1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quan niệm về bản chất con người trong triết học mars và một số trào lưu triết học phương tây hiện đại

37 1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 195 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm về bản chất con ngời trong triết học Mars và một số trào lu triết học phơng Tây hiện đại MỤC LỤC Lời núi đầu...2 Chương 1: Quan niệm triết học nhõn bản phương tõy hiện đại về b

Trang 1

Quan niệm về bản chất con ngời trong triết học Mars và một số trào lu triết học phơng Tây hiện đại

MỤC LỤC

Lời núi đầu 2

Chương 1: Quan niệm triết học nhõn bản phương tõy hiện đại về bản chất con người 1.1 Quan niệm về bản chất con người trong phõn tõm học của Sigmund Freud 4

1.2 Quan niệm của chủ nghĩa thực dụng về bản chất con người 5

1.3 Quan niệm của chủ nghĩa hiện sinh về bản chất con người 6

1.4 Quan niệm của nhõn học, triết học về bản chất con người 7

Chương 2: Quan niệm của Marx về bản chất con người 2.1 Bản chất con người – Tổng hoà cỏc mối quan hệ xó hội 11

2.2 Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Marx về bản chất con người trong xõy dựng con người Việt Nam của thời kỳ cụng nghiệp hoỏ - hiện đại hoỏ 21

Kết luận 29

Danh mục tài liệu tham khảo 31

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Hiện nay, có thể nói vấn đề con người nổi lên ở vị trí trung tâm trongnhững suy tư của nhân loại Sự ra tăng ngày càng lớn của những quan điểm ngàycàng lớn về vấn đề con người, không chỉ từ phía các nhà khoa học mà cả từ phíacác chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý… đương nhiêngắn liền vai trò quyết định của nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của sự pháttriển xã hội, đặc biệt trong thời đại ngày nay Để có phương hướng nhận thức vàgiải quyết đúng đắn những vấn đề liên quan đến con người, đối với chúng ta cómột điều kiện không thể thiếu là phải nắm được những quan điểm cơ bản về conngười và phương pháp luận nghiên cứu con người trong triết học Marx Tuynhiên đã có không ít những ý kiến, cách hiểu trái ngược nhau về vấn đề bản chấtcon người trong triết học Marx Đã có nhiều nhà triết học phương tây tuyên bốrằng: chủ nghĩa Marx bỏ quyên con người, một số người ít cực đoan hơn thì chorằng Marx chỉ bàn đến con người trong những tác phẩm thời trẻ Nói như thế vềthực chất cũng là phủ nhận học thuyết con người của chủ nghĩa Marx Chính vìvậy việc nghiên cứu quan niệm về con người trong triết học nhân bản phươngtây hiện đại sẽ giúp chúng ta có được một cái nhìn đúng đắn và những giá trị màtriết học Marx đạt được trong quan niệm của mình

Vì lý do trên đây em đã chọn đề tài này làm đề tài niên luận của mình

Trang 3

2.Lịch sử nghiên cứu đề tài của mình

Vấn đề con người là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả.Trong nước đã có các công trình nghiên cứu sau:

- GS Trần Đức Thảo: “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không cócon người”, NXB TP.HCM, 2000

- Vũ Minh Tâm: “Tư tưởng triết học về con người”, NXB Giáo dục

là vấn đề xuyên suốt toàn bộ sự phát triển của toàn bộ loài người, nó được pháttriển không ngừng cả về mặt chất và lượng Vì vậy vấn đề con người cần phảiđược làm sáng tỏ và tiếp tục nghiên cứu

3.Phạm vi nghiên cứu:

Với triết học Marx chúng em đi vào tìm hiểu những quan niệm của ông vềbản chất con người thông qua một số luận điểm trong một số các tác phẩm kinh điển của Marx: “Bản thảo kinh tế - 1844”, “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Heghel”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Luận cương về PhoiơBắc”… Ở đây, chúng em không có tham vọng mở rộng đề tài để tìm hiểu những quan điểm của Marx Với triết học nhân bản phương tây hiện đại, chúng em đi vào tìm hiểu những trào lưu triết học đại diện

4.Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề này chúng em muốn tìm hiểu sâu sắc hơn, đúng hơn

về quan niệm của Marx về bản chất con người, bước đầu tìm hiểu triết học nhân bản phương tây hiện đại nhằm đạt được nhận thức khách quan hơn quan điểm của nó về bản chất con người Từ đó bước đầu chúng em có cái nhìn so sánh hai

Trang 4

hệ quan điểm này, nhắm khẳng định giá trị bền vững, tính đúng đắn về quan điểm của Marx.

5.Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp logíc lịch sử, phân tích tổng hợp kết hợpquy nạp diễn dịch

6.Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu đề tài giúp chúng ta nhận thức đúng những quan niệm của Marx về bản chất con người và bước đầu nhận thức được quan điểm về bản chất con người trong triết học nhân bản phương tây hiện đại Từ đó có thể nhận thức

rõ hơn, khẳng định, bảo vệ những quan điểm của triết học Marx trước những tư tưởng phản động, phủ nhận những quan điểm do Marx đưa ra của những quan điểm triết học phương tây hiên đại

7.Bố cục của đề tài

Đề tài gồm 32 trang, gồm lời nói đầu, hai chương, kết luận và danh mục sách tham khảo

CHƯƠNG 1

QUAN NIỆM CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHÂN BẢN PHƯƠNG

TÂY HIỆN ĐẠI

Trong dòng triết học phương tây hiện đại, triết học nhân bản được xemxét, đánh giá trong nhiều tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau Song nhìnchung nó lại được tựu chung ở một số trào lưu triêt học sau: Phân tâm học củaFreud, chủ nghĩa nhân vị, hiện tượng học, chú giải học, nhân học triết học chủnghĩa phê phán chủ nghĩa thực dụng…

Triết học nhân bản là khái niệm dùng để chỉ một chủ nghĩa phi lý baogồm các trào lưu triết học lấy con người làm đối tượng nghiên cứu và khẳngđịnh những sắc thái của bản chất con người Có ý kiến cho rằng nó là một trong

Trang 5

ba con ngựa kéo “cỗ xe tam mã” – xã hội phương tây hện đại vượt lên phíatrước.

1.1 Quan niệm về bản chất con người trong phân tâm học của Sigmund Freud:

S Freud (1856 - 1939) là người dân tộc Do Thái , quốc tịch Áo Theo ôngđời sống tinh thần con người bao hàm: ý thức tiềm thức và vô thức Con ngườiluôn che dấu bản năng động vật, nó không quan tâm chú ý đến cái vô thức Cái

vô thức là cái mang tính chất chìm và là thực chất tinh thần thực chất tinh thầnthực sự Ông “phản đối việc coi con người chỉ là lý tính”[6, tr16] Với S.Freudkhái niệm vô thức là rất rộng , là cái chìa khoá riêng để nghiên cứu bản chất củacon người, là cái xuất phát để cắt nghĩa nền văn hoá, hành vi của con người.Ông khẳng định vô thức là cái bản chất cái quyết định đời sống tâm thần Nhưvậy ở đây ta có thể thấy quan niệm của Freud mang tính duy tâm “ duy sinh học

”, ông cho rằng: bản chất con người là bản năng tinh thần vô thức Và cái thúcđẩy thực sự có sẵn trong con người là bản năng tính dục, là hạt nhân của đờisống bản năng nó quyết định đời sống tinh thần của con người Tuyệt đối hoácái vô thức, Freud càng nhấn cho nó chìm vào cái “ Tôi” con người : “ cái tôithực là cái tôi - vô thức” còn “cái tôi có ý thức chỉ là cái tôi lừa dối” [2, tr35].Vậy là Freud đã quan niệm con người là con người cá nhân và vô thức là bảnchất của nó Trong đó bản năng tính dục là cái cốt lõi của vô thức, là cái bảnchất cái tạo nên tính chủ động tính tích cực của cá nhân

1.2 Quan niệm của chủ nghĩa thực dụng về bản chất con nguời:

Chủ nghĩa thực dụng là một trào lưu triết học duy tâm, là một biến tháicủa chủ nghĩa duy lý trong triết học phương tây hiện đại Những đại biểu nổitiếng của trào lưu này là : Charles Peirce (1857 - 1936), William James(1842-1910) và đặc biệt là John Dewey (1859- 1952) Những người theo trào lưu nàycho rằng khâu trung tâm, quyết định trong triết học là con người, là lợi ích là

Trang 6

thực tiễn của con người Đồng thời họ cũng tuyên bố thực tiễn là hiện thực duynhất, rằng thực tiễn, kinh nghiệm là tất cả ngoài ra không thể có gì khác [2,tr35], theo đó tất cả những gì tồn tại đều là những yếu tố của kinh nghiệm (kể cảvật chất và tinh thần), nằm trong kinh nghiệm Theo họ con người “tuyệt đối tựdo” trong hoạt động vụ lợi, vị kỷ hoặc bất cứ cái gì nó muốn J Dewey xem conngười như là một động vật mà cảm giác tri giá của nó thực ra là những động lựckhiến con nguời tiến hành hoạt động Như thế là tư duy biến thành công cụ đểcon người giả quyết khó khăn trong cuộc sống, là phương tiện để con người đạtmục đích Theo Peirce, “ Tồn tại nghĩa là có hiệu quả thực tế” và ông đưa ra nềntảng tư tưởng triết học của ông; “ hãy nhìn xem ta đạt được những kết quả thực

tế nào do đối tượng tư tưởng tạo ra Khái niệm về tất cả những kết quả đó là kháiniệm hoàn chỉnh về đối tượng”[3 tr26] Ta thấy chủ nghĩa thực dụng mang màusắc cá nhân, thể hiện rõ hơn ở James – triết gia thực dụng theo khuynh hướng “kinh nghiệm triệt để”, ông kêu gào : “ Hãy làm điều gì xứng vời công sức củamình bỏ ra” [3 tr 37].Theo James, đời sống xã hội là dòng chảy của kinh nghiệmtại đó con người không bị ràng buộc bởi tính tất yếu nào và hoạt động của nódiễn ra vô điều kiện, tuỳ hứng Như thế con người chỉ hành động vì cá nhân nó

và theo lăng kính chủ quan, do đó kinh nghiệm cá nhân là thước đo của hậu quảthực tiễn, là giá trị của hành động vị kỷ ấy có lợi hay không Chân lý của họ là :

“ cái gì hữu dụng và tiện lợi, dẫn đến thành công ,thì cái đó là chân lý”[3 tr 23]

Nói chung, cái tất yếu của bản chất thực dụng là : con người tồn tại vàhoạt động trong một thế giới phi lý và duy lý, không thể nhận thức Theo họ bảnchất con người là hợp của cái phi lý và duy lý mà ngoài thực tiễn ra ngoài kinhnghiệm ra không có gì hết Nghĩa là hiện thực khách quan được đồng nhất vớikinh nghệm Họ quan niệm bản chất con người là bản chất phi lý và là bản chấtcủa con người cá nhân tự tư, vị kỷ Như thế chủ nghĩa thực dụng có “họ hàng”rất gần gũi với chủ nghĩa cá nhân

1.3 Quan niệm của chủ nghiã hiện sinh về bản chất con người:

Trang 7

Chủ nghĩa hiện sinh là một khuynh hướng triết học phi lý tính, khuynhhướng triết học về đời sống con người, nghiên cứu đời sống đích thực, sinh độngcủa từng cá nhân cá biệt bằng phương pháp trực quan Nó phản ánh cuộc khủnghoảng của chủ nghĩa tự do tư sản với thế giới quan hời hợt của nó Nó phản ánhlại từng chủ nghĩa duy lý, đối lập với khoa học xã hội hiện thực, tự do bị tướcđoạt Nó luận chứng sao cho cá nhân con người thoát khỏi trạng thái tha hoá, thanhân, vong thân….và khôi phục lại tồn tại và tự do bản chất của con người, đềcao cá nhân cô độc Chủ nghĩa hiện sinh có ảnh hưởng rất lớn trong xã hộiphương tây hiện đại.

S.Kierkegaard (1813 - 1855) người Đan Mạch là người sáng lập ra chủnghĩa hiện sinh cùng với hiện tượng học của E.Hussserl (1859 - 1938) ngườiĐức Chủ nghiã hiện sinh đã trở thành triết học thực sự trong thời gian đó Sau

đó M.Heidegger ( 1889-1976), K.Jaspers ( 1886- 1969), G.Marcel(1889 - 1973),A.Camus (1913- 1961)….đã đưa chủ nghĩa hiện sinh lên đến đỉnh cao vào giữathế kỷ XX

Chủ nghĩa hiện sinh là trường phái triết học lấy việc tìm ra sự tồn tại củabản chất con người để vạch ra kết cấu tồn tại của vật Con người theo quan niệmcủa họ là hiện sinh thể ( thực thể hiện sinh ) chứ không phải là con người phổquát Hiện sinh, theo họ là cuộc sống nội tâm mang tính thứ nhất so với bảnchất Con người cảm nghĩ bằng thân xác, nó nhận thức về mình về cái lắng đọngcủa tâm thức, tự tạo nên mình để cho nó tạo thành nó, thành nhân vị Đó là chủthể – chủ quan tính của con người Chẳng thế mà S.Kierkegaard viết: “ Tất cảtác phẩm của tôi chà sát lên bản thân tôi, chỉ riêng một mình tôi và riêng tôi” [2tr25] Trong triết học hiện sinh, hệ các vấn đề triết học được quy về vấn đề tồntại của cá nhân rồi thông qua đó mới tìm hiểu giá trị nhân loại chung Các nhàhiện sinh thường nhấn mạnh tính siêu việt của về sự tồn tại của con nguời ( tínhsiêu việt chình là thước đo chiều sâu của hiện sinh ) Con người luôn tồn tạitrong sự “ lựa chọn ” sinh hoạt và hành động, cho nên tồn tại của con người là

Trang 8

sự tự do của nó Theo J.P.Sartre, tự do trở thành cái hạt nhân, cía đặc trưng cơbản của con người, “ Tự do ” là “ bước nhảy vào hiện sinh đích thực” Trong vở

“Ruồi” Sartre phác hoạ khái niệm “tự do”:

- “…tự do của người chỉ là lưu đày”

- “…ngươi nói đúng, chỉ là một lưu đày”.[2 tr 73]

Như thế tự do chỉ là “lưu đày” cho nên con người ta phải “ lựa chọn tự do

và trách nhiệm cá nhân ” tự do lựa chọn bản chất của mình, trở thành bản thể

mà nó muốn Mà đã là tự do thì con người không thể tồn tại như một hữu thể –cái đang tồn tại, trong đó bao hàm cái vật chất; con người phải vươn tới hiệnhữu, hiện sinh nếu không nó chẳng là gì cả; muốn hiện hữu con người phải có sựsáng tạo, không tự do suy nghĩ hay suy nghĩ bị thui chột thì con người sẽ khôhéo, đáng bỏ đi, đáng kinh tởm, buồn nôn và không khác gì con vật vô tri: “Người đàn bà chỉ là người đàn bà khi nguời đó hiện hữu Người đàn bà khônghiện hữu thì chỉ trần trụi, đáng buồn nôn mà thôi” J.P.Sartre Theo các nhà hiệnsinh, một khi con người không còn “buồn nôn” đối với các phi lý của cuộc đờithì nó sẽ bị tha hoá, đánh mất bản thân mình và trở thành người khác, chấpchước vào kẻ khác Vì tha hoá cho nên, theo họ con người cũng cô đơn và có thểkết thúc bằng cái chết Camus từng viết rằng: “ chỉ có một vấn đề thực sự ngiêmtrọng: vấn đề tự tử”[3 tr95] Cái chết cũng là căn nguyên của âu lo – tâm tínhđầy đam mê, ước muốn sáng tạo Tới tận cùng của âu lo, con người sẽ đi tớituyệt vọng, và con người đảm nhận cuộc sống của mình như một dự phóng –

“dự phóng” là một thuộc tính quan trọng của hiện sinh

Như vậy quan niệm con người của chủ nghĩa hiện sinh là con người philịch sử, phi xã hội và đồng loại với một đời sống tinh thần đóng kín Theo họbản chất con người là cô độc, là cá nhân ắp đầy cá tính của mình, là những cánhân thoát ly khỏi xã hội, lịch sử là tha nhân của nhau Chủ nghĩa ấy coi trọng

cá nhân cô độc, khao khát được hiện sinh, tự do lựa chọn bản chất cá tính đặc

Trang 9

biệt của chính con người mà bản chất của nó là sự hiện sinh của nó Xuất phát từtồn tại xã hội phương Tây hiện đại, triết học hiện sinh thể hiện tâm trạng củamột bộ phận nhân loại trước thời đại đầy biến động, đẩy khuynh hướng chungcủa triết học phương Tây hiện đại đến nhân loại học, triết học nhân bản

1.4 Quan niệm của chủ nghĩa nhân học triết học về con người.

Tuy cùng lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của lý luận triết họccủa mình, nhưng nếu triết học thực dụng coi con người là con người cá nhân, vị

kỷ Triết học hiện sinh bó con người trong hiện sinh cô độc bi thảm rồi quẳng nóvào xã hội đầy tha nhân và vong thân Thì triết học nhân học muốn con người cóquan hệ với thế giới hiện thực, có những ý nghĩa và giá trị của mình Nhân họctriết học muốn vượt qua chủ nghĩa hiện sinh Nó ra sức xem xét và lý giải vấn đềbản chất con người bằng lý luận của tri thức hiện đại về con người nhằm đạt đếnnhân học triết học mới riêng biệt và với sự “đổi mới” triết học và khoa học cụthể về con người Cha đẻ của phái triết học này là Max.Sheler (1874- 1928) với

sự ảnh hưởng lớn của triết học đời sống của Nietzsche và H.husserl và luận điểmxuất phát của các ông là cho “ bản chất tự nhiện của con người tự mình đã đưacon người ra ngồi giới hạn của tính chích xác thuần tuý tự nhiên” [4 tr 202, 203]

Năm 1928 trong tác phẩm “vị trí của con người vũ trụ” đã có đề ra việccần thiết phải lập ra “nhân học triết học” với tư cách là khoa học chủ yếu về bảnchất con người: “nhiệm vụ của nền lý luận triết học nhân bản là chỉ rõ… mọicái tột đỉnh đặc thù, mọi thành tựu và giá trị của con người bắt nguồn từ kết cấuchủ yếu của sự tồn tại của con người” [12 tr 10] A Gehlen ( 1904 - 1976) Cũngtheo M Scheler đưa ra vấn đề bản chất con người làm vấn đề trung tâm của triếthọc và mưu toan khắc phục những quan niệm triết học trước đó về con người vànêu lên hình mẫu con người có giá trị cuối cùng trong triết học Triết học của M.Scheler và Gehlen ra đời có liên quan trực tiếp với chính trị và hệ tư tưởng củachủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn đầu của cuộc tổng khủng hoảng đầu tiên của

Trang 10

chủ nghĩa tư bản Bằng câch khâi quât triết học, họ đề ra một mẫu người có xuhướng gần gũi với nhu cầu tư tưởng của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhă nước,tạo nín cơ sở của thế gới quan của hệ tư tưởng bảo thủ Đó lă một loại hình củachủ nghĩa nhđn bản Trong lý luận ấy, nguyín tắc nhđn bản được đưa lín thănhmột bộ môn triết học, một loại hình thuộc vấn đề cơ bản của triết học.

Vấn đề trung tđm trong triết học của M Scheler lă nhđn câch, lă bản chấttinh thần siíu động vật, về vai trò của sinh học trong việc đề xuất mẫu người củatriết học mới Ông cho rằng: con người gần gũi với con vật như một cơ thể độngvật không khâc gì con khỉ về mặt lý trí, do đó không thể lă kể độc quyền trí tuệ,nhưng con người có “ năng lượng bản chất tối cao, đó lă tinh thần” Câi đích mẵng tưởng tượng, “nhăo lặn” vă đê đi lă “lặn lội” văo “con người siíu nhiín”của Nietzsche, ông cho rằng “chúa đê chết” (luận điểm của Nietzsche), cho níncon người phải “thần thânh hoâ bản thđn” [4, tr 604] So sânh con người với convật M Scheler xâc định con người lă thực thể có khả năng hướng đến tính khâchthể, hănh vi của nó có nguyín cớ, nó phđn biệt với hănh vi bản năng của độngvật Về mặt sinh học, M Scheler xem xĩt con người như “kẻ đảo ngũ cuộcsống” như “kẻ nô lệ được giải phóng đầu tiín của tự nhiín” [4, tr 605] Ông cònxem con người, như môt tinh thần độc lập thể hiện qua ý trí trong khả năng lìa

bỏ cuộc đời, tức lă lìa bỏ hoạt động – con người không sự sống M Scheler biến

“con người siíu nhđn ” của Nietzsche thănh “con người toăn năng” lăm lý tưởngcho mình để vẽ ra “đổi mới” con đường thoât khỏi khủng hoảng của con người

tư sản trong xê hội tư sản M Scheler đê không thoât ra khỏi “vòng hăo quang”thần thânh trong quan niệm về con người Theo ông chức năng đích thực củacon người trong vũ trụ như lă sản phẩm của câi khuôn đúc của “chúa” về giâ trịtinh thần, tôn giâo, tình thương vă nhđn câch Quan niệm duy thần năy được ôngchuyển sang phiếm thần theo hướng lý thuyết Darwin Becson, Sfreud: conngười tinh thần chỉ lă một cơ thể động vật siíu việc hoâ, tuy bản chất nó thấpkĩm nhưng lại hợp lực với chúa, đưa tinh thần văo cuộc sống

Trang 11

A.Gehlen hướng đến phương thức tư duy của chủ nghĩa thực dụng, ôngmuốn bỏ qua những kiến giải định nghĩa về con người để đưa ra quan niệm vềbản chất của nó trong “sự hoàn chỉnh” và khác biệt với con vật Theo ông conngười chỉ là một sản phẩm của thượng đế Ông lập luận : động vật có những đặcđiểm chuyên hoá rất cao và được điều khiển bằng bản năng sinh học, nó sốngbằng khí quan có sẵn do tự nhiên phú cho Còn con người ông nhận định : “ conngười khác hẳn với các loài vật có vú cấp cao chủ yếu bởi sự yếu đuối, theo ýnghĩa chính xác của sinh học, đó là sự không thích nghi, không chuyên hoá là sựthô sơ hay là trạng thái phát triển Tóm lại bản chất con người là tiêu cực” [12,tr21] Ông cho rằng trước tiên hành động của con người có khuyết tật về bảnchất không phải bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội cụ thể, mà do kết cấu sinh học.Ông còn khẳng định những hiện tượng lịch sử xã hội là do sự “thừa động lực”

mà ra, đó là sự tràn trề của năng lượng thúc đẩy Từ sự nghiên cứu sinh học ôngrút ra kết luận tổng quát : sự bảo toàn cuộc sống sinh học là giá trị tối cao vàcuộc sống của con người không hề có ý nghĩa siêu nhân Do đó theo ông, thờiđại đang đòi hỏi “một con người mới” trong đó quá trình sinh học bắt đầu từ “để

tự nó bước vào một mối quan hệ nếu như con người bắt đầu tự nhận thấy tráchnhiệm, biết hành động và đánh giá toàn bộ những kinh nghiệm mà anh ta đã cóthì như thế quả là tôn giáo – một cái dùng những hình ảnh siêu phàm để lấpnhững khoảng trống đã trở thành một thực tế lịch sử, và một thời đại mới đã tới”[12, tr30] Đẩy lý luận của mình nên bước nữa Gehlen cho rằng, sự không đầy

đủ về mặt sinh học của sinh vật người đã tiền định tính mở của nó đối với thếgiới Tính không chuyển hoá của sinh vật người còn là dấu hiệu của sự tổn hạisinh học, của sự thiếu hụt Vì vậy nó là dấu hiệu của sự bất lực và không tự do,không cho phép “kẻ nô lệ được giải phóng” Tiền đề này rõ dàng mang tính tiêu

cự, không dẫn con người tìm thấy chính nó và lối sống của nó Ở đây tính lịch

sử sinh động và sáng tạo của “con người hoạt động” còn lẩn khuất trong hộp đenđầy bí ẩn

Trang 12

Qua hai đại diện tiêu biểu trên, ta thấy được nhân học triết học là một xuhướng triết học duy tâm, phi lý Về mặt lý luận, nó chống lại quan niệm về conngười và bản chất con người của triết học Marx Về mặt chính trị, tư tưởng nóchống lại phong trào công nhân và chủ nghĩa cộng sản Làm nhụt ý trí vươn lêncủa mỗi cá nhân, nó đề ra mẫu người có xu hướng phản động Bản chất conngười trong quan niệm của triết học nhân bản là bản chất mang tính tự nhiên,sinh học, thiếu vắng mặt xã hội Con người ở đó là con người phi lịch sử – xãhội.

Nhìn một cách tổng quát, ta thấy quan niệm về con người trong triết họcnhân bản là con người cá nhân cụ thể cô độc tách biệt với các cá nhân khác, vớiloài của nó Bản chất của nó là cái tinh thần, là đời sống tinh thần phi lý tính.Cái phi lý tính ấy theo quan niệm của dòng triết học này là cái quyết định tấtthẩy Triết học nhân bản là triết học duy tâm tư sản theo hướng phi lý, nó chứađựng những quan niệm phi Marxism trong chiến lược tư tưởng – lý luận tư sảntrong cuộc đấu tranh xuyên suốt lịch sử: duy vật – duy tâm

CHƯƠNG 2

QUAN NIỆM CỦA MARX VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

2.1 Bản chất con người – tổng hoà các quan hệ xã hội:

Trang 13

Để hiểu được câu nói này của Marx chúng ta phải hiểu quan hệ xã hội làgì? Quan hệ xã hội là những quan hệ giữa những cộng đồng xã hội của conngười, xuất hiện trong quá trình sản sinh và tái sản sinh ra chính bản thân conngười với tư cách là chủ thể xã hội hoàn chỉnh.

Sở dĩ Marx xét con người trong tổng hoà các quan hệ xã hội để nhằm đốilập với luận điểm coi con người đơn thuần như một phần của giới tự nhiên, còn

bỏ qua không nói gì đến mặt xã hội của con người, đồng thời Marx cũng nhấnmạnh mặt xã hội, yếu tố đặc trưng trong nhân cách của con người – yếu tố đặcthù để phân biệt con người với con vật

Xét bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội, tức là xem conngười với tất cả các quan hệ xã hội của nó, không những chỉ quan hệ xã hội hiện

có, trong đó con người đang sống mà cả những quan hệ xã hội đã có từ trước kiatrong một tổng thể với những mối liên hệ biện chứng của chúng, bởi vì tronglịch sử của mình, con người bắt buộc phải kế thừa những di sản, những truyềnthống đã thúc đẩy con người vươn lên hoặc ngược lại

Theo Marx bản chất con người không phải là sinh thành bất biến mà có sựvận động, phát triển phù hợp với sự biến đổi của hoàn cảnh, của thời đại Cụ thể

là bản chất xã hội của con người luôn luôn thay đổi cùng với năm phương thứcsản xuất lớn với những chế độ chính trị khác nhau Mỗi con người dù muốn haykhông, vừa cất tiếng khóc chào đời đã bị khoác bởi cái áo xã hội họ đang sống,

đó là những mối quan hệ xã hội

Trong một xã hội có nhiều các quan hệ xã hội Xét về mặt xã hội ta có :quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, gia đình, quan hệ giữa các cá nhân và xãhội… Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật, đó là sự tương tác của con người trongquá trình lao động trực tiếp, trao đổi các hoạt động Xét về mặt vật chất ta có cácquan hệ sản xuất Xét về mặt tư tưởng ta có các quan hệ tư tưởng như: các quan

hệ chính trị, quan hệ đạo đức, quan hệ thẩm mỹ, quan hệ tôn giáo…

Trang 14

Trong các quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất giữ vai trò quyết định đã tạo

ra đời sống con người Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với conngười trong quá trình sản xuất Nó bao gồm quan hệ với tư liệu sản xuất, tứ làhình thức sở hữu, quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ phân phối vàtiêu dùng của cải vật chất Các quan hệ sản xuất cấu thành mặt tất yếu của mọiphương thức sản xuất bởi con người chỉ có thể tiến hành sản xuất khi giữa họ kếthợp với nhau theo một phương thức nào đó

Yếu tố chủ yếu, mặt quan trọng nhất của quan hệ sản xuất là quan hệ kinh

tế mà trên nền tảng là quan hệ với tư liệu sản xuất Quan hệ kinh tế tạo ra hạtnhân của quan hệ sản xuất, hình thành nội dung của những quan hệ xã hội khác.Theo quan niệm duy vật lịch sử, quan hệ sản xuất là cơ sở của những quan hệ xãhội khác, nhưng các quan hệ xã hội khác lại có tính độc lập tương đối Các quan

hệ xã hội tác động lẫn nhau, xen kẽ lẫn nhau Bản thân quan hệ sản xuất là quan

hệ xã hội của con người trong sản xuất Nó hình thành và biến đổi cùng với sựbiến đổi của con người với tự nhiên Điều đó có nghĩa là các quan hệ xã hội quyđịnh bản chất con người được triết học Marx xem xét không tách rời, cô lập vớiquan hệ giữa con người với tự nhiên Trong quá trình lao động để tạo ra những

tư liệu thoả mãn nhu cầu của mình, con người đã tác động đến giới tự nhiên vàlàm biến đổi nó Đồng thời chính lao động lại là nền tảng phát sinh ra nhữngquan hệ xã hội của con người, trước hết là quan hệ kinh tế Quan hệ kinh tế đếnlượt nó lại là nền tảng cho sự phân hoá con người về mặt xã hội “Trong sự sảnxuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định tấtyếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ- tứ là những quan hệ sản xuất, nhữngquan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sảnxuất vật chất của họ…” [13, tr637]

Như vậy lao động và quan hệ sản xuất là những lực lượng vật chất chủyếu dẫn đến sự xuất hiện và hình thành ra cuộc sống con người, đồng thời cũng

là quá trình hình thành nên bản chất con người Marx xem bản chất con người là

Trang 15

tổng hoà các quan hệ xã hội có nghĩa bản chất con người không phải là sự tậphợp hay tổng số số học giản đơn, các quan hệ xã hội phức tạp, đa dạng , chằngchịt mà đó là một cái mới hoàn toàn khác về chất so với các quan hệ xã hội đó.Bản chất con người là sự khái quát từ đời sống cụ thể, từ thuộc tính của nhữngcon người, hình thành từ thế hệ này qua thế hệ khác Bản chất đó được thể hiệnthông qua tổng thể các quan hệ xã hội Song những quan hệ xã hội không phảichỉ xét ở những quan hệ của từng hình thái xã hội riêng biệt mà còn khái quátnhững quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ, thời đại riêng biệt Quan

hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang (đương đại ) vừa theo chiều dọc lịch sử.Nói một cách khác, ngoài bản chất giai cấp qua nhiếu giai đoạn lịch sử xã hội cógiai cấp còn có chung bản chất của con người qua mọi giai đoạn lịch sử xã hội.Bản chất chung của con người và bản chất của các tầng lớp khác nhau không có

sự đối lập Vì vậy đây là quan hệ không tách biệt của các thứ bậc về bản chấttrong con người

Khi bàn về luận điểm này của K.Marx, có người hiểu rằng: “bản chất conngười chia ra thành nhiều hàng, hàng một là con người giai cấp, hàng hai là conngười nói chung, hàng ba là con người sinh vật, hàng bốn là con người dĩhoá…”.[18 tr30] Hoặc có người lại cho rằng các quan hệ xã hội chỉ là các quan

hệ giai cấp, quan hệ chính trị thì chưa đủ Theo K.Marx và Ăngghel, quan hệgiai cấp không phải là quan hệ vốn có từ khi có loài người mà nó chỉ xuất hiệntrong những điều kiện nhất định của nền sản xuất vật chất, của xã hội và sẽ mất

đi khi các điều kiện trên không còn nữa Bản chất giai cấp cũng thuộc về conngười nhưng chỉ là bản chất “nhất thời”, nó sẽ mất đi khi giai cấp mất đi Bảnchất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội song trong xã hội có giai cấp, tínhgiai cấp nổi lên hàng đầu Nhưng tính người là cái chung nó nằm trong tính giaicấp, tức cái riêng, nó thể hiện thông qua cái riêng “con người là con người riêngbiệt của từng thời đại, từng tập đoàn xã hội nhất định, đồng thời nó cũng là con

Trang 16

người nói chung phát triển trong toàn bộ lịch sử loài người Cái chung như thế làcái chung biện chứng”[19 tr39].

Như vậy trong quá trình hoạt động thực tiễn năng động, tích cực, conngười đã hình thành nên những quan hệ xã hội và các quan hệ xã hội lại tạo lậpnên bản chất xã hội của con người Nói một cách khác tất cả các quan hệ xã hộiđược tổng hoà lại tạo thành bản chất con người Song như thế khôngcó nghĩa làMarx chỉ đề cập đến vấn đề xã hội trong bản chất con người mà gạt bỏ yếu tốsinh học của nó Trong các quan hệ xã hội của con người có tính sinh học biểuhiện ở nhu cầu, lợi ích… của con người ở mỗi quan hệ Mặt khác các quan hệ xãhội của con người không tách rời với quan hệ tự nhiên như quan hệ với sinhquyển, khí quyển, hơn nữa quan hệ của con người với con người không nằmngoài mối quan hệ con người với tự nhiên…Vì thế Marx viết: “ Trong tính hiệnthực của nó bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội” Tư tưởng nàycủa Marx không nhằm bàn đến toàn bộ vấn đề con người mà ở đây Marx chỉnhằm phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình của PhoiơBăc Do đó quan niệm nàycủa Marx không hề phiến diện mà ngược lại là một phát hiện có giá trị to lớn vềbản chất con người Marx không những vạch ra các yếu tố cấu thành bản chấtcon người bằng các quan hệ xã hội mà còn vạch ra bản chất con người trong tínhhiện thực của nó

Marx đặt con người trong tính hiện thực, điều đó có nghĩa con người làhiện thực, không phải là cái gì trừu tượng mà là cái cụ thể – cảm tính Con ngườiđược hiện ra dưới dạng hoạt động thực tiễn, phong phú, đa dạng Đó là một conngười sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định vớicác điều kiện tự nhiên, sinh quyển, khí quyển…và những mối quan hệ phức tạp

và ngày càng phong phú cùng với sự phát triển của văn minh

Hoạt động thực tiễn của con người rất phong phú và đa đạng, song hoạtđộng cơ bản nhất là hoạt động sản xuất vật chất Con người thông qua hoạt độnglao động mà quan hệ với tự nhiên Chính trong hoạt đông sản xuất ra đời sống

Trang 17

của mình, con người có những quan hệ năng động, tích cực hai chiều và nhiềuchiều với tự nhiên, với đồng loại Qua sự tác động của con người với tự nhiên,con người làm biến đổi tự nhiên, Đồng thời làm biến đổi chính bản thân mình.Trong Tư Bản K.Marx viết: “lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữacon người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình,con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tựnhiên Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là mộtlực lượng của tự nhiên Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hìnhthái có ích cho đời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tựnhiên thuộc về bản thân họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay Trong khi tác độngvào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và lám thay đổi tự nhiên,con người đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó”.[7 tr226].

Bằng lao động con người đã tạo ra những tư liệu để thoả mãn nhu cầu củamình Bản chất tự nhiên của con người được biểu hiện ra bên ngoài là các nhucầu tất yếu khách quan như : ăn, ở, mặc… Hoạt động để thảo mãn nhu cầu sinhhọc của con người khác với con vật Ở con người hoạt động này không phải làhoạt động bản năng, hoạt động đơn thuần sinh vật mà nó mang tính xã hội.Trong “Bản thảo kinh tế triết học” – 1844 K.Marx khẳng định : “con người cómột hoạt động sinh sống có ý thức Đó khôngphải là cái có tính quy định mà vớ

nó con người trực tiếp hoà làm một Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệttrực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật”[8 tr 118]

Hoạt động có ý thức, có mục đích của con người là đặc trưng để phân biệtcon người với con vật “bản thân con người bắt đầu phân biệt với con vật ngay từkhi con người sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của mình – sản xuất ra những tư liệusinh hoạt của mình như thể là con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vậtchấtcủa mình và đó chính là hành vi lịch sử đầu tiên”[9 tr16] Chính vì thế sảnxuất ra tư liệu sinh hoạt là hoạt động bản chất nhất của con người Marx khẳngđịnh: nét đặc trưng riêng của quá trình lao động của con người là sử dụng và

Trang 18

sáng tạo ra những tư liệu lao động, vì thế Marx nhất trí với Phranclin khi ôngđịnh nghĩa con người là “động vật chế tạo công cụ”[7 tr 269].

Như vậy hoạt động lao động đã làm biến đổi bản chất tự nhiên của tổ tiêncon người tạo lập ra bản chất xã hội của con người Hoạt động xã hội con ngườichủ yếu là lao động sản xuất, hoạt động cách mạng cải tạo thế giới đã làm biếnđổi mặt sinh học của con người một cách đáng kể và làm cho mặt sinh vật trởthành “người hoá” Chính toàn bộ sự hoạt động ấy đã làm cho những nhu cầusinh vật của con người trở thành những nhu cầu xã hội Nếu con vật chỉ thuầntuý là sản phẩm của tự nhiên, hoàn toàn chịu sự chi phối và thống trị của tựnhiên thì con người với tư cách là một sản phẩm đặc biệt của tư nhiên lại luôntìm cách chế ngự chinh phục và làm chủ tự nhiên để thoả mãn những nhu cầucủa bản thân mình Nếu con vật chỉ biết thích nghi với môi trường tự nhiên vâyquanh nó một cách hoàn toàn thụ động bằng cách biến đổi cơ cấu của cơ thể chophù hợp với điều kiện của môi trường thì con người bằng toàn bộ hoạt động củamình lại luôn luôn tìm cách sử dụng và biến đổi môi trường xung quanh để tồntại và phát triển Lao động sáng tạo lên con người và nhờ tham gia vào lao động

xã hội con người sẽ hoàn thiện các phẩm chất đặc thù của mình Chính vì thếĂngghel viết: “ trên một nghĩa nhất định nào đó chúng ta phải nói rằng : “laođộng sáng tạo ra bản thân con người””[10 tr 491] Nhờ lao động loài người đãtrải qua những biến đổi về mặt sinh học đồng thời xét đến cùng lao động đã hìnhthành nên bản chất của con người và quy định phẩm chất xã hội đặc biệt của conngười trong những điều kiện lịch sử cụ thể Nhờ lao động có mục đích nên conngười đã thoát ra khỏi tình trạng loài vật song không có nghĩa là con người thoát

ra khỏi hoàn toàn tự nhiên Ăngghen đã nói rất đúng rằng : “chúng ta với cảxương, thịt, máu, bộ não của chúng ta thuộc về giới tự nhiên và chúng ta nằmtrong giới tự nhiên”[10 tr506] Hơn thế nữa cũng giống như bất kỳ sinh vật nào,con người phải thích ứng với tự nhiên, song con người thích ứng với tự nhiênbằng cách bắt tự nhiên đáp ứng với nhu cầu của mình Sự thích nghi ấy có tính

Ngày đăng: 18/12/2014, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w