nộidung kinh tế phát sinh theo khối lượng, đơn giá và các điều kiện đặc thù khácnếu có của một dự án.
3.1.3 Xác định giá trị để cấp phát thanh toán: căn cứ vào kết quả củaviệc kiểm tra hồ sơ pháp lý, khối lượng thực hiện xác định giá trị của nghiệp
vụ kinh tế phát sinh để đề xuất giá trị cấp phát
3.2 Quy trình quản lý vốn dự án quy hoạch
2 Quy trình quản lý vốn dự án quy hoạch bao gồm các nội dung sau:
2 Thứ nhất là thụ lý hồ sơ: Thụ lý hồ sơ là việc kiểm tra toàn bộ những hồ sơ pháp lý của dự
án như: quyết định hoặc văn bản giao nhiệm vụ thực hiện quy hoạch, quyếtđịnh giao chủ nhiệm đề tài nghiên cứu về quy hoạch (chủ đầu tư ), dự án đượccấp có thẩm quyền phê duyệt về nội dung thực hiện quy hoạch, văn bản chỉđịnh thầu (nếu là đấu thầu), hợp đồng giao nhận thầu
Thứ hai là thẩm tra giá trị thực hiện của dự án quy hoạch, bao gồm:
kiểm tra về tính hợp pháp của các nội dung thực hiện quy hoạch, kiểm tra vềmặt khối lượng thực tế và dự toán được duyệt, xác định giá trị thực tế của các côngviệc thực hiện dự án quy hoạch
Sau đó, căn cứ vào kết quả của hai nội dung trên đề xuất và cấp phát,thanh toán cho Chủ đầu tư
3.3 Quy trình quản lý dự án đầu tư
Thụ lý hồ sơ: là việc kiểm tra hồ sơ pháp lý của dự án trong các giaiđoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc đầu tư
3.3.1 Quản lý vốn ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, quy trình quản lý vốn bao gồm các bước sau:
Một là, kiểm tra chủ trương đầu tư Hồ sơ bao gồm: quyết định cho phép
đầu tư dự án của cấp có thẩm quyền, quyết định trúng thầu (chỉ định thầu),hợp đồng kinh tế giữa Chủ đầu tư và đơn vị tư vấn, biên bản nghiệm thu tàiliệu, quyết định phê duyệt dự án đầu tư
Hai là, kiểm tra về mặt giá trị thực hiện hợp đồng: kiểm tra về mặt pháp lý:
các biên bản nghiệm thu và khảo sát kỹ thuật, xác định giá trị khối lượng: căn cứ vàocác biên bản nghiệm thu và thực tế xác định khối lượng do nhà tư vấn thựchiện, xác định giá trị: căn cứ kết quả xác định về mặt khối lượng và đơn giá
Trang 12Căn cứ vào hồ sơ pháp lý, khối lượng, giá trị đã kiểm tra của giai đoạnchuẩn bị đầu tư đề xuất, cấp phát thanh toán cho Chủ đầu tư thanh toán chođơn vị tư vấn.
3.3.2 Quản lý vốn ở giai đoạn thực hiện đầu tư
* Quá trình chuẩn bị thực hiện đầu tư :
Về mặt pháp lý: kiểm tra hợp đồng kinh tế về thiết kế và khảo sát của đơn
vị tư vấn và Chủ đầu tư, các biên bản bàn giao nghiệm thu hồ sơ thiết kế
Về khối lượng: xác định khối lượng thực hiện căn cứ vào khối lượngthực tế đơn vị tư vấn đã thực hiện, quy trình thiết kế, các biên bản phát sinh,biên bản bàn giao, từ đó xác định khối lượng thiết kế mà nhà tư vấn đã thựchiện
Về giá trị: căn cứ vào khối lượng thực hiện, căn cứ vào định mức đơngiá xác định giá trị của khối lượng mà đơn vị tư vấn đã thực hiện, đề xuất cấpphát thanh toán cho Chủ đầu tư để Chủ đầu tư có thể thanh toán cho đơn vị tưvấn
Căn cứ vào khối lượng thực hiện đã được xác định và đơn giá hiện hànhxác định giá trị của khối lượng xây lắp thực hiện đề xuất cấp phát, thanh toáncho Chủ đầu tư để Chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu
Đối với các thiết bị của dự án: căn cứ vào hợp đồng cung cấp thiết bị vàChủ đầu tư và khối lượng số lượng chủng loại thiết bị và giá cả của thiết bị,những phát sinh nếu có để xác định giá trị đề xuất cấp phát, thanh toán cho Chủ đầu tư đểChủ đầu tư thanh toán cho nhà cung cấp thiết bị
3.3.3 Quản lý vốn ở giai đoạn kết thúc dự án
Xác định các chi phí khác của dự án, nghiệm thu, bàn giao, chạy thử
3.4 Quy trình quyết toán vốn đầu tư
3.4.1 Kiểm tra toàn bộ hồ sơ pháp lý của dự án
Hồ sơ cần kiểm tra bao gồm: quyết định đầu tư, quyết định phê duyệtthiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, quyết định trúng thầu (chỉ định thầu), hợpđồng kinh tế của Chủ đầu tư ký với nhà tư vấn hoặc với nhà thầu
Trang 133.4.2.Kiểm tra về nội dung kinh tế
Xem xét, kiểm tra về: nguồn vốn, cơ cấu vốn và khối lượng vốn thựchiện hàng năm, phân tích so sánh cơ cấu vốn đầu tư thực hiện so với cơ cấuvốn đầu tư được duyệt, thẩm tra chi phí xây lắp, thẩm tra chi phí thiết bị, thẩmtra các khoản không tính vào công trình, thẩm tra chi phí khác của dự án, xácđịnh tài sản cố định và tài sản lưu động bàn giao cho Chủ đầu tư hoặc đơn vị
sử dụng
3.4.3 Hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý của dự án
Hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý của dự án bao gồm: phê duyệt quyếttoán dự án hoàn thành, quyết định bàn giao, những nội dung công việc thựchiện sau quyết toán
Trang 14CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀNHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
I KHÁI LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH CHI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂNSÁCH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA
1 Đánh giá chung về tình hình chi NSNN cho hoạt động đầu tư phát triển thời gian qua
Tính sơ bộ trong khoảng thời gian 10 năm (1991-2000) tổng vốn đầu tưphát triển toàn xã hội đã thực hiện khoảng trên 683.000 tỷ đồng tương đươngvới khoảng 61 tỷ USD (theo giá năm 1995) với tỷ trọng trong GDP của cảthời kỳ xấp xỉ 25% (Số liệu về tình hình đầu tư phát triển theo nguồn giai
đoạn 1991-2000 xem chi tiết ở Phụ lục1).
Trong tổng dòng vốn trên, phần vốn đầu tư phát triển do NSNN bỏ ra là154.500 tỷ đồng, chiếm 25% trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cảthời kỳ Hàng năm số chi đầu tư phát triển từ NSNN tuyệt đối đều tăng, tuynhiên tốc độ tăng chi có xu hướng biến động không đều, từ 122,8% (năm
1996 so với 1995) xuống 105,3% (1998/1997) và tăng 144,8% (1999/ 1998)
rồi lại giảm xuống chỉ còn 99,8% trong năm 2000 (Chi tiết xem số liệu Bảng
1A&C) Sự tăng giảm không đều trong tốc độ chi đầu tư phát triển của NSNN
trong thời gian qua một phần do cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ trong khuvực cùng với sự thoái lui sau hơn một thập kỷ gia tăng của dòng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài và của các thành phần kinh tế phi Nhà nước thì vốn Nhànước trong đó có vốn NSNN lúc này với vai trò xúc tác, tạo “cú hích” củaNSNN càng được thể hiện rõ
Bên cạnh đó một nguyên nhân khác dẫn tới sự suy giảm dần trong tốc độchi ngân sách cho đầu tư phát triển trong thời kỳ này (chỉ tăng 55% so với tốc
độ tăng chi đầu tư phát triển của nguồn vốn tín dụng Nhà nước là 359% và155% của nguồn vốn tự có của các DNNN) chính là chủ trương thu hẹp dầnphạm vi bao cấp của NSNN nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách; tậptrung vốn ngân sách cho những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự
án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, vườn quốc gia, các dự án xây dựngcông trình văn hoá, xã hội, quản lý Nhà nước khoa học kỹ thuật, quốc phòng-
an ninh và các dự án trọng điểm của Nhà nước do Chính phủ quyết định mà
Trang 15không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, đồng thời khơi dậy mọi nguồn vốncòn chưa sử dụng hết hoặc chưa sử dụng hiệu quả trong các DNNN – một lựclượng cơ bản nhất của nền kinh tế Việt Nam từ trước tới nay Và thực tế thờigian qua ta cũng thấy hầu hết tất cả các lĩnh vực có thể xã hội hoá được đãdần từng bước được xã hội hóa như các hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dụcthể thao và y tế
Chính nhờ có những thay đổi đúng đắn này mà đồng vốn NSNN trongthời gian qua thông qua cấp phát, cho vay ưu đãi và các hình thức hỗ trợ kháctrở thành chất xúc tác để thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế kháccùng bỏ vốn đầu tư Các doanh nghiệp Nhà nước đã phải tự chuyển mình sang
cơ chế thị trường, phải tự tính toán hiệu quả hoạt động của mình, không còn
có thể ỷ lại vào “bầu sữa ngân sách” như trong cơ chế cũ Tín dụng đã đượcchuyển từ mục tiêu ưu đãi sang hỗ trợ cho các ngành, nghề, vùng cần khuyếnkhích đầu tư Cũng trong giai đoạn này, thông qua nguồn vốn NSNN mà tổngcầu của nền kinh tế đã không bị ảnh hưởng nhiều bởi những yếu tố tích cựccủa cuộc khủng hoảng Đồng thời qua đó đã giữ vững được ổn định kinh tế vĩ
mô, tạo lập lòng tin trong dân chúng, trong các nhà đầu tư
Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng sự tăng chi NSNN cho đầu tư pháttriển trong thời gian vừa qua cũng không hoàn toàn là dấu hiệu tốt, vì thực ranguồn vốn Nhà nước, trong đó có vốn NSNN, chỉ nên đóng vai trò là vốn
“mồi” đối với các loại vốn khác chứ không phải là nguồn vốn đầu tư chủ đạonhư ở nước ta hiện nay Điều này cũng phần nào chứng tỏ quan niệm về sự
“bao cấp” trong đầu tư của Nhà nước vẫn còn khá nặng nề và cần phải cónhững thay đổi trong thời gian tới Bên cạnh đó, hiện nay là tình trạng vốnNSNN chi đầu tư phát triển bị sử dụng rất lãng phí, tràn lan và kém hiệu quảdiễn ra rất phổ biến và cần phải được xem xét nghiên cứu kỹ để đề ra những
cơ chế, chính sách quản lý hữu hiệu trong thời gian tới
2 Cơ cấu chi đầu tư phát triển từ NSNN trong thời gian qua
Chi đầu tư phát triển từ NSNN trong thời gian qua bao gồm những nộidung chi chính:
+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản
+ Chi bù lãi suất tín dụng của Nhà nước
+ Hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước
+ Chi cho các chương trình, dự án mục tiêu và các quỹ của Nhà nước
Trang 162.1 Chi đầu tư xây dựng cơ bản
Trong cơ cấu chi đầu tư phát triển từ NSNN, phần chi cho đầu tư xâydựng cơ bản là lớn nhất, luôn chiếm khoảng trên 88% chi NSNN cho đầu tưphát triển hàng năm, bằng 144.623 tỷ đồng và tăng tương đối đều kể cả về sốtuyệt đối và số tương đối qua các năm trong kỳ (trung bình tăng 129,3% cả
thời kỳ).(Chi tiết xem Bảng 1) Việc dành phần lớn chi đầu tư phát triển của
NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản là một điều cần thiết vì vấn đề phát triển
cơ sở hạ tầng nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước.Một cơ sở hạ tầng phát triển sẽ giúp cho việc thu hút đầu tư của đất nướcthuận lợi hơn, sẽ tạo điều kiện cho việc thu hẹp khoảng cách giữa các vùng,miền, sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển
2.1.1 Tình hình sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN theo ngành Qua số liệu Bảng 2A&B đưa ra, ta thấy tổng chi đầu tư cho các nhóm
ngành kinh tế chính của NSNN đã có nhiều thay đổi đáng kể, theo hướngngày càng tích cực Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung chủ yếu cholĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, trong đó chỉ tính riêng 5năm (1996-2000) đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp khoảng 15,33%(bằng16.103 tỷ dồng), cho công nghiệp 57,21% (bằng 60.093 tỷ đồng), chogiao thông vận tải và bưu chính viễn thông 20,64% (21.685 tỷ đồng); chokhoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục- thể thao6,82% (6.353 tỷ đồng)
Tổng vốn đầu tư tập trung cho nhóm ngành nông- lâm- thủy-hải sảntrong 5 năm (1996- 2000) là 16.103 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 15,33% trongtổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho 7 nhóm ngành chính và luôn giữ đượcmức tăng trưởng dương qua các năm Về mặt tuyệt đối, mức vốn dành cholĩnh vực này trong năm 2000 tăng hơn gấp hai lần so với năm 1996 và gần 6lần so với năm 1990; về số tương đối từ chỗ chỉ chiếm khoảng 7,5% (năm1996) đã nâng lên 15,8% (năm 2000) Điều này hoàn toàn đúng với chủtrương xác định nông nghiệp vẫn là nền tảng kinh tế trong giai đoạn trước mắt
và cũng phù hợp với thực tế 80% dân số nước ta được tập trung ở nông thôn,kinh tế vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp Nguồn vốn NSNN vẫn là nguồnchủ yếu phục vụ cho lĩnh vực này, bao gồm cả vốn tín dụng ưu đãi và cácchương trình mục tiêu Đây là khu vực có khả năng sinh lời thấp nên cácthành phần kinh tế khác thường không muốn đầu tư Trong một vài năm gầnđây đã bắt đầu xuất hiện các dự án đầu tư của nước ngoài và tư nhân trong
Trang 17lĩnh vực này Chứng tỏ những thay đổi nhất định trong cơ chế, chính sáchkhuyến khích và sự đầu tư định hướng đúng của nguồn vốn ngân sách Nhànước đã tạo được sự quan tâm, thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế khácvào lĩnh vực nông nghiệp, vốn được coi là lạc hậu kém hiệu quả, đồng thờicũng phản ánh tiềm năng phát triển của ngành
Công nghiệp vẫn là một ngành được chú trọng đầu tư Đây là ngànhchiến tỷ trọng lớn nhất và cũng là một trong những định hướng ưu tiên đểđảm bảo thực hiện được cuộc hiện đại hoá nền kinh tế Trong 5 năm (1996-2000), vốn đầu tư cho công nghiệp là 60.093 tỷ đồng, chiếm khoảng 57,21%tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Tốc độ tăng bình quân hàngnăm khoảng 25,8% Xét về giá trị tuyệt đối, vốn đầu tư dành cho ngành côngnghiệp năm 2000 tăng trên 6 lần so với năm 1991 và gấp 1,5 lần so với năm
1996 với các giá trị tương ứng là 39.800 tỷ so với 6.430 tỷ và 29.510 tỷ đồng.Trong nửa cuối thập kỷ, tỷ trọng vốn đầu tư trong công nghiệp luôn ở trênmức 40% và là mức cao nhất trong số các ngành Trong tổng số vốn tập trungcho công nghiệp khoảng 30% được đầu tư vào công nghiệp chế biến, đâycũng là một chuyển hướng tích cực phù hợp với việc khai thác các lợi thế củaViệt Nam trong quá trình hội nhập tham gia vào thương mại quốc tế
Vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông vận tải và thông tin liên lạc cảthời kỳ 1991-2000 là 30.250 tỷ đồng chiếm 20,92% tổng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản từ NSNN Đây là nhóm ngành trong thời gian qua nhận được nhiều sựquan tâm đầu tư của ngân sách Trong giai đoạn này, với sự trở lại của các tổchức tài trợ quốc tế như Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng thếgiới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thông qua ngân sách hàng loạt cáccông trình giao thông lớn được đầu tư nâng cấp, tạo động lực mạnh mẽ pháttriển kinh tế của các vùng, nhờ đó mà đời sống kinh tế, tinh thần của nhân dântrong vùng dự án đã có sự cải thiện đáng kể Đặc biệt đối với vùng nông thôn,vùng sâu, vùng xa bốn nhân tố được đúc kết có vai trò khá lớn tạo sự tăngtrưởng kinh tế là điện – đường- trường- trạm Những yếu tố này chỉ có thể cóđược khi có vốn đầu tư, và nhất là sự quan tâm đầu tư của nguồn vốn ngânsách Nhà nước, trong đó trên 50% là nguồn vốn ODA của nước ngoài Tínhđến thời điểm hiện nay GTVT là một trong số ít ngành đã và đang tiếp nhậncác dự án đầu tư dưới dạng ODA nhiều nhất kể cả về số lượng dự án cũngnhư mức đầu tư Không kể các dự án hỗ trợ kỹ thuật, đến nay ngành GTVT
Trang 18đã và đang triển thực hiện 54 dự án với tổng mức đầu tư là 3.752,2 triệu USDtrong đó vốn nước ngoài đã ký kết là 3.010 triệu USD chiếm 81%.
Tuy nhiên phải nhận thấy rằng vốn đầu tư được tập trung vào ba nhómngành chính là nông nghiệp, công nghiệp và giao thông, bưu điện là cần thiếtsong vốn dành cho khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá thểthao mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn rất khiêm tốn,chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Số liệu thống kê cho thấy vốn đầu tưcho mỗi ngành này chỉ chiếm chưa tới 2% trong số tổng vốn đầu tư toàn xãhội, 6,82% trong tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Cao nhất làngành giáo dục đào tạo cũng chỉ đạt được khoảng 1,9% tổng vốn trong cả thời
kỳ, tương đương 17,7% chi đầu tư phát triển của ngân sách Thực tế nhữngngành như giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá hay nghiên cứu khoa học ở nước tatrong thời gian qua vẫn chỉ được coi là những ngành hoạt động mang tínhchất công cộng, không đem lại hiệu quả trực tiếp cho nhà đầu tư, do đó vốnđầu tư cho các nhóm ngành này chủ yếu vẫn do NSNN bao cấp mà ngân sáchNhà nước thì còn rất hạn hẹp
Bên cạnh đó, do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, hệ thống hạ tầng cơ
sở còn quá lạc hậu, lại phải chịu sức ép từ nhiều phía của quá trình mở cửa,hội nhập nên vốn đầu tư xã hội được tập trung chủ yếu vào những ngànhmang tính sản xuất vật chất nhằm mục đích thu hồi vốn trực tiếp nên cácngành mang tính xã hội như y tế, giáo dục, văn hoá, khoa học công nghệcũng là một điều có thể lý giải được Tuy nhiên trong xu hướng phát triểnhiện nay- xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức, trong đó tri thức và khoahọc công nghệ đóng vai trò quan trọng bậc nhất- thì cần phải có những chủtrương đầu tư đúng đắn hơn đối với các nhóm ngành này như việc tăng tỷtrọng vốn đầu tư cho các ngành, thúc đẩy xã hội hoá đầu tư trong những lĩnhvực có thể để giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN là rất cần thiết
2.1.2 Tình hình chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN theo vùng.
Trong vòng 10 năm qua, cơ cấu đầu tư theo vùng tuy có những sự giatăng về số tuyệt đối nhưng về tỷ trọng vẫn tương đối ổn định, chưa có biếnđộng lớn Vốn đầu tư vẫn được tập trung vào khu vực đồng bằng sông Hồng,sông Cửu Long và Đông Nam Bộ: vùng Đông Nam bộ nhận được 40.819 tỷđồng, chiếm khoảng 28% trong tổng số vốn đầu tư phát triển của cả nước,tương tự vùng đồng bằng sông Hồng là 37.532 tỷ đồng (26% tổng vốn đầu tưphát triển của cả nước) và vùng đồng bằng sông Cửu Long là 20.441 tỷ đồng
Trang 19tương đương 14% tổng vốn đầu tư cả nước Riêng ba khu vực này- đồng thời
là ba vùng kinh tế trọng điểm của đất nước- đã chiếm 68,3% tổng vốn đầu tưtoàn quốc giai đoạn 1996- 2000 so với 67,6% giai đoạn 1991-1995 với tổngmức vốn đầu tư tương ứng là 272.700/ 399.530 tỷ và 157.230/ 232.450 tỷđồng Đây cũng là những vùng có tốc độ tăng đầu tư cao nhất trong 8 vùngkinh tế của cả nước Thực tế những địa phương trong khu vực này như HàNội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương vẫn là cáckhu vực dẫn đầu cả nước về phương diện phát triển kinh tế, tốc độ gia tăngGDP bình quân đầu người
Trong khi đó, những vùng nghèo nhất, cần được đầu tư nhiều nhất để cóthể chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế là miền núi phía Bắc, duyên hảimiền Trung và Tây Nguyên thì lại chỉ nhận được ít vốn đầu tư nhất (chi tiết
xem số liệu Bảng 3A&B) và trong suốt thời kỳ cũng không được điều chỉnh là
bao nhiêu Nếu trong thời kỳ 1991-1995 sự chênh lệch vốn đầu tư được phân
bổ giữa vùng lớn nhất (Đông Nam Bộ) và vùng thấp nhất (Tây Nguyên) là 6,3lần thì giai đoạn 1996-2000 tỷ lệ này vẫn chỉ đạt 5,9 lần; hay giữa vùng đồngbằng sông Hồng và miền núi phía Bắc là 5,7 lần (1991-1995) và 5,5 lần(1996-2000)
Do xuất phát điểm giữa các vùng khác nhau nên khoảng cách giàu nghèogiữa khu vực thành thị và nông thôn ở nước ta đã tăng nhanh và có sự chênhlệch ngày càng lớn trong thời gian qua Ví dụ thấp nhất là vùng Tây Bắc năm
1995 chỉ đạt 146.000 đồng, đến năm 1999 mới đạt 1.951.000 đồng, trong khí
đó vùng cao nhất là Đông Nam Bộ năm 1995 cao gấp 4,2 lần thì năm 1999gấp 5,5 lần Như vậy sự chênh lệch giữa các vùng vẫn chưa được thu hẹp làbao Đây vẫn sẽ là một vấn đề rất khó giải quyết trong thời gian 5-10 năm tớibởi sự đánh đổi giữa tính hiệu quả và tính công bằng trong nền kinh tế thịtrường là rất “đắt”, vai trò giải quyết của Nhà nước sẽ rất nặng nề bởi tiềm lựccủa Nhà nước là có hạn trong khi nhu cầu lại quá lớn
Như vậy, mặc dù chúng ta đã áp dụng một loạt các chính sách hỗ trợ, ưuđãi đầu tư bằng các nguồn vốn NSNN nhằm tạo môi trường thuận lợi thu hútthêm các nguồn vốn đầu tư khác vào các vùng sâu, vùng xa, miền núi khókhăn nhưng xét về mặt tổng thể vẫn tồn tại nhiều yếu tố tiêu cực và chưa có
sự chuyển biến rõ ràng, đặc biệt là đối với cơ cấu vốn đầu tư theo vùng, vàtrong nội bộ các vùng; việc đầu tư theo vùng còn khép kín, chưa có sự giao
Trang 20rất lớn và cần có sự can thiệp hợp lý của Nhà nước thông qua nguồn vốn đầu
tư phát triển của NSNN đối với sự phát triển của các vùng
Để đảm bảo mục tiêu phát triển ổn định bền vững bên cạnh việc tiếp tụctập trung nguồn vốn đầu tư cho những vùng, ngành kinh tế trọng điểmtheo chiến lược quốc gia dài hạn nhằm tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh
tế đi lên, đặc biệt là phần “vốn mồi” rất quan trọng của NSNN, ChínhPhủ cần tiếp tục nâng cao sự quan tâm đến những vùng khó khăn, để cácđồng vốn đầu tư của Nhà nước đi được đến nơi cần đến và phát huyđược hiệu quả cao nhất có thể, tạo thế phát triển cân bằng chiến lượctrong cả nước
2.2 Chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước
Vốn NSNN cấp hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước đã phần nào giúpcác DNNN thực sự khẳng định được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Cácdoanh nghiệp Nhà nước thời kỳ này đã tự chuyển mình thích nghi với cơ chếthị trường, phải tự tính toán hoạt động của mình, không còn hoàn toàn dựavào “bầu sữa ngân sách” như trong cơ chế cũ nữa Ngân sách Nhà nước tronggiai đoạn này chỉ có vai trò hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông qua việc cấptoàn bộ vốn cố định và một phần vốn lưu động cho doanh nghiệp, phần vốnlưu động còn lại doanh nghiệp phải tự tìm cách huy động Tính chung cả thời
kỳ 1991- 2000 NSNN cấp hỗ trợ vốn DNNN là 6.288 tỷ đồng, chiếm khoảng3,9% chi đầu tư phát triển của ngân sách Năm 1996 hỗ trợ vốn cho DNNNcủa NSNN chỉ là 395 tỷ đồng đến năm 1998 đã tăng lên 843tỷ, và trong năm
2000 con số này lên tới 1086 tỷ đồng Tốc độ tăng chi ngân sách cho cácDNNN cũng tăng nhanh: năm 1997 so với 1996 tăng 101,3%, năm 1998 sovới 1997 tăng hơn 210%, năm 2000 bằng 134,9% năm 1999 (Chi tiết xem số
liệu Bảng 1) Việc tăng chi NSNN hỗ trợ cho các DNNNSNN nhằm thực hiện
chủ trương tạo động lực ban đầu và khuyến khích các DNNN trong có thểphát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chủ trong quá trình sản xuất, kinh doanh,qua đó có thể tiến tới hoạt động tự chủ, giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN Thực
tế đã chứng minh chủ trương này đã phát huy những kết quả nhất định Hiệntrong cả nước có trên 5.000 DNNN với quy mô vốn hơn 100.000 tỷ đồng.Tình hình đầu tư của các DNNN rất khả quan, vốn đầu tư tăng qua các năm(trung bình khoảng 14%/năm), vốn do NSNN cấp được sử dụng tương đốihiệu quả và đúng mục đích của Nhà nước là tập trung phát triển những ngànhnghề, vùng lãnh thổ quan trọng cần có sự tham gia của Nhà nước; các hình
Trang 21thức liên doanh, liên kết với nước ngoài ngày càng đa dạng, con số 98% số
dự án liên doanh với nước ngoài do các DNNN hiện nắm giữ đã phần nào nóilên tình hình đầu tư của các DNNN trong thời gian qua Sự “chuyển mình”của hệ thống DNNN, cùng với những chủ trương hỗ trợ chứ không bao cấpcủa NSNN đã thực sự thổi một luồng sinh khí mới vào tình hình đầu tư củađất nước nói chung
2.3 Chi bù lãi suất tín dụng của Nhà nước
Bên cạnh việc hỗ trợ cho các DNNN, Nhà nước còn sử dụng vốn đầu tưNSNN để thu hút vốn đầu tư từ các nguồn phi Nhà nước hình thành nênnguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Có thể nói, vốn tín dụngvới sự trợ giúp của nguồn vốn NSNN sau khi ra đời đã góp phần đẩy mạnhtình hình đầu tư trong nước Đặc biệt là sau khi có những sự điều chỉnh vềmặt cơ chế, chính sách quản lý vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, nguồn vốntín dụng đã tăng nhanh chóng cả về quy mô vốn, quy mô đầu tư và hiệu quả
sử dụng Từ chỗ chỉ với hơn 3.000 tỷ đồng ban đầu (do NSNN cấp) đến nay
đã tăng lên tới hơn 70.000 tỷ đồng, có tốc độ tăng vốn đầu tư cao nhất so vớicác nguồn vốn đầu tư khác (trung bình 355% trong cả thời kỳ), năm 1991-năm đầu tiên xuất hiện vốn tín dụng Nhà nước- vốn dành cho đầu tư pháttriển chỉ là 2.320 tỷ đồng đến năm 2000 đã là 17.620 tỷ đồng (tăng gần 8lần), trong đó NSNN chỉ phải chi bù lãi suất tín dụng ưu đãi Nhà nước 589 tỷđồng ( chiếm 2% chi đầu tư phát triển của NSNN năm 2000) Nguồn vốn nàyđược sử dụng để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần
có sự hỗ trợ của Nhà nước hoặc để thực hiện các chương trình kinh tế –xãhội của Nhà nước, hoặc tạo điều kiện hình thành nên các ngành sản xuất quantrọng có vai trò to lớn trong nền kinh tế như ngành năng lượng, sản xuấtlương thực, công nghiệp dầu khí, thuỷ sản và một số ngành công nghiệp nhẹ
(Chi tiết xem Bảng 1).
2.4 Tình hình chi đầu tư phát triển từ NSNN cho các chương trình mục tiêu và các quỹ của Nhà nước.
Trong các khoản chi đầu tư phát triển của NSNN, một phần không nhỏđược dành để thực hiện các chương trình mục tiêu của Nhà nước do Chínhphủ quyết định đầu tư nhưng không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Baogồm: chương trình dự án 5 triệu ha rừng (chương trình 327 trước đây),
Trang 22chương trình khôi phục làng nghề, chương trình biển đông và hải đảo Đây
là những chương trình mục tiêu lớn của Nhà nước, có ý nghĩa đặc biệt quantrọng trong quá trình phát triển ổn định, bền vững đất nước mặc dù thành quảcủa các chương trình này không mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp và lại cầnđến những khoản vốn đầu tư lớn mà thường phải thực hiện theo hình thứcNhà nước và nhân dân cùng làm, Nhà nước bỏ vốn, nhân dân bỏ sức Tínhđến đầu năm 2001, vốn đầu tư phát triển của NSNN dành cho các chươngtrình của Nhà nước là 7.484,13 tỷ đồng (4,6% chi NSNN cho đầu tư phát triểnthời kỳ 1991-2000), trong đó chi cho chương trình kiên cố hoá kênh mương là1.068,13 tỷ đồng, chi cho chương trình 327 (5 triệu ha rừng) là2.727 tỷ đồng,chi dự án 773 609 tỷ đồng, chương trình biển đông và hải đảo3.080 tỷ đồng Cũng trong thời kỳ này, bên cạnh việc chi cho các chương trình mục tiêu củaNhà nước, chi đầu tư phát triển của ngân sách còn được sử dụng cho việc bổsung Quỹ dự trữ Nhà nước (1.802 tỷ đồng), chi cho Quỹ quốc gia giải quyếtviệc làm (2.382 tỷ đồng), chi cho Quỹ hỗ trợ xuất khẩu (128 tỷ đồng) (Chi
tiết xem Bảng 1A&B).
Tuy chưa thể nói là vốn đầu tư của NSNN dành cho các chương trìnhmục tiêu và các quỹ của Nhà nước trong thời gian qua là lớn (chỉ khoảng5,2% chi NSNN cho đầu tư phát triển, tương đương 1,4% tổng chi NSNN)nhưng hiệu quả sử dụng phần vốn này được đánh giá là khá tốt Hầu hết đượcdùng đúng mục tiêu, đúng nơi cần đầu tư, việc quản lý sử dụng vốn và thanhquyết toán vốn khá chặt chẽ ngay từ đầu, đã thu hút được sự đồng tình nhất trí
và hỗ trợ của nhân dân và các địa phương mà các dự án được triển khai Chủtrương sử dụng nguồn vốn NSNN thông qua các hình thức vốn ngân sách cấpphát trực tiếp, vốn tín dụng đầu tư phát triển với lãi suất ưu đãi, huy động vốnđóng góp của dân và từ các nguồn tài trợ của các dự án không hoàn lại củaChính phủ và các tổ chức quốc tế để thực hiện các chương trình mục tiêucủa Nhà nước không có khả năng hoàn trả vốn trực tiếp như đã và đang làm làhoàn toàn đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh đất nước hiện nay Chủ trươngnày vừa đáp ứng được các yêu cầu kích thích đầu tư, tiêu thụ sản phẩm củanhiều ngành sản xuất trong nước như sản phẩm của ngành công nghiệp (trongchương trình kiên cố hoá kênh mương và chương trình xây dựng đường giaothông nông thôn), của ngành nông nghiệp và công nghiệp hoá chất (chươngtrình trồng mới 5 triệu ha rừng), qua đó có thể kích thích sự phát triển củanhiều ngành, nhiều vùng trong cả nước Đồng thời cũng qua đó có thể giải
Trang 23quyết tốt nhiều vấn đề xã hội như vấn đề công ăn việc làm, an ninh xã hội tại các địa phương có thực hiện dự án (chủ yếu là vùng nông thôn và vùngsâu, vùng xa) Từ đó có thể nâng cao mức sống của người dân tại nơi thựchiện dự án, thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền trong cảnước
Trang 24II TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHI NSNN CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯPHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN QUA.
1 Thực trạng quản lý chi đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước trong thời gian qua
Có được vốn đầu tư là tốt, nhưng sử dụng vốn ấy hiệu quả có thể đem lạinhững hiệu quả kinh tế –xã hội mong muốn lại tốt hơn rất nhiều Do đó, côngtác quản lý vốn đầu tư nói chung và quản lý vốn đầu tư phát triển từ nguồnngân sách Nhà nước nói riêng của nước ta ra đời và được thực hiện ngay từngày thành lập nước năm 1945 Ngay từ những ngày đầu, Đảng và Nhà nước
đã quan tâm và có những nhận thức về tầm qua trọng của công tác quản lývốn đầu tư nói chung và quản lý vốn đầu tư từ NSNN nói riêng
1.1 Giai đoạn năm 1981 trở về trước
Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ này là kế hoạch hoá tập trung, vốn xâydựng cơ bản thời kỳ này chủ yếu là của NSNN Đây là thời kỳ mà đất nước taphải đối mặt với nhiều khó khăn, nguồn tài nguyên trong nước thì phong phúnhưng chưa có điều kiện để khai thác triệt để, đặc biệt là hai cuộc chiến tranhbiên giới đã làm đảo lộn nhiều mặt kinh tế xã hội Hiệu quả đầu tư phát triểnkinh tế- xã hội còn quá thấp do chưa có chiến lược và bước đi đúng thời kỳhậu chiến Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nguồn vốn đầu tư
để phát triển kinh tế đất nước là vốn NSNN mà chủ yếu theo nguyên tắc
“Thực chi- thực thanh” chứ chưa có một văn bản pháp quy nào để quản lý sửdụng Nhiệm vụ trực tiếp quản lý, cấp phát và cho vay vốn đầu tư theo kếhoạch nhiều năm của Nhà nước được giao cho Ngân hàng kiến thiết Việt Nam(nay là Ngân hàng Đầu tư và phát triển) Bên cạnh đó, Chính phủ còn thànhlập Uỷ ban XDCB Nhà nước trực tiếp quản lý Nhà nước về đầu tư
lệ quản lý đầu tư và xây dựng”; Quyết dịnh 217, Quyết định 80 của Hội đồng
Bộ trưởng, Thông tư liên bộ của Uỷ ban kế hoạch Nhà nước – Bộ Tài chính,Ngân hàng Nhà nước quy định về tín dụng đầu tư Tuy chưa hoàn thiện songcác cơ chế chính sách này đã mở ra thế cân đối mới về cơ chế huy động vốn