1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay

55 807 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 294,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả những vấn đề trên đã gợi nên trong tôi ý tưởng nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã Thái Ninh huyện Thanh Ba,tỉnh Phú Thọ hiện nay” 2.. Tuy nhiên tro

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới đã

có bước chuyển biến mạnh mẽ, đời sống của người dân hầu khắp các quốc gia

đã được nâng lên rõ rệt Nhưng bên cạnh đó đói nghèo vẫn là vấn đề xã hộibức xúc của các quốc gia trên thế giới Số liệu điều tra cho thấy mỗi ngày trênthế giới có đến 35000 trẻ em phải chết vì những căn bệnh có thể chữa khỏibằng các phương pháp dinh dưỡng và sự chăm sóc y tế sơ đẳng nhất Cácquốc gia phát triển, giàu có cũng không tránh khỏi điều đó Liên minh châu âu(EU) có 12% số hộ sống dưới mức nghèo Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nhữngnăm 80 của thế kỷ 20 đã có thêm 4 triệu trẻ em rơi vào cảnh bần hàn Nhưngnạn nghèo đói đặc biệt nghiêm trọng ở các quốc gia đang phát triển Việt Namcũng nằm trong bối cảnh như vậy Trên thực tế, từ sau đại hội đại biểu lần thứ

VI (T12/1986) toàn Đảng, toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới và đã đạtđược thành tựu đáng kể Cũng chính sự thay đổi đó đã khiến nhiều người ViệtNam có thể cải thiện được cuộc sống của mình hay bắt đầu sự cải thiện đó.Các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế, xã hội cũng như các công tyngày càng kiểm soát được nguồn lực phát triển Song song với điều đó là sự

có mặt ngày càng tăng của các loại hàng hóa dịch vụ Tuy vậy ở nước ta vẫntồn tại những yếu kém nhất định về kinh tế xã hội: một số nhóm lại không ở vịthế tốt để có thể tận dụng được các thị trường và kiểm soát nguồn lực Sự thayđổi của nền kinh tế đã gây nên sự chênh lệch ngày càng lớn giữa các giai tầng

xã hội Vì vậy trong xã hội xuất hiện sự chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm

Trang 2

nghèo Nhóm giàu tập chung chủ yếu ở đô thị Nhóm nghèo tập chung chủ yếu

ở nông thôn, trung du, miền núi Hiện nay ở Việt Nam mức nghèo vẫn chiếm

tỷ lệ cao Theo báo cáo về tình hình phát triển quốc tế của ngân hàng thế giới(WB), Việt Nam vẫn đứng thứ 19 kể từ nước nghèo nhất (1999) Qua nguồn

số liệu điều tra mức sống dân cư ở Việt Nam các năm 1993 và 1998, WB đãxác định ngưỡng nghèo chung theo mức chi tiêu tối thiểu 96.700đ (1993) và149.156đ (1998) 1người/tháng Theo cách tính này thì Việt Nam năm 1993có58,1% và 1998 vẫn còn 37,4% dân cư nghèo đói Tỷ lệ này cao hơn nhiều

so với một số nước lân cận như Trung Quốc (10%), Inđônêxia (15%), Philipin(21%), Thái lan (16%) Ở Việt Nam, trong những năm gần đây Việt Nam đãđạt được nhiều thành tựu trong việc xóa đói giảm nghèo Trong 10 năm qua,hầu như 1/3 tổng dân số đã thoát khỏi cảnh nghèo đói Vậy thì để tiến tới xóa

bỏ dần vấn đề này phải cần nhìn nhận thực trạng của nó đúng về bản chất vàxem xét nó trong bối cảnh mới Như Vivien Wee- Giám đốc chương trìnhEngender và Neoleen Heyer Giám đốc Quỹ phát triển phụ nữ của Liên HiệpQuốc đã viết: “Chúng ta không thể giải quyết nạn nghèo đói mà không hiểucác quá trình đã làm cho người nghèo thành nghèo và người giàu thành giàu”.Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi, ở đây không có điều kiện phát triển dudịch, thông thương buôn bán Do điều kiện địa hình điều kiện kinh tế chưađược phát triển Diện tích đất trống đồi núi trọc nhiều, diện tích đất quảngcanh không cao Người dân sống bằng nông nghiệp chủ yếu với phương thức

tự cung tự cấp Do vậy ở tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao Nhiều vùng xa xôi hẻolánh, sống xa rời đô thị, có nhiều xã sống trong cảnh nghèo Thái Ninh là một

xã như vậy Mặc dù trong những năm gần đây, chính quyền xã đã có nhiều

Trang 3

biện pháp và phương thức trong việc xóa đói giảm nghèo nhưng tình trạngnghèo vẫn là vấn đề bức xúc

Tất cả những vấn đề trên đã gợi nên trong tôi ý tưởng nghiên cứu đề tài:

“Tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã Thái Ninh huyện Thanh Ba,tỉnh Phú Thọ hiện nay”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1.Ý nghĩa khoa học:

Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ hệ thống lý thuyết của xã hội học đạicương như bất bình đẳng xã hội, cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội, biến đổi xãhội và các chuyên ngành xã hội học: Xã hội học kinh tế như lý thuyết tăngtrưởng kinh tế, lý thuyết về phân hóa giàu nghèo

2.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp ta hiểu rõ thực trạng nghèo của một

xã trung du miền núi Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng nghèochung của cả nước Đề tài cũng góp phần nhỏ bé trong việc giúp nhà nước đưa

ra những chính sách đưa đến những người dân ở vùng trung du miền núi Từ

đó chính quyền địa phương thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của tốthơn Đề tài cũng giúp người dân hiểu rõ hơn về thực trạng của mình để họ cóthể phát triển kinh tế gia đình, thoát khỏi cảnh nghèo

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói nghèo của xã Thái Ninh huyện thanh batỉnh Phú Thọ

Trang 4

- Phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình nghèo đói của xãThái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ

Xu hướng đề xuất và đề xuất những khuyến nghị mang tính khả thi

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng nghèo đói của người dân xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnhPhú Thọ

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Hộ gia đình xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

Xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi

Tổng số bảng hỏi được phát ra là 100 bản và thu về đủ 100 bản Bảng hỏi

đề cập đến vấn đề thu nhập, chi tiêu của các hộ gia đình, các ngành nghề, trình

độ học vấn và các điều kiện sinh hoạt, các phương tiện sinh hoạt trong các hộgia đình Ngoài ra bảng hỏi còn đề cập đến nguyên nhân của thực trạng nghèođói, đánh giá của người dân về mức sống và kinh tế của mỗi hộ gia đình Quátrình điều tra bằng bảng hỏi được tiến hành như sau: Trước tiên việc chọn mẫucăn cứ vào cơ cấu nghề nghiệp chính trên địa bàn, người trả lời chủ yếu lànhững đối tượng có khả năng đánh giá về dời sống vật chất cũng như tinh thầncủa gia đình Trong quá trình phỏng vấn hầu hết các câu hỏi và câu trả lời

Trang 5

được đưa ra một cách khách quan rõ ràng, sau đó ghi chép chính xác phương

án lựa chọn của người trả lời Vì vậy, phần lớn kết quả thu được từ bảng hỏi

là ý kiến đánh giá thực tế của người dân địa phương Tuy nhiên trong quátrình nghiên cứu tại địa bàn, bên cạnh sự giúp đỡ của bà con nhân dân vàchính quyền địa phương thì tôi vẫn gặp một số khó khăn sau: Một số ngườidân ngại trả lời các câu hỏi vì họ sợ liên lụy, ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân.Đồng thời về một số mặt thì do tâm lý người dân ngại nêu điều kiện khó khăn,

họ lại trả lời khiêm tốn ở một số câu hỏi về đời sống, mức thu nhập Và mộtkhó khăn khác là có một số câu hỏi không phù hợp với thực tế tại địa bàn.Quathực tế điều tra và xử lý số liệu tôi thu được cơ cấu mẫu sau:

Trang 6

dắt nhằm thu thập được thông tin mong muốn nhằm để hiểu sâu, hiểu kỹ hơnvấn đề nghiên cứu Từ đề tài này có thể tìm hiểu nguyên nhân thực trạngnghèo của người dân địa phương

5.2 Phương pháp phân tích bảng hỏi:

Dựa trên số liệu đã xử lý, tiến hành phân tích số liệu để từ đó thấy được

số liệu định lượng cho đề tài nghiên cứu Đồng thời đọc qua sách báo, internetnhằm làm phong phú vấn đề nghiên cứu

5.3 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là tất cả cách thức, quy tắc để tiếp cận và thu nhậnđược các thông tin thực nghiệm từ thực tế xã hội Trong đề tài là quan sát hìnhthức nhà ở, các phương tiện, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình có trong giađình được phỏng vấn, quan sát toàn xã nghiên cứu

6 Giả thuyết

- Mức thu nhập, chi tiêu của các gia đình còn ít

- Gia đình nghèo đói thường đông con

- Đói nghèo ở xã Thái Ninh có xu hướng giảm dần

7 Khung lý thuyết

Trang 7

Đặc điểm Kinh tế - Xã hội

Nhà nước

Nhận thức và hành động của người dân xã Thái Ninh trong sản xuất

Mức sống của người dân xã

Thái Ninh

Hệ thống dịch

vụ xã hội

Trang 8

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủnghĩa Mác -Lê nin mà cốt lõi là học thuyết về sự phát triển xã hội, là lý luậnchung nhất để nhận thức thế giới khách quan dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch

sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng

Với đề tài này người viết lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương phápluận nhận thức vấn đề nghiên cứu Như vậy theo phương pháp này khi tiếpcận đề tài nghiên cứu cần tuân thủ những yêu cầu sau:

+ Nhận thức không chỉ bên ngoài sự vật hiện tượng mà phải nhận thứcđược bản chất bên trong cũng như vận động và kết quả của nó

+ Khi xem xét các hiện tượng cần đặt chúng trong mối liên hệ biện chứngvới nhau Bởi vì mọi sự vật hiện tượng nảy sinh không do một nguyên nhânxảy ra

+ Cần phải nhìn nhận xem xét đối tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch

sử riêng biệt của nó chứ không nhìn nhận một cách siêu hình

Các lý luận và phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu các sự kiện, cácquá trình xã hội phải đặt trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sự cụ thể hay các sựkiện, hiện tượng, quá trình đó phải đặt trong một phạm vi không gian nhấtđịnh, khoảng thời gian cụ thể và trong một mạng lưới các quan hệ xã hội xác

Trang 9

định Lý luận và phương pháp luận Mác xít ngoài yêu cầu nghiên cứu các sựvật hiện tượng trong mối liên hệ biện chứng, còn đòi hỏi xem xét chúng trong

sự vận động biến đổi Có nghĩa là chúng ta phải nghiên cứu vấn đề từ trongmối liên hệ qua lại đến những biểu hiện đang diễn ra và xu thế vận động biếnđổi của chúng trong tương lai

Áp dụng vào đề tài ta thấy để hiểu rõ được thực trạng nghèo đói thìkhông thể xem xét bên ngoài thực trạng mà phải xem xét được bản chất bêntrong của hành động đó, tức là tìm hiểu nguyên nhân Đó là quy luật của cuộcsống Và khi xem xét thực trạng đó ta phải đặt chúng trong mối liên hệ biệnchứng bởi vì tìm hiểu một vấn đề nhất là thực trạng nghèo đói không chỉ domột nguyên nhân Xem xét vấn đề nghèo đói trong quá trình thay đổi của thời

kỳ mới và trong xu thế vận động biến đổi của nó ở tương lai Và phải đặtchúng trong bối cảnh lịch sử riêng biệt của Phú Thọ

Nhìn nhận quan điểm lịch sử khi tìm hiểu vấn đề nghèo đói ở nông thôn

xã Thái Ninh ta sẽ có được các chỉ báo kinh tế xã hội, phong tục tập quán vàđặc trưng văn hóa rất cụ thể của nó Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, toàn cầu hóa thì thực trạng nghèo được đặt

ra là hết sức bức thiết không chỉ một quốc gia nào Nhất là Việt Nam- Nước

có nền kinh tế kém phát triển Thực trạng nghèo cần được quan tâm hơn nữa

1.1.2 Lý thuyết áp dụng

Xuất phát từ lý luận chung đó, người viết sử dụng một số lý thuyết xã

hội học để tiếp cận vấn đề nghiên cứu: Tăng trưởng kinh tế, lý thuyết cơ cấu

xã hội, bất bình đẳng xã hội, phân tầng xã hội

Trang 10

Lý thuyết kinh tế của Marx: Lý thuyết kinh tế của Marx không tách biệt

ra khỏi xã hội Trong lý luận của mình, Marx coi kinh tế là nền tảng, là huyếtmạch chi phối và làm biến đổi toàn bộ toàn bộ xã hội Marx chỉ ra vai tròquyết định của yếu tố vật chất, của lực lượng sản xuất và phương thức sảnxuất đối với hành động và ý thức của cá nhân, nhóm xã hộ Điều này đượcphản ánh rõ trong luận điểm của Marx: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

Khái niệm phân tầng được xã hội học sử dụng thuật ngữ này để nói tớitrạng thái phân chia xã hội ra thành các tầng lớp Tuy nhiên xét vào bản chấtthì khái niệm này nhấn mạnh yếu tố “tĩnh” trong khi xã hội luôn luôn biến đổi.Hơn nữa, trong xã hội không có sự phân biệt rạch ròi giữa các tầng lớp màthường xuyên có sự chuyển hóa lẫn nhau do tính cơ động tạo nên Mặc dùvậy, thuật ngữ phân tầng cũng mô tả được trạng thái nhiều tầng lớp của xã hộitrong điều kiện thời gian và không gian nhất định Đề tài nghiên cứu thựctrạng nghèo cũng thể hiện rõ sự phân tầng Trong xã hội, có thể tạm chia tầnglớp giàu và tầng lớp nghèo Tuy nhiên khi xem xét tầng lớp nghèo thì khôngthể xét chúng trong trật tự “tĩnh”, tức là không có sự biến đổi Khi xã hội pháttriển đến một mức độ nào đó, tầng lớp nghèo có thể sẽ thay đổi Họ sẽ khôngcòn ở vị trí nghèo nữa mà có thể di chuyển đến tầng lớp giàu Đó là sự thayđổi về thời gian Sự biến đổi giàu nghèo cũng thể hiện ngay trong chính khônggian vùng địa lý nào đó, vùng này với vùng khác Hay sự biến đổi đó diễn rangay trong lòng vùng nghèo Có thể nói phân tầng xã hội dựa vào sự biến đổi,

sự vận động của xã hội

Trang 11

- Nhìn chung nói đến phân tầng xã hội, một số tác giả đề cập đến bất bìnhđẳng xã hội Bất bình đẳng là sự không bình đẳng (không bằng nhau) về cơhội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau nằm trong một nhóm hoặcnhiều nhóm xã hội Phân hóa giàu nghèo gắn liền với sự phân hóa xã hội,phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội Tất cả các hiện tượng này với cácnguyên nhân, hình thức biểu hiện, hậu quả và xu hướng biến đổi của chúngđều là những chủ đề trọng tâm của nghiên cứu xã hội nói chung và xã hội họckinh tế nói riêng Học thuyết Marx nhấn mạnh các nguyên nhân kinh tế của sựphân chia giai cấp và sự phân tầng xã hội Lý thuyết của Weber vạch ra cácnhân tố kinh tế, phi kinh tế và tình huống thị trường của sự phân tầng xã hội.Thuyết chức năng của Davis và Moore và thuyết hệ thống xã hội của Parsonsnhấn mạnh các yếu tố chức năng của sự phân tầng xã hội và bất bình đẳng xãhội Thuyết mâu thuẫn của Dahrendorf và Collins tập trung làm rõ vai trò củamầu thuẫn quyền lực đối với bất bình đẳng xã hội.

Bất bình đẳng xã hội là sự phân hóa xã hội đến mức làm tăng lợi ích củatầng lớp xã hội này với cái giá của sự phương hại lợi ích của nhóm xã hộikhác trong cấu trúc phân tầng xã hội nhất định Sự phân hóa xã hội luôn dẫnđến sự khác nhau thậm chí sự phân tầng xã hội nhưng không phải là phân tầng

xã hội nào cũng là bất bình đẳng xã hội Ví dụ sự khác nhau về năng lực vàtrình độ học vấn và tay nghề có thể dẫn đến sự khác nhau về thu nhập giữa cácnhóm người Nhưng ở đây chưa chắc đã là sự bất bình đẳng xã hội bởi vấn đềcòn nằm ở chỗ xã hội học tập và cơ hội việc làm cũng như nhiều yếu tố khác.Bất bình đẳng xã hội diễn ra trên cấp độ cá nhân, hộ gia đình, nhóm xãhội, trong phạm vi một cộng đồng, một vùng, một quốc gia Đồng thời giữacác quốc gia, giữa các khu vực trên thế giới cũng xảy ra sự phân tầng xã hội,

Trang 12

trong đó một số nước lâm vào cảnh đói nghèo, lạc hậu và một số nước trở nênphồn vinh.

Nhìn chung quan điểm của các nhà khoa học quanh vấn đề kinh tế, bấtbình đẳng và phân tầng xã hội là khác nhau, thậm chí độc lập nhau Chẳng hạnnhư Kuznets với giả thuyết cho rằng: Trong lịch sử phát triển nhiều nước, sựbất bình đẳng thường tăng dần ở giai đoạn đầu, đến giai đoạn phát triển kinh

tế phát triển đạt trình độ nhất định thì sự bất bình đẳng sẽ giảm đi Nhữngphân tích gần đây của Adelman và Moris (1987) ở một số nước đang pháttriển lại cho thấy giả thuyết trên không hoàn toàn đúng Các ông cho rằng pháttriển kinh tế và công bằng xã hội là 2 mục tiêu không hoàn toàn mâu thuẫn và

có thể giải quyết được bình đẳng xã hội ngay trong giai đoạn đầu của sự pháttriển

- Cách tiếp cận chu trình cuộc sống: Theo quan niệm này, hành vi cánhân bị tác động bởi nhiều yếu tố mà cá nhân đó sống trong xã hội Khi xã hộibiến đổi thì nhu cầu của mỗi người sẽ biến đổi theo từng thời điểm lịch sử cụthể Theo cách tiếp cận này thì thực trạng nghèo ở mỗi vùng, mỗi nơi sẽ khônggiống nhau Khi kinh tế của tỉnh nói chung và xã nói riêng thay đổi sẽ làm chothực trạng nghèo thay đổi: Số lượng nghèo sẽ ít đi, đời sống của đại bộ phậndân cư xã Thái Ninh sẽ khá lên

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Vấn đề nghèo đói trước khi đổi mới không được quan tâm nhiều Theo cơchế tập chung bao cấp, mọi người cùng làm cùng hưởng theo cách “ Bìnhquân chủ nghĩa” hầu như các hộ gia đình có điều kiện kinh tế đều như nhauhay nói cách khác là “ Chia đều sự nghèo đói”.Từ ngày đổi mới, kinh tế đất

Trang 13

nước phát triển nhưng kéo theo đó là hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh, trong

đó sự phân hóa giàu nghèo Trên thực tế, chỉ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20vấn đề nghèo đói mới được nghiên cứu 1 cách khoa học Hiện nay vấn đề xóađói giảm nghèo ở Việt Nam đang được quan tâm chú ý

Chúng ta có thể kể ra rất nhiều chương trình tiêu biểu được thực hiện bởicác nhà khoa học thuộc các cơ quan, đơn vị có uy tín như: Trung tâm khoahọc xã hội và nhân văn quốc gia, Bộ lao động, thương binh xã hội, tổng cụcthống kê… Đó là “khảo sát Xã Hội Học về phân tầng xã hội” đề tài KX 04-02

do PGS Tương lai làm chủ nhiệm; “ Về phân tầng xã hội ở nước ta giai đoạnhiện nay” đề tài KX 07-05 do PGS PTS Đỗ Nguyên Phương làm chủ nhiệm;

“Khảo sát XHH về nhà ở của người nghèo ở Hà Nội” Viện Xã Hội Học, tháng

12 -1994; “Chương trình xóa đói giảm nghèo ở Hà Nội” Viện Xã Hội Học,tháng 12 -1994; “ Chương trình xóa đói giảm nghèo” của Bộ lao động thươngbinh xã hội (1992); Điều tra tình trạng nghèo ở Việt Nam, tổng cục thống kê,1993; Ngân hàng thế giới (WB) 1998, “Việt Nam: Proverty Assessment” anStategye”; Save the children UK ( 1999); Chương trình phát triển nông thônmiền núi Lào Cai (MRDP): “ Báo cáo đánh giá về nghèo khổ với sự tham giacủa cộng đồng ( 1999); Nhóm nghiên cứu Trịnh Duy Luân, Vũ Tuấn Anh,Nguyễn Xuân Mai: “ Nghèo khổ và các vấn đề xã hội ở Hải Phòng”

Những công trình tiêu biểu kể trên đã đặt nền móng , là cơ sở cho cácnghiên cứu tiếp theo Trên tinh thần đó đề tài này chỉ là một nghiên cứu bổxung với hy vọng góp phần bé nhỏ làm cho việc nghiên cứu vấn đề nghèo đóiđược nhìn nhận hoàn chỉnh hơn, mới mẻ hơn

Trang 14

1.3 Một số khái niệm liên quan

1.3.1 Nghèo đói

Một số học giả người nước ngoài cho rằng: nghèo đói là tình cảnh màtrong đó sự tăng lên chậm chạp của thu nhập đẩy các cá nhân hoặc gia đình tớichỗ tồi tệ hơn bao giờ hết, như là hậu quả của sự mất những quyền lợi và lợiích khác nhau Chẳng hạn những người có thu nhập thấp ở Anh, họ không chỉđược chọn cho trợ cấp an toàn xã hội mà còn được giảm tiền đóng thuế thunhập và bảo hiểm quốc gia Thu nhập tăng lên không đáng kể có thể dẫn đếnmất an toàn xã hội và đặt họ vào chỗ phải trả tiền thuế thu nhập và bảo hiểmquốc gia cao Sự tăng lên chậm chạp của thu nhập có thể xem là ít hơn khoảnphụ trội mà họ phải trả cho thuế thu nhập, bảo hiểm xã hội và sự mất an toàn

xã hội của họ

Sự tồn tại nghèo đói dường như là không thể tránh khỏi ở những nơi mà

có một hệ thống phương tiện kiểm soát các lợi ích cộng đồng xã hội

Tương tự như vậy, đối với các bà mẹ cô đơn có thể coi là nghèo đói khi

họ phải làm việc liều lĩnh để có thêm thu nhập chỉ vì một lý do chính đáng làchi trả cho chăm sóc con cái bằng cách kiếm thêm việc ngoài giờ hoặc từ bỏmọi việc làm Bà ta có thể chăm sóc con cái nhưng chắc chắn sẽ mất đi nhữnglợi ích nghề nghiệp, gồm cả lương hưu (trợ cấp) cũng như tiền đồ sự nghiệp Hội nghị quốc tế về xóa đói giảm nghèo tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan),tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa “Nghèo” như sau: nghèo là tình trạng củamột bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bảncủa con người, mà nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ pháttriển kinh tế xã hội và phong tục tập quán địa phương

Trang 15

Từ đó ta có định nghĩa về nghèo đói:

* Nghèo đói là khái niệm chỉ nấc thang đầu tiên (dưới cùng) trong hệthống thang bậc của mức sống Những người có mức sống nằm trong giới hạncủa nấc thang này được coi là nghèo đói

* Hiện nay những người dễ phải nghèo đói là người già, người ốm, ngườitàn tật, gia đình lớn, gia đình một cha một mẹ, người thất nghiệp và lươngthấp với nghề không đảm bảo

1.3.2 Nghèo tương đối, nghèo tuyệt đối

* Nghèo tương đối:

Giáo sư Tương Lai: “ Nói chung những người được coi là nghèo tươngđối là những người trong số 40% dân số xã hội có mức thu nhập thấp nhất”Ngân hàng Châu Á lại cho rằng: nghèo tương đối là tình trạng dân cư cómức sống dưới trung bình của một cộng đồng trên một địa bàn và trong thờiđiểm đang xem xét

Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị nghèo khókhi mà thu nhập của họ ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại rơi xuống rõrệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa

số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”

Đề tài về cơ bản thống nhất với cách xác định của Giáo sư Tương Lai.Nghèo tương đối là nhóm người trong con số những chục, phần trăm dân số

xã hội có mức thu nhập thấp nhất Tuy nhiên, không nên quy định một con sốchính xác là phải “40%” mà tùy thuộc vào mục đích và hoạt động thực tiễn, ta

Trang 16

có thể nâng những chục đó lên hoặc đẩy xuống miễn sao đạt hiệu quả cao nhấtcho việc giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra.

* Nghèo tuyệt đối: Theo ngân hàng Châu Á thì nghèo tuyệt đối là tìnhtrạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu nhằmduy trì cuộc sống Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức tối thiểu nhu cầuthiết yếu về ăn, mặc ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, y tế, giáodục, đi lại và giao tiếp

1.3.3 Hộ, gia đình , hộ gia đình

* Hộ theo Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc(UNESCO): “Là những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung

và có chung một ngân quỹ”

Hội thảo quốc tế về quản lý nông thôn tại Hà Lan (1980) đã đưa ra địnhnghĩa Hộ như sau: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất,tái sản xuất đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”

Ông Mc Gee - giám đốc viện nghiên cứu châu Á thuộc đại học tổng hợpBritiah Columbia lại xác định: “Ở các nước châu Á hầu hết người ta quanniệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết thống hay không cùng chunghuyết tộc, ở chung trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chungmột ngân quỹ”

* Khái niệm gia đình, đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng giađình là một nhóm người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hônnhân, quan hệ huyết thống hoặc nhận con nuôi, vừa nhằm đáp ứng những nhucầu riêng tư của họ, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất dân cư theo

cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần

Trang 17

* Khái niệm hộ gia đình, theo giáo sư Phan Đại Doãn: “Hộ gia đình làkhái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làmnền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có tính chất hành chính

và địa lý”

Như vậy, khái niệm hộ, gia đình và hộ gia đình đã được giới khoa họcđưa ra các định nghĩa để xác định nội hàm và ngoại diên của chúng Nhìnchung, khái niệm hộ được hiểu nghiêng về phía kinh tế học, trong khi kháiniệm gia đình lại nghiêng về xã hội học Trong đề tài sử dụng khái niệm hộgia đình vừa như là đơn vị kinh tế tự chủ, vừa là đơn vị với những điểm riêngcủa nó Điều này được xác định bởi tính chất liên ngành của xã hội học vàkinh tế học Nói cách khác có thể gọi đề tài này là xã hội học về kinh tế

* Khái niệm nghèo khổ là khái niệm dùng để chỉ trạng thái thiếu mộtcách tuyệt đối và các phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu của các

1.3.4 Các chỉ tiêu xác định tiêu chuẩn nghèo đói

- Nghiên cứu về nghèo, xóa đói giảm nghèo như chúng ta đã trình bàyđang là một trào lưu lớn Tuy nhiên lại khó sử dụng kết quả để so sánh cũngnhư theo dõi những biến động về tỉ lệ và khoảng cách các nhóm mức sống Cómột số lý do nhưng trước hết cần phải nói là sự không thống nhất về chỉ tiêu

Trang 18

(tiêu chuẩn) xác định giàu nghèo Các cuộc khảo sát về giàu nghèo ở ViệtNam thường sử dụng những chỉ tiêu sau:

* Tiêu chuẩn nghèo đói tính bằng tiền gạo: Nguyễn Văn Tiêm (chủ biên)1993; Tổng cục thống kê, 1993; Viện xã hội học, 1992-1994

* Tiêu chuẩn tương đối 20% thu nhập hoặc chỉ tiêu được áp dụng rộng rãi, ủy ban kế hoạch nhà nước và tổng cục thống kê, 1999-2000

* Tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp mức sống: Trịnh duy Luận, 1992;Đỗthiên kính (chủ biên 1994)

- Bộ lao động thương binh và xã hội ( Molis đã 4 lần điều chỉnh tiêuchuẩn nghèo đói, 2 lần gần đây nhất

* Năm 1997 theo Molis, hộ đói là hộ có thu nhập bình quân dưới 13 kggạo /người/ tháng tương đương với 45 ngàn VNĐ Còn nghèo lại chia cácvùng với các tiêu chuẩn khác nhau Nông thôn, hải đảo, miền núi: Dưới 15kggạo/ người/ tháng( 55ngàn VNĐ); Nông thôn đồng bằng trung du: Dưới 20 kggạo/ người / tháng( 70 ngàn VNĐ) ; Thành thị: <25 kg gạo/ người/ tháng( 90ngàn VNĐ)

* Giai đoạn 2001-2005 Molis cho rằng Việt Nam không còn hộ đói, dovậy đưa ra chỉ tiêu cho hộ nghèo theo 3 vùng này: Nông thôn, miền núi, hảiđảo: 80 ngàn VNĐ/ người/ tháng; Nông thôn đồng bằng: < 100 ngàn VNĐ/người/ tháng; Thành thị: 150 ngàn VNĐ/ người/ tháng

Ngân hàng thế giới và tổng cục thống kê đã xây dựng ngưỡng nghèo chocác nước đang phát triển Giới hạn 2100 kcalorie/ người/ ngày được chọn làmngưỡng nghèo lương thực thực phẩm, khi đó nghèo chung( nghèo đói) sẽ bằng

Trang 19

ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm cộng ngưỡng nghèo phi lương thực thựcphẩm Đối với các nước đang phát triển thì ngưỡng này là 1 USD/ người/ngày.

Trong nghiên cứu của mình, chúng ta sử dụng kết hợp giữa đánh giá tổnghợp mức sống và tiêu chuẩn giàu nghèo tuyệt đối tính bằng tiền Cụ thể chúngtôi sẽ sử dụng tiêu chuẩn giàu nghèo tuyệt đối tính bằng tiền (theo thu nhập)

để xác định tỷ lệ các nhóm mức sống Nhưng để đưa ra nhận xét, kết luận chothực trạng nghèo đói, chúng tôi dựa vào tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp mứcsống

Về tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối trong nghiên cứu này, chúng tôi không sửdụng giới hạn nghèo đói của ngân hàng thế giới và tổng cục thống kê vì nóđưa ra kết luận quá chung chung, không thấy rằng các nhóm nghèo ở ViệtNam đang trong quá trình biến chuyển và phân hóa Đề tài cũng không sửdụng chỉ tiêu của Molis vì nó tỏ ra quá thấp không phù hợp với giá cả hiệnhành và nó cho ta đánh giá khá lạc quan về tình hình nghèo đói, làm giảm ýchí chiến đấu với thảm họa toàn cầu này

Trên cơ sở kết hợp và phân tích đó, chúng ta sử dụng một số chỉ tiêu(ngưỡng) nghèo hợp lý hơn cho nghiên cứu của mình Giới hạn nghèo đói lànhóm có thu nhập dưới 200 ngàn VNĐ/ người/ tháng Tính theo cách tính mớinăm 2004

Trang 20

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi nằm ở đỉnh tam giác châu thổ sôngHồng, cách thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh - Những trung tâm côngnghiệp, thương mại hàng đầu của cả nước khoảng 100km nằm trong hành langkinh tế Côn Minh - Hải Phòng Đồng thời Phú Thọ có vị trí tiếp giáp với cáctỉnh miền núi nhiều tiềm năng phát triển kinh tế như Tuyên Quang, Hà Giang,Lào Cai, Yên Bái, lại có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủyrất thuận lợi nối với các vùng này nên Phú Thọ có nhiều cơ hội để phát triểnkinh tế và giao lưu văn hóa

Phú Thọ sau gần 20 năm đổi mới và hơn 7 năm tái lập vẫn là một tỉnhcòn nhiều khó khăn nhưng một diện mạo mới thì đã được định hình với 2 tiểuvùng kinh tế rõ rệt: Tiểu vùng thuộc các huyện Thanh Sơn, Yên lập và phíatây huyện Cẩm Khê là vùng có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển Tuy nhiên , ởvùng này có tiềm năng về lâm nghiệp và khoáng sản Còn tiểu vùng đồi gò,bát úp xen kẽ đồng ruộng, dải đồng bằng ven các triền sông Hồng, hữu ngạnsông Lô, tả ngạn sông đà và đồng bằng tương đối tập chung ở huyện LâmThao là vùng được khai thác từ lâu đời, có khả năng phát triển thành nguồnnguyên liệu giấy, cây công nghiệp và chăn nuôi

Mặc dù mới tái lập, song kinh tế Phú Thọ thời gian qua đã có mức tăngtrưởng khá Thu nhập quốc nội tăng bình quân giai đoạn 2000-2004 đạt 9,5%.Giá trị nông nghiệp có nhịp độ tăng trưởng khoảng 4,2%/ năm An ninh lươngthực được đảm bảo Diện tích cây ăn quả, trồng rừng, chăn nuôi gia súc, giacầm đều có bước phát triển Các ngành dịch vụ luôn vượt kế hoạch đề ra so

Trang 21

với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn khoảng 12,5% Hoạt động thươngmại, tài chính, ngân hàng và các ngành dịch vụ khác đều đảm bảo và có bướcnhảy vọt nhanh chóng Cơ cấu kinh tế của Phú Thọ đang chuyển dịch đúnghướng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển Sản xuất công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn để đạt tốc độ tăng trưởng bìnhquân giai đoạn 2000-2004 là 20%/ năm Các thành phần kinh tế được khuyếnkhích, tạo điều kiện để sản xuất kinh doanh Đặc biệt sau hơn 7 năm tái lập,Phú Thọ đã thu hút được hàng trăm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàivào hoạt động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ cũng chủ trương đẩy mạnh hợp tácvới các nước trong khu vực và châu Á, ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư

và tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư

Nếu như năm 1997 - năm đầu chia tách tỉnh, tỷ lệ hộ đói nghèo toàn tỉnhchiếm 17,4% thì đến năm 2004 chỉ còn 7,2% Đời sống vật chất, tinh thần củađại bộ phận dân cư được cải thiện đáng kể Các chương trình văn hóa - xã hộinhư giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, dân số - kế hoạch hóa giađình được tích cực triển khai Tỉnh đã đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng khu vực

đô thị, nâng cấp một số tuyến đường giao thông, hệ thống điện và cấp thoátnước, mạng lưới thông tin liên lạc được đầu tư hiện đại, đáp ứng nhu cầu củanhân dân

Tuy nhiên, cho đến này Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo Cơ sở vật chất

-kỹ thuật còn khó khăn, trình độ -kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu, khả năng cạnhtranh trên thị trường còn hạn chế Mặt khác Phú Thọ có điểm xuất phát thấp,các tiềm năng chưa phát huy hết, Như vậy năm 2005 và những năm tiếp theoĐảng bộ , chính quyền nhân dân Phú Thọ sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa Từnay đến năm 2010, Phú Thọ cần khoảng 23000 tỷ đồng vốn đầu tư, trong đó

Trang 22

dự kiến thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước chiếm khoảng 60% Chiếnlược phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn 2006-2010 là đẩy mạnh hợp táckinh tế, xúc tiến đầu tư Đồng thời lựa chọn những nhiệm vụ mới Vấn đềnghèo đang được tỉnh quan tâm đầu tư và có nhiều chính sách, tuy vậy ở một

số huyện thì tỷ lệ nghèo vẫn còn cao Việc giải quyết vấn đề nghèo trong từngtỉnh là nhân tố quyết định sự thành công những kế hoạch đặt ra Để Phú Thọ: “Hướng tới một trung tâm vùng cấp quốc gia

Thái Ninh là một xã miền núi của huyện Thanh Ba thuộc tỉnh Phú Thọ

Về vị trí địa lý: Phía đông giáp xã Năng Yên - Quảng Nạp Phía bắc giáp xãĐông Lĩnh, Đại An Phía tây giáp thị trấn Thanh Ba Phía nam giáp xã Ninhdân Về giao thông: Có trạm đường tỉnh lộ 2 với thị trấn của huyện, tuyếnđường này mới được nâng cấp 2004, sự thay đổi về chất lượng của tuyến quốc

lộ này tạo điều kiện phát triển kinh tế của toàn huyện nói chung và xã TháiNinh nói chung Các ngành dịch vụ buôn bán phát triển, các ngành côngnghiệp nặng và công nghiệp có điều kiện lưu thông thuận lợi sản phẩm hànghóa Nhìn chung, ở huyện Thanh Ba dân cư của 12/26 xã, thị trấn sống nhờcây chè, với tổng diện tích 2000 ha và sản lượng hàng năm có thể lên tới hàngtriệu tấn Xã Thái Ninh là nơi có diện tích trồng chè và sản lượng thu hoạchsản phẩm chè lớn cho toàn huyện

Diện tích tự nhiên của xã có 737 ha Trong đó đất để sản xuất nôngnghiệp là 308 ha Diện tích đất lúa: 88ha Dân số : 2.451 khẩu có 630 hộ.Người dân ở đây sống chủ yếu bằng nông nghiệp chiếm 96% Các ngành nghềchậm phát triển, xã Thái Ninh không có nơi trao đổi buôn bán ( chợ) , ở xãkhông có nghề truyền thống, mức sống bình quan thấp so với huyện, bìnhquân thu nhập năm 2005 là 4,21 triệu đồng/ năm

Trang 23

Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, theo tiêu chuẩn xác địnhnghèo mới nhất ( 2004) là dưới 200 ngàn đồng/ tháng thì vẫn còn 157 hộchiếm 26,5 %

2.2 Thực trạng nghèo đói

Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo so với cả nước Tỉ lệ hộ nghèo năm 2005

là 5% Trong đó xã Thái Ninh có tỷ lệ hộ nghèo là 26,5% Sau đây chúng ta đivào nghiên cứu tình hình nghèo đói của các hộ gia đình trên cơ sở thu nhập,chi tiêu, điều kiện sinh hoạt để thấy rõ hơn mức độ nghèo đói của các hộ giađình

Biểu đồ 1: Thu nhập của các hộ gia đình

Trang 24

Nhìn vào biểu đồ ta thấy số hộ có mức thu nhập từ 5-10 triệu/năm ,và số

hộ có mức thu nhập 1-5 triệu/ năm chiếm tỷ lệ cao nhất (37%) Số hộ có mứcthu nhập 10-15 chiếm tỷ lệ thấp hơn Từ đó ta có thể thấy sự chênh lệch giữacác mức thu số hộ có thu nhập 10-15 triệu chiếm tỷ lệ thấp nhất(21%), những

hộ có mức thu 5-10 triệu chiếm tỷ lệ cao(37%) Như vậy có thể thấy những hộchiếm tỷ lệ ít đó là những hộ gia đình có mức thu nhập cao và những hộ giađình chiếm tỷ lệ cao là những hộ có thu nhập thấp Trong toàn xã, người dân

ở đây sống chủ yếu bằng nông nghiệp, cuộc sống của họ chỉ dựa vào trồnglúa, trồng hoa màu nên mức thu nhập hàng năm của họ không cao Nếu tínhtheo tháng thì có thể thấy thu nhập của họ rất thấp Trong các hộ có mức thunhập từ 5 triệu thì bình quân theo tháng của họ là 416 nghìn/ tháng Để chi

Trang 25

tiêu cho cuộc sống hàng ngày với một số tiền như thế không thể đáp ứng hếtnhu cầu của họ Qua bảng tần suất trên còn có những hộ thu nhập rất thấp từ1-5 triệu, có những gia đình mỗi năm chỉ có 1,2 triệu như vậy là mỗi tháng các

hộ đó có khoảng 100 nghìn đồng một tháng Một mức thu nhập có thể nói làquá thấp cho chi tiêu tối thiểu trong cuộc sống Khi phỏng vấn một người dân

về thu nhập của họ:

“Chị cũng chả biết nữa nhưng mỗi năm 2 vụ, trừ hoa màu đi có khoảng 1triệu cho 2 vụ cấy Mà vụ mùa được nhiều hơn, mỗi lần bán thóc được 600, vụchiêm khoảng 500”

Nữ 30 tuổi, làm ruộng

Như vậy là tính theo tháng khi quy đổi ra tiền chỉ có 100 nghìn gia đình

ấy phải lo các khoản khác và lương thực cũng rất khó khăn Đó là chưa kể mấtmùa do thiên tai, dịch bệnh Nếu so sánh với mức nghèo tối thiểu bình quânđầu người một tháng theo cách tính năm 2004 là 200nghìn đồng/ người mộttháng thì những hộ gia đình trên thuộc vào diện nghèo đói Hiện nay cùng với

sự phát triển của cả nước thì kinh tế toàn tỉnh Phú Thọ đã phát triển hơn trước,kéo theo đó nền kinh tế xã Thái Ninh cũng dần thay đổi Tỷ lệ hộ nghèo cũnggiảm đi đáng kể

Trong bối cảnh chung của cả nước các số liệu đo lường nghèo đói ở ViệtNam cho thấy, một xu hướng tích cực là tỉ lệ số hộ sống dưới mức nghèo liêntục giảm trong suốt thời gian qua, kể từ khi có chính sách của Đảng và Nhànước Các tiêu chuẩn nghèo đói liên tục được thay đổi cho phù hợp với diễnbiến kinh tế, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam vẫn có xu hướng giảm rõ rệt XãThái Ninh cũng vậy Nhìn vào bảng số liệu ta thấy số hộ có mức thu nhập 10-

Trang 26

15 triệu và trên 15 triệu có tỷ lệ cũng khá cao: 18% và 21% Tuy nhiên, xéttrên bình diện chung các hộ gia đình có thu nhập từ 1-5 triệu và 5-10 triệu thìvẫn chiếm tỷ lệ cao hơn Khi nhìn vào thực trạng thu nhập ta có kết luận là hộnày giàu, hộ này nghèo là không chính xác, danh giới rất mong manh, bởi vì

để xác định được hộ nghèo ta phải dựa vào mối tương quan thu nhập của hộ

đó với số người trong gia đình để có thể chia bình quân đầu người theo tiêuchuẩn nghèo đói hiện nay Phần sau của bài sẽ phân tích rõ hơn về vấn đề này Chúng ta đều biết, dưới khái niệm xã hội học, phân tầng được hiểu làphân chia xã hội thành các tầng lớp Ở đây yếu tố “ tĩnh” được nhấn mạnhtrong khi xã hội luôn luôn biến đổi và trong xã hội không có sự phân biệt rạchròi giữa các tầng lớp mà thường xuyên có sự chuyển hóa lẫn nhau do tính cơđộng tạo nên Mặc dù vậy, thuật ngữ phân tầng cũng mô tả được trạng tháinhiều tầng lớp của xã hội trong điều kiện thời gian và không gian nhất định

Đề tài nghiên cứu thực trạng nghèo cũng thể hiện rõ sự phân tầng Trong xãhội, có thể tạm chia tầng lớp giàu và tầng lớp nghèo Tuy nhiên khi xem xéttầng lớp nghèo thì không thể xét chúng trong trật tự “ tĩnh”, tức là không có sựbiến đổi Khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó, tầng lớp nghèo có thể

sẽ thay đổi Họ sẽ không còn ở vị trí nghèo nữa mà có thể di chuyển đến tầnglớp giàu Đó là sự thay đổi về thời gian Sự biến đổi giàu nghèo cũng thể hiệnngay trong chính không gian vùng địa lý nào đó hay vùng này so với vùngkhác Có thể nói phân tầng xã hội dựa vào sự biến đổi, sự vận động của xã hội

Áp dụng vào đề tài ta thấy trong một xã có sự phân chia giàu nghèo nhưng xãhội luôn biến đổi không ngừng các tầng lớp này sẽ hoán đổi cho nhau trongquá trình phát triển Những hộ gia đình nghèo năm nay nhưng có thể đến nămsau họ lại thoát nghèo, và ngược lại Nhưng theo chiều tiến của xã hội thì hiện

Trang 27

trạng nghèo của các hộ gia đình sẽ giảm đi Như vậy là khi mà xã hội pháttriển thì hiện trạng nghèo sẽ không còn nữa Nhưng tất cả là cả một quá trìnhlâu dài, nó đòi hỏi không chỉ 1,2 năm mà còn kéo dài hàng thế kỷ với sự cốgắng của tất cả cá nhân trong xã hội.

Để hiểu rõ hơn về mức độ nghèo đói, chúng ta đi tìm hiểu tương quangiữa thu nhập và số người hiện có trong gia đình

2.2.1.1.Tương quan thu nhập với số người hiện có trong gia đình

Bảng 1: Bảng tương quan thu nhập và số người hiện có trong gia đình

Số người hiện có trong gia đình Tổng

1 triệu đến 5 triệu số người hiện có trong gia đình là từ 1-3 người chiếm tỷ lệkhá cao 21% trong tổng 24 hộ, bởi vì nếu chia bình quân đầu người trongkhoảng này cao nhất chỉ có 138 nghìn đồng/ người/ tháng Mức thu nhập ởkhoảng này có thể nói là các hộ sống dưới mức nghèo Bởi vì theo chuẩnnghèo hiện nay bình quân một người dưới 200 ngàn là thuộc diện nghèo đói

và trong khoảng 3-5 hiện có trong gia đình thì vẫn còn 3 hộ sống dưới mứcnghèo rất thấp, chỉ có 83 ngàn/ người/ tháng Trong khoảng thu nhập 5triệuđến 10 triệu đồng thì khoảng 1-3 người hiện có trong gia đình chiếm tỷ lệ cao

Ngày đăng: 18/12/2014, 08:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng tương quan thu nhập và số người hiện có trong gia đình - tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay
Bảng 1 Bảng tương quan thu nhập và số người hiện có trong gia đình (Trang 28)
Bảng 2: Bảng tương quan thu nhập và nghề nghiệp - tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay
Bảng 2 Bảng tương quan thu nhập và nghề nghiệp (Trang 29)
Bảng 3: Bảng tương quan thu nhập và trình độ học vấn - tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay
Bảng 3 Bảng tương quan thu nhập và trình độ học vấn (Trang 30)
Bảng  tương   quan   cho   thấy   hầu   như   người   dân   ở   đây   đều   làm   nông nghiệp, về trồng trọt trong tổng thu nhập 4 mức chiếm tới 94%,các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ không đáng kể, và trong khoảng thu nhập 5 triệu đến 10 triệu các hộ làm ng - tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay
ng tương quan cho thấy hầu như người dân ở đây đều làm nông nghiệp, về trồng trọt trong tổng thu nhập 4 mức chiếm tới 94%,các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ không đáng kể, và trong khoảng thu nhập 5 triệu đến 10 triệu các hộ làm ng (Trang 30)
Biểu đồ 4: Hình thức nhà ở - tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay
i ểu đồ 4: Hình thức nhà ở (Trang 40)
Bảng 4: Trang thiết bị trong gia đình - tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay
Bảng 4 Trang thiết bị trong gia đình (Trang 41)
Bảng 5: Đánh giá về mức sống của các hộ gia đình - tìm hiểu thực trạng nghèo đói của người dân xã thái ninh huyện thanh ba, tỉnh phú thọ hiện nay
Bảng 5 Đánh giá về mức sống của các hộ gia đình (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w