Nhận xét, kết luận về tình hình khảo sát 67 CHƯƠNG II: NHỮNG BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH, RÈN LUYỆN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VĂN HỌC VÀO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CỦA HỌC SINH T.H.P.T 71 1..
Trang 1NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÁC LẬP
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN
THỨC VĂN HỌC CỦA HỌC SINH VÀO LÀM VĂN NGHỊ
1 VAI TRÒ ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG CỦA VIỆC VẬN DỤNG
KIẾN THỨC TRONG QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ HỌC
1.3 Vận dụng kiến thức là sự thể hiện tư duy sáng tạo của học sinh 21
1.4 Vận dụng kiến thức gắn liền với quan niệm mới về kiến thức 23
1.5 Năng lực vận dụng kiến thức là một phẩm chất, một tiêu chí
của mục tiêu đào tạo con người năng động, sáng tạo trong nhà trường 25
2 QUAN HỆ GIỮA KIẾN THỨC VĂN HỌC VỚI BÀI LÀM 27
Trang 2VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
2.1 Văn nghị luận và bài văn nghị luận văn học trong nhà trường
2.2 Vị trí kiểu bài văn nghị luận văn học trong nhà trường THPT 29
2.3 Vai trò của văn nghị luận văn học trong nhà trường THPT 30 2.3.1 Bài làm văn nghị luận văn học là bài làm có tính thực
hành, có tính chất tổng hợp vận dụng kiến thức bộ môn Ngữ văn 30 2.3.2 Bài làm văn nghị luận văn học là sản phẩm sáng tạo của
cá nhân thể hiện tích hợp vốn sống, tâm lý, tư duy, tình cảm và nhân
2.3.3 Làm văn nghị luận văn học góp phần rèn luyện tư duy
lôgíc, phương pháp tư duy biện chứng, bồi dưỡng nhận thức, phát
triển nhân cách, đào luyện con người theo mục tiêu đào tạo của nhà
2.4 Làm bài văn nghị luận văn học là quá trình huy động một cách có
ý thức nguồn kiến thức văn học đã được tích luỹ 38 2.4.1 Kiến thức về các tác phẩm cụ thể là kiến thức cụ thể tạo nên
2.4.2 Kiến thức văn học sử là kiến thức tổng hợp tạo những tiền đề
để học sinh liên hệ so sánh, rót ra những nhận xét, đánh giá, kết luận
2.4.3 Kiến thức lý luận văn học là kiến thức có tầm khái quát giúp
học sinh nâng cao trình độ nhận thức văn học, làm văn nghị luận văn
2.5 Tác dụng của việc vận dụng kiến thức văn học vào bài làm văn
2.5.1 Vận dụng tốt kiến thức văn học vào bài làm văn NLVH sẽ
giúp bài viết có nhũng dữ liệu khoa học cần thiết 45 2.5.2 Vận dụng tốt kiến thức văn học vào bài làm văn NLVH sẽ 51
Trang 3giúp cho bài viết được phong phó, sâu sắc.
2.6 Khảo sát thực trạng năng lực vận dụng kiến thức văn học trong
bài làm văn nghị luận của học sinh ở trường THPT và cách chấm bài
2.6.6 Nhận xét, kết luận về tình hình khảo sát 67
CHƯƠNG II: NHỮNG BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH, RÈN
LUYỆN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VĂN HỌC VÀO
BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CỦA HỌC SINH T.H.P.T 71
1 Hướng dẫn học sinh ghi nhớ kiến thức theo hệ thống và biết huy
2 Hướng dẫn học sinh tích hợp kiến thức lý thuyết làm bài văn nghị
luận văn học với kiến thức về các tác phẩm văn học cụ thể, văn học
3 Hướng dẫn học sinh luôn có ý thức đặt vấn đề cần giải quyết trong
mối quan hệ hữu cơ với những kiến thức về tác giả, tác phẩm, dòng
4 Hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp so sánh trong quá trình viết
5 Giáo viên đổi mới cách ra đề và cách đánh giá bài làm của học sinh 90
Trang 4KẾT LUẬN 108
Trang 5BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-*** -NGUYỄN THỊ BÍCH ĐÀO
NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VĂN HỌC CỦA HỌC SINH VÀO LÀM VĂN
NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Ở TRƯỜNG THPT
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Chuyên ngành : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN
Mã sè : 60 14 10
HÀ NỘI- 2006
Lời cảm ơn
Trang 6Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giáo sư Phan Trọng Luận, người thầy đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình làm luận văn.
Xin được chân thành cảm ơn Phòng quản lý khoa học, ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo trong tổ phương pháp dạy học văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện, động viên, khích lệ, giúp
đỡ trong lúc học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn trường Đại học Hải Phòng đã tạo điều kiện cho em được học tập để nâng cao trình độ chuyên môn.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể gia đình các thầy cô lời kính chúc sức khoẻ, niềm vui và hạnh phúc !
Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2006
Trang 73.TPVH : Tác phẩm văn học
4.NXB : Nhà xuất bản
5.NCGD : Nghiên cứu giáo dục
ĐỊA CHỈ TÀI LIỆU
Địa chỉ tài liệu năm trong [ ]
Số thứ nhất là số thứ tự tài liệu
Số thứ hai là số trang trong tài liệu
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhà trường của chóng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học.Mục đích của sự đổi mới là yêu cầu sản phẩm giáo dục tạo ra phải là những conngười có nhân cách, sáng tạo, năng động, tự lập, tự chủ trong việc giải quyết cáctình huống thực tế của đời sống Mỗi môn học trong nhà trường đều gánh lấy Ýtnhiều trọng trách trong việc Giáo dục Đào tạo con người Môn Ngữ văn là mônhọc được ký thác nhiều trọng trách nhất, có lẽ chỉ trừ thể dục còn đức dục, trídục, mỹ dục nó đều phải đảm nhận Môn Ngữ văn bao gồm ba phân môn: Văn –Làm văn – Tiếng việt Trong đó làm văn chính là kết quả học tập của hai phânmôn còn lại Khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này, người viết đã ý thức được ýnghĩa về mặt khoa học và cả ý nghĩa về mặt thực tiễn của vấn đề Lý do lựachọn đề tài tựu trung ở năm lý do cơ bản sau:
1.1 Tầm quan trọng đặc biệt của văn nghị luận nói chung và bài làm văn nghị luận văn học nói riêng ở trường THPT.
Ba dạng văn bản mà học sinh phải học và làm trong nhà trường:
- Dạng sáng tác văn học: miêu tả, tường thuật, kể chuyện, …
- Dạng bài nghị luận với hai nội dung cơ bản là nghị luận xã hội và nghịluận văn học
- Dạng văn bản hành chính công cụ: đơn từ, biên bản, …
Tuy nhiên chúng ta có thể nhận thấy dạng bài nghị luận được ưu tiên sốlượng thời gian học từ bậc trung học cơ sở đến bậc trung học phổ thông Đặcbiệt ở chương trình THPT dạng bài nghị luận được ưu tiên hơn cả, văn nghị luậnđược coi là một trong những tri thức then chốt nhất của chương trình làm vănTHPT Trong dạng văn nghị luận thì nghị luận văn học là loại bài đặc trưng nhấttrong chương trình Việc phân chia văn nghị luận thành hai nội dung: Nghị luận
xã hội và nghị luận văn học chỉ có tính tương đối vì tính chất tổng hợp phức tạpcủa văn nghị luận không đơn giản để chúng ta phân chia một cách rạch ròi
Trang 9nhưng hiện nay sách giáo khoa cũng đang sử dụng sự phân chia này là để tiệncho việc giảng dạy và học tập.
Nghị luận văn học giữ vai trò là loại bài cơ bản trong chương trình vìthông qua bài làm văn nghị luận văn học của học sinh, chóng ta đánh giá đượckết quả “đầu ra” của quá trình dạy học văn và tiếng Việt Hơn nữa từ cải cáchgiáo dục, loại bài nghị luận văn học cũng trở thành loại bài chủ yếu nếu khôngmuốn nói là loại bài duy nhất trong các kỳ thi
1.2 Việc dạy học phần làm văn cũng nh hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luận văn học chưa tương xứng với tầm quan trọng của môn học.
Một điều cơ bản trong quá trình dạy học mà ai trong chóng ta còng mongmuốn là học sinh biết vận dụng kiến thức từ cấp độ lý thuyết vào thực hành Đốivới môn Ngữ văn thì phân môn làm văn chính là điểm tựa để giáo viên đánh giá
sự học của học sinh Làm văn là môn thực hành, ứng dụng Đây là phân môn màngười giáo viên qua đó sẽ rèn luyện tư duy, bồi dưỡng nhận thức và phát triểnnhân cách cho học sinh Tầm quan trọng của phân môn làm văn là nh thế nhưngtrên thực tế dường nh chóng ta chỉ nhìn nhận nó trên phương diện lý thuyết.Hiện nay, trong các nhà trường, phân môn làm văn “đang chịu bạc bẽo” Chúng
ta nói nhiều đến đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nhưng lại chỉ chú trọngđến đổi mới phương pháp giờ dạy học văn Thậm chí có lúc phân môn làm văn
bị gạt sang bên Tiếng Các giờ làm văn trên lớp được giáo viên và học sinh thựchiện một cách qua loa Điều đó dẫn đến hậu quả là khi phải làm các bài văn nóichung và các bài văn nghị luận văn học nói riêng học sinh làm bài mò mẫm,lúng túng Có những bài viết khi đọc lên không thấy tính chất nghị luận ở chỗnào Hầu như học sinh làm bài là sự trả lại thầy cô những gì ghi nhận được quagiờ giảng văn Những bài nghị luận văn học là chỗ để học sinh bộc lộ sự cảmthụ riêng tư thì ngược lại các em làm theo mẫu, theo lời thầy cô Việc làm bàichỉ là đối phó với các kỳ thi Từ chỗ không biết cách làm bài dẫn đến học sinh
sợ làm văn và chán học văn
Trang 101.3 Năng lực vận dụng kiến thức văn học trong bài làm văn nghị luận văn học của học sinh còn nhiều hạn chế.
Trong quá trình học tập, phải nói rằng khâu vận dụng kiến thức ở học sinhcòn nhiều hạn chế, non yếu Năng lực vận dụng kiến thức văn học vào bài làmvăn nghị luận văn học của học sinh THPT cũng đang nằm trong tình trạng đó.Bài nghị luận văn học dù ở kiểu loại nghị luận văn học nào cũng đều cần có kiếnthức tổng hợp: Kiến thức về lý luận văn học, kiến thức về văn học sử, kiến thức
về tác phẩm văn học Nhưng qua thực tế khảo sát bài làm văn nghị luận văn họccủa các em học sinh thì khả năng vận dụng tổng hợp ba loại kiến thức trên trongbài làm còn nhiều hạn chế Học sinh làm bài thường chỉ biết đến loại kiến thức
về tác phẩm văn học Dường như học sinh chưa ý thức được chính kiến thức líluận văn học và kiến thức văn học sử là kiến thức giúp cho bài viết có tính lýluận, có chiều sâu Ở một số bài làm của học sinh có thể hiện đôi chút việc vậndụng kiến thức thì lại vận dụng một cách vụng về, sống sượng, không nhuầnnhuyễn Đây là một điểm yếu quan trọng mà người thầy cần có những biện pháphướng dẫn cụ thể để cải thiện tình trạng làm bài như hiện nay của học sinh
1.4 Khả năng vận dụng kiến thức văn học vào bài làm văn nghị luận văn học của học sinh là mét thước đo hiệu quả đổi mới trong phương pháp dạy học
Môn Ngữ văn trong nhà trường những năm gần đây đang trở thành vấn đềthời sự được nhiều người quan tâm Học sinh chán học còn giáo viên không cóhứng thú khi giảng dạy Trước thực trạng đó ngành Giáo dục đã thực hiện đổimới phương pháp dạy học Ngữ văn sao cho việc dạy học thể hiện đúng với tínhchất của môn học và phù hợp đối tượng học sinh trong thời đại mới Có lẽ đểđánh giá tiến trình đổi mới và hiệu quả đổi mới được rõ ràng, chính xác thì phảidựa vào mức độ vận dụng kiến thức văn học của học sinh trong bài làm văn nghịluận văn học
Trang 11Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nhằm phát huy tínhchủ thể trong việc tự chiếm lĩnh tác phẩm văn học, học sinh là bạn đọc đồngsáng tạo với nhà văn, học sinh biết đánh giá các hiện tượng văn học bằng ý kiếncủa mình, biết sử dụng tiếng Việt một cách trong sáng,… Thông qua bài viếtcủa học sinh chóng ta sẽ nắm được hiệu quả đổi mới dạy học đã đạt đến mức độnào Nếu mỗi bài viết thể hiện sự vận dụng kiến thức nhuần nhuyễn tức kiếnthức học sinh thu nhận được đã được tiêu hoá, đã trở thành kiến thức của bảnthân, khi Êy bài viết của các em sẽ thể hiện một cá tính riêng, nhân cách củangười học Khi bài viết của các em đạt được kết qủa nh vậy là khi chóng ta đãđạt được hiệu quả trong đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn.
1.5 – Việc nghiên cứu phân môn làm văn còn nhiều khoảng.
Cho đến ngày hôm nay, sự đóng góp của các công trình nghiên cứu phầnnhiều cho phân môn Văn, phân môn Tiếng Làm văn vẫn là phân môn có sốlượng công trình nghiên cứu còn rất khiêm tốn, khi lựa chọn đề tài này, ngườiviết mong muốn có thêm một chút đóng góp cho phân môn làm văn - một phânmôn có vị trí vai trò quan trọng trong chương trình nhưng chưa được nhìn nhậnmột cách thoả đáng
2 - Lịch sử nghiên cứu.
Văn nghị luận có từ rất lâu đời Ở Trung hoa, người ta xác định văn nghịluận có từ thời Khổng Tử (551- 479 trước Công nguyên) Còn ở nước ta vănnghị luận cũng có từ rất sớm Những văn bản nh “Chiếu dời đô”(1010) của LýCông Uẩn, “ Hịch tướng sĩ” (1285) của Trần Quốc Toản, “Bình Ngô đại cáo”(1428) của Nguyễn Trãi,… có thể coi là những áng văn nghị luận đầu tiên củanước ta Sù ra đời của văn nghị luận đã nhanh chóng xác lập được vị trí vai tròcủa nó trong việc góp phần phát triển trí tuệ và nhân cách của người học sinh ởtrường phổ thông Điều này thể hiện ở phân môn làm văn đã chiếm một thờilượng đáng kể trong chương trình, đặc biệt là loại văn nghị luận văn học Songsong với sách giáo khoa làm văn trong nhà trường thì số lượng các công trình
Trang 12nghiên cứu, các bài viết về cách làm một bài văn nghị luận văn học ngày mộtnhiều hơn, nhất là tình hình những năm gần đây học sinh tá ra non kém và lúngtúng khi phải làm văn Trong số những cuốn sách, những bài viết Êy có thể kểđến một số tài liệu có liên quan, có đề cập tới khía cạnh năng lực vận dụng kiếnthức văn học của học sinh trong bài làm văn nghị luận văn học như sau:
Năm 1982 cuốn “Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy tập làm văn”dùng cho bậc THPT của Nhà xuất bản Giáo dục chỉ để nói về văn nghị luận.Cuốn sách chỉ ra vai trò tác dụng của văn nghị luận ở nhà trường trong việc đàotạo giáo dục con người Cuốn sách cũng nhấn mạnh đến vai trò của dạng bàinghị luận văn học trong nhà trường THPT Trong phần “điều kiện để làm mộtbài tập làm văn nghị luận”đã chỉ ra: để làm tốt bài văn nghị luận học sinh phảihọc tốt cả văn học sử, lý luận văn học, giảng văn
Tiếp theo, là một loạt những bài báo viết về dạy học tập làm văn
“Dạy tập làm văn ở trường sư phạm”- Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, số 3năm 1984 – Trương Chính
“Dạy tập làm văn”- Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, số 1 năm 1984 - HồNgọc Đại
“Rèn luyện kỹ năng làm văn cho học sinh phổ thông trung học”- Tạp chínghiên cứu Giáo dục, số 7 năm 1984 - Đỗ Kim Hồi
“Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn” - Nhà xuất bản Giáo dục, năm
1985 - Nguyễn Quang Ninh
“Dạy và học lý luận văn chương ở trường phổ thông”- Tạp chí nghiên cứuGiáo dục, số 5 năm 1986 - Cao Đức Tiến Trong bài viết, tác giả đã nhấn mạnhđến vai trò vận dụng kiến thức lý luận văn học vào bài làm văn nghị luận vănhọc ở trường phổ thông
Cuốn “ Làm văn” của Đình Cao, Lê A, Nhà xuất bản Giáo dục năm 1989.Hai tác giả đã dành vài trăm trang để nói về loại bài nghị luận văn học Trongkhi đề cập đến phương pháp và kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học, hai tác
Trang 13giả đã chỉ ra các loại kiến thức và cách huy động kiến thức vào bài làm Đó làkiến thức về các tác phẩm cụ thể, kiến thức về văn học sử, kiến thức về lý luậnvăn học.
Cuốn “Một số vấn đề về môn làm văn và sách làm văn 11phổ thông trunghọc”- Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1991 của Giáo sư PhanTrọng Luận (Chủ biên), trong phần “Mấy tồn tại chính của môn làm văn ở phổthông trung học(Trước và sau khi thay sách làm văn 10) cần được tiếp tục khắcphục”, tác giả đã chỉ ra mét trong những tồn tại ở nhà trường là: Lối dạy vănkhuôn mẫu, xơ cứng, quan niệm làm văn nặng về thi cử cho nên học sinh làmbài không có tính sáng tạo Thiếu tính sáng tạo trong bài làm thể hiện ở khảnăng vận dụng kiến thức kém Cách vận dụng kiến thức ngây ngô, lạc lõng,không ăn nhập, thiếu định hướng, thiếu chọn lọc
Cuốn “Muốn viết được bài văn hay” Nhà xuất bản Giáo dục năm 1993 doNguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên) Khi trình bày để viết được bài văn nghị luậnhay, tác giả không trực tiếp nói đến việc vận dụng các loại kiến thức của văn mànói phải sử dụng các thao tác như liên hệ, đối chiếu, so sánh Việc sử dụng cácthao tác này, thiết nghĩ đó chính là việc vận dụng kiến thức vào trong bài làm.Trong luận án Phó Tiến sĩ “Kỹ năng lập ý cho học sinh phổ thông trunghọc ở loại bài văn nghị luận văn học”, Hà Nội năm 1994 - Đỗ Ngọc Thống Tácgiả chỉ rõ: “Để viết được nghị luận văn học hay, người viết cần có năng lực vănhọc Năng lực Êy thể hiện ở trình độ hiểu biết về lịch sử văn học, lý luận vănhọc, tác phẩm văn học” Phải chăng chính là tác giả muốn nói cần phải có sựvận dụng tổng hợp kiến thức văn học trong bài nghị luận văn học
Cuốn giáo trình: “Phương pháp dạy học văn” - Nhà xuất bản Đại học quốcgia Hà nội năm 1996 do các soạn giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, NguyễnThanh Hùng, Trần Thế Phiệt, ở chương VII “Phương pháp dạy học môn làmvăn” các tác giả đã nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa “Quá trình chiếm lĩnh mộttác phẩm văn chương trong giờ giảng văn hay quá trình thông hiểu một văn bản
Trang 14văn học học sử trong giờ văn học sử chủ yếu vẫn là một quá trình tiếp nhậnthông hiểu những kiến thức mới Còn quá trình làm văn lại là quá trình vận dụngnhững hiểu biết (…) để tạo nên một sản phẩm sáng tạo của cá nhân” Đề cập đếnviệc vận dụng kiến thức các tác giả chỉ ra quá trình vận dụng kiến thức theo từnggiai đoạn với những thao tác tư duy khác nhau.
Cuốn “Dạy văn, học văn” Nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2001 Đặng Hiển, người viết đã chỉ ra công đoạn vận dụng kiến thức trong bài làm văn
-là rất quan trọng để có thể viết được một bài văn tốt
Chóng ta còn có thể kể đến rất nhiều những cuốn sách, bài báo khác bàn
về việc làm văn nói chung và loại bài nghị luận văn học nói riêng nh:
“Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”- Tạp chí nghiên cứu Giáodục, số 28 năm 1973 - Phạm Văn Đồng
“Về môn làm văn ở trường phổ thông trung học” - Tạp chí nghiên cứuGiáo dục, số 1 năm 1994 - Đỗ Ngọc Thống
“Một số vấn đề về văn nghị luận ở cấp hai”- Bộ Giáo dục và Đào tạo năm
1995 - Nguyễn Thanh Hùng
“Bí quyết giỏi văn”- Nhà xuất bản Giáo dục năm 1995 - Vũ Ngọc Khánh
“Về phương pháp hướng dẫn đưa lý thuyết lập luận trong văn nghị luậnvào môn làm văn ở trường THPT”- Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, số 12 năm
Trang 15“Giúp em làm tốt bài văn nghị luận văn học”- Tạp chí văn học và tuổi trẻ,
số 12 năm 2005 - Đặng Ngọc Phương
Sau khi tiến hành nghiên cứu lịch sử vấn đề: Năng lực vận dụng kiến thứcvăn học của học sinh vào bài làm văn nghị luận văn học, chóng ta có thể nhậnthấy: Các tác giả khi viết về cách thức làm bài văn nghị luận văn học đều đề cậpđến yêu cầu vận dụng kiến thức văn học trong bài làm như là một đòi hỏi bắtbuộc, có tính nguyên tắc Nhưng làm thế nào để học sinh biết vận dụng kiếnthức văn học vào bài làm văn nghị luận văn học thì các tác giả lại chưa chỉ ra cụthể Chưa có tài liệu nào đặt vấn đề: “Những biện pháp phát triển năng lực vậndụng kiến thức văn học của học sinh vào làm văn nghị luận văn học ở trườngTHPT”
Là người đi sau và tiếp tục nghiên cứu về vấn đề làm văn của học sinh,trên cơ sở kế thừa và cố gắng đóng góp cho công việc nghiên cứu khoa học mộtvài điều mới mẻ, người viết đã lựa chọn đề tài nghiên cứu sau: Những biện phápphát triển năng lực vận dụng kiến thức văn học của học sinh vào làm văn nghịluận văn học ở trường THPT
3 - Mục đích nghiên cứu:
Quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết muốn góp phần làm sáng tỏbản chất khoa học của việc vận dụng kiến thức văn học vào làm văn nghị luậnvăn học của học sinh ở trường THPT Việc vận dụng các kiến thức liên quan củacác phân môn trong một môn học là việc làm có tính khoa học Bản chất củakhoa học luôn đòi hỏi kiến thức phải được đặt trong hệ thống, trong chỉnh thể,trong sự đối chiếu, liên hệ, so sánh Vì vậy, vấn đề của đề tài đưa ra là có cơ sởkhoa học Hơn nữa việc đề cập đến khâu vận dụng kiến thức cũng là một côngđoạn trong quá trình học sinh tiếp thu kiến thức Đây là một công đoạn quantrọng nếu học sinh không đạt được thì học sinh chưa thực sự trưởng thành trongnhận thức Thông qua việc làm rõ bản chất khoa học của đề tài, người viết muốn
Trang 16giúp giáo viên có cơ sở khoa học để hướng dẫn học sinh làm bài văn nghị luậnvăn học được đúng hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và hay hơn.
4- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ trước tiên là xác định các khái niệm liên quan đến đề tài, chỉ ranhững đặc trưng, tầm quan trọng của năng lực vận dụng kiến thức trong quátrình nhận thức và học tập
Nhiệm vụ tiếp theo của đề tài là đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm hìnhthành, rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức văn học của người học sinh vàolàm văn nghị luận văn học ở trường THPT
5 - Đóng góp của luận văn:
Đề tài của luận văn đi sau rất nhiều những công trình nghiên cứu khácsong người viết cố gắng tìm ra cái mới có giá trị đóng góp vào quá trình hướngdẫn học sinh vận dụng kiến thức văn học vào bài văn nghị luận văn học
Những đóng góp của luận văn
- Người viết đã tiến hành khảo sát nghiêm túc một khối lượng bài tươngđối lớn để đánh giá chính xác thực trạng yếu kém của học sinh THPT khi vậndụng kiến thức văn học vào bài làm văn nghị luận văn học
- Luận văn khẳng định có cơ sở khoa học của năng lực vận dụng kiến thứcvào quá trình nhận thức và học tập Qua đó nhấn mạnh việc học sinh biết vậndụng kiến thức văn học vào bài làm văn nghị luận văn học sẽ nâng cao chấtlượng bài viết của các em ở trường THPT
- Luận văn đề xuất được một số biện pháp thích hợp hướng dẫn học sinhphát triển năng lực vận dụng kiến thức văn học vào bài làm văn nghị luận vănhọc ở trường THPT
6- Giới hạn của đề tài:
Văn nghị luận có đối tượng rất rộng và là dạng văn cần nhiều đến kỹ năngvận dụng kiến thức tổng hợp Song do thời gian và trình độ có hạn nên luận vănnày người viết chỉ giới hạn trong việc giải quyết làm sáng tỏ vai trò quan trọng
Trang 17của việc vận dụng kiến thức văn học vào làm văn NLVH và đưa ra những biệnpháp nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức văn học vào làm văn NLVH
ở trường THPT
7 Phương pháp nghiên cứu:
Trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn người viết đã sử dụng chủ yếunhững phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát điều tra: được sử dụng khi tìm hiểu thực trạng vềnăng lực của học sinh trong bài làm văn nghị luận văn học thông qua hệ thốngcác bài làm văn cụ thể của học sinh, cách chấm bài, ra đề văn của giáo viên
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Được dùng sau khi tiến hành khảo sát
để đánh giá kết quả điều tra từ đó tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém trong việcvận dụng kiến thức của học sinh
- Phương pháp phân loại thống kê: Được dùng khi phân loại năng lực vậndụng kiến thức của học sinh
- Phương pháp logic: Được dùng khi xem xét quy luật của việc vận dụngkiến thức nói chung và việc vận dụng kiến thức văn học nói riêng vào trong bàilàm văn nghị luận văn học
- Phương pháp lịch sử: Sử dụng khi tiến hành nghiên cứu lịch sử vấn đề
- Phương pháp thể nghiệm khoa học: Sử dụng khi tiến hành thiết kế giáo
án thuyết minh quá trình hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức văn học vàobài làm văn nghị luận văn học
8 Cấu trúc của luận văn:
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương I: Cơ sỏ lý luận và thực tiễn để xác lập biện pháp phát triển nănglực vận dụng kiến thức văn học của học sinh vào làm văn nghị luận văn học ởtrường THPT
Trang 18Chương II: Những biện pháp hình thành, rèn luyện năng lực vận dụng kiếnthức văn học vào bài làm văn nghị luận văn học của học sinh THPT.
Chương III: Thiết kế thể nghiệm
1.Vai trò đặc biệt quan trọng của việc vận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức và học tập.
1.1 Vận dụng kiến thức là khâu quan trọng nhất của quá trình nhận thức và học tập.
Mét trong những nhiệm vụ quan trọng của dạy học ở nhà trường là dạycho học sinh phát triển tư duy Tư duy là quà tặng quý giá nhất mà thượng đếban tặng cho loài người Tuy nhiên, để có tư duy phát triển con người ta phảiđược rèn luyện và phát triển Năng lực tư duy đòi hỏi phải có kiến thức, có trínhớ nhưng quan trọng hơn kiến thức và trí nhớ là khả năng vận dụng kiến thức,các thao tác tư duy đã có để chiếm lĩnh kiến thức mới và vận dụng nó vào thựctiễn
Nh chóng ta đã biết, sự phát triển tâm lý nhận thức của con người đi từthấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp và mang tính kế thừa, tính phủ định rõ rệt.Trong quá trình phát triển đó, những thành quả đã được tích luỹ, được hìnhthành ở giai đoạn trước dần dần sẽ trở thành những công cụ, những phương tiệnlàm nền, làm cơ sở cho việc hình thành những hiện tượng tâm lý ở mức cao hơn
Vì vậy, nhiệm vụ của dạy học không những phải hình thành cho học sinh những
Trang 19vận dụng các tri thức, kinh nghiệm đã có để giải quyết các vấn đề đặt ra (trongmột hoàn cảnh, tình huống cụ thể) một cách phù hợp, thông minh Việc họckhông phải là sự lĩnh hội những kiến thức riêng lẻ, vụn vặt, cụ thể mà còn phảibiết quy những trường hợp riêng lẻ, cụ thể về những “hệ” mang tính khái quát.Franz Emanuel Weinert quan niệm: “Học như là một quá trình chủ động và kiếntạo Việc học tập có tạo sinh, có hiệu quả, hiểu biết là một quá trình chủ động vàkiến tạo phụ thuộc vào cơ sở tri thức vốn có của cá nhân và vào những tầm hiểubiết được đem lại qua đó Như vậy theo cách nhìn này, học tập là sự đối lập vớithông tin được truyền đạt từ bên ngoài, được tiếp thu thụ động và xử lý mộtcách máy móc, điều sẽ dẫn đến một sự hiểu biết trì trệ, Ýt khả năng chuyển tải
và không thể sử dụng một cách linh hoạt”
Trong cuốn “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” củaA.V.Petrovski, giáo sư đã đề cập đến bản chất của quá trình học tập “được xácđịnh như là quá trình có tính chất hai mặt - tích luỹ các tri thức và nắm vững cácphương thức vận dụng tri thức” [48; 143] Bởi vậy, quá trình dạy học không có
gì khác là một hoạt động bao gồm hai phía thầy và trò, là sự kết hợp hài hoàgiữa lao động của người giáo viên và học sinh, trong đó trò nỗ lực nhận thức,thầy sáng tạo biện pháp để hướng dẫn học sinh làm cho kiến thức, tư tưởng tìnhcảm kỹ năng lẫn phương pháp của học sinh đựơc tăng tiến Mục đích cuối cùng
để họ có thể từng bước vận dụng kiến thức một cách tự lập vào trong đời sống
Nh vậy, học tập là quá trình nhận thức tích cực Quá trình nhận thức và học tậpđược diễn ra theo từng cấp độ Cấp độ thứ nhất là: tri giác tài liệu, cấp độ thứ hailà: thông hiểu tài liệu, cấp độ thứ ba là: ghi nhớ kiến thức, cấp độ thứ tư là:luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn Bốn cấp độ của quá trình nhận thức
và học tập trên đã được thừa nhận và những nhà giáo dục đã tổ chức quá trìnhdạy học của mình theo trình tự các giai đoạn nhận thức đó
Trong bốn cấp độ nhận thức và học tập Êy, các công trình nghiên cứu đãchứng tỏ rằng học sinh thường khó vận dụng những khái niệm và những nguyên
Trang 20tắc đã lĩnh hội được vào việc giải quyết một nhiệm vụ cụ thể Mặc dù thực tếcho thấy khâu vận dụng là khâu quan trọng và là khâu quyết định đến hiệu quảhọc tập của học sinh “Theo quan điểm triết học, khi vận dụng kiến thức vào thựctiễn thì yếu tố chủ quan tăng lên và từng học sinh phải tự mình quyết định xemtrong tình huống nào có thể sử dụng kiến thức này, kiến thức khác Chính cái đó
đã gây nên những khó khăn nhất định Còn sinh lý học thì giải thích những khókhăn đó là do sự cần thiết phải hình thành ở học sinh, bằng cách luyện tập nhiềulần, những động hình nhất định của sự hoạt động (kỹ năng, kỹ xảo) gắn liền vớiviệc vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau Tâm lý học giải thíchcác khó khăn đó là hiện tượng giao thoa, trong đó sự hình thành những kỹ năng
và kỹ xảo mới thường bị ức chế bởi những kỹ năng và kỹ xảo đã hình thànhtrước đó” [30; 8] Vậy là dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau của mỗingành khoa học thì năng lực vận dụng kiến thức được giải thích khác nhaunhưng tựu trung đều khẳng định việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn là việclàm khó khăn
Cấp độ thứ nhất: Tri giác tài liệu là giai đoạn khởi đầu nhưng có ý
nghĩa định hướng cho cả quá trình nhận thức về sau
Cấp độ này phản ánh quá trình cảm giác và tri giác thông tin của ngườihọc Cảm giác là một quá trình tâm lý mở đầu của hoạt động nhận thức, “phảnánh từng thuộc tính riêng lẻ” Tri giác là quá trình tâm lý tiếp theo, phản ánhmột cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếptác động vào các giác quan của con người Ở đây, học sinh dùng các giác quancủa mình để tiếp xúc với tài liệu học tập mới do giáo viên giới thiệu, nhằm thuthập những tài liệu cảm tính cần thiết Vì vậy giai đoạn này, giáo viên thường sửdụng đồ dùng trực quan, biểu diễn những thí nghiệm đơn giản, cho học sinh xemnhững hình ảnh, những mẫu hoàn hảo Việc sử dụng rộng rãi phương pháp trựcquan trong dạy học là vì năng lực dẫn thông tin của đường tri giác bằng mắt lớngấp một trăm lần đường tri giác bằng tai (Mắt có khẳ năng tri giác được luồng
Trang 21thông tin có mật độ chừng ba triệu bít trên một giây, tai là 20 - 50 nghìn bít/giây; xúc giác khoảng 2 – 10 bít/ giây) [46; 28] Đây là hai giai đoạn tâm lýnhận thức tài liệu, tuy ở mức độ đơn sơ nhưng có vai trò quan trọng đối với sựđịnh hướng các hành vi và hoạt động của con người Trong khi cảm giác và trigiác tài liệu học sinh sẽ hình thành những mối liên hệ tạm thời tương ứng mà gọitheo ngôn ngữ của tâm lý học thì đó là sự hình thành những biểu tượng Có thểhiểu biểu tượng là dấu Ên ghi lại trong ý thức của con người về những hìnhtượng của các vật thể và hiện tượng đã được tri giác Giai đoạn nhận thức nàyđòi hỏi người học phải tích cực quan sát “tri giác” Vì những gì học sinh tri giácđược ở đó cũng được coi là một dạng kiến thức Tuy nhiên, kiến thức mà họcsinh thu nhận được chỉ là những tính chất và dấu hiệu bên ngoài hết sức đơngiản Nhưng cảm giác, tri giác của học sinh ở giai đoạn này càng được nhiều,càng đầy đủ thì sẽ càng giúp Ých được nhiều cho các giai đoạn nhận thức, họctập về sau.
Để nhận thức được chân thực, chính xác không chỉ dừng lại ở giai đoạncảm giác, tri giác các hiện tượng, sự vật và ở sự hình thành các biểu tượng màcần thiết phải phát hiện ra bản chất của các hiện tượng, những mối liên hệ vàphụ thuộc nhân quả tồn tại trong những sự vật hiện tượng Đó là một bậc caohơn của sự nhận thức
Cấp độ thứ hai: Thông hiểu tài liệu là giai đoạn chiếm lĩnh kiến thức ở
mức độ đơn giản nhất
Thông hiểu tài liệu là quá trình nhận thức đòi hỏi phải thực hiện nhữngthao tác tư duy nhất định như: Đối chiếu, phân tích, tìm ra những dấu hiệu bảnchất và biết khái quát thành những khái niệm, những phạm trù Ở đây nhận thứcđòi hỏi phải có một tư duy trừu tượng cao Tuy nhiên quá trình tư duy không tựdiễn ra Về mặt tâm lý học, nó đòi hỏi một sự kích thích cho tư duy, cho tínhtích cực trí tuệ của học sinh Theo I.F Kharlamop trong cuốn (Phát huy tính tíchcực học tập của học sinh nh thế nào) thì những cái để kích thích cho tư duy
Trang 22chính là những câu hỏi “Cái gì”, “Tại sao”, “Vì nguyên nhân gì” và cần phải cótài liệu Những câu hỏi này về bản chất được khơi nguồn từ cấp độ tri giác tàiliệu Yêu cầu nhận thức, học tập phải đạt được ở cấp độ này là học sinh phảikhái quát hoá hình thành kết luận, quy tắc, quy luật … nghĩa là phải hình thànhđược khái niệm Đây là quá trình cũng đòi hỏi học sinh phải hoạt động tư duy,
tích cực trong nhận thức I.F Kharlamop đưa ra định nghĩa của sự thông hiểu tài
liệu như sau: “Sự thông hiểu cho phép nắm được những mối liên hệ nhân quảcủa các quá trình và hiện tượng nghiên cứu và hình thành những khái niệm,nghĩa là đi đến những kết luận lý thuyết nhất định”[30; 24]
Cấp độ thứ ba: Ghi nhớ kiến thức là giai đoạn hiểu kiến thức một cách
thấu đáo và đầy đủ hơn
Yêu cầu của sự nhận thức trong quá trình học tập không chỉ dừng lại ở sựthông hiểu các hiện tượng nghiên cứu Bước tiếp theo trong nhận thức đòi hỏitài liệu học tập phải được lĩnh hội ở mức tái hiện Sự thông hiểu tài liệu bắt đầutrở thành kiến thức của học sinh khi mà học sinh nắm vững nó một cách thànhthạo và có thể tái hiện nó một cách rành mạch và đúng đắn Theo Nguyễn TrọngHoàn trong cuốn: “Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm vănchương” chia quá trình ghi nhớ thành các dạng như sau: “Ghi nhớ luôn luônmang tính chọn lọc Con người không ghi nhớ tất cả những gì đã xảy ra trongcuộc sống mà tuỳ theo động lực, mục đích, hứng thú và phương tiện, hoạt động
mà đối tượng nào sẽ được “lựa chọn” trở thành biểu tượng trong trí nhớ; Ghinhớ máy móc và ghi nhí ý nghĩa Để nhớ một dữ liệu, người ta chỉ cần nhớnguyên xi mà không quan tâm đến ý nghĩa của nó, đó là ghi nhớ máy móc; Ghinhí ý nghĩa lại dựa trên cơ sở ý nghĩa của dữ liệu cần ghi nhí; Ghi nhớ khôngchủ định là ghi nhớ vì một lý do nào đó xuất hiện ngẫu nhiên có liên quan đếnnhu cầu, hứng thú và tác động đến tình cảm; Ghi nhớ chủ định là ghi nhí theonhiệm vụ và mục đích đặt ra, có kế hoạch và phương pháp rõ ràng” Trong đờisống nói chung và trong quá trình nhận thức, học tập nói riêng thì người ta
Trang 23thường sử dụng tất cả các dạng ghi nhớ này Tuy nhiên trong khi nghiên cứu,lĩnh hội tài liệu người học phải sử dụng hình thức ghi nhớ lựa chọn, ghi nhí ýnghĩa, ghi nhớ có chủ định là chủ yếu Bởi việc học là có nội dung, mục đích rõràng Để có thể ghi nhớ được tài liệu đã học phải dùng đến những phương phápsau: Phương pháp đàm thoại, đọc tài liệu theo sách giáo khoa, thuật lại nội dung
đã học, tóm tắt những vấn đề cơ bản của đề tài, tự tìm ra những ví dụ của riêngbản thân để khẳng định, minh họa cho những quan điểm lý thuyết… Khi họcsinh ghi nhớ, tái hiện được tài liệu đã học thì đồng thời với quá trình đó là họcsinh sẽ hiểu kiến thức một cách thấu đáo, đầy đủ hơn Rất có thể khi nghiềnngẫm tài liệu để có thể ghi nhớ, học sinh sẽ phát hiện ra những khía cạnh và chitiết mới mẻ, tự bản thân cảm thấy sáng rõ mọi điều hơn mà khi học tập ban đầu,lúc tri giác đầu tiên chưa ý thức được hết “Trong quá trình ghi nhớ học sinhphải lĩnh hội được những sự kiện, những kết luận (khái niệm) rót ra từ chúng ,(tức từ hệ thống tài liệu), logic sắp xếp tài liệu, và cả những vấn đề đặc trưngcho mối liên hệ giữa đề tài mới và những điều đã học trước đó”.[30; 27]
Cấp độ thứ tư: Luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Trong quá trình nhận thức, học tập, học sinh không những cần nắm được
tri thức, mà còn phải biết vận dụng tri thức vào thực tiễn Nắm tri thức đòi hỏihọc sinh phải hiểu được nội dung của tri thức, lĩnh hội được khái niệm một cáchsâu sắc qua nỗ lực chủ quan ghi nhớ và vận dụng được những tri thức vào thựctiễn
Quá trình nhận thức, học tập dù ở cấp độ nào thì cũng đòi hỏi học sinhphải có thái độ tích cực trong nghiên cứu Nhưng ở cấp độ luyện tập vận dụngkiến thức vào thực tiễn đòi hỏi tính tích cực nhiều hơn bao giờ hết Nó là mộtquá trình thử thách nỗ lực và trình độ ứng dụng của người thực hành Nếu cả bacấp độ nhận thức học tập trên có thể coi là thuần tuý lý thuyết thì ở cấp độ này làcấp độ thực hành Ba cấp độ ban đầu có thể coi là giai đoạn tích luỹ về lượng,đến cấp độ thứ tư thì học sinh mới có sự biến đổi về chất Để việc học tập trở
Trang 24thành hữu Ých, những kiến thức đã lĩnh hội không phải là để mở rộng tầm hiểubiết, làm phong phú thêm những biểu tượng về thế giới chung quanh mà cònphải tác động như một loại công cụ độc đáo của lao động, là sự chỉ đạo tronghoạt động sản xuất và hành vi Chính vì vậy mà năng lực vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, vào những nhiệm vụ cụ thể phải được rèn luyện, trau dồi đến độthành kỹ năng, kỹ xảo “Kỹ năng là năng lực của học sinh có thể hoàn thànhnhững hành động nào đó gắn liền với việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn Còn
kỹ xảo được coi là kỹ năng thành thạo, đã tới mức tự động hoá và đặc trưng bởimột trình độ hoàn hảo nhất định ”[29; 28] Tóm lại, bước vận dụng có ý nghĩaquan trọng đặc biệt: Là giai đoạn đưa kiến thức sách vở thành kiến thức đờisống, là giai đoạn chuyển hoá hiểu biết từ ngoài thành vốn văn hoá nội lực, làgiai đoạn đòi hỏi năng lực chủ quan của người vận dụng Biểu hiện phẩm chấtnăng lực chủ quan của người vận dụng được thể hiện khi phải quyết định: Chọnlựa kiến thức, định hướng kiến thức vào chủ đề, khái quát luận điểm, hệ thốnghoá thành hệ thống lập luận Căn cứ vào đặc tính của cấp độ nhận thức, học tậpnày giáo viên cần cho học sinh rèn luyện qua những bài làm thực hành đa dạng,đòi hỏi sự suy nghĩ và đôi chút sáng tạo khi vận dụng kiến thức
Đây là một cấp độ học tập rất quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn,đánh dấu được sự trưởng thành trong tư tưởng, tình cảm, nhận thức, tài năng, trítuệ của học sinh Học sinh khi vận dụng kiến thức vào thực tiễn có giá trị haimặt: Vừa chứng minh hiệu quả của quá trình học tập vừa là một cú “hích” kíchthích hứng thú trong học tập Cấp độ nhận thức này còn có ý nghĩa đúc rút kinhnghiệm, khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức sau khi đã được thực hành Cóvận dụng kiến thức, học sinh mới thực sự nắm được tri thức, mới kết hợp lý luậnvới thực tế, học với hành, mới có cơ sở tốt để hình thành niềm tin và thế giớiquan
Chóng ta có thể đi đến sơ đồ hoá cấu trúc của quá trình nhận thức học tậpcủa học sinh như sau:
Trang 25Bờn trờn, chỳng ta đó phõn tớch lần lượt cỏc cấp độ của quỏ trỡnh nhậnthức học tập Mỗi cấp độ cú một tỏc dụng riờng, một thế mạnh riờng nhưng đều
cú mối quan hệ tỏc động qua lại lẫn nhau tạo nờn một quỏ trỡnh nhận thức, họctập toàn vẹn Nhưng chỳng ta phải thừa nhận rằng cấp độ vận dụng kiến thức làthước đo hiệu quả nhận thức, học tập của học sinh Tầm quan trọng của việc vậndụng kiến thức khụng chỉ đối với quỏ trỡnh thực hành ứng dụng mà cũn cú ýnghĩa ngay cả với quỏ trỡnh tiếp nhận thờm tri thức mới Muốn đạt đến kiến thứcmới thỡ cũng phải biết vận dụng kiến thức cũ, kiến thức cũ vốn là mục đớch tronglần học trước nay trở thành phương tiện cho lần học này hoặc cũng cú thể muốn
cú những kỹ năng mới thỡ phải vận dụng được thành thạo những kỹ năng cũ
1.2- Vận dụng kiến thức đũi hỏi sự huy động tổng hợp nhiều năng lực của người học.
“Năng lực (khả năng) là sự kết hợp linh hoạt và độc đỏo nhiều đặc điểmtõm lý của một người, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi giỳp chongười đú tiếp thu dễ dàng, tập dượt nhanh chúng và hoạt động đạt hiệu quả caotrong một lĩnh vực nào đú” [32] Tõm lý học đó xỏc định được những đặc điểmtõm lý của nhiều loại năng lực khỏc nhau trong cỏc lĩnh vực hoạt động toỏn học,
Hoạt động nhận thức,học tập của học sinh
Tri giác tài liệuThông hiểu tài liệuGhi nhớ kiến thức
Luyện tập vận dụng kiến thức vào thực
tiễn
kiến thức vào thực tiwnx
Nguồn kiến thức
Trang 26văn học, hội hoạ, âm nhạc, quân sự … và tâm lý học cũng chỉ ra rằng mọi ngườibình thường sinh ra đều có một số tư chất là cơ sở để hình thành những năng lựcnhưng những tư chất này nếu không có những hoàn cảnh khách quan thuận lợicũng không phát triển thành những năng lực sơ đẳng được Vậy, năng lực cómột cái gốc là tự nhiên nhưng lại rất cần phải được rèn luyện, trau dồi thườngxuyên Đây là phẩm chất quan trọng trong quá trình nhận thức học tập Ngườihọc muốn hoàn thiện quá trình nhận thức, học tập của mình thì phải biết vậndụng kiến thức, khi vận dụng kiến thức sẽ đồng thời phải huy động tổng hợpnhiều năng lực của người học Chúng ta có thể chỉ ra sau đây một số năng lựcchủ yếu mà trong khi vận dụng kiến thức không thể thiếu.
Năng lực phát hiện: Giải quyết vấn đề nhanh hay chậm chính là phụ
thuộc vào năng lực phát hiện của mỗi người Năng lực phát hiện đòi hỏi phảiphát hiện ra vấn đề nhanh và chính xác, biết nhận ra trong các dữ kiện đó cónhững thuộc tính và những quan hệ nào là bản chất của vấn đề Năng lực này trởthành hoa tiêu, là định hướng cho việc vận dụng kiến thức để giải quyết một tìnhhuống cụ thể
Năng lực chủ động sáng tạo: Trong khi vận dụng kiến thức mọi năng
lực của học sinh sẽ phát triển mạnh mẽ Khi vận dụng kiến thức, học sinh phải
tự mình giải quyết những vấn đề đặt ra, tự mình phát huy tính năng động chủquan để giải quyết vấn đề Đây là bước phát huy được tính năng động chủ quan,
cá tính của học sinh rõ rệt nhất Lựa chọn loại kiến thức nào cho vấn đề cần phảigiải quyết, lựa chọn phương pháp nào, cách thức nào, học sinh phải tự quyếtđịnh Ở đây học sinh được trao phó quyền tự chủ trong việc giải quyết vấn đề.Đây là một năng lực cần phải được rèn luyện, nó thể hiện bản lĩnh của ngườihọc Nhưng để có được bản lĩnh này thì người học trước hết phải tự chủ vềnguồn kiến thức của mình, tự chủ trong việc quyết định lựa chọn cách thức vậndụng kiến thức Năng lực chủ động sáng tạo trong quá trình học tập và làm việc
là một phẩm chất quan trọng của con người thời đại ngày nay
Trang 27Năng lực độc lập trong suy nghĩ và làm việc: Quá trình tích luỹ kiến
thức là quá trình con người tự trang bị cho mình đầy đủ thêm hành trang trongcuộc sống nhằm ứng xử tốt với những điều kiện, hoàn cảnh công việc khácnhau Trong xã hội hiện đại việc phân công hoá công việc được giao đến từng cánhân Vì vậy năng lực nhận thức, làm việc độc lập là rất cần thiết Trong côngviệc, chúng ta phải độc lập vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề Nếu chúng
ta có khả năng làm việc độc lập cao thì chúng ta có thể hoàn thành công việcnhanh và sáng tạo Năng lực làm việc độc lập đòi hỏi phải có tư duy độc lập,nghĩa là tự mình suy nghĩ, suy nghĩ đúng và sâu những vấn đề đặt ra, giữ vữngquan điểm lập trường của mình Khi vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đềkhông hoang mang, dao động, mầ phải tù tin vào những điều mình sẽ làm Hơnnữa cuộc sống đòi hỏi mỗi con người phải có năng lực độc lập suy nghĩ và làmviệc, những tình huống bất ngờ có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà trước đó ta chưatừng làm bao giờ Không có trường học nào, sách vở nào, người thầy nào có thểdạy cho con người nắm được toàn bộ mọi tình huống trong cuộc sống, mà chỉ cóthể dạy cho con người một cơ sở văn hoá chung đủ rộng để kết hợp với khảnăng vận dụng kiến thức độc lập, sáng tạo mà thôi
Năng lực hệ thống hoá kiến thức: Bản chất của thế giới là có tính hệ
thống Và tính hệ thống cũng là thuộc tính của tư duy phát triển Kiến thức củanhân loại là vô cùng phong phó, tuy nhiên với những người có tư duy phát triển
sẽ nhận ra tính hệ thống trong khối lượng kiến thức đồ sộ Êy Cần lưu ý rằngmỗi khi tiếp nhận thêm tri thức cần phải biết lưu trữ, bảo tồn và quản lý kiếnthức một cách có phương pháp, phương pháp Êy là phương pháp hệ thống hoákiến thức Nguồn kiến thức khi được hệ thống hoá thì việc tích luỹ vừa đượcnhiều lại vừa đơn giản dễ hiểu dễ nhớ Ghi nhận kiến thức có hệ thống còn giúpcho việc vận dụng kiến thức được nhanh, chính xác, đầy đủ Không có năng lực
hệ thống hoá kiến thức, chúng ta khó có thể vận dụng kiến thức và vận dụngkiến thức một cách thành công vào thực tiễn công việc Bởi chính khi hệ thống
Trang 28hoá kiến thức thì chủ thể đã biết phân loại kiến thức thành những phạm trù,những loại và để phân loại được kiến thức thì đồng thời chủ thể cũng hiểu rõ đặcđiểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức đó Khi vận dụng kiến thức chính
là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi tình huống cụ thể
Năng lực định hướng kiến thức: Kiến thức được định hướng là kiến
thức đã được trải qua quá trình tư duy qua các thao tác phân tích, so sánh, chọnlọc, được chuyển hoá từ dạng thô sơ tư liệu, từ những kiến thức mang tính lẻ tẻ,rời rạc, tản mạn thành dạng kiến thức định tính Kiến thức chưa được địnhhướng mới chỉ được tích luỹ về lượng, chỉ sau khi được định hướng mới biếnđổi thành chất của sự tích luỹ nguồn kiến thức Khi vận dụng kiến thức chúng tacần đến những kiến thức đã được định hướng và phải ý thức rõ ràng về loại kiếnthức đó nhằm mục tiêu gì của việc làm Làm được điều đó mới tránh được tìnhtrạng “bê” kiến thức, tư liệu nguyên xi, áp dụng máy móc, gò Ðp, không ănnhập với vấn đề cần giải quyết Vì thế năng lực định hướng kiến thức cũng làmột năng lực quan trọng trong khâu vận dụng kiến thức
Hiệu quả giải quyết những tình huống, những vấn đề đặt ra trong đờisống xã hội là hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng vận dụng kiến thức của mỗingười Nguồn kiến thức lý thuyết khi đối chiếu với thực tế luôn có khoảng cách
và có độ khúc xạ nhất định Một số năng lực chủ yếu được kể ra ở trên sẽ khắcphục độ chênh đó Năng lực phát hiện, năng lực chủ động sáng tạo, năng lực độclập trong suy nghĩ và làm việc, năng lực hệ thống hoá kiến thức, năng lực địnhhướng kiến thức là những tố chất để hình thành một tư duy sáng tạo Muốn vậndụng tốt kiến thức không thể thiếu một tư duy sáng tạo
1.3 Vận dụng kiến thức là sự thể hiện tư duy sáng tạo của học sinh.
Ngay từ cuối thế kỷ hai mươi, người ta đã dự báo rằng ở giai đoạn khởiđầu của thế kỷ hai mươi mốt, các nước trên thế giới đều thiếu hai loại người:Loại người thứ nhất là có trình độ tri thức cao và loại người thứ hai là trình độ
kỹ năng, kỹ xảo giỏi - Tức là người sáng tạo trong thực tiễn làm việc Ngày nay
Trang 29người ta chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chênh lệch giữa các nềnkinh tế của các quốc gia trên thế giới chính là sự sáng tạo Sự sáng tạo đã đẩynền kinh tế của các nước ngày một cách xa hơn Nhà nghiên cứu giáo dụcQuang Dương đã khẳng định bốn nét nhân cách của thanh niên thế kỷ hai mươimốt là: Cầu học (động lực nội sinh); Khiêm tốn (tạo nên sự sáng suốt khi traudồi kiến thức); Tìm tòi (khi tiếp cận thông tin); Sáng tạo (sắc sảo khi vận dụngkiến thức).
Theo từ điển tiếng Việt: Sáng tạo là “ tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không
bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [61]
Theo tâm lý học khoa học thì sáng tạo được hiểu như sau: “Trong hoạtđộng thực tiễn và hoạt động lí luận, con người có thể gặp những bài toán haynhững sự kiện mà đối với chúng cấu trúc thao tác và các cấu trúc nhận thức của
tư duy người đó không có những phương pháp và những khái niệm thích hợp vìnhững quan hệ đã được phát hiện của các sự vật chưa được loài người biết đến(hay Ýt ra loài người không chú ý tới) hay người đó do những hoàn cảnh nào đókhông có khả năng tìm hiểu những quan hệ và những thuộc tính đã biết và lạikhám phá ra trường hợp là những bài toán mà con người gặp phải không giảiđược bằng những phương pháp mà loài người đã biết Những quan hệ nh thếchưa được ghi lại trong các khái niệm, còn các phương thức giải bài toán thìchưa được ghi lại trong các algôrit và các phương thức tư duy hiện hành Người
ta gọi những quá trình nhận thức cho phép phát hiện những quan hệ “phi kháiniệm” đó và giải những bài toán không giải đuợc đó là tư duy sáng tạo” [50;144]
Tính sáng tạo được đánh giá là vấn đề “hưng vong” của mỗi quốc gia, làvấn đề thành bại của mỗi doanh nghiệp, là vấn đề “sống chết” của mỗi cá nhân.Tính sáng tạo ở đây được nói đến chủ yếu trong khâu vận dụng kiến thức Khivận dụng kiến thức học sinh tự bộc lộ tư duy sáng tạo của mình Trong bước vậndụng kiến thức, trí thông minh, khả năng tư duy của học sinh mới được phát huy
Trang 30mạnh mẽ Mặc dù các thao tác tư duy đều hoạt động trong các giai đoạn của quátrình học tập, nhận thức song đến giai đoạn vận dụng thì yêu cầu đối với tư duybao giờ cũng cao hơn, khả năng tự lập, tinh thần sáng tạo được huy động nhiềuhơn, những kỹ năng chọn lọc, phân tích, so sánh khái quát, định hướng, hệ thốnghoá … được vận dụng nhiều hơn Khi vận dụng kiến thức học sinh thể hiện tưduy sáng tạo của mình vì: Nguồn tri thức được cung cấp cũng như nguồn trithức tự học mà học sinh lĩnh hội được luôn khác xa với thực tế, nhất là khi ápdụng vào thực tiễn Nguồn kiến thức Êy luôn đòi hỏi con người phải biết sửdụng một cách sáng tạo.
Khi vận dụng kiến thức, đòi hỏi học sinh phải biết phê phán và đánh giánghiêm khắc những khái niệm và phương pháp đã lĩnh hội được, tính sơ lược vàtính không đầy đủ của chúng so với hiện thực Khi vận dụng học sinh phải nhìnthấy sự khác biệt giữa các sự kiện hiện thực và những biểu tượng về chúng, phảivượt qua khuôn khổ của sự thông hiểu do các từ ngữ tạo ra để đi tới cách nhìnkhác do sự tác động qua lại trực tiếp với các sự vật và hiện tượng tạo ra Trongkhi vận dụng kiến thức học sinh phải “ tìm kiếm không phải là niềm tin, mà lànhững phép chứng minh, không phải là sự xác nhận, mà là chân lý, không phải
là sự yên tâm mà là sự bận tâm vĩnh viễn, không phải là sự kết thúc mà luônluôn là bước mở đầu con đường [50;146]
Con người là “động vật xã hội” và trong hệ sinh giới, lại là “người tinhkhôn” Quá trình phát triển của con người không phải là quá trình lặp lại, đơngiản theo bản năng, mà là phải đạt tới tính sáng tạo trong bậc cao hơn liên tụctrong sự phát triển Vì vậy mục đích cuối cùng của toàn bộ hoạt động trí tuệ củacon người là phải biết tư duy sáng tạo khi vận dụng kiến thức để giải quyếtnhanh, đúng, chuẩn xác các tình huống khác nhau trong những trường hợp khácnhau, giải quyết thành công những nhiệm vụ muôn hình muôn vẻ phức tạp nhất
mà thực tiễn sản xuất, thực tiễn xã hội đề ra cho con người
1.4 Vận dụng kiến thức gắn liền với quan niệm mới về kiến thức.
Trang 31Gắn liền với việc đề cao vai trò của cấp độ vận dụng kiến thức trong quátrình nhận thức, học tập là một quan niệm mới về kiến thức trong dạy học.Trong lịch sử dạy học, chúng ta đã có ba lý thuyết dạy học: Thuyết hành vi,thuyết nhận thức, và thuyết kiến tạo Sự thay đổi các lý thuyết dạy học cũng bắtnguồn từ quan niệm về kiến thức Thuyết hành vi quan niệm kiến thức mà họcsinh lĩnh hội nằm trong nguồn cung cấp của giáo viên, quan tâm đến kiến thứcđầu ra phù hợp với kiến thức đầu vào Thuyết nhận thức lại chủ yếu nhấn mạnhnhiệm vụ phát triển tư duy cho người học Thuyết kiến tạo ra đời đã khắc phụcđược những điểm hạn chế của hai thuyết trên Thuyết kiến tạo nhấn mạnh đếnvai trò chủ thể của người học Giáo viên chỉ là người tổ chức, điều khiển Kiếnthức không phải được thông báo, truyền thụ cứng nhắc từ giáo viến đến học sinh
mà học sinh phải tự “xây lên ngôi nhà tri thức cho mình” Để có tri thức, họcsinh phải làm việc trực tiếp với tài liệu học tập, phải vận dụng kiến thức để rót rakiến thức một cách vững chắc cho mình
Năm 1997 hai nhà khoa học Mebrien và Brandt đã phát biểu “Tri thứcđược kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều
so với việc nó được nhận từ người khác” Vào năm 1999, M.Briner đã viết:
“Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng
và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúngvào những tình huống mới hợp thành tổng thể thống nhất giữa những kiến thứcmới thu nhận được với những kiến thức đang tồn tại trong trí óc”
Hai nhà khoa học khác: Merida F Ellerton và M.A.Clemtes còng chorằng: “Tri thức được kiến tạo một cách cá nhân thông qua cách thức hoạt độngcủa mỗi cá nhân” Hay phát biểu của Ernstvon Glaserfeld: “Kiến thức là kết quảhoạt động kiến tạo của chính chủ thể nhận thức, không phải là thứ sản phẩm màbằng cách này hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức và có thể đượctruyền đạt hoặc thấm nhuần bởi sự cần cù nhận thức hoặc giao tiếp”
Trang 32Qua những cách diễn đạt khác nhau về kiến thức như trên chúng ta vẫn dễdàng nhận thấy điểm chung trong quan niệm về kiến thức là nhấn mạnh đến vaitrò chủ động của người học trong quá trình học tập và cách thức người học thunhận tri thức cho bản thân Người học không học bằng cách thụ động thu nhậntri thức mà phải tích cực phát hiện ra vấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách vậndụng kiến thức đã có vào trong những tình huống mới để nâng tầm kiến thức củamình lên Trong khi vận dụng kiến thức học sinh có thể ở vào tình huống đồnghóa (“Sự đồng hóa xuất hiện như là một cơ chế gìn giữ cái đã biết trong trí nhớ
và cho phép người học dựa trên những khái niệm quen biết để giải quyết tìnhhuống mới Đây là quá trình chủ thể tiếp nhận khách thể, tức là chủ thể dùngnhững kiến thức và kỹ năng sẵn có để xử lý các thông tin và tác động từ bênngoài nhằm đạt được mục tiêu nhận thức”)[6; 68] hoặc điều ứng (“Điều ứngxuất hiện khi người học vận dụng những kiến thức và kỹ năng quen thuộc đểgiải quyết tình huống mới nhưng đã không thành công Vì thế, để giải quyết tìnhhuống người học phải thay đổi, điều chỉnh, thậm chí loại bỏ những kiến thức vàkinh nghiệm đã có Khi tình huống đã được giải quyết thì kiến thức mới cũnghình thành và được bổ sung vào hệ thống kiến thức đã có”)[6; 68] những kiếnthức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng với những tình huống mới từ đó xâydựng nên những hiểu biết mới cho bản thân
1.5 Năng lực vận dụng kiến thức là một phẩm chất, một tiêu chí của mục tiêu đào tạo con người năng động, sáng tạo trong nhà trường.
Một sự thật hiển nhiên mà ai trong chóng ta cũng phải thừa nhận rằng:Một xã hội tốt hay xấu, phát triển hay trì trệ, giàu hay nghèo là phụ thuộc vàophẩm chất và năng lực của những con người trong xã hội Êy Nguồn tài nguyêngiá trị vô tận của mỗi quốc gia không phải là rừng vàng biển bạc mà là nội lựccủa con người Chính sự nghiệp giáo dục có nhiệm vụ chăm lo, phát hiện, đàotạo và bồi dưỡng các phẩm chất và năng lực ở từng con người
Trang 33Mục đích đào tạo con người nói chung của ngành Giáo dục và mục đíchhọc của từng cá nhân nói riêng bao giờ cũng xuất phát từ định hướng của thờiđại về sự phát triển con người và về sự hòa nhập xã hội và nghề nghiệp của chủthể Loài người bước vào thế kỷ hai mươi mốt, là thế kỷ mà con người chịu sựchi phối của xu thế “toàn cầu hóa”, kinh tế thị trường, “kinh tế tri thức” vàchuyển dịch theo hướng “xã hội thông tin”, “xã hội học hành”, bắt đầu buổi bìnhminh của một nền văn minh mới văn minh trí tuệ Chiến lược đào tạo dạy họctrong nhà trường như thế nào để đáp ứng, hội nhập với thời đại ngày nay, thờiđại mà cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão Những đặctrưng cơ bản thể hiện sự phát triển của thời đại “Lượng thông tin về khoa học kỹthuật tăng nhanh, tăng nhiều gấp bội Nếu như năm 1750, khi bắt đầu cuộc cáchmạng khoa học lần thứ hai, trên toàn thế giới mới có 10 tạp chí khoa học và sau
100 năm (1850), đã có 100 tạp chí; 1980 có 100.000 tạp chí; năm 2000 đã có tớitrên 1.000.000 tạp chí khoa học Hàng năm có tới bốn đến năm triệu bài báokhoa học được công bố; 300.000 báo cáo khoa học; 110.000 tên sách và có tới400.000 phát minh, sáng chế về các lĩnh vực khoa học được công bố (…) Chỉtrong khoảng 5-10 năm, tốc độ lão hóa về tri thức và kỹ năng trung bình là 15 -20%; những tri thức, kỹ năng về nghề nghiệp có thể lão hóa tới 20-30%; thậmchí đối với các lĩnh vực khoa học - công nghệ mũi nhọn có thể lão hóa tới 30-50% Thời gian từ khi phát minh ra những nguyên lý khoa học đến khi ứng dụngnhững tri thức đó vào thực tiễn sản xuất ngày càng rút ngắn lại”[20; 5]
Unesco đã đưa ra tư tưởng về giáo dục cho thế kỷ hai mươi mốt là: Học
để biết, học để làm, học để giải quyết vấn đề, học để chung sống, sống hợp tácvới những người khác, học để làm người, học suốt đời Đây là mục tiêu đào tạo
mà không một cơ sở giáo dục nào lại có thể từ chối Nói chung giáo dục ở thờiđại ngày nay người ta quan tâm đến sự phát triển cân bằng ba yêu cầu đối vớingười học: Tri thức, thái độ, kỹ năng (khả năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn) Đây là một cách nhìn, một hướng đi mới trong giáo dục ở nhà trường
Trang 34chúng ta những năm gần đây Một thời gian khá dài ở nhà trường đã tồn tại cáchdạy học theo lối kinh viện, hàn lâm Giờ đây, chúng ta đã nhận ra tầm quantrọng của ứng dụng, học đi đôi với hành Nhà triết học người Đức - Kant đã nói:
“Cách tốt nhất để hiểu là làm” Còn Piaget nói: “Suy nghĩ tức là hành động” HồChí Minh cũng nói “Học với hành phải đi đôi Học mà không hành thì học vôÝch Hành mà không học thì hành không trôi chảy”
Chóng ta phải thừa nhận và cùng nhau khẳng định rằng vận dụng tri thức,hình thành kỹ năng kỹ xảo là một khâu rất quan trọng trong quá trình dạy học,nếu không coi trọng vận dụng tri thức hình thành kỹ năng kỹ xảo vào trong laođộng sản xuất, trong cuộc sống thì không thể thực hiện được mục tiêu đào tạonhững người lao động lành nghề Trong nhà trường chúng ta hiện nay khôngphải không còn những hiện tượng học sinh trình bày lại bài học khá đầy đủ, toànvẹn những điều ghi nhận được từ thầy cô giáo hoặc đã được đọc từ các tài liệunhưng lại không thể vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được vào các bài tập,vào lao động sản xuất và cuộc sống Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta nêntăng cường công tác thực hành Khi thực hành buộc học sinh phải phát huy mọinăng lực để vận dụng kiến thức sao cho có hiệu quả Cho nên việc rèn luyệnnăng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong giờ học là rất phù hợp với mụctiêu đào tạo của nhà trường chúng ta
Trang 352 Quan hệ giữa kiến thức văn học với bài làm văn nghị luận văn học.
2.1 Văn nghị luận và bài văn nghị luận văn học trong nhà trường THPT
Kiểu bài văn nghị luận là kiểu bài quen thuộc mà học sinh được làm quenngay từ lớp bảy ở trường trung học cơ sở Đây cũng là một kiểu bài có lịch sửlâu đời trong nhà trường chúng ta, nó xuất hiện ngay từ khi đất nước có nền giáodục Nghị luận là một khái niệm khoa học, chỉ cách thức, mục đích cơ bảnthường gặp trong thực tiễn giao tiếp ở trong đời sống và trong văn học
Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy tập làm văn bậc phổ thông trunghọc cho rằng: “Văn nghị luận là một thể loại văn học dùng lý luận (bao gồm lý
lẽ và dẫn chứng) để làm sáng tỏ một vấn đề thuộc về chân lý nhằm làm chongười đọc và người nghe hiểu và tin vào vấn đề, có thái độ và hành động đúngtrước vấn đề đó”[60]
Sách làm văn 10 (Ban khoa học tự nhiên - kỹ thuật, tài liệu giáo khoathực nghiệm, NXB Giáo dục năm 1994) viết: “Văn nghị luận - loại văn viết rachủ yếu để trình bày nhận thức, tư tưởng, “bàn với người đọc, người nghe vềnhững vấn đề nảy sinh trong hiện thực” “và qua cách thức bàn luận mà làm chongười đọc người nghe hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành độngtheo những điều mà mình đề xuất”
Một cách hiểu khác về văn nghị luận nh sau: “Văn nghị luận sử dụngngôn ngữ tổng hợp để thể hiện sức nặng của luận điểm, luận cứ, và những màusắc xúc cảm của chủ thể nghị luận Phong cách cá nhân của chủ thể nghị luậnkết hợp với tính chất đánh giá công khai, tính lập luận chặt chẽ và tính truyềncảm mạnh mẽ là dấu hiệu chung của các kiểu bài nghị luận”[26; 48]
Sách làm văn 10 (Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000) viết: Văn nghị luận
“chủ yếu nó nhằm trình bày các ý kiến, các lý lẽ để giải thích, chứng minh, biệnluận, thuyết phục về một vấn đề gì đó Nó nhằm tác động vào trí tuệ, lý trí củangười đọc nhiều hơn vào cảm xúc, tình cảm hay tưởng tượng Nó là sản phẩmcủa tư duy logic”
Trang 36Trước cách trình bày, rất phong phú về văn nghị luận chóng ta vẫn nhận thấy
có những điểm chung cơ bản cùng thống nhất, đó là: Văn nghị luận đòi hỏi đến
tư duy logic; khả năng lập luận chặt chẽ, chính xác, rõ ràng nhằm thuyết phục vàlàm cho người khác tin về một vấn đề mà mình trình bày đồng thời thể hiện rõlập trường, quan điểm, tư tưởng của người viết
Từ cách hiểu về văn nghị luận nói chung, chóng ta dễ dàng đi đến thốngnhất cách hiểu về kiểu văn nghị luận văn học: “Nghị luận văn học là lối văn nghịluận mà nội dung là một vấn đề văn học”[11] Vấn đề văn học ở đây hiểu là gồmcác vấn đề về tác phẩm, tác giả, trào lưu, xu hướng, giai đoạn văn học, nhữngvấn đề về bản chất, quy luật, chức năng và nhiệm vụ của văn học Những vấn đềnày có thể gọi là kiến thức văn học
Tổng kết về các dạng văn mà học sinh được “làm văn” trong mười hainăm học, có thể quy tụ về ba dạng văn bản sau:
- Dạng sáng tác văn học: Miêu tả, tường thuật, kể chuyện, tập làm mộtvài thể thơ quen thuộc
- Dạng bài nghị luận với hai nội dung cơ bản: Nghị luận xã hội và nghịluận văn học
- Dạng văn bản hành chính công vụ: Đơn từ, biên bản…
Trong ba dạng văn bản mà học sinh phải làm trong nhà trường thì dạngvăn nghị luận mà đặc biệt là kiểu văn nghị luận văn học được dạy và học nhiềuhơn cả Tại sao lại nh vậy, chúng ta cùng tìm hiểu qua phần vị trí, vai trò, ýnghĩa của kiểu văn này
2.2 Vị trí kiểu bài văn nghị luận văn học trong nhà trường THPT.
Kiểu bài văn NLVH chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong nhàtrường THPT Điều này thể hiện trước hết ở sự phân bố chương trình: Số giờhọc và thực hành về kiểu bài văn NLVH nhiều hơn hẳn so với các giờ làm vănkiểu loại khác Hơn nữa kiểu bài văn NLVH luôn xuất hiện trong các bài kiểmtra, các kỳ thi Các kỳ thi được coi là quan trọng đối với học sinh nh thi tốt
Trang 37nghiệp, thi tuyển thì 100% đề thi là kiểu bài nghị luận văn học Sở dĩ nh vậy làbởi vì: Làm văn là một phân môn trong môn học Ngữ văn Bài văn nghị luậnvăn học sẽ là chỗ dựa quan trọng để đánh giá năng lực văn học của học sinhtrong nhà trường Khi học phân môn văn, học sinh được trang bị những tri thức
để hiểu được, hiểu đúng các vấn đề về kiến thức văn học sử, kiến thức về lý luậnvăn học, kiến thức về tác phẩm văn học nghĩa là góp phần bồi dưỡng, phát triểncho học sinh năng lực khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học trong việc tiếpnhận cũng như năng lực biết đánh giá một cách đúng đắn, khoa học các hiệntượng văn học đồng thời bước đầu tiếp cận và nhận thức được quy luật vận độngphát triển của văn học trong lịch sử Để đo được mức độ tiếp nhận, nghiên cứutrong học tập của học sinh về những đơn vị kiến thức trên không có con đườngnào khác ngoài con đường thông qua bài kiểm tra - kiểu bài nghị luận văn học.Dạng văn nghị luận đã là một dạng văn quan trọng trong nhà trường thì nghịluận văn học là loại bài được coi là đặc trưng nhất Việc lấy kiểu bài này làmloại bài cơ bản trong chương trình làm văn ở trường THPT là hoàn toàn thỏađáng, tương xứng với vai trò của nó trong sự nghiệp giáo dục Điều này lại đượckhẳng định rõ ràng cụ thể ở vai trò ý nghĩa của bài văn NLVH trong nhà trường
2.3 Vai trò của văn NLVH trong nhà trường THPT.
2.3.1 Bài làm văn NLVH là bài làm có tính thực hành, có tính chất tổng hợp vận dụng kiến thức bộ môn Ngữ văn.
Học gắn liền với hành, lý luận gắn với thực tiễn, đó là nguyên tắc dạy họcđúng đắn trong nhà trường Bài làm văn NLVH của học sinh đã đáp ứng đượcyêu cầu đó Chúng ta phải thừa nhận rằng bài văn NLVH của phân môn làm văn
có tính chất thực hành tổng hợp các giờ học văn, ngữ Bài làm văn NLVH đượccoi là phần thực hành quan trọng nhất vì đó là phần thực hành có tính chất tổnghợp và sáng tạo Khi học ở nhà trường, phần thực hành của làm văn qua cáckiểu, loại văn bản mà học sinh phải làm thì văn bản NLVH là khó hơn cả đối vớihọc sinh Muốn làm tốt bài văn NLVH học sinh phải vận dụng kiến thức một
Trang 38cách tổng hợp về văn học, về ngôn ngữ, và những hiểu biết về đời sống, đồngthời phải huy động mọi năng lực của tư duy để tìm một cách sắp xếp, một cáchtrình bày để giải quyết sáng tạo một vấn đề cụ thể Hơn nữa bài văn NLVH lạiđòi hỏi rất nhiều kỹ năng khi trình bày như: bố cục, lập luận, dùng từ, đặt câusao cho nội dung được diễn đạt bằng một hình thức trong sáng, sinh động, hấpdẫn Nói nh vậy là chúng ta đã hình dung được Ýt nhiều về tính thực hành vàtính chất tổng hợp trong bài làm văn NLVH của học sinh.
Kiến thức về văn học, học sinh được tiếp thu qua các giờ giảng văn, quacác giờ văn học sử, các giờ học về lý luận văn học Kiến thức về ngôn ngữ, vềcâu, về cách xây dựng đoạn văn, các biện pháp nghệ thuật học sinh được tiếp thuqua giờ học tiếng Việt Trong các giờ học này, người giáo viên với vai trò làngười hướng dẫn, điều khiển, tổ chức để các em chiếm lĩnh nguồn tri thứcphong phó song kết quả học tập đạt được ở mức độ nào lại thông qua bài làmvăn NLVH của các em Mặc dù qua các phân môn của bộ môn Ngữ văn các emcũng phải làm bài tập rèn luyện kỹ năng song dù sao vẫn mang tính chất bộphận Bài làm văn của học sinh mới thực sự là thước đo “đầu ra” của quá trìnhdạy văn học văn Bởi khi đứng trước một bài làm văn NLVH học sinh mới đượcthực hành tổng hợp cả về nguồn kiến thức và về kỹ năng Thông qua giai đoạnviết bài, những kiến thức văn học của các em sẽ được chuyển hóa về chất Sựchuyển hóa này được thể hiện ở những mảng kiến thức riêng lẻ, bộ phận mà các
em lĩnh hội được qua các giờ học sẽ được hệ thống hóa, phạm trù hóa theonhững đòi hỏi cụ thể của từng vấn đề mà các em phải giải quyết khi vận dụngkiến thức Những kiến thức được học và tự học còn là những nguồn kiến thứctản mạn thì nay sẽ được huy động có định hướng vào từng chủ điểm, từng vấnđề; Những kiến thức của từng giờ giảng văn, lý luận văn học, văn học sử nayđược nhìn nhận trong mối tương quan sinh thành, nguyên nhân - kết quả; Cácthao tác và kỹ năng văn học trước đây được rèn luyện lẻ tẻ bộ phận nay đượchuy động tổng thể để lựa chọn phương pháp tối ưu cho việc thể hiện phù hợp
Trang 39với yêu cầu trình bày Bài làm văn NLVH là quá trình thực hành vận dụng tổnghợp kiến thức của bộ môn Ngữ văn mà thông qua đó chúng ta đánh giá đượctrình độ nhận thức, năng lực thực hành của học sinh.
Tóm lại bài làm văn nghị luận văn học của học sinh “được coi là khâuhoàn thiện quá trình học giảng văn, văn học sử, lý luận văn học và tiếng Việt.Nói hoàn thiện vì qua làm văn học sinh được bổ sung và tự bổ sung những hiểubiết văn học đã thu nhận được trong các phân môn Cũng qua làm văn, vốn kiếnthức chết sẽ trở thành kiến thức sống, hiểu biết tản mạn có khi “hỗn loạn” đượcphạm trù hóa về chất Ai cũng thừa nhận qua làm văn, học sinh không những chỉđược thử thách về vốn kiến thức hay hiểu biết lý thuyết về làm văn mà còn phảihuy động một cách tổng lực nhiều yếu tố về vốn sống, về văn hóa, về tưduy”[35; 30]
2.3.2 Bài làm văn NLVH là sản phẩm sáng tạo của cá nhân thể hiện tích hợp vốn sống, tâm lý, tư duy, tình cảm, và nhân cách của mỗi con người.
Văn tức là người, người ta vẫn thường nói nh vậy Đó là một nhận xét rấtđúng dù là đối với nhà văn hay học sinh Bài văn NLVH là sản phẩm sáng tạocủa cá nhân Qua bài viết dù muốn hay không thì học sinh cũng vẫn tự bộc lộcon người mình về vốn sống, về tâm lý, về tư duy, về tình cảm và về nhân cách.Một bài văn NLVH có thể là phân tích một tác phẩm, một nhân vật, bình giảngbài thơ, một đoạn thơ hay bàn luận về một vấn đề văn học đều đòi hỏi học sinhhuy động tất cả nguồn kiến thức mà các em thu nhận được ở các bộ môn khác.Đối tượng trong bài làm văn nghị luận văn học là một vấn đề văn học, trong khi
đó tác phẩm văn học không đơn giản là sự trình bày tư tưởng trần trụi, khô khan
mà chất chứa trong đó một nội dung tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ Vì vậy khi làmbài văn nghị luận văn học học sinh phải đến với thế giới Êy bằng tư tưởng và lýtrí của tình cảm, cảm xúc chân thật, chỉ như vậy học sinh mới bước được vào thếgiới tư tưởng, tình cảm của nhà văn
Trang 40Qua bài làm văn nghị luận văn học, chúng ta sẽ biết quan điểm, lậptrường, tình cảm nông hay sâu, thái độ đối với cuộc sống hời hợt hay nghiêmtúc, năng lực tư duy phát triển đến độ nào, có năng lực tư duy độc lập hay khôngcủa học sinh Chứng minh cho nhận định này, chúng ta cùng đến với một số ví
dụ cụ thể trong bài làm văn nghị luận văn học của học sinh Khi phân tích hìnhtượng nhân vật chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố, có họcsinh cho rằng “chị Dậu yêu chồng hơn yêu con” Việc học sinh mạnh dạn đưa ranhận định trái ngược so với những gì chúng ta vẫn nói về nhân vật chị Dậu cho
dù không đúng nhưng chúng ta cũng thấy học sinh có sự cảm nhận của riêngmình Đồng thời qua đây người giáo viên cũng biết được tầm hiểu biết của họcsinh mới chỉ bó hẹp trong tác phẩm, chưa có sự hiểu biết về bối cảnh xungquanh tác phẩm khi nhà văn Ngô Tất Tố xây dựng nên tác phẩm đó Một đề bàinhư sau: “Cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp của nghĩa quân Lam Sơn qua đoạn
40 và 40b trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi” Học sinh NguyễnHoàng H líp 10A14 rường THPT Trần Phú Hà Nội đã trình bày như sau: “Đạinghĩa có nghĩa là một ý chí lớn” Qua đây học sinh vừa bộc lộ ý thức học tậpkém vừa thể hiện sự tuỳ tiện trong cách nghĩ, cách viết
Thông qua việc chấm bài, các thầy cô giáo nhận thấy vốn sống của các
em rất nghèo nàn, vốn sống chính là những thực tế, những bài học ngoài đời.G.Duhamel thường nhắc nhở các nhà văn “Sự thật ngoài đời là nguồn tài liệu bấttận của chúng ta” Thực tế chỉ ra rằng các em học sinh sống rất thờ ơ với thế giớixung quanh Các em dường nh không có ý thức quan sát cảnh vật, hiện tượng,tâm lý con người Nh vậy khi làm bài văn nghị luận văn học làm sao các em cóthể viết sâu sắc về những nhân vật, những cảnh, những tình huống trong truyện.Một tác phẩm khi nhà văn viết xong mới chỉ là một văn bản, văn bản Êy chỉ trởthành tác phẩm văn chương khi có bạn đọc Học sinh là những người đọc vàviệc học sinh làm bài văn nghị luận văn học chính là quá trình thể hiện việcđồng sáng tạo cùng nhà văn Liệu học sinh sẽ đồng sáng tạo với nhà văn như thế