1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát

91 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 341 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh nh vậy, việcđánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, chỉ ra nhữngnguyên nhân và tác động của chính sách kinh tế - xã hội, đa ra phơng hớng vàgiải phá

Trang 1

MỞ ĐẦU Chương 1 PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU SỐ - NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ LUẬN

CHUNG 1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG Hồ Chí Minh VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG Phát triển kinh tế - Xã

hội VÀ VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ 1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của phụ nữ trong Phát triển kinh

tế - Xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ 1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò của phụ nữ trong Phát

triển kinh tế- Xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ 1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH Phát triển kinh tế - Xã hội Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA

HIỆN NAY 1.2.1 Nhận thức về tiềm năng của phụ nữ Dân tộc thiểu số 1.2.2 Tầm quan trọng của việc khai thác, phát huy tiềm năng của phụ nữ Dân tộc thiểu

số để Phát triển kinh tế - Xã hội của đất nước

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH Phát triển kinh tế - Xã hội Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân

tộc THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA

2.1.1 Yếu tố tự nhiên 1.1.2.Yếu tố kinh tế (những đặc điểm kinh tế của các tộc người 2 vùng

2.1.3 Yếu tố văn hóa Xã hội 2.1.4 Bản thân người phụ nữ các Dân tộc thiểu số 2.2 NHỮNG TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRÌNH Phát triển kinh tế - Xã hội(TỪ THỰC TIỄN Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA VÀ

MỘT SỐ TỘC NGƯỜI CỤ THỂ) 2.2.1 Vài nét chung về nguồn lực con người, nguồn lực Lao động ở một số tỉnh miền núi

phía Bắc 2.2.2 Trong lĩnh vực kinh tế 2.2.3 Trong lĩnh vực Chính trị 2.2.4 Trong lĩnh vực văn hóa 2.2.5 Trong Quan hệ gia đình, hoạt động cộng đồng và Xã hội 2.3 THỰC TRẠNG VIỆC KHAI THÁC, PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dân tộc THIỂU

SỐ Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY 2.3.1 Những thành tựu và hạn chế trong việc khai thác, phát huy tiềm năng của phụ

Trang 2

nữ Dõn tộc thiểu số ở cỏc tỉnh miền nỳi phớa Bắc 2.3.2 Nguyờn nhõn hạn chế việc phỏt huy tiềm năng của phụ nữ Dõn tộc thiểu số trong

quỏ trỡnh Phỏt triển kinh tế - Xó hội ở cỏc tỉnh miền nỳi phớa Bắc hiện nay

Chương 3 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dõn tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRèNH Phỏt triển kinh tế - Xó hội Ở CÁC

TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

3.1 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dõn tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRèNH Phỏt triển kinh tế - Xó hội Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA

BẮC 3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY TIỀM NĂNG CỦA PHỤ NỮ Dõn tộc THIỂU SỐ TRONG QUÁ TRèNH Phỏt triển kinh tế - Xó hội Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA

BẮC NƯỚC TA KẾT LUẬN

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nớc ta là một quốc gia đa dân tộc, cùng với dân tộc Kinh còn có 53 dântộc thiểu số, với trên 10,5 triệu ngời Tuy chỉ chiếm 14% dân số cả nớc nhng

địa bàn c trú của các dân tộc là 3/4 diện tích đất nớc Đây là địa bàn có vị tríchiến lợc trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng nh an ninh quốcphòng Nhìn lại tình hình phát triển kinh tế - xã hội của phần lớn các dân tộcthiểu số hiện nay, chúng ta thấy những khó khăn chồng chất mà đồng bào

đang phải gánh chịu Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung

-ơng khóa IX về công tác dân tộc đã chỉ ra:

Sau hơn 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, nhất là từsau khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ trơng chínhsách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình ở miền núi vàvùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bớc chuyển biến quan trọng,tuy nhiên cho đến nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế, yếu kém [24,tr.31]

Hội nghị cũng nhận định một cách cụ thể:

Nhìn chung, kinh tế ở miền núi và các dân tộc còn chậm pháttriển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tậpquán canh tác còn lạc hậu Chất lợng sản phẩm thấp, tiêu thụ khókhăn Tình trạng du canh, du c, di dân tự do còn diễn biến phức tạp

Trang 3

Một số hộ còn thiếu đất sản xuất Kết cấu hạ tầng ở vùng cao, vùngsâu, vùng căn cứ cách mạng còn rất thấp kém ở nhiều vùng dântộc và miền núi tỷ lệ đói nghèo hiện còn cao hơn so với bình quânchung cả nớc; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng,giữa các dân tộc ngày càng tăng [24, tr.31-32].

Để khắc phục hạn chế, yếu kém, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn miền núi, ngoài việc phải khai thác tiềm năng, thế mạnhtừng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trờng sinh thái, đồng thời phải tậptrung phát huy các nguồn lực, trong đó nguồn lực con ngời là nguồn lực mangtính trực tiếp và quyết định Phụ nữ DTTS chiếm hơn 1/2 dân số, là nguồn lực

có vai trò, vị trí đặc biệt, tác động rất lớn tới phát triển kinh tế - xã hội bềnvững ở những khu vực này

Phụ nữ DTTS nớc ta là những chủ nhân của đất nớc, có tiềm năng lớntác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hơng họ Nhng thựctrạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của ngời phụ nữ lànhững vấn đề bức xúc đối với phụ nữ vùng dân tộc thiểu số Bởi vì, đại bộphận các gia đình ở các dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất là ởvùng cao, vùng sâu, miền núi Trong bộ phận dân c ấy, phụ nữ lại là nhóm xãhội cực khổ nhất Họ vừa tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội, cộng đồng;lại vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cờng độ lao động và thời gianlao động đối với họ là quá tải trong khi mức thu nhập lại thấp, thậm chí họ lao

động vất vả nhng ít đợc cộng đồng, xã hội quan tâm

Bên cạnh đó, điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống còn rấtnhiều hạn chế, yếu kém: trình độ sản xuất, t liệu lao động, kết cấu hạ tầng,nguồn vốn Hơn thế nữa, phụ nữ vùng dân tộc thiểu số chính là ngời trực tiếptham gia các hoạt động kinh tế, trực tiếp sản xuất nhng ít có cơ hội, điều kiệntiếp thu khoa học kỹ thuật Trình độ học vấn nói chung là thấp, công việc nộitrợ gia đình, sinh đẻ và nuôi dạy con cái cũng làm hạn chế năng lực sản xuấtcủa phụ nữ Vì vậy, để phụ nữ vùng DTTS phát triển phải phát huy tiềm năngcủa họ, điều đó vừa có ý nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vừa

có ý nghĩa trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Khu vực miền núi phía Bắc nớc ta gồm Đông Bắc và Tây Bắc, là địabàn tụ c của nhiều dân tộc thiểu số Đây cũng là những vùng mà kinh tế - xãhội phát triển chậm (nhất là Tây Bắc) Một trong những nguyên nhân hạn chế

sự phát triển chung của khu vực này là cha khai thác, phát huy tiềm năng của

Trang 4

lực lợng lao động nữ, thực hiện bình đẳng giới Trong bối cảnh nh vậy, việc

đánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, chỉ ra nhữngnguyên nhân và tác động của chính sách kinh tế - xã hội, đa ra phơng hớng vàgiải pháp nhằm phát huy tiềm năng của họ, tạo điều kiện và cơ hội cho họ hòanhập vào phát triển, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của cộng đồng

là cấp thiết Đây chính là một phơng hớng, nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệpgiải phóng phụ nữ của cánh mạng XHCN nói chung, của Đảng, Nhà nớc và

nhân dân ta nói riêng Chính thực tế đó đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài: “Phát

huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh

tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta hiện nay” làm luận văn thạc

sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về phụ nữ, gia đình, dân tộc các vùng nông thôn miền núi

đã đợc tiến hành từ lâu, tuy nhiên, có nhiều cách tiếp cận dới những góc độkhác nhau Đặc biệt, trong những năm gần đây, cụ thể hơn là từ khi có Nghị

quyết 22-NQ/TƯ, ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ trơng, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, thì những vấn đề này đợc

quan tâm nhiều hơn Những cuộc điều tra, nghiên cứu về kinh tế - xã hội miềnnúi thực hiện theo những chuyên đề, những công trình nh:

Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa chủ biên (1998): Phát triển kinh tế xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hớng CNH, HĐH, Nxb CTQG.

-Công trình đã phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội vùng DTTS, từ đó đa ra địnhhớng chung cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, công trình chakhai thác những đặc điểm về dân c, tộc ngời, nguồn lực lao động, trong đó cónguồn lực nữ

- Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (2001), Nxb CTQG Đây là

công trình lớn của nhiều nhà khoa học, nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nớc,viết về quá trình phát triển các dân tộc thiểu số trong một thế kỷ qua Có một

số chuyên luận đã nói về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên cha

có chuyên luận nào đi sâu vào phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồnnhân lực nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc

- ủy ban Dân tộc và miền núi (2002): Miền núi Việt Nam, thành tựu và phát triển những năm đổi mới, Nxb Nông nghiệp Đây là công trình tổng kết

quá trình đổi mới, phát triển của miền núi, và đánh giá những thành tựu, hạnchế của quá trình đó, đồng thời nêu quan điểm định hớng và nguyên tắc phát

Trang 5

triển miền núi và vùng DTTS Đặc biệt, công trình đã đề cập đến vấn đề nghèo

đói và sự tác động của nó đến các nhóm c dân khác nhau, trong đó, phụ nữ, trẻ

em là nhóm xã hội bị tác động lớn nhất, từ đó đa ra các giải pháp hỗ trợ chonhóm này

- Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002): Vấn đề dân tộc và định hớng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG Cuốn sách bao gồm những chuyên đề đợc trình bày

tại cuộc hội thảo lớn đề cập đến nhiều vấn đề kinh tế - xã hội và chính sáchdân tộc

- Hà Quế Lâm (2002): Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nớc

ta hiện nay, Nxb CTQG: xuất phát từ những số liệu điều tra xã hội học, những

cứ liệu đợc đánh giá qua các cuộc hội thảo và báo cáo chuyên đề về công tácxóa đói giảm nghèo, đặc biệt là vùng DTTS, công trình nêu lên những thànhtựu và khó khăn của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và đề ra hớng phát huysức mạnh nguồn lực tại chỗ, nội lực của đồng bào DTTS

- Nguyễn Quốc Phẩm: Các dân tộc Việt Nam trên con đờng CNH, HĐH Kỷ yếu Hội thảo của Viện Dân tộc (2003) Trong chuyên luận có bàn

đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn các vùng dân tộcthiểu số miền núi Tuy nhiên, chuyên luận cha đi sâu khai thác nội lực, nguồnlực lao động của các nhóm xã hội

- Nguyễn Quốc Phẩm “Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan

đến phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số miền núi ở Việt Nam Kỷ yếu

khoa học cấp bộ của Viện Dân tộc học và ủy ban Dân tộc (2003) Tham luận nêu

và lý giải những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân c, tộc ngời đối với quá trìnhphát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số miền núi nớc ta

- Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (2004-2005): “Phát huy nội lực từng vùng và các dân tộc nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn các tỉnh miền núi, vùng cao Tây Bắc nớc ta hiện nay” Đây

là công trình kết quả đề tài khoa học cấp bộ Các tác giả đề tài khảo sát, phântích những đặc điểm, tiềm năng, thế mạnh, khó khăn vùng Tây Bắc, từ đó đềxuất những giải pháp phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng,phát huy nội lực các dân tộc Tuy nhiên, đề tài cũng cha có điều kiện đi sâuphân tích nguồn lực lao động nữ, vì vậy những số liệu đề tài đa ra cha đợcphân tích dới góc độ giới

Với đối tợng phụ nữ, trong những năm qua, trung tâm nghiên cứu Gia

đình và phụ nữ thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã có

Trang 6

tiến hành nghiên cứu ở một số điểm trong cả nớc dới những góc độ khác nhau

đề cập đến vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong xã hội và tác động củachính sách của Đảng, Nhà nớc về dân số, gia đình, phụ nữ nông thôn Trong

đó, bớc đầu đã có sự xem xét, đánh giá dới góc độ giới Sau đây là một số kết

quả nghiên cứu: “Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò phụ nữ trong gia

đình (1990); “Gia đình, ngời phụ nữ và giáo dục gia đình” (1993); “Đánh giá vì sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985-1995” Tác giả Bùi Thị Kim Quỳ với: “Phụ nữ Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nớc, vấn đề lao động, việc làm và hạnh phúc gia đình, gia đình và địa vị ngời phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ,” Nxb KHXH, (1995) Bàn về vấn đề này còn có các đề

tài khoa học, bài viết của cán bộ Trung tâm nghiên cứu Khoa học về gia đình

và phụ nữ đợc nêu trong báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng và phát triển củaTrung tâm là các t liệu phong phú và khá đầy đủ, phản ánh nhiều khía cạnhkhác nhau liên quan đến vai trò của phụ nữ, phụ nữ trong phát triển Tiêu biểu

là “Vai trò gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con ngời Việt Nam”, do tác giả Lê Thi làm chủ nhiệm; “Phụ nữ, giới và phát triển” (1996) của tác giả Trần Thị vân Anh và Lê Ngọc Hùng; “Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trờng do Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân thực hiện; “Những vấn đề chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn trong giai

đoạn hiện nay do tác giả Trần Thị Bình làm chủ biên(1997); Báo cáo của Ngân hàng thế giới về “Đa vấn đề giới vào phát triển” (2001); “Nghiên cứu giới, phụ nữ và gia đình” của tác giả Nguyễn Linh Khiếu (2003) Ngoài ra còn

có các luận văn, luận án nh: “Bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ở Đồng bằng sông Hồng hiện nay” (2002) của tác giả Chu Thị Thoa; “Gia đình Việt Nam và vai trò ngời phụ nữ trong gia đình hiện nay” của tác giả Dơng Thị Minh; “Học thuyết Mác - Lênin về phụ nữ và liên hệ thực tiễn nớc ta hiện nay” (2002) của tác giả Lê Ngọc Hùng; “Phát huy nguồn nhân lực nữ và xóa

đói giảm nghèo ở nông thôn” của tác giả Lê Thi; Gần đây, công trình mới đợc xuất bản năm 2005 “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Đỗ Thị Thạch đã một lần nữa

chứng minh “sức lao động dồi dào, óc sáng tạo phong phú, là nguồn lực to lớncần đợc phát huy trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội” của ngời phụ nữ

Trang 7

Đó là những công trình nghiên cứu hệ thống và là t liệu tham khảo quý choluận văn.

Đối với phụ nữ vùng DTTS - với tính cách là một đối tợng hẹp thì hiệnnay cha đợc nghiên cứu một cách chuyên biệt, mà chỉ có một số công trình và

bài viết liên quan đến vấn đề này của tác giả Đỗ thúy Bình nh: “Gia đình ngời

H , mông trong bối cảnh kinh tế hiện nay”( 1992); “Môi trờng miền núi và phụ nữ miền núi” (1995); “Về cơ cấu gia đình các dân tộc miền núi phía Bắc”;

“Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng đời sống phụ nữ các dân tộc

ít ngời góp phần hoàn thiện chính sách xã hội” (2002) Đề tài mà tác giả chọn

làm luận văn góp phần bổ sung mặt thiếu hụt mà các công trình nêu trên cha

đề cập tới Luận văn nhằm giải đáp về mặt lý luận nghiên cứu nguồn lực conngời ở vùng núi phía Bắc và giải đáp vấn đề thực tiễn của đổi mới là phải nhìnnhận đánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ và đời sống của họ Tiềm năng

ấy cần phải đợc phát huy để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trêncơ sở tìm hiểu, xem xét sự tham gia của mỗi giới trong hoạt động, hởng thụtrong đời sống kinh tế - xã hội miền núi hiện nay, những thuận lợi, khó khăn,cản trở họ trên con đờng phát triển, đề ra những biện pháp phát huy tiềm năngcủa phụ nữ DTTS ở miền núi phía Bắc

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tiềm năng và việcphát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, luận văn

đề xuất những phơng hớng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huytiềm năng của đội ngũ này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địabàn đã nêu trong điều kiện hiện nay

* Nhiệm vụ của đề tài:

- Xem xét những vấn đề lý luận và các khía cạnh tổng quát liên quan

đến phụ nữ, tiềm năng, nội lực của phụ nữ đối với phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nớc

- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc phát huy tiềm năng của phụ nữdân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nớc ta trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội

- Đề xuất những phơng hớng cơ bản và giải pháp chủ yếu để phát huytiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, thực hiện bình đẳng giới trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh CNH, HĐH

Trang 8

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tợng nghiên cứu:

Phụ nữ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và việc khai thác, pháthuy tiềm năng, nội lực của phụ nữ ở các vùng đã nêu

*Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu vấn đề phát huy tiềm năng của phụ nữ các dân tộcthiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta hiện nay (qua điều tra một số tỉnhtiêu biểu của khu vực: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang, Thái Nguyên,Bắc Kạn)

* Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1986 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phơng pháp luận

Về phơng pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phơng pháp: Lôgíc lịch sử, tổng hợp, phân tích các tài liệu, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học,v.v

-6 Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn

- Từ góc độ Triết học, chuyên ngành CNXHKH, Luận văn kết hợp chặtchẽ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam với phơng pháp tiếp cận giới Từ đó không nhữnglàm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về giải phóng phụ nữ mà còn đa họ vàoquá trình phát triển, nhất là nhóm phụ nữ nghèo nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu

số, nơi còn rất nhiều hạn chế trong thực hiện bình đẳng giới

- Từ khảo sát thực tế, phân tích thực trạng tiềm năng của phụ nữ các dântộc thiểu số miền núi phía Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở n ớc

ta hiện nay, luận văn đề ra những phơng hớng cơ bản và những giải pháp chủyếu nhằm phát huy tiềm năng, nội lực của họ, coi đây là một điều kiện, tiền đềquan trọng nhằm phát huy nguồn lực lao động nông thôn miền núi trong quátrình CNH, HĐH

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,giảng dạy lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, giảng dạy về giới trong hệ thốngcác trờng Đảng, các trờng đào tạo cán bộ nữ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm có 3 chơng, 7 tiết

Trang 9

Chơng 1

Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số

-những khía cạnh lý luận chung

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh

và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ

Phụ nữ là phần nửa dân số không thể thiếu đợc trong đời sống xã hội Phụnữ là một bộ phận cấu thành quan trọng có ý nghĩa quyết định việc tái sản xuấtlực lợng sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội bền vững

Các nhà kinh điển Mác - Lênin đánh giá rất cao vai trò, vị thế của phụnữ trong xã hội, coi phụ nữ là nguồn nhân lực chủ yếu trong cách mạng xãhội Theo các ông: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớnnào của những ngời áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữlao động là những ngời bị áp bức nhất trong tất cả những ngời bị áp bức” [46,tr.60], chính vì vậy nên họ cha bao giờ và không bao giờ đứng ngoài các cuộc

đấu tranh giải phóng Sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giảiphóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con ngời Nếu dân tộc đã đợcgiải phóng rồi, phụ nữ có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội, đồng thời phụ nữ phải có trách nhiệm phát triển kinh tế - xã hội

Nói cách khác, theo Ăngghen, phụ nữ tham gia công việc xã hội chính

là điều kiện đầu tiên để giải phóng phụ nữ Ngời khẳng định rõ hơn: “Ngời tathấy rằng, sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều khôngthể có đợc và mãi mãi không thể có đợc; chừng nào mà ngời phụ nữ còn bị gạt

ra ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việcriêng t ở gia đình” [45, tr.507]

Có thể nói, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng, xã hội cần phải giảiphóng phụ nữ khỏi sự ràng buộc gia đình, phải làm cho phụ nữ và nam giớibình đẳng bằng cách lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc xã hội

Những quan điểm biện chứng ấy có đợc là xuất phát từ sự nghiên cứucông phu và sự chiêm nghiệm trong thực tiễn của C.Mác và Ph.Ănghen để tìm

hiểu địa vị của ngời phụ nữ trong xã hội t sản Các ông đã chứng kiến và thấu hiểu

tình cảnh của ngời phụ nữ trong nền sản xuất t bản chủ nghĩa đó là tình trạng ngời

Trang 10

phụ nữ bị bóc lột đến kiệt sức, thậm chí bị chết vì do lao động quá sức Phụ nữ bị

mắc các bệnh nghề nghiệp đến tử vong và họ bị mắc bệnh nhiều hơn nam giới.C.Mác chỉ rõ: “Trong những nghề nghiệp của phụ nữ nh bông, len, lụa và đồgốm, tỷ lệ bình quân chết vì bệnh phổi trong 100 nghìn ngời đàn bà là 643 ngời,nhiều hơn so với tỷ lệ đàn ông là 610 ngời” [50, tr.428]; hoặc đó là sự bóc lộttinh vi bằng cách kéo dài ngày công lao động trong môi trờng thiếu vệ sinh vàthiếu không khí Phụ nữ phải làm việc cật lực trung bình ngày 16 giờ và trongmùa may mặc thì làm cật lực một mạch 30 giờ không nghỉ Hậu quả của tìnhtrạng trên là sự suy sụp về tinh thần và thể xác: “Không mấy chốc họ đã thấymệt mỏi, kiệt sức, suy nhợc, ăn mất ngon, đau vai, đau lng, đau thắt lng, nhất là

đau đầu; sau đó là xơng sống bị vẹo, hai vai nhô cao và biến dạng, gầy mòn, mắtsng, chảy nớc mắt và nói chung là nhức nhối, cận thị, ho, ngực lép, khó thở vàmọi thứ bệnh phụ nữ [48, tr.589]

C.Mác đi đến kết luận: trong nền sản xuất t bản chủ, nghĩa phụ nữ cóvai trò lớn nhng địa vị lại thấp hèn cả trong gia đình và ngoài xã hội, họ luônchịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, bị bóc lột, bị tha hóa Trong các công x-ởng t bản chủ nghĩa, phụ nữ phải chịu bao nỗi nhục nhã, đắng cay, phải lao

động cực nhọc, làm việc cật lực thậm chí là trong điều kiện ốm đau Phụ nữ lànô lệ

Tình trạng trong hôn nhân gia đình dới chế độ TBCN cũng vậy Trongchế độ TBCN có hai loại gia đình là gia đình t sản và gia đình vô sản, giai cấpnắm giữ t liệu sản xuất là giai cấp thống trị và bóc lột giai cấp không có t liệusản xuất, điều này đợc thể hiện rõ trong gia đình t sản, nơi mà ngời đàn ôngnắm giữ địa vị kinh tế thì nắm giữ luôn vị thế thống trị ngời đàn bà, ngời đàn

bà không có t liệu sản xuất Với t cách là đơn vị của tế bào xã hội, gia đìnhcũng chứa đựng tất cả mối quan hệ bất công và bất bình đẳng xã hội Ph

Ăngghen viết: “trong gia đình, ngời chồng là nhà t sản, ngời vợ đại biểu chogiai cấp vô sản” [49, tr.116]

Nh vậy, chế độ t bản đã làm tăng sự nô dịch từ hai phía xã hội và gia

đình và chất thêm gánh nặng lên cả hai vai ngời phụ nữ Cùng một lúc phụ nữphải vừa tham gia lao động trong nền sản xuất xã hội và vừa phải đảm nhiệmmọi thứ công việc nh nô lệ trong gia đình

Nghiên cứu lịch sử loài ngời, C.Mác và Ăngghen chỉ ra rằng: Trong xãhội có giai cấp đối kháng, phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự áp bức giai cấp

Trang 11

và sự bất bình đẳng trong gia đình và ngoài xã hội Sự ra đời của chế độ t hữudẫn đến tình trạng áp bức, nô dịch của giai cấp có của đối với giai cấp không

có của, từ đây, trong gia đình ngời phụ nữ trở nên hoàn toàn lệ thuộc về kinh

tế, phải phục tùng tuyệt đối quyền lực của ngời chồng

Từ việc phân tích sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội loài ngời,

C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của sự bất bình đẳng đó Về nguồn gốc kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ các ông

nhấn mạnh rằng: sự phân công lao động giữa nam và nữ là do những nguyênnhân hoàn toàn khác, chứ không phải do địa vị của ngời đàn bà trong xã hội

quyết định Quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới là do quan hệ kinh tế của

họ quyết định Kể cả trong hôn nhân, thì nguồn gốc của sự thống trị của đàn

ông đối với đàn bà cũng là sự thống trị về mặt kinh tế Ph.Ăngghen đã vạch rõnguyên nhân kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ nh sau: “Tình trạng khôngbình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trớc kia để lại cho chúng ta,tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà

về mặt kinh tế” [49, tr.115]

Sự bất bình đẳng nam nữ hay sự bất bình đẳng về giới có nguồn gốc từ

sự bất bình đẳng về kinh tế giữa phụ nữ và nam giới Địa vị của ngời phụ nữtrong gia đình và ngoài xã hội luôn thấp kém hơn nam giới là bắt nguồn từ địa

vị kinh tế của họ Phụ nữ có địa vị thấp kém hơn nam giới trớc hết là trongquan hệ đối với t liệu sản xuất, đồng thời là trong quan hệ tổ chức, quản lý sảnxuất và trong quan hệ phân phối, tiêu dùng sản phẩm

Cơ sở kinh tế nh thế nào thì đặc điểm và tính chất của mối quan hệ namnữ nh thế ấy Trong nền kinh tế cộng sản nguyên thủy, do đàn bà nắm giữkinh tế nên đàn bà đồng thời nắm giữ quyền cai quản xã hội và gia đình

“Kinh tế gia đình cộng sản là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của ngời

đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thủy”[49, tr.83]

Nhng cùng với sự thống trị kinh tế của đàn bà bị mất và đàn ông nắmquyền thống trị kinh tế thì sự thống trị của nam giới với phụ nữ trở nên phổbiến không chỉ trong nền sản xuất vật chất của xã hội mà cả trong nền tái sảnxuất, tức là trong hôn nhân gia đình Mác và Ăngghen chỉ rõ: “Sự thống trịcủa đàn ông trong hôn nhân chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị của họ

về kinh tế” và vì vậy, khi không còn chế độ t hữu thì sự thống trị của đàn ông

Trang 12

đối với đàn bà trong hôn nhân “sẽ tiêu vong cùng với sự thống trị về kinh tế”[49, tr.127].

Học thuyết Mác - Lênin đã chỉ rõ nguồn gốc và nguyên nhân kinh tếcủa sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội Nền kinh tế dựa trên cơ sở của chế

độ t hữu về t liệu sản xuất chủ yếu của xã hội đã đẻ ra 2 đặc trng cơ bản của

chế độ hôn nhân và gia đình: một là sự thống trị của ngời đàn ông và hai là

tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân Kết luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng rút ra ở đây là: cơ sở kinh tế biến đổi thì những đặc điểm và tính chấtcủa mối quan hệ nam nữ tơng ứng với nó cũng thay đổi

Về nguồn gốc nhận thức, văn hóa - xã hội của sự bất bình đẳng nam nữ, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng: bên cạnh yếu tố kinh tế là nguyên

nhân chính gây nên tình trạng bất bình đẳng nam nữ còn có yếu tố phi kinh tế

- đó là yếu tố thuộc về nhận thức, văn hóa, xã hội Ănghen đã nêu rõ quan

điểm này nh sau:

Chúng tôi coi những điều kiện kinh tế là cái cuối cùng quyết

định sự phát triển lịch sử Nhng chủng tộc cũng là một nhân tố kinhtế Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật, v.v là dựa trên sự phát triển kinh tế Nhng tất cả sựphát triển đó đều tác động lẫn nhau và cùng tác động đến cơ sở kinh

tế Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhân duy nhấtchủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động Trái lại, có sựtác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, xét đến cùng bao giờcũng tự vạch ra con đờng đi của nó Nhà nớc, chẳng hạn, tác độngbằng những thuế quan bảo hộ, tự do buôn bán; bằng chế độ thuếkhóa tốt hay xấu [47, tr.788]

Trình độ nhận thức, thói quen suy nghĩ và các phong tục tập quán phản

ánh sự bất bình đẳng kinh tế giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu bám chắc vàotrong óc con ngời, thành t tởng “trọng nam khinh nữ” và thành thói ứng xử của

ngời đàn ông đối với đàn bà Đó chính là nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc văn hóa - xã hội của sự bất bình đẳng nam nữ T tởng trọng nam khinh nữ, tập

quán gia trởng trở thành quy tắc, thành thông lệ Tàn tích đó của chế độ namtrị, chế độ thống trị của toàn thể nam giới đối với toàn thể nữ giới không cầntới pháp luật bảo vệ vẫn có tác động cỡng chế, điều chỉnh hành vi ứng xử của

Trang 13

ngời đàn ông và đàn bà ngay cả khi cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ

bị phá bỏ Ăngghen viết:

Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, thì một phần là kếtquả của các điều kiện kinh tế, trong đó có chế độ một vợ một chồngphát sinh, và phần nữa là một truyền thống của thời kỳ trong đó cómối liên hệ giữa các điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ mộtchồng còn cha đợc ngời ta hiểu một cách đúng đắn, và đã bị tôn giáothổi phồng lên [49, tr.127]

Không chỉ tôn giáo thổi phồng lên mà cả t tởng, pháp luật của giai cấp

t sản cũng ra sức bảo vệ cho sự bất bình đẳng nam nữ Học thuyết Mác - Lêninchỉ rõ rằng cùng với nguồn gốc kinh tế, sự thống trị của đàn ông đối với đàn

bà còn bắt nguồn từ trong nhận thức, niềm tin và thói quen cùng phong tục tậpquán đợc hình thành từ lâu trong lịch sử

Trên cơ sở phân tích nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của tìnhcảnh phụ nữ bị áp bức trong xã hội t bản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủnghĩa Mác - Lênin đã vạch rõ xu hớng biến đổi địa vị của ngời phụ nữ theo h-ớng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạngxã hội chủ nghĩa đối với sự giải phóng phụ nữ Khi bàn về vấn đề này, C.Mác

và Ph.Ănghen khẳng định, phụ nữ có tiềm năng, vai trò và vị trí trong cáccuộc cách mạng xã hội Theo C.Mác, chính chủ nghĩa t bản phát triển đã tạo

ra những tiền đề kinh tế, xã hội cho cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp bị ápbức, bóc lột, giải phóng phụ nữ nhng bản thân chủ nghĩa t bản khi xác lập vịtrí của nó trên vũ đài chính trị lại không thể giải phóng đợc con ngời nóichung, ngời phụ nữ nói riêng khỏi sự áp bức của gia đình và xã hội, thậm chí

nó còn tăng cờng sự áp bức bóc lột và làm tha hóa phụ nữ Việc này chỉ có thểgiải quyết đợc trong chủ nghĩa xã hội, vấn đề là làm thế nào để giải phóng đợcphụ nữ khỏi sự áp bức bất công trong cả gia đình và ngoài xã hội? C.Máckhẳng định: phải giải phóng phụ nữ khỏi mọi sự áp bức và bất bình đẳng Điều

đó chỉ có thể thực hiện bằng cuộc cách mạng vô sản- cuộc cách mạng giảiphóng cho toàn bộ nhân loại

Để phụ nữ đợc giải phóng và tiến tới bình đẳng nam nữ cần phải thựchiện những điều kiện sau:

Thứ nhất, xóa bỏ chế độ t hữu t nhân về t liệu sản xuất, xây dựng chế độ

công hữu nhằm xóa bỏ sự lệ thuộc về mặt kinh tế của ngời phụ nữ đối với nam

Trang 14

giới Giải phóng phụ nữ ra khỏi sự bất công, áp bức, bóc lột và bất bình đẳngtrong nền sản xuất xã hội Thực hiện tốt điều này sẽ tạo điều kiện cho việc xâydựng quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ và cũng chính là điều kiện để pháthuy tiềm năng của phụ nữ.

Thứ hai, tạo điều kiện cho phụ nữ thoát khỏi những ràng buộc gia đình,

tạo điều kiện và cơ hội cho họ tham gia vào nền sản xuất xã hội Xã hội cầnphải giúp phụ nữ giảm bớt gánh nặng công việc gia đình bằng cách phát triểncác hệ thống dịch vụ công cộng “Điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ làlàm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đólại đòi hỏi phải làm cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xãhội nữa” [49, tr.116]

Thứ ba, xóa bỏ dần các phong tục tập quán, định kiến giới và tâm lý coi

thờng phụ nữ, tuyên truyền giáo dục và vận động mọi thành viên trong xã hộinhận thức đợc sâu sắc và ý nghĩa của việc nâng cao bình đẳng nam nữ là gópphần thúc đẩy xã hội phát triển

Thứ t, xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng, hòa thuận, tiến bộ đòi hỏi hôn

nhân phải dựa trên tình yêu chân chính chứ không bị lợi ích kinh tế chi phối

Theo C.Mác và Ph.Ănghen, sự nghiệp giải phóng phụ nữ chỉ có thể thựchiện đợc một cách triệt để khi lao động gia đình biến thành lao động xã hội:

Chỉ có thể giải phóng đợc ngời phụ nữ khi ngời phụ nữ có thểtham gia sản xuất trên một quy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làmcông việc trong nhà rất ít Nhng chỉ với nền công nghiệp hiện đại, lànền công nghiệp không những thu nhận lao động của phụ nữ trên quymô lớn, mà còn trực tiếp đòi hỏi phải có lao động nữ và ngày càng có

xu hớng hòa tan lao động t nhân của gia đình trong nền sản xuất côngcộng, thì có thể thực hiện đợc điều nói trên [49, tr 241]

Tuy nhiên, để giải quyết những mâu thuẫn khi thực hiện công việctrong gia đình và ngoài xã hội, để phụ nữ tham gia công việc xã hội mà không

bị lệ thuộc những cản trở từ công việc gia đình, theo Ănghen, cần phải đacông việc nội trợ của gia đình cá thể thành công việc chung của xã hội - tức là

“hòa tan lao động t nhân của gia đình trong nền sản xuất công cộng”, biếncông việc nội trợ thành lao động công cộng T tởng này của Mác - Ăngghen đ-

ợc Lênin kế thừa và phát triển trong điều kiện mới ở nớc Nga Xô viết

Trang 15

Lênin đánh giá rất cao tiềm năng, vai trò của phụ nữ trong cách mạng:

“Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu không cómột phần phụ nữ lao động tham gia rộng rãi” [42, tr.18],“không thể nào xâydựng đợc ngay cả chế độ dân chủ - chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã hội nữa,nếu phụ nữ không tham gia công tác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chínhtrị ” [38, tr 418]; “Nếu một phần lớn phụ nữ lao động không tham gia mộtcách tích cực thì không thể có cách mạng xã hội chủ nghĩa đợc” [40, tr.220].Ngời còn khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ và chỉ ra khả năng của họ có

ảnh hởng rất quan trọng đến nguồn lực cách mạng, có mối liên quan mật thiếtvới sức mạnh nhân dân: “Không lôi kéo đợc phụ nữ vào công việc chính trị thìkhông thể lôi kéo đợc quần chúng nhân dân vào công việc chính trị đợc” [42,tr.13] Lênin cũng đã xác định trách nhiệm của Đảng, Nhà nớc là phải lôicuốn, thúc đẩy mọi phụ nữ tham gia chính trị, quản lý nhà nớc Xô Viết:

“Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm cho chính trị trở thành công việc mà mỗingời phụ nữ lao động đều có thể tham dự” [39, tr.101]

Trong bức th “Gửi nữ công nhân” viết năm 1920, Lênin tố cáo pháp luật

t sản giành đặc quyền cho nam giới và đặt phụ nữ vào tình trạng không bình

đẳng với nam giới Do đó, để tiến tới giải phóng phụ nữ thì một trong nhữngbớc đầu tiên phải thực hiện là: chính quyền xô - viết hủy bỏ tất cả pháp luật tsản và đa ra luật pháp tôn trọng bình đẳng nam và nữ Nhng Lênin cho rằng

nh thế cha đủ, cần phải tạo bình đẳng trên thực tế Lênin viết: “Bình đẳng vềmặt pháp luật vẫn cha phải là bình đẳng trong thực tế đời sống Muốn vậy,phải làm sao cho nữ công nhân ngày càng tham gia nhiều hơn nữa vào côngviệc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào quản lý nhà nớc” [41, tr.182-183].Lênin tin tởng rằng “Trong khi quản lý, phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và

đuổi kịp nam giới” Ngời yêu cầu mọi ngời ủng hộ phụ nữ tham gia quản lýnhà nớc nếu họ có đức, có tài:

Hãy bầu nhiều nữ công nhân hơn nữa vào xô - viết, cả đảngviên lẫn ngoài đảng Miễn là chị ấy là một công nhân trung thực,biết làm việc có tình có lý và tận tâm, thì dù họ có là ngời không

đảng phái cũng không sao, cứ bầu họ vào Xô-viết Matxcơva! Giaicấp vô sản sẽ không đạt đợc tự do hoàn toàn, nếu không giành đợc tự

do hoàn toàn cho phụ nữ [41, tr.183]

Trang 16

Ngời cũng đề ra nhiệm vụ chủ yếu của phong trào công nhân nữ là thuhút sự tham gia của đông đảo phụ nữ vào cuộc đấu tranh vì sự bình đẳng namnữ Lênin yêu cầu: “Đấu tranh cho phụ nữ đợc quyền bình đẳng về mặt kinh tế

và xã hội, chứ không phải bình đẳng về mặt hình thức Nhiệm vụ chủ yếu làlôi cuốn phụ nữ tham gia vào lao động sản xuất của xã hội, giải phóng chị em rakhỏi địa vị “nô lệ trong gia đình”, ra khỏi địa vị lệ thuộc (cái địa vị làm cho họngu muội đi và hạ thấp con ngời họ) vào cảnh suốt đời chỉ có trông nom bếp núc

và con cái” [41, tr.222] “Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải cải tạo mộtcách căn bản cả nền kỹ thuật xã hội lẫn tập quán xã hội” [41, tr.222]

Nh vậy, theo quan điểm của Lênin thì không chỉ giải phóng ngời phụ nữngoài xã hội mà còn giải phóng họ ngay trong chính gia đình vì chính ở đâygánh nặng công việc đang đè lên vai họ, làm cho họ không có điều kiện pháttriển đợc nh nam giới Muốn thực hiện điều này, theo Lênin, Nhà nớc xô viếtcần đa ra chính sách u tiên đối với phụ nữ: Tất cả phụ nữ lao động có con nhỏ

đều đợc dành thời gian cho con bú vào các khoảng cách nhau không quá 3giờ, đợc nhận một số tiền phụ cấp và chỉ làm việc 6 giờ mỗi ngày, cấm dùngphụ nữ lao động ban đêm, phụ nữ đợc nghỉ lao động 8 tuần trớc khi sinh vàvẫn đợc hởng lơng nh thờng lệ, không phải trả tiền chữa bệnh và tiền thuốc

Hơn thế nữa, Lênin đã đánh giá rất cao khả năng và vai trò của phụ nữtrong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa vì theo Lênin, kinh nghiệm củatất cả các phong trào giải phóng chứng tỏ rằng cách mạng muốn thắng lợi làtùy thuộc vào mức độ tham gia của phụ nữ Bởi vậy, trên thực tế chính quyềnxô - viết đã làm hết sức mình để lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc quản lýNhà nớc, quản lý xã hội nhằm từng bớc giải phóng phụ nữ Lênin chỉ ra rằng:Phụ nữ chỉ đợc giải phóng, đợc phát triển khi họ nhận thức đợc vị trí, vai trò

và khả năng của mình và có ý chí phấn đấu cho sự nghiệp cao cả ấy: việc giảiphóng lao động nữ phải là việc của bản thân phụ nữ Để thực hiện sự nghiệpgiải phóng, chính bản thân phụ nữ phải ra sức học tập, nâng cao trình độ,nhanh chóng đuổi kịp nam giới Chỉ có học tập với trình độ cao thì phụ nữ mớithực hiện tốt vai trò và phát huy tốt khả năng của mình trong gia đình và ngoàixã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết khoa học, cách mạng của thời đạingày nay, là sự kế tục, phát triển t tởng nhân loại về giải phóng phụ nữ Chủnghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng nguồn gốc và nguyên nhân cũng nh nhữngyếu tố tác động tới sự bất bình đẳng nam nữ trong lịch sử loài ngời đó chính là

Trang 17

quá trình phụ nữ bị gạt ra khỏi nền sản xuất xã hội Học thuyết Mác - Lênin

đồng thời chỉ ra tiềm năng và vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cáchmạng và tiến bộ xã hội, chỉ ra điều kiện để giải phóng phụ nữ là đa phụ nữ trởlại tham gia lao động sản xuất xã hội, gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ vớicuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Muốn có sự nghiệp giải phóng phụ nữ trongthực tế đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ t hữu về t liệu sản xuất, thực hiện công hữuhóa, đồng thời thủ tiêu sự bất bình đẳng nam nữ trong t tởng và nhận thức củaxã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng khẳng định rằng sự nghiệp giải phóngphụ nữ luôn gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội,giải phóng con ngời là vấn đề mang tính biện chứng sâu sắc Hơn nữa, cùngvới việc xóa bỏ cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ thì cần tạo cơ hội và

điều kiện để thu hút ngày càng nhiều sự tham gia của phụ nữ vào tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội để phụ nữ có thể phát huy hết tiềm năng của mình

1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ

Kế thừa và phát triển học thuyết Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh làmột trong những ngời Việt Nam đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến tiềmnăng, vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nói chung

và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng

T tởng Hồ Chí Minh về tiềm năng, vai trò của phụ nữ Việt Nam có cộinguồn sâu xa, từ cuộc sống gia đình và xã hội trong thời niên thiếu ở quê nhà,

đến sự tiếp thu truyền thống lịch sử, tinh hoa văn hóa Việt Nam và thế giới.Với sự nhạy cảm của một tâm hồn và nhân cách lớn, Ngời sớm nắm bắt đợctinh hoa văn hóa dân tộc trong đó có vấn đề phụ nữ Đa số các nhà nghiên cứu

đều cho rằng những truyền thống văn hóa “thuận vợ, thuận chồng tát bể đôngcũng cạn”, “lệnh ông không bằng cồng bà”; “Ngời chồng trị vì, ngời vợ caiquản”, là những hằng số văn hóa thể hiện vai trò, vị trí của ngời phụ nữ không

dễ gì bị “lấn át” trong xã hội phong kiến, thực dân ở Việt Nam Chính truyềnthống lịch sử với những tấm gơng của các anh hùng liệt nữ hy sinh vì dân vì n-

ớc, vì độc lập dân tộc là bằng chứng hùng hồn không thể phủ nhận, có sứcsống mạnh mẽ, trờng tồn trong tâm thức, dân tộc

Trong diễn trình lịch sử - văn hóa của phụ nữ Việt Nam, có thể nói từthời đại Hồ Chí Minh, phụ nữ mới đợc coi nh một lực lợng, một tổ chức vớitầm vóc lịch sử có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất

Trang 18

nớc Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm khi đấu tranh cho quyền độc lập củadân tộc đã đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc của ngời phụ nữ các n-

ớc thuộc địa Trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong “Th gửi quốc tế cộng sản”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Ngời luôn luôn đề cập “Nỗi khổ nhục của ngời đàn bà bản xứ” Trên tờ báo Ngời cùng khổ, trong bài “Phụ nữ Việt nam và chế độ đô hộ của Pháp”, Ngời viết: “Chế độ thực dân tự bản thân nó

đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi Bạo lực đó đem

ra đối xử đối với trẻ em và phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa”

Từ cảm nhận sâu sắc nỗi “khổ nhục” của phụ nữ dới chế độ thực dânphong kiến, Hồ Chí Minh càng ý thức hơn phụ nữ chính là một lực lợng, “mộtnửa” thành công của cách mạng Trớc khi có một chính Đảng ra đời, trên báo

Thanh niên - cơ quan tuyên truyền của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Ngời phụ trách đã mở mục Diễn đàn phụ nữ Trong một tác phẩm quan trọng viết sau đó, cuốn Đờng cách mệnh (viết năm 1927), Nguyễn ái

Quốc khẳng định: “Việt nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thànhcông, mà nữ giới muốn cách mệnh thì phải theo phụ nữ quốc tế chỉ bảo” Saunày, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Ngời luôn nhấn mạnh khảnăng cách mạng của phụ nữ và sớm nhận thấy nhân tố góp phần thắng lợi củacuộc cách mạng ấy chính là phụ nữ: “Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng cólần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” [52, tr.288]; “An Nam cách mệnhcũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” [52, tr.289] Về sau, trong thgửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm ngày phụ nữ 8-3-1952, Ngời khẳng định: “Nonsông gấm vóc nớc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng nh già ra sức dệt thêu màthêm tốt đẹp rực rỡ” [55, tr.289]

Sự nhìn nhận sâu sắc và đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong lịch sửdân tộc là t tởng xuyên suốt ở Chủ tịch Hồ Chí Minh Hơn thế nữa, Ngời còntuyên truyền cho đồng bào, đồng chí hiểu về vấn đề đó Năm 1941, sau khi về

nớc, trong số báo Việt Nam Độc lập tại Việt bắc, Ngời đã viết:

Việt Nam phụ nữ đời đờiNhiều ngời vì nớc vì nòi hy sinhNghìn thu vang tiếng Bà Trng

Ra tay cứu nớc cứu dân đến cùng

Bà Triệu ẩu thật anh hùngCỡi voi đánh giặc anh hùng bốn phơng

Trang 19

Từ việc đánh giá đúng khả năng và vai trò của phụ nữ trong cách mạng,Ngời luôn theo dõi sát sao và tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia vào sựnghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng nhà nớc Đặc biệt, Ngời rấtquan tâm đến công tác phát triển Đảng trong quần chúng phụ nữ Khi làm việcvới các cấp ủy đảng từ trung ơng đến địa phơng, Ngời luôn chú ý số lợng cán

bộ nữ Ngời hiểu rõ khả năng to lớn của phụ nữ trong các lĩnh vực của đờisống xã hội Ngời nói: “Dới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ trởthành chuyên gia các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm Giám đốc và Phó giám

đốc các xí nghiệp, Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, Bí th chi bộ Đảng ”[55, tr.149] và Ngời vui mừng trớc việc ngày càng có nhiều phụ nữ tham giavào công việc quản lý: “Từ ngày nớc ta đợc giải phóng đến nay, phụ nữ đềutiến bộ rõ về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Nhng một sự tiến bộ

rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyền ngày càng nhiều” [54,tr.164] Sau nữa, Ngời đã đặt trách nhiệm của Đảng đối với sự phát triển củaphụ nữ Ngời khẳng định: phải giải phóng phụ nữ thực sự, giải phóng phụ nữthì phải bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể: “Từ nay, các cấp Đảng,chính quyền địa phơng khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độcủa từng ngời và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa” [54, tr.164],

“phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ” [54,tr.225], “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dỡng, cânnhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kểcả công việc lãnh đạo” [55, tr.502] Hồ Chí Minh cho rằng: không ai thấu hiểuphụ nữ bằng chính phụ nữ, muốn vận động, bảo vệ, hỗ trợ phụ nữ phải thànhlập tổ chức của phụ nữ Ngay từ những năm hai mơi của thế kỷ XX trong cuốn

Đờng cách mệnh, Hồ chí Minh đã nói: “muốn thế giới cách mệnh thành công,

thì phải vận động đàn bà, con gái công nông các nớc Mỗi Đảng cộng sảnphải có một Bộ phụ nữ trực tiếp thuộc về phụ nữ quốc tế” [52, tr.288]

Tôn trọng phụ nữ, đánh giá đúng vai trò của phụ nữ, song Chủ tịch HồChí Minh cũng rất nghiêm khắc đối với phụ nữ Ngời luôn nhắc nhở phụ nữphải ý thức đợc vai trò, vị thế của mình mà phấn đấu cho bản thân và cho dântộc Ngời nói: “Đảng, Chính phủ và Bác mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa.Hiện nay trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít” [54, tr.87] Vì vậy, ngờinhắc nhở phụ nữ: “không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâmhọc tập, phát huy sáng kiến, tin tởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập

Trang 20

thể, đoàn kết, giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn trong công tác chínhquyền” [54, tr.661], “phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập vàphấn đấu; phải xóa bỏ t tởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cờng, tựlập” [54, tr.294] Ngời đã chỉ cho phụ nữ Việt Nam thấy rằng, muốn có sựbình đẳng thực sự, không nên chỉ trông chờ vào ngời khác mà “bản thân chị

em phải có chí khí tự cờng, tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi chomình”[54, tr.225]

Về con đờng giải phóng phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí minh nhấn mạnh:Muốn giải phóng phụ nữ thì trớc hết phải giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp, thực hiện quyền tự do bình đẳng cho mọi ngời, trong đó có phụ nữ Để đacông cuộc giải phóng ấy thắng lợi, để xây dựng xã hội mới thành công, theoNgời phải tiến hành làm cách mạng vô sản, mà trớc hết là phải thực hiện thắnglợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đánh đổ đế quốc phong kiến là một b-

ớc căn bản để giải phóng cho phụ nữ Sau đó, thực hiện cuộc cách mạng xãhội chủ nghĩa để xóa bỏ tận gốc sự bất bình đẳng của ngời phụ nữ với namgiới trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa Phụ nữ chỉ đợc bình

đẳng thực sự trong điều kiện một nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa lànhmạnh và một xã hội văn minh Do đó, Hồ Chí Minh chủ trơng gắn sự nghiệpgiải phóng phụ nữ với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Ngời thờng nói:chúng ta làm cách mạng để giành lấy tự do, dân chủ, bình đẳng, trai gái ngangquyền nhau, không để phụ nữ bị áp bức, bị coi thờng Ngay từ khi Đảng cộngsản Việt Nam đợc thành lập, trong lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, HồChí Minh đã viết: “thực hiện nam nữ bình quyền”

Nh vậy, từ việc khẳng định phụ nữ là một lực lợng to lớn của xã hội,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vợt lên t tởng hẹp hòi của Nho giáo - phong kiến,

đánh giá đúng và khách quan vai trò, tiềm năng và vị thế của phụ nữ trong gia

đình và xã hội Phụ nữ vừa là lực lợng lao động quan trọng của xã hội, vừa làngời mẹ, ngời thầy đầu tiên của con trẻ Đời sống vật chất và tinh thần của họ,trình độ học vấn của họ, điều kiện làm việc của họ có ảnh hởng to lớn đến thế

hệ tơng lai Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tầm quan trọng của việcgiải phóng phụ nữ, coi đó là thớc đo tiến bộ của phát triển xã hội Theo Ngời,

“giải phóng phụ nữ” không chỉ bao hàm nội dung giải phóng phụ nữ thoátkhỏi ách nô lệ, khỏi chế độ thực dân phong kiến trong thời kỳ cách mạng dântộc dân chủ mà còn xóa bỏ t tởng “trọng nam khinh nữ” từ trong gia đình ra

Trang 21

ngoài xã hội, là tạo điều kiện để phụ nữ phát huy tiềm năng sức lực của mìnhvào phát triển đất nớc và của chính bản thân T tởng này đã chi phối nhận thức

và hành động trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Dới chế độphong kiến và về sau là chế độ thuộc địa nửa phong kiến, phụ nữ Việt Namhàng trăm năm sống trong triết lý Nho giáo “tam tòng, tứ đức”, “nhất nam viếthữu, thập nữ viết vô” , quanh quẩn hoặc an phận với cuộc sống gia đình, vớihạnh phúc nhỏ nhoi chật hẹp trong gia đình và ngoài xã hội, họ bị những quan

điểm trên “trói buộc” và chịu một thân phận “thiệt thòi” Vì lẽ đó mà giải phóng phụ nữ là nội dung và chơng trình cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng ta tiến hành không chỉ là cuộc cách mạng xã hội gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp mà còn là cuộc cách mạng văn hóa, nhân văn sâu sắc.

Nếu nh trong cách mạng dân tộc, dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định

“Việt nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công” thì trong hòabình và xây dựng đất nớc Ngời lại nêu: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội.Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài ngời Nếukhông giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Có thểnói quan điểm, t tởng của Ngời đối với phụ nữ là giải phóng “sức chiến đấu”

và “sức lao động”, làm thế nào để tạo điều kiện tốt nhất để chị em đóng gópnhiều nhất cho đất nớc và thông qua đó phụ nữ trởng thành

Để giải phóng phụ nữ cần phải kết hợp yếu tố khách quan và chủ quan.Yếu tố khách quan là sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc, xã hội, yếu tố chủ quan

là sự vơn lên của chính phụ nữ Đó là quan điểm khách quan, biện chứng và

đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và có ý nghĩa bài học chiến lợc lâu dài.Trong bối cảnh của cơ chế bao cấp trớc đây, cũng nh trong thời kỳ đổi mớihiện nay, quan điểm trên vẫn đúng đắn và có ý nghĩa to lớn

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò, tiềm năng, vị thế to lớncủa phụ nữ Việt Nam, Ngời luôn gắn nhiệm vụ giải phóng phụ nữ với giảiphóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con ngời Ngời khẳng địnhtrong chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nớc và các tổ chức xã hội phải thực

sự quan tâm phụ nữ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho ngời phụ nữ phát huy tối đa tàinăng, tiềm lực của mình; đồng thời phụ nữ muốn tiến bộ, bình đẳng, hạnhphúc thực sự thì phải có ý chí, có quyết tâm, tích cực học tập, rèn luyện để có

đủ đức và tài, tham gia quản lý Nhà nớc, quản lý xã hội

Trang 22

Tiếp thu lý luận Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh về phụ nữ, ngay từkhi ra đời Đảng ta rất quan tâm đến phụ nữ, coi vấn đề phụ nữ luôn là vấn đềtrọng tâm trong sự nghiệp cách mạng.

Ngay từ năm 1930 khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cao

t tởng “Nam nữ bình quyền” và coi việc thực hiện t tởng đó là một trong 10nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam, đồng thời nêu rõ quan điểm “giảiphóng phụ nữ gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp” Hiến pháp

đầu tiên- Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: “Đàn bà ngang quyền với đàn

ông về mọi phơng diện” (Điều 9) Quan điểm đó đã đợc cụ thể hơn trong Hiếnpháp năm 1959, Điều 24: “Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới về các mặtsinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” [30, tr.18] Hiến phápnăm 1980, (Điều 57, 63) và Hiến pháp năm 1992 (Điều 54,63) đã khẳng định lạiquan điểm đó một lần nữa: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọimặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nớc và xã hội chăm lonâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và nghề nghiệp củaphụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội” Trong từnggiai đoạn của cánh mạng, các điều khoản của Hiến pháp đã đợc thể chế hóabằng hệ thống pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát huy vaitrò, vị trí của phụ nữ trong xã hội

Các quan điểm của Đảng và Nhà nớc không chỉ đợc ghi nhận rõ trongcác văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, đợc cụ thể hóa bằng các vănbản, những Chỉ thị, Nghị định, mà quan trọng hơn, ở một mức độ nhất định,

đã và đang đợc thực thi trong cuộc sống nhằm phát huy vai trò, vị trí và tiềmnăng của phụ nữ trong xã hội Những kết quả mà phụ nữ đã đạt đợc trongnhững năm qua trên các lĩnh vực đã và đang chứng minh cho nhận xét đó Ch-

ơng trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tại việt Nam đã ghi nhận:

“Việt Nam có thể tự hào về những thành quả của mình trên bớc đờng tiến tới

sự bình đẳng giới Những thành quả này, một phần nhờ sự cam kết về chính trịcủa Chính phủ Việt Nam, mở đầu bằng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề caovai trò và tiềm năng của phụ nữ” [17, tr.1]

Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị về “Đổimới và tăng cờng công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số37/CT-TW ngày 16-5-1994 của Ban Bí th về “Công tác cán bộ trong tình hìnhmới” đợc coi là những văn bản gần đây nhất ghi nhận phụ nữ Việt Nam vừa có

Trang 23

tiềm năng to lớn, là động lực quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triểnkinh tế - xã hội, vừa là ngời thầy, ngời mẹ đầu tiên của con ngời Các vănkiện đã nêu rõ: Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là nhằm cải thiện đờisống vật chất, tinh thần, nâng cao địa vị xã hội và quyền bình đẳng của phụ nữ,nhấn mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của các cấp chính quyền,các tổ chức nhân dân, toàn xã hội và gia đình, khẳng định vai trò của phụ nữtrong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nớc.

Nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nớc nhấn mạnh đến việc thực hiệnbình đẳng giới, chú trọng công tác cán bộ nữ, coi việc tăng tỷ lệ cán bộ nữtham gia quản lý nhà nớc, quản lý kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ học vấncho phụ nữ là điều kiện quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ chophụ nữ, là điều kiện để phát huy tiềm năng và nâng cao địa vị xã hội cho phụnữ Đại hội X khẳng định:

Nâng cao trình độ mọi mặt cả đời sống vật chất và tinh thần chophụ nữ, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiệntốt vai trò của ngời công dân, ngời lao động, ngời mẹ, ngời thầy đầutiên của con ngời Bồi dỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càngnhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lao động và quản lý cáccấp [25, tr.120]

Bộ Luật Lao động của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đợc Quốchội khóa IX thông qua năm 1994 đã dành riêng một chơng (chơng X) quy định cácchế độ, chính sách về lao động nữ Trong đó có nhiều nội dung phù hợp với yêu cầu

đổi mới và phát triển đất nớc trong giai đoạn hiện nay nh việc nhấn mạnh chức nănglàm mẹ của phụ nữ, có những biện pháp để chức năng gia đình không còn là gánhnặng riêng của mỗi gia đình, trớc hết là phụ nữ, mà phải “xã hội hóa” các chức năng

đó, đồng thời nêu cao trách nhiệm thực hiện của cả vợ và chồng Nghị quyết Đại hội

đại biểu lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức ghi nhận việc xâydựng và thực hiện “Chiến lợc phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam” mà

Đảng và Chính phủ ta đã cam kết tại Hội nghị phụ nữ lần thứ 4 tổ chức tại Bắc Kinh(9-1995), xem đó là một bộ phận quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh tế - xãhội của đất nớc

“Chiến lợc phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam” của Chínhphủ Việt Nam xây dựng năm 2000; “Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ củaphụ nữ Việt Nam đến năm 2005” và “Chiến lợc quốc gia vì sự tiến bộ của phụnữ Việt Nam đến 2010” là những văn bản quan trọng thể hiện quan điểm đúng

đắn của Đảng và Nhà nớc ta về vấn đề phụ nữ Trong những văn bản đó quán

Trang 24

triệt sâu sắc tinh thần nâng cao học vấn cho phụ nữ và thực hiện quyền bình

đẳng giới trong các khâu xây dựng và triển khai chơng trình hành động củacác cấp, các ngành Những chiến lợc đó khẳng định giải phóng phụ nữ là mộttrong những mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam, có ảnh hởng trựctiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nớc Chiến lợc còn nhấn mạnh sự tiến

bộ của phụ nữ không chỉ xuất phát từ lợi ích riêng của phụ nữ, của gia đình màcòn xuất phát từ lợi ích chung của toàn xã hội Vì vậy, bồi dỡng cán bộ nữ,trang bị kiến thức cho phụ nữ là nhiệm vụ thờng xuyên của các cấp chínhquyền, đoàn thể Các văn kiện của Đảng và Nhà nớc đã khẳng định, tăng trởngkinh tế phải tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho phát triển xã hội, trong đóchú trọng đến lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe, tạo cơ hội cho phụ nữphấn đấu vơn lên, phát huy vai trò, vị trí của mình trong giai đoạn mới của đấtnớc - giai đoạn thực hiện CNH, HĐH

Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, trong các văn kiện chính trị vàpháp lý đã khẳng định tiềm năng, vai trò, vị thế của phụ nữ đối với quá trìnhphát triển đồng thời cũng thể hiện rõ sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà n -

ớc đối với phụ nữ Đảng và Nhà nớc đã cố gắng thể chế hoá các quan ớcđiểm, yêu cầu mọi thành viên trong xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện,khuyến khích phụ nữ phát huy mọi khả năng của mình trong phát triển kinh tế

n xã hội cũng nh khuyến khích họ tham gia quản lý Nhà nớc, quản lý xã hội.Những chủ trơng và sự quan tâm của Đảng đã kịp thời khơi dậy và động viên,bồi dỡng và phát huy tiềm năng, vai trò của phụ nữ tạo thành nguồn sức mạnh,góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, làm chuyển biến tình hình kinh tế -xã hội của đất nớc ta trong những năm qua Đó cũng chính là sự kế thừa, vậndụng, cụ thể hóa t tởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với từng thời kỳphát triển của đất nớc

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại t tởng “trọng nam khinh nữ”, gâycản trở quá trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và bình đẳng giới ở nớc

ta hiện nay Trên bình diện cả nớc, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi Một bộphận đáng kể không có việc làm, hoặc cha có việc làm, thu nhập thấp, sứckhỏe bị giảm sút Đặc biệt nhiều phụ nữ ở miền núi, nông thôn còn mù chữ vàkhông có điều kiện hởng thụ văn hóa Phụ nữ đang bị phân biệt đối xử, bấtbình đẳng trong cả gia đình và ngoài xã hội dới nhiều hình thức khác nhau và

là nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội

Trang 25

Vì vậy, Đảng và Nhà nớc cần quan tâm hơn nữa, chính sách của Đảng

và Nhà nớc về vấn đề phụ nữ cần đợc các cấp, các ngành quan tâm, nghiêncứu, áp dụng và quán triệt đầy đủ, làm cho các văn bản trên có sức sống mạnh

mẽ trong đời sống xã hội nhằm phát huy vai trò, tiềm năng của phụ nữ mộtcách hiệu quả hơn

1.2 Tầm quan trọng của việc phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta hiện nay

1.2.1 Nhận thức về tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số

Dù đã để công tìm tòi, chúng tôi vẫn cha có đợc một cuốn từ điển haymột công trình nghiên cứu trong đó có định nghĩa đầy đủ, chi tiết về kháiniệm tiềm năng Trong từ điển tiếng Việt (Xuất bản năm 1994), có định nghĩa

tóm tắt tiềm năng “là khả năng, năng lực tiềm tàng” [69, tr.948]; còn khái niệm tiềm tàng thì đợc định nghĩa là “trạng thái ẩn giấu bên trong dới dạng khả năng, cha đợc bộc lộ ra, cha phải là hiện thực” [69, tr 948].

Trên cơ sở đó, chúng tôi hiểu tiềm năng là toàn thể khả năng, năng lực

sẵn có bên trong sự vật, hiện tợng đó Khả năng, năng lực đó đã từng bớc đợccon ngời phát hiện, khai thác và sử dụng, và khi nó đợc khai thác, sử dụng, nóbiến thành hiện thực, nghĩa là một bộ phận tiềm năng đã biến thành hiện thựcthông qua hoạt động của con ngời

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số

Phụ nữ dân tộc thiểu số là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng phụ nữ

thuộc các thành phần dân tộc có số lợng dân c ít hơn ngời Kinh (tộc ngời đasố) sinh sống ở các khu vực của nớc ta Nói cách khác, đây là cách nhìn nhận,tiếp cận dới góc độ “giới” (gender) soi rọi vào các yếu tố văn hóa, kinh tế, xãhội các thành phần dân tộc sinh tụ, làm ăn trong môi trờng tự nhiên - vùng núi

và môi trờng xã hội - dân tộc thiểu số Trong quá trình lịch sử của các tộc ngờivới những diện mạo bản sắc văn hóa đa dạng, phụ nữ là “thành viên” quantrọng, vừa là chủ thể, vừa là ngời thụ hởng những giá trị văn hóa tộc ngời, gópphần làm đậm đà bản sắc dân tộc “cá tính tộc ngời” và làm giàu vốn văn hóadân tộc quốc gia

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số là toàn bộ những năng lực, khả

năng lao động sáng tạo của phụ nữ các DTTS Khả năng, năng lực ấy cho phép

họ tham gia và đảm nhiệm những công việc trong các mặt của đời sống xã

Trang 26

hội, đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của bản thân phụ nữ, đồng thời đápứng nhu cầu của sự tiến bộ xã hội Bên cạnh những khả năng, năng lực đã đợcbộc lộ, còn một phần khả năng, năng lực đang tiềm ẩn sẽ đợc bộc lộ, pháttriển trong điều kiện thuận lợi.

Phụ nữ dân tộc thiểu số có những đặc điểm riêng khác với phụ nữ ngời

Kinh ở khu vực đồng bằng và đô thị:

Là một bộ phận của phụ nữ Việt Nam, phụ nữ các DTTS mang trongmình cả đặc điểm, phẩm chất, tiềm năng nổi bật của ngời phụ nữ Việt Nam, cảnhững đặc điểm, tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số Do sống trong môi tr-ờng tự nhiên - miền núi và môi trờng xã hội - dân tộc thiểu số nên họ chịu sựtác động lớn của cả hai yếu tố trên Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu sốtrong thời kỳ CNH, HĐH là truyền thống đoàn kết, đức tính cần cù, chịu th-

ơng chịu khó; sống có trách nhiệm, vì mọi ngời; phẩm chất chân thật, giữ chữtín; khéo léo và sáng tạo trong công việc; sức khỏe dẻo dai đợc rèn luyệntrong môi trờng tự nhiên khắc nghiệt Đội ngũ trí thức, cán bộ đảng viên nữtrong đồng bào dân tộc tuy còn ít về số lợng nhng thực sự đã có nhiều đóng góp tạonên những thành quả của địa phơng về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Tuy nhiên, do đa số phụ nữ DTTS sống trong điều kiện tự nhiên khắcnghiệt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các phong tục tập quán “trói buộc” đã tác

động lớn đến cách sống, nếp nghĩ, làm chậm nhịp phát triển của bản thân họ.Mặt khác, tâm lý tự ti, cam chịu, an phận thủ thờng, ngại thay đổi và khó bắtnhịp với cái mới đã hạn chế những tiềm năng sẵn có, làm cho những tiềmnăng đó khó bộc lộ và phát triển

Phải nhận thức đợc thế mạnh và hạn chế của phụ nữ DTTS mới tìm ra

đ-ợc giải pháp đúng nhằm khắc phục hạn chế và phát triển những u thế Vì vậy,

phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế - xãhội chính là làm cho cái hay, cái tốt, các mặt mạnh phát huy tác dụng và tiếptục nảy nở thêm để tác động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồngthời cũng chính là phát triển bản thân họ

Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội chính là sự nhận thức của cộng đồng

về tiềm năng, vai trò, vị trí của họ trong chiến lợc phát triển quốc gia Từ quan

điểm này cho thấy, yếu tố quan trọng của phát huy tiềm năng phụ nữ là đánhgiá đúng sự đóng góp của họ trong các hoạt động kinh tế - xã hội thông qua

Trang 27

đó thấy đợc tiềm năng, vai trò, vị trí của họ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

-Việc nghiên cứu tiềm năng và phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộcthiểu số trong phát triển kinh tế - xã hội phải thông qua các hoạt động kinh tếtrong gia đình, các hoạt động văn hóa xã hội của họ và thực chất là đánh giá vịtrí, vai trò của phụ nữ so với nam giới Mối quan hệ đó biểu hiện trong sự phụthuộc tác động qua lại lẫn nhau

Nói cách khác, đánh giá tiềm năng của ngời phụ nữ DTTS qua quá trìnhkhảo sát các công việc, hoạt động thể hiện các chức năng và tác động của họtrong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, từ đó có những phơng hớng và giải pháp cụthể nhằm phát huy những tiềm năng của họ, thúc đẩy quá trình phát triển kinh

tế - xã hội và thông qua đó bản thân ngời phụ nữ tự khẳng định mình

1.2.2 Tầm quan trọng của việc khai thác, phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc

Khai thác phát huy tiềm năng của phụ nữ các dân tộc trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong quốc sáchtrong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia, từng dân tộc và gia

đình Trong sự nghiệp đổi mới, phụ nữ các dân tộc Việt Nam chiếm tỷ lệ51,48% dân số và 52% lực lợng lao động xã hội, đóng vai trò quan trọng trongphát triển kinh tế, văn hóa xã hội và ổn định chính trị

Phụ nữ dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò to lớn trong phát triển kinh tế xã hội đất nớc nói chung và trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng

-Phụ nữ dân tộc thiểu số là một lực lợng xã hội quan trọng và có vai tròthiết yếu tác động và ảnh hởng toàn diện đến sự phát triển các DTTS ở miềnnúi của đất nớc Là lực lợng lao động chính trong các hoạt động kinh tế - xãhội, phụ nữ là “chủ nhân” của quá trình phát triển kinh tế Phụ nữ dân tộc thiểu

số tham gia tất các hoạt động kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công, tựquản chi tiêu duy trì cuộc sống cho thành viên trong gia đình

Phụ nữ DTTS miền núi phía Bắc với những bản sắc riêng của từng tộcngời và khu vực có những biểu hiện đa dạng về hình thức hoạt động kinh tếtrong gia đình và cộng đồng Trong xã hội cổ truyền cũng nh hiện nay, chúng

ta thấy “giới nữ” có những “thiên chức” quan trọng tạo nên thể thống nhấttrong hoạt động kinh tế gia đình và cộng đồng, ở lĩnh vực nào thì phụ nữ cũngkhẳng định vai trò của mình và đem lại thu nhập cho gia đình và xã hội

Trang 28

Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh xã hội, phát huy tính tích cực xã hội của phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số nóichung và dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nói riêng là một vấn đề có ýnghĩa quan trọng trong công cuộc giải phóng và phát triển phụ nữ Đồng thời

tế-đây là vấn đề cấp bách, nhằm khai thác mọi tiềm năng lao động của đất nớc

để góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung, CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn nói riêng

Tuy nhiên, hiện nay, nhiều tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số miềnnúi phía Bắc vẫn cha đợc khai thác Vậy làm thế nào để có thể phát huy tiềmnăng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế? Phải nâng cao năng lựccho họ Muốn nâng cao năng lực, trớc hết phải nâng cao trình độ học vấn Đặcbiệt, cần có những chính sách hợp lý, sát thực tế để vừa hỗ trợ, vừa khuyến khích

động viên phụ nữ học tập Bên cạnh đó cần nâng cao trình độ nhận thức hiểu biếtcủa phụ nữ các dân tộc thiểu số về các vấn đề cấp bách: phổ cập giáo dục vănhóa, tuyên truyền, bồi dỡng những hiểu biết về xã hội, kỹ thuật nông nghiệp, thịtrờng Cần có sự kết hợp giữa các ban ngành địa phơng với Hội phụ nữ để cónhững giải pháp hỗ trợ cho phụ nữ trong phát triển kinh tế

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong thực hiện chính sách dân tộc, đại đoàn kết dân tộc

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nớc ta luôn nhấn mạnh truyềnthống đoàn kết, coi đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân là động lực của sựphát triển

Đặc điểm nổi bật trong c dân tộc ngời Việt Nam là c trú xen kẽ Đây là

điều kiện thuận lợi để các c dân xích lại gần nhau, gắn bó với nhau Nhng mặtkhác cũng dẫn đến không ít khó khăn trong quan hệ tộc ngời nh: tranh chấp

đất đai, xích mích về địa bàn c trú, về đất rừng, tài nguyên Vì vậy, củng cốtinh thần đoàn kết trong cùng một tộc ngời, trong các tộc ngời với nhau là rấtcần thiết

Phụ nữ DTTS luôn là trung tâm đoàn kết, tơng trợ, giúp đỡ nhau cùngphát triển; xây dựng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất, cùng nhau xóa đóigiảm nghèo

Tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số với phát triển văn hóa tộc ngời:

Phụ nữ các DTTS có vị trí, vai trò quan trọng trong tạo dựng, truyền thụ, bảotồn và phát triển các giá trị văn hóa tộc ngời Với t cách là ngời nội trợ tronggia đình, ngời thợ thủ công dệt may trang phục và nhiều đồ vải khác, ngời phụ

Trang 29

nữ có vai trò quan trọng và họ thực sự có tiềm năng trong bảo tồn những giátrị văn hóa của từng dân tộc và thông qua đó truyền trao, duy trì các giá trị ấyqua nhiều thế hệ Công thức nấu ăn, cách dệt vải, thêu hoa văn, lối mặc, cách

sử dụng các yếu tố văn hóa vật thể cũng nh những yếu tố văn hóa phi vật thể

nh lời hát ru, hát dân ca, câu chuyện kể mà ngời phụ nữ đã chuyển tải làbằng chứng sinh động khẳng định vị trí quan trọng của ngời phụ nữ trong vănhóa gia đình ở mỗi tộc ngời, ở mỗi vùng khác nhau, yếu tố văn hóa trên biểuhiện rất phong phú và đa dạng; song đều thống nhất ở một điểm chung vàkhông thể phủ nhận đó là vị thế quan trọng của họ trong tạo dựng, giữ gìn vàphát triển văn hóa Nó nh là một khả năng riêng có của ngời phụ nữ Vì vậyviệc khai thác và phát huy khả năng này của họ chính là việc giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc

Trong bối cảnh văn hóa tộc ngời ở nớc ta, phụ nữ các dân tộc có vị trí

đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên các giá trị văn hóa từng tộc ngời (vậtchất, tinh thần, các quan hệ xã hội và tập quán) Ngày nay, khi nói đến bản sắcvăn hóa dân tộc không ai có thể phủ nhận sắc thái văn hóa ngôn ngữ và trangphục (chủ yếu là trang phục nữ) Sau ngôn ngữ, trang phục nữ các dân tộc làyếu tố văn hóa cơ bản để phân biệt tộc ngời này với tộc ngời khác (bởi vì trangphục nam của phần lớn các tộc ngời là giống nhau) Phụ nữ các dân tộc là chủnhân văn hóa trang phục của các tộc ngời và đặc biệt là chính họ đã tạo nênsắc thái văn hóa trang phục nữ đậm đà cá tính của từng tộc ngời và làm giàuvăn hóa quốc gia Nhiều giá trị văn hóa vật chất khác vừa là giá trị văn hóa gia

đình vừa là giá trị văn hóa tộc ngời nh: công thức các món ăn, các làn điệu dân

ca, lời hát ru con, và các môtíp hoa văn trên trang phục của họ, đồ vải đãkhẳng định tiềm năng của họ, vai trò, vị trí quan trọng của phụ nữ trong cộng

đồng Trong nhiều hoạt động cộng đồng, lễ hội, tín ngỡng, tôn giáo, văn nghệdân gian, lao động sản xuất phụ nữ các tộc ngời ở những sắc thái khác nhau

là một thành tố không thể thiếu trong việc tạo dựng nên một chỉnh thể của cácgiá trị văn hóa tộc ngời dù ở dạng vật chất, tinh thần hay tập quán xã hội

Có thể nói, trong bối cảnh văn hóa quốc gia, phụ nữ DTTS ở miền núinói chung, miền núi phía Bắc nói riêng có thể nói là “chủ nhân” quan trọnggóp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Các yếu tố văn hóa tộc ngời, vănhóa khu vực và quốc gia đang biểu hiện sinh động qua nếp sống ở mỗi dân

Trang 30

tộc, nếp sống gia đình Chúng ta đều thấy tiềm năng của phụ nữ và vai trò của

họ trong việc duy trì nếp sống đó

Trong sự giao lu văn hóa mạnh mẽ hiện nay giữa các dân tộc trong quốcgia Việt Nam và giữa Việt Nam với các nớc khác, nhiều yếu tố bản sắc vănhóa dân tộc bị nền văn minh công nghiệp xóa nhòa đi một cách nhanh chóng.Tuy nhiên, trong sự tơng quan với nam giới thì nữ giới khu vực miền núi phíaBắc là ngời có công bảo tồn nhiều yếu tố bản sắc văn hóa của từng tộc ngời vàcủa quốc gia Đây là vấn đề cần phải đợc nghiên cứu, đầu t trong phơng hớngbảo tồn các giá trị văn hóa các dân tộc và quốc gia

Trên lĩnh vực văn hóa, phụ nữ dân tộc thiểu số khu vực miền núi phíaBắc là ngời chủ của nhiều giá trị văn hóa tộc ngời đặc sắc

Tuy nhiên, trớc sự tác động của kinh tế thị trờng, sự giao lu hội nhậpmạnh mẽ về các giá trị thì các giá trị văn hóa vật chất mà phụ nữ có vai tròquan trọng nh nghề dệt, cắt may các trang phục cổ truyền, các ngành nghề thủcông nh đan lát, dệt chiếu, công thức các món ăn cổ truyền dân tộc cũng nhcác giá trị tinh thần nh lời ru, hát dân ca, điệu múa cùng tập tục xã hội sẽnhanh chóng bị “công nghiệp hóa” nếu không có một định hớng cho việc khaithác, bảo tồn và phát huy trong cuộc sống mới Đấy là cha nói đến yếu tốngôn ngữ - tiếng mẹ đẻ của các dân tộc- ngày càng ít đợc các bà mẹ dạy chocon Hiện nay ở một số dân tộc đang xảy ra hiện tợng mai một ngôn ngữ tộcngời Chính vì vậy, nghiên cứu tiềm năng của phụ nữ DTTS ở miền núi vớiviệc bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những nội dung và

ý nghĩa phát triển của quốc gia và của phụ nữ

Đặc biệt, hiện nay, trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, vấn

đề dân tộc, tôn giáo, đang đặt ra đối với các tỉnh miền núi phía Bắc và phụ nữ

đang góp phần vào giải quyết vấn đề này Địa bàn c trú chủ yếu của các dân tộcthiểu số là rừng núi, vì vậy xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội cũng chính là thựchiện, đáp ứng những yêu cầu về an ninh quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệvững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ gắn với an ninh biên giới

Do nhiều nguyên nhân, đời sống chính trị - xã hội trên thế giới đangdiễn biến phức tạp Các thế lực chống đối CNXH đang ráo riết dùng mọi thủ

đoạn chống phá cách mạng Việt Nam Lợi dụng những khó khăn trong đờisống của đồng bào các dân tộc thiểu số, những yếu kém trong thực hiện chínhsách dân tộc ở địa phơng, chúng đã kích động quần chúng, nhằm xóa bỏ các giá

Trang 31

trị văn hóa dân tộc, tăng cờng xâm nhập văn hóa t sản, phơng Tây vào nớc ta,chia rẽ khối đại đoàn các dân tộc, thậm chí tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dântộc thiểu số gây bạo loạn, làm ảnh hởng an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Trớc hết, thông qua các phơng tiện thông tin đại chúng, phụ nữ thamgia vào các hoạt động đoàn thể, tổ chức tuyên truyền rộng rãi cho nhân dânthấy rõ âm mu thâm độc của các thế lực thù địch Qua đó, nâng cao cảnh giác,chủ động phòng, chống trong đông đảo quần chúng nhân dân

Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, việc

đánh giá đúng tiềm năng của các nguồn lực để từ đó có phơng hớng và giảipháp nhằm khai thác phát huy, khơi dậy và bồi dỡng, phát triển tiềm năngphục vụ cho chiến lợc phát triển của quốc gia, dân tộc là điều cần thiết và có ýnghĩa cả về mặt lý luận bà thực tiễn Nguồn lực nữ nói chung, nguồn lực nữ cácdân tộc thiểu số nói riêng không nằm ngoài chiến lợc phát triển chung đó

Các tỉnh miền núi phía Bắc gồm 15 tỉnh là: Quảng Ninh, Tuyên Quang,

Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, LaiChâu, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Phú Thọ, Bắc Giang, Lạng Sơn; nhiều tỉnh có đ-ờng biên giới tiếp giáp với Trung Quốc với Lào Đây là vùng kinh tế, sinh tháilớn, chiếm tới 1/3 diện tích lãnh thổ và và 16% dân c cả nớc, có vị trí chiến lợc

về địa chính trị và an ninh quốc phòng, là vùng giàu tiềm năng phát triển kinh

tế - xã hội

Những tiềm năng về tài nguyên tự nhiên: khí hậu, đất đai, rừng, khoángsản, sông ngòi đã tác động tích cực đến việc phát huy tiềm năng của ngời phụnữ, thể hiện ở việc họ có thể sử dụng các lợi thế về điều kiện tự nhiên để pháttriển kinh tế Đất đai màu mỡ, đa dạng, tầng canh tác dày, địa hình phân cách

đã tạo nên nhiều vùng sinh thái có tiềm năng trong phát triển nông nghiệp đadạng với các loại cây trồng, vật nuôi khá phong phú nh chăn nuôi gia súc, giacầm, trồng chè, các loại cây ăn quả Khí hậu cận ôn đới, hệ thống sông ngòi,

Trang 32

đồi núi tạo nên những danh thắng sơn thủy hữu tình, với bản sắc văn hóa đadạng phong phú của các dân tộc anh em cùng sinh sống là những tiềm nănglớn để phát triển kinh tế du lịch Hơn nữa, các công trình thủy điện lớn nhthủy điện Sơn La, Hòa Bình đã tạo điều kiện mở rộng và phát triển các hệthống dịch vụ, với các chơng trình dịch vụ vui chơi, giải trí có thể khai thác đểthúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc điểm địa hình bị chia cắt sâu và mạnh của các tỉnh miền núi phía Bắcgây nhiều khó khăn cho việc giao lu, tiếp xúc với các dịch vụ xã hội và phát triểnkinh tế, thậm chí trong mỗi tỉnh lại tồn tại nhiều loại địa thế khác nhau Chẳnghạn, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Sơn La là 1.405.500 ha, trong đó đất đang

sử dụng là 549.72,91 ha, chiếm 39% diện tích đất tự nhiên Ngoài ra, còn có 80 ha

đất trống, đồi núi trọc cha đợc khai thác sử dụng, chiếm 60,92% diện tích tự nhiên.Trong đó có 13,7 vạn ha đất và mặt nớc có khả năng sản xuất nông nghiệp, 66 vạn

ha đất lâm nghiệp cha đợc khai thác sử dụng [3, tr.3] Tỉnh Hòa Bình có tổng diệntích tự nhiên là 466.282 ha, trong đó đất nông nghiệp là 66.759 ha (14,32%), đấtlâm nghiệp 194.308 ha (41,67%), đất chuyên dùng 27.394 ha (5,87%), đất khudân c nông thôn 5.232 ha (1,12%), đất ở đô thị 574 ha (0,13%) và còn 172.015 ha

đất đồi núi cha đợc sử dụng, chiếm 36,89 diện tích tự nhiên Tổng diện tích đất tựnhiên của Lai Châu là 9.065,123 km2, chủ yếu là các loại đất đỏ và vàng nhạt pháttriển trên đá, cát, đá sét và đá vôi, có kết cấu khá chặt chẽ Trong đó đất nôngnghiệp đã sử dụng 664.299,9 ha, chiếm 7,09% tổng diện tích đất tự nhiên; đất lâmnghiệp đang có rừng 283.667 ha; đất chuyên dùng có khoảng 4.489,61 ha Đấttrống đồi núi trọc có khả năng sử dụng còn rất lớn là 525.862 ha, chiếm 58% diệntích đất tự nhiên Tỉnh Điện Biên sau khi chia tách có diện tích tự nhiên 9.554

km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 11,32%, đất lâm nghiệp 86%.Diện tích đất cha sử dụng ở Điện Biên còn rất lớn, chiếm 53,3%[5, tr.2]

Các tỉnh ở vùng Đông Bắc địa hình chia cắt mạnh và tình trạng đất cha

đ-ợc sử dụng cũng rất lớn Tỉnh Hà Giang với tổng diện tích đất tự nhiên là516,9.000 ha, trong đó đất nông nghiệp: 140,5.000 ha; đất lâm nghiệp:364,2.000 ha; đất chuyên dùng: 7,6.000 ha; đất ở: 4,6.000 và số đất cha sử dụng

là 271,3.000 ha Tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích đất tự nhiên là 351,2.000 ha,trong đó đất nông nghiệp: 332,9.000 ha; đất lâm nghiệp: 306.000 ha; đấtchuyên dùng; 9,8.000 ha; đất ở 2,5.000 ha; số đất cha sử dụng là 291,7.000 ha.Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 354,1.000 ha, trong đó đất

Trang 33

nông nghiệp: 95,8.000 ha; đất lâm nghiệp: 155,3.000 ha; đất chuyên dùng:21,2.000 ha; đất ở: 8,5.000 ha và đất cha sử dụng là 73,3.000 ha [5, tr.6] Nhvậy, số lợng đất cha sử dụng mà chủ yếu là đất đồi núi trọc ở các tỉnh miềnnúi phía Bắc là rất lớn Nếu nguồn lao động nói chung, lao động nữ nói riêngphát huy đợc thế mạnh của mình trong sản xuất nông, lâm nghiệp thì sẽ tạohiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh, của vùng và của cả nớc.

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực nêu trên thì chính các yếu tốkhí hậu thời tiết, địa hình ở vùng núi phía Bắc cũng có những tác động bất lợi, gâykhó khăn trong sản xuất nh: hạn hán, lũ quét, gió lốc, ma đá thờng xuyên

Mặt khác, do đặc điểm về vị trí, địa hình chia cắt mạnh nên cuộc sốngcủa phụ nữ các dân tộc thiểu số phụ thuộc phần lớn vào đất nông, lâm nghiệp.Bên cạnh đó, để có đất sản xuất họ phải đi sâu vào thung lũng để khai thácruộng nớc hoặc đi làm rẫy xa Khoảng cách từ nhà đến nơi làm việc cũng rấtlớn vì vậy mất rất nhiều thời gian đi lại, thậm chí còn phải ngủ lại ở trên rẫy.Hơn nữa, canh tác trên đất dốc, đờng đi lại khó khăn làm tăng thêm gánh nặngcông việc cho phụ nữ, đặc biệt là khâu thu hoạch, ảnh hởng lớn đến sức khỏecủa ngời phụ nữ

Giao thông ở vùng dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi cũng là mộttrong những khó khăn nan giải, tác động lớn đến cuộc sống của phụ nữ Mặc

dù trong những năm gần đây, Nhà nớc đầu t nhiều dự án cải tạo, nâng cấp ờng giao thông liên xã, liên thôn, một phần đã đem lại cho phụ nữ các dân tộcthiểu số những điều kiện thuận lợi để thực hiện quyền hởng thụ văn hóa thôngtin, song nguồn lực đầu t này vẫn cha đủ đáp ứng nhu cầu đi lại của bà contrên một địa hình quá khó khăn, cách trở Còn nhiều xã vùng cao, sâu cha có

đ-đờng ô tô đến bản, ảnh hởng lớn đến việc giao lu trong phát triển kinh tế -xãhội

Do đặc điểm tự nhiên và giao thông khó khăn, hiện nay ở các xã vùngcao thờng thiếu nớc sinh hoạt, nguồn nớc lại ở xa nhà chủ yếu là ở khe suốinên mất rất nhiều thời gian lấy nớc Đây là gánh nặng đối với phụ nữ bởi vìviệc lấy củi, lấy nớc để phục vụ sinh hoạt gia đình chủ yếu là công việc củanhững ngời phụ nữ và công việc này cũng mất khá nhiều thời gian, thờng lấy

đi cơ hội học hành của trẻ em gái và thời gian lao động thu nhập, nghỉ ngơi vàgiải trí của phụ nữ Việc đầu t các nguồn nớc, và nguồn tài nguyên khác có thể

Trang 34

làm giảm thời gian lao động phụ nữ cho công việc chăm sóc gia đình, giúp họ

có điều kiện hơn làm các công việc mang lại thu nhập Đầu t vào nguồn nớc sẽmang lại lợi ích cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhng ngời có lợi hơncả là trẻ em gái và phụ nữ

Hiện nay, do dân số tăng nhanh, sự thay đổi theo hớng không thuận lợigiữa tỷ lệ ngời - đất canh tác nơng rẫy đã buộc phải rút ngắn chu kỳ bỏ hóa từ

20 năm xuống còn không quá 4 năm Sự khai thác mạnh mẽ đó duy trì đợc sảnxuất lúa, ngô trong một thời gian ngắn nhng sẽ dẫn đến suy giảm mạnh sản l-ợng (có nơi chỉ đạt trung bình dới 600kg thóc/ha), môi trờng bị xuống cấp liêntục Chu kỳ bỏ hóa ngắn làm cho rừng không kịp tái sinh cùng với việc khaithác rừng bừa bãi làm cho hệ thống che phủ của rừng bị giảm Thực tế sảnxuất của cộng đồng ngời Dao ở Bắc Kạn cho thấy năng suất lúa ruộng chỉ đạt31,2 - 32,6 tạ/ha, nhng năng suất lúa nơng chỉ đạt 8,8 tạ/ha Bên cạnh sự suykiệt về tài nguyên thiên nhiên là tăng thời gian làm việc, giảm thu nhập cònlàm sâu sắc thêm khoảng cách giới vì những công việc có thu nhập thấp thờng

đợc dành cho phụ nữ, ví dụ nh trong làm ruộng nớc phụ nữ gánh vác 54,3%công việc, còn trên nơng rẫy phụ nữ phải làm 67,8% công việc Thậm chí ởmột số tộc ngời nh ngời Dao ở Bắc Kạn, công việc đi thu hái lúa nơng hầu hết

Với địa bàn vùng núi phía Bắc, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn theo hớng sản xuất hàng hóa có những đặc thù chứa đựng

Trang 35

tiềm năng thế mạnh lớn về điều kiện tự nhiên, song cũng bao hàm những khókhăn hết sức to lớn kể cả về điều kiện tự nhiên cũng nh mặt xã hội, đó là địahình rừng núi hiểm trở, con ngời với trình độ dân trí thấp, dân c tha thớt, phântán, phong tục, tập quán lạc hậu

Trong khu vực miền núi phía Bắc những năm qua, tình hình kinh tế cóphát triển, tỷ lệ tăng trởng đáng kể và đời sống đồng bào dân tộc có nhiều thay

đổi, tỷ lệ đói nghèo ngày càng giảm ở tỉnh Hòa Bình, giá trị tổng sản phẩmGDP tăng trung bình trong 5 năm qua là 7,5%, cơ cấu công nghiệp xây dựng18%, dịch vụ 32% Số liệu tơng tự đối với tỉnh Lai Châu là 7,24%, 20,82%,39,13%; tỉnh Điện Biên: 9,3%, 25%, 36,65%; tỉnh Sơn La: 14,16%, 18,25%,31,17%; tỉnh Hà Giang: 5,4%, 21,3%, 28,8%; tỉnh Thái Nguyên: 8,1%,37,2%, 36,2%; tỉnh Bắc Kạn: 6,3%, 9,6% và 23% [5] Song quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế, tạo tăng trởng vẫn cha đáp ứng yêu cầu đặt ra Tỷ trọngnông lâm nghiệp còn chiếm phần lớn trong GDP Điều này một mặt phản ánh

đặc thù kinh tế của khu vực, mặt khác còn thể hiện vai trò của kinh tế tự cung

tự cấp trong đời sống đồng bào dân tộc

Có thể thấy rất rõ các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta là những tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, các điều kiện xã hội nh giáo dục, y tế gặp rất nhiều khó khăn Chẳng hạn, ở tỉnh Hòa Bình có 102 xã đặc biệt khó khăn đợc

đầu t theo chơng trình 135 của Nhà nớc diện xã nghèo ngoài chơng trình 135

có 36 xã thuộc địa bàn 7 huyện Tỷ lệ hộ nghèo chung toàn tỉnh đến cuối năm

2002 là 17,04%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo chung của các xã 135 là 22,06% Xã

có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất chiếm 60% (xã Nông Luông, huyện Mai Châu); có

36 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 30%[5] Do địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn, mặc

dù đã đợc Nhà nớc quan tâm đầu t nhng đến nay mạng lới giao thông của tỉnhvẫn gặp rất nhiều khó khăn Một số trục đờng liên xã, đờng trung tâm xã chỉ

có thể đi lại đợc vào mùa khô

Riêng tỉnh Sơn La, năm 2003, có 86 xã thuộc chơng trình 135 với tỷ lệnghèo đói là 15% Tính đến năm 2003, ở Sơn La có 3 xã cha có đờng đến xã

Hoàn cảnh đói nghèo và thu nhập của gia đình thấp đã tăng gánh nặngcho phụ nữ trong việc kiếm sống cho gia đình Mặt khác, ở những gia đìnhkinh tế khó khăn, nam giới có chiều hớng ít chia sẻ gánh nặng gia đình vớiphụ nữ Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng: trong những hộ gia

đình nghèo ở nông thôn miền núi thì gánh nặng công việc gia đình đang đặtlên vai ngời phụ nữ Nghiên cứu về thời gian làm việc của phụ nữ nông thôn

Trang 36

cho thấy, trung bình họ lao động sản xuất 12,5 giờ mỗi ngày Số ngày làmviệc trong năm từ 302-336 ngày, trong khi đó lao động nam chỉ làm việc trungbình 7 giờ/ ngày và 250 ngày trong năm Nh vậy, về mặt thời gian lao động, nữlàm gấp 2 lần so với nam giới Hiện tợng này diễn ra phổ biến ở nông thôn ViệtNam và đặc biệt là vùng núi phía Bắc Cụ thể hơn, kết quả khảo sát cho thấytrong hộ gia đình đói, nam giới chỉ bỏ ra 1,1 giờ mỗi ngày cho công việc nội trợ,

hộ gia đình nghèo là 1,3 giờ và hộ gia đình khá là 1,7 giờ [27, tr.38] Donghèo thì càng không có điều kiện đầu t cho sản xuất nên năng suất cây trồng

và vật nuôi rất thấp Nh vậy, với việc thu đợc cùng một khối lợng sản phẩm cóthể có những hộ gia đình nghèo phải bỏ thời gian làm việc nhiều hơn

Về quan hệ kinh tế: ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung trình độ canh tác còn thấp Ngoại trừ số ít đồng bào Kinh chủ yếu sinh sống ở những

vùng thấp và bằng phẳng, bao gồm dân c từ các tỉnh đồng bằng đi xây dựngvùng kinh tế mới, công nhân trong các nông, lâm trờng và bộ đội giải ngũ cótrình độ tơng đối cao Họ có sự liên hệ khá chặt chẽ với quê cũ, vì vậy nhiềungời có điều kiện tiếp thu các tiến bộ sản xuất, đạt đợc năng suất lao động khácao Đây là những hạt nhân trong việc tiếp nhận và chuyển giao tiến bộ khoahọc - kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu của sản xuất hàng hóa và phát triển nôngnghiệp theo hớng CNH, HĐH; còn lại số đông đồng bào các dân tộc thiểu số

có trình độ canh tác lạc hậu, năng suất thấp ở vùng này còn tồn tại nhiềutrình độ khác nhau trong phát triển kinh tế; sự chênh lệch rất lớn về trình độcanh tác, trình độ vận dụng khoa học kỹ thuật, mức độ tiếp thu các dịch vụnhất là những dịch vụ liên quan đến phát triển kinh tế hàng hóa giữa ngờiKinh với các c dân tộc ngời thiểu số, giữa nội bộ các tộc ngời trong vùng Sựchênh lệch về trình độ phát triển kinh tế vừa là đặc điểm vừa là nguyên nhânchủ yếu hạn chế quá trình phát triển của các quan hệ tộc ngời ở các tỉnh miềnnúi phía Bắc nớc ta

Với phơng thức sản xuất lạc hậu, với phơng thức canh tác nơng rẫy là chủ yếu nên hiệu quả kinh tế không cao Mặt khác trong cơ cấu ngành kinh tế

thì nông nghiệp chiếm một tỷ trọng cao mà kỹ thuật mới ít đợc áp dụng nênnăng suất rất thấp Công cụ sản xuất thô sơ, chủ yếu làm bằng tay nên mất rấtnhiều thời gian và rất vất vả nhất là đối với phụ nữ

2.1.3 yếu tố văn hóa xã hội (những đặc điểm c dân tộc ngời, văn hóa

xã hội, phong tục, tập quán tiêu biểu tác động tới việc phát huy tiềm năng củaphụ nữ)

Trang 37

Theo số liệu điều tra từ các địa phơng, hiện nay ở các tỉnh miền núi phíaBắc có c dân của 34 tộc ngời, trong đó có 20 tộc ngời c dân các dân tộc sốngtheo cộng đồng, 14 tộc ngời là một số cá nhân không sống theo cộng đồng.

Đây là vùng đa tộc ngời với sự đa dạng về quan hệ tộc ngời trên các lĩnh vựcngôn ngữ, văn hóa, xã hội với sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển kinh tế -xã hội

Dân c ở các tỉnh miền núi phía Bắc phân bố không đều, phân tán, mật

độ dân c khoảng 90 ngời/km2, (một số tỉnh nh Lai Châu, Hà Giang có mật độdân số thấp: khoảng hơn 20 ngời/km2) ở các vùng sâu, vùng xa chỉ cha đến

10 ngời/km2 Trong những năm gần đây tốc độ tăng dân số ở các tỉnh tơng đốinhanh và chủ yếu sinh sống ở những vùng thấp ở những vùng thấp thuận lợicho sản xuất nông, lâm nghiệp, dân c đã đáp ứng đợc yêu cầu về số lợng, một sốvùng đã có d sức lao động Nhng ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn còn thiếusức lao động cho sản xuất và khai thác thế mạnh của vùng

Về quan hệ ngôn ngữ: Miền núi phía Bắc là vùng đa ngôn ngữ Trong 8

nhóm ngôn ngữ của 54 tộc ngời trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam đã có tới

7 nhóm ngôn ngữ ở đây Đó là: Ngôn ngữ Việt Mờng, Tày Thái, Môn Khơ me, Mông - Dao, Ka đai, Tạng - Miến, Hán Qua đó, thấy đợc nét đadạng, phong phú của ngôn ngữ và của văn hóa tộc ngời ở vùng núi phía Bắc

-Về quan hệ văn hóa: Các tỉnh miền núi phía Bắc cũng là vùng đa văn

hóa nổi bật trong các vùng của cả nớc Nơi đây là hội tụ của nhiều dòng vănhóa, nhiều bản sắc văn hóa tộc ngời Tiêu biểu nhất về bề dày lịch sử, tác động

đến văn hóa vùng là văn hóa của các tộc ngời Mờng, Thái, Mông và một sốtộc ngời mà họ chỉ c trú ở vùng Tây Bắc nh: Ngời Kháng, ngời La Hủ, Ngời

Lự, ngời Lào, ngời Si la, ngời Xinh mun

Hiện nay, ở miền núi phía Bắc còn lu giữ đợc rất nhiều giá trị văn hóa vậtthể và phi vật thể của nhiều dân tộc thiểu số Những giá trị văn hóa kết tinh trong

ăn, ở, trang phục, lễ hội, phong tục tập quán, tín ngỡng, tri thức dân gian của cáctộc ngời dân tộc thiểu số là vô cùng phong phú và đa dạng, độc đáo

Đáng chú ý nhất là tín ngỡng dân gian, lễ hội dân gian, các phong tụctập quán của các tộc ngời Thái, Mông, Lào, Lự, Kháng, La hủ, Si la, Xinhmun Nhiều phong tục tập quán đợc đúc kết thành luật tục: Luật tục Mông,Mờng, Thái, Dao v.v

Trang 38

Trong thời kỳ đổi mới, đợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nớc, đời sốngvăn hóa tinh thần của các tộc ngời ở miền núi phía Bắc đã đợc cải thiện, thiếtchế văn hóa cơ sở, phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng (đặc sắc nhất làvăn nghệ quần chúng của ngời Thái, ngời Mờng) đã đợc quan tâm phát triển,gây tác dụng, ảnh hởng lớn.

Tuy nhiên, do nhiều điều kiện khách quan, chủ quan, trong quan hệ vănhóa của các tộc ngời ở miền núi phía Bắc cũng đang tồn tại một số vấn đề cần

đợc sớm giải quyết nh một số giá trị văn hóa truyền thống bị mai một, hiện ợng mê tín dị đoan đang phát triển ở một số tộc ngời, việc truyền đạo, theo

t-đạo trái phép ở một số địa phơng, một số tộc ngời (việc phát triển t-đạo Vàngchứ, Tin lành ở ngời Mông, đạo Thìn hùng ở ngời Dao tác động không nhỏ tới

đời sống tinh thần của c dân các tộc ngời này)

Về quan hệ xã hội giữa các tộc ngời: Nh trên đã nêu, vùng núi phía Bắc

là nơi tụ c của nhiều c dân tộc ngời Nhiều quan hệ xã hội đa dạng và phức tạpcho đến nay vẫn còn tồn tại Đáng chú ý là trong nhiều tộc ngời còn lu giữnhững tàn d của thiết chế xã hội cũ (thiết chế bản - mờng) cùng với nhiềuphong tục, tập quán, hủ tục lạc hậu gây cản trở sự phát triển của phụ nữ Vìvậy mà ở một số tộc ngời ở khu vực này đang gặp khó khăn trên con đờngphát triển

Nhiều vấn đề xã hội, đặc biệt là công bằng xã hội, bình đẳng nam nữcần đợc quan tâm giải quyết ở đây

ở các tỉnh miền núi phía Bắc, t tởng trọng nam khinh nữ vẫn còn rất sâu

đậm trong hầu hết các tộc ngời Theo kết quả phỏng vấn sâu, hầu hết nhữngngời đợc hỏi (kể cả đội ngũ cán bộ lãnh đạo) đều cho rằng nấu cơm, chăm sóccon cái là việc của phụ nữ còn nam giới phải có thời gian để giao lu, để làmnhững công việc lớn Những gia đình mà nam giới có chia sẻ bớt gánh nặngcông việc gia đình với phụ nữ thì họ coi đó cũng chỉ là giúp hộ mà thôi [68,tr.59]

Hệ thống trờng học, nhà trẻ, mẫu giáo là một yếu tố làm giảm gánhnặng công việc cho phụ nữ Tuy nhiên, ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, việcthu hút các cháu đi học mẫu giáo là rất khó khăn bởi một số tộc ngời ở xatrung tâm xã, xa trờng mầm non Việc các cháu nhỏ không đi nhà trẻ, mẫugiáo không những làm cho ngời phụ nữ mất nhiều thời gian chăm sóc con cái

Trang 39

mà còn ảnh hởng lớn đến tơng lai của con cái vì trẻ em gái phải ở nhà trông

em nên không có thời gian học bài

Khái quát bức tranh toàn cảnh về c dân và quan hệ tộc ngời ở các tỉnhmiền núi phía Bắc nớc ta cho thấy tiềm năng đa dạng, phong phú cần khaithác, phát huy, nhất là tiềm năng kinh tế, văn hóa và nguồn lực con ngời củavùng Mặt khác, các quan hệ tộc ngời cũng cho ta thấy nhiều khó khăn phứctạp cần khắc phục trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội an ninhquốc phòng của các địa phơng tại vùng núi phía Bắc

Qua việc phân tích những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa ở cáctỉnh miền núi phía Bắc nớc ta, thấy rõ những điều kiện ấy ảnh hởng đến việcphát huy tiềm năng của ngời phụ nữ ở đây thông qua thực trạng những gánhnặng công việc họ phải gánh chịu là rất lớn Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnhrằng bên cạnh sự tác động của những điều kiện khách quan, thì yếu tố chủquan - bản thân ngời phụ nữ cũng rất lớn, và đó chính là yếu tố quyết định đếnviệc phát huy tiềm năng của họ

2.1.4 Bản thân ngời phụ nữ các dân tộc thiểu số

Nét nổi bật trong quan hệ dân c - tộc ngời ở các tỉnh miền núi phía Bắc

là truyền thống đoàn kết gắn bó, tơng thân, tơng ái giúp đỡ lẫn nhau giữa các

c dân các tộc ngời Đây là nguồn nội lực rất to lớn cần đợc khai thác, phát huycao nhất trong phát triển các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, anninh quốc phòng ở các địa bàn nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số

Có thể nói bản thân phụ nữ DTTS với những tiềm năng về mặt mạnhcủa mình Đó là: đức tính cần cù, chịu thơng chịu khó, khéo léo và sáng tạotrong công việc Điều đó đợc thể hiện qua các hoạt động của họ trong quátrình sản xuất và phát triển, cụ thể là trong mọi mặt của đời sống xã hội nhtrong kinh tế, văn hóa, xã hội Những số liệu chứng minh thành tựu lớntrong những năm qua trong công tác xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi,vùng dân tộc thiểu số, ngoài những tác động khách quan thì phải tính đến sự

đóng góp của phụ nữ

Mặt khác, những vấn đề bất cập của phụ nữ dân tộc thiểu số miền núiphía Bắc hiện nay cũng là những vấn đề lớn và đòi hỏi phải có biện pháp khắcphục Chính những mặt hạn chế nh trình độ học vấn, trình độ chuyên môn,nghề nghiệp, điều kiện sức khỏe và đặc biệt là tâm lý tự ti với những thói quentruyền thống, cộng với những phong tục tập quán lạc hậu, lối sống khép kín từbao đời nay, đã ngăn cản việc phát huy tiềm năng của họ

Trang 40

Trình độ học vấn là yếu tố có tác động lớn đến việc phát huy tiềm năngcủa phụ nữ Thực tế cho thấy rằng, trình độ học vấn của phụ nữ các dân tộcthiểu số ở miền núi phía Bắc nói chung là thấp, có sự khác nhau giữa nam vànữ, nam thờng có trình độ học vấn cao hơn và tỷ lệ mù chữ thấp hơn Đặc biệt ởnhững vùng cao, có nhiều chị em không biết đọc và ký tên mình Bên cạnh sựkhác biệt về giới, vị trí địa lý, thì hoàn cảnh kinh tế cũng tác động lớn đến trình

độ học vấn, ngời nghèo ít có cơ hội đến trờng nên trình độ học vấn thấp hơn

Qua số liệu điều tra ở dân dân tộc Dao ở Thái Nguyên, thì trình độ họcvấn của cộng đồng ngời Dao là rất thấp Học vấn trung bình của nữ trongnhóm hộ đói là lớp 2,3, hộ nghèo là lớp 2,7, hộ trung bình là lớp 3,3 Tỷ lệ này

ở nam giới tơng ứng là 2,9; 3,2 và 3,9 Không có một ngời nào trong nhóm hộnghèo đói học đến phổ thông trung học, còn nhóm hộ trung bình chỉ có 8,5 %nam và 4,9% nữ học đến cấp này [27, tr.65]

Tác động của trình độ học vấn đến việc phát huy tiềm năng của phụ nữ

là rất lớn Thứ nhất, là tác động tới việc học tập của trẻ em Theo kết quả khảo

sát cho thấy: nếu ngời phụ nữ mù chữ, hoặc có trình độ học vấn thấp thì ítquan tâm đến con cái và rất khó dạy con học, điều này thể hiện ở tỷ lệ con củacác bà mẹ mù chữ hoặc trình độ thấp đợc đến trờng thấp hơn so với các bà mẹ

có trình độ tiểu học là 20%, thấp hơn so với các bà mẹ có trình độ phổ thôngcơ sở là 35,6% Sự chênh lệch này đối với số con đi học đúng tuổi, không luban là 13,9% và 16,9% Các bà mẹ có trình độ tiểu học có tỷ lệ con đi họcmẫu giáo là 66,7%, cấp trung học cơ sở là 80% (các bà mẹ mù chữ thờng có

độ tuổi từ 40 trở lên nên ít có con trong độ tuổi mẫu giáo)[27, tr.65]

Số lợng con của các bà mẹ không đi học thì đi tiêm chủng thấp, chỉ có63,6%, tỷ lệ này ở con của các bà mẹ có trình độ tiểu học là 72,8%, trung họccơ sở là 97,1% Tuy không có số liệu cụ thể nhng theo nhận định của cán bộ y

tế thì chị em có trình độ học vấn cao thờng chủ động trong việc sinh con hoặc

áp dụng các biện pháp tránh thai

Thứ hai, là tác động đến chế độ dinh dỡng của trẻ em Học vấn của ngời

mẹ cải thiện chế độ dinh dỡng trực tiếp thông qua chất lợng chăm sóc con cái.Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, ở các nớc đang phát triển cho thấy cómối quan hệ ngợc chiều giữa số năm đi học bình quân của ngời mẹ với tỷ lệ tửvong của trẻ

Ngày đăng: 18/12/2014, 08:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
2. Trần Thị Vân Anh (1997), Kết hợp giới vào các bớc xây dựng chính sách, Sổ tay công tác nữ công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp giới vào các bớc xây dựng chính sách
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 1997
4. Báo cáo của tổ chức phi chính phủ về 10 năm thực hiện cơng lĩnh hành động Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của tổ chức phi chính phủ về 10 năm thực hiện cơng lĩnh hành
6. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trờng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trờng
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Đỗ Thị Bình (1997), Một số vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
8. Đỗ Thị Bình (1997), Thực trạng môi trờng Việt Nam hiện nay và sự tác động của nó đến đời sống sức khỏe của phụ nữ. Mời năm tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng môi trờng Việt Nam hiện nay và sự tác "động của nó đến đời sống sức khỏe của phụ nữ. Mêi n¨m tiÕn bé của phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1997
9. Đỗ Thị Bình (1998), "Phụ nữ và vấn đề tiếp cận vốn trong bối cảnh kinh tế nông thôn hiện nay”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và vấn đề tiếp cận vốn trong bối cảnh kinh tế nông thôn hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Năm: 1998
10. Đỗ Thúy Bình (1986), "Về cơ cấu gia đình các dân tộc ở miền Bắc", Tạp chí Dân tộc học, (3), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ cấu gia đình các dân tộc ở miền Bắc
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1986
11. Đỗ Thúy Bình (1991), "Gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay", Tạp chí Khoa học về phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1991
12. Đỗ Thúy Bình (1992), "Gia đình ngời H ’ mông trong bối cảnh kinh tế hiện nay", Tạp chí Dân tộc học, (2), tr. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình ngời H’mông trong bối cảnh kinh tế hiện nay
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1992
13. Đỗ Thúy Bình (1993), Gia đình - Những biến đổi kinh tế - văn hóa - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình - Những biến đổi kinh tế - văn hóa - xã "hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
14. Đỗ Thúy Bình (1993), "Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng đời sống phụ nữ các dân tộc ít ngời góp phần hoàn thiện chính sách xã hội", Tạp chí Dân tộc học, (2), tr. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng đời sống phụ nữ các dân tộc ít ngời góp phần hoàn thiện chính sách xã hội
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1993
15. Bộ Chính trị (1989), "Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ tr-ơng, chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi”, Báo Nhân d©n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ tr-ơng, chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1989
16. Bộ T pháp (1996), Pháp luật vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Bộ T pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Chơng trình phát triển Liên hợp quốc UNDP (1995), Việt Nam qua lăng kính giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam qua lăng kính giới
Tác giả: Chơng trình phát triển Liên hợp quốc UNDP
Năm: 1995
18. Công ớc Liên Hợp quốc (2004), Về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội (Tái bản lần 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
Tác giả: Công ớc Liên Hợp quốc
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2004
19. Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan "đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế xã hội miền núi phía Bắc , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế xã hội miền núi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
21. Phạm Văn Dũng (2004), Thực hiện bình đẳng trên lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện bình đẳng trên lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Năm: 2004
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Một số văn kiện chính sách về dân tộc miền núi, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện chính sách về dân tộc miền núi
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình lao động của phụ nữ với những hoạt động kinh - phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát
Bảng 2.1 Tình hình lao động của phụ nữ với những hoạt động kinh (Trang 54)
Bảng 2.3: Mức độ tham gia của vợ và chồng trong công việc nội trợ - phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát
Bảng 2.3 Mức độ tham gia của vợ và chồng trong công việc nội trợ (Trang 56)
Bảng 2.4: Ngời quyết định chính trong hoạt động sản xuất, kinh - phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát
Bảng 2.4 Ngời quyết định chính trong hoạt động sản xuất, kinh (Trang 58)
Bảng 2.6: Tỷ lệ đóng góp của các thành viên cho kinh tế gia đình [phụ lục 2] - phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát
Bảng 2.6 Tỷ lệ đóng góp của các thành viên cho kinh tế gia đình [phụ lục 2] (Trang 63)
Bảng 2.8: Sự phân bố lao động nữ trong các nhóm xã hội - nghề nghiệp - phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát
Bảng 2.8 Sự phân bố lao động nữ trong các nhóm xã hội - nghề nghiệp (Trang 66)
Bảng  2.7:  Tỷ trọng lao động nữ trong các nhóm xã hội - nghề - phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát
ng 2.7: Tỷ trọng lao động nữ trong các nhóm xã hội - nghề (Trang 66)
Bảng 2.9: Phụ nữ tham gia công tác quản lý xã hội ở nông thôn [phụ lục 2] - phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát
Bảng 2.9 Phụ nữ tham gia công tác quản lý xã hội ở nông thôn [phụ lục 2] (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w