Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế thì việc mở rộng ứng dụng công nghệ vào các hoạt động sản xuất nhằm tối ưu hóa năng suất và chi phí là vô cùng quan trọng. Trong những năm gần đây, công nghệ tách chiết các hợp chất từ thực vật đã không ngừng phát triển và bước đầu đạt được những thành quả đáng kể. Trên thế giới từ rất lâu người ta đã ứng dụng những công nghệ này để sản xuất các chất có dược tính, phục vụ lợi ích của con người. Có khoảng hơn 20.000 hợp chất được chiết xuất từ thực vật có dược tính rất có giá trị đối với cuộc sống. Những hợp chất này như các alkaloid, glycosid, carbohydrat, … được biết đến như là các hợp chất thứ cấp. Các hợp chất này thường chỉ được tạo ra ở một số loại tế bào nhất định của thực vật như các tế bào rễ tơ, biểu mô, hoa, lá… Mặc dù, công nghệ tổng hợp hữu cơ vẫn phát triển mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu, tuy nhiên có nhiều chất không thể sản xuất bằng cách tổng hợp, cũng như chi phí đầu tư cho việc tổng hợp là cao. Cho nên chiết tách các hợp chất từ thực vật vẫn là một nguồn nguyên liệu trực tiếp, gián tiếp hoặc cung cấp nguyên liệu cho công nghệ bán tổng hợp nhằm giảm chi phí đầu tư, tối ưu hóa hiệu suất. Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã tiến hành tìm hiểu đề tài: “Nghiên cứu trích ly alkaloid trong lá trà xanh và trái quất”. Mục tiêu của đề tài là: Tìm hiểu về alkaloid, cấu tạo hóa học và phân loại của alkaloid, các phương pháp chiết xuất các alkaloid. Xây dựng quy trình tối ưu để trích ly alkaloid trong lá trà xanh và trái quất.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
Trang 2Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế thì việc mở rộng ứng dụngcông nghệ vào các hoạt động sản xuất nhằm tối ưu hóa năng suất và chi phí là
vô cùng quan trọng
Trong những năm gần đây, công nghệ tách chiết các hợp chất từ thực vật
đã không ngừng phát triển và bước đầu đạt được những thành quả đáng kể.Trên thế giới từ rất lâu người ta đã ứng dụng những công nghệ này để sảnxuất các chất có dược tính, phục vụ lợi ích của con người Có khoảng hơn20.000 hợp chất được chiết xuất từ thực vật có dược tính rất có giá trị đối vớicuộc sống Những hợp chất này như các alkaloid, glycosid, carbohydrat, …được biết đến như là các hợp chất thứ cấp Các hợp chất này thường chỉ đượctạo ra ở một số loại tế bào nhất định của thực vật như các tế bào rễ tơ, biểu
mô, hoa, lá…
Mặc dù, công nghệ tổng hợp hữu cơ vẫn phát triển mạnh mẽ và thu đượcnhiều thành tựu, tuy nhiên có nhiều chất không thể sản xuất bằng cách tổnghợp, cũng như chi phí đầu tư cho việc tổng hợp là cao Cho nên chiết tách cáchợp chất từ thực vật vẫn là một nguồn nguyên liệu trực tiếp, gián tiếp hoặccung cấp nguyên liệu cho công nghệ bán tổng hợp nhằm giảm chi phí đầu tư,tối ưu hóa hiệu suất
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã tiến hành tìm hiểu đề tài: “Nghiên cứu
trích ly alkaloid trong lá trà xanh và trái quất”.
Mục tiêu của đề tài là:
phương pháp chiết xuất các alkaloid
quất
Trang 3Bảng 1.1 Các họ thực vật giàu alkaloid 9
Bảng 1.2 Một số loài động vật có chứa alkaloid 15
Bảng 1.3 pKa của một số alkaloid 18
Bảng 1.4 Phản ứng của alkaloid với các thuốc thử tạo tủa vô định hình 19
Bảng 1.5 Phản ứng của alkaloid với các thuốc thử tạo tủa tinh thể 19
Bảng 1.6 Phản ứng của alkaloid với các thuốc thử đặc hiệu 20
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát khối lượng, hiệu suất sản phẩm thu được khi thay đổi lượng dung dịch Na2CO3 10% để kiềm hóa bột trà 36
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát khối lượng, hiệu suất sản phẩm thu được khi thay đổi thời gian đun dung dịch trà – kiềm 38
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát khối lượng, hiệu suất sản phẩm thu được khi thay đổi lượng dung môi dicloromethane sử dụng 39
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát khối lượng, hiệu suất sản phẩm thu được khi thay đổi lượng dung môi cloroform sử dụng chiết hồi lưu cao quất 43
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát khối lượng sản phẩm thu được khi thay đổi thời gian chiết hồi lưu cao quất 45
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát khối lượng, hiệu suất sản phẩm thu được khi thay đổi khoảng nhiệt độ chiết hồi lưu cao quất 46
Trang 4Hình 1.1 Cây mã tiền 10
Hình 1.2 Cà độc dược 10
Hình 1.3 Cây trà (chè) 10
Hình 1.4 Cây thuốc lá 11
Hình 1.5 Cây ma hoàng 11
Hình 1.6 Canh ki na 11
Hình 1.7 Cây náng 12
Hình 1.8 Cây anh túc 12
Hình 1.9 Cây hồ tiêu 12
Hình 1.10 Cây lựu 13
Hình 1.11 Cây ba gạc 13
Hình 1.12 Cây bách bộ 13
Hình 1.13 Cây bình vôi 14
Hình 1.14 Quy trình chiết alkaloid sử dụng dung môi MeOH 21
Hình 1.15 Quy trình chiết alkaloid sử dụng dung môi cồn acid/ nước acid.21 Hình 1.16 Quy trình chiết alkaloid dưới dạng base 22
Hình 1.17 Cây trà (chè) 24
Hình 1.18 Cây quất (tắc, hạnh) 28
Hình 2.1 Quy trình chiết tách caffein trong lá trà 33
Hình 2.2 Quy trình chiết tách alkaloid trong cao quất 36
Hình 3.1 Biểu đồ khảo sát sự phụ thuộc của khối lượng sản phẩm thu được khi thay đổi lượng dung dịch Na CO 10% sử dụng 39
Trang 5khi thay đổi thời gian đun dung dịch trà – kiềm 40Hình 3.3 Biểu đồ khảo sát sự phụ thuộc của khối lượng sản phẩm thu được khi thay đổi lượng dung môi dicloromethane sử dụng 42Hình 3.4 Sắc phổ của sản phẩm 43Hình 3.5 Sắc phổ của mẫu caffein chuẩn 44Hình 3.6 Biểu đồ khảo sát sự phụ thuộc của khối lượng sản phẩm thu được khi thay đổi lượng dung môi cloroform sử dụng 46Hình 3.7 Biểu đồ khảo sát sự phụ thuộc của khối lượng sản phẩm thu được khi thay đổi thời gian chiết hồi lưu cao quất 47Hình 3.8 Biểu đồ khảo sát sự phụ thuộc của khối lượng sản phẩm thu được khi thay đổi khoảng nhiệt độ chiết hồi lưu cao quất 49Hình 3.9 Sắc phổ của sản phẩm 51Hình 3.10 Sắc phổ của mẫu codein chuẩn 52
Trang 6Alk: Alkaloid
DCM: Dicloromethane
HPLC: High performance liquid chromatography (Sắc ký lỏng hiệu năng cao)IR: Infra red (Phổ hồng ngoại)
MS: Mass spectrometry (Khối phổ)
NMR: Nuclear magnetic resonance (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân)
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1.1. Khái niệm alkaloid
Alkaloid có nguồn gốc từ chữ: alcali tiếng Ả rập có nghĩa là kiềm, đây
là những hợp chất hữu cơ có chứa dị vòng nitơ, có tính bazơ thường gặp ởtrong nhiều loài thực vật và đôi khi còn tìm thấy trong một vài loài độngvật
1.1.2. Phân loại alkaloid
Có thể chia alkaloid làm 5 loại dựa vào bậc của nguyên tử Nitơ trongcấu tạo phân tử alkaloid: Nitơ bậc I, Nitơ bậc II, Nitơ bậc III, Nitơ bậc IV;Nitơ – oxyd
ở pH > 8.0 chúng ở dạng không ion hóa
chất rất phân cực, trong mọi điều kiện pH chúng đều tồn tại ở dạng ion,
để tách chiết chúng phải phân lập dưới dạng muối
capsaicin) và hầu hết các lactam (ricinin )
tan trong nước, hay gặp ở các alkaloid pyrrolizidin (N-oxyd-indicin)
Theo đường sinh tổng hợp có thể chia alkaloid thành 3 loại: alkaloid, proto-alkaloid, alkaloid thực
thành từ các acid amin, chúng có chứa dị vòng Nitơ, và có thể đượcchia thành nhiều nhóm nhỏ hơn tùy nhân căn bản như sau:
Trang 8pyrrol
Trang 10- Alkaloid khung indolizidin:
Trang 12Các kiểu proto- alkaloid thường gặp:
Trang 14
Ngoài ra, người ta còn có thể phân loại alkaloid dựa trên:
Alkaloid là một hợp chất hữu cơ có tính dược tính, do vậy nó có nhiều ứngdụng trong việc điều trị bệnh, tùy từng loại alkaloid mà nó có những công dụng khác nhau như:
Trang 15Alkaloid trong tự nhiên có ở cả động vật và thực vật, tuy nhiên chúng tồntại phần lớn ở trong thực vật Trong thực vật chúng tồn tại chủ yếu ở thực vậtbậc cao, ngành hạt kín (cà phê, mã tiền, họ cà, hành, tỏi ), ít gặp trong cácngành hạt trần, nấm, quyết thực vật, và hầu như không gặp chúng ở các thựcvật bậc thấp
Năm 1995, người ta tìm thấy khoảng 27000 alkaloid, trong đó có hơn
21000 alkaloid được tìm thấy ở các thực vật bậc cao, gồm 27 nhóm, 1872khung cơ bản Và khoảng 6000 alkaloid được tìm thấy ở động vật, thực vậtkhác Hiện nay, vào năm 2013 con số alkaloid được tìm đã tăng lên đến
30000 alkaloid, trong đó có khoảng 21120 alkaloid được tìm thấy trong thựcvật hạt kín và hạt trần, ở thực vật bậc cao, alkaloid có mặt trong 67/83 bộ,186
họ, 1730 chi, 7231 loài, 16 bộ còn lại chưa phát hiện có mặt alkaloid
Bảng 1.1 Các họ thực vật giàu alkaloid Apocynaceae
(họ Trúc đào)
Papaveraceae
Ranunculaceae(họ Hoàng liên)
Rubiaceae
(họ Cà phê)
Liliaceae (họ Loa kèn)
Loganiaceae (họ Mã tiền)Amaryllidaceae
(họ Loa kèn đỏ)
Lauraceae(họ Nguyệt quế)
Berberidaceae(họ Hoàng mộc)Boradinaceae
(họ Vòi voi)
Piperaceae (họ Tiêu)
Menispermaceae (họ Tiết dê)
Trang 16Ngoài ra alkaloid còn tồn tại trong các loài thực vật bậc thấp như:
psilocybe semilanceata và panaeolus subalteatus
serrata
một số bộ phận nhất định như hoa, lá, thân, hạt, củ, rễ Dưới đây làmột số ví dụ điển hình về các loài cây phổ biến có chứa alkaloid:
Hình 1.1 Cây mã tiền
Hình 1.2 Cà độc dược
Trang 17- Cây có chứa alkaloid trong lá như: trà, thuốc lá
Hình 1.3 Cây trà (chè)
Hình 1.4 Cây thuốc lá
Trang 18
Hình 1.5 Cây ma hoàng
Hình 1.6 Canh ki na
Hình 1.7 Cây náng
Trang 19Hình 1.8 Cây anh túc
Hình 1.9 Cây hồ tiêu
Hình 1.10 Cây lựu
Trang 20Hình 1.11 Cây ba gạc
Hình 1.12 Cây bách bộ
Hình 1.13 Cây bình vôi
Trang 21Alkaloid trong tự nhiên thường tồn tại ở dạng hỗn hợp của các alkaloidcùng nhóm, chúng thường chứa 1-2 alkaloid chính có hàm lượng cao nhất(trong trà xanh ngoài chứa phần lớn là caffein chúng còn chứa 1 lượng nhỏtheobromin và theophyllin), trong các thực vật cùng họ thường chứa các
Đặc biệt rất hiếm khi alkaloid và tinh dầu tồn tại đồng thời
Hàm lượng alkaloid thay đổi theo điều kiện dinh dưỡng, sinh lý củacây, nói chung thường là thấp Hàm lượng alkaloid được cho là nhiều khichiếm trên 1% khối lượng, ít khi chiếm dưới 1% khối lượng, và nếu chỉchiếm dưới 0,01% nó được coi là không tồn tại Tuy vậy, vẫn có nhữngtrường hợp đặc biệt như:
Trong động vật người ta tìm thấy có khoảng 1500 alkaloid
Một số loài động vật có chứa alkaloid:
Bảng 1.2 Một số loài động vật có chứa alkaloid
Ếch phi tiêu độc Kokoe (Phyllobates aurotaenia)
Ếch dâu cực độc (Dendrobates pumilio)
BatrachotoxinPumiliotoxin
Trang 22Cóc mía (Bufo bufo)
BufoteninBufotenidinSerotonin
Sa giông (Salamanders)
SamandarinSamanin
Giun heo (Ascaris suum)
Morphin
Sâu bi (Glomeris marginata)
GlomerinHomoglomerin
Saxidomus giganteus
Saxitoxin
Trang 23nhiệt độ thường, trừ: arecolin, pilocarpidin tồn tại dạng lỏng ở nhiệt độthường
lỏng ở nhiệt độ thường
glycosid, và hiếm khi ở dạng base
tan trong dung môi hữu cơ kém phân cực
trong dung môi hữu cơ kém phân cực
1.2.2. Tính chất hóa học
Trang 24- Một số ít alkaloid có tính kiềm mạnh như: nicotin, các Alkaloid cóchứa Nitơ bậc 4, các alkaloid có chứa Nitơ oxyd, các Alkaloid có chứa
2 nguyên tử Nitơ
colchicin, codein, ricinin, piperin
Các alkaloid có tính kiềm mạnh rất dễ tạo muối bền với acid, còn alkaloid
có tính kiềm rất yếu thì cho muối kém bền, dễ trở về dạng base khi tác dụngvới acid
Bảng 1.3 trình bày giá trị thông số pKa của một số alkaloid:
Bảng 1.3 pKa của một số alkaloid
Alkaloid còn tham gia các phản ứng đặc trưng với :
Trang 25- các thuốc thử tạo tủa tinh thể (Bảng 1.5) và
Bảng 1.4 Phản ứng của alkaloid với các thuốc thử tạo tủa vô định hình
màu
diamin chromat III
50%
khá đặc trưng
Bảng 1.5 Phản ứng của alkaloid với các thuốc thử tạo tủa tinh thể
loại Alkaloid
Trang 26Acid picric 2,4,6-trinitrophenol - Có màu vàng -> đỏ
cam
- Có hình dạng đặc trưng
- Có điểm chảy xác định
Acid
picrolonic
Delta’ của p-nitrobenzen
Bảng 1.6 Phản ứng của alkaloid với các thuốc thử đặc hiệu
-> lục
sulfo-molybdic
đỏ
1.3.1. Nguyên tắc chung
Alkaloid là các base yếu, trong cây chúng tồn tại ở dạng:
Để tách chiết Alkaloid, ta có thể:
1.3.2. Các phương pháp trích ly alkaloid ở thực vật
Trang 27Alk muối/Bột dược liệu
Chiết = cồn/acidLắc với Et2O
Alk base/dm hữu cơ
Cắn alk baseAlk muối mới/dịch acid
Lắc dm hữu cơ
Đồ án tốt nghiệp Đại học khóa 2010-2014 Trường ĐH BR - VT
- Sử dụng dung môi cồn acid/ nước acid để chiết
MeOH
Cô quay
Loại nước
Lọc bỏ tủa
+ HCl 2%
Dịch DCM
Kiềm hóaDịch lọc alkaloid muối
Chiết = DCMHình 1.14 Quy trình chiết alkaloid sử dụng dung môi MeOH
Hình 1.15 Quy trình chiết alkaloid sử dụng dung môi cồn acid/ nước acid
Trang 28c) Chiết dạng Alkaloid base
Hình 1.16 Quy trình chiết alkaloid dưới dạng base
Trong tự nhiên, alkaloid tồn tại ở rất nhiều loài động – thực vật, tuy nhiên trong khuôn khổ của đồ án tốt nghiệp này tôi lựa chọn nghiên cứu trích ly alkaloid ở 2 đối tượng đó là cây trà (chè) và cây quất (tắc, hạnh) Đây là 2 loạicây dễ trồng và được trồng phổ biến, rộng rãi khắp đất nước, dân gian từ lâu
đã sử dụng chúng như một phương thuốc để chữa một vài loại bệnh thông thường, khoa học cũng chứng minh được trong 2 loại cây này có chứa những hợp chất có tác dụng dược lý, điển hình như hợp chất alkloid
1.4.1. Cây trà (chè)
Cây trà hay cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis, là loại cây mà lá
và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè (- trà, không phải cây hoatrà) Tên gọi sinensis có nghĩa là “Trung Quốc” trong tiếng Latinh Các danhpháp khoa học cũ còn có Thea bohea và Thea viridis
Alk base/dm hữu cơ
dmDược liệu
hữu cơ/kiềm
dm
Alk muối/nướcAlk base/dm hữu cơ
hữu cơ/kiềm
Cô giảm áp
Từng alk base riêng
Tinh chếCắn Alk base
Phân lậpacid loãng
Lắc với
Từng alk muối riêng
Kết tinh Alk muối/nước
Phân lập
Trang 29Camellia sinensis có nguồn gốc Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó đượctrồng phổ biến trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Đặcbiệt được trồng nhiều ở Trung Quốc, Ấn độ, Srilanca.
Nước ta hầu hết các tỉnh có điều kiện thuận lợi đều trồng trà, song có bavùng trồng trà lớn nhất:
chiếm khoảng 25% sản lượng trà miền Bắc
là vùng trà chủ yếu, chiếm tới 75% sản lượng trà miền Bắc với nhiềunhà máy sản xuất lớn
yếu trồng giống trà Ấn Độ và trà shan, trà Oolong
Là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thườngđược xén tỉa để thấp hơn 2m khi được trồng để lấy lá, những cây mọc hoang
có thể cao đến 20m Nó có rễ cái dài, hoa trà màu trắng ánh vàng, đường kính
từ 2,5 - 4cm, với 7 - 8 cánh hoa, hạt của nó có thể ép để lấy dầu
Trà xanh, trà mộc, bạch trà, trà đen, trà oolong, trà hương lài đều đượcchế biến từ loại cây này nhưng trong các điều kiện oxy hóa khác nhau
Trang 30Hình 1.17 Cây trà (chè)
Trong lá trà có chứa các thành phần:
Trang 31Từ những nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng trà xanh có khả năng điềutrị:
- Xơ vữa động mạch: Nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng các đặc tính chống oxy
hóa của trà xanh có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch, bệnh động mạchvành Nghiên cứu cho thấy trà đen cũng có tác dụng tương tự Trong thực tế,các nhà nghiên cứu ước tính rằng tỷ lệ nhồi máu cơ tim giảm 11% với mứctiêu thụ 3 tách trà mỗi ngày
- Cholesterol cao: Nghiên cứu cho thấy trà xanh làm giảm cholesterol toàn
phần và tăng HDL ("tốt") cholesterol ở cả động vật và con người Một nghiêncứu lâm sàng cho thấy những người đàn ông uống trà xanh có lượngcholesterol thấp hơn những người không uống trà xanh Chất polyphenoltrong trà xanh có thể ngăn chặn cholesterol bị hấp thu ở ruột, giúp cơ thể thoátkhỏi cholesterol
- Ung thư: Một số nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng các loại trà xanh và cả
trà đen có thể giúp bảo vệ chống lại ung thư Nghiên cứu cho thấy hợp chấtpolyphenol trong trà, trà đặc biệt là màu xanh lá cây, có thể đóng một vai tròquan trọng trong việc phòng chống ung thư Các nhà nghiên cứu cũng tin rằngpolyphenol giúp tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn chúng phát triển
- Ung thư bàng quang: Một số theo dõi nghiên cứu lâm sàng bởi một nhóm các
nhà nghiên cứu tiết lộ rằng những người bị ung thư bàng quang - đặc biệt là ởnam giới- người uống trà xanh có tỷ lệ sống tốt hơn so với những ngườikhông uống 5 năm
- Ung thư vú: Nghiên cứu lâm sàng ở động vật và thử nghiệm cho thấy rằng
polyphenol trong trà xanh ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú Trongmột nghiên cứu 472 phụ nữ ở giai đoạn khác nhau của bệnh ung thư vú, người
ta phát hiện ra rằng phụ nữ ở giai đoạn đầu của bệnh uống ít nhất 5 tách tràmỗi ngày có thể điều trị khỏi bệnh
- Ung thư buồng trứng: Trong một nghiên cứu lâm sàng thực hiện với bệnh
nhân ung thư buồng trứng ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu phát hiện ra
Trang 32rằng những phụ nữ uống ít nhất một tách trà xanh mỗi ngày sống lâu hơnnhững người không uống trà xanh Trong thực tế, những người uống trà nhiều
sẽ sống lâu
- Tuyến tiền liệt ung thư: Nghiên cứu phòng thí nghiệm đã phát hiện ra rằng
chiết xuất trà xanh ngăn chặn sự tăng trưởng của tế bào ung thư tuyến tiềnliệt.Trong một nghiên cứu lâm sàng lớn ở Đông Nam Trung Quốc nghiên cứunhận thấy nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt đã giảm dần khi tăng thời gian và sốlượng trà xanh tiêu thụ
- Ung thư da: Các polyphenol chính trong trà xanh là epigallocatechin gallate
(EGCG).Nghiên cứu khoa học cho thấy EGCG và polyphenol trong trà xanh
có đặc tính chống viêm và chống ung thư có thể giúp ngăn chặn sự phát triển
và tăng trưởng của các khối u da
- Ung thư dạ dày: nghiên cứu phòng thí nghiệm đã phát hiện ra rằng
polyphenol trong trà xanh ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư dạdày Trong hai nghiên cứu so sánh người uống trà xanh với không uống, cácnhà nghiên cứu thấy rằng những người uống trà giảm một nửa khả năng pháttriển ung thư dạ dày và viêm dạ dày như so với người không uống trà xanh
- Bệnh tiểu đường: Trà xanh đã được sử dụng để kiểm soát lượng đường trong
máu Nghiên cứu ở động vật cho thấy rằng trà xanh có thể giúp ngăn ngừa sựphát triển của bệnh tiểu đường loại 1 và làm chậm sự tiến triển khi nó đã pháttriển Ở những người bị bệnh tiểu đường loại 1, các cơ quan của họ làm cho íthoặc không có insulin, giúp chuyển đổi glucose hoặc đường thành nănglượng Trà xanh có thể giúp điều chỉnh lượng đường trong cơ thể
- Bệnh gan: Nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng những người đàn ông uống nhiều
hơn 10 ly trà xanh mỗi ngày ít có khả năng để phát triển vấn đề về gan Tràxanh cũng có vẻ bảo vệ gan khỏi các tác hại của các chất độc hại nhưrượu Nghiên cứu động vật đã chỉ ra rằng trà xanh giúp bảo vệ chống lại cáckhối u gan ở chuột