1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhạc điệu trong thơ xuân diệu trước cách mạng tháng tám (khảo sát qua hai tập thơ thơ thơ và gửi hương cho gió)

110 2,6K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 552,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết của Nguyễn Thị Phương Thuỳ về “Vần, thanh điệu, nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ” Tạp chí Ngôn ngữ, Số 11 cũng có những nội dung nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhạc điệu như

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong dòng chảy của lịch sử văn học nước nhà, phong trào Thơ mớinổi lên như một hiện tượng văn học độc đáo với nhiều đóng góp quý báu,làm thành cuộc “cỏch mạng” cho cả một nền thơ Khi bàn đến Thơ mới, cácnhà nghiên cứu thường biết đến Phan Khôi - vị tướng quân hăng hái lần đầu

tiên xướng lá cờ có tên Tình già để tiến công vào thành trì thơ cũ, họ cũng

biết tới Thế Lữ như “vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ ViệtNam”, vị chủ soái đã dựng thành nền Thơ mới độ nó vừa ra đời Nhưngtrong lòng độc giả yêu thơ nói chung, Xuân Diệu là một cái tên mà khi nhắcđến Thơ mới người ta không khi nào quên nhắc tới Với một khối lượng sángtác lớn và một chất lượng sáng tác hầu như đã thâu tóm được hết những tinhhoa của nền Thơ mới, Xuân Diệu không chỉ là một thành viên tích cực màcòn là linh hồn của cả một trào lưu thơ, châu tuần quanh đó là nhiều phongcách thơ khác, Xuân Diệu hoàn toàn xứng đáng với vai trò là “nhà thơ đạibiểu đầy đủ nhất cho thời đại”(Hoài Thanh)[47;71] Nghiên cứu về XuânDiệu, do đó không chỉ góp phần làm sáng rõ những vấn đề về một phongcách thơ tiêu biểu, một thế giới thơ đa dạng, mà còn soi chiếu được nhiềuhiện tượng văn học khác

Từ độ chàng trai trẻ họ Ngụ trỡnh làng Thơ Thơ, Thế Lữ đã dự cảm về

sự xuất hiện của một tài thơ, rồi Gửi hương cho gió ra đời như một sự khẳng

định Cũng từ bấy đến nay, ngót ba phần tư thế kỷ, Thơ mới nói chung vàthơ Xuân Diệu nói riêng là một mảnh đất màu mỡ đã không ít người cày xới.Nhưng ai dám chắc rằng Xuân Diệu đã được tìm hiểu thấu đáo tới mứckhông còn bật ra được vấn đề gì mới mẻ? Ai dám khẳng định đề tài về XuânDiệu đã là mảng đề tài xưa cũ? Mạnh dạn suy nghĩ theo hướng đó, chúng tôichọn đề tài “Nhạc điệu trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám

Trang 2

(Khảo sát qua hai tập thơ: Thơ Thơ và Gửi hương cho gió” làm đề tài nghiên

cứu cho Luận văn của mình

Xuân Diệu là một tác gia lớn, không chỉ được giảng dạy nhiều ở bậcPhổ thông mà ở cả Đại học và sau Đại học Không chỉ những người còn trẻmới thích và “mờ” thơ Xuân Diệu, đã có không ít người làm thơ tình, nhưngnhiều thế hệ thanh niên vẫn tìm đến thơ Xuân Diệu để gửi gắm tình cảm vớingười yêu Vì lẽ đó, nghiên cứu nhạc điệu thơ Xuân Diệu trước Cách mạngtháng Tám - hành trình thơ đã làm nên tên tuổi của ông và để lại dấu ấn đậmnét trong lòng độc giả - sẽ giúp cho quá trình phân tích và thẩm bình thơ ôngđược triệt để hơn, từ đó phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy và nghiên cứutác gia này

Chọn một tác gia quá nổi bật và đó quỏ quen thuộc, chúng tôi gặp phảinhiều thách thức hơn là thuận lợi Nhưng cũng từ những thách thức đó mà

mở ra cho chúng tôi không ít cơ hội Vả chăng, trước một đối tượng đã cũnhưng chúng ta biết tiếp cận theo hướng mới, biết tìm ra những vấn đề mới

để nghiên cứu thì thành quả đạt được lại càng đáng trân trọng

2 Lịch sử vấn đề

Trước nay, khi nghiên cứu Xuân Diệu người ta hay đi tìm cái “mớinhất trong các nhà thơ mới” nơi ông ở phương diện nội dung, những tìm tòi

về hình thức thơ Xuân Diệu chưa được chú ý một cách thích đáng

Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh và Hoài Chân đó có những đánh giárất xác đáng về nội dung và phong cách thơ Xuân Diệu, một hồn thơ “thiếttha, rạo rực, băn khoăn”, riêng phần hình thức các ông chỉ tập trung giớithiệu về các thể thơ đã định thể và hẹn “một dịp buồn rầu hơn chúng ta sẽthảo luận kỹ về luật Thơ Mới, về những vần gián cách, vần ôm nhau, vầnhỗn tạp, về ngữ pháp, cú pháp và nhiều điều rắc rối khác nữa”[47;67] Sau

Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại Việt Nam cũng chỉ mới

dừng lại ở nhận xét “Xuõn Diệu mới nhất, đằm thắm và nồng nàn nhất trong

Trang 3

tất cả thơ mới” Sau này, các bài viết của Nguyễn Đăng Điệp [19], NguyễnHoành Khung, Nguyễn Quốc Tuý, Đoàn Thị Đặng Hương [39]… cũngkhông đi ra ngoài những khái quát trên bình diện nội dung thơ Xuân Diệu.Đến mãi thập kỷ 90 của thế kỉ trước chúng ta chứng kiến sự xuất hiện của

hai công trình nghiên cứu với quy mô Luận án của Lý Hoài Thu (Thơ Xuân

Diệu trước Cách mạng tháng Tám) và của Phạm Quang Hưng (Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước 1945) cùng thực hiện năm 1995 Hai công

trình kể như đã đem lại cho ta một cái nhìn chi tiết hơn, hệ thống hơn về thơXuân Diệu Nhưng về phần hình thức thơ với những giá trị nhạc điệu của nóthì cả hai công trình tuyệt nhiên chưa đề cập hoặc mới chỉ đề cập mà chưaphân tích thấu đáo

Trước nay, những nghiên cứu về phương diện hình thức câu thơ mớiXuân Diệu không nhiều và cũng không thật đầy đủ, thường mới chỉ dừng lại

ở những lời nhận định, thẩm bình mà chưa đi sâu phân tích một cách hệthống Tuy nhiên, có thể tập hợp những ý kiến mang định hướng nghiên cứu

ấy thành hai giai đoạn trước và sau năm 1945

a/ Những nghiên cứu từ năm 1945 trở về trước

Ngay từ năm 1937, khi giới thiệu với làng thơ “Một thi sĩ mới: Xuân

Diệu” là Thế Lữ đã giới thiệu một “điệu thơ êm dịu và ái ân, thiết tha và bồng bột” “Thơ của ông - Thế Lữ nói - không phải là “văn chương” nữa, đó

là lời nói, là tiếng reo vui hay tiếng năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là

những tình ý rạo rực biến lẩn trong những thanh âm (tôi nhấn mạnh –

BHY)”[39;8]

Năm 1938, cũng lại chính Thế Lữ đã dành những tình cảm dạt dào khi

đề tựa cho Thơ Thơ - tập thơ đầu tay đánh dấu sự xuất hiện và toả sáng của

Xuân Diệu trên thi đàn lãng mạn: “Người ấy chắc chắn không cần phải quáđợi chờ, van xin, vì lẽ nào cõi đời còn mãi mãi lạnh lùng vô tư, khi đã nghe

tiếng đàn si mê (tôi nhấn mạnh – BHY) của Xuân Diệu” [39;15] Cũng với

Trang 4

sự xuất hiện của tập thơ này, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã khẳng định:

“Cây đàn muôn điệu thực sự lên tiếng từ đõy” [39;191].

Năm 1942, khi giới thiệu Xuân Diệu trong hợp tuyển Thi nhân Việt

Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân qua tập Thơ Thơ vừa xuất bản đã có nhận

định rằng: Cái làm nên sức hấp dẫn của Xuân Diệu không phải ở lối “y phụctối tõn” của một “hỡnh thức phương xa”, hay lối dùng chữ, đặt câu quỏ Tõy

cựng những ý tứ ông mượn trong thơ Pháp, mà chính “cỏi dáng dấp yêu

kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam đã quyến

rũ ta”[47;162-163]

b/ Những nghiên cứu sau năm 1945

Trong một bài viết tưởng nhớ về Xuân Diệu, Anh Ngọc đã phỏng theolời của M.Goorki viết về ấxờnhin để nói lên sự kính trọng của mình với bậc

đàn anh trong làng văn nghệ: “Xuõn Diệu là một cây đại phong cầm do tạo

hoá tạo nên để ca ngợi cõi đời này”[39;204] Trong lòng bạn bè quốc tế, thơXuân Diệu dù không được cảm thụ một cách thật đầy đủ nhưng cũng đủ để

họ có được những nhận định rất xác đáng về hồn thơ ông - một hồn thơ đầy

nhạc: “Xuõn Diệu là rễ cây và gió, là đất và nhạc….Xuõn Diệu như một

người hát dạo của nhân dân trong thời kì hiện đại… Những câu thơ của anh

là nhạc - một nhạc điệu nhẹ nhàng, tinh tế, rất uyên bác và gọt giũa rất kỡ

cụng…cỏc bản dịch công phu nhất cũng chỉ có thể miêu tả một phần rất nhỏ

nhạc điệu của thơ anh, tuy vẫn vang vọng tới trái tim của mọi người trờn trỏi

đất”(Mirõy Găngxen - Pháp) [39;224-225].

Gần đây hơn, năm 1996, Luận án của Lê Tiến Dũng với đề tài “Thơ

Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945 trong quá trình cách tân thơ Việt Nam” đã

tổng hợp nhưng cách tân thơ Xuân Diệu trên hai phương diện hình thức vànội dung Công trình lần đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu các bình diện “nhịpđiệu”, “thanh điệu”, “vần” trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945 [15]

Trang 5

Năm 2002, bài viết Bằng trắc thơ bảy chữ Xuân Diệu của Lý Toàn Thắng xuất hiện trên Tạp chí Ngôn ngữ (số 4) đề cập đến vấn đề thanh điệu

trong thể thơ bảy chữ của Xuân Diệu [48]

Bài viết của Nguyễn Thị Phương Thuỳ về “Vần, thanh điệu, nhịp điệu

trong câu thơ mới bảy chữ” (Tạp chí Ngôn ngữ, Số 11) cũng có những nội

dung nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhạc điệu nhưng đối tượng là câu thơmới bảy chữ nói chung, trong đó có thơ mới bảy chữ của Xuân Diệu [50]

Những tìm tòi trên đây tuy chưa thật đầy đủ, nhưng chúng tôi có thểkhẳng định rằng, đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cáchthật đầy đủ, có hệ thống và khoa học về vấn đề nhạc điệu trong thơ mớiXuân Diệu ở những khía cạnh hình thức tổ chức tác phẩm

Nghiên cứu nhạc điệu trong thơ Xuân Diệu trên cơ sở tham khảonhững lý thuyết về Âm nhạc, về Ngôn ngữ và Văn học, người viết hy vọng

sẽ góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu thơ Xuân Diệu Thiết nghĩ, người làmkhoa học cũng chỉ mong có những bước tiến nhỏ trên con đường nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Với việc nghiên cứu đề tài “Nhạc điệu trong thơ Xuân Diệu trước

Cách mạng tháng Tám (Khảo sát qua hai tõp thơ: Thơ Thơ và Gửi hương

cho gió)”, chúng tôi xác lập mục đích nghiên cứu của Luận văn là:

1- Chỉ ra ba biểu hiện hình thức chính của nhạc điệu trong thơ, là:thanh điệu, vần điệu, nhịp điệu và lấy đó làm mô hình để nghiên

cứu nhạc điệu trong thơ Xuân Diệu ở hai tập thơ Thơ Thơ và Gửi

hương cho gió.

2- Đưa ra những số liệu nghiên cứu cụ thể, chính xác về các vấn đềthanh điệu, vần điệu, nhịp điệu trong 97 bài thơ mới của Xuân Diệu

để bổ sung cho những luận điểm khoa học đã có trước đây về thơông, trong đó bao gồm cả những luận điểm thuộc về nội dung và

Trang 6

phong cách thơ Xuân Diệu Tạo ra những căn cứ khoa học, phục vụcho các công trình nghiên cứu tiếp sau.

4 Phạm vi nghiên cứu

Từ mục đích trên, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu “Nhạc điệu trong

thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám (Khảo sát qua hai tập thơ: Thơ

Thơ và Gửi hương cho gió)” Như vậy, với đề tài này, đối tượng, phạm vi

nghiên cứu đã rất rõ ràng, đó là sáng tác thơ của Xuân Diệu trước Cách

mạng tháng Tám bao gồm: Tập Thơ Thơ (Xuất bản năm 1938, NXB Đời Nay) với 46 bài thơ, và tập Gửi hương cho gió (Xuất bản năm 1945) với 51

bài thơ Những sáng tác thuộc các thể loại khác như văn xuôi, ký, các bàibỏo…và cỏc tác phẩm thơ xuất bản sau năm 1945 của Xuân Diệu khôngthuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn Luận văn cũng không coi việc minhđịnh những vấn đề còn tồn nghi về mặt thuật ngữ là đối tượng nghiên cứucần phải đi sâu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi sẽ áp dụng nhữngphương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp của luận văn

Với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu rõ ràng, chúng tôikhẳng định những đóng góp của Luận văn là:

1 Lần đầu tiên vấn đề nhạc điệu – đặc điểm nổi bật làm thành nhịpmạnh của dòng thơ lãng mạn nói chung và phong trào Thơ mới Việt Nam(1932 – 1945) nói riêng được nghiên cứu như một nội dung nghiên cứu độcđáo qua những sáng tác của một phong cách thơ đặc sắc – Xuân Diệu

Trang 7

2 Lần đầu tiên ba bình diện hình thức của thơ Xuân Diệu được khảosát, tìm hiểu một cách khoa học, hệ thống với những số liệu cùng những luậnchứng, luận cứ thuyết phục như vậy Những số liệu mà Luận văn đưa ra làđáng tin cậy, là kết quả của một quá trình lao động khoa học miệt mài, tỉ mỉ.Những số liệu ấy không chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu của Luận văn

mà còn có thể phục vụ cho những đề tài nghiên cứu có liên quan trở về sau

3 Mở ra hướng nghiên cứu đầy triển vọng về “Nhạc điệu trong ThơMới” và các nghiên cứu liên ngành độc đáo giữa hai ngành khoa học – nghệthuật là Văn học và Âm nhạc

7 Cấu trúc luận văn

Tương ứng với nhiệm vụ giải quyết những vấn đề nêu trên, Luận

văn của chúng tôi được kết cấu thành 3 Chương, ngoài phần Mở đầu và

Kết luận.

Chương I Giới thuyết về nhạc điệu trong thơ

Chương II Thanh điệu, vần điệu trong thơ Xuân Diệu trước Cách

mạng tháng Tám

Chương III Nhịp điệu trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng

Tám

Trang 8

NỘI DUNG Chương I GIỚI THUYẾT VỀ NHẠC ĐIỆU TRONG THƠ

1.1 Nhạc điệu là một bình diện thuộc nội dung của tác phẩm thơ

1.1.1 Nhạc điệu trong âm nhạc và nhạc điệu trong thơ

Thơ, khởi thuỷ của nó đã gắn liền với nhạc Trong lịch sử nghệ thuật,

có một thời thơ và nhạc gắn bó với nhau làm một, không thể tách rời Câu

thơ được hỏt lờn, hũ lờn chứ không phải để đọc, và thuật ngữ thi ca (thơ ca)

được dùng để hình dung về mối quan hệ gắn bó này Nàng thơ (muse) củangười Hi Lạp là một cơ thể thống nhất của thơ, nhạc, múa và điệu bộ Hiệntượng đó không phải chỉ của riêng Hi Lạp mà có ở bất kỡ đõu, trong buổi sơ

khai của nghệ thuật với tớnh nguyờn hợp của nó Kinh Thi của Trung Quốc

hay ca dao, dân ca của Việt Nam vốn là những hình thức thơ - nhạc đầu tiênnhư thế Về vấn đề này, Sóng Hồng đã từng nhận định: “Thơ là một viênngọc kim cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời Thơ là thơ, đồng thờicũng là vũ, là nhạc, là chạm khắc theo cách riờng”[27;10]

Tuy đã tách ra làm hai loại hình nghệ thuật riêng biệt nhưng dấu ấncủa Thơ trong Nhạc hay của Nhạc trong Thơ đã trở thành những phẩm chấtđặc trưng của hai loại hình nghệ thuật này Người ta hay nói về những bảnnhạc đầy chất thơ, lại cũng hay nói về những bài thơ giàu nhạc điệu, giàutính nhạc

Như ta đã biết, ngôn ngữ gồm hai mặt: ý nghĩa và âm thanh Nhạc

điệu trong thơ ca và âm nhạc có cùng nguồn gốc là âm thanh trong ngôn ngữcủa con người Chỳng cú sự tương đồng ở vai trò truyền cảm trực tiếp, mạnh

mẽ, tác động trước hết vào cảm giác, gây nên những phản ứng rất nhanhtrong tâm sinh lý con người thông qua một cơ cấu truyền cảm gồm những

Trang 9

yếu tố như độ cao, độ dài, độ mạnh, âm sắc…Ngay cả khi câu thơ khôngđược đọc lên thành tiếng mà chỉ được “đọc” bằng mắt thì vẫn có một thứ âmthanh của từ ngữ vang lên bên trong đầu óc con người

“Âm thanh là những hiện tượng vật lí chuyển động có chấn động Âm thanh được phát sinh bởi những vật gọi là sóng âm Những sóng âm truyền qua cơ quan thính giác của chúng ta vào đại não bằng sự tiếp nhận thần kinh tai tạo nên cảm giác về âm,”[6;3] Nhưng không phải mọi âm thanh đều

có tính nhạc Chỉ những loại âm thanh được làm nên bởi những làn sóng kếtiếp nhau với những khoảng cách đều đặn thì mới có tính nhạc Những lànsóng đều đặn bao giờ cũng có độ cao chính xác, tai người phân biệt được dễdàng, vì vậy có thể ghi thành kí hiệu để làm chất liệu cho âm nhạc.[6;3]

Do chỗ gần gũi nhau về mặt đặc trưng thể loại nên khi nghiên cứu thơ,đặc biệt khi nghiên cứu chất nhạc trong thơ, người ta mượn dùng nhiều thuậtngữ của âm nhạc như: tiết tấu, nhịp điệu, giai điệu, hoà õm…Và cựng để chỉnội hàm tính chất nhạc trong thơ người ta sử dụng nhiều thuật ngữ: tính nhạc(nhạc tính), nhạc thơ, nhạc điệu….Thuật ngữ “tớnh nhạc” dùng với thơ đượcnhiều người hiểu là “tớnh cú nhạc điệu” hay “tớnh chất âm nhạc” của thơ.Nguyễn Thị Thanh Hà hiểu tính nhạc “là những phẩm chất của âm thanhngôn ngữ được sử dụng trong thơ ca có mang những phẩm chất của âm thanhtrong âm nhạc, là phương tiện để tạo nên nhịp điệu, hoà âm, tiết tấu…trongthơ”[22;1] Mai Ngọc Chừ cũng cùng quan niệm sử dụng thuật ngữ “tớnhnhạc” như trên song bổ sung thêm vào nội hàm của nó các yếu tố: âm vực,

âm điệu, ngữ điệu, trường độ, hiện tượng điệp âm [10,77-80] Thực ra, cácthuật ngữ trên không khác nhau nhiều nếu không muốn nói thực chất chỉ lànhiều cách diễn đạt cho cùng một nội dung Ở đây, khi đi nghiên cứu yếu tốnhạc trong thơ Xuân Diệu chúng tôi thống nhất lựa chọn sử dụng thuật ngữ

"nhạc điệu” nhưng không loại trừ việc có sử dụng thờm cỏc thuật ngữ “tớnh

nhạc”, “nhạc thơ”… để phù hợp với nội dung phân tích.

Trang 10

Trong Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phờ cú đưa ra một định nghĩa khái quát về nhạc điệu như sau: “Nhạc điệu: nhịp trầm bổng của âm thanh trong

bài thơ, bản nhạc” [44;696].

Hiểu một cách đầy đủ nhạc điệu trong văn học (chủ yếu và trước hết

là nhạc điệu trong thơ) “là cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật hình

thành bởi vật liệu âm thanh của ngôn từ thể hiện đặc sắc của văn học như một nghệ thuật thời gian Yếu tố hình thái vật chất tạo nên nhạc điệu là điệp

âm, điệp vần với các hình thức đa dạng của chúng: bằng, trắc, nhịp điệu, niêm đối, vần, yếu tố tượng thanh, ngữ điệu Cỏi làm nên hồn của nhạc điệu

là sự liên tưởng của tổ chức âm thanh với các cảm giác âm nhạc (nhạc cảm) trong lòng người”[40;224].

Hiểu như vậy, nhạc điệu trong văn học nói chung và trong thơ nóiriêng là vấn đề vừa thuộc bình diện hình thức, lại vừa thuộc về bình diện nộidung của tác phẩm

1.1.2 Nhạc điệu là một bình diện thuộc nội dung của tác phẩm thơ

Nội dung tác phẩm là một phạm trù có nội hàm rất rộng, ở đây khi đặtvấn đề nghiên cứu “nhạc điệu là một bình diện thuộc nội dung của tác phẩmthơ”, chúng tôi muốn làm nổi bật vai trò tạo cảm xúc của nhạc điệu như mộtyếu tố quan trọng tạo nên nội dung tác phẩm bên cạnh các yếu tố chủ đề, đềtài, tư tưởng v.v

Mối quan hệ giữa “sự tổ chức âm thanh” với “nhạc cảm” trong lòngngười hay rộng hơn là với tư tưởng, tình cảm của con người từ lâu đã được

xem như cơ sở sản sinh ra thơ ca Trong bài tựa Kinh Thi, Chu Hy viết: "Thơ

là cái dư âm (thanh âm còn dư) của lời nói trong, khi lòng người cảm xúc với

sự vật mà nó thể hiện ra ngoài”[32] Nhà thơ kiệt xuất của Trung Quốc đồngthời là một nhà lý luận văn học cổ - Bạch Cư Dị - khi nghiên cứu về thơ đãchỉ ra rằng: “Khụng gỡ thân thiết bằng thanh âm Không gì sâu sắc bằng ýnghĩa Cái gọi là thơ thì gốc rễ là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là thanh

Trang 11

âm, quả của nó là ý nghĩa” (Thư gửi Nguyên Chẩn)[36;84] Cũng ngay từ

thời cổ điển, trong những nghiên cứu của mình Lưu Hiệp đó luụn xem trọngyếu tố nhạc trong thơ, khái niệm “thanh văn”, theo ông có tầm quan trọngngang với “hỡnh văn”, “tỡnh văn” Sự liên tưởng của “tổ chức âm thanh” với

“cảm giỏc õm nhạc” không phải bao giờ cũng cụ thể, trực tiếp, nhưng baogiờ cũng có một mối liên hệ giữa âm hưởng, nhịp điệu với điệu tâm hồn Chỉkhi nào mối liên hệ ấy được nhận ra mới cảm thấy được nhạc điệu Lấy câu

thơ nổi tiếng trong bài Mẹ Tơm của Tố Hữu làm ví dụ:

Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa Một buổi trưa nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát

Đây là bốn trong số những dòng thơ rất đặc sắc, thường được nhắc tớicủa Tố Hữu Chỉ bốn dòng thơ thôi nhưng tập trung rất nhiều các kết hợp

thanh và vần ở các cặp từ: xưa –trưa; dài – bãi; ta – ngân nga; xưa – đưa;

cát – hát; xôn xao; đu đưa, tạo nên sự xoắn xuýt cộng hưởng của âm điệu

thơ, cũng là âm điệu náo nức của tấm lòng thi nhân Cùng với những kết hợpthanh, vần ấy, sự ngắt nhịp đều đặn, cân đối của hai cõu bỏt (theo nhịp 4/4),

và sự hô ứng ngữ nghĩa của hai cặp từ xôn xao, đu đưa gợi cảm giác vỗ về,

Trang 12

tượng mà còn được mó hoỏ bằng âm thanh dựa trên cơ chế truyền cảm củalời nói Tác giả chỉ ra rằng, theo các nhà tõm lớ học, dưới áp lực của cảmxúc, con người thường cất cao giọng, biến lời nói thành có ngữ điệu Cảmxúc biểu lộ rất mạnh mẽ ở thanh điệu, nhịp điệu của lời nói “Trong việctruyền đạt các trạng thái cảm xúc, nếu như nội dung lời nói tác động vào ýthức thì thanh điệu, tiết tấu, nhịp điệu lại tác động nhiều vào lĩnh vực cảmxỳc…Nhịp diễn tả bước đi tạo hình của thế giới, bước vận động của nội tâm,

để con người tự nhìn thấy mình Qua nhịp điệu và độ vang ngân, con ngườicảm giác được mình, thấy được sự vận động của dòng tình cảm củamỡnh”[42;45] Như vậy, những vận động chủ quan bên trong của tình cảmcon người lúc sôi nổi, hào hứng, khi yên tĩnh, lặng lẽ…đều có thể được thểhiện ra bằng những âm thanh của ngôn ngữ Các phương tiện: vần, phép lặp,nhịp điệu…diễn tả những thay đổi theo thời khắc và phụ thuộc vào nhữngđòi hỏi tinh thần của chủ thể trữ tình Nói về tầm quan trọng đặc biệt của

“nhạc thơ” trong thi pháp thơ ở khía cạnh nội dung, có nhà nghiên cứu thậmchí đã khẳng định rằng: “nhạc thơ còn dễ sợ hơn nhạc nhạc”[5;130]

Thơ không mô tả, kể lể mà gợi cảm, và muốn gợi cảm trước hết phảicần đến âm nhạc Ở mỗi thời kì văn học khác nhau người ta lại có nhữnghình dung khác nhau về vai trò nhạc điệu với tư cách là một bình diện củanội dung tác phẩm, và có thời kì người ta suy tôn lên hàng đầu vai trò của âmnhạc trong thơ Khuynh hướng thơ ca lãng mạn trong văn học đặc biệt đề caovai trò âm nhạc, đưa âm nhạc trở thành một đặc trưng nổi bật, một nhịpmạnh của dòng thơ này Nhà duy tâm khách quan Hờghen, người mà hệthống triết học của ụng đó trở thành cơ sở ý thức cho Chủ nghĩa lãng mạn,quy định thế giới quan của nhiều nhà thơ lãng mạn, từng khẳng định: Do lốiquan niệm và lối diễn đạt của nghệ thuật lãng mạn tiêu biểu ở chỗ tinh thầntập trung vào bản thân, cho nên nó sử dụng độ vang làm phương tiện diễn tảnội cảm Và thơ lãng mạn vì để nhấn mạnh cỏi õm cộng hưởng bên trong của

Trang 13

các tình cảm nên sử dụng vần như là kết hợp của âm thanh [24;550] Từ đú,Hờghen nhận thấy rằng: “Hiện tượng vần đã phát triển lớn như vậy trong thơlãng mạn không phải là ngẫu nhiên Đối với loại thơ này, nó là một nhu cầuthực sự tất yếu Tâm hồn cần nhìn thấy mình được biểu lộ nhiều hơn và nóđược thoả mãn về chỗ các vần có những sự đều đặn của các khoảng vàchúng chỉ lo kéo chúng ta trở lại với chúng ta bằng những độ vang như nhau

cứ quay trở lại Luật thơ, do đó, gần với cách diễn đạt của nhạc, nghĩa là gầnvới cỏi õm cộng hưởng bên trong – và làm cho ta thoát khỏi cái khía cạnhvật chất của ngôn ngữ với các âm tiết ngắn và âm tiết dài của nú” [24;550].Các nhà thơ tượng trưng cũng cho rằng nhờ âm thanh của các từ mà thơ gợilên được những sắc thái tinh tế nhất của tình cảm, của thế giới u uẩn bêntrong tâm hồn con người, vì thế họ chủ trương mỗi từ trong thơ phải là mộtnốt nhạc Luận điểm này có cơ sở từ Schopenhauer - nhà triết học, mỹ học

người Đức thế kỉ XIX, đại diện tiêu biểu của Chủ nghĩa duy ý chí và là người

có ảnh hưởng lớn tới Chủ nghĩa tượng trưng Pháp Schopenhauer khẳng địnhrằng: Âm nhạc có khả năng đi sâu vào cái bản chất thuần tuý của sự vật, bất

cứ một nghệ thuật nào cũng có dấu ấn của sự vật, mượn ít nhiều cái vỏ của

sự vật, chỉ có âm nhạc thoát ra khỏi sự nô lệ trong việc bắt chước sự vật Vớiphẩm chất này, âm nhạc có thể trở thành cứu cánh của thơ, giúp thơ đạt tớicái bản chất huyền bí của sự vật, của thực tại, không phải bằng những mô tảmang tính trực quan mà bằng sự ám thị Thơ cũng như âm nhạc là một cái gìthuần tuý, tiềm thức, ở ngoài lĩnh vực của lớ trớ và tư tưởng Mallarmộ chủtrương thơ phải mang một âm nhạc ma quỏi, quyến rũ tâm hồn con người,với nhạc điệu ấy thơ sẽ có một giá trị thần chú, có thể mê hoặc người đọc.[192;12] Cũng dựa trên những đặc điểm về cảm hứng sáng tạo, về thế giớiquan sáng tác, Trần Đình Sử đã đưa ra kết luận: “Thi sĩ lãng mạn thích tiếngnhạc có lẽ vì âm nhạc là nghệ thuật mơ hồ, khó nắm bắt nhất trong các nghệthuật”[46;45] Như vậy, việc đưa âm nhạc vào các tác phẩm thơ để tạo ra

Trang 14

những bài thơ giàu nhạc điệu không chỉ là một yêu cầu tự thân của thơ – yêucầu về “lõy lan cảm xỳc”, thể hiện “tiếng nói nội tõm” – mà trong nhiềutrường hợp, nó được nâng tầm thành một tiêu chí, một nguyên tắc sáng táchàng đầu của thơ

Trong thực tiễn sáng tác, những nhà thơ là người ý thức rõ hơn ai hếttầm quan trọng của nhạc điệu đối với tư tưởng, tình cảm và định hướng sángtác Thậm chí với nhiều nhà thơ nhạc điệu có vai trò tiên quyết, là thứ mà họnghĩ đến trước nhất khi sáng tác, trên cả chủ đề, nội dung

Theo Puskin thì trong lúc sáng tác, đầu óc nhà thơ tràn đầy âm thanhtrong trạng thái hưng phấn Sinlơ cũng đòi hỏi mỗi bài thơ phải gây một ấntượng về âm nhạc Nhà thơ phải tạo được sự thống nhất từ bên trong giữa kếtcấu logic của ý tưởng và kết cấu của âm nhạc Sinlơ cú lỳc đã nói về sự gợi ý

ban đầu khi sáng tác một bài thơ: “Trước hết tâm hồn tôi tràn ngập bởi một ý

hướng âm nhạc nào đấy và tư tưởng thi ca tìm đến tiếp theo Khi tôi ngồi đểlàm một bài thơ, cái mà tôi thường thấy xuất hiện trước mắt tôi là yếu tố âmnhạc của bài thơ chứ không phải là quan niệm rõ rệt về chủ đề”[20;434-435]

Nhạc trong thơ thể hiện quan niệm về một dãy âm thanh đẹp, dudương, hài hoà, ngân vang và đầy cảm xúc Khi sáng tác một bản nhạc, cảmxúc chứ không phải lớ trớ đơn thuần đã chi phối việc lựa chọn nốt nhạc nàychứ không phải nốt nhạc kia Cũng như vậy, trong sáng tác thơ chỗ nào màtình cảm phát triển thì chất thơ được tăng cường, tính nhạc cũng được khaithác đến mức tối đa để tạo nhạc cảm, ngược lại, chỗ nào nhạc điệu thực sựđược tăng cường thì cũng giàu chất thơ hơn, cảm xúc cũng đa dạng và đẹphơn Không thể chỉ rõ phần nội dung cụ thể mà nhạc điệu biểu hiện bởi nónhư một thứ “duyờn ngầm” của lời thơ, giúp làm sâu sắc hơn những cảm xúcthơ, đúng như Isokrates đã nhận định: “Cõu thơ và vần có một cái duyên màthậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự

cân đối” [dẫn theo (5;133)] Nhà thơ không dùng ngôn ngữ để nhắn nhủ, giải

Trang 15

thích, mà dùng ngôn ngữ để truyền cảm, "Thi nhân khơi gợi trong ta mộttrạng thái"(Valộry)[32] Tiếng nói của nhà thơ là tiếng nói gián tiếp bằngnhững tương quan, bằng những đồng âm, đồng cảm Nhà thơ trao cho ta mộtcông trình nghệ thuật, như họa sĩ cống hiến một bức tranh, nhạc sĩ tặng mộtkhúc nhạc, và chúng ta thẩm thấu nghệ thuật trong thơ, trong tranh, trongnhạc tùy theo tâm cảm, khả năng, trình độ và hoàn cảnh mỗi người

Tính nhạc trong câu thơ mỗi dân tộc được quy định bởi tính nhạctrong bản thân tiếng nói của dân tộc ấy Tính nhạc đó là phần quan trọng làmnên hồn cốt dân tộc trong thơ Khi dịch thơ của một dân tộc sang ngôn ngữcủa một dân tộc khác, nhiều cái còn giữ lại được nhưng nhạc điệu thì mất đinờn khú đánh giá được phong cách nghệ thuật của mỗi nhà thơ Lúc đó mớithấy quan điểm dịch thơ của Phan Huy Ích từ mấy thế kỷ trước là rất đúngđắn khi ông cho rằng: “Vận luật hạt cùng văn mạch tuý?/ Thiên chương tu

hướng nhạc thanh tầm.” (Vận luật làm sao mà nói hết được cái tinh tuý của

mạch văn? Ý nghĩa của thiên và của từng chương phải nên nhằm âm thanh của nhạc mà tìm)[37;267] Bản sắc dân tộc của một nhà thơ, xét về phương

diện nghệ thuật, thể hiện một phần ở chỗ khai thác, vận dụng được đến mức

độ nào nhạc điệu của tiếng nói dân tộc mình Khi nhận xét về phong cách thơ

Tố Hữu, nhà thơ Chế Lan Viên cho rằng: “Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thểhiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắm vững cái âm điệu, vần điệu của

dân tộc”[dẫn theo(54;61)] Nhà thơ Xuân Diệu khi nghiên cứu về Nguyễn

Du cùng kiệt tác Truyện Kiều - một mẫu mực của câu thơ tiếng Việt – đã thấy rằng: “Ngoài những việc gạn lấy nột chớnh, lọc lấy tinh chất, tập trung

vào tâm tình, tạo ra hình tượng, Nguyễn Du trong khi làm những câu thơ đú

đó rất chú ý đến nhạc, đến điệu”[dẫn theo(54;61)]

Như vậy, nhạc điệu trong thơ góp phần rất lớn trong việc hình thành

và phát triển cảm xúc trong lòng độc giả, ở chiều ngược lại, nó đồng thờicũng là sự mó hoỏ cảm xúc của tác giả qua các phương tiện thuộc hình thức

Trang 16

tác phẩm (thanh điệu, nhịp điệu, vần,…), tạo ra sự gợi cảm và chất thơ chotác phẩm Bên cạnh đó, nhạc điệu còn là vấn đề thuộc về phong cách sángtác, là sự thể hiện tính dân tộc qua sáng tác của mỗi nhà thơ

1.2 Nhạc điệu là một bình diện thuộc hình thức của tác phẩm thơ

Nhạc điệu trong thơ muốn thể hiện những khía cạnh nội dung của tácphẩm thì trước hết nó phải được thể hiện ra ngoài bằng những hình thức nhấtđịnh Vì là ngành nghệ thuật ngôn từ, hình thức ấy phải được biểu hiện ra ởviệc sử dụng khía cạnh vật chất của ngôn từ một cách có nghệ thuật Trongtrường hợp này, chớnh là yêu cầu sử dụng âm thanh của từ ngữ một cách cótính nhạc

Đặc điểm có tính nhạc là đặc điểm phổ biến trong mọi ngôn ngữ.Nhưng do chỗ mỗi một ngôn ngữ cụ thể cú cỏch cấu tạo và tổ chức khácnhau nên đặc điểm đó cũng được thể hiện ra theo những cách khác nhau củahình thức

Trong thơ ca của mỗi dân tộc, những yếu tố hình thức tạo nên tínhnhạc thường là: Cấu tạo õm hỡnh (sự kết hợp nguyên âm, phụ âm tạo nênsức vang ngân hay tính chất cứng mềm của âm); nhịp điệu; thanh điệu; vầnthơ và các thủ pháp khác như: trùng điệp (điệp ngữ âm, điệp cỳ phỏp…)…Những yếu tố này đều có trong câu thơ Tiếng Việt

Tiếng Việt có một đặc điểm là giàu có về nguyờn âm, phụ âm vàthanh điệu, chính vì thế độ dài của âm tiết thường ngắn và bao giờ cũng táchrời nhau Đây là một đặc điểm có ưu thế về tính nhạc hơn so với các thứtiếng có số lượng nguyên âm, phụ âm ít hơn và không có thanh điệu Bởi vìcác thứ tiếng này, để bù lại nhược điểm trờn thỡ cấu tạo hình vị và âm tiết rấtdài Một âm tiết của tiếng Việt dứt khoát bao giờ cũng được biểu thị bằngmột nốt nhạc, hoặc bằng vài nốt nhạc “luyến lỏy” với nhau Trên cơ sở đó,Chế Lan Viên đã nhận định rằng: “Một nền thơ dân tộc vỡ cỏi lẽ giản dị là:Những bài thơ đã tự diễn tả trong nó tiếng nói Việt Nam - một thứ tiếng đơn

Trang 17

âm nhưng đa thanh – làm cho câu thơ vừa ngắn gọn, vừa có nhiều tính chất

âm nhạc” [dẫn theo (54;60)].

Trong những tài liệu nghiên cứu về nhạc thơ mà chúng tôi có dịp thamkhảo, các tác giả, ở những mức độ khác nhau đã đưa ra những quan điểmphân chia khác nhau về các yếu tố hình thức làm thành nhạc điệu thơ Việt

Từ những nghiên cứu về Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã khái quát lại Mụ hình âm thanh ngôn ngữ như sau:

ÂM THANH NGÔN NGỮTHUỘC TÍNH ÂM THANH ĐƠN VỊ ÂM THANH

Cao Trường Cường Nguyên Phụ

độ độ độ âm âmTheo đú, “cỏc thuộc tính âm thanh được lưu giữ- truyền đạt trong khi

tổ chức các quá trình thi ca, làm nên tiết tấu của thơ Cũn cỏc đơn vị âm

thanh thì được lưu giữ - truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình loại thể,

làm nên vần thơ” [5;132] Với kết luận: Sự khai thác nhạc tính trong thơ tuỳ

thuộc vào việc thơ ca chiếm ưu thế hay văn xuôi chiếm ưu thế ở các giai

đoạn văn học cụ thể, tác giả Ngôn ngữ thơ khái quát nên hai cách khai thác

nhạc tính chủ yếu: trong giai đoạn văn học khi thơ làm chủ đạo, mọi khai

thác nhạc tính trong thơ sẽ xoay quanh vần; trong giai đoạn văn xuôi làm chủ đạo, mọi khai thác nhạc tính sẽ xoay quanh tiết tấu (trong nghĩa rộng

của từ này, tiết tấu là “sự lặp lại một cách liên tục các hiện tượng tương tự cóthể thay thế nhau trong thời gian và không gian”) [5;134]

Trong bài nghiên cứu về Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (Từ gúc

nhỡn ngữ âm tiếng Việt), Mai Ngọc Chừ xem “tớnh nhạc là linh hồn của thơ

ca”, từ đó, ông phân biệt năm yếu tố tạo nên tính nhạc trong thơ gồm: âm

Trang 18

vực, giai điệu (âm điệu và ngữ điệu), nhịp (nhịp điệu), trường độ, vần, vànhững hiện tượng điệp âm.[10;77-80].

Ở một bài nghiên cứu khỏc, Chõu Minh Hùng khi tìm hiểu Nhạc điệu

thơ Việt - những tiền đề lý thuyết căn bản đã chỉ ra hai nhân tố cơ bản tạo

nên nhạc điệu thơ chính là giai điệu (hài âm, nghịch âm) và tiết tấu (tiết tấu

thuận, tiết tấu nghịch)[28;33-42]

Các nghiên cứu khác của Vừ Bỡnh [4], Nguyễn Thị Thanh Hà [22],

Vũ Thị Sao Chi [7],[8] cũng đã ít nhiều bàn đến những phương diện củanhạc điệu thơ như: vần thơ, bước thơ, nhịp điệu thơ

Như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã có ý thức phân loại các yếu tố tạonên nhạc điệu thơ nhằm hình thành nên một “bộ công cụ” giúp cho việcnghiên cứu nhạc điệu trên bình diện hình thức ở các tác phẩm thơ cụ thể.Tuy chưa đi tới chỗ thống nhất hoàn toàn, nhưng tựu chung lại, ý kiến củacác nhà nghiên cứu đều đặt trọng tâm vào ba yếu tố hình thức căn bản nhất

tạo thành nhạc điệu, đó là: thanh điệu, vần điệu và nhịp điệu Tác giả Thi

nhân Việt Nam, ngay từ những năm bốn mươi của thế kỉ trước đã có đề xuất

mô hình nghiên cứu tương tự: “Tớnh nhạc bộc lộ qua việc sử dụng hoànchỉnh mô hình âm nhạc, luật bằng trắc, vần hài hoà, nhịp cân đối”[47;160]

Luận văn của chúng tôi, vì thế, cũng sẽ áp dụng mô hình này vàonghiên cứu nhạc điệu trong hai tập thơ ra đời trước Cách mạng tháng Támcủa Xuân Diệu

Thơ Việt Nam có được nhạc tính chủ yếu là nhờ vào ba thứ “điệu” nóitrên, trước hết là thanh điệu, rồi sau đến vần điệu và nhịp điệu Ba thứ “điệu”này có sự ràng buộc và tác động qua lại rất chặt chẽ với nhau Trong câu thơcủa ta, thơ cổ truyền cũng như thơ mô phỏng, thanh điệu và quy luật bằngtrắc có tác dụng điều tiết tính nhịp nhàng của câu thơ Nhưng quy luật thanhđiệu và bằng trắc đó cần phải được các quy luật về vần và nhịp hỗ trợ thì sựphát huy tác dụng mới được hoàn chỉnh Thanh điệu quy định sự hiệp vần

Trang 19

(các từ hiệp vần phải cùng bằng hoặc cùng trắc), đến lượt mình, vần lại làmột yếu tố góp phần tạo thành nhịp điệu của thơ Do vậy, khi nghiên cứu sựtác động của bất kỳ nhân tố nào trong ba nhân tố trên, về nguyên tắc, ta phảitạm thời trừu tượng đi vai trò của hai nhân tố còn lại để tránh sự trùng lặp vànhắc lại Chẳng hạn, muốn so sánh riêng về thanh của hai câu thơ với nhau,thì điều kiện chúng phải có vần và nhịp giống nhau, tương tự như vậy khi sosánh vần và nhịp [48;37-38].

1.2.1 Nhạc điệu thơ nhìn từ góc độ thanh điệu, vần điệu

 Định nghĩa thanh điệu

Có nhiều cách định nghĩa về thanh điệu, nhưng nhìn chung không có

sự khác biệt lớn trong nội hàm các định nghĩa Khi xem xét định nghĩa

“Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết, có tácdụng khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị ở một số ngôn ngữ”[44;897]hay “Thanh điệu, đó là sự thay đổi cao độ của giọng nói, tức tần số âm cơbản trong một âm tiết có tác dụng khu biệt các từ có ý nghĩa khácnhau.”[21;184], thỡ các tác giả Hoàng Phê và Nguyễn Thiện Giáp đều cho

chúng ta cái nhìn thống nhất rằng: Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp

giọng nói trong một âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của

từ hoặc hình vị Nếu ngữ điệu là đặc trưng của câu, trọng âm là đặc trưng của từ thì thanh điệu là đặc trưng của âm tiết.

Thanh điệu không phải là một đặc trưng phổ biến của mọi ngôn ngữ.Tiếng Anh, Nga, Phỏp…khụng có thanh điệu, thay vào đó là trọng âm vàngữ điệu Tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Thỏi…cú thanh điệu, và thuộc loại

hình thanh điệu hình tuyến, là loại trong đó các thanh điệu phân biệt nhau

bằng sự di chuyển cao độ từ thấp lên cao hoặc từ cao xuống thấp Sự biếnthiên cao độ của chúng không được miêu tả đơn giản là những điểm như loại

thanh điệu âm vực, mà như những đường cong lên xuống

Trang 20

 Phân loại thanh điệu tiếng Việt

Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống thanh điệu riêng với số lượng và trật tựsắp xếp khác nhau Tiếng Thái Lan có năm thanh điệu, tiếng Hỏn cú bốn (cótài liệu cho là năm) thanh điệu Tiếng Việt cú sỏu thanh điệu, đó là cácthanh: nặng – huyền - không – ngã – hỏi – sắc, mỗi thanh điệu này lại được

khu biệt bởi một kí hiệu (dấu) tương tự như những đường nét mà sự biến

thiên cao độ của nó thể hiện

Các thanh điệu tiếng Việt phân biệt với nhau theo hai đặc trưng chủ

yếu là độ cao và đường nét vận động:

+ Phân loại theo độ cao:

- Thanh cú õm vực cao (không dấu, ngã, sắc)

- Thanh cú õm vực thấp (huyền, hỏi, nặng)

+ Phân loại theo đường nét vận động âm điệu:

- Những thanh có đường nét bằng phẳng (truyền thống gọi là

thanh bằng): không dấu, huyền.

- Những thanh có đường nét không bằng phẳng (truyền thống gọi

Sắc(/)

(\)

Hỏi(’)

Nặng

(.)

 Vai trò của thanh điệu trong việc tạo nhạc điệu cho thơ

Thanh điệu với tính chất ngữ âm và đặc trưng vật chất là âm thanhcủa nó góp phần rất lớn vào việc tạo tính nhạc cho thơ ca Khi phân tích

Trang 21

nhạc của câu thơ dân tộc ta, ngoài những yếu tố thông thường mà thứ tiếngnào cũng có, cần khai thác nhiều hơn vào yếu tố thanh điệu của tiếng nói đãlàm nên giai điệu dồi dào trong thơ Sáu thanh: huyễn, ngã, hỏi, sắc, nặng,không dấu, đã cố định cao độ của các từ tiếng Việt theo những cung bậcnhất định, đồng thời, với những kết hợp từ khác nhau sẽ hình thành nhữngthang âm khác nhau Sự đa dạng về âm vực trong bản thân các từ làm đadạng tính nhạc cho các phát ngôn tiếng Việt, làm cho người Việt “núi” mànghe như “hỏt” (Đây cũng là cảm nhận chung của những người nước ngoài

về đặc điểm tiếng nói Việt Nam)

Một điều có lẽ không phải ngẫu nhiên mà những người làm chữ viết

cho tiếng Việt đã vẽ hình các thanh điệu (các dấu) gần giống với hỡnh cỏc

nốt nhạc thời kì đầu của lịch sử kớ õm trong âm nhạc Châu Âu thế kỉ VII:

(’), (\) , (/), (□), (◊) - gọi là các nơmơ (neume tiếng Hi Lạp gọi là “hỡnh”,

“dấu”)[54;60]

Thanh điệu là sự chiếm lĩnh độ cao thấp, lan toả và cộng hưởng trong

không gian của âm thanh Cổ nhân xưa khi nói về việc thẩm õm cỏc thanh

từng đã dạy rằng: Thanh Bằng (Bình thanh) thì uyển chuyển du dương, như con đường bằng phẳng, (nghe) buồn nhưng êm ả; thanh Trắc thỡ không du

dương uyển chuyển mà như con đường mấp mô lên xuống Trong thanh

Trắc, Khứ thanh (Sắc, Nặng) thì nghe buồn nhưng trong mà xa; Thượng

thanh (Hỏi, Ngó) thỡ nghe mạnh, đẹp và cao; Nhập thanh (Sắc, Nặng trong

các tiếng cú õm cuối là các phụ âm -p,- t,- c,- ch) thì nghe ngắn, thẳng mà

gấp gáp, thúc giục

Về sự đối lập âm vực cao – thấp của các thanh, truyền thống Từ

chương và Thi pháp xưa thường nói đến những phẩm chất âm học của các

thanh như: đục (trọc) - trong (thanh), bổng (dương) - chìm (ức),… vốn đều

có liên quan tới độ Cao (Phù) - Thấp (Trầm) của thanh Theo sự phân chia

âm vực ở bảng trang 20, sáu thanh tiếng Việt chia làm hai nhúm: nhúm Cao

Trang 22

gồm các thanh Không dấu – Ngã - Sắc và nhóm Thấp gồm các thanh Huyền

- Hỏi - Nặng, thì nói chung thanh Cao thường bổng và trong; thanh Thấpthường trầm và đục [49]

 Định nghĩa vần điệu

Khi nói “vần điệu” tức là ta đã phân biệt vần với vai trò là một yếu tốthi pháp và phần vần (vận mẫu) trong âm tiết mà có người nhầm tưởng làmột Vần trong thơ tuy chủ yếu là sự hài hoà tạo ra từ vận mẫu của âm tiếtnhưng sự hài hoà đú cũn cú sự tham gia có tính chất không kém phần quyếtđịnh của các yếu tố khác như phụ âm đầu (thanh mẫu) và thanh điệu Nhưvậy, vần thơ là khái niệm vừa rộng hơn vừa khác với khái niệm phần vần

(vận mẫu) của âm tiết Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê cũng có ý thức

phân biệt hai khái niệm “vần” ấy: “Vần: (1) Bộ phận chủ yếu của âm tiết

tiếng Việt, là âm tiết trừ đi thanh điệu và phụ âm đầu (nếu có).(2) Hiện tượng lặp lại vần hoặc vần nghe có vẻ giống nhau giữa những âm tiết có vị trí nhất định trong câu (thường là thơ), được tạo ra để làm cho lời có nhịp điệu và tăng sức gợi cảm (gieo vần)”[44;1082].

Luận văn của chúng tôi không đi vào tìm hiểu cấu tạo của phần “vần”trong âm tiết như một đặc điểm của ngôn ngữ mà tìm hiểu khía cạnh thi phápcủa “vần” cụ thể hơn là vai trò tạo nhạc thơ của nó, vì lẽ đó, chúng tôi chọndùng thuật ngữ “vần điệu” để đảm bảo tính minh định về đối tượng nghiêncứu của mình nhưng không loại trừ nhiều trường hợp sử dụng “vần” như mộtkhái niệm tương đương

Đã có nhiều định nghĩa về “vần” theo hàm nghĩa là “vần điệu” Dương

Quảng Hàm trong cuốn Việt văn giáo khoa thư viết: “Vần chữ Nho là vận là

những tiếng thanh âm hoà hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau”[dẫn theo (4;29)] Hay “Sự lặp lại của những thanh đọc theo một

âm ở cuối hay quãng giữa dòng thơ để làm tăng tiết tấu và sức biểu hiện của

Trang 23

từ gọi là vần”[dẫn theo (4;29)] Định nghĩa sau có phần đầy đủ hơn khi đề

cập đến vần lưng – một sáng tạo đặc sắc của thơ Việt

Để có một định nghĩa hoàn chỉnh về “vần” (vần điệu) là rất khó, cơ sở

lý thuyết về “vần” của Luận văn sẽ dựa chủ yếu trên định nghĩa của các soạn

giả Lờ Bỏ Hỏn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ

Văn học: “Vần là một phương tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hoà và liên kết của dòng thơ và giữa cỏc dũng thơ”

[40;423]

Khi nói hai âm tiết hiệp vần với nhau thì trước hết phải quan niệmrằng đó không phải là một sự trùng lặp hay nhại lại hoàn toàn Vần, “đú là sựkết hợp giữa việc lỏy õm và sự không trùng khớp về khái niệm”[35;249].Khi hai hay nhiều âm tiết hiệp vần với nhau, nếu phần vần của chúng giốngnhau thì phụ âm đầu phải khác nhau Trường hợp cả phần vần và phụ âm đầuđều giống nhau thì thanh điệu phải khác nhau (trường hợp này ít xảy ra)

Trong các yếu tố tổ chức của thơ thì vần là yếu tố giúp cho việc đọcđược thuận miệng, nghe thuận tai do đó dễ nhớ, dễ thuộc Vần không phải làyếu tố bắt buộc của thơ nhưng là yếu tố quan trọng, từng phổ biến với mọi nềnthơ đặc biệt ở giai đoạn trước khi chữ viết xuất hiện và phổ biến Trong truyềnthống làm thơ ở nước ta, vần là yếu tố bắt buộc và phải được thể hiện mộtcách nghiêm ngặt, còn hiện nay thơ có thể không vần, nới lỏng về vần, nhưngnhìn chung vần vẫn là yếu tố được hầu hết các nhà thơ duy trì và coi trọng

Có thời người ta bàn nhiều đến “thơ không vần”, đó thường là nhữngbài thơ tự do về gieo vần, không có một sự hiệp vần nào theo nguyên tắcđịnh lệ Thơ không vần là một trong những vấn đề được đưa ra thảo luận tại

Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (tháng 9-1949), nhân đề cập đến thơ

của Nguyễn Đình Thi và bài Đờm mít ting của tác giả Trong cuộc tranh luận

này nhiều người đã đề xuất rằng: “Thơ là có vần, thơ không vần hãy cho nó

Trang 24

một tờn khỏc”[38;342] Thực ra đối với thơ vần quan trọng, nhưng không thểnói được rằng vần quyết định cái gì là thơ và cái gì không phải thơ

Như vậy, vần là một phương thức tổ chức văn bản thơ dựa trên sự lặp

lại không hoàn toàn của các tiếng ở những vị trí nhất định trong dòng thơ (giữa hoặc cuối dòng) Vần có ba chức năng chính là: tạo sự hoà âm, cộng hưởng âm thanh từ các âm tiết mang vần; tăng tính nhịp nhàng cho lời thơ; liờn kết cỏc dũng thơ, tạo tâm thế “chờ đợi vần” đối với các tiếng xuất hiện sau đó ở vị trí nhất định nhằm làm nổi bật ý nghĩa của các từ hiệp vần.

 Phân loại vần điệu

Với người sáng tác thơ, việc lựa chọn ngôn ngữ cả ở mặt ý nghĩa lẫnmặt hình thức âm thanh là công việc hết sức tinh tế Gieo vần là chọn mộthình thức để những âm tiết cuối hay giữa dòng, tuỳ theo thể thơ, có thể làmthành một mạch ngữ âm nối tiếp, do đó những yếu tố hiệp vần phải là nhữngyếu tố cú nột đồng nhất về mặt âm thanh

Theo cách phân chia truyền thống thỡ cú ba cách phân loại vần:

- Phân loại dựa vào vị trí của tiếng gieo vần trong dòng thơ, khổ thơ,

ta có: vần lưng; vần chân (gồm: vần liền, vần gián cách, vần ôm).

- Phân loại dựa vào mức độ hoà âm giữa hai âm tiết bắt vần với

nhau, ta có: vần chính, vần thông, vần ép.

- Phân loại dựa vào đường nét biến thiên của thanh điệu ở âm tiết

mang vần, ta có: vần trắc, vần bằng.

Phân loại là để giúp hình dung rõ hơn về vần và chỉ trong cùng một

tiêu chí (cách) phân chia thì vần mới có sự khác nhau (vần chân khác vần

lưng; vần trắc khác vần bằng), còn một vần có thể vừa là vần chân, lại đồng

thời là vần chính, vần trắc.

 Vai trò của vần điệu với việc tạo nhạc điệu cho thơ

Với những đặc điểm của mình, vần điệu xuất hiện trước hết như mộtthủ pháp để hỗ trợ trí nhớ Khi con người chưa có chữ viết, vần điệu là một

Trang 25

sáng tạo tuyệt vời giúp lưu giữ và lan truyền kinh nghiệm, tri thức, tình cảm

từ người này sang người khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác Việc lặp đi lặplại số âm trong một đơn vị của văn bản thực chất là chia một văn bản dàithành những đơn vị thuận lợi cho việc tiếp nhận và ghi nhớ Vần thực chất làmột cách gợi ý, câu trước “gọi” ra câu sau Vần chân hay vần lưng, vần liền,vần ôm hay vần gián cách tuy có khác nhau về vị trí trong câu thơ, nhưngđều có một chức năng là lặp lại ngữ âm để làm tăng sự nhịp nhàng của câuthơ, và làm cho mạch thơ gắn chặt với nhau, dòng này dẫn sang dũng khỏc, ý

này nối tiếp ý kia Maiakụpxki trong Làm thơ như thế nào? cũng đã chỉ ra

rằng: “Vần điệu khiến chúng ta quay trở về với dòng trước, bắt chúng ta phảinhớ đến nó, bắt tất cả những dòng trình bày một tư tưởng phải gắn lại vớinhau”[38;16]

Như thế, vần đã ra đời với tư cách là một thuật nhớ và được sử dụngrộng rãi trong văn hoá truyền miệng Kho tàng tục ngữ - ca dao nước ta lànơi lưu giữ rõ nhất, đầy đủ nhất sự góp mặt và vai trò của vần Cùng với đó,vần còn được xác định như là sự lặp lại về mặt âm thanh, đây là luận điểm đã

được Trường phái nghiên cứu ngữ âm của câu thơ (Ohrphilụlogie) khẳng

định [35;219]

Trong mục 1.1.1 của Luận văn, khi giới thuyết về thuật ngữ “nhạc

điệu” chúng tôi đã đề cập tới một yếu tố quyết định để âm thanh trở nên cótính nhạc, đó là sự kế tiếp nhau của những làn sóng âm với những khoảngcách đều đặn, có cao độ chính xác Với đặc điểm lặp lại không hoàn toàn vềmặt ngữ âm và sự hoà âm giữa các tiếng có vị trí nhất định trong dòng thơ(các tiếng bắt vần thường cùng bằng hoặc cùng trắc) thì vần một mặt đảmbảo tính đều đặn về khoảng cách, mặt khác đảm bảo sự chính xác, tương tự

về cao độ của cỏc õm Do đó “vần” có vai trò quan trọng trong việc tạo ranhững câu thơ có tính nhạc

Trang 26

V.M.Giếcmunxki trong cuốn sách Vần, lịch sử và lý thuyết của nó đã

chỉ ra rằng: “Cần phải mang lại cho khái niệm vần sự lặp lại về mặt âm thanhbất kỡ, khụng đặc trưng chức năng tổ chức trong một kết cấu thuộc nhịp điệucủa tác phẩm thơ”[35;220] B.V.Tụmashevxki cũng có quan điểm tương tựkhi ông đưa ra kết luận khẳng định bản chất của vần: “Vần – đó là hợp âmcủa hai từ đứng ở một vị trí của sự kiến tạo nhịp điệu của bài thơ Chínhnhững sự hợp âm chung kết, đưa lại mối liên hệ giữa hai câu thơ, được gọitên là vần Đương nhiên, ở vần tồn tại hai phẩm tính: phẩm tính thứ nhất - sự

tổ chức về mặt nhịp điệu, bởi vì nó (vần) đánh dấu những sự kết thúc của cáccâu thơ; phẩm tính thứ hai - sự hợp õm”[35;220]

Sự nhịp nhàng, đều đặn của câu thơ đã hướng sự chú ý của người đọc

từ nội dung sang hình thức mà Ngô Tự Lập trong bài viết Sứ mệnh của vần

điệu đã hình dung đó như một hiệu ứng tâm lý - hiệu ứng "đưa nôi" Hình

thức tuần hoàn của văn bản lái người đọc ra khỏi nội dung cụ thể của nógiống như chuyển động nhịp nhàng của chiếc nôi khiến đứa trẻ lãng quên các

sự vật cụ thể xung quanh và dễ dàng chìm vào giấc ngủ Chuyển động củachiếc nôi càng đều đặn càng tốt, vần điệu của một bài thơ càng du dương, êm

ái, thì việc tiếp nhận nội dung thông tin cụ thể của nó càng trở nên mờ nhạt

và nhạc điệu là cỏi cũn đọng lại sau cùng trong tâm trí người đọc, ngườinghe [34] Đây là tình trạng phổ biến trong các buổi ngâm thơ, ngâm thơthực chất gần với nhạc hơn với thơ, vì khi ấy "ngâm" là chớnh, cũn "thơ" làphụ Người nghe ngâm thơ bị lôi cuốn chủ yếu bởi âm điệu du dương củahình thức ngõm nờn thường rất khó phân biệt bài thơ nào hay, bài thơ nào

dở

Những ý kiến của Nguyễn Phan Cảnh cũng thống nhất với ý kiến củacác nhà nghiên cứu nước ngoài mà chúng tôi có dịp tìm hiểu và trình bày

trên đây Khi áp dụng vào nghiên cứu Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nguyễn Phan

Cảnh đã chỉ ra đặc điểm riêng của vần thơ Việt: Việc lưu giữ và truyền đạt

Trang 27

các tham số của đơn vị âm thanh (là nguyên âm và phụ âm) được thực hiệnthông qua vần mà mô hình lí tưởng của nó như sau:

- Thuỷ âm (phụ ậm đầu trong âm tiết): không được lặp lại khi hiệp

vần, nghĩa là một vần phải có sự thay đổi về thuỷ âm

- Chớnh âm (nguyên âm làm thành âm tiết): hiệp vần theo dòng,

không phân biệt nguyên âm đơn hay đôi nhưng có phân biệt giữanguyên âm “lơi”(a, ơ) và “căng” (ă, á)

+ dòng trước: gồm i, ê, e, iờ, (a)+ dòng giữa: gồm ư, ơ/õ, a/ă, ươ, ưa+ dòng sau: gồm: u, ô, o, uụ, (a)

(Đặc biệt, nguyên âm “a” thuộc cả ba dũng, nú mang tính chất điểm nối của cỏc dũng nguyên âm [4;32])

- Chung âm (phụ âm cuối trong âm tiết): phải đồng nhất trong kết

cấu vần, nghĩa là chung âm chỉ hiệp vần với chớnh nú[5;135].Tiếng Việt có một đặc điểm là giàu có về nguyên âm, phụ âm và thanhđiệu Đặc điểm này tạo ra ưu thế về nhạc điệu so với các thứ tiếng có sốlượng nguyên âm, phụ âm và thanh điệu ít hơn Các nguyên âm tiếng Việtnằm trong hai đối lập: trầm – bổng; khép – mở [41;99]

TẮC p t ch c

Tắc, xát, rung là các thuật ngữ chỉ cách thức đi của hơi khi phát âm

một nguyên âm hoặc phụ âm xác định; vang, tắc vô thanh là các kết quả về tạo thanh mà các cách phát âm ấy đưa lại Tương tự như vậy, khép và mở là

Trang 28

các thuật ngữ chỉ cấu tạo khoang miệng khi phát âm, cộng hưởng với luồng

hơi đưa ra từ yết hầu để tạo ra âm sắc (sắc thái âm thanh) bổng hay trầm,

cao hay thấp Đú là các hiệu ứng tạo nhạc mà các nguyên âm và phụ âm

tiếng Việt đưa lại

Từ những đặc trưng âm học như vậy, có thể kết luận rằng: cũng nhưthanh điệu, vần điệu là sự chiếm lĩnh độ cao thấp, lan toả và cộng hưởngtrong không gian của âm thanh ngôn ngữ

1.2.2 Nhạc điệu thơ nhìn từ góc độ nhịp điệu

● Định nghĩa nhịp điệu

Nhắc đến “nhịp điệu” không ít người nghĩ rằng đây là một thuật ngữriêng có của nghệ thuật Âm nhạc và tiếp đó là Văn học Sự thật không phảivậy Trong đời sống, nhịp điệu vốn là một phương thức tồn tại của vạn vật,

là sự vận động đắp đổi của vũ trụ “Nhịp điệu” là một thuật ngữ khó, cónhiều cách giải thích và đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa thống nhất vớimột cách hiểu thật hoàn chỉnh

Theo Henri Morier trong Từ điển thi pháp học và tu từ học thì “Nhịp

điệu là sự trở đi trở lại với những khoảng cách bằng nhau của một sự lặp lại bền vững” Cũng trong công trình này, Henri Morier phân chia “nhịp điệu”

thành nhịp điệu của tự nhiên (sự chuyển động của các hành tinh, sự luân chuyển ngày – đờm…); nhịp điệu cơ thể (nhịp tim, nhịp thở…) và nhịp điệu

nhân tạo (nhịp điệu của âm nhạc, thơ ca, kiến trỳc…) [ Henri Morier (1989), Từ điển thi pháp học và tu từ học, NXB ĐH Pháp Tài liệu dịch của Nguyễn Thái Hoà, tr8]

Không thống nhất với quan điểm đó, từ góc độ của một nhà soạn từđiển, Hoàng Phờ đó đưa ra định nghĩa mang tính khu biệt “nhịp” và “nhịp

điệu” Theo đó, “Nhịp là (1): Sự nối tiếp và lắp lại một cách đều đặn, tuần

hoàn các độ dài thời gian bằng nhau, làm nền cho nhạc.(2): Sự nối tiếp và lắp lại một cách đều đặn một hoạt động hay một quá trình nào đó (nhịp múa, nhịp thở, nhịp tim)” [44;714], còn “Nhịp điệu là sự lặp lại một cách

Trang 29

tuần hoàn cỏc õm mạnh và nhẹ sắp xếp theo những hình thức nhất định”[44;714] Như vậy, Hoàng Phờ đó tỏch nội hàm thuật ngữ “nhịp điệu”

của Henri Morier và gọi chúng bằng hai cái tên với nội hàm tương ứng là

“nhịp” và “nhịp điệu” Điều đó cho thấy, theo ý kiến của Hoàng Phờ thỡthuật ngữ “nhịp điệu” chỉ thuộc về lĩnh vực tạo nhạc chứ không có ở các lĩnhvực khác của tự nhiên, xã hội

Chúng tôi hiểu “nhịp điệu” theo nghĩa rộng là một phương thức tổ

chức hình thức phổ biến của các hiện tượng trong tự nhiên và trong đời sống xã hội Nó được thực hiện trên cơ sở sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên đều đặn của các yếu tố cùng loại theo một trình tự nhất định trong không gian, thời gian, quá trình.

● Phân loại nhịp điệu

Trên cơ sở ý kiến của Henri Morier chúng tôi đề xuất việc phân loại

“nhịp điệu” thành: nhịp điệu của tự nhiên (gồm: nhịp điệu vũ trụ: luân

phiên bốn mùa, ngày-đờm…; và nhịp điệu sinh học: nhịp thở, nhịp tim, nhịp

trao đổi chất…của các dạng sống trong đó con người chỉ là một bộ phận

quan trọng) và nhịp điệu nhân tạo (nhịp bước, nhịp điệu trong các ngành

nghệ thuật: âm nhạc, văn học, kiến trỳc…)

● Nhịp điệu trong nghệ thuật và nhịp điệu trong thơ

Thuật ngữ “nhịp điệu” xuất hiện trong các bộ môn nghệ thuật với tưcách là sự tổ chức hình thức độc đáo, một biểu hiện về sự sáng tạo của conngười nhằm tạo nên vẻ đẹp hài hoà, cân đối, uyển chuyển, sống động cho cáctác phẩm nghệ thuật Nghệ thuật thời gian (âm nhạc, văn học…) và nghệ thuậtkhông gian (điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ…) đều mang tính nhịp điệu Tronghội họa, nhịp điệu thể hiện ở sự luân phiên màu sắc sáng - tối, nóng - lạnh củabức tranh Với kiến trúc, đó là sự lặp lại của những hoa văn trang trí, nhữngđối xứng trong bố cục Sang đến âm nhạc - một nghệ thuật có tính thời gian,nhịp điệu thể hiện ở sự luân phiên các âm thanh có tính nhạc (không phải mọi

Trang 30

âm thanh nói chung) với những phách, quãng tương tự nhau về độ dài thời

gian tạo nên một sự lưu chuyển nhịp nhàng của dòng âm thanh

Không dễ để tìm được một định nghĩa thật hoàn chỉnh về “nhịp điệu”,lại càng khó khăn hơn khi muốn tìm sự biểu hiện của nhịp điệu trong các

ngành nghệ thuật Với riêng ngành nghệ thuật ngôn từ, đó có ít nhất khoảng

năm chục định nghĩa về nhịp điệu mà vẫn chưa có một sự phân loại nào thoả

đáng (theo K.Zắc trong cuốn Nhịp điệu và tiết tấu) [dẫn theo (8;1)] Tác giả

Vũ Thị Sao Chi trong một bài đi sâu nghiên cứu “nhịp điệu” đã tập hợp cácquan niệm khác nhau về nhịp điệu trong thơ văn thành sáu xu hướng chính,

đó là: (1) xu hướng đồng nhất “nhịp điệu” với “nhạc điệu”; (2) đồng nhất

“nhịp điệu” với “nhịp”; (3) quan niệm “nhịp điệu” là đặc trưng riêng của thơ;(4) quan niệm “nhịp điệu” là đặc trưng chung của thơ văn; (5) quan niệm

“nhịp điệu” là hiện tượng chỉ thuộc về mặt âm thanh của ngôn ngữ nghệthuật; (6) quan niệm “nhịp điệu” là hiện tượng thuộc cả mặt hình thức âmthanh và nội dung ý nghĩa Với mục đích tìm hiểu nhạc điệu trong các tácphẩm thơ của một tác giả cụ thể, Luận văn của chúng tôi không xem nhữngthao tác như vậy là cần thiết phải làm Chúng tôi chấp nhận định nghĩa “nhịp

điệu” và “nhịp điệu trong văn học” được thừa nhận rộng rãi hơn cả của Từ

điển thuật ngữ văn học để làm cơ sở nghiên cứu Theo đó, “Nhịp điệu là một phương tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật, dựa trên sự lặp lại

có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố có quan hệ tương đồng trong thời gian hay quá trình nhằm chia tách và kết hợp các ấn

tượng thẩm mỹ Trong Văn học, nhịp điệu là sự lặp lại cách quãng đều đặn

và có thay đổi của các hiện tượng ngôn ngữ, hình ảnh, mụ tớp,… nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra cảm giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệ thuật” [40;238].

Nhịp điệu có ở tất cả các cấp độ trong cấu trúc của tác phẩm văn học(cấp độ tổ chức văn bản, cấp độ tư tưởng, hình tượng, v.v ) với sự lặp lại,

Trang 31

luõn phiờn của các yếu tố nghệ thuật Nhận diện nhịp điệu vì thế cũng khókhăn như việc tìm hiểu nội dung, tư tưởng của một tác phẩm văn chương

Từ định nghĩa về “nhịp điệu” trong văn học đã trình bày ở trên, chúng

tôi thống nhất với kết luận rằng: nhịp điệu trong văn học được cấu thành bởi hai yếu tố là nhịp và điệu.

Nhịp trong nghệ thuật kớ õm của âm nhạc được hiểu là “những ô ngắn

có giá trị thời gian bằng nhau (tôi nhấn mạnh – BHY), được chia đều trong

tác phẩm âm nhạc, giữa cỏc ụ nhịp có những đường sổ đứng ghi trong khuôn

nhạc gọi là vạch nhịp dùng làm giới hạn giữa cỏc ụ nhịp, trong mỗi ô nhịp lại chia ra thành những phần nhỏ đều nhau ta gọi là phỏch”[8;33] Trong thơ văn,

nhịp được hình dung phức tạp hơn, đó là những khoảng lặp lại cách quãng đều

đặn, có thay đổi của một hiện tượng văn học nào đó trong tác phẩm thơ văn.Mỗi nhịp được giới hạn ở chỗ tách rời và luân phiên giữa hai khoảng khá bằngnhau của hiện tượng Với mỗi thể loại văn học và mỗi tác phẩm cụ thể, việcchia nhịp có những mức độ khó, dễ khác nhau Nhịp thơ dễ nhận diện hơnnhịp văn xuôi Nhịp ở bình diện tổ chức hình thức tác phẩm dễ nhận diện hơn

nhịp tư tưởng, nhịp cảm xúc …Khi nói đến nhịp cần phân biệt nhịp và sự ngắt

nhịp mặc dù hai khái niệm này gắn bó với nhau về bản chất.

Điệu là đường nét, tính chất âm thanh của nhịp, làm nên dáng vẻ, sắc

thỏi riêng cho nhịp Điệu quy định nhịp dài hay ngắn, mạnh hay yếu, nhanhhay chậm, nhấn hay lướt, và thường được hình dung trong thơ nhiều hơntrong văn xuôi Trong thơ Việt, các thanh, vần và nhịp đều có giá trị tạo ra

“điệu” từ đó tạo nhạc cho tác phẩm

Nhịp và điệu kết hợp với nhau tạo thành những dòng mạch vận động,

lưu chuyển nhịp nhàng trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học Ởcác tác phẩm thơ, sự luân phiên với tốc độ cao của nhịp điệu trong từng câuthơ, khổ thơ và toàn bài thơ dưới sự hỗ trợ của thanh điệu và vần đã tạo nênnhạc điệu cho tác phẩm Nếu thanh điệu và vần điệu là sự lan toả, cộng

Trang 32

hưởng trong không gian của âm thanh thì nhịp điệu lại là sự luân phiên đềuđặn trong thời gian của âm thanh ngôn ngữ.

Nhịp điệu là đặc trưng điển hình của thơ Cựng cú nguồn gốc từ ngônngữ tự nhiên song quá trình tổ chức ngôn ngữ, tổ chức hình thái vật chất của

âm thanh ở thơ tạo ra được nhạc tính cao hơn hẳn so với văn xuôi Nhiều nhànghiên cứu đẩy đến mức cực đoan khi cho rằng: chỉ thơ mới có nhạc điệu.Nguyễn Phan Cảnh đã lý giải kết luận đó của mình dựa trên sự tổ chức các

“tham số thanh học của ngôn ngữ” ở thơ và ở văn xuôi Ông cho rằng trong

văn xuôi, các tham số thanh học của ngôn ngữ (gồm thuộc tính âm thanh: cao độ, trường độ, cường độ; và đơn vị âm thanh: nguyên âm, phụ âm) đã

không được tổ chức, trái lại, các thuộc tính và đơn vị âm thanh được lưu giữ

và truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thi ca làm nên tiết tấu và vầnthơ - những yếu tố làm thành nhạc điệu Theo dẫn giải của Nguyễn PhanCảnh, nhạc tính trở thành ưu thế tuyệt đối của thơ so với văn xuụi chính là ởkhâu này [5;133] Lại Nguyên Ân cũng chỉ ra rằng: “Thơ và văn xuôi là haikiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khác nhau thuần tuý bề ngoài trướchết ở cơ cấu nhịp điệu Nhịp điệu ở thơ được tạo thành do sự phân chia (theonhững nguyên tắc mang tính số lượng) dòng ngôn từ tác phẩm thành nhữngngữ đoạn vốn không trùng hợp với sự phân chia dòng ngôn từ theo quy tắc

cỳ phỏp Cõu thơ tổ chức chất liệu ngữ âm một cách toàn diện, làm chongôn từ mang tính hoàn chỉnh trọn vẹn về nhịp điệu”[2;301-302] Nhịp điệucâu văn xuôi buông thả tự nhiên không có gợi ý gợi cảm nào đặc biệt Vớithơ, nhịp điệu giữ một vị trí quan trọng Nhịp điệu là xương sống của thơ,thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc,nhưng không thể vứt bỏ nhịp điệu

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện nhữngtâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh

và nhất là có nhịp điệu Như vậy, thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô

Trang 33

đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ.“Nhà thơ đó

là người đại diện cho nhịp điệu”(Blốc)[20;436], thơ có thể không cần vần

nhưng không thể thiếu nhịp điệu Tianov - một nhà chủ nghĩa hình thức Ngađịnh nghĩa thơ như là một cấu trúc đặc biệt được đặc trưng bởi sự phụ thuộc

của toàn thể các yếu tố vào nguyên tắc nhịp điệu (dẫn theo (7;20)]

Nhịp điệu thơ rất linh hoạt và cơ động, tạo thành do sự phối hợp củanhững quy luật riêng về âm thanh Thể thơ là những hình thức biểu hiện cụthể và xác định của nhịp điệu, nói cách khác, thể thơ chính là mô hình âmthanh đã được định trước cho người sáng tạo và người tiếp nhận văn bản thơ

Sự thay đổi và sáng tạo trong nhịp điệu là cơ sở của sự tạo thành những thểthơ mới về mặt thanh âm và vần điệu Hay nói đúng hơn là mỗi thể thơ tạonên một nhịp điệu riêng do sự quy định về câu, về từ và về vần Dù dướihình thức sáng tạo tìm tòi nào, thơ bao giờ cũng cần giữ được nhịp điệu, nhịpđiệu làm cho tứ thơ thêm bay bổng gợi cảm Có những bài thơ không vầnnhưng vẫn ngân nga theo một nhịp điệu riêng, vẫn dào dạt theo một âm

hưởng độc đáo “Thơ cần đến bộ (mốtre) hay nhịp là cái làm thành hương vị

duy nhất và độc nhất của nó mà người ta cảm thấy được và thậm chí có thểnói là nú cũn cần cái đó hơn là cần một cách diễn đạt đẹp, giàu hìnhảnh”[24;535-536] Muốn tạo được cái “hương vị duy nhất” và “độc nhất” ấy,nhịp điệu của bài thơ phải là sự cách điệu duyên dáng, là sự sáng tạo khônglặp lại

Trong Mĩ học phương Đông, nhịp điệu thơ ca được giải thích bằng sự

vận động lưu chuyển của thế giới Vận động vũ trụ xuyên thấm trong conngười, bộc lộ ở hành động và vận động nội tâm Vận động nội tâm thể hiện

ra ngoài bằng khí và hơi thở Nhịp điệu trong thơ chính là sự vận động củathế giới tâm hồn Sự tổ chức âm thanh vào một hệ thống nhịp điệu nào đókhông phải chỉ là sự sắp xếp một cách tự nhiên theo những liên kết có tínhchất máy móc, tuỳ tiện Ở đây có vai trò quan trọng của cảm xúc, của cảm

Trang 34

hứng sáng tạo Nói như Xuân Diệu, cái cơn rung động về vần điệu, hìnhtượng âm thanh của nhà thơ cũng nằm chung trong sức rung động mạnh mẽcủa cảm hứng sáng tạo [20;434]

Có thể khái quát rằng: nhịp điệu trong thơ là sự lặp lại cách quãng

đều đặn và có thay đổi của các hiện tượng ngôn ngữ, hình ảnh, mụ tớp,… nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới, tạo ra cảm giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của tác phẩm thơ, và đặc biệt

là tạo nhạc điệu cho thơ Ở cấp độ tổ chức văn bản thơ, đơn vị của sự lặp lại

là dòng thơ (cũng thường gọi là “cõu thơ”) với sự ổn định về số tiếng (bốn,năm, sáu tiếng…) và vần như là điểm ngắt của nó Vì vậy, mỗi thể thơ cómột nhịp điệu riờng Dũng thơ lại có kiểu ngắt nhịp của luật thơ, với độ dài,ngắn, cân đối… khác nhau (kiểu ngắt nhịp của lục bát thông thường là nhịp2/2/2 ở câu lục, 2/2/2/2 ở cõu bỏt, ngoài ra còn kiểu ngắt nhịp của song thấtlục bát, Đường luật…) Từ và các đơn vị trên từ (cụm từ), câu và các đơn vịtrờn cõu cũng là những đơn vị của sự lặp lại về hình thức của nhịp điệu trêncấp độ hình ảnh và cấu trúc cú pháp

● Các bình diện nhịp điệu trong thơ

Cả hai mặt âm thanh và ý nghĩa của các phương tiện ngôn ngữ tạo nênhình thức và nội dung của các tác phẩm thơ văn đều có thể có sự tổ chứcthành nhịp điệu Hai mặt này của đặc trưng ngôn ngữ tạo nên hai bình diệncủa nhịp điệu: bình diện âm thanh và bình diện ý nghĩa mà có thể được gọi

tên thành nhịp điệu lời thơ (hay nhịp điệu âm) và nhịp điệu ý Hiện tượng lặp

đi lặp lại, luân phiên và có thay đổi của các đơn vị nghệ thuật trong các tácphẩm văn chương thể hiện đa dạng ở cả mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ phápcủa văn bản văn học Về vấn đề này, trong một chuyên luận của mỡnh LờLưu Oanh cũng đã cho ý kiến: “Cú thể phân chia một cách đơn giản: thơ là

sự tổng hợp giữa nhịp lời và nhịp ý”, trong đó nhịp lời thể hiện ở những hìnhthức ngữ âm, tiết tấu về số lượng âm tiết, đối xứng về từ vựng, ngữ pháp,

Trang 35

vần, thanh điệu, còn nhịp ý thể hiện ở sự phân cấp các cấp độ hình tượng(hình ảnh, cảm xúc, tư tưởng…) trong sự đối ứng và lặp lại các yếu tố cùngloại [42;162].

Trong giới hạn về mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn,chúng tôi sẽ chỉ xem xét các bình diện của nhịp điệu trên những cơ sở rõràng về hình thức, do đó, thuật ngữ “nhịp điệu ý” tỏ ra không tường minhtrong việc phục vụ triển khai đề tài Chúng tôi xác lập lại hai bình diện hìnhthức của nhịp điệu thơ, đó là: nhịp điệu lời thơ (hay nhịp điệu âm) và nhịpđiệu hình tượng

+ Nhịp điệu lời thơ (nhịp điệu âm)

Nhịp điệu của lời thơ là tổ chức ngữ âm cao hơn âm tiết, có chức nănghình thành nên tính chất âm thanh của dòng ngữ lưu Đó là những cấu trúc

âm thanh được lặp lại một cách đều đặn trong tác phẩm thơ và được đánhdấu bằng những chỗ ngừng, ngắt Trong thơ, loại hình nhịp điệu này dễ nhậndiện hơn cả do nó được biểu hiện rõ nét và phát huy tính nhạc rất mạnh mẽ.Mỗi ngôn ngữ do chỗ có cấu tạo ngữ âm khác nhau nờn cú cỏch tạo nhịpđiệu lời thơ khác nhau Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiếttính, bản thân mỗi âm tiết đã có thể mang đầy đủ những thuộc tính âm thanh

để khu biệt với âm tiết khỏc (cỏc âm tiết này có thể cùng thuộc về một từhoặc là bản thân các từ)

Xem xét trên cơ sở các thành tố cấu thành sẽ cho ta cái nhìn toàn diệnhơn về nhịp điệu của lời trong các tác phẩm thơ

Nhịp (của lời thơ) là những đoạn âm thanh tương ứng với những

nhóm âm tiết trong chuỗi ngôn từ (một dòng thơ) được “cắt” ra bởi nhữngkhoảng “ngừng” (ngắt) ổn định, tạo thành những khoảng âm đều đặn nối tiếpnhau Trong Tiếng Việt, mỗi nhịp như thế thường phải đảm bảo được ít nhấtmột cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa nhất định (từ, cụm từ, cõu…) Nhưngtrong nhiều trường hợp của thơ Việt, khuôn nhịp khụng trựng mà phá vỡ

Trang 36

khuôn ngữ pháp - ngữ nghĩa để đạt được tính uyển chuyển, nhịp nhàng, giàunhạc điệu cho câu thơ Chẳng hạn, thay vì được ngắt nhịp theo đúng nguyên

tắc ngữ pháp - ngữ nghĩa như sau: Ngổn ngang/ gò đống/ kéo lên// Thoi

vàng hồ/ rắc/ tro tiền giấy/ bay//, thỡ câu Kiều trên lại được ngắt thành: Ngổn ngang/ gò đống/ kéo lên// Thoi vàng/ hồ rắc/ tro tiền/ giấy bay//

Điệu (của lời thơ) chính là đường nét, tính chất âm thanh của nhịp.

Các tính chất đó là cao độ (độ cao - thấp, bổng - trầm…của nhịp), trường độ (độ dài - ngắn của nhịp), cường độ (độ nhanh - chậm, nhấn - lướt, mạnh - yếu của nhịp) và âm sắc (sắc thái của âm thanh có được do tương quan giữa cao độ và cường độ) Các tính chất ấy của điệu có được do sự hỗ trợ đắc lực

của vần và thanh, làm nên sắc thái riêng của nhịp

Nhịp điệu lời thơ với sự lặp lại tuần hoàn thường hướng tới sự ổnđịnh của mô hình âm thanh Chính tính chất ổn định này đã đưa đến sự đúckết thơ trong những mô hình thi luật, ổn định thơ vào các thể Ở Việt Nam,tình hình này phổ biến nhất trong thơ cách luật truyền thống, ứng với mỗithể thơ là một (hoặc một vài) mô hình nhịp điệu đặc trưng: mô hình nhịpđiệu của thể lục bát, song thất lục bát, mô hình nhịp điệu của thể thất ngônĐường luật v.v Tuy vậy, nếu chỉ phân chia một cách máy móc nhịp thơtheo những mô hình ổn định ấy thì mỗi câu thơ chỉ còn là những cái khungtách khỏi lời nói, mà thật ra nhịp điệu dù phân chia ra theo đơn vị nào cũnggắn chặt với cảm xúc và tư duy được diễn đạt qua lời thơ Về vấn đề này,Timụfiep đó cú một nhận định rất đúng rằng: “Đơn vị của nhịp điệu khôngthể tách rời khỏi lời nói mà phải là đơn vị của lời nói, nghĩa là đơn vị củangữ nghĩa và ngữ điệu” [20;18]

Cơ sở của nhịp điệu thơ thường được đặt trên yếu tố ngữ âm, tuynhiên, nếu chỉ chú ý tới sự luân phiên đều đặn về ngữ âm thì chưa thể baoquát hết bản chất của nhịp điệu, bởi nhịp thơ là do nhịp cảm xúc chi phối, mà

sự vận động của nhịp cảm xúc cũng đa dạng, bí ẩn và vô cùng như sự vận

Trang 37

động vô cùng của thế giới Tìm hiểu nhịp điệu ý - thứ nhịp cảm xúc, thứ nhịpbên trong, sẽ cho ta cái nhìn toàn diện về nhịp điệu trong các tác phẩm thơ.

+ Nhịp điệu hình tượng

Nhịp điệu hình tượng theo chúng tôi là sự luân phiên, lặp lại có tính chấtchu kì của các yếu tố thuộc bình diện hình thức của tác phẩm thơ như: mụ tớp,hình ảnh, biểu tượng…mà từ đó có thể giúp khái quát nên được những đặc sắc

về hình tượng của tác phẩm thơ Không dễ nhận diện như nhịp điệu lời thơ, đơn

vị của sự lặp lại ở bình diện nhịp điệu này không chỉ yêu cầu một khả năngphân tích và tổng hợp cao mà nhiều khi cũng đòi hỏi sự đi sâu vào thế giới nghệthuật của tác phẩm Khi Maiakụpxki cho rằng “nhịp điệu là sức mạnh cơ bản,năng lực cơ bản của câu thơ Không giải thích được nú đõu, chỉ có thể nói vềnhịp như nói về từ lực hoặc điện Từ lực và điện, đó là những dạng của nănglượng”, tức là ông cũng đã xác định tính trừu tượng, khó nhận diện của nhịpđiệu nói chung và nhịp điệu hình tượng nói riêng [20;428]

Trong bài Mấy ý nghĩ về thơ (1949), Nguyễn Đình Thi quan niệm:

“Nhịp điệu của thơ không những là nhịp bằng bằng, trắc trắc, lên bổng xuốngtrầm của tiếng đàn bên tai (…) Thơ có một thứ nhạc nữa, một thứ nhịp điệubên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn(…) Đó là nhịp điệu thành hình của những cảm xúc, hình ảnh liên tiếp hòahợp mà những tiếng và chữ gợi ra như những ngân vang dài, ngay nhữngkhoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kớn đỏocủa sự xúc động”[33] Theo quan niệm đó, nhịp điệu không những khôngtrùng với âm luật, không cần sự giúp đỡ của thanh điệu mà nó tự tạo ra nhữngyếu tố tự do phù hợp với rung động tâm hồn Nhịp điệu không thể là nhữngkhuôn mẫu buồn tẻ mà bao giờ và trước hết là tình cảm

Nhịp điệu ngoài đời sống tạo được sự cộng hưởng với phần bên trongcủa tâm hồn chớnh vỡ tự bên trong của tâm hồn đó cú sự vỗ nhịp, chuyển độngtạo nên được sự hoà điệu giữa những nhân tố khách quan và chủ quan Trở lại

Trang 38

với quan niệm về nhịp điệu của Maiakụpxki đó trình bày ở trên, khi ông xemnhịp điệu như một yếu tố của năng lượng thơ là nhằm nhấn mạnh đến tính cộnghưởng (rộsonance) của nhịp điệu bài thơ đến người đọc, nhấn mạnh những yếu

tố bên trong tham gia vào việc hình thành và tổ chức nhịp điệu Nhịp điệukhông thuần tuý là những ngân vang bên ngoài đi kèm theo ý thơ và cú lỳc nhưthoát ra khỏi ý thơ, nó là giọng điệu, sắc thái và cường độ của cảm xúc thơquyện hoà, tồn tại ngay trong chớnh dũng âm nhạc của thi ca và tạo thành nănglượng cơ bản của câu thơ “Tụi không biết là nhịp tồn tại ở bên ngoài tôi haychỉ có ở trong tôi, đúng hơn là ở trong tụi”[20;432] í kiến này của Maiakụpxkimột lần nữa khẳng định rằng: trong bản thân mỗi người đã có sẵn những ýhướng về nhịp điệu, đú chớnh là cơ sở để độc giả “đồng điệu” với tác giả

Tiểu kết 1

Trong Chương I của Luận văn chúng tôi đã cố gắng giải quyết nhữngvấn đề về mặt thuật ngữ để hình thành cơ sở lý luận cho việc triển khai nộidung ở các chương sau Có thể tổng hợp lại những kết quả đó thành các luậnđiểm sau:

1 Nhạc điệu là một đặc tính độc đáo của nghệ thuật thơ ca, thể hiện sựgần gũi giữa thơ ca và âm nhạc

2 Nhạc điệu là vấn đề vừa thuộc nội dung, vừa thuộc hình thức củatác phẩm thơ

Với vai trò là một bình diện nội dung của tác phẩm, nhạc điệu trướchết là câu chuyện của cảm xúc Cảm xúc trong sáng tạo và cảm xúc trongtiếp nhận, và cảm xúc trong tác phẩm với vai trò là cầu nối trong việc truyềnmột thứ “nhạc cảm”, “nhạc lũng” của những “điệu hồn” đồng điệu Để cóđược sự liên tưởng của tổ chức âm thanh với các cảm giác âm nhạc (nhạccảm) trong lòng người tiếp nhận, nhạc điệu cần đến những hình thức biểuhiện phù hợp

Trang 39

Bình diện hình thức của nhạc điệu trong tác phẩm thơ thể hiện ở chỗ:Nhạc điệu trong văn học và nhạc điệu trong thơ là cấu tạo ngữ âm của lờivăn nghệ thuật hình thành bởi vật liệu âm thanh của ngôn từ thể hiện đặc sắccủa văn học như một nghệ thuật thời gian Yếu tố hình thái vật chất tạo nênnhạc điệu rất đa dạng nhưng có thể được khuôn vào mô hình với ba yếu tốhình thức chủ đạo là: thanh điệu, vần điệu và nhịp điệu

3 Tư duy Thi pháp học chỉ ra rằng: hình thức phải là hình thức của

một nội dung nào đó, phải là một hình thức mang tính nội dung, hình thứcmang tính quan niệm; nội dung phải có một hình thức thể hiện cụ thể và phùhợp Nói vậy để thấy rằng, dù thanh điệu, vần điệu, nhịp điệu được xem lànhững biểu hiện hình thức của nhạc điệu thơ thì bản thân mỗi yếu tố ấy cũngphản ánh nội dung thơ ở một chừng mực nhất định Đề cập đến vấn đề nàythì dường như nhịp điệu thơ là vấn đề phức tạp nhất, vì trong ba yếu tố hìnhthức làm thành nhạc điệu, nhịp điệu là yếu tố thuộc về nội dung nhiều hơn

cả Vì lẽ đó, khi đi giới thuyết về nhịp điệu như một yếu tố quan trọng làmthành nhạc điệu, chúng tôi vẫn thừa nhận hai bình diện của nhịp điệu là nhịpđiệu lời thơ (nhịp điệu âm) và nhịp điệu ý, nhưng trong quá trình tìm hiểu

“Nhạc điệu trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng thỏng Tỏm”, do mụcđích, nhiệm vụ được đặt ra ngay từ đầu của Luận văn là chỉ nghiên cứu mặthình thức nhạc điệu nên chúng tôi tạm trừu tượng đi những vấn đề thuộc vềnội dung, nhịp điệu ý ở đây do đó chỉ còn là nhịp điệu hình tượng – một hiệntượng văn học mà ta có thể nghiên cứu được ngay ở mặt câu chữ của bài thơvới những hình ảnh và cấu trúc cú pháp

Chương II

THANH ĐIỆU, VẦN ĐIỆU TRONG THƠ XUÂN DIỆU

TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 2.1 Thanh điệu trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám

Trang 40

2.1.1 Một số quy tắc về thanh điệu của thơ Đường luật

Thơ Đường luật là thể thơ chủ đạo đời Đường (ở Trung Quốc), có vaitrò chi phối nhiều thể thơ khác cùng thời và cả về sau này không chỉ ở TrungQuốc mà ở cả những quốc gia chịu ảnh hưởng văn hoá, văn học Trung Quốc

trong đó có Việt Nam Nếu căn cứ vào số chữ trong một câu, có thất ngôn và

ngũ ngôn Đường luật Nếu căn cứ vào số câu trong một bài, người ta chia

thành: tuyệt cú (có khi còn gọi là tứ tuyệt – bốn câu), bỏt cú (tỏm câu) và bài

luật (hay trường luật, nghĩa là bài thơ luật kéo dài) Thơ Đường phức tạp, gò

bó vì chú trọng đặc biệt đến vấn đề niêm và luật thơ Đây cũng là hai yếu tố

ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến thanh điệu, rộng hơn là nhạc điệu củaloại thơ này

Luật thơ là cách sắp đặt tiếng bằng và tiếng trắc trong từng câu và

trong toàn bài thơ Đường luật Về cơ bản, các bài thơ Đường luật phải có sựhài hoà về thanh điệu, tức là sự phân bố các thanh bằng – trắc phải tương đốiđều nhau Hệ thống thanh bằng, thanh trắc cân xứng được kể từ chữ thứ hai

của dòng thơ đầu Nếu chữ đó có thanh bằng thì bài thơ làm theo luật bằng, nếu là thanh trắc thì làm theo luật trắc Ví dụ:

Về luật trắc: Bước tới đèo ngang bóng xế tà

t T b B t T b

Về luật bằng: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

b B t T t B b

Đây là hệ thống ngang luật bằng trắc của bài thơ Đường luật Ngoài

ra, cỏc cõu trong toàn bài còn phải dính liền với nhau theo một hệ thống dọc

về bằng trắc mà người ta gọi là niêm.

Niêm (nghĩa đen là “dớnh”) là sự phù hợp về âm luật của hai câu thơ

trong bài Đường luật Cõu trờn niờm với câu dưới tức là: tính theo chữ thứ haicủa cõu thỡ bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo một hệ thống như sau:

- Chữ thứ hai của câu 1 niêm với chữ thứ hai của câu 8

Ngày đăng: 18/12/2014, 02:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Anh (2007), Thơ Mới với thơ Đường, NXB Văn học. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Mới với thơ Đường
Tác giả: Lê Thị Anh
Nhà XB: NXB Văn học. HN
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (2005), 150 thuật ngữ Văn học, NXB ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân (biên soạn)
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2005
3. Nguyễn Bao (biên soạn và giới thiệu) (1991). Xuân thu nhã tập, NXB Văn học.HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân thu nhã tập
Tác giả: Nguyễn Bao (biên soạn và giới thiệu)
Nhà XB: NXB Văn học.HN
Năm: 1991
4. Vừ Bình (1975), “Bàn thêm một số vấn đề về vần thơ”, TCNN, (Số 3), tr 29 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm một số vấn đề về vần thơ"”, TCNN
Tác giả: Vừ Bình
Năm: 1975
5. Nguyễn Phan Cảnh (2002), Ngôn ngữ thơ, NXB VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2002
6. Hoàng Châu (1998). Nhạc lí căn bản và thực hành, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc lí căn bản và thực hành
Tác giả: Hoàng Châu
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1998
7. Vũ Thị Sao Chi (2005), “Một số vấn đề về nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam”, TCNN, (Số 3), tr 1 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn ViệtNam”, "TCNN
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2005
8. Vũ Thị Sao Chi (2008), “Nhịp điệu và các loại hình của nhịp điệu trong thơ văn”, TCNN, (Số 1), tr 12 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhịp điệu và các loại hình của nhịp điệu trong thơ văn”,"TCNN
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2008
9. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng Ngôn ngữ học, NXB ĐH&GDCN, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng Ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXBĐH&GDCN
Năm: 1991
10. Mai Ngọc Chừ (2006), “Tớnh nhạc trong thơ Việt Nam”, TCNN, (Số 5), tr 77 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tớnh nhạc trong thơ Việt Nam”, "TCNN
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2006
11. Xuân Diệu (1954), Tiếng thơ. NXB Văn nghệ. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn nghệ. HN
Năm: 1954
12. Xuân Diệu (1983), “Một tâm sự thi sĩ”, TCVH. (Số 1), tr 49 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một tâm sự thi sĩ"”, TCVH
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1983
13. Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ. NXB Văn học. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học. HN
Năm: 1984
15. Lê Tiến Dũng (1996), Thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945 trong quá trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại, Luận án PTS Ngữ văn, ĐH KHXH&NV TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945 trong quá trình cách"tân thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 1996
16. Phan Huy Dũng (1999), “Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc một đặc điểm kết cấu loại hình của nhiều bài Thơ mới (1932-1945)”, TCVH, (Số 2), tr 67 – 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc một đặcđiểm kết cấu loại hình của nhiều bài Thơ mới (1932-1945)”, "TCVH
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
17. Phan Huy Dũng (1999). Kết cấu thơ tình (Nhìn từ góc độ loại hình), Luận án Tiến sĩ, ĐHSP HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ tình (Nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
18. Phan Cự Đệ (2002), Văn học lãng mạn 1930-1945. NXB Văn học. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn 1930-1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Văn học. HN
Năm: 2002
19. Nguyễn Đăng Điệp (2001). “Giọng điệu thơ Xuân Diệu trước 1945”, TCVH, (Số 2), tr 81 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ Xuân Diệu trước 1945”, "TCVH
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2001
20. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1974
21. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2002), Dẫn luận Ngôn ngữ học, NXB GD, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w