1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lịch sử tiếp nhận và cách thức hướng dẫn dạy học truyện kiều ở thpt

99 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 511,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ chứa đựng trong đó đời sống tinh thần của dân tộc mà còn là đại diện tiêu biểu cho văn hóa dân tộc, kếttinh văn hóa dân tộc cũng như hấp thu tinh hoa

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Lựa chọn đề tài này chúng tôi xuất phát từ nhiều lí do khác nhau:

1.1 Tri thức văn hóa nói riêng, tri thức đọc hiểu nói chung có vai trò hết

sức quan trọng đối với việc đọc văn và dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương

Tri thức đọc hiểu có ý nghĩa rất quan trọng đọc văn Đối với bất cứmột môn khoa học nào, không chỉ môn văn, thì những tri thức nền tảng đềuhết sức quan trọng để hiểu và tiếp thu những tri thức mới Ngữ văn, mộtngành vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật lại càng như vậy Đọc văn chính làquá trình người đọc tiếp xúc, cảm nhận, tiếp nhận tác phẩm văn học Tri thứcđọc hiểu chính là những tri thức cần thiết để người đọc cảm thụ được nhữngđiều nhà văn thể hiện trong văn bản Đó là quá trình người đọc phát huy khảnăng cảm thụ, vận dụng tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm, sự liên tưởng, trítưởng tượng để cảm thụ, đồng cảm, sẻ chia, thích thú hay khổ đau với nhữngtình cảm, những số phận, những cuộc đời được phản ánh trong tác phẩm.Trong đọc văn, để làm được điều này, người đọc phải có vốn sống, vốn kinhnghiệm, những tri thức, hiểu biết về văn học, văn hóa, thẩm mĩ cũng nhưnhững tri thức về lịch sử, xã hội Đó là chìa khóa để người đọc mở cánh cửatác phẩm văn học

Dạy học tác phẩm văn chương chính là quá trình đọc văn trong nhàtrường Đọc văn trong nhà trường có những đặc điểm đặc biệt, khác với quátrình đọc văn bên ngoài Dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương không chỉ là sựcảm thụ tác phẩm chủ quan của học sinh mà giáo viên cần hình thành cho họcsinh những tri thức và kĩ năng nhất định để học sinh có thể đọc hiểu tác phẩmvăn chương một cách khoa học và hiệu quả Trong dạy học tác phẩm vănchương, tri thức đọc hiểu được bổ sung thêm sẽ cung cấp cho học sinh nhữngkiến thức nền tảng để các em đọc hiểu tác phẩm Do đó, vận dụng các loại trithức đọc hiểu thích hợp trong quá trình dạy học đọc hiểu tác phẩm văn

Trang 2

chương trong nhà trường là điều hết sức quan trọng Tri thức văn hóa chính làmột trong những tri thức cần thiết để các em khai thác sâu hơn, toàn diện hơngiá trị tác phẩm văn học Mặt khác, điều này cũng sẽ hình thành cho học sinh

kĩ năng vận dụng tri thức văn hóa vào tìm hiểu văn học, giúp các em có kĩnăng cảm thụ tác phẩm văn học

1.2 Xuất phát từ mục tiêu của dạy học văn trong nhà trường:

Trong bối cảnh hội nhập vào nền kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóacủa khu vực và nhân loại như hiện nay, giáo dục đóng một vai trò vô cùngquan trọng Chính vì vậy, nội dung chương trình cũng như phương pháp giáodục cũng phải thay đổi để đáp ứng những yêu cầu đó Dạy và học văn trongnhà trường cũng thay đổi theo hướng đáp ứng nhu cầu sử dụng văn học trongthực tiễn: “ Môn văn giúp học sinh có kiến thức và kĩ năng của môn học, baogồm năng lực đọc hiểu các văn bản thường gặp, năng lực viết các loại văn bảnthông dụng cũng như là năng lực nói trước công chúng Môn ngữ văn trongnhà trường, do đó, cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức phong phú vềvăn học Việt Nam, văn học nước ngoài, ngôn ngữ học và Tiếng Việt, về líluận văn học, lịch sử văn học nhằm tạo ra những tích lũy ban đầu để hìnhthành các năng lực đọc, viết, cảm thụ thẩm mĩ, phát triển tư duy.” [5, 58]

Dạy và học tốt môn ngữ văn chẳng những giúp cho học sinh có kiếnthức và kĩ năng của môn học này mà còn tạo ra cơ sở để học tốt các mônkhác, phát huy tốt truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại, giáo dục tình cảm cao đẹp cho người công dân tương lai

Như vậy, mục tiêu của môn ngữ văn trong nhà trường là không chỉcung cấp kiến thức văn học mà cả văn hóa, truyền thống, cũng như hình thành

kĩ năng đọc hiểu cho học sinh Lựa chọn đề tài này chúng tôi muốn góp phầntìm hướng dạy học phù hợp làm sao để hình thành những năng lực đọc hiểucho học sinh, đồng thời với cách khám phá tác phẩm như vậy, giúp cho họcsinh thấy được giá trị tác phẩm không chỉ từ góc độ văn học mà cả văn hóadân tộc trong sự sáng tạo và tiếp thu văn hóa nhân loại

Trang 3

1.3 Truyện Kiều có giá trị văn hoá lớn Bất cứ một tác phẩm văn học

nào cũng đều có tính văn hóa, bởi lẽ, tác phẩm văn học chính là chỉnh thểnghệ thuật ngôn từ tái hiện đời sống tinh thần của các dân tộc, như là mộttrong những sản phẩm kết tinh cao nhất của văn hóa một tộc người, một đất

nước Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ chứa đựng trong đó đời sống

tinh thần của dân tộc mà còn là đại diện tiêu biểu cho văn hóa dân tộc, kếttinh văn hóa dân tộc cũng như hấp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài, đặc biệt

là văn học, văn hóa Trung Quốc và sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới.Chính vì vậy, văn hóa là một nội dung lớn trong giá trị tác phẩm mà nếukhông khai thác, chúng ta không thể thấy hết giá tri, vẻ đẹp của tác phẩmcũng như vị trí của tác phẩm trong tổng thể văn hóa tinh thần dân tộc Do đó,khai thác giá trị văn hóa của Truyện Kiều là việc làm cần thiết và có ý nghĩa

1.4 Cùng với các hướng khác, dạy đọc hiểu đoạn trích “Nỗi thương mình”

từ góc nhìn văn hóa sẽ khám phá ra những ý nghĩa mới mẻ của tác phẩm

Lâu nay, Truyện Kiều rất được quan tâm nghiên cứu ở cả hai phương diện: giá trị nội dung nghệ thuật và phương pháp dạy học tác phẩm này trong

nhà trường Đã có nhiều phương pháp khác nhau được đề xuất và vận dụng

trong dạy học các đoạn trích Truyện Kiều: vận dụng phương pháp giảng bình,

phân tích theo đặc trưng thể loại, quan tâm đến khoảng cách tiếp nhận, vậndụng đọc hiểu Tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm này cũng là hướng tìmhiểu, phân tích tác phẩm có nhiều triển vọng Tuy nhiên, cho đến nay, chưa cómột công trình nghiên cứu nào tìm hiểu sự vận dụng tri thức văn hóa vào đọc

hiểu các đoạn trích Truyện Kiều Đây là một mảng đề tài đang bị bỏ trống.

Mặt khác, đoạn trích “ Nỗi thương mình” là một đoạn có nội dung

tương đối đặc biệt, đề cập đến một vấn đề tương đối nhạy cảm: thân phận vàtâm trạng, cảm xúc người kĩ nữ Khai thác vấn đề này nếu không có phươngpháp phù hợp, giáo viên dễ dẫn dắt học sinh đi vào chỗ khó, hiểu sai hìnhtượng nhân vật cũng như tấm lòng, quan niệm của tác giả Thực tế đã cónhiều học sinh làm văn về đoạn trích này hiểu hết sức lệch lạc, méo mó về ý

Trang 4

nghĩa, nội dung Vì vậy, vận dụng tri thức văn hóa vào đọc hiểu tác phẩm làmột cách để học sinh hiểu đúng đắn, sâu sắc nội dung đoạn trích này.

phẩm “Sáng tác của Francois Rabelais với văn hóa dân gian thời trung đại

và phục hưng” đã đưa cái nhìn văn hóa để phân tích và lí giải tác phẩm của

nhà văn phục hưng Pháp Rabelais là đỉnh cao của xu hướng phi chính thốngcủa văn học dân gian

Ở Việt Nam, phương pháp này cũng ra đời cùng thời điểm với thế giớikhi các nhà nghiên cứu như Trần Đình Hượu, Đỗ Lai Thúy, Trần NgọcVương cũng vận dụng cái nhìn văn hóa để tìm hiểu văn học trung đại Việt

Nam, thơ Hồ Xuân Hương, “Truyện Kiều” Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân trên Tạp chí văn học, số tháng 11- 2004 có bài viết “ Tiếp cận văn học bằng văn hóa” đã điểm lại những công trình văn học vận dụng cách tiếp cận văn học

bằng văn hóa, trong đó có công trình: “Hồ Xuân Hương, hoài niệm, phồn thực”của Đỗ Lai Thúy, “ Nho giáo và văn học Việt Nam trung - cận đại” của TrầnĐình Hượu, “Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam” và “ Văn học Việt Nam,dòng riêng giữa nguồn chung” của Trần Ngọc Vương, “Văn học trung đại ViệtNam dưới góc nhìn văn hóa” và chỉ ra ý nghĩa của cách tiếp cận này: “ Cáchtiếp cận văn học bằng văn hóa đã cung cấp thêm một con đường mới để đếnvới văn học”[29, 8] Trong khuôn khổ của một bài báo, đây mới chỉ là cái nhìn

có tính chất tổng quát về xu hướng tiếp cận văn học bằng văn hóa

Gần đây, tác giả Lê Nguyên Cẩn trong bài viết “Tính văn hóa của tác phẩm văn học”đăng trên Tạp chí Khoa học số 2, năm 2006 của Đại học Sư

phạm Hà Nội, đã chỉ tác phẩm văn học có giá trị cao về văn hóa và tiếp cận

Trang 5

văn hóa là hướng khai thác có nhiều ý nghĩa như: “Tiếp cận tác phẩm văn học

từ góc độ này sẽ góp phần làm rõ thêm đóng góp của tác phẩm văn học vàotổng thể giá trị tinh thần của dân tộc” hay “ Tiếp cận tính văn hóa trong tácphẩm văn học từ bình diện hoạt động con người hay từ bình diện kí hiệu học

sẽ mở ra những cấp độ ngữ nghĩa khác cho phép tạo ra chiều sâu của hìnhtượng văn chương, tạo ra sự đồng cảm, thấu tình đạt lí”[3-7, 3] Trong bàiviết này tác giả cũng đã chỉ ra hai phương diện biểu hiện rõ nhất của phươngdiện văn hóa trong tác phẩm là hình tượng nhân vật và ngôn ngữ Đây chính

là những gợi ý quan trọng để chúng tôi triển khai đề tài này

Tuy nhiên, việc vận dụng tri thức văn hóa, cái nhìn văn hóa vào dạyhọc tác phẩm văn chương lại không được vận dụng đồng thời với nhữngthành tựu nghiên cứu tác phẩm văn học như ở trên Gần đây, trong bộ sáchgiáo khoa mới, các nghiên cứu, các nhà sư phạm mới thật sự chú trọng đến xuhướng này

Sách ngữ Văn 10 bộ mới chú trọng tính chất văn hóa của văn học trên

cả hai phương diện nội dung và phương pháp Về nội dung, sách Ngữ Văn 10

tăng, một số lượng đáng kể những văn bản nghị luận, trong đó có cả nghịluận xã hội và nghị luận văn học Coi trọng đúng mức những tác phẩm vănhọc chính luận, những tác phẩm có màu sắc học thuật để tăng cường, tô đậmbản chất văn hóa của văn học Điều này là để học sinh vận dụng văn học vào

cuộc sống Về mặt phương pháp, trong phần đổi mới phương pháp, “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên,( bộ cơ sở)” nhấn mạnh: “Chú trọng tri thức đọc hiểu: Để

hiểu được văn học trung đại cần cung cấp cho học sinh những tri thức về vănhóa trung đại ( ý thức tư tưởng, những khái niệm, thuật ngữ Nho, Phật, Đạo,những đặc thù trong quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ thời trungđại )[57, 36] Ở bộ sách này, các tri thức văn hóa được cung cấp ở phần Tiểudẫn, phần Chú thích trong Sách giáo khoa hoặc những kiến thức bổ sung ởSách giáo viên

Trang 6

Trong bộ sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (nâng cao), tác giả đã nhấn mạnh

vai trò của tri thức đọc hiểu trong quá trình đọc hiểu tác phẩm văn chương,trong đó bao gồm rất nhiều loại tri thức khác nhau, đặc biệt là tri thức văn học

và văn hóa Các tri thức văn hóa được cung cấp cho học sinh và giáo viêndưới dạng những tri thức đọc hiểu ngắn gọn ngay cuối mỗi văn bản

Đối với Truyện Kiều, việc khai thác, tiếp cận tác phẩm này từ góc độ

văn hóa cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược, giới thiệu chứ có một côngtrình nghiên cứu nào đi sâu, khai thác kĩ lưỡng Phần lớn, việc chỉ ra những

biểu hiện văn hóa trong Truyện Kiều chỉ được nêu ra như những dẫn chứng

cho các luận điểm trong các công trình nghiên cứu Chẳng hạn nhà nghiên

cứu Trần Nho Thìn trong công trình “ Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” đã chọn góc nhìn văn hóa để quan sát và giải thích các hiện tượng văn học Ông lấy Truyện Kiều để minh họa cho nhận định của mình:

“bị chi phối bởi một luận đề duy tâm về tài mệnh tương đố nên nó chưa phải

là một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa”(Dẫn theo Nguyễn Văn Dân, [28, 8])

Một tác giả khác, trong bài viết: “Tính văn hóa của tác phẩm văn học”, nhà

nghiên cứu Lê Nguyên Cẩn viết: “ Việc sắp xếp, xử lí các chi tiết, các sự kiệnđược lấy từ cuộc sống sao cho chúng trở thành chất liệu nghệ thuật đắc dụng,không thiếu không thừa là thuộc về tài năng sáng tạo cá nhân, nó liên quan tớiviệc xác lập cách nhìn nghệ thuật về con người vốn mang đậm bản sắc vănhóa của dân tộc Chẳng hạn từ các sự kiện đã nêu ở hai tác giả Nguyễn Du vàThanh Tâm Tài Nhân đều đưa nhân vật của mình tới một hành động, đó làKiều bán mình chuộc cha, nhưng cách miêu tả cách Kiều bán mình qua haitác giả ta thấy có sự khác nhau rất rõ.”[3-7, 3]

Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu, phê bình tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, các thành tựu văn hóa trong tác phẩm này đã được giới

thiệu, khẳng định rất nhiều, nhất là các công trình của các tác giả: Phan

Ngọc-Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua Truyện Kiều; Trần Đình Sử- Thi pháp Truyện Kiều ; Nguyễn Lộc- Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đến hết thế

Trang 7

kỷ XIX ; Hoài Thanh- Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du; Đặng Thanh Lê - Giảng văn Truyện Kiều đều khai thác những thành tựu của Truyện Kiều trên hai phương diện: ngôn ngữ nghệ thuật và vấn

đề con người, nhìn từ những góc độ khác nhau Những thành quả nghiên cứu

về con người, ngôn ngữ của các tác giả đã được người viết kế thừa, học tậptrong luận văn này

Như vậy, việc vận dụng tri thức văn hóa vào việc đọc hiểu tác phẩmvăn chương gần đây đã được chú trọng nhưng mới ở mức độ khái quát, chungchung chứ chưa có một hướng dẫn cụ thể

2.2 Đọc hiểu các đoạn trích Truyện Kiều ở nhà trường phổ thông

Truyện Kiều là tác phẩm lớn và giàu ý nghĩa nên việc tổ chức, hướng

dẫn học sinh khai thác các vẻ đẹp của tác phẩm và đoạn trích là vấn đề luônluôn được đặt ra và có nhiều nhà sư phạm dày công nghiên cứu

Đối với việc giảng văn Truyện Kiều, đã có một số công trình nghiên cứu và các bài báo Giáo sư Lê Trí Viễn trong cuốn “ Các bài giảng văn đại học”, Nhà xuất bản Giáo dục, H 1982 đã đi vào gợi ý phân tích, bình giảng các đoạn trích cụ thể của Truyện Kiều, Giáo sư Đặng Thanh Lê trong “ Giảng văn Truyện Kiều”, nhà xuất bản Giáo dục, H.2006 (Tái bản lần thứ 7)

đã đưa ra cách phân tích Truyện Kiều theo phương hướng tiếp cận thi pháp

học và ngôn ngữ học Trong đó, tác giả đã nêu ra những cách thức để tiếnhành như xác lập hệ thống cấu trúc đoạn trích theo đặc điểm thể loại, vấn đềgiới thiệu vị trí đoạn trích Mặt khác cũng xác định tính chất của hình tượngnhân vật theo thể loại, từ đó đi đến phân tích nhân vật theo đặc trưng thi pháp

cổ điển, tập trung vào phân tích ngôn ngữ của tác phẩm Phần sau tác giả giớithiệu bài phân tích các đoạn trích giảng được học trong chương trình

Giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn “ Đọc văn, học văn”, Nxb Giáo dục,

H 2003, cũng đã đưa ra quan điểm đọc văn: “ Chúng tôi chú trọng mặt ngôn

từ, bởi hình tượng văn học mọc lên từ đó từ âm thanh, nhạc điệu, ý nghĩa của

từ ngữ, ý nghĩa các biểu trưng đã hình thành trong truyền thống văn hóa, cấu

Trang 8

trúc của văn bản, giọng điệu, lời văn của ai, quan hệ đối thoại trong ngữcảnh đều là những yếu tố cần được tìm hiểu để hiểu bài văn”[7, 54] Trongcông trình này, tác giả cũng tiến hành phân tích các tác phẩm văn học trung

đại đến hiện đại, trong đó có các đoạn trích trong Truyện Kiều

Cùng với các công trình nghiên cứu, hiện nay cũng có rải rác các bàibáo, luận án tiến sĩ, các luận văn sau đại học quan tâm tìm hiểu việc dạy học

các đoạn trích trong Truyện Kiều Đó là bài báo của tác giả Trần Xuân Lít:

“Cái khó khi dạy và học Truyện Kiều” đăng trên báo Giáo dục và thời đại số

ra tháng 12 – 2001, nêu ra một số khó khăn mà giáo viên thường gặp phảinhư: khoảng cách tiếp nhận, ngôn ngữ [ 5, 30] Trong luận án tiến sĩ khoa

học của Nguyễn Thanh Sơn: “ Biện pháp hạn chế khoảng cách tiếp nhận của học sinh TH miền núi trong giờ học giảng văn Truyện Kiều của Nguyễn Du” , tác giả đã chỉ ra những khó khăn cho học sinh miền núi khi tiếp nhận Truyện Kiều chính là “rào cản ngôn ngữ: ngôn ngữ Tiếng Việt- Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ trong Truyện Kiều”[ 52] Một khó khăn khác nữa là sự hạn chế về

vốn sống, vốn hiểu biết của các em Ở luận án náy, tác giả cũng đã đưa ra cácgiải pháp để khắc phục những khó khăn này Trong số các giải pháp đó,chúng tôi đặc biệt lưu ý đến giải pháp nâng cao vốn văn hóa, tầm hiểu biếtcho các em Các sinh hoạt ngoại khóa và hoạt động ngoài giờ được tác giảđưa ra như những biện pháp để nâng cao tầm văn hóa cho học sinh Bên cạnh

đó là các luận văn sau đại học nghiên cứu phương pháp dạy học Truyện Kiều Luận văn “Lịch sử tiếp nhận và cách thức hướng dẫn dạy học Truyện Kiều ở THPT” của Nguyễn Thị Ngọc Oanh (năm 2002) đã nghiên cứu lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều trên phương diện văn hóa, thẩm mĩ trong nước và trên thế

giới Luận văn cũng đã đưa ra một số cách thức hướng dẫn học sinh nhưng

không tập trung vào đoạn trích nào cụ thể Đoạn trích “ Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” chỉ được đưa ra như là một ví dụ nhỏ Một luận văn khác là

“Hướng dẫn đọc hiểu đoạn trích “ Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều cho học sinh THPT” của Nguyễn Thúy Hằng (năm 2003) có đi vào những biện pháp cụ thể

Trang 9

để hướng dẫn học sinh đọc hiểu, nhưng chủ yếu là vận dụng các thao tác và

các dạng đọc Thạc sĩ Trần Thị Thu Hà trong luận văn “ Vận dụng phương pháp giảng bình vào dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở nhà trường PT” chủ yếu nêu ra tác dụng của phương pháp giảng bình trong dạy học Truyện Kiều Luận văn này cũng chỉ ra một số cách thức vận dụng phương pháp

giảng bình vào dạy học một số đoạn trích nhưng ở mức độ sơ sài

Nhìn chung, các luận văn đã vận dụng một số phương pháp khác nhau

để hướng dẫn học sinh tìm hiểu các đoạn trích Truyện Kiều cho học sinh

THPT Tuy nhiên, hướng vận dụng tri thức văn hóa vào đọc hiểu một đoạn

trích cụ thể, đoạn trích “Nỗi thương mình”chưa được quan tâm đến Chúng tôi

thấy rằng việc nghiên cứu để tìm ra phương pháp thích hợp để hướng dẫn học

sinh đọc hiểu đoạn trích này là điều cần thiết và bổ ích trong dạy học Truyện Kiều ở trường phổ thông.

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích

Mục đích chính mà luận văn đề ra là tìm phương pháp hợp lí cho học sinh

đọc hiểu đoạn trích “Nỗi thương mình” để có thể khai thác đoạn trích hiệu quả

và phù hợp Có nhiều cách tiếp cận và khai thác đoạn trích khác nhau

Từ đó, tìm ra cách thức cụ thể vận dụng tri thức văn hóa vào khai tháctác phẩm văn học Với phương pháp này, chúng tôi tiến đến khai thác sâu sắcnhững giá trị văn học của đoạn trích Từ đó, có thể tìm ra phương pháp đọc

hiểu các đoạn trích trong Truyện Kiều.

3.2 Nhiệm vụ

Với mục đích đã đặt ra như trên, luận văn đã đề ra và thực hiện cácnhiệm vụ sau:

Tìm cơ sở khoa học và thực tiễn để hướng dẫn học sinh khai thác đoạn

trích “Nỗi thương mình” bằng cách vận dụng tri thức văn hóa.: phương pháp tiếp cận văn hóa đối với tác phẩm văn học, giá trị văn hóa của Truyện Kiều, thực tế học tập của học sinh đối với đoạn trích “Nỗi thương mình”.

Trang 10

Tìm ra biểu hiện của tri thức văn hoá trong tác phẩm văn học, cụ thể ở

đây là trong Truyện Kiều và đoạn trích “Nỗi thương mình” Luận văn chỉ lựa chọn những biểu hiện văn hóa trong Truyện Kiều cần thiết, có ý nghĩa cho đọc

hiểu đoạn trích mà thôi

Nhiệm vụ quan trọng nhất là tìm ra phương hướng, biện pháp cụ thể để

vận dụng tri thức văn hóa vào hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích “Nỗi thương mình”.

Cuối cùng, luận văn trình bày thiết kế giáo án thể nghiệm cho đoạn

trích “Nỗi thương mình”, trong đó vận dụng những biện pháp, cách thức vận

dụng tri thức văn hóa

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Do biểu hiện của tri thức văn hóa trong Truyện Kiều rất phong phú nên

trong phạm vi của một luận văn sau đại học chúng tôi chỉ tìm hiểu những biểu

hiện của văn hóa trong Truyện Kiều ở hai phương diện con người và ngôn

ngữ, và cũng chỉ những yếu tố có văn hóa gần gũi, có ý nghĩa cho việc đọchiểu đoạn trích “ Nỗi thương mình”

Trọng tâm của luận văn chủ yếu tìm hiểu những biểu hiện văn hóa có

trong đoạn trích “ Nỗi thương mình” Từ đó sẽ giúp ích cho việc phân tích các

giá trị văn học từ cái nhìn văn hóa

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Tổng hợp

- Phân tích

- Chuyên gia

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Tìm thêm một hướng mới cho việc đọc hiểu các đoạn trích “Nỗi

thương mình” nói riêng, các đoạn trích của Truyện Kiều

Luận văn đã chỉ ra được các cách thức khác nhau để vận dụng tri thức

văn hóa vào đọc hiểu một đoạn trích cụ thể trong Truyện Kiều cũng như trong

Trang 11

tác phẩm văn học Hi vọng, đây là những gợi ý bổ ích cho giáo viên vận dụngphương pháp tiếp cận văn hóa vào dạy học tác văn chương trong nhà trường.

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chínhluận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tri thức văn hóa trong Truyện Kiều

Chương 2: Cách thức vận dụng tri thức văn hoá trong hướng dẫn học

sinh đọc hiểu đoạn trích “Nỗi thương mình”.

Chương 3: Thiết kế giáo án thử nghiệm đọc hiểu đoạn trích "Nỗi

thương mình"

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

TRI THỨC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN KIỀU

1 QUAN NIỆM VỀ TRI THỨC VĂN HÓA

1.1 Thuật ngữ

Văn hóa là một khái niệm có nội hàm vô cùng rộng lớn Hiện nay, cóhơn khoảng 500 định nghĩa thế nào là văn hóa Chúng tôi không có ý đi tìmhiểu văn hóa là gì cũng như nghiên cứu về văn hóa mà chỉ nhằm đưa ra một

quan niệm về văn hóa để tìm hiểu những thành tựu văn hóa trong Truyện Kiều và đoạn trích “ Nỗi thương mình” để từ đó định hướng cho sự vận dụng

tri thức văn hóa vào dạy học văn

Văn hóa là nơi hội tụ mọi ý tưởng sáng tạo của con người: “văn hóa làmọi giá trị vật thể và phi vật thể do con người tạo ra” [ 15, 2] Điều đó cũng

có nghĩa là những thành tựu về vật chất và tinh thần của con người đều thuộc

về văn hóa Trong số những sản phẩm sáng tạo về mặt tinh thần, văn họcđược xem là sự kết tinh cao độ của văn hóa, xét ở cả hai phương diện: vănhọc phản ánh mọi mặt của đời sống văn hóa và văn học đạt đến đỉnh caochính là đã tạo ra các giá trị văn hóa

Thuật ngữ “tri thức văn hóa” nhằm chỉ các tri thức về văn hóa Nhữngtri thức này cung cấp cho con người những kiến thức về mọi mặt của văn hóa

Đó là văn hóa trong cách ứng xử giữa con người với nhau, con người với tựnhiên, văn hóa thẩm mĩ, văn hóa sử dụng ngôn ngữ, có văn hóa truyền thống,văn hóa hiện đại

Tri thức văn hóa chúng tôi quan tâm ở đây bao gồm những tri thức cầncho việc đọc, việc hiểu và cảm thụ tác phẩm văn chương Đó là văn hóa thểhiện trong hình tượng nhân vật ở những phương diện khác nhau của con người:ngoại hình, tính cách, tâm hồn, cái nhìn về con người Tri thức văn hóa trong

Trang 13

tác phẩm còn ở cách sử dụng tiếng mẹ đẻ, cách dùng từ, đặt câu cho hay Do

đó, tri thức văn hóa là bộ phận cần thiết để đọc hiểu tác phẩm văn chương

1 2 Tri thức văn hóa là một bộ phận của tri thức đọc hiểu

Nói như vậy có nghĩa là tri thức đọc hiểu gồm nhiều bộ phận khác nhau:tri thức về đời sống, tri thức liên ngành, tri thức nghệ thuật, tri thức văn học

Tri thức đời sống gồm tất cả những tri thức thuộc đời sống xã hội: các

sự kiện, biến cố lịch sử, các hoạt động sinh hoạt văn hóa, văn nghệ trong đờisống có ảnh hưởng đến tình cảm, cảm xúc nhà văn hoặc tạo cảm hứng, làhoàn cảnh, là cơ sở cho sự ra đời của tác phẩm

Tri thức liên ngành là những tri thức thuộc các ngành khoa học có liênquan đến văn học và cần thiết cho sự tiếp cận, tìm hiểu và nghiên cứu văn họcnhư ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, giáo dục… Trong bộ phận tri thức liên ngànhnày, quan trọng nhất và cần thiết nhất là những tri thức về ngôn ngữ, văn hóa

Sự am hiểu ngôn ngữ là yêu cầu đầu tiên để người đọc có thể đọc và hiểu tácphẩm văn chương Tri thức văn hóa cũng là cơ sở để hiểu và giải thích tácphẩm văn chương

Tri thức về các ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, âm nhạc…cũng lànhững tri thức cần thiết cho quá trình đọc văn, học văn Người xưa nói: “ Thitrung hữu họa”, “ Thi trung hữu nhạc” Trong văn chương có cả âm nhạc, hộihọa, điêu khắc, thậm chí cả điện ảnh, sân khấu Nếu người đọc không có kiếnthức về các lĩnh vực đó thì làm sao có thể hiểu tác phẩm văn học được

Tuy nhiên, các loại tri thức đọc hiểu ở trên chỉ là những tri thức cơ sở,cần thiết để đọc hiểu tác phẩm văn học mà thôi Những tri thức quan trọng vàcần thiết nhất vẫn là những tri thức văn học Tri thức văn học gồm nhiềunhóm tri thức khác nhau: tri thức về lịch sử văn học, tri thức lí luận văn học,tri thức về tác phẩm văn học Trong đó, đặc biệt quan trọng là tri thức thểloại, thi pháp Đây chính là những tri thức giúp học sinh hiểu tác phẩm, nắmđược cách thức để đi vào tác phẩm

Trang 14

Như vậy, tri thức văn hóa nằm ở bộ phận tri thức cơ sở, nền tảng, đượcvận dụng vào quá trình đọc hiểu tác phẩm văn chương Vận dụng tri thức nàycho hiệu quả để khai thác triệt để nội dung, giá trị văn học của tác phẩm làđiều cần được chú ý, quan tâm.

2 BIỂU HIỆN CỦA TRI THỨC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN KIỀU VÀ ĐOẠN TRÍCH “NỖI THƯƠNG MÌNH”

2.1 Biểu hiện của tri thức văn hóa trong Truyện Kiều

Đọc Truyện Kiều, người đọc có thể nhận ra rất nhiều biểu hiện khác

nhau của văn hoá trong đó Từ văn hoá ứng xử, văn hoá tâm linh, văn hoáthẩm mĩ, đến văn hoá trong diễn đạt, dùng từ Khuôn khổ của luận văn làvận dụng tri thức văn hóa để dạy học đoạn trích nên chúng tôi chỉ tìm hiểunhững tri thức văn hoá trong tác phẩm có tác dụng trong việc dạy học đoạntrích mà thôi

2.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật "Truyện Kiều", sự kế thừa, tiếp biến và sáng tạo văn hoá

"Hầu như các nhà nghiên cứu, bình luận Truyện Kiều đều khẳng định

Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là người tạo nên tập đại thành vềngôn ngữ của thời đại ông, là người đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc, củathời đại lên một đỉnh cao chói lọi”[32] Thực tế, các công trình nghiên cứu về

Truyện Kiều đã luôn luôn đề cao, ca ngợi những thành tựu về ngôn ngữ của tác

phẩm này Cái hay và sự hấp dẫn của ngôn ngữ Truyện Kiều là vừa hàm súc,

đa nghĩa, vừa trong sáng lại gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân, dù đó là ngườibình dân hay bác học Ngôn ngữ Truyện Kiều có sức biểu đạt cao, hấp dẫn,nâng ngôn ngữ Tiếng Việt lên một đỉnh cao mới Thành công về ngôn ngữ của

Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã khẳng định một cách đầy thuyết phục sự

phong phú và khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học

2.2.1.1 Vốn từ ngữ phong phú tạo ra khả năng biểu cảm đặc biệt

Tác giả Truyện Kiều đã tiếp biến từ ngữ của tiếng Hán, điển cố, điển

tích trong văn học Trung Quốc một cách sáng tạo, tiếp nhận lời ăn tiếng nói

Trang 15

hàng ngày cũng như ca dao, thành ngữ, tục ngữ vốn là ngôn ngữ nghệ thuậtcủa nhân dân lao động để làm cho vốn ngôn ngữ của mình thêm phong phú.

Với vốn ngôn ngữ phong phú của mình, Nguyễn Du đã tạo ra nhữngsắc thái tu từ khác nhau khi cùng nói về một đối tượng Khi chỉ về người phụ

nữ, ông có nhiều cách gọi khác nhau: khi thì ông dùng từ thuần Việt, có khi là

từ Hán Việt, có khi lại dịch từ từ Hán Việt: khi là đàn bà, khi là gái tơ, khi là phụ nữ, hồng nhan, hồng quần, khi là má hồng, má đào…Mỗi từ được sử

dụng lại có sắc thái tu từ khác nhau, gắn với sức biểu cảm riêng Nguyễn Du

khi viết về thân phận người phụ nữ thì ông dùng đàn bà :

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Ở đây Nguyễn Du dùng một từ thuần Việt, một từ thường gọi trong

nhân dân, lại đi kèm với từ “phận” đã diễn tả thấm thía cái số phận cay chua,

tủi cực của người phụ nữ trong xã hội cũ Theo quan niệm của xã hội phongkiến, cái "cao quý" phải gọi bằng từ Hán Việt, cái "tầm thường", thì gọi mộtcách nôm na, mách qué Dường như cụ Nguyễn không phải thêm bất cứ lờinào, chỉ qua cách gọi thôi cũng đã thể hiện rõ điều đau đớn đó Nhưng khi Tú

Bà mắng Kiều thì ngôn từ và sắc thái lại thay đổi theo cách khác Cách gọi têngắn với tính cách nhân vật:

Cớ sao chịu tốt một bề Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao

"Gái tơ" ở đây chỉ người phụ nữ đang còn trẻ, nhưng cách gọi như thế

không phổ biến, không phải là cách gọi của người đứng đắn Nguyễn Du để

Tú Bà gọi Thuý Kiều là "gái tơ" thì bản thân ngôn ngữ ấy đã tố cáo tính chất

con người Tú Bà một cách hết sức cụ thể, sinh động Khi ông dùng các từHán Việt thì cũng là có dụng ý tu từ rõ rệt:

Hồng quân với khách hồng quần

Đã xoay đến thế lại vần chưa tha

Trang 16

Ở đây, ông gọi ông trời là hồng quân nên ông mới gọi người phụ nữ là

“hồng quần”, hai từ có âm hưởng gần nhau mà nội dung thì đối lập, bài trừ lẫn nhau như vậy nên câu thơ tiếp theo ông mới dùng những động từ "xoay",

"vần" tách riêng ra :"Đã xoay đến thế còn vần chưa tha" Đó là sự phát triển

một cách thông minh, sáng tạo lối chơi chữ thường thấy ở ta, do đặc điểmngôn ngữ dân tộc quy định

Ở trường hợp khác, Nguyễn Du lại dùng từ Hán Việt hay dịch từ từHán sang Việt để tạo hiệu quả đối:

Rằng: hồng nhan tự thuở xưa Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu Câu sáu, tác giả dùng từ “hồng nhan” là nhằm để đối lập với từ “bạc mệnh” ở câu tám Hai từ này vốn nằm trong một kết cấu ngôn ngữ thống nhất của một tập hợp từ gần như là một thành ngữ: “hồng nhan bạc mệnh”, nhà

thơ tách riêng ra mỗi vế ở một câu nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của nó Hay ở

câu thơ sau, Nguyễn Du dùng từ “má hồng” để đối lập với “trời xanh” :

Lạ gì bỉ sắc tư phong Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

ở đây nhà thơ không gọi ông trời là "hồng quân", là "hoá nhi", là "thanh thiên" là "trời già" mà gọi là " trời xanh" thì người phụ nữ ông không gọi là

"hồng quân", " hồng nhan","đàn bà" mà gọi là “má hồng”.

Để có vốn ngôn ngữ phong phú, giàu có như vậy, đại thi hào đã sửdụng sáng tạo ngôn ngữ dân tộc, Việt hóa từ Hán và học tập ngôn ngữ nghệthuật, ngôn ngữ hằng ngày của nhân dân

Trong Truyện Kiều bộ phận ngôn ngữ chữ Hán chiếm khoảng 37%(dẫn

theo Nguyễn Lộc), một tỉ lệ không cao so với các tác phẩm văn học cùng thời.Tuy nhiên, Nguyễn Du đã sử dụng vốn ngôn ngữ Hán này một cách sáng tạo

và hiệu quả Phần lớn những từ Hán mà Nguyễn Du đưa vào đều là những từgần gũi và quen thuộc với nhân dân, những từ gốc Hán nhưng đã đi vào vốn

từ vựng chung của dân tộc Với việc dùng từ Hán như vậy thường tạo ra sắc

Trang 17

thái biểu cảm đặc biệt mà chữ Nôm không tạo ra được Còn đối với những từHán không quen thuộc thì ông đã Việt hoá bằng cách dựa vào từ Hán để tạo ra

từ mới cho Tiếng Việt Cách tạo từ mới của Nguyễn Du thường là căn cứ vào

đặc điểm âm thanh và ngữ điệu Tiếng Việt, chẳng hạn như bạch nhật thành ngày bạc, hoàng tuyền thành suối vàng, hồng điệp xích thằng thành lá thắm chỉ vàng… Có khi ông không dịch cả từ mà dịch một từ và giữ nguyên một từ gốc Hán rồi kết cấu lại theo trật tự từ tiếng Việt, như hà bôi thành chén hà, xuân miên thành giấc xuân…Trong trường hợp này từ Hán được giữ lại là từ

giàu cho ngôn ngữ văn học dân tộc, vừa làm cho ngôn ngữ Truyện Kiều gần gũi, dễ hiểu với nhân dân Tuy nhiên, Truyện Kiều của Nguyễn Du được

nhiều người nông dân đọc, thuộc lòng và yêu thích như vậy còn là bởi vì tácphẩm này đã học cách nói, cách diễn đạt của nhân dân, học ngôn ngữ nghệthuật của nhân dân qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ

Như chúng ta đã biết, Nguyễn Du đã được nuôi dưỡng bởi nhiều vùngvăn hoá, nhiều nguồn văn hoá khác nhau Ông có quê cha ở Nghệ Tĩnh,nhưng mẹ lại là cô đào ở vùng quan họ Bắc Ninh, người đã mang văn hoá,văn học dân gian thấm vào tâm hồn ông qua những bài hát ru, những khúcdân ca quan họ Từ nhỏ ông lại sống ở kinh thành Thăng Long nên trong ông

là sự kết hợp của văn hoá, phong tục nhiều vùng miền Không những thế, quê

vợ Nguyễn Du lại ở Thái Bình, ông cũng đã có thời gian sống ở đây nên cũngđược hấp thu nền văn hóa của xứ sở hát chèo này Quan trọng hơn, Nguyễn

Du đã có thời gian sống gần gũi, lăn lộn với những người dân lao động ở quê

nhà, tham gia sinh hoạt văn hoá, văn nghệ với họ Chính ông đã nói: "Thôn ca

Trang 18

sơ học tang ma ngữ" (Câu hát nơi thôn dã giúp ta biết những tiếng nói trong nghề trồng dâu, trồng gai) Thơ ca dân gian và những hình thức văn nghệ quần

chúng đã ảnh hưởng to lớn đối với sự hiểu biết và sự hình thành tài năng của nhàthơ Ảnh hưởng một cách trực tiếp và có thể nhận thấy một cách rõ ràng chính là

ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của ông Ngôn ngữ Truyện Kiều có nhiều

thành ngữ, tục ngữ, ca dao và cả cách nói của nhân dân

Nguyễn Du sớm sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ dân gian nhưng

đến Truyện Kiều đã đánh dấu một bước phát triển mới trong học tập ngôn ngữ

nghệ thuật của nhân dân Ca dao được sử dụng như một thứ chất liệu nghệthuật chứ không phải như những trích dẫn Không có câu nào ông dùng lạinguyên vẹn mà tất cả đã được nhào nặn, cấu tạo lại cho phù hợp với phong

cách của nhà thơ trong tác phẩm Truyện Kiều có nhưng câu thơ có dấu vết

của ca dao nhưng có khi khó có thể tìm ra câu ca dao gốc:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường

Nếu tách hai câu thơ này ra thì đây là một bài ca dao trọn vẹn Người đọcthấy vầng trăng ở đây không phải là vầng trăng cụ thể nữa, mà như là vầngtrăng của ca dao Và rất có thể, nhà thơ đã lấy ý tưởng tập từ câu ca dao:

Tiễn đưa một chén rượu nồng Vầng trăng xẻ nửa, tơ lòng đứt đôi

hay là câu:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?

Nhưng cũng không ai dám khẳng định chắc chắn là Nguyễn Du đã họctập từ câu ca dao nào Âm hưởng của ca dao, hình ảnh của ca dao, nhưng câuthơ lại là tâm lí, là tâm trạng, cảm xúc của nhân vật ở một thời điểm hiện tại

Cụ Nguyễn đã hoàn toàn đồng hoá ca dao, học tập ca dao một cách nhuầnnhuyễn và hiệu quả

Trang 19

Đại thi hào cũng vận dụng hiệu thường xuyên và sáng tạo thành ngữ vàtục ngữ Ông chủ yếu học tập cách tổ chức thành ngữ, tục ngữ để tạo ra nhữngthành ngữ, tục ngữ mới Có những trường hợp thật khó phân biệt đâu là thànhngữ, thành ngữ dân gian, đâu là những thành ngữ, tục ngữ do Nguyễn Du sángtạo ra Cũng có khi ông dùng nguyên cả thành ngữ dân gian, như:

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nàoNhưng Nguyễn Du chủ yếu sử dụng một cách cách tân, sáng tạo bằngcách tách tục ngữ, thành ngữ ra thành từng bộ phận và xen vào những yếu tốphụ hoặc để nhấn mạnh ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ, hoặc để làm cho nó

phù hợp với vần điệu câu thơ Chẳng hạn như thành ngữ Trong ấm ngoài êm

được ông dùng như sau:

Nàng rằng:" non nước xa khơi

Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm "

Nguyễn Du đã thực sự sáng tạo khi sử dụng ca dao, thành ngữ dângian, để cho cách diễn đạt trở nên uyển chuyển, biểu cảm hơn, phù hợp vớivần điệu và câu thơ lục bát Kì diệu hơn nữa, Nguyễn Du có thể dùng cả ngônngữ nói hàng ngày của nhân dân với những hư từ, quan hệ từ một cách "rấtthơ", rất nghệ thuật, rất biểu cảm:

Nàng rằng:"Thôi thế thì thôi Rằng không thì cũng vâng lời rằng không"

Việt hoá từ Hán, vận dụng ngôn ngữ và cách nói của nhân dân đã làmcho Nguyễn Du có vốn ngôn ngữ phong phú Với vốn ngôn ngữ phong phúnhư vậy, Nguyễn Du đã sử dụng từ ngữ rất linh hoạt, không những không bịtrùng lặp trong diễn đạt mà luôn uyển chuyển, biểu cảm, mang sắc thái tu từ

cao Ngôn ngữ trong Truyện Kiều còn gắn liền với nghệ thuật đối, gieo vần

uyển chuyển, nhịp nhàng Đặc biệt ngôn ngữ đã giúp ông miêu tả thiên nhiên,khắc hoạ nội tâm nhân vật đặc sắc cũng như chỉ cần vài nét vẽ đã có thể pháchoạ sống động chân dung nhân vật

Trang 20

2.2.1.2 Khai thác khả năng tu từ của Tiếng Việt và thể thơ lục bát

" Nguyễn Du đã kết hợp được câu thơ của mình một tư duy thơ sắc sảovới việc khai thác triệt để các khả năng tu từ của tiếng Việt và của thể thơ lụcbát Nguyễn Du chú ý đến âm hưởng của từng từ khi dùng, và kết hợp âmhưởng của các từ để tạo ra hiệu quả nghệ thuật như ý muốn”[32] Sức biểucảm của tiếng Việt với thanh điệu trầm bổng đã được kết hợp với sự nhịpnhàng, cân đối của thơ lục bát đã tạo ra hiệu quả đặc biệt cho ngôn ngữ trong

Truyện Kiều.

Thể thơ lục bát chất chứa những khả năng tu từ to lớn Khả năng nàychủ yếu thể hiện ở sự kết hợp những từ thanh bằng và thanh trắc, ở cách gieovần, cách đối và cách ngắt nhịp của thể thơ này Dưới ngòi bút của Nguyễn

Du, câu thơ lục bát thiên biến vạn hoá, linh hoạt lạ thường Câu thơ lục bátcủa Nguyễn Du không phá cách mà vẫn uyển chuyển, chuyển tải được sắcthái biểu cảm Để làm được điều đó, đại thi hào đã triệt để vận dụng nhữngchữ linh hoạt về bằng trắc: tiếng 1, 3, 5 ở câu lục và 1, 3, 5, 7 ở câu bát, để tuỳtừng trường hợp cụ thể, do nhu cầu diễn đạt, nhà thơ có thể viết những câu êm

ái với nhiều thanh bằng hoặc những câu gồ ghề, trúc trắc với nhiều thanh trắc.Khi tả cảnh mùa xuân đẹp, với âm điệu nhẹ nhàng, êm ái, câu thơ miêu tảcũng chủ yếu là những thanh bằng:

Lơ thơ tơ liễu buông mành

Nhưng khi thể hiện con đường gian truân mà nàng Kiều đang đặt chânlên thì Nguyễn Du lại dùng toàn thanh trắc, như những khó khăn đang chờ đợinàng ở phía trước:

Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh

Với sự phối hợp những câu thơ gồm nhiều thanh bằng và thanh trắc

như vậy , Nguyễn Du đã làm cho âm điệu câu thơ lục bát Truyện Kiều trở nên

phong phú và có sức biểu cảm riêng Người đọc khi bắt gặp những câu thơnày không chỉ cảm thấy sắc thái biểu cảm trong ngôn từ mà cả trong âm điệucâu thơ

Trang 21

Tuy nhiên, tài năng khai thác nghệ thuật đối trong thơ lục bát củaNguyễn Du vẫn không ai có thể so sánh nổi Đương thời, có nhiều tác giả

khác cũng sử dụng triệt để nghệ thuật đối trong câu thơ, như Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm( bản dịch của Đoàn Thị Điểm), nhưng đối ở các tác phẩm này vẫn còn nặng nề Truyện Kiều của Nguyễn Du thì ngược lại Nhờ có sử

dụng đối, câu thơ trở nên chao đưa, uyển chuyển

Đối trong Truyện Kiều chủ yếu là đối ngẫu, nghĩa là hình thức đối

xứng, cân đối nhằm tạo ra hiệu quả về ngôn từ, về âm điệu về ngữ nghĩa chứkhông phải là đối chọi Nguyễn Du đã tạo ra nhiều hình thức đối xứng khácnhau trong các cặp câu lục bát, đó có thể là đối trong từng câu thơ, trong từngcâu lục, câu bát Ông đặc biệt chú ý sự cân đối giữa hai vế câu

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm

Có khi lại là đối giữa hai dòng thơ:

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Nhưng Nguyễn Du thiên về một kiểu đối khác, dân dã hơn Ông thích táchchữ láy âm ra làm hai để tạo nên kiểu đối bình dân Đó là:

Hai em hỏi trước han sau

hoặc: Biết bao bướm lả ong lơi

Đó là kiểu đối rất thông thường và quen thuộc trong ngôn ngữ hàngngày của nhân dân Vì thế, với việc dùng cách đối này, Nguyễn Du đã làmcho ngôn ngữ của mình thêm gần gũi với nhân dân

Nhịp thơ cũng là yếu tố quan trọng để cho ngôn ngữ thơ đi vào lòng

người đọc Nguyễn Du đã có sự sáng tạo về nhịp điệu câu thơ lục bát Truyện Kiều trên cơ sở những hình thức đã có sẵn "Nguyễn Du đã biết cách khai thác

nhịp điệu uyển chuyển, dịu dàng vốn có của thơ lục bát để phục vụ cho phongcách trữ tình cho tác phẩm” ( Đặng Thanh Lê, dẫn theo Nguyễn Lộc)[32], viếtnên những câu thơ miêu tả thiên nhiên, tả tình nhẹ nhàng, tha thiết, xoáy sâuvào tâm tư tình cảm của con người:

Trang 22

Đầy vườn cỏ mọc lau thưa Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời

Tuy nhiên, nhịp trong câu thơ lục bát hơi đơn điệu, thường là sự cặpđôi hai âm tiết nên dễ dẫn đến nhịp thơ đều đều, bình thường, không nhấnmạnh hay làm nổi bật được từ trong câu Khi cần nhấn mạnh, hoặc tạo ra sắcthái tu từ độc đáo, có tính chất nhấn mạnh nội dung thì phải tổ chức lại nhịpđiệu câu thơ Nguyễn Du đã kết hợp được một cách hài hoà đặc điểm vốn có

về nhịp điệu của thơ lục bát với việc dùng cách ngắt nhịp như một biện pháp

tu từ để bộc lộ ý nghĩa, bộc lộ nội dung.Vì thế, nhịp trong câu thơ lục bát

Truyện Kiều rất đa dạng Câu sáu có cả nhịp 3/3; 2/1/3; 1/5; 2/4… Câu tám có

cả nhịp 3/1/4; 6/3; 6/2; 3/5; 5/3; 1/1/2/4…Nhịp câu thơ thay đổi như thế có tácdụng nhấn mạnh rất rõ rệt

Rằng, trăm năm, cũng từ đây( 1/2/3)

Hay: Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương.

Vần trong thơ Truyện Kiều cũng hết sức sáng tạo Nguyễn Du khôngbao giờ gieo vần để cho có vần hay phải dùng những hư từ để làm vần Vần

trong Truyện Kiều cũng có nhiều loại khác nhau Vần kết hợp với đối, với

cách ngắt nhịp, đã tạo ra sự mới mẻ, hấp dẫn cho câu thơ trong tác phẩm này.Đây cũng là biểu hiện của sự phong phú trong ngôn ngữ của bậc đại thi hào

Nguyễn Du là thiên tài trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Trong tay

cụ Nguyễn, những từ ngữ nôm na nhất, những từ ngữ không có nghĩa cũng trở

nên lung linh, giàu sắc thái biểu cảm Truyện Kiều trở thành tập đại thành về

ngôn ngữ trước hết cũng vì lẽ đó

2.2.1.3 Sử dụng sáng tạo, hiệu quả các biện pháp tu từ

Là người chú tâm xây dựng ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm củamình, Nguyễn Du sử dụng ẩn dụ như một biện pháp tu từ hiệu quả để tăngkhả năng diễn đạt, tạo ra cách nói hình ảnh, bóng bẩy cho lời thơ Vì vậy, ẩn

dụ là lối nói tu từ tương đối phổ biến trong Truyện Kiều, như giáo sư Lê Trí Viễn nhận xét:" Cách nói nhiều hình tượng trong Truyện Kiều là cách nói

bằng ẩn dụ, không có trang nào là không thấy một vài ẩn dụ"[70]

Trang 23

Thông thường, người ta sử dụng ẩn dụ để tạo giá trị nhận thức, giá trịphát hiện hoặc giá trị biểu cảm Nguyễn Du thường sử dụng ẩn dụ với mụcđích thứ hai, nghĩa là với tác dụng biểu cảm, làm cho lời thơ trở nên lung linh:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng

Những ẩn dụ mà Nguyễn Du sử dụng thường tạo cho người đọc ấntượng bất ngờ Tâm trạng nàng Kiều khi nhìn lại mối tình với chàng Kim, dẫubiết rằng mối tình đó đã trao cho em, không thể níu giữ được nữa nhưng lòngvẫn tiếc nuối, vẫn còn tơ vương Tâm lí ấy đã được diễn tả một cách tinh tế

qua hình ảnh ẩn dụ" ngó ý còn vương tơ lòng" Đây là sự sáng tạo của cụ

Nguyễn Tiên Điền trên cơ sở một hiện tượng thực tế: những ngó sen dù bịtách rời ra khỏi nhau vẫn còn vương với nhau bằng những sợi tơ mảnh Từmột hiện tượng thực tế cụ thể để thể hiện một trạng thái tâm lí tinh vi, sâu kín,

ẩn dụ này đã đem lại những liên tưởng bất ngờ cho người đọc, lại vừa diễn tảmột cách bóng bẩy, hình ảnh tâm lí nhân vật

Ẩn dụ trong Truyện Kiều có thể được vận dụng từ hình ảnh của thơ văn

cổ điển Trung Quốc Câu thơ sau :

Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông

dễ khiến người ta liên tưởng đến câu " Sơn thanh hoa dục thiên" của Đỗ Phủ.

Tuy nhiên, ông đã biến cải, thay đổi để nó trở nên phù hợp với cảm thụ nhânvật và tâm lí của người Việt Hình ảnh ngầm ví hoa lựu nở đỏ như đốm lửalàm cho hình ảnh hoa lựu trở nên cụ thể, trở thành cảm giác của nhân vậttrong thời điểm cụ thể Chúng ta có thể tìm thấy một số ẩn dụ khác như vậytrong tiểu thuyết này nhưng nhìn chung, Nguyễn Du ít sử dụng ẩn dụ này màthiên về sử dụng kiểu ẩn dụ trong đó ông "thay thế giản đơn một đối tượngmuốn biểu hiện bằng một đối tượng khác cao quý hơn, đẹp hơn, thi vị hơn vàhình ảnh này được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần"[283, 56]:

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Trang 24

Dòng thu như xối cơn sầu

Các ẩn dụ loại này thường được sử dụng lặp lại nhiều lần, đã trở thànhsáo ngữ Và như vậy nhà văn nào cũng có thể sử dụng vốn ẩn dụ này trongvốn văn học của dân tộc Vậy sự sáng tạo riêng của Nguyễn Du là ở đâu? Cáimới của Nguyễn Du khi sử dụng những sáo ngữ này là đã phát huy tác dụngcường điệu đặc trưng tình cảm của ẩn dụ Các ẩn dụ này, theo GS Trần Đình

Sử là những hiện tượng thân thiết với con người, gắn liền với "cảm quan câytrái khi nghĩ về cuộc đời":

Nặng lòng xót liễu vì hoa Cành hoa đem bán vào phường lái buôn

Các ẩn dụ này thường có tác dụng gợi cảm xúc yêu thương và đau xót.Chúng không phải ẩn dụ nhận thức mà là biểu trưng cho nhân vật và trở thànhnhững ẩn dụ biểu cảm Các hình ảnh ngọc, vàng, hương, hoa…vốn là hìnhảnh tôn quý, đáng được nâng niu và được dùng được thay thế con người khimiêu tả trong các tình huống khác nhau Điểm đặc biệt là các ẩn dụ này khôngđứng rời rạc, riêng lẻ mà được sử dụng thành một chùm, một tập hợp, thể hiệnmột hiện tượng đầy đặn và một cảm xúc toàn vẹn Khi đó, các ẩn dụ mất đi ýnghĩa sáo ngữ mà hoá thân vào đối tượng nhân vật, khêu gợi cảm xúc và conngười trong đó cảm nhận về cuộc đời một cách tượng trưng Trong đoạn trích

"Nỗi thương mình" tác giả đã sử dụng loại ẩn dụ này Vì vậy chúng tôi sẽ

phân tích kĩ các ẩn dụ ở đoạn trích này

Trong Truyện Kiều chúng ta có thể thấy nhiều ẩn dụ rất gần gũi với người Việt như: một hạt mưa rào, con ong cái kiến, kiến bò miệng chén, con tằm đến thác…Đây là các hình ảnh của tục ngữ, thành ngữ, được dùng hoà

trộn với các sáo ngữ từ thơ Đường làm nên chất lượng mới cho ngôn ngữ vănhọc Tiếng Việt Từ những hình ảnh sáo mòn, Nguyễn Du đã tạo ra nhữnghình ảnh gợi cảm, nhất là những ẩn dụ được nói ra từ sâu thẳm tâm hồn ngườiViệt Đó cũng chính là chiều sâu, sức nặng trong ngôn ngữ nghệ thuật tácphẩm này

Trang 25

Cùng với ẩn dụ, đại thi hào cũng sử dụng các điển cố để tăng tính chất

đa nghĩa và ý nghĩa biểu đạt cho ngôn ngữ thơ Điển cố vốn quen thuộc vớinho sỹ, học trò nhưng lại xa lạ và khó hiểu đối với nhân dân lao động Thế

nhưng các điển cố của Truyện Kiều là những điển cố mà người dân ở tầng lớp

nào cũng có thể hiểu được Các điển cố ông dùng thường quen thuộc, còn nếukhông quen thuộc với người đọc thì nhà thơ đặt nó vào những văn cảnh nhấtđịnh mà người đọc dù không hiểu điển cố vẫn có thể hiểu câu thơ Điển cố

trong đoạn trích :"Nỗi thương mình" là như vậy:

Biết bao bướm lả ong lơi Sáng đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh

Cuối cùng, Nguyễn Du không chỉ sử dụng ngôn từ một cách nghệthuật, làm cho nó là ngôn ngữ của đông đảo mọi người, ai ai cũng có thể hiểu

và cảm nhận mà ông còn làm cho ngôn ngữ có sức biểu cảm đặc biệt Lời thơ

là là của nhiều người, là tiếng nói chung Ông xứng đáng là nghệ sĩ ngôn từ,danh nhân văn hóa, đã sáng tạo và nâng ngôn ngữ nghệ thuật trong văn họcViệt Nam lên một đỉnh cao mới

2.2.2 Con người trong Truyện Kiều là những chuẩn mực của vẻ đẹp

Văn hoá là của con người, cho con người và vì con người, không có vănhoá nằm ngoài con người Do đó, tác phẩm văn học lấy con người làm trungtâm của sự phản ánh chính là tập trung khắc họa tính chất văn hoá của conngười Văn hoá của con người phụ thuộc vào sự phát triển của con người, thểhiện năng lực sáng tạo vô bờ bến của con người trong quá trình vươn lên làmchủ cuộc sống, vươn lên để hoàn thiện cuộc sống, nhờ đó tạo ra sự hoàn thiện

và phát triển nhân cách con người, tạo ra vẻ đẹp con người qua mỗi thời đại

2.2.2.1 Nàng Kiều là biểu tượng thẩm mĩ của người phụ nữ Việt Nam thời trung đại

Mỗi thời đại lịch sử đều có một hình mẫu lí tưởng riêng Hình mẫu lí

tưởng đó là kết tinh cao nhất về mặt văn hoá của thời đại đó Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã xây dựng nàng Kiều thành con người của vẻ đẹp,

Trang 26

một vẻ đẹp toàn diện từ bên ngoài đến phẩm chất bên trong Đó là biểu tượngthẩm mĩ của người phụ nữ Việt Nam thời trung đại với đủ Sắc, Tài, Tình.

Nàng Kiều rất đẹp, xưa nay ai cũng thừa nhận điều đó Chúng ta hãyxem cụ Nguyễn miêu tả vẻ đẹp của nàng:

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai Thúy Kiều có được vẻ đẹp tuyệt mĩ, "Sắc đành đòi một", vẻ đẹp " nghiêng nước nghiêng thành ", đến nỗi hoa phải ghen, liễu phải hờn với sắc đẹp của nàng Sắc đẹp thì "đành đòi một" còn tài cũng "họa hai" Nghĩa là tài

năng của nàng cũng hết sức, họa chăng may mới có ngang sức Đó là tài năngtrên mọi lĩnh vực:

Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương

Tài năng của nàng Kiều không chỉ là tài làm thơ, tài đánh đàn, tài vẽtranh mà còn là sự thông minh, khôn khéo trong mọi tình huống Thúy Kiều

đã trải qua nhiều nghịch cảnh, nhiều khó khăn, gặp đủ hạng người, nhưngdường như ở hoàn cảnh nào, với đối tượng nào nàng cũng nói được nhữngđiều cần nói, làm được những điều cần làm, lần nào nàng cũng thể hiện làngười đáng yêu Điều này có thể thấy rõ nhất qua cách nàng ứng xử với ThúcSinh, với Từ Hải, với Hoạn Thư… Đây là sự khiêm tốn trước một anh hùngnhư Từ Hải:

Thưa rằng:"Lượng cả bao dong Tấn Dương được thấy mây rồng mấy phen

Trang 27

Rộng thương nội cỏ hoa hèn Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau!"

Ở đây nàng đã thể hiện con mắt tinh đời, qua thái độ khiêm tốn, nhẹnhàng, thể hiện thái độ tin cậy, cũng như ngợi ca, tấm lòng hào hiệp của Từ

Hải Vì thế mà nghe những lời này, Từ đã "Nghe lời vừa ý gật đầu/ Cười rằng: tri kỉ trước sau mấy người".

Nàng cũng là người giàu tình cảm Nàng Kiều đa tình không phải vì trongcuộc đời mình, nàng đã từng yêu rất nhiều người mà trước hết nàng là ngườinhạy cảm, dễ đồng điệu với nỗi đau của con người Vào ngày thanh minh nàng

đã khóc cho người ca kĩ Đạm Tiên, một người mà nàng không hề quen biết:

Rút trâm sẵn dắt mái đầu Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần

Lại càng mê mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra

Lại càng ủ dột nét hoa Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

Trong khi Vân cười chị "khéo dư nước mắt khóc người đời xưa " thì

Kiều lại thấy thương cảm, thương xót Điều này là xuất phát từ trái tim nhânhậu, giàu tình yêu thương của nàng Trái tim này đã dẫn nàng đến quyết tâm

hi sinh tình yêu, mối tình đẹp đẽ mà nàng đã tìm đến và gìn giữ để bán mình,lấy tiền chuộc cha, làm tròn chữ Hiếu Nàng Kiều chính là hiện thân của lítưởng thẩm mĩ Nguyễn Du Ông không chỉ xây dựng nàng như một con ngườitài sắc vẹn toàn, mà cũng là người có phẩm hạnh đạo đức cao quý Nàng đãtrải qua bao nhiêu ngộ biến, nhưng bao giờ cũng vươn lên sự tốt đẹp Nguyễn

Du trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp ấy của nàng Truyện Kiều đã hình thành một

quan niệm rất độc đáo về đạo đức, về giá trị, về vẻ đẹp của người phụ nữ.Nàng Kiều là kết tinh những vẻ đẹp của con người, kết tinh trong mình sắcđẹp, tài năng, những khát khao tình cảm của người phụ nữ thời trước, những

mơ ước vươn tới cái gì đáng sống, là cao đẹp ở đời Đó là vẻ đẹp cao nhất, vẻđẹp của con người văn hóa

Trang 28

2.2.2.2 Con người ứng xử có văn hóa

Con người của Nguyễn Du trong Truyện Kiều không chỉ nhạy cảm, và

xinh đẹp mà ở đây, con người cũng ứng xử rất văn hóa Đó là những conngười hết sức đáng yêu trong quan hệ ứng xử Nét đẹp này không chỉ có ởnhững nhân vật lí tưởng như Thúy Kiều, Kim Trọng hay Từ Hải mà ở cácnhân vật khác, như Vương Ông, Thúc Ông, Thúy Vân Đó là những conngười trọng tình nghĩa, đối xử với nhau bằng tấm lòng

Trong tác phẩm này, trọng tình nghĩa trong cách ứng xử như biểu hiệnvăn hóa đặc sắc Tình yêu son sắt, thủy chung giữa trai gái, tình nghĩa yêuthương, quên mình giữa cha mẹ và con cái, tình nghĩa trả ơn và chịu ơn, tình

nghĩa quê hương xứ sở, tất cả các nhân vật trong Truyện Kiều đều đem tấm

lòng ra để đối xử với nhau Thúy Kiều khi gặp Đạm Tiên lần đầu đã như làduyên nợ, đã đối xử với nhau như những người thân thiết:

Đã lòng hiển hiện cho xem

Tạ lòng nàng lại nối thêm vài lời

Rồi mối tình Từ Hải với Thúy Kiều cũng là từ tấm lòng:

Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng

Từ Hải đến với Thúy Kiều trước hết là bằng tấm lòng, chứ không phải

vì xiêu lòng trước sắc đẹp của nàng như Thúc Sinh Đó là sự đồng cảm với

tấm lòng nhi nữ, sự trân trọng phẩm cách và sự thấu hiểu cảnh ngộ của nàng.

Còn ở nàng Kiều, tất cả đều xuất phát từ tấm lòng Ở nàng vừa có cái gì đóvừa chân thành và khiêm tốn, vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, toát ra từ tấm lòngyêu thương, dịu dàng, biết mình, biết người Do đó, lời Kiều giản dị, đi vàolòng người

Vương Ông là con người tiêu biểu cho cách ứng xử hết sức tình nghĩađặc trưng Việt Nam Khi nàng Kiều quyết định trao duyên cho Thúy Vân lànàng đã làm tất cả những gì có thể để trả nghĩa cho Kim Trọng Nàng đã dặn

lại với Vương ông: "Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi" thì dù tình yêu

Trang 29

của nàng với Kim Trọng được xây dựng ngoài vòng lễ giáo, Vương ông đã dễdàng chấp nhận:

Lời con dặn một dặn hai Dẫu mòn bia đá dám sai tấc vàng

Ông đã không ngại vượt lên mọi thành kiến mà truyền đạt lại ý nguyệncủa con:

Trót lời nặng với lang quân Mượn con em nó Thúy Vân thay lời

Gọi là trả chút nghĩa người Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên

Trong văn học Việt Nam ít có người cha già nào lại coi lời dặn của con,coi mối tình của con là thiêng liêng đến thế Bao nhiêu tôn ti trật tự, định kiếntiêu tan hết, chỉ còn lại tình thương, tình nghĩa với nhau

Trong thế giới này, những kẻ không có lòng hoặc lòng hờ hững, nông cạnhoặc độc ác cũng đều nêu cao chữ lòng, như một cách để nhập vào thế giới:

Một lòng đã biết đến ta Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.

Tấm lòng như nguyên tắc ứng xử hàng đầu của con người trong thế

giới Truyện Kiều Đây cũng chính là truyền thống ứng xử của người Việt, đã

được nâng lên ở mức độ cao hơn ở những con người của Nguyễn Du

Con người là kết tinh của văn hóa, của những gì tốt đẹp nhất Nguyễn

Du đã tạo ra những biểu tượng mới về vẻ đẹp con người, vừa là sự kế thừacon người Việt Nam truyền thống, vừa mang nét đẹp thời đại Đó chính làđóng góp to lớn của tác giả vào tổng thể văn hóa tinh thần của dân tộc

2.2.3 Hình tượng tác giả, danh nhân văn hóa

Không chỉ con người trong tác phẩm Truyện Kiều là những con người

có văn hóa mà hơn hết thảy, tác giả hiện lên cũng là con người mang tâm hồndân tộc và vươn lên tầm nhân loại

Trang 30

2.2.3.1 Một con người, một thi hào trải đời, hiểu người

Nguyễn Du là người đã trải nghiệm nhiều cảnh đời, nhiều hoàn cảnhsống khác nhau, đã từng sống ở nhiều vùng miền, từ kinh thành Thăng Longphồn hoa đô hội đến những vùng đất gió bụi như quê nhà Nghệ Tĩnh Thuởcòn nhỏ, ông đã sống ở kinh thành Thăng Long, trong một gia đình đại quýtộc nên đã được chứng kiến tận mắt cảnh sống, cuộc sống của tầng lớp quanlại Ông hiểu họ, tâm lí, tính cách và cách sống Vì thế, ông đã miêu tả sinh

động, chính xác cuộc sống những người như vậy trong Truyện Kiều, như gia

đình Hoạn bà Lớn lên, ông đã sống nhiều cảnh sống khác nhau, cao có, thấpcó: khi là người ủng hộ nhà Lê nhưng thất bại, bị truy đuổi, phải sống trốntránh ở quê vợ, khi sống như người nông dân, ngư dân ở quê hương, khi làchức quan ở miền Trung, khi là sứ thần đi sứ sang phương Bắc Chính vì đãtừng đi nhiều, sống nhiều cảnh sống khác nhau và gặp nhiều số phận, cảnhngộ khác nhau như vậy nên hình tượng tác giả Nguyễn Du thể hiện trong tácphẩm của mình là một con người trải đời và hiểu người

Nguyễn Du đã từng trải qua cuộc sống nơi kinh thành, chứng kiến sự

xa hoa của giới quý tộc, quan lại nhà Lê Ông cũng đã sống cảnh lầm than củangười lao động nghèo, nên bức tranh xã hội phong kiến ông dựng lên muônmặt, muôn màu, đủ góc độ Đó là xã hội hoàn toàn Việt Nam Xã hội ấy đủhạng người với đủ nghề nghiệp, có kẻ trơ tráo, làm nghề buôn hoa bán phấn

để sống như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh Có kẻ học trò, có kẻ sĩ, đỗ đạtrồi làm quan như Kim Trọng, Vương Quan, có tầng lớp quan lại đủ các mức

độ lớn bé, đầy đủ những người dân lương thiện bị áp bức như Vương ông, có

đủ sư sãi và cả những kẻ giả danh sư sãi Một xã hội đầy đủ với những ngườitốt, kẻ xấu

Nguyễn Du cũng là người trải đời, hiểu người Ngay từ câu thơ đầu tiên

của Truyện Kiều, ông đã khái quát:

Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trang 31

Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng Truyện Kiều là đã thể hiện rất nhiều cuộc đời khác nhau, mỗi cuộc đời, mỗi số phận ông đều hiểu tường tận và gọi tên ra một cách chính xác Đặc

biệt, ông rất am hiểu tâm lí con người Đó là tâm trạng của cô gái rơi vàohoàn cảnh cùng cực đớn đau, một mình, thương cho mình và sợ hãi chonhững ngày tháng tiếp theo:

Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ dầu dầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Trong Truyện Kiều nhân vật chính nhiều khi độc thoại nội tâm Có

những đoạn nhân vật chìm trong suy tư và tâm trạng, cảm xúc hiện lên mộtcách chân thực, sống động Vì thế mà nhiều người gọi cụ Nguyễn Tiên Điền

là nhà phân tích tâm lí Trong đoạn trích “Nỗi thương mình”, nàng Kiều cũng

ngồi đối diện với chính mình trong đêm khuya, sau những cuộc vui đã tàn, đểthương cho thân phận của mình Tố Như đã am hiểu sâu sắc những dằn vặt,đau khổ trong đời sống nội tâm của nàng Đó là bởi không chỉ ông có tấmlòng yêu thương, trân trọng nhân vật mà ông cũng hiểu con người, hiểu cảnhững điều sâu kín nhất ở tâm hồn con người

Điều đặc biệt là Nguyễn Du không chỉ hiểu con người ở những tìnhcảm, suy nghĩ thường tình mà ông còn hiểu cả những tình cảm yếu đuối củacon người:

Thân lươn bao quản lấm đầu Tấm lòng trinh bạch từ nay xin chừa

Hiểu cả những ghen tuông, những tính xấu của con người:

Trang 32

Lòng riêng riêng những kính yêu Chồng chung đâu dễ ai chiều cho ai

Nghe những lời như vậy, nàng Kiều cũng xiêu lòng

Tha cho thì cũng may đời Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen

Thúy Kiều đã truyền tha bổng cho Hoạn Thư Cũng có nhiều ngườitrách nàng đã không phạt đúng người, đúng tội, tha cho Hoạn Thư mà lạitrừng phạt với Ưng, Khuyển Có lẽ dụng tâm của Nguyễn Du ở đây không cố

ý kể việc mà là khắc họa nhân vật Hơn nữa, ông hiểu con người, hiểu cả lúcyếu lòng, lúc ngây thơ nhất Thúy Kiều cũng có lúc mủi lòng và khâm phụctrước những lời sắc sảo khôn ngoan của Hoạn Thư

Mộng Liên Đường chủ nhân đã từng nhận xét “Tố Như tử dụng tâm đãkhổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không có con mắttrông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bútlực ấy[20, 22] Thương yêu và thấu hiểu con người chính là điều người đọc cóthể dễ dàng nhận thấy ở Nguyễn Du

2.2.3.2 Con người của tình thương và lẽ phải

Truyện Kiều là “những điều trông thấy”, là suy nghĩ về cuộc đời, đồng

thời là cảm khái về cuộc đời Thế giới hiện tượng, thế giới những điều trôngthấy đã được nghệ sĩ Nguyễn Du miêu tả với tiếng nói tình cảm, tiếng nói củayêu thương và căm ghét Vì thế, tác phẩm là tiếng kêu xé ruột của con người

bị đày đoạ, nỗi đau khổ cũng như những khát vọng về nhân phẩm, tình yêu,hạnh phúc

Tấm lòng yêu thương, nhân đạo của Nguyễn Du trong tác phẩm là điềucũng dễ dàng nhận thấy như sự trải nghiệm và thấu hiểu con người ở ông vậy.Tấm lòng yêu thương đó ông dành cho Nàng Kiều, cho chàng Kim, cho TừHải cho tất cả những người hiền lành, lương thiện và bị áp bức, bị khổ đau.Ông thông cảm với những bất công mà con người phải chịu, trân trọng vớikhát vọng vươn lên những gì tốt đẹp Rõ ràng nhất là tình cảm ông dành cho

Trang 33

nàng Kiều Ông đau với nỗi đau của nàng, hạnh phúc với hạnh phúc của nàng,lúc nào ông cũng dành cho nàng sự nâng niu, quý trọng :

Thiếp danh đưa đến lầu hồng Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa

Thúy Kiều lúc này là một cô gái ở lầu xanh, thế nhưng chúng ta hãy

xem, ông gọi nơi ở của nàng là “thiếp danh đưa đến lầu hồng”, một nơi ở

sang trọng, đẹp đẽ

Nguyễn Du là con người không chỉ biết yêu thương mà còn là ngườihết sức công bằng Nguyễn Du không chỉ yêu thương, trân trọng cũng như tintưởng ở phẩm chất tốt đẹp ở những con người nghèo khổ, bất hạnh mà ôngcòn tìm cách mang lại công bằng cho họ Từ Hải là con người ông dành nhiềutình cảm yêu thương, cũng là người lí tưởng, con người ông mơ ước Từ xuấthiện đã làm thay đổi cuộc đời nàng Kiều Không những chỉ cứu nàng thoátkhỏi cuộc sống lầu xanh mà còn giúp nàng trả ơn, báo oán :

Nàng từ ân oán rạch ròi

Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng

Sau đó là cảnh trừng phạt được nêu ra một cách ngắn gọn:

Lệnh quân truyền xuống nội đao Thề sao thì lại cứ sao gia hình

Máu rơi thịt nát tan tành

Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời

Nguyễn Du đã không đi vào tả chi tiết cảnh hành hình như Thanh Tâmtài nhân mà dành những dòng thơ để nêu cao chính nghĩa Nội dung này đượcthể hiện qua ngôn ngữ nhân vật :

Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao Hại nhân nhân hại sự nào tại ta”

và và lời bình luận trữ tình ngoại đề của tác giả:

Cho hay muôn sự tại trời Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta

Trang 34

Những phường bạc ác tinh ma Mình làm mình chịu kêu mà ai thương

Nguyễn Du đã mượn triết lí thiên mệnh, triết lí nhân quả “hại nhânnhân hại” để nêu ra lẽ công bằng Đây là triết lí của người dân lao động, làquan niệm sống của họ:

Ác giả ác báo vần xoay Hại nhân nhân hại, xưa nay lẽ thường.

(Ca dao)Nguyễn Du là người công bằng và luôn bênh vực cho những ngườihiền, những người lương thiện Vì thế mà những người lao động nghèo cảm

thấy Truyện Kiều gần gũi với tâm hồn, tình cảm của họ Con người Nguyễn

Du gần gũi với con người, cảm thông và yêu thương, chia sẻ với họ, hiểu sâusắc những khát vọng, ước mơ của họ Vì thế mà ông có thể viết lên được “Tậpđại thành” cho mọi thế hệ, mọi tâm hồn Việt Nam

2.2 Nội dung văn hóa trong đoạn trích “Nỗi thương mình”

2.2.1 Ngôn ngữ thể hiện tài tình nội tâm nhân vật nhờ vận dụng hiệu quả các biện pháp tu từ

Nói về nàng Kiều, nhân vật yêu thương của mình, lúc nào nhà thơ cũngdành những tình cảm yêu thương, trân trọng nhất Thế nhưng một hiện thựcphũ phàng đang tồn tại mà nhà thơ không thể né tránh, là nàng Kiều đang phải

ở lầu xanh, tiếp khách Làm thế nào vừa phải nói ra sự thật ấy, vừa tránh làmxấu hình ảnh của nàng? Nguyễn Du đã chọn cách nói ước lệ, nói bằng điển

cố Nhưng ngôn ngữ đó cũng phải dễ hiểu với công chúng Nguyễn Du quả là

bậc thầy về ngôn ngữ khi đã làm cho ngôn ngữ Truyện Kiều vừa gần gũi, dễ

hiểu với công chúng, vừa giàu hình ảnh:

Biết bao bướm lả ong lơi Cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm

Dập dìu lá gió cành chim Sáng đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh

Trang 35

Câu thơ có sử dụng nhiều điển cố khác nhau: Dập dìu lá gió cành chim, Tống Ngọc, Trường Khanh đều mượn từ văn học Trung Quốc và không

quen thuộc với người Việt, Nhưng đọc câu thơ lên, dù không hiểu câu thơ

“Dập dìu lá gió cành chim” rút ra từ câu thơ của nàng Tiết Đào đời Đường,

dù không biết Tống Ngọc, Tràng Khanh là ai, người đọc vẫn có thể hiểu rungcảm được Đó là tài năng dùng ngôn ngữ của Nguyễn Du Ông đã đặt nhữngđiển cố vào ngữ cảnh, vào câu thơ để người đọc có thể thấy hết ý nghĩa câuthơ mà không cần hiểu điển cố Hơn thế, người đọc còn thấy được tình cảmcủa tác giả dành cho nhân vật của mình

Để làm nổi bật tình cảnh hiện tại xót xa, đau đớn của nàng Kiều,Nguyễn Du đã sử dụng hiệu quả nghệ thuật đối trong đoạn trích Có nhiềudạng đối khác nhau được sử dụng, chủ yếu là đối xứng:

Đó là đối xứng trong vế thơ “ bướm lả / ong lơi; lá gió / cành chim; dày gió / dạn sương; bướm chán / ong chường; mưa Sở / mây Tần; gió tựa / hoa kề Nhà thơ đã hết sức sáng tạo khi cấu tạo lại ngôn ngữ, khi chẻ

đôi những cụm từ thông thường tạo thành quan hệ đối xứng nhằm nhấn mạnh

cao hơn nội dung của cụm từ: “ trong cụm từ ong bướm lả lơi”tác giả tách hai yếu tố bướm và ong, lả và lơi ra và đặt ở thế đối xứng, thân phận bẽ bàng của

người kĩ nữ được tô đậm hơn, nhấn mạnh hơn, gây cảm giác xót xa hơn

Trong khuôn khổ của một câu thơ, tiểu đối cũng có giá trị biểu đạt rất lớn

- Khi tỉnh rượu / lúc tàn canh

- Nửa rèm tuyết ngậm / bốn bề trăng thâu

Các thời điểm khác nhau của thời gian, các giới hạn khác nhau củakhông gian được đặt ở hai vế của câu thơ, khiến không gian như rộng ra, thờigian như dài hơn, và đối xứng với nhau Sự việc và con người được nhấnmạnh, đó là nỗi cô đơn, dằn vặt kéo dài trong không gian và thời gian

Đối xứng giữa hai câu thơ lục - bát kết hợp với phép sóng đôi gợi ranhiều ý nghĩa cho câu thơ:

Trang 36

- Khi sao phong gấm rủ là Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

- Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân

Các câu thơ đối nhau tạo ra sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, quá khứ

êm đềm, tốt đẹp bao nhiêu thì hiện tại đắng cay, chua xót bấy nhiêu Sự đau xótkhông chỉ là cảm giác mà có thể thấy được, có thể so sánh được, nỗi đau cả vềthể xác và tinh thần đang làm nàng Kiều tự dằn vặt, tự thương mình

Các hình thức đối xứng này có chức năng khác nhau tùy vào mỗi cặpđối nhưng đều có tác dụng nhấn mạnh ý cần nói, tạo điều kiện nhìn nỗi niềmthương xót thân phận từ nhiều phía, nhiều góc nhìn khác nhau Trong khuônkhổ hết sức cô đọng của câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã khai thác tối đa cáckhả năng tu từ có thể để tạo ra giá trị biểu đạt và biểu cảm cao nhất

Cùng với nghệ thuật đối xứng, đoạn trích cũng là sự thành công trongnghệ thuật vận dụng khả năng biểu cảm của ngôn ngữ Tiếng Việt, thể hiệnqua việc nhà thơ khai thác láy âm, điệp âm và nghĩa bóng của từ

Điểm đặc biệt khi Nguyễn Du sử dụng nghĩa ẩn dụ ở đây là tác giả khôngdùng ẩn dụ như những hình ảnh riêng lẻ mà là một hệ thống, một xâu chuỗi cáchình ảnh ẩn dụ Các hình ảnh ẩn dụ liên tiếp nhau tạo nên sự dồn nén tình cảm:

Biết bao bướm lả ong lơi Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm

Dập dìu lá gió cành chim Sáng đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Giật mình, mình lại thương mình xót xa

Khi sao phong gấm rủ là Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?

Trang 37

Trong đoạn thơ trên có rất nhiều ẩn dụ :“ bướm lả ong lơi”, “ Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm”, “lá gió cành chim”, “phong gấm rủ là”,

“hoa giữa đường”, “dày gió dạn sương”, “bướm chán ong chường” Ở đây

là nàng Kiều đang tự ý thức, tự nói về hoàn cảnh hiện tại của mình Baonhiêu nỗi đau trong từng ẩn dụ Tất cả đã tạo nên thực tế phũ phàng, bẽ bàng

mà Thúy Kiều đang phải chịu đựng Các hình ảnh ẩn dụ càng dày đặc thì thực

tế đau lòng càng hiện ra rõ ràng, nỗi đau của nhân vật cũng vì thế mà cụ thểhơn, sự ý thức của nhân vật càng lớn, chúng ta lại càng trân trọng và cảmthông với nàng hơn Nguyễn Du rõ ràng đã có dụng ý, ông không chỉ muốnlàm rõ sự ý thức của nhân vật, mà ông còn muốn nhân vật của mình được yêuthương, trân trọng, nên ông chọn cách diễn đạt thông qua ẩn dụ chứ khôngphải tả thực, đã làm cho tâm trạng, ý thức của nhân vật nổi lên mà vẫn không

trần trụi, đáng sợ Đoạn thơ cũng sử dụng biện pháp tu từ điệp từ: “Giật mình, mình lại thương mình xót xa” Ba từ mình trong một câu thơ: từ mình thứ nhất

là sự tự ý thức, chữ mình thứ hai là chỉ bản thân, còn chữ mình thứ ba là con người của Thúy Kiều hiện tai, sống trong cảnh “sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh” Câu bát được cắt nhỏ thành 4 với nhịp 2/2/2/2, như chia con

người Kiều thành nhiều mảnh, để tự thương cho chính bản thân mình Từ láy

“xót xa” ở cuối câu thơ là sự xót xa của nhân vật, cũng là sự xót xa của tác

giả, của người đọc

Cuối đoạn là những câu hỏi tu từ, những điệp từ, như láy sâu vào nỗiđau, nỗi chán chường của nhân vật:

- Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?

- Vui là vui gượng kẻo mà

Ai tri âm đó mặn mà với ai?

nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ở cuối đoạn nhấn mạnh thêm, làm sâu sắc thêmnỗi lòng nhân vật Phép điệp từ ngữ ở đây cùng sự sáng tạo trong nhịp câu thơlục bát đã làm nỗi đau, sự ý thức của nhân vật thêm sâu sắc hơn

Trang 38

Một đoạn thơ ngắn nhưng đã thể hiện tài khai thác khả năng biểu đạt,biểu cảm của ngôn ngữ Tiếng Việt và thể thơ lục bát trong việc diễn tả tìnhcảm nội tâm của nhân vật của tác giả Đọc đoạn thơ, người đọc không cảmthấy ác cảm với hoàn cảnh của nàng Kiều mà thêm trân trọng, thông cảm, yêuthương nàng hơn.

2.2.2 Nàng Kiều trong sáng, tốt đẹp, đáng trân trọng

Như trên chúng tôi đã chỉ ra, nàng Kiều là người luôn luôn ý thức vềmình và luôn vươn đến sự hoàn thiện, luôn vươn đến hoàn cảnh tốt đẹp hơn.Trong đoạn trích này, phẩm chất tốt đẹp đó càng thể hiện cao độ, trở thành nétđẹp văn hóa ở con người nàng

Rơi vào vũng bùn nhơ, sống cảnh người kĩ nữ, nàng thương mình,thương thân, xót thân vì phải chịu cảnh như vậy:

- Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh Giật mình, mình lại thương mình xót xa.

- Khi sao phong gấm rủ là Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

Đối lập giữa quá khứ và hiện tại, tiếc cho quá khứ êm đẹp và ý thức rõhoàn cảnh thực tế phũ phàng, câu thơ nghe như một tiếng thở dài Không chỉthương mình, nàng còn thấy sợ chính bản thân mình và cả tiếc cho mình.Nàng đã tự ý thức về phẩm giá, nhân cách bản thân, ý thức về quyến sống củabản thân Khi đã ý thức rõ về điều đó, nàng đau khổ tột độ, chán chường với

thực tại của mình: xưa thì trong sáng, tốt đẹp mà giờ sao chỉ như hoa tan tác giữa đường, dày gió dạn sương, bướm chán ong chường :

- Mặt sao dày gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân

Đau khổ vì thực tại, buồn và bẽ bàng, xa lạ với cảnh sống lầu xanh,nàng cũng cảm thấy xa lạ với cả những thú vui tao nhã Niềm vui có được

cũng chỉ là vui gượng, chơi để giết thì giờ, để cho qua:

Trang 39

Đòi phen nét vẽ câu thơ Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa

Vui là vui gượng kẻo mà

Ai tri âm đó mặn mà với ai?

Nàng Kiều thấy rất rõ hoàn cảnh hiện tại bẽ bàng của mình, muốn đượcthoát khỏi cảnh sống tủi hổ Thương mình chính là nàng đang ý thức về phẩmgiá, nhân cách của mình, cũng chính là nàng đang vươn tới cuộc sống tốt đẹphơn Vì thế, dù trải qua bao sóng gió, sống trong cảnh bùn nhơ, Kim Trọng,người tình trăm năm của nàng vẫn trân trọng, kính yêu nàng:

Như nàng lấy hiếu làm trinh Bụi nào cho đục được mình ấy vay ?

Nàng Kiều dù bị đẩy xuống đáy sâu của cuộc sống, chịu đựng trămngàn nỗi ê chề, nhục nhã nhưng nàng vẫn luôn ý thức về nhân phẩm, giá trịcủa riêng mình Tâm hồn nàng là cao thượng, trong sáng dù sống ở cảnh bùn

lầy Nỗi thương mình của nàng đã nâng cao nhân cách của nàng, giúp nàng

được yêu quý, trân trọng Thương mình cũng là nền tảng vững chãi của lòngthương người Đó là biểu hiện văn hóa tốt đẹp của con người trong xã hội

2.2.3 Tấm lòng yêu thương, trân trọng nàng Kiều của Nguyễn Du

Trong văn học Việt Nam, hiếm thấy một tác giả nào yêu thương, trântrọng nhân vật như Nguyễn Du Ông ca ngợi nàng Kiều khi nàng trong hoàncảnh tốt đẹp, trong sáng, là điều dễ hiểu, nhưng ngay cả khi nàng ở trong chốnbùn nhơ, vấy bẩn, ông vẫn trân trọng nàng như thế Nói về hoàn cảnh kĩ nữtiếp khách chốn lầu xanh của nàng Kiều, Nguyễn Du đã không tả thực nhưThanh Tâm Tài Nhân mà ông nói một cách ước lệ:

Biết bao bướm lả ong lơi Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm

Dập dìu lá gió cành chim Sáng đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh Bằng bút pháp ước lệ, dùng các hình ảnh: “bướm ong”, “cuộc say”,

“trận cười”cùng những điển tích “Tống Ngọc”, “Trường Khanh” , tác giả đã

Trang 40

vừa làm rõ được hoàn cảnh thực tế phũ phàng của nàng Kiều, không né tránh

số phận thực tế của nhân vật, mặt khác, vẫn giữ được chân dung cao đẹp củanhân vật Kiều Cách miêu tả như thế cho thấy thái độ trân trọng, nâng niunhân vật của mình ở Nguyễn Du

Thái độ ứng xử văn hóa, đầy chất nhân văn như vậy thống nhất trongđoạn trích cũng như toàn bộ tác phẩm Không chỉ trân trọng nàng, mà Nguyễn

Du đã thực sự hiểu và trân trọng tấm lòng trong sạch ấy của nàng Kiều Bằngcách để cho Kiều tự độc thoại nội tâm, tự dằn vặt mình trong đêm, Nguyễn Du

đã để cho nhân vật tự thanh minh, tự bộc lộ vẻ đẹp bên trong của mình.Nguyễn Du đã không né tránh thực tại nghiệt ngã, nhưng nhà thơ nhân đạo, bậc

thiên tài “có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân ) đã

đề cao nhân cách của Kiều, phẩm giá của Kiều, bằng chính việc tả nỗi buồn,nỗi đau khổ của nhân vật trong cảnh sống bùn nhơ

3 TRI THỨC VĂN HÓA CÓ VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG ĐỌC HIỂU

TRUYỆN KIỀU

3.1 Tri thức văn hóa là chìa khóa hiểu giá trị tác phẩm văn học

3.1.1 Văn học là vấn đề con người

Cũng giống như tất cả các ngành khoa học và nghệ thuật khác, vần đềtrung tâm của văn học là vấn đề con người Con người vừa là đối tượng phảnánh, vừa là đối tượng thưởng thức, hướng đến của tác phẩm văn học và nhàvăn Tuy nhiên, con người trong tác phẩm văn học không đơn thuần là conngười như nó vốn có, mà đó là con người liên tục vươn tới sự hoàn thiện,ngày càng tốt đẹp hơn Đó chính là con người văn hóa

Ở mỗi tác phẩm văn học cụ thể, vấn đề con người lại được đặt ra mộtcách khác nhau Trong đó, con người có thể được nhìn nhận như những conngười văn hóa hoặc con người phi văn hóa, phản văn hóa Đó là con người ởmột thời đại nhất định, gắn liền với những chuẩn mực về thẩm mĩ, ứng xử,gắn với thế giới tinh thần, tâm linh, tình cảm của thời đại đó Con người mangđược vẻ đẹp, chuẩn mực của thời đại đó chính là con người văn hóa, conngười tiến bộ Ngược lại, con người mang cái xấu, lạc hậu, là con người phản

Ngày đăng: 18/12/2014, 02:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Nguyên Cẩn - Tính văn hoá của tác phẩm văn học, Tạp chí khoa học- Đại học Sư phạm Hà Nội, số 2/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính văn hoá của tác phẩm văn học
4. Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc (Chủ biên), Đặng Thanh Lê...- Văn học 10, tập 1- Phần văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục, H. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học10, tập 1- Phần văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Nguyễn Viết Chữ - Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương ( theo loại thể), Nxb ĐHQG Hà Nội, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương ( theoloại thể)
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
8. Nguyễn Văn Dân - Tiếp cận văn học bằng văn hoá, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học bằng văn hoá
9. Trịnh Bá Dĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh – Nguyễn Du, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du, về tác gia vàtác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Trần Thanh Đạm- Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Giáo dục, H.1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Nhà XB: NxbGiáo dục
12. Hà Minh Đức - Lý luận Truyện Kiều (Nguyễn Du), Nxb Hà Nội, 1993 13. Bùi Thị Thu Hà, Vận dụng phương pháp giảng bình vào dạy học cácđoạn trích Truyện Kiều ở nhà trường PT, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Truyện Kiều (Nguyễn Du), "Nxb Hà Nội, 199313. Bùi Thị Thu Hà, "Vận dụng phương pháp giảng bình vào dạy học các"đoạn trích Truyện Kiều ở nhà trường PT
Nhà XB: Nxb Hà Nội
14. Nguyễn Thúy Hằng, Hướng dẫn tìm hiểu trích đoạn “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều”cho học sinh THPT, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, H.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tìm hiểu trích đoạn “Thúc Sinh từ biệtThúy Kiều”cho học sinh THPT
15. Nguyễn Trọng Hoàn - Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, H.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Nguyễn Văn Hoàn - Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, Tạp chí Văn học, tháng 1/1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều
17. Nguyễn Thanh Hùng - Bản chất dạy văn ở nhà trường, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 11/ 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất dạy văn ở nhà trường
18. Nguyễn Thanh Hùng - Văn học tầm nhìn biến đổi, Nxb Văn học, 1996 19. Nguyễn Thanh Hùng - Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục, 2002 20. Nguyễn Thanh Hùng - Hiểu văn, dạy văn, Nxb Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học tầm nhìn biến đổi, "Nxb Văn học, 199619. Nguyễn Thanh Hùng - "Đọc và tiếp nhận văn chương, "Nxb Giáo dục, 200220. Nguyễn Thanh Hùng - "Hiểu văn, dạy văn
Nhà XB: Nxb Văn học
21. Nguyễn Thanh Hùng, Đọc hiểu và đọc hiểu tác phẩm văn chương, Tài liệu bồi dưỡng hè , 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và đọc hiểu tác phẩm văn chương, Tàiliệu bồi dưỡng hè
22. Hoài Hương - Truyện Kiều những lời bình, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều những lời bình
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
23. Nguyễn Thị Thanh Hương- Về một cách tiếp cận tác phẩm văn chương trên phương diện các phạm trù ý, Tạp chí văn học số 1/ 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cách tiếp cận tác phẩm văn chươngtrên phương diện các phạm trù ý
24. Nguyễn Thị Thanh Hương- Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học, Nxb Giáo dục, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ởtrường phổ thông trung học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
25. Nguyễn Thị Thanh Hương – Để dạy và học tốt tác phẩm văn chương (phần Trung đại) ở trường phổ thông, Nxb Đại học sư phạm, H.2006 26. Trần Đình Hượu - Nho giáo và văn học Việt Nam trung - cận đại, NxbVăn hoá thông tin,1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để dạy và học tốt tác phẩm văn chương(phần Trung đại) ở trường phổ thông, "Nxb Đại học sư phạm, H.200626. Trần Đình Hượu - "Nho giáo và văn học Việt Nam trung - cận đại
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
27. Lê Đình Kỵ - Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb Khoa học xã hội, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
28. Lê Đình Kỵ - Truyện Kiều và văn hóa nghĩa tình Việt Nam, Tạp chí văn học, số 8/ 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và văn hóa nghĩa tình Việt Nam
29. Đặng Thanh Lê - Giảng văn Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006 30. Lê Xuân Lít - Cái khó khi dạy và học Truyện Kiều, Báo giáo dục và thờiđại, tháng 12/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn Truyện Kiều, "Nxb Giáo dục, Hà Nội, 200630. Lê Xuân Lít - "Cái khó khi dạy và học Truyện Kiều
Nhà XB: Nxb Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   ảnh   nhân   vật   ông - lịch sử tiếp nhận và cách thức hướng dẫn dạy học truyện kiều ở thpt
nh ảnh nhân vật ông (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w