1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biểu tượng bóng đêm trong tiểu thuyết nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh

38 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 148,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả cho rằng,những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh, nhữnghình tượng gây sốc la liệt trong tác phẩm tạo ra một vũ trụ mới củacuộc chiến tranh - vũ trụ chìm trong

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ do chọn đÒ tài

Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của tình yêu) ngay từ

khi ra đời đã trở thành "điểm sáng, vùng tranh cãi" (Hoàng NgọcHiến) Những luồng dư luận trái chiều liên tục được tung ra Vàcho đến nay, cuốn tiểu thuyết này vẫn trở thành "mắt bão" trongnền tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Trước một hiện tượng văn họcmang tính bứt phá, người viết hứng thú đào sâu tìm cái mới, cáicách tân trong ngòi bút Bảo Ninh

Nỗi buồn chiến tranh có thể được tiếp cận từ nhiều góc

độ Trong đó, nghiên cứu từ biểu tượng là một hướng đi thú vị.

Biểu tượng là cơ sở giải mã hình tượng, lí giải tính hàm súc củangôn ngữ nghệ thuật Biểu tượng có sức chứa đựng và nảy sinh cácquan niệm, dồn nén các tầng nghĩa Khám phá tác phẩm từ góc độbiểu tượng, trên cơ sở kết hợp những kiến thức liên ngành: ngônngữ học, văn hoá học và văn học, người viết có cơ hội nhận diệnvấn đề một cách toàn diện và tổng hợp Theo đó, vừa giải mã cái

hay, cái mới của Nỗi buồn chiến tranh, võa khẳng định một

h-ướng nghiên cứu có nhiều triển vọng

2 Lịch sử vấn đề

Nỗi buồn chiến tranh giành giải Nhất Hội nhà văn năm

1991 cùng với "Mảnh đất lắm ngời nhiều ma" của Nguyễn Khắc

Trang 2

Trường và "Bến không chồng" của Dương Hướng Nhà văn

Nguyên Ngọc, với sự tinh nhạy của nhãn quan phê bình văn học,sớm nhận ra những cựa quậy chuyển mình của nền văn xuôi dântộc, đã phát biểu: "Trước đây, tác phẩm hay là để được công nhậnngay, khẳng định ngay Ở đây không có vấn đề con ngời khó nhọc

đi kiếm tìm chân lí sống, ở đây con người hành động quả quyết vìmột chân lí đã biết rõ Ngày nay, tác phẩm hay là để tranh cãi, tácgiả kiếm tìm, đề nghị người đọc cũng vật vã kiếm tìm" ( Tạp chíVăn học, số 4/ 1990) Báo Văn nghệ năm 1991 liên tục đăng tải

các ý kiến đánh giá Nỗi buồn chiến tranh GS.Trần Đình Sử cho

rằng cuốn tiểu thuyết là "một đóng góp đáng kể nhiều mặt cho tiểuthuyết Việt Nam hiện đại" (văn nghệ số 37) Trần Thị Mai Nhiđánh giá "cuốn truyện như một dòng ý thức, như một trò chơi lỏngcủa ngôn từ chảy dài không ngừng Dòng trôi của tiểu thuyết làdòng trôi của những kỉ niệm" Bên cạnh đó, có những ý kiến phủ

nhận Nỗi buồn chiến tranh một cách gay gắt, tiêu biểu là ý kiến

của Đỗ Văn Khang trên báo Văn nghệ số 43/1991 Tác giả này chorằng những cảnh tàn khốc của hiện thực chiến tranh gợi lại trong kí

ức Kiên mang đặc điểm Chủ nghĩa tự nhiên trong văn học Tác giảnhấn mạnh thêm: xu hướng chính của cuốn tiểu thuyết là xu hướng

lố bịch hoá… Nhưng nhìn chung, các ý kiến đề cao tác phẩm củaBảo Ninh vẫ chiếm ưu thế hơn và được số đông bạn đọc đón nhận

GS Đỗ Đức Hiểu trong chuyên luận "Thân phận tình yêu

Trang 3

của Bảo Ninh" đã đề cập đến vấn đề biểu tượng Tác giả cho rằng,những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh, nhữnghình tượng gây sốc la liệt trong tác phẩm tạo ra một vũ trụ mới củacuộc chiến tranh - vũ trụ chìm trong ma, ma và đêm là biểu tượngkhủng khiếp của chiến tranh Tác giả Đỗ Đức Hiểu có đề cập đếntính biểu tượng của ngôn ngữ tác phẩm Tiếp nối ý kiến của GS ĐỗĐức Hiểu, Tiến sĩ Nguyễn Đăng Điệp trong khi tìm hiểu kĩ thuậtdòng ý thức của "Nỗi buồn chiến tranh" đã chỉ ra tính biểu tượngcủa ngôn ngữ tiểu thuyết: "Văn của Bảo Ninh thường đa nghĩa,mang tính biểu tượng chồng lên nhau trùng điệp, vì thế nó có khảnăng đánh thức nhiều chiều văn hoá khác nhau về cái Đẹp" Tácgiả khẳng định dòng sông là một biểu tượng kép, vừa là dòng đời,dòng số phận, vừa là dòng suy nghĩ của nhân vật Kiên.

Gần đây nhất, trên Tạp chí nghiên cứu văn học số 2/ 2007,

với bài viết "Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn khái

quát", PGS.TS Nguyễn Thị Bình đưa ý kiến: "Thân phận tình yêu

của Bảo Ninh ra đời năm 1990, làm xôn xao dư luận, phân lập ười đọc rất mạnh bởi những đột phá cả về nội dung và hình thứctiểu thuyết Hiện thực chiến tranh qua hồi ức của một ngời lính bị

ng-"chấn thương" là một góc nhìn cá biệt Nỗi buồn chiến tranh cũng

là nỗi buồn sáng tạo Tác phẩm là dòng chảy "rối bời, bấn loạn"của nhân vật chính về thân phận, chức phận và danh phận của mộtnhà văn hiện đại" Tác giả bài viết phân tích thêm không gian, thời

Trang 4

gian trong truyện và nhận định: "nhịp điệu vừa gấp gáp vừa lê thêluẩn quẩn, vừa day xé vừa dịu dàng".

Trong khoá luận tốt nghiệp "Tính biểu trưng của ngôn ngữ

Thân phận tình yêu của Bảo Ninh", Phạm Thị Vân Anh khảo sát và

nhận xét về hệ thống biểu tượng trong cuốn tiểu thuyết Theo tácgiả, Bảo Ninh đã tạo ra một hệ biểu tượng khắc hoạ vẻ đẹp dữ dội,khủng khiếp của chiến tranh Hệ thống biểu tượng này là sựchuyển dịch biểu tượng văn hoá vào ngữ cảnh cụ thể và có hệthống Nguyễn Nga Mi trong Báo cáo khoa học "Giá trị biểu trưng

của biểu tượng nước, trăng trong tiểu thuyết Thân phận tình yêu

của Bảo Ninh" đã phân tích khá chặt chẽ và khoa học ý nghĩa biểutrưng của các biểu tượng được chọn khảo sát và qua đó, nhận diệnphong cách tự sự của nhà văn Bảo Ninh

Người viết nhận thấy rằng, chưa có công trình nào nghiên

cứu biểu tượng bóng đêm trong Nỗi buồn chiến tranh một cách hệ

thống và chỉ ra các lớp nghĩa phong phú của nó Tiếp bút những

người đi trước, người viết tiến hành tìm hiểu Biểu tượng “bóng đêm” trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh

Trang 5

- Tìm hiểu tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh về phương diện

nội dung ý nghĩa và giá trị nghệ thuật, điểm nhấn là những cách tân vềngôn ngữ; từ đó khám phá phong cách tự sự của tác giả Bảo Ninh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài đề cập đến những biểu tượng trong phạm vi tác phẩmvăn học

- Đối tượng khảo sát trực tiếp là biểu tượng bóng đêm.

- Tư liệu văn học khảo sát là tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh

của nhà văn Bảo Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

5.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa

5.3 Phương pháp hệ thống

5.4 Phương pháp so sánh

6 Cấu trúc chuyên đề:

I.Biểu tượng

II Biểu tượng bóng đêm

III Nhận diện biểu tượng bóng đêm trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

1 Khảo sát, phân loại

2 Ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng bóng đêm

2.1 Bóng đêm mờ tối của hiện thực chiến tranh tàn khốc 2.2 Bóng đêm với sự trỗi dậy của Èn ức và sự ám ảnh

Trang 6

những giấc mơ

2.3 Bóng đêm và “nghi lễ” của sáng tạo

3 Phong cách tự sự của Bảo Ninh qua việc xử lí biểu tượng

Trang 7

tượng, nói như Tz Todozov (7; VXVII, Đỗ Hữu Châu, Những vấn đề về

Tiếng Việt và làm văn; T1; T5; ĐH Sư phạm Hà Nội, 1990) là “sự ứ tràn

của nội dung ra ngoài dạng biểu đạt của nú” Sự chuyển hóa giữa cáctầng nghĩa biểu trưng và sự xếp chồng của các lớp biểu trưng là hiệntượng tất yếu trong quá trình biến đổi ý nghĩa của biểu tượng Lưuchuyển vào phạm vi đời sống văn hóa, nghệ thuật, biểu tượng tăng thêm

và lược bỏ những ý nghĩa của nó Xét trong lĩnh vực văn học, biểu tượngđược mã hóa thông qua tín hiệu ngôn từ: “Cỏc biểu tượng nghệ thuậtđược cấu tạo lại thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học Trong phạm

vi ngôn ngữ văn học, các biểu tượng tâm lý, biểu tượng văn hóa đều

được chuyển hoá thành các từ - biểu tượng (word - symbols)” (Nguyễn

Thị Ngân Hoa)

Khởi nguyên, biểu tượng chỉ được xột trờn bình diện văn hóa vàbản thân biểu tượng là một kí hiệu đa nghĩa, vượt lên chính nó.J.Chevalier cho rằng ý nghĩa của biểu tượng không phải là một cấu trúckhép kín mà là một khả năng gợi ra các chiều liên tưởng trong thực tạitinh thần của con người, những chiều hướng này, có thể rất khác nhau.Dưới tác động của tác nhân tâm lý, văn hóa, văn học, biểu tượng có quátrình sản sinh và biến đổi cỏc nét ý nghĩa Cú thể nói, quá trình chuyểnthành biểu tượng nghệ thuật là sự vận động từ mẫu gốc (gắn với “vụthức tập thể”, có thể tìm thấy trong các thần thoại, nghi lễ, truyềnthuyết…), qua mỗi loại hình nghệ thuật sẽ cú cỏc biến thể loại hình, đếnloại hình nghệ thuật ngôn từ (văn học), biểu tượng chuyển hoá thành các

Trang 8

hình tượng trong tác phẩm và hình tượng này được biểu hiện thông quanhững hình ảnh, tín hiệu thẫm mỹ Con đường hình thành biểu tượngnghệ thuật, có thể do sự lặp lại đầy ý nghĩa của các hình tượng, do sựsáng tạo một thế giới đậm chất huyền thoại hoặc tạo nên sự trùng phứctrong một hình ảnh, gia tăng tính đa nghĩa và kích thích sự liên tưởng vôcùng Giải mã biểu tượng ngôn từ nghệ thuật, xuất phát từ các thủ phápnghệ thuật, xuất phát từ chính cấu trúc ngôn từ của văn bản để tìm ranhững ý nghĩa ẩn chìm đằng sau những biểu tượng Theo đó, hiển nhiên,

là quá trình giải mã những sáng tạo của cá nhân nhà văn trong quá trìnhqua hệ với văn hóa, ý thức và vô thức của cộng đồng

Thêm nữa, quá trình chuyển hóa từ phạm vi tâm lý xã hội sangphạm vi tâm lý cá nhân, từ cái vô thức sang ý thức sáng tạo, từ bình diệnvăn hóa mang tính cộng đồng sang bình diện chủ thể, từ chất liệu vật thểđến chất liệu phi vật thể đựơc hiện thực hóa thông qua chính thao tácngôn từ: lựa chọn các biến thể trong vốn từ - biểu tượng trong phạm vingôn ngữ văn hóa và tạo ra các biến thể mới bằng các kết hợp trong ngữđoạn Theo đó, dấu ấn phong cách của tác giả được xác định Bằng nănglực nghệ thuật và nhãn quan hiện thực, nhân sinh, tác giả nhào nặn lạicác biểu tượng, phù hợp với mục đích phản ánh và biểu hiện Cách thứcsáng tạo lại của người nghệ sĩ mã hóa sắc thái riêng biệt về nội dung

cũng như hình thức Nói cách khác, thông qua từ - biểu tượng trong văn

bản nghệ thuật ngôn từ, ta có thể tìm thấy đóng gớp mới mẻ của tác giả,

cả về phương diện nội dung và thi pháp Bởi vì, gắn với những kí hiệu

Trang 9

biểu tượng luôn là những ý nghĩa mà nó gợi mở, xét trong những kếthợp ngôn ngữ.

Xét trong phạm vi văn học, biểu tượng lại được “phõn luồng” ởlĩnh vực thơ ca và văn xuôi, tuy rằng, tính chất “phõn luồng” chỉ làtương đối Từ góc độ bản chất, thơ ca yêu cầu biểu hiện thế giới nội tâm,thế giới tinh thần theo xu hướng nội cảm hóa, chủ quan húa “Tớnh songđiệu (đa nghĩa) của biểu tượng trong thơ ca luôn tù thỏa mãn với mộttiếng nói và một hệ thống điệu thức Tính đa nghĩa của biểu tượng thơ cađòi hỏi phải có một tiếng nói thống nhất và đồng nhất với bản thõnmình, và tiếng nói ấy đơn độc hoàn toàn trong lời nói của mình Chỉ cần

để cho tiếng nói của người khác, một quan điểm nào khác xâm nhập vàotrong hoạt động của biểu tượng, tức thì bình diện thơ ca bị phá vỡ vàbiểu tượng bị thuyên chuyển sang bình diện văn xuụi” (M.Bahktin) Vớivăn xuôi tự sự, đặc biệt là tiểu thuyết, vấn đề lại khác Ngôn từ songđiệu của tiểu thuyết được “đối thoại hóa từ bên trong với tất cả các kiểu

và dạng thức phong phú của nú” Trong tác phẩm tự sự, đặc điểm ngônngữ của tất cả các phong cách chức năng thuộc phạm vi lời nói phi nghệthuật đều có thể được mô phỏng và tổ chức lại dể thực hiện chức năngthẩm mỹ Sự mô phỏng ngôn từ của các phong cách lời nói phi nghệthuật đã xóa đi cái khoảng cách tương đối mang tính sử thi và tạo nên sựtổng hũa cỏc đặc trưng phong cách ngôn từ của lời nói tự nhiên trong sự

tương tác và biến đổi chức năng của chúng Do đó, cấu trúc từ - biểu

tượng trong văn xuôi biểu hiện phức tạp hơn trong thơ ca Biểu tượng

Trang 10

trong văn xuôi gắn với yếu tố không gian, thời gian mang tính biểutượng, hình tượng nhân vật có tính biểu tượng tạo ra những giá trị biểunghĩa phong phú, mới mẻ Vì thế, chức năng thẩm mỹ của tác phẩmđược nâng lên rõ rệt Cũng do khả năng dung hợp và phá vỡ cơ cấu chứcnăng của các yếu tố ngôn từ thuộc phạm vi phong cách chức năng củalời nói phi nghệ thuật để tăng cường giá trị và hiệu quả tu từ theo nhữnghướng nhất định, các biểu tượng văn xuôi có khả năng tạo nên tính trữtình, chất thơ và khả năng biểu cảm vô tận cho tác phẩm văn xuôi nghệthuật.

II Biểu tượng bóng đêm

Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới đưa ra các ý nghĩa của biểu

tượng bóng đêm như sau:

Đối với người Hy Lạp, đêm (nyx) là con gái của Hỗn mang và

là mẹ của Trời (Ouranos) và Đất (Gaia) Đêm còn sinh ra giấc ngủ và

sự chết, những giấc mơ và những mối lo âu, tình âu yếm và sự lừa dối Đêm hay bị kéo dài thêm theo ý các thần, họ bắt mặt trời và mặt trăng dừng lại để thực hiện tốt hơn các kì tích của mình Đêm đi khắp trời, đ-

ợc che phủ một tấm màn tối trên một cỗ xe đóng 4 ngựa đen, với đoàn thiếu nữ hộ tống, đó là các nữ thần Thịnh nộ (Furies), các nữ thần Số mệnh (Parque) Người Hy Lạp tế thần âm ti này một con cừu cái lông đen.

Ở người Maya, cùng một hình khắc chìm có nghĩa là đêm, lòng đất và cái chết.

Trang 11

Đêm, theo quan niệm của người Celtes về thời gian, là khởi đầu của ngày, cũng như mùa đông là lúc bắt đầu của năm Thời gian theo luật định của một đêm và một ngày tương ứng ở Ailen với hai mơi bèn giờ biểu trưng vĩnh hằng

Đêm tượng trưng cho thời gian của sự thai nghén, nẩy mầm, của những mưu đồ bí mật sẽ lộ ra giữa thanh thiên bạch nhật thành những biểu hiện của sự sống Đêm chứa đầy tất cả các khả năng tiềm tàng của cuộc đời Nhưng đi sâu vào đêm tức là trở về với cái chưa xác định trong đó đầy rẫy những ác mộng và quái vật, những ý nghĩ đen tối Đêm là hình ảnh của cái vô thức, trong giấc ngủ đêm, vô thức giải phóng Cũng như bất kì biểu tượng nào, đêm biểu thị tính hai mặt, mặt tối tăm, nơi đương lên men mọi chuyển biến, và mặt trù bị cho ban ngày, ở đó sẽ loé ra ánh sáng của sự sống.

Trong thần học bí nhiệm, đêm tượng trưng cho trạng thái mọi tri thức riêng biệt, phân tích, có thể biểu đạt đều biến mất, hơn nữa, mọi điều hiển nhiên, và mọi chỗ dựa tâm lí đều mất đi Cùng với một số từ ngữ khác như bóng tối, đêm thích hợp với việc thanh tẩy trí tuệ, trong khi Êy thì trống rỗng và cùng quẫn liên quan đến việc làm thanh tẩy trí nhớ khô cằn và hạn há, đến việc làm thanh tẩy các mong ước và các xúc động cảm tính, ngay các khát vọng cao quý nhất

Như vậy, về cơ bản, trong tâm thức nhân loại, bóng đêm bao

gồm các nét nghĩa:

- Tượng trưng cho thời gian

Trang 12

- Đêm sinh ra giấc ngủ và sự chết, gắn với những lo âu, sự lừadối

- Đêm có ý nghĩa thanh tẩy trí tuệ

Với người phương Đông, trong lối tư duy tổng hợp, trong khát

vọng hài hoà và tương thông con người với vũ trụ, đêm là vòng quay của

thời gian, đồng thời là một biểu hiện của dòng sống vô thuỷ vô chung.Không gian đêm khuya thích hợp để nhà thơ tỏ lòng tỏ chí, thích hợp đểngười nghệ sĩ nhìn sâu vào bản ngã của mình Chẳng thế mà thi tiên và

thi thánh Lí Bạch và Đỗ Phủ thường xuyên đưa hình ảnh bóng đêm vào

thơ, gắn với chén rượu, với bóng trăng để khắc tạc nỗi u uất, buồn đau

và cô đơn Theo đó, bóng đêm góp phần thể hiện tâm thé trữ tình của

gặp em" Bóng đêm thức dậy những cô đơn và ý thức bản thân Nàng

Kiều xót xa nghĩ đến tình cảnh "bớm chán ong chường" của mình trongđêm, Hồ Xuân Hương đối diện với nỗi trống trải "Đêm khuya văng vẳngtrống canh dồn/ Trơ cái hồng nhan với nước non"

Trang 13

Văn học hiện đại sử dụng bóng đêm để tăng chiều sâu vô thức,

khám phá cõi nội tâm thầm kín của con người Điều này xuất phát từtính dân chủ của nền văn học và khuynh hướng thể hiện mới của các câybút say mê cách tân, dưới sự ảnh hưởng của nền tiểu thuyết phương Tây

Di chuyển bóng đêm từ bình diện văn hoá sang bình diện chủ thể, nhà

văn đã gia công và tái tạo lại một số nét nghĩa, phục vụ cho ý đồ nghệ

thuật và việc xây dựng hình tượng nghệ thuật Đến với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, bóng đêm trở thành một tín hiệu thẩm mĩ chứa

đựng nhiều thông điệp quý giá

III Nhận diện biểu tượng bóng đêm trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

1 Khảo sát, phân loại

Khảo sát cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, biểu tượng bóng đêm xuất hiện 299 lần dưới các tên gọi và các biến thể

khác nhau:

- Tên gọi định danh trực tiếp (đêm) xuất hiện lần, chiếm %.

- Tên gọi theo biến thể:

+ Biến thể từ vựng: xuát hiện lần, chiếm %:

*Biến thể dựa trên nét nghĩa biểu vật chỉ hiện tượng: tối đen,

tối, bóng tối, bóng đêm, tối khuya, canh khuya.

*Biến thể dựa trên nét nghĩa biểu niệm chỉ thời gian: đêm đêm,

suốt đêm, từng đêm, hằng đêm

+ Biến thể kết hợp có sắc thái miêu tả: đêm tối đen, đêm tối

Trang 14

nặng nề, đêm mưa, đêm tàn, đêm tăm tối, đêm tối như cái hố mêng mông đen ngòm, đêm tối như bưng, đêm dài mộng du, bóng đêm lay động, đêm xuân giá rét, đêm lạnh giá, đêm kinh khủng, đêm mùa xuân, đêm hè mát rượi, đêm đồng nội, đêm đen của hồi tưởng, bóng tối đêm mưa, đêm đen thành phố, bóng tối đẫm hơi mưa.

Nhận xét:

Biến thể kết hợp xuất hiện nhiều nhất, gắn với những định ngữnhằm bổ sung sắc thái ý nghĩa cho hình ảnh Đồng thời, sự kéo dài thànhphần miêu tả tạo nhịp cho câu văn, làm nên cái gọi là “chất thơ” cho tácphẩm

Biểu tượng bóng đêm thường xuất hiện kèm theo biểu tượng

mưa và giấc mơ Có thể nói, trong toàn trang văn của Bảo Ninh, mỗi

hình ảnh đều có chiều sâu và khả năng liên tưởng mạnh Tính đa tầng

của hình ảnh là năng lượng diệu kì, là hấp lực của Nỗi buồn chiến tranh.

Người viết sẽ trở lại ván đề này khi phân tích ý nghĩa của biểu

tượng bóng đêm.

2 Ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng bóng đêm

2.1 Bóng đêm mờ tối của hiện thực chiến tranh tàn khốc.

“Chao ôi! Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thangkhốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cừi khụng đàn ông, không đàn bà, là thếgiới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống conngười!” Chiến tranh biến cái nghịch lý trở thành hiển nhiên và cần thiết

Trang 15

Thực tế, mọi hoạt động của con người phải chuyển về đờm, trỏnh sựquan sát và công phá của địch Con người phải làm quen với bóng tối và

sống trong bóng tối Với cuộc đời của những trinh sát, bóng đêm là môi

trường sinh sống suốt những năm tháng dài mỏi mệt, tàn khốc trong lửađạn Những đợt hành quân phá vỡ thám báo, những lần di chuyển trungđội, đêm đen làm bạn với con người Lũng âm u, hoang vắng Khônggian đặc quánh bóng tối nặng nề “Khi trời tối cây cối hòa giọng với giúrờn những bản nhạc ma Và không một ai có thể quen được vì chẳng gócrừng nào giống góc rừng nào, chẳng tối nào như tối nào…” “Đờm nay,hồn ai gọi hồn ai Tiếng có cất lên từ đâu đó trong rừng thẳm, âm utruyền dọc theo những gờ núi lạnh lẽo của truông Gọi Hồn Cô đơn, lạclâng…” Hương hoa hồng ma hằng đêm thấm vào giấc ngủ Không gianchân thực thời chiến hiện lên đầy ám ảnh trong khung cảnh mờ nhoè vàchết chóc của bóng tối

Bóng tối đông đặc, lại thêm mưa tầm tã Bóng tối và mưa song

song xuất hiện 9 lần, có khi để khắc đậm không gian tơi tả, bê bết, nhậpnhụa bùn lầy của con đường trinh sát, có khi để nhấn mạnh cái hoang

vu, lạnh lẽo và cô độc Những đêm mưa nhớ nhà, cả đội quân tụ tậpđánh bài, “vui vẻ, om sũm…tuồng như là một thời kỳ sung sướng, bìnhyên, nhàn cư, vô tư lự lắm vậy” Thế nhưng, sau những chút vui thoángqua, nỗi buồn ngập ngụa, tê dại Can không thể bình tĩnh hơn trước hiệnthực cuộc chiến Can bỏ đi “Suối lũ rền rĩ Mưa tầm tã trong bóng đêm.Tối tăm, ẩm ướt, hoang rợn, đất trời như bị bưng kín, bị đè nghẹt”

Trang 16

Thịnh “con” và các đồng đội theo tiếng gọi của ảo giác mơn man hằngđêm đưa lại, theo mùi ngất ngây của hồng ma, đêm nào cũng lặng lẽ

“nhún bước ra khỏi lán, lẹ làng mất hút trên con đường mũn khụng dấuvết chạy men theo một dòng suối nhánh dẫn sâu vào lòng núi tối tămđắm dưới mùa mưa như thác đổ” “Ướt át, lầy lội, khốn khổ” Nhữngđêm mưa chiến tranh, nỗi cô đơn thôi thúc con người cháy dậy nhữngkhát vọng Bóng đêm chiến tranh vây bủa con người Không chỉ là hiệnthực những mùa mưa, những không gian mịt mù dấn bước hành quân,bóng tối chiến tranh dịch chuyển vào tâm thức con người, trở thành nỗiđau giằng xé Suốt trang văn của Bảo Ninh, ta không tìm thấy sự vỗ về,không tìm thấy cảm giác bình yên trong đêm mưa Toàn bộ là sự hủydiệt rùng rợn Chưa xét đến khía cạnh nhân bản, nhân tính trong nhữngham muồn của những người lính, rõ ràng hành động của họ là sự cô đơntột độ, là hiện tượng thảm hại khốn cùng của sù thiếu hụt đời sống tinhcảm Chiến tranh như lưỡi dao cắt bổ con người thành từng mảnh, rờirạc và khô khốc Bản thân Kiên, trung đội trưởng gan dạ và chai lỳ, luônphải gặm nhấm nỗi buồn tủi của cuộc chiến: “Đờm tháng tám mưa to vàchốc chốc ánh chớp lại phá thinh không tăm tối và dữ dội dựng đứngrừng lên trong khoảnh khắc Bứt rứt trong lòng, gần sáng anh mặc áo tơi,xách sóng đi kiểm tra một lượt các lán Đất rừng lầy lội, phù thòng Kiên

co người trong tấm áo tơi lá Sung đeo thõng, bước dò dẫm” Kiên cảmthấy sự hủy diệt ghê gớm đang thấm tràn trong trung đội khi nghe thấynhững tiếng cười man dại Sự tỉnh táo, vững vàng và sắc sảo khiến lòng

Trang 17

Kiên càng cô đơn và nặng nề Những đêm mưa nơi lũng hoang, Kiênđau đớn nhận thấy tâm hồn con người bị chiến tranh biến thành niềmđam mê thác loạn, niềm khao khát giải toả những ẩn ức Kiên ngơ ngác,hụt hẫng chạy theo Can Tức nghẹn và bật khóc, nước mắt cứ ứa ra móitrờn gương mặt Kiên Thông qua cái nhìn của người trong cuộc (nhânvật Kiên), nhà văn Bảo Ninh dựng lên không gian hiện thực xám xịt, u

tối và cô đơn Không một ai đọc Nỗi buồn chiến tranh mà không cảm

giác rờn rợn bởi sự chết chóc, mệt mỏi Hiện thực chiến tranh không đơnthuần là là sự tàn phá thiên nhiên, sự cày xéo và lật tung từng khoảngđất Hiện thực chiến tranh còn là những khoảng tối, những lo âu và sợhãi trong tâm hồn của những người trong cuộc Đó là những vết thương

không bao giờ tẩy rửa được Khắc họa song trùng hình ảnh bóng tối và

mưa, Bảo Ninh nhấn mạnh hơn sự hủy diệt, chết chóc Và ở một phương

diện nào đó, trong ý nghĩa thanh tẩy của biểu tượng mưa, Bảo Ninh

muốn đặt vấn đÒ về thân phận con người với những khao khát tẩy rửakhoảng tối đè nặng trong tâm hồn, tẩy rửa những ám ảnh cô đơn và sầuđau

Bóng đêm của chiến tranh còn dai dẳng trong tâm trí Kiên lúc

hoà bình lập lại Hằng đêm, Kiên thu mình trong đêm khuya, lặng ngắm

Hà Nội những mùa lạnh lẽo và hoang vu Kiên đẩy trí nghĩ trở về vớinhững đêm mưa tối ở truông Gọi Hồn "Dưới đường, những ngọn đènkhuya sáng rải thành một rẻo rời rạc nhoà mờ luồn trong lưới mưa đan,chạy xa hót vÒ khoảng trống của hồ nước ở cuối phố Bên kia lòng đ-

Trang 18

ường bóng đêm lay động theo những vòm cây tối đen làm hiện lên dậpdờn những mái nhà" Đứng bên cửa sổ nhìn mưa giăng mặt phố, "anh th-ường bất giác mường tượng ra trước mặt cảnh rừng mưa âm vang mênhmang buồn của những đại ngàn năm xưa vươn qua biển mái nhà nhấpnhô, tràn lên tiếng rì rầm của phố xá canh khuya, dội tới triền miên nhưsóng vỗ, như kí ức xô bờ" Và Kiên vẫn thấy "Đêm lạnh lùng Đêm kinhkhủng Khắp phi trường, từ ngoài đường băng vào đến trong nhà ga,tiếng súng rầm rộ quay lồng tràn lên trên mọi tiếng ầm à khác Khôngthể nào không rùng mình cảm thấy rằng ra đi cùng với ba chục năm tr-ường chiến trận là cả một thời, là cả một thế giới với biết bao nhiêu làcuộc đời và số phận, là sự sụp đổ của cả một góc trời cùng đất đai vàsông núi" Hiện thực chiến tranh, qua cái nhìn của Kiên, và cũng là cáinhìn của Bảo Ninh, có sức tàn phá ghê rợn Những khủng khiếp củabóng tối còn rình rập trong tâm hồn Kiên mãi mãi.

Bóng đêm còn gắn với sự lầm lạc của Phương Trên toa tàu,

trong bóng đêm, khung cảnh nhốn nháo, chật ních người, Phương bị ười ta làm nhục Phương đau đớn và tê dại, tả tơi và ngơ ngác Kiên dìuPhương trong bóng tối Bóng tối như ma quỷ giết chết sự trinh trắngkhiến Phương trở nên đờ đẫn và trống rỗng Số phận những con người bịđẩy đến bước đường cùng trong đêm tối của chiến tranh Nỗi đau đặcquánh, đóng váng trong đêm đen Thân phận con người nhỏ bé và tàn lụinhư chính màn đêm tăm tối Cũng từ hôm Êy, tại sân ga, Kiên và Ph-ương trượt theo hai ngả Bóng tối của lầm lạc, của loạn li đẩy con người

Trang 19

ng-ra hai hướng Khắc hoạ không gian đêm tối, Bảo Ninh chuyển đến ngườiđọc thông điệp về sự tàn phá của chiến tranh.

Tại sao Bảo Ninh lựa chọn bóng đêm làm nền chính cho câu

chuyện? Không gian truyện, nhờ sự nhoè mờ của đêm tối, tạo ra những

khoảng ảo giác của huyền thoại Bóng đêm đậm đặc gắn với tiếng than

của người chết, tiéng rên rỉ kêu khóc của hồn ma Đặc biệt, tại truôngGọi Hồn, đêm đêm, hương hoa hồng ma đan quyện vào giấc ngủ của ng-

ười lính, mơn man và vẫy gọi Bản thân bóng đêm là một không gian

huyền thoại

Bảo Ninh gắn kết bóng đêm với những chi tiết có tính huyễn

hoặc, mơ hồ Hiệu ứng của thủ pháp này, một mặt tạo độ nhoè mờ vềkhông gian, liên thông và ghép trùng hiện thực - phi hiện thực, tăng biên

độ ý nghĩa của lời văn Thêm nữa, những huyền thoại trong tác phẩmgắn nối hiện thực và vô thức Trong khoảng im lặng của đêm đen luônvang lên tiếng rên rỉ Tiếng gào khóc của hiện thực hay nỗi cô đơn kếttủa thành ảo giác âm thanh? Kiên nghe thấy .hằng đêm Kiên cảmnhận Dòng ý thức, dòng suy nghĩ của nhân vật đẩy xa và tiến sâu hơnnhờ bút pháp huyền thoại Chỉ là điểm qua một vài chi tiết, chưa khảosát toàn diện riêng biệt không gian huyền thoại của "Nỗi buồn chiếntranh", nhưng chóng ta đã thấy được công lực của ngòi bút Bảo Ninh

Tất cả phục vụ cho diễn tiến dòng ý thức của nhân vật Bóng đêm là biểu

tượng nghệ thuật độc đáo, song điệu, bao hàm cả nội dung hiện thực vànghệ thuật xây dựng chi tiết của Bảo Ninh Một hiện thực tàn khốc và

Ngày đăng: 18/12/2014, 02:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Bình, Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn khái quát, TCNCVH, sè 2/ 20075 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - một cáinhìn khái quát
2. Nguyễn Thị Bình, Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995, những đổi mới cơ bản, Nxb GD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995, nhữngđổi mới cơ bản
Nhà XB: Nxb GD
3.Hoàng Ngọc Biên, Tiểu thuyết mới 1969: ghi nhận một chuyển biến trong văn chương Pháp www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết mới 1969: ghi nhận mộtchuyển biến trong văn chương Pháp
8.Đặng Anh Đào, Tính chất hiện đại của tiểu thuyết, TCVH sè 2/ 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết
11.Nguyễn Thị Từ Huy, Xoá bá trong tác phẩm Robbe – Grillet: cơ chế tạo sinh và táI tạo sinh văn bản. www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xoá bá trong tác phẩm Robbe –Grillet: cơ chế tạo sinh và táI tạo sinh văn bản
12.M.Kundera, Di sản bị mất giá của Cervantes, Nguyên Ngọc dịch, TCVHNN sè 2/ 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản bị mất giá của Cervantes
13.M.Bakhtin, Thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, HN, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết
14.Nhiều tác giả, Thảo luận về “Thân phận của tình yêu”, Báo Văn nghệ số 37/ 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân phận của tình yêu
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 1991
15.Bảo Ninh, Thân phận của tình yêu, Nxb Hội nhà văn, H,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân phận của tình yêu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
16.Tôn Phương Lan, Tiểu thuyết về chiến tranh viết sau 1975, TCVH sè 5/ 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết về chiến tranh viết sau 1975
17.Simund Freud, Phân tâm học nhập môn, Nxb ĐHQGHN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học nhập môn
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
18.Phạm Xuân Thạch, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu giảng dạy, Nxb GD, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975, những vấnđề nghiên cứu giảng dạy
Nhà XB: Nxb GD
4.Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb GD, 1998 5.C.G.Jung, Jean Chevalier, Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Nxb Đà Nẵng, 1997 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w