Giải mã biểu tượng lanh trong văn hoá, văn học của người Hmông, không những nhận thức được các giá trị văn học nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử, cũng như toàn bộ bức tranh kinh
Trang 1hưởng lớn lao trong nhiều lĩnh vực văn học, văn hóa… kể cả trong việc bảo tồn nghiên cứu các di sản văn hoá và các tác phẩm văn học của mỗi dân tộc.Lanh là một biểu tượng đặc biệt trong văn hoá, văn học dân tộc Hmông Nói đến văn hoá, văn học dân tộc Hmông không thể không nhắc tới biểu tượng này Với người Hmông, cây lanh và các sản phẩm từ lanh không chỉ đáp ứng nhu cầu may mặc, mà còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của họ Hầu hết các phong tục tập quán, lễ hội của người Hmông đều có mặt của lanh Giải mã biểu tượng lanh trong văn hoá, văn học của người Hmông, không những nhận thức được các giá trị văn học nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử, cũng như toàn bộ bức tranh kinh tế xã hội của dân tộc Hmông, mà còn góp phần vào việc thực hiện chủ trương coi trọng, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và gìn giữ di sản văn hoá dân tộc
mà nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V khoá III đã đề ra
2 Trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc Hmông, dân ca chiếm một số lượng đáng kể Có thể nói đó là kho tàng văn hoá phi vật thể vô cùng quý báu của dân tộc này Cuộc đời của mỗi người Hmông từ khi sinh ra, lớn lên và chết đi đều đắm mình trong dòng suối dân ca ngọt ngào, trong mát, bất tận Và trong dòng suối dân ca Êy, biểu tượng lanh nổi lên như một hiện tượng văn học đặc biệt, biểu trưng cho tâm hồn, tính cách người Hmông, biểu trưng cho bản sắc văn hoá của dân tộc này Giải mã biểu tượng lanh trong dân
Trang 2ca Hmông, chúng tôi muốn tìm hiểu thế giới tâm tư sâu thẳm trong tâm hồn, tính cách dân tộc Hmông và hiểu sâu sắc hơn những giá trị nghệ thuật, giá trị nhân văn trong kho tàng dân ca của dân tộc này
3 Tìm hiểu văn hoá, văn học dân gian Hmông qua việc giải mã các biểu tượng văn hoá văn học là một hướng đi tuy còn mới, nhưng nhiều hiệu quả và rất phù hợp với đặc trưng của văn hoá, văn học dân gian Hướng đi này đã và đang thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong nước và trên thế giới
4 Từ trước tới nay, vấn đề trồng lanh và dệt vải lanh cổ truyền của người Hmông đã được rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Nhưng vấn
đề giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông mới chỉ là bước đầu tìm hiểu chứ chưa có một công trình chuyên sâu nào nghiên cứu về biểu tượng này
5 Bản thân người viết là mét giáo viên, hiện đang công tác tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Điện Biên - Quê hương của bà con dân tộc Thái, Hmông, Hà Nhì, Dao… chung sống, nên việc tìm hiểu biểu tượng lanh trong dân ca Hmông
sẽ có một số thuận lợi nhất định Mặt khác, quá trình thực hiện đề tài này cũng
là quá trình người viết được bổ sung thêm những tri thức về biểu tượng nói chung, biểu tượng lanh trong dân ca Hmông nói riêng Điều này sẽ giúp người
viết hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ dạy học chuyên đề: “Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam” tại Trường Cao Đẳng S Ph¹m Điện Biên.
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:“Giải
mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông” để nghiên cứu.
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu biểu tượng lanh trong dân ca Hmông có liên quan đến nhiều vấn đề, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ trình bày lịch
sử của hai vấn đề:
Một là, Vài nét về lịch sử nghiên cứu biểu tượng
Hai là, VÊn đề nghiên cứu biểu tượng lanh.
Trang 31 Vài nét về lịch sử nghiên cứu biểu tượng
Biểu tượng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Bước vào thế
kỷ XX, thuật ngữ biểu tượng thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc,
nó không chỉ tồn tại trong một ngành khoa học, mà đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau: Triết học, Lịch sử học, Tâm
lý học, Khảo cổ học, Văn học… Mỗi bộ môn khoa học bằng phương pháp tiếp cận riêng của mình, đã đưa ra những quan niệm, những phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu khác nhau về biểu tượng, khiến cho lý thuyết về biểu tượng rất phong phú, đa dạng và đôi khi chưa thực sự thống nhất Trong luận văn này, chúng tôi chỉ điểm qua một vài nét tiêu biểu về việc nghiên cứu biểu tượng ở trong nước và trên thế giới
1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, Biểu tượng (Symbol) từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến: Chu Hy – Nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời
Tống(1131 – 1200) trong: “Dịch thuyết cương lĩnh”, khi bàn về biểu tượng
đã viết: “Tượng là lấy hình này để bày tỏ nghĩa kia” [24; 58]; C.G Jung - Nhà phân tâm học người Thuỵ Sĩ trong tác phẩm: "Con người và những biểu tượng của nó" (1964) đã lấy biểu tượng làm đối tượng nghiên cứu của phân tâm học [3]; nhà khoa học người Thuỵ Sĩ F De Saussure trong: "Giáo trình ngôn ngữ học đại cương"(1973) đã lấy biểu tượng là đối tượng phân tích của
ngôn ngữ học cấu trúc [58]; hai ông Jean Chavelier và Alain Gheer brant -
người Pháp đã tập hợp biểu tượng để xây dựng thành công trình: "Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới"…
1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, việc nghiên cứu biểu tượng cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập tới, nhưng thường được lồng ghép trong các công trình nghiên cứu văn hoá dân gian, nhất là những công trình về lễ hội, về mĩ thuật cổ, về tín
Trang 4ngưỡng dân gian… Đó là những công trình của các nhà nghiên cứu: Lê Trung
Vò:"Lễ hội cổ truyền" [108]; Trần Quốc Vượng: "Việt Nam cái nhìn địa văn hoá"[101]; Trần Hữu Sơn: "Lễ hội cổ truyền Lào Cai" [71]; Nguyễn Văn Hậu:
"Về biểu tượng trong lễ hội dân gian truyền thống"[24]; Phạm Đức Dương:
"Thế giới biểu tượng tiếp cận từ góc độ văn hóa học" [13]; Phan Đăng Nhật với bài viết: “Ngữ nghĩa của hệ thống biểu tượng trong nghi lễ Ê Đê” [50];…
Việc nghiên cứu biểu tượng trong văn học nói chung, ca dao dân ca nói riêng ở nước ta từ lâu cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến: tác giả
Nguyễn Xuân Kính, trong cuốn: "Thi pháp ca dao" [39] đã dành chương VII
để nói về một số biểu tượng trong ca dao Việt Nam Trong chương này, ngoài việc phân tích, lý giải ý nghĩa của một số biểu tượng: Cây trúc, cây mai, hoa nhài, con bống, con cò…tác giả còn chỉ ra những nét giống và khác nhau của một số biểu tượng trong văn học dân gian và văn học bác học
Tác giả Vò Anh Tuấn, trong bài viết: "Về mét số biểu tượng văn học dân gian miền núi" [95] đã nghiên cứu về một số biểu tượng trong văn học dân gian
của các dân tộc ở miền núi
Tác giả Phạm Thu Yến trong bài viết: "Vấn đề nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca dân gian", ngoài vịêc đưa ra một số nhận xét về việc nghiên cứu
biểu tượng ca dao của một số tác giả trong và ngoài nước, đã đi vào nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca trữ tình dân gian ở ba lĩnh vực: xác định ranh giới giữa biểu tượng và Èn dô; biểu tượng thơ ca dân gian với đặc trưng thể loại;
sự hình thành và phát triển của biểu tượng trong thơ ca dân gian [111]
Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong bài viết: "Tìm hiểu nguồn gốc của biểu tượng trong ca dao Việt Nam"[51] bên cạnh việc đưa ra khái niệm về biểu
tượng trong ca dao, đã chủ yếu đi vào phân tích, chứng minh nguồn gốc của biểu tượng trong ca dao Việt Nam Theo tác giả này, các biểu tượng trong ca dao của người Việt xuất phát từ phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam, từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc, từ sự quan sát trực
Trang 5tiếp, hàng ngày của nhân dân
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà, trong chuyên đề: "Nghiên cứu văn hóa dân gian từ mã văn hóa dân gian"[18] giảng dạy tại trường Đai học Sư phạm Hà
Nội bên cạnh việc đưa ra khái niệm, tính chất của biểu tượng, tác giả còn khẳng định vai trò của việc nghiên cứu các tác phẩm văn học dân gian từ việc giải mã các biểu tượng Những lý thuyết về việc giải mã biểu tượng trong chuyên đề này là những định hướng vô cùng quan trọng cho việc giải mã biểu tượng trong văn hoá, văn học dân gian
Bùi Văn Thành trong luận văn thạc sĩ văn học dân gian: "Thế giới biểu tượng thần thoại trong Mo Mường" [85] đã phân biệt biểu tượng với hình
tượng và đi vào giải mã một số biểu tượng thần thoại trong mo mường
Tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa trong luận án tiến sĩ: "Sự phát triển ý nghĩa biểu tượng của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam" [28], ngoài việc nghiên cứu biểu tượng trong ngôn ngữ thơ ca Việt
Nam nói chung, đã đề cập đến một số loại biểu tượng trang phục trong ca dao Việt Nam như cái áo, cái yếm, cái nón quai thao…trên một số phương diện như: xác định những biến thể điển hình, quy luật, quá trình chuyển hoá của biểu tượng từ văn hoá vào thơ ca…
Những kết quả nghiên cứu về biểu tượng nói chung, biểu tượng trong ca dao dân ca nói riêng của các công trình nghiên cứu trên, đều là những định hướng lý thuyết cho chúng tôi trong quá trình đặt ra và giải quyết những vấn
đề về giải mã biểu tượng lanh trong đề tài của mình Tuy nhiên, trong những
lý thuyết về biểu tượng trên, chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến những lý thuyết về biểu tượng của Jean Chavelier và Alain Gheer brant, Nguyễn Thị Bích Hà, Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thu Yến, Vò Anh Tuấn, Phạm Đức Dương, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Văn Hậu, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, Ngân Hoa Bởi những lý thuyết về biểu tượng này thực sù quan trọng, gần gũi và thiết thực với chúng tôi trong quá trình tìm hiểu (giải mã) biểu tượng lanh
Trang 6trong dân ca dân tộc Hmông.
2 Vấn đề sưu tầm và nghiên cứu biểu tượng lanh
2.1 Trên thế giới
Là một loại cây có giá trị sử dụng cao, cây lanh từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu, nhưng chủ yếu nghiên cứu ở phương diện đặc tính thực vật, quá trình trồng trọt khai thác, sử dụng các sản phẩm từ loại cây này Ví dụ:
Trong một số cuốn sách: “Lịch sử người Mèo” của Savila - 1924- Hồng Kông [63]; Cuốn: “Lịch sử nhân dân vùng hạ lưu sông Việt Giang” của tác giả Từ Tùng Thạch - 1938 [78]; Cuốn: “Hmông bantick - Atextile Technique From Laos”, 1984 của Jane Mallison và Nancy, Lý Hằng [47]… đã Ýt nhiều
đề cập tới cây lanh với vai trò là cây cung cấp nguyên liệu cho nghề dệt vải lanh cổ truyền của người Hmông, hoặc nêu ra một vài phong tục tập quán có liên quan đến cây lanh của người Hmông
Trong cuốn: "Haiss & Hillman", 1989 của An Zhimen và Yanushevich khẳng định: "Sự có mặt của những hạt C.sativa.L (một tên gọi khác của cây lanh) trong các di tich đá mới ở Tây Á , Trung Á và Tây bắc Trung Quốc, niên đại khoảng 5000 TCN Vào thời kỳ đại kim khí, C.sativa.L được phát hiện ở rất nhiều nơi trên lục địa Á - Âu Các cư dân sống ở trên vùng Trung Quốc hiện nay, được coi là những người khai thác và truyền bá sớm nhất cây lanh trên toàn thế giới" [106].
Trong cuốn cẩm nang: "Cannabis, Hai & Rippchen", 1995 của Takikupferberg đã
kể tới 278 tên goị khác nhau về loại cây này của các dân tộc trên thế giới: Hemp (tiếng Anh); Chauvre (tiếng Pháp); Hanf (tiếng Đức); Tama (Trung Quốc); lanh (tiếng Việt Nam)… [106]
Trong cuốn: "Hemp horizons The come back of the World's Most Promising Plant" của John W Roulac và Hemptech (công ty xuất bản chelsea
Green White River Junction, Vermont 1997), đã trình bày lịch sử gieo trồng
Trang 7và sử dụng lanh của các cư dân Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước ở Châu Âu, Bắc Mĩ: như Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Đức và Nga… Trong đó,
cuốn sách khẳng định: "Nga là nước xuất khẩu gai nhiều nhất trên thế giới, chủ yếu xuất cho các công ty của Mü, Canada sản xuất dây và vải gai
[92;175] Đặc biệt và thú vị hơn cả là những trang viết về vai trò của cây lanh trong tín ngưỡng Shinto - tôn giáo bản địa của người Nhật: cây gai (lanh) tượng trưng cho sù tinh khiết, trong sạch và sự phì nhiêu màu mỡ [92; 169]…Những cuốn sách trên là những thông tin hết sức quý báu về cây lanh, giúp cho người viết có thể so sánh đối chiếu, tổng hợp để có được cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về biểu tượng lanh trong quá trình nghiên cứu thực hiện
đề tài
2.2 Ở Việt Nam
2.2.1 Biểu tượng lanh với lịch sử sưu tầm dân ca Hmông
2.2.1.1 Từ những năm 60 cho đến nay đã có rất nhiều tác phẩm dân ca
Hmông được sưu tầm và giới thiệu, nổi bật là những cuốn: "Dân ca Mèo" [79] ,
"Dân ca Mèo Lào Cai"[80] của nhà sưu tầm Doãn Thanh - cán bộ giáo dục Lào Cai; Ba tập "Dân ca Hmông Hà Giang" [65,66,67] của Hùng Đình Quý - nhà nghiên cứu sưu tầm Hà Giang; "Cuốn Tang ca - Kruôz cê của người Hmông lềnh
ở Sa Pa"[34] của Giàng Seo Gà - sưu tầm biên dịch người Hmông của Hội văn
học nghệ thuật tỉnh Lào Cai…Qua tìm hiểu bước đầu, chúng tôi thấy, trong những tác phẩm này, các tác giả chưa sử dụng thuật ngữ biểu tượng để nói về vai trò của lanh ở phần chú thích của tác phẩm, mà dịch thuật ngữ lanh từ tiếng Hmông sang tiếng Việt, hoặc đưa ra một vài chú giải về đặc điểm sinh học, vai trò của lanh đối với đời sống người Hmông nhưng đây là những gợi ý rất quan trọng với chúng tôi khi giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông
2.2.2 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng lanh
2.2.2.1 Biểu tượng lanh được nghiên cứu từ góc độ văn hoá học, dân tộc học
Trang 8* Các cuốn sách:
Trong một số cuốn sách viết về dân tộc Hmông, về thực vật học, các tác giả đã có Ýt nhiều đề cập tới cây lanh và nghề trồng lanh dệt vải, cũng như các phong tục tập quán lễ hội có liên quan đến cây lanh của người Hmông Đó
là các cuốn:“Thực vật học” tập II của Vũ Văn Chuyên [9]; cuốn: “Dân tộc Hmông và thế giới thực vật" của Diệp Đình Hoa [27]; cuốn: “Dân tộc Hmông ở Việt Nam” của Cư Hoà Vần, Hoàng Nam [102]; cuốn: "Văn hóa Hmông" của Trần Hữu Sơn [73];
* Những công trình nghiên cứu chuyên sâu:
Trong cuốn: “Trang phục Hmông” của Trần Hữu Sơn [75] có những trang
viết khá sâu sắc về cây lanh, tác giả đã đề cập một cách chi tiết vai trò của cây lanh trong phong tục tập quán may mặc trang phục của người Hmông (trong đám cưới, đám ma, trong các nghi lễ khác,…) Từ việc chỉ ra mối quan hệ mật thiết và thiêng liêng của người Hmông với cây lanh, tác giả đã khẳng định cây lanh là cây phản ánh đậm nét nhất bản sắc văn hoá của dân tộc Hmông
Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền Sử Đông Nam Á, Chủ nhiệm
đề tài nghiên cứu lanh gai ở Việt Nam, trong chương trình: “Cây lanh và các
cây có sợi ở Việt Nam" đã viết bài: “Một số thông tin cơ bản về cây lanh”
[106] đã đưa ra những thông tin cơ bản về cây lanh ở Việt Nam và trên thế giới trên các phương diện: tên gọi, đặc tính thực vật, lịch sử khai thác và trồng trọt, khả năng sử dụng cây lanh (cho hạt ăn cao cấp, cho sợi, cho thuốc )
* Các khoá luận, luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận văn tiến sĩ về cây lanh và nghề dệt vải lanh, may trang phục cổ truyền của người Hmông của một số sinh viên, học viên chuyên ngành văn hoá lịch sử, dân tộc học ở các trường Đại học trong nước từ những năm 90 trở lại đây còng là những đóng góp không nhỏ trong việc nghiên cứu cây lanh, biểu tượng lanh trong văn hoá, văn học dân gian Hmông:
- Vương Thị Bình với: “Trồng lanh và nghề dệt vải của người Hmông ở
Trang 9huyện Đồng Văn – Hà Tuyên” năm 1991[2]
- Trần Thị Thu Thuỷ: “Trang phục phụ nữ Hmông hoa ở huyện Mù Cang Chải Tỉnh Yên Bái” năm 1998 [91]
- Hà Thị Quí: “Hoa văn trên vải của người Hmông lềnh ở Sapa - Lào
* Các bài viết, các báo cáo khoa học nghiên cứu về cây lanh đăng trên
các tạp chí , báo cáo, các chương trình hội nghị:
- Quách Thị Oanh, Tạ Đức với bài viết: “Sự đổi mới nghề dệt may cổ truyền của người Hmông”[56]
- Lê Ngọc Quyền với bài viết: “Trang phục truyền thống của người Hmông ở một số địa phương miền núi phía Bắc” [70]
- Giàng Seo Phử với bài viết: “Việc truyền nghề và phát triển nghề truyền
thống phụ nữ các dân tộc tỉnh Lào Cai” [61]
- Sở văn hoá thông tin tỉnh Hà Giang – Viện Nghiên cứu văn hoá - nghệ
thuật đã thực hiện đề tài bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: “Nghề dệt lanh
Trang 10dân tộc Hmông Hà Giang” [53]
Những bài viết trên, bên cạnh việc đề cập tới cây lanh với vai trò là nguyên liệu dệt vải lanh của người Hmông, chỉ ra thực trạng nghề trồng lanh dệt vải, may mặc trang phục cổ truyền và phương hướng để bảo tồn lưu truyền nghề của người Hmông ở một số địa phương, các tác giả còn đi vào phân tích những giá trị tinh thần của cây lanh và sự tác động của nghề trồng lanh dệt vải đối với sự phát triển của người phụ nữ Hmông, với sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội Hmông Trong đó, có bài viết đã khẳng định rằng:
"Trong quá khứ người Hmông từng coi cây lanh là biểu tượng cho dân tộc mình, ở đâu có người Hmông ở đó có nghề dệt lanh, may vải lanh" [56;53] 2.2.2.2 Lịch sử nghiên cứu biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc Hmông
* So với chuyên ngành văn hoá và dân tộc học, việc nghiên cứu biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc Hmông có phần khiêm tốn hơn, cho tới nay chưa có một chuyên luận nào nghiên cứu sâu về biểu tượng lanh trong văn học dân gian Hmông, cũng như trong dân ca Các công trình nghiên cứu về dân ca Hmông, biểu tượng lanh chỉ được đề cập tới trong một vài dòng, hoặc trong một vài trang viết:
- Luận văn Thạc sĩ Văn học dân gian năm 2003 của Nguyễn Văn Tiệp:
"Dân ca giao duyên và lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông" đã có một số
trang viết về biểu tượng mảnh vải lanh trong lễ hội Gầu Tào Tác giả cho rằng: lanh vừa là dấu hiệu mời ma nhà, vừa là dấu hiệu tập trung dân tộc,
cố kết cộng đồng của người Mông [93]
- Trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn học dân gian: “Khảo sát nghi
lễ cúng ma dân tộc Hmông" của Hoàng Thị Thuỷ, tác giả đã đề cập tới mảnh
vải lanh như là một biểu tượng độc đáo trong văn hoá, văn học Hmông [90]
- Trong bài viết: “Một số biểu tượng văn hoá dân gian Hmông” đăng
trên Tạp chí Văn học Nghệ thuật Lào Cai, Trần Hữu Sơn đã vận dụng phong tục tập quán, tín ngưỡng và thơ ca dân gian dân tộc Hmông để giải mã một số
Trang 11biểu tượng đặc thù có tần số xuất hiện cao trong văn hoá, văn học Hmông như: biểu tượng cây tre, cây lanh, cây thuốc phiện, con gà, cây khèn, cái ô… Trong
đó, tác giả cho rằng: cây lanh là biểu tượng thiêng trong tín ngưỡng Hmông, sợi dây lanh thành vật dẫn đường nối thế giới đang sống (thực tại) với thế giới của tổ tiên, thần linh (siêu nhiên), cây lanh là vũ khí trừ tà, là vật bảo vệ người Hmông và là biểu tượng của tình yêu, niềm khát vọng hạnh phóc [74]
* Ngoài ra, trong một sè công trình nghiên cứu khác về dân ca Hmông:
“Thi pháp truyện thơ của các dân tộc thiểu số” [59];“Đặc điểm cấu kết dân
ca Hmông” [111;59,68]; “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Hmông về
đề tài tình yêu” [112] và mét số bài viết nghiên cứu về dân ca Hmông: “Thơ ca dân gian Hmông” [21];“Tiếng hát làm dâu, tiếng hát yêu thương, tiếng hát căm hờn, ngàn đời của người phụ nữ Mèo” [33];“Tâm hồn và tiếng hát Hmông” [81] các tác giả chủ yếu đi vào tìm hiểu những giá trị nội dung và
nghệ thuật biểu hiện tâm hồn tình cảm, tư tưởng của dân tộc Hmông trong dân ca Hmông, hoặc thông qua tìm hiểu phân tích dân ca Hmông để khẳng định cơ sở hình thành truyện thơ Hmông Những kết luận về giá trị nội dung và nghệ thuật của dân ca Hmông mà các công trình nghiên cứu trên đã nhận định là những gợi ý quan trọng giúp chúng tôi tiến hành giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông Bởi các biểu tượng trong dân ca Hmông (trong đó có biểu tượng lanh) cũng chứa đựng và phản ánh những giá trị nội dung, nghệ thuật này
Qua việc tìm hiểu lịch sử sưu tầm nghiên cứu biểu tượng lanh trong nước và trên thế giới, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề sau:
Từ góc độ văn hoá: có rất nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu, bài
viết đã đề cập đến biểu tượng lanh ở một số phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng Từ góc độ dân ca Hmông ta thấy: số lượng bài viết, công trình đề cập tới biểu tượng lanh còn quá Ýt ỏi, khiêm tốn Chưa có công trình nào nghiên
cứu sâu về biểu tượng lanh trong dân ca Hmông Vì thế, chúng tôi xác định
Trang 12phạm vi, hướng nghiên cứu của luận văn sẽ là:
Đi sâu và mở rộng việc giải mã biểu tượng lanh trong tất cả các tiểu loại dân
ca Hmông (tiếng hát tình yêu, tiếng hát mồ côi, tiếng hát cúng ma, tiếng hát cưới xin, tiếng hát làm dâu) được diễn xướng trong các phong tục tập quán tín ngưỡng,
lễ hội cơ bản của người Hmông (tập quán sinh đẻ nuôi con thơ, lễ trừ ma tà, lễ cầu cúng sức khoẻ, lễ cúng tổ tiên, đám cưới, lễ hội, tang, ma ) Mặt khác, ngoài việc tập hợp, tổng quan và sắp xếp các ý nghĩa biểu tượng lanh trong các công trình nghiên cứu trước thành một hệ thống khoa học, luận văn còn đi vào tìm hiểu những nét nghĩa mới của biểu tượng lanh trong văn hoá, văn học dân gian, đặc biệt là dân ca Hmông Hy vọng với hướng phát triển như vậy, luận văn sẽ chỉ ra được một cách tỉ mỉ, sâu sắc, diện mạo lịch sử, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng và những trầm tích văn hoá, văn học Hmông mà biểu tượng lanh chứa đựng, biểu trưng
III MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1 Mục đích
Biểu tượng lanh là một biểu tượng độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc Hmông Giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông nhằm hướng tới các mục đích sau đây:
Thứ nhất, chỉ ra các giá trị văn hoá, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, lịch
sử cũng như toàn bộ bức tranh kinh tế, chính trị của dân téc Hmông đã và đang tiềm tàng trong biểu tượng lanh
Thứ hai, gãp phần tìm hiểu, nghiên cứu về biểu tượng văn hoá, văn học dân gian Hmông nói chung, dân ca Hmông nói riêng Đồng thời, còng góp phần vào việc bảo tồn, lưu giữ các giá trị của biểu tượng lanh - mét di sản văn hoá truyền thống vô cùng quí giá của dân tộc Hmông
Thứ ba, giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông góp thêm tiếng nói khẳng định hướng tiếp cận, nghiên cứu kho tàng văn học, văn hoá dân gian Hmông bằng việc giải mã các biểu tượng là một hướng đi đúng, hiệu quả, phù hợp với đặc trưng của các loại hình văn hoá, văn học này
Trang 132 Nhiệm vụ
Tìm hiểu vai trò của cây lanh và các sản phẩm của nó trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người Hmông Bởi đây là cơ sở, nền tảng, nguồn gốc của việc hình thành biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc Hmông
Thống kê, phân loại các hình thức biểu hiện và các ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng lanh trong dân ca Hmông để thấy được tần số của các hình thức biểu hiện và các hướng ngữ nghĩa của biểu tượng lanh
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu để giải mã biểu tượng lanh trong các ngữ cảnh cụ thể Từ đó chỉ ra các ý nghĩa biểu trưng cũng như nguồn gốc của các biểu tượng này Sau đó tổng hợp các ý nghĩa biểu trưng này lại để
thấy được ý nghĩa tổng thể, toàn diện của biểu tượng lanh
IV PHẠM VI TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
1 Phạm vi tư liệu
Luận văn đi vào tìm hiểu biểu tượng lanh ở các tiểu loại dân ca Hmông (tiếng hát tình yêu, tiếng hát xin cưới, tiếng hát tang ma, tiếng hát làm dâu, tiếng hát mồ côi), trong một số tư liệu dân ca Hmông sau đây:
1.1 “Dân ca Mèo” – Doãn Thanh sưu tầm –NXB Văn học 1967
“Dân ca Mèo Lào Cai” – Doãn Thanh sưu tầm và dịch – Hội Văn học
Nghệ thuật Lào Cai xuất bản 1974
1.2 “Dân ca Hmông” – Doãn Thanh sưu tầm, Hoàng Thao chỉnh lý
NXB Văn học1984
1.3 “Dân ca Hmông Hà Giang” tập I – Hùng Đình Quý sưu tập và dịch,
Sở Văn hoá Thông tin Hà Giang xuất bản 1995
1.4 “Dân ca Hmông Hà Giang” tập II - Hùng Đình Quý sưu tập và dịch,
Sở Văn hoá Thông tin Hà Giang xuất bản 2001
1.5 “Dân ca Hmông Hà Giang” tập III- Hùng Đình Quý sưu tập và dịch,
Sở Văn hoá Thông tin Hà Giang xuất bản 2003
1.6 “Những bài khèn của người Hmông ở Hà Giang” - Hùng Đình Quý
Trang 14sưu tầm , NXB Khoa học Xã hội 2005
1.7.“Tang ca – Kruôzcê của người Hmông lềnh ở Sapa” – Giàng Sèo Gà
sưu tầm Hội Văn học Nghệ thuật Lào Cai, NXB Dân Tộc năm 2004
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những tư liệu dân ca Hmông có liên quan đến đề tài mà người viết đã sưu tầm được trong quá trình điền dã
2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Trong lời nhà xuất bản của cuốn: “Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới”
đã viết:“Trong các bộ môn khoa học về con người thì biểu tượng học (symbologie) là ngành khoa học tương đối non trẻ, khai thác và tổng hợp những dữ liệu của ngành khoa học khác: Dân tộc học, xã hội học, tâm lí học, thần thoại học, tôn giáo học…” [48] Vì thế, nghiên cứu biểu tượng lanh
trong dân ca Hmông, chúng tôi chú trọng và đặt lên hàng đầu phương pháp
nghiên cứu liên ngành giữa Folklore với triết học, với dân tộc học, lịch sử
học,… trong quá trình giải mã biểu tượng này
Ý nghĩa của biểu tượng lanh được hiện thực hoá, được trải nghiệm trong
đời sống hàng ngày của người Hmông Vì thế, người viết sử dụng phương pháp
điền dã, đi đến các địa phương có người Hmông để tìm hiểu vai trò của cây lanh
đối với đời sống của người Hmông, đặc biệt là đời sống tinh thần của họ
Vì lấy phần lời (văn bản) của dân ca Hmông làm cơ sở khảo sát, nghiên
cứu, nên luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu loại hình.
Biểu tượng lanh trong dân ca Hmông là một biểu tượng đa nghĩa, đa
hình thức biểu hiện Vì vậy phương pháp thống kê phân loại sẽ giúp người
viết có thể nhận thức một cách toàn diện rõ ràng, theo hệ thống những nội dung ý nghĩa của biểu tượng lanh
Để hiểu được các ý nghĩa mà biểu tượng lanh biểu trưng một cách sâu sắc hơn, cũng như giúp quá trình giải mã biểu tượng này đạt kết quả tốt hơn,
người viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh.
Trang 15V NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Qua thống kê phân loại biểu tượng lanh trong dân ca Hmông, luận văn
có được những số liệu đáng tin cậy về tần số xuất hiện các hình thức biểu hiện
và các hướng nghĩa cơ bản của biểu tượng lanh trong dân ca Hmông
Đi sâu giải mã biểu tượng lanh trong dân ca Hmông trên nhiều phương diện, luận văn chỉ ra một số ý nghĩa biểu trưng mới của biểu tượng lanh mà các công trình nghiên cứu trước chưa đề cập tới, hoặc chưa đề cập hết
Góp phần khẳng định một cách sâu sắc, thuyết phục hơn giá trị của biểu tượng lanh trong văn hoá, văn học, đặc biệt trong dân ca Hmông
VI GIỚI THUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1 Khái niệm biểu tượng
Hiện nay, trên thế giới đã và đang tồn tại rất nhiều khái niệm về biểu tượng:
Biểu tượng (Symbol), thuật ngữ Symbol bắt nguồn từ Hy Lạp:
“Symbolum” là dấu hiệu nhận nhau, có ý nghĩa tương đương với từ: Kí hiệu
“Sign”, tín hiệu “Signal” Cũng có lí thuyết cho rằng chữ Symbol bắt nguồn
từ động từ Hy Lạp “Symbollo” có nghĩa là “Ném vào vị trí”, “Liên kết”, “Suy nghĩ về”, “Thoả thuận”, “Ước hẹn”… [24;20]
Từ biểu tượng trong tiếng Hán “Biểu” có nghĩa là “Dấu hiệu”; “Tỏ rõ”,
“Bày ra”… Do vậy, biểu tượng là một hình ảnh nào đó, được phô ra để tạo thành
dấu hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa nào đó mang tính trừu tượng [24;21]
Từ điển Pitit Larousse cho rằng: "Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động, hay đồ vật biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh
cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó”[24;21].
"Từ điển thuật ngữ văn học" cho rằng: "Biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa
Trang 16thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và cuộc đời" [23;24]
PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hà trong chuyên đề: "Nghiên cứu văn hóa dân gian từ mã văn hóa dân gian" [18] quan niệm rằng:“Biểu tượng là vật môi giới giúp ta tri giác được cái bất khả tri giác Biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài Nghĩa của biểu tượng phong phú, nhiều tầng bậc, Èn kín bên trong, nhiều khi khó nắm bắt"
Những khái niệm về biểu tượng nói trên, được rất nhiều nhà nghiên cứu
vận dụng khi giải mã các biểu tượng trong văn hoá, văn học Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn khái niệm biểu tượng của PGS.TS NguyÔn Thị Bích
Hà trong chuyên đề: "Nghiên cứu văn hóa dân gian từ mã văn hóa dân gian"[18] giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Bởi chúng tôi thấy
khái niệm về biểu tượng nói riêng, những lý thuyết về biểu tượng nói chung trong chuyên đề này rất phù hợp với việc tìm hiểu (giải mã) biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc Hmông mà chúng tôi sẽ giải quyết trong luận văn của mình
2 Phân biệt biểu tượng văn học với hình tượng, Èn dô
2.1 Phân biệt biểu tượng văn học với hình tượng
Hình tượng nghệ thuật là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong các tác phẩm nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật có một số đặc điểm giống biểu tượng văn học Thứ nhất, chúng đều được biểu hiện bằng giá trị nhận thức, cảm tính, chủ quan của nhận thức trong việc phản ánh thực tại khách quan của người nghệ sĩ Thứ hai, cả hai đều sử dụng những phương tiện biểu đạt chung là ngôn ngữ
Giữa hình tượng nghệ thuật và biểu tượng có những điểm khác nhau cơ bản: cùng là giá trị nhận thức cảm tính nhưng sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật không bao giờ vượt quá giới hạn của một hình thức biểu đạt cụ thể, trong
Trang 17khi biểu tượng lại vượt quá khuôn khổ của sự biểu đạt, biểu nghĩa Hình tượng nghệ thuật chỉ chở tải được một ý nghĩa biểu đạt duy nhất mà ở đây người nghệ
sĩ có quyền lựa chọn hiện thực phản ánh, thậm chí có quyền hư cấu để tạo ra hiện thực mới, còn biểu tượng thì năng lực biểu hiện của nó rộng lớn hơn cái ý nghĩa gắn cho nó một cách nhân tạo Nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh Âm vang đó giục ta lắng sâu vào cuộc sống sinh tồn của chính mình Nó chuyển hướng tồn tại của ta Biểu tượng thực sự có tính cách tân Nó không dừng lại ở chỗ tạo nên những cộng hưởng, nó giục gọi một sự biến đổi trong chiều sâu [85;39]
Mặt khác, trong biểu tượng, các giá trị nhận thức của con người bao giờ cũng được hiểu trong cái tổng thể rộng lớn mang tính thống nhất và phổ biến Ngược lại, hình tượng nghệ thuật quan tâm đến sự tự do, sự toàn mĩ, độc đáo và
sự khác biệt Sự trùng hợp , tương đương sẽ giết chết hình tượng nghệ thuật [ 85;40]
2.2 Phân biệt biểu tượng văn học với Èn dô
V.I.Êrêmina đã phân biệt Èn dụ và biểu tượng nh sau: "Èn dụ là thơ ca dân gian được sinh ra tức thời và mất đi khá nhanh Biểu tượng được hình thành trong quá trình lâu dài và sau đó sống hàng trăm năm Èn dụ là yếu tố biến đổi, còn biểu tượng thì không đổi, bền vững Èn dụ là một phạm trù thẩm
mĩ và phần lớn tự do tách khỏi phong cách ước lệ Biểu tượng thì ngược lại, được giới hạn nghiêm túc bởi hệ thống thi ca xác định." [111;86]
Tác giả Phạm Thu Yến đã dựa trên ý kiến của V.I Êrêmina và bổ sung
làm rõ thêm sự khác nhau giữa biểu tượng và Èn dô : "Biểu tượng mang tính
kí hiệu, tính quy ước, nghĩa là chỉ cần nêu hình ảnh biểu tượng lên người đọc
đã hiểu cái mà nó biểu trưng, còn Èn dụ tự do hơn, thường được tạo ra không phải chỉ bằng một hai hình ảnh mà phải bằng vài ba hình ảnh Vì thế, các yếu
tố cần phải dựa vào nhau để giải mã Èn dô È n dô linh hoạt, trường liên tưởng rộng rãi hơn biểu tượng, nhưng không bền vững bằng biểu tượng"
[111;86]
Trang 18Trên đây là những đặc điểm tương đồng và khác biệt giữa biểu tượng văn học với Èn dụ, hình tượng Tuy nhiên, sự phân định này chỉ mang ý nghĩa
tương đối mà không thể có sự phân định rành mạch, rạch ròi Vì: "biểu tượng chính là Èn dụ được sử dụng ở mật độ cao mang tính quy ước" [111;86] Còn
"hình tượng là những biến thể của biểu tượng trong tác phẩm văn học"
[28;39] Những sự phân tích này, giúp ta nhận rõ hơn bản chất của biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc Hmông, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thống
kê, giải mã biểu tượng lanh ở chương II và chương III
3 Biểu tượng lanh trong dân ca dân tộc Hmông
Dân ca Hmông là những bài hát do nhân dân tự sáng tác và lưu truyền trong dân gian, các bài ca này có phần lời ca, âm nhạc và cả nghệ thuật diễn xướng [73] Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm: biểu tượng lanh trong dân ca dân téc Hmông là biểu tượng ngôn từ, nã là sự tín hiệu hóa các hình thức vật chất cụ thể: cây lanh, sợi lanh, mảnh vải lanh, trang phục lanh, các vật dụng khác từ lanh và các ý niệm trừu tượng trong đời sống tinh thần của người Hmông qua hệ thống âm thanh ngôn ngữ Sự chuyển hóa này được biểu hiện qua sự thống nhất giữa mặt tạo hình (miêu tả) và mặt biểu hiện (ý nghĩa)
VIi Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương I: Cở sở lịch sử xã hội và văn hóa của sự hình thành biểu tượng lanh trong dân ca Hmông
- Chương II: Khảo sát biểu tượng lanh trong dân ca Hmông
- Chương III: Giải mã một số hướng nghĩa cơ bản của biểu tượng lanh trong dân ca dân téc Hmông
Trang 19PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA CỦA SỰ HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG LANH TRONG DÂN CA DÂN TỘC HMÔNG
I ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ CÔNG DỤNG CỦA CÂY LANH
1 Đặc điểm sinh học và nguồn gốc của cây lanh
Cây lanh tiếng Hmông gọi là "Chaozmangx", tên khoa học là Cannabis
Satinal hoặc Linum Usitatissi muml, ngoài ra tùy theo cách gọi của mỗi nước, mỗi dân tộc mà cây này còn có nhiều tên gọi khác nhau: cây á ma, cây gai đầu, cây gai mèo, cây gai… Cây lanh là một loại cây công nghiệp ôn đới, loại cây thân thảo có chiều cao từ 1m - 3m, thân hơi vuông có rãnh dọc phủ lông mềm, lá có cuống thường mọc so le, có phiến chia đến tận gốc lá thành 5 -7 lá ghép, hình ngọn giáo nhọn có răng cưa Hoa đơn tính khác gốc, hoa đực xếp thành chùm xim kép ở nách và ở ngọn, các hoa cái cũng xếp thành hình xim
có ở nách những lá bắp (dạng lá) Hạt không có nội nhũ, chứa nhiều dầu
Cây lanh thuộc loại cây dài ngày, thời gian sinh trưởng của cây lanh ở vùng cao giá lạnh khoảng 100 - 110 ngày, ở vùng thấp khoảng 90 ngày [75;10] Cây lanh rất mẫn cảm với chế độ ánh sáng, khả năng thích ứng của cây lanh rất cao Trải qua mấy ngàn năm di thực, cây lanh được phân bố trên mọi đới khí hậu khác nhau, từ những vùng vĩ độ thấp sát xích đạo như Mêxicô, Côlômbi đến những vùng có vĩ độ cao như Canada, Hà Lan, Phần Lan… Trong những năm 1986 - 1972, cây lanh còn được đưa vào danh sách những cây thí nghiệm nhằm tạo môi trường sự sống cho mặt trăng [106; 2]
Theo các nhà thực vật học, cây lanh có nguồn gốc thực vật Châu Á, nhiều khả năng xuất phát từ loại lanh hoang dại vùng chân núi Himalaya và Antai Auzhimen và Yamshevich (trong Hariss và Hillman 1989) khẳng định sự có mặt của những hạt C.Sativa.L (lanh) trong các di tích đá mới ở Tây Á, Trung
Á, và Tây Bắc Trung Quốc, niên đại khoảng 5000 TCN Vào thời đại Kim khí,
Trang 20C.Sativa.L (lanh) được phát hiện ở rất nhiều nơi trên lục địa Á, Âu Các cư dân sống trên vùng đất Trung Quốc hiện nay được coi như những người khai thác
và truyền bá cây lanh sớm nhất trên thế giới Các mẫu vải tại khu mộ cổ Châu Can - Trung Quốc được phân tích tại phòng thí nghiệm Reuthingen - Cộng Hoà Liên Bang Đức và phòng thí nghiệm của Trung tâm tiền sử Đông Nam Á, cho thấy chúng có những đặc tính của cây lanh (cannabis) Phấn hoa cannabis cũng được phát hiện trong tần cư trú của cư dân Đông Sơn tại Châu Căn [106;3]
Bên cạnh đó, John W.Ronlac và Hempech trong cuốn: "Hemp Horizons - The Comeback of The Worrld's Most Promising Plant" đã khẳng định: "Trung Quốc là nơi trồng và sử dụng gai dầu (lanh mèo) đầu tiên trên thế giới, cây gai dầu hay lanh mèo theo tiếng Trung Quốc được gọi là đại ma" [92;168]
Như vậy, các nghiên cứu khoa học về cây lanh đều thống nhất trong việc khẳng định nguồn gốc của nó là từ Trung Quốc
2 Công dụng của lanh
Theo các nhà khoa học trên thế giới, khả năng sử dụng của cây lanh là rất lớn Thứ nhất, nó là cây cho hạt ăn cao Hạt lanh lớn gần bằng hạt đỗ xanh loại nhỏ, vỏ ngoài máng rất dễ bong, nhân cứng như nhân đỗ xanh, có chứa lượng bột và dầu đạm cao, có nhiều khoáng chất, có lợi cho sức khỏe con người Hiện nay, dầu lanh được khai thác nhiều cho công nghiệp mĩ phẩm và
là dầu bôi trơn cho cơ khí tinh vi Theo cuốn: "Hemp Cookbook" của Todl
Dalotto 1970 thì dầu lanh được coi như loại dầu ăn cao cấp và có lợi nhất cho sức khỏe con người [106;6]
Công dụng thứ hai của cây lanh là cho sợi Sợi lanh có độ dai và năng xuất vào loại cao nhất (Kohler et al 1997) Vào khoảng 4500 TCN, người Trung Quốc đã biết sử dụng sợi lanh làm dây buộc và lưới đánh bắt cá Sự phát triển của người Trung Quốc trong việc sử dụng cây lanh làm giấy cuộn
đã mang đến sự phát triển công nghiệp giấy đầu tiên trên thế giới Nghệ thuật
Trang 21làm giấy của Trung Quốc đã lan rộng và ảnh hưởng đến tận Ba Tư và Ả rập Những tác phẩm của Khổng Tử và Lão Tử cũng được viết trên loại giấy này [92; 168] Bên cạnh các sản phẩm lanh đã nêu trên, người Trung Quốc cổ cũng trồng lanh để dệt vải và dùng hạt của nó làm thức ăn Đến tận thế kỷ XVIII, XIX, vải lanh thêu của người Hmông Trung Quốc vẫn được coi là loại vải tốt nhất để triều đình phong kiến làm quà biếu tặng và được gọi là Miêu
bố, Miêu cầm) [92; 176]
Cây lanh đã phát triển rộng rãi tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ III TCN, hạt của nó được đưa đến Triều Tiên, ngang qua biển Nhật Bản để tới hòn đảo phía Nam của Nhật Bản - đảo Kyushu Khi vào Nhật Bản, cây lanh đã dần dần thích nghi với khí hậu Nhật Bản, và đến thế kỷ thứ III SCN nó trở thành loại cây trồng lấy sợi dệt vải bền chắc, có tính ổn định của người Nhật Bản Ngoài ra, người Nhật Bản cũng dùng sợi lanh để làm lưới đánh bắt cá, làm dây buộc, làm giấy [92; 168]
Cây lanh đã tạo ra những sản phẩm có giá trị cao, mang lại sức mạnh kinh tế và quyền lực cho những người đi buôn thời phong kiến Nhật Bản và cũng làm cho những người nông dân Nhật Bản bận rộn với việc tạo ra các sản phẩm từ lanh Tới thế kỷ XVII, khi cây bông xuất hiện và vải bông đã được dùng phổ biến thì cây lanh ở Nhật Bản chỉ còn dùng để tạo ra những loại trang phục đặc biệt cho tầng lớp cao trong xã hội hoặc cây lanh được sử dụng như những nguyên liệu thô trong suốt thế kỷ XIX (sợi lanh cùng với các loại cây khác làm nón đội và làm ván để chở các vật nặng qua những vùng khó đi trên núi, quân đội Nhật đã dùng dây lanh để làm dây leo và cánh buồm cho các tàu chiến của lực lượng thủy quân) [92; 196]
Hiện nay, trên thế giới, ngoài việc sử dụng sợi lanh để dệt vải, người ta còn sử dụng sợi lanh trong rất nhiều ngành công nghệ: công nghệ chế tạo bột giấy cao cấp, chế tạo vật liệu ngăn cách trong xây dựng hoặc trong công nghệ
Trang 22khoang vận hành ô tô, tàu hỏa Phối hợp với công nghệ hóa Pôlime, sợi lanh tạo ra những vật liệu cứng nhẹ, có độ bền cao, dùng trong chế tạo vỏ các thiết
bị cao cấp như sản xuất các tấm nền cho công nghiệp vi điện tử, máy bay, tàu hỏa
Công dụng thứ ba của cây lanh là cho thuốc Từ lâu việc dùng một số chế phẩm từ cây lanh làm thuốc chữa bệnh đã được nhiều người biết đến Theo một
sè tài liệu mà chúng tôi có được, thì từ sau thế kỷ thứ III, các học giả người Nhật Bản thường đến Trung Quốc để nghiên cứu về khoa học thuốc và nông nghiệp Họ đã học cách chế biến cây lanh làm thuốc chữa các loại bệnh như: táo bón, hen xuyễn, các vấn đề về da cũng như tăng cường thể lực… [92;169].Ngày nay, các nhà khoa học đã tìm ra thành phần tetrahydrocannabinol trong lanh có khả năng gây say, giảm đau, chống sốc Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng các chế phẩm của cây lanh dưới dạng hút (cần sa) có thể gây
ra những hậu quả mang tính tệ nạn xã hội Vì thế, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu, tìm ra những biện pháp an toàn để phát huy được các giá trị
của cây lanh và tránh bùng phát nạn "cần sa" ở Việt Nam và trên thế giới.
Việc sử dụng các chế phẩm của cây lanh để làm thuốc ở nước ta cũng đã
có nhiều sách nói đến Ví dụ: sách thuốc của Tuệ Tĩnh, hay của Võ Văn
Chi…Trong cuốn: "Từ điển cây thuốc phiện Việt Nam" Võ Văn Chi đã cho rằng:
"cây lanh là cây có vị ngọt, tính bình có tác dụng nhuận táo, thông tiện Duy trị huyết hủ, tâm khung trong tào tiện bi Dùng tốt trong chứng táo bón kéo dài ở người già và phụ nữ bí đái sau đẻ, liều dùng 10 - 20g giã nhỏ uống Trị chứng táo bón bằng nhân hạt gai dầu và hạt tía tô giã nhá, cho vào nước ngâm, hoặc đun lấy nước nấu cháo ăn, trị kiết lị ra máu không dứt Nhân hạt gai dầu nấu thành canh ăn, chữa trong khi có thai, thai bị tổn thương sinh đau bụng Gai dầu 30g đập giập sao thơm, sắc uống, chữa chứng phong độc, xương tủy đau nhức Nhân hạt gai dầu ngâm rượu uống rất tốt cho sức khoẻ" [92;175].
Trang 23Qua những phần trình bày trên, ta thấy cây lanh có rất nhiều công dụng
Từ các nghiên cứu về cây lanh (gai) của các nhà khoa học trên thế giới, John W.Ronlac và Hemptech đã khái quát, tổng kết công dụng của loại cây này trong nhiều lĩnh vực thành sơ đồ sau [92;176]:
Có nhiều công dụng trong đời sống vật chất, nên cây lanh đã trở nên gần gũi thân thiết với các dân tộc trồng lanh, chế biến và sử dụng lanh Vượt lên
C©y gai (lanh)
ChÊt bµo mßn
Th©n c©y
vµ h¹t H¹t
- TÊm x¬ Ðp
- Nguyªn liÖu c¸ch ly
- Thay thÕ sîi thñy tinh
- Nh÷ng khèi kÕt g¾n (xi m¨ng, bª t«ng)
- Bao b×,…
C¸c s¶n phÈm c«ng nghiÖp kh¸c
-Sî hçn hîp
- D©y phanh
…
§å dÖt kü thuËt
Trang 24các giá trị vật chất, lanh đã đi vào thế giới tâm linh, vào tín ngưỡng tôn giáo, vào phong tục, tập quán của họ Qua tìm hiểu một số tài liệu, chúng tôi thấy rằng, gần như dân tộc nào trên thế giới, khi đã trồng lanh và chế biến các sản phẩm từ lanh đều có Ýt nhiều những nét phong tục tập quán, tín ngưỡng liên quan đến nó Chẳng hạn, phong tục tập quán gieo trồng lanh và may y phục của người Miêu Trung Quốc; người Hmông ở Lào, Thái Lan, ở Mĩ,… Đặc biệt là tín ngưỡng về cây lanh của người Nhật Bản, cũng như người Trung Quốc, người Nhật Bản đã trồng và sử dụng cây lanh trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống Nhưng có lẽ điều đáng nói và hấp dẫn nhất là vai trò của cây lanh trong đời sống tín ngưỡng của người Nhật Bản Trong tín ngưỡng Shinto - tôn giáo bản địa của người Nhật (giống như tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng của người Việt), cây lanh tượng trưng cho sù tinh khiết trong sạch và sự phì nhiêu màu mỡ (khả năng sinh sản), ngôi đền cổ ở Taimodo
(theo nghĩa rộng là "đền gai") gần Osaka cũng thờ loại cây này Trong các ngôi
đền thờ thần đạo và phật giáo có những hiện vật mang tính biểu trưng như : cây chuông, gậy trừ tà, màn che, và áo choàng của thầy tu đều được làm bằng gai (lanh) Các nhà thiền học (Zen) và các võ sĩ đạo (Samurai) thường nhấn mạnh vào nguồn cảm hứng của cây lanh trong võ thuật và trong loại hình nghệ thuật khác, lá cây lanh đã trở thành một mô típ phổ biến trong nghệ thuật trang trí trên nền vải của người Nhật Bản, trong các bộ Kimono và các bức màn che [92;168,169]
Như vậy, với những giá trị vật chất, giá trị tinh thần mà cây lanh mang lại cho con người, không những đã giúp con người phát triển đời sống kinh tế, văn hóa xã hội mà còn làm cho đời sống tinh thần của họ thêm phong phú đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc
II CÂY LANH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở NƯỚC TA
1 Một vài nét khái quát về xã hội Hmông
1.1 Địa vực cư trú, dân số dân tộc Hmông
Trang 25Theo kết quả tổng điều tra dân số 1999 thì dân tộc Hmông ở nước ta có khoảng 787.604 người, chiếm tỉ lệ gần 1% dân số cả nước [99;13] đứng hàng thứ tám sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơme, Mường, Nùng Dân tộc Hmông sống rải rác ở các tỉnh miền núi, dọc biên giới Việt Trung và Việt Lào, tập trung nhất là các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La… Gần đây có một số người Hmông vào các tỉnh Tây Nguyên sinh sống [99;72].
Người Hmông còn có các tên gọi: Miêu, Mẹo, Mèo, Mông, Hmông… và đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất về cách ghi tên gọi của dân tộc này Trong luận văn của mình, chúng tôi thống nhất ghi là: Hmông Tuy nhiên, khi trích dẫn các tài liệu, chúng tôi để nguyên cách viết mà tác giả tài liệu đó đã sử dụng
Dân tộc Hmông có bốn ngành chính là: Hmông hoa (Hmông Lềnh); Hmông đen (Hmông Đú); Hmông xanh (Hmông Súa); Hmông trắng (Hmông Đấu) Bốn ngành Hmông này được phân biệt thành bốn nhóm, người Hmông
ở các nhóm vẫn có thể giao tiếp với nhau bình thường bởi ngôn ngữ các ngành Hmông mang tính thống nhất cao, sự khác biệt giữa các nhóm chỉ là sự khác biệt về phương ngữ
Địa bàn cư trú của người Hmông rất rộng, mật độ dân số thưa, nơi tập trung đông dân chỉ khoảng 10 - 15 người/ km2 Người Hmông thường cư trú trên các dãy núi cao hoặc vùng sơn nguyên tương đối bằng phẳng, khí hậu mang tính chất á nhiệt đới Độ cao trung bình của địa bàn cư trú so với mực nước biển là từ 900 - 1600m, độ dốc từ 150- 250 [75;43,53] Địa hình núi non hiểm trở, phức tạp gây nhiều khó khăn cho việc khai thác tổ chức sản xuất, phát triển giao thông, giao lưu văn hóa Từ địa bàn cư trú này đã tạo nên đặc điểm cư trú biệt lập, Ýt có quan hệ với các dân tộc khác của người Hmông
1.2 Tổ chức gia đình, xã hội và lịch sử đấu tranh chống áp bức
1.2.1 Tổ chức gia đình
Cái nôi hình thành, tổ chức và phát triển các quan hệ trong xã hội dân tộc Hmông chính là gia đình Gia đình phụ hệ có từ hai đến ba thế hệ sinh sống là
Trang 26loại gia đình chủ yếu của người Hmông Gia đình Hmông là một đơn vị văn hóa, là môi trường trao truyền và phát triển văn hóa Thông qua gia đình, mỗi thành viên tự học các nếp ứng xử giao tiếp trong xã hội.
Gia đình người Hmông là một đơn vị kinh tế, sự phân công lao động trong gia đình rất chặt chẽ theo giới tính và theo lứa tuổi Người đàn ông làm các công việc săn bắn, khai nước, làm nhà, nghề rèn, chủ trì tổ chức cưới xin, chia của cho con cái, thờ cúng tổ tiên, ma nhà và làm các công việc đối nội, đối ngoại trong gia đình, dòng họ và ngoài xã hội Trong quá trình canh tác nương rẫy, mọi công việc nặng nhọc đòi hỏi sức dẻo dai đều do nam giới đảm nhiệm Chiếc cày Hmông là một công cụ độc đáo phù hợp với việc cày nương rẫy nhưng khá nặng, đòi hỏi phải dồn sức cơ bắp, chỉ nam giới mới sử dụng được loại cày này Phụ nữ Hmông làm những việc như tra hạt, làm cỏ, xe lanh, dệt vải, nội trợ… Từ những công việc phải đảm đang hàng ngày, cũng như những trách nhiệm lớn lao trong gia đình, trong xã hội mà người đàn ông Hmông phải gánh vác, đã làm vai trò của họ được nâng lên rất nhiều, họ trở thành trụ cột, thành người chủ chính trong gia đình, được quyền tham dự và quyết định những việc lớn, hệ trọng trong gia đình, trong xã hội còn người phụ nữ Hmông gần như không có quyền hành gì, phải phụ thuộc vào người đàn ông, họ chỉ biết chăm chỉ làm việc và tuyệt đối phục tùng chồng, gia đình nhà chồng mà không được tham gia quyết định các công việc lín trong gia đình, trong xã hội mặc dù trên thực tế, phụ nữ cũng là những người có nhiều đóng góp quan trọng cho gia đình, cho xã hội [72]
Như vậy, do đặc điểm kinh tế nương rẫy đòi hỏi cường độ lao động cơ bắp cao nên sức lao động trở thành nguồn tài sản quan trọng nhất của mỗi gia đình người Hmông Gia đình nào có nhiều lao động, thì lương thực thu về càng nhiều, những gia đình đông con, dòng họ lớn là những gia đình có điều kiện sản xuất tốt Từ đó, người Hmông có tâm lý cầu đông con, nhiều cháu và mong muốn có con trai Tâm lý này đã ăn sâu và chi phối khá nặng nề vào phong tục tập quán của người Hmông, nên trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội của họ đều có dấu Ên của sự phân biệt này Chẳng hạn, trong tập quán sinh đẻ
Trang 27của họ, nếu đẻ con trai thì nhau thai sẽ được chôn ở chân cột chính với ý niệm
là trụ cột gia đình Nếu đẻ con gái, nhau thai chôn ở gầm giường với ý niệm con gái là người quán xuyến việc nhà Quan niệm này cũng được đúc kết
trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ của người Hmông: "Con gái chỉ giúp nhà một thời, con trai mới giúp nhà cả đời"; "Đàn bà làm chủ thì nghèo, gà mái gáy thì dở"… Mặc dù quan niệm đó đã in sâu vào tâm thức người Hmông,
nhưng thật may thay, người Hmông vốn có truyền thống thương người, cộng với nếp sống yên vui, tình cảm cộng đồng, đạo nghĩa vợ chồng nồng hậu đã phần nào làm dịu bớt những cay nghiệt trong cuộc sống của người phụ nữ [72]
1.2.2 Tổ chức dòng họ
Do địa bàn cư trú và hoàn cảnh lịch sử phải trải qua một quá trình thiên
di đầy máu và nước mắt, người Hmông không duy trì được các thiết chế xã hội lớn, họ đề cao thiết chế xã hội có qui mô nhỏ như dòng họ, bản (giao) Thiết chế dòng họ của người Hmông có sự cố kết chặt chẽ theo những cấp độ khác nhau Những người có chung họ đều được coi là có chung tổ tiên, huyết thống Do đó, họ có nghĩa vụ tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày cũng như khi gặp hoạn nạn Trong mỗi dòng họ đều có những qui ước, dấu hiệu kiêng kị riêng khi tổ chức đám cưới, tang ma Chính những qui ước này đã là sợi dây gắn bó các thành viên cư trú nhỏ lẻ, phân tán thành một lực lượng chặt chẽ, làm lên sức mạnh đoàn kết đấu tranh bảo vệ dòng họ, bảo vệ
sự sinh tồn của dòng tộc [73]
1.2.3 Thiết chế xã hội
Trong thiết chế xã hội của dân tộc Hmông, thì bản (giao) là một tổ chức
xã hội cơ sở Cấu trúc bản Hmông gồm ba thành tố cơ bản: gia đình, dòng họ
và thành phần tộc người Ba thành tố này luôn liên kết và chi phối lẫn nhau Thông thường ở mỗi bản, người Hmông thường cư trú độc lập, ngoài ra, ở một số nơi, người Hmông cũng cư trú xen kẽ với các dân tộc khác Về mặt tổ chức, mỗi bản có một hoặc hai người đứng đầu Họ là những người đại diện cho các gia đình dòng họ trong bản, được cử ra theo chế độ luân phiên, họ có
Trang 28nhiệm vụ duy trì trật tự chung của bản và chịu trách nhiệm thu thuế [72].
1.2.4 Truyền thống đấu tranh chống xâm lược, chống áp bức
Dân tộc Hmông là một dân tộc có truyền thống đấu tranh chống sự cai trị
hà khắc của bọn phong kiến nhà Thanh và chống áp bức xâm lược Khi thực dân Pháp đặt ách cai trị lên vùng cao, đời sống của người Hmông cũng như nhiều dân tộc sống khác phải chịu nhiều khổ cực Người Hmông đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống Pháp và tay sai Nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đã nổ
ra khiến bọn thực dân Pháp phải nhiều phen khốn đốn Những cuộc khởi nghĩa này tuy chỉ tồn tại trong một thời gian không lâu, nhưng nó đã phản ánh tinh thần đấu tranh quật cường của người Hmông Sau này, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, dân tộc Hmông cũng góp phần không nhỏ, nhiều người Hmông đã được nhà nước phong tặng anh hùng lực lượng vũ trang và được tặng, truy tặng nhiều huân huy chương chiến thắng Ngày nay, đất nước ta đang trong quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, dân tộc Hmông đã và đang cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam đoàn kết thân ái, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh giàu đẹp
Như vậy, với truyền thống đấu tranh quật cường, với tổ chức làng và mối quan hệ cố kết giữa các gia đình dòng họ như trên, người Hmông đã xây dùng cho dân tộc mình một thiết chế xã hội linh hoạt Nhờ đó, họ đã duy trì và ổn định cuộc sống của mình, bảo vệ được bản sắc văn hóa của dân tộc trong cả những giai đoạn lịch sử hết sức khó khăn, khốc liệt
2 Cây lanh trong đời sống kinh tế của dân tộc Hmông
Người Hmông đã xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý thích ứng với điều kiện tự nhiên Cơ cấu kinh tế truyền thống của người Hmông gồm những
bộ phận chính: trồng trọt, chăn nuôi, hái lượm, tiểu thủ công nghiệp và trao đổi Nhờ cơ cấu kinh tế này người Hmông đã xác lập được thế cân bằng, duy trì sự bền vững, sự phát triển cho nền kinh tế
Trong cơ cấu kinh tế truyền thống, trồng trọt luôn đóng vai trò chính,
Trang 29chăn nuôi, nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt Trong các loại cây trồng của người Hmông, cây lanh là một loại cây vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong cuộc sống của họ Dù di cư đi đâu người Hmông còng mang hạt giống lanh đi theo, họ quan niệm: mất hạt giống
là mất nguồn vải mặc Cây lanh là thứ cây cung cấp nguyên liệu (sợi) duy nhất trong nghề dệt may truyền thống của người Hmông từ trước đến nay,
người Hmông coi cây lanh là biểu tượng của dân tộc mình, họ thường nói "ở đâu có cây lanh ở đó có người Hmông, hoặc ở đâu có người Hmông ở đó có nghề dệt lanh, may vải lanh", hay họ gọi sợi lanh là sợi Hmông "Xú Mèng"
[56;58] Người Hmông rất chuộng vải lanh, một phần là do họ vốn là tộc người có lòng tự hào tự tôn dân tộc rất cao; mặt khác, vải lanh cũng là loại vải bền đẹp, Êm và thoáng, không bám bụi, phù hợp với khí hậu và công việc trong đời sống của người vùng cao (khí hậu lạnh quanh năm, địa hình cư trú lắm dốc, nhiều đèo, mỏm đá gai góc, công việc làm nương rẫy nặng nhọc nhiều bụi mồ hôi)
Gieo trồng và sử dụng các sản phẩm của lanh từ lâu đời, người Hmông
có rất nhiều kinh nghiệm dân gian về lĩnh vực này Thời vụ gieo trồng lanh của người Hmông vào khoảng giữa tháng 2 đến đầu tháng 3 âm lịch Sinh sống trên núi cao, thuộc vùng có nhiều tiểu khí hậu khác nhau, nên thời vụ gieo trồng lanh ở từng vùng có xê dịch đôi chút sao cho cây lanh được sinh trưởng phát triển trong thời gian khí hậu thuận lợi nhất và tránh được mưa đá làm ảnh hưởng tới chất lượng sợi lanh Mặt khác, do cây lanh là loại cây rất mẫn cảm với ánh sáng và nhiệt độ, nên ở những vùng khí hậu nóng hơn, nhiều ánh sáng hơn, thời vụ gieo trồng lanh thường muộn hơn và thu hoạch sớm hơn những nơi khác từ 1 - 2 tuần Chất lượng sợi lanh ở những nơi có khí hậu nóng bao giờ cũng kém hơn ở những nơi có khí hậu lạnh [75]
Để có được sợi lanh tốt, đất để trồng lanh cũng rất quan trọng Nương trồng lanh phải ở nơi thoáng đãng, nhưng khuất gió Đất phải tơi khô, bằng phẳng, Ýt đá, phải được làm kĩ trước khi reo hạt (cày bừa Ýt nhất hai lượt,
Trang 30phơi ải, đập tơi nhỏ, nhặt sạch rễ cỏ) Nếu là nương cũ, cần phải làm đất kĩ hơn và bón nhiều phân (Người Hmông lềnh ở Bắc Hà, Mường Khương dùng phân gia súc ủ khô, người Hmông Sapa băm nhỏ cây ngải cứu làm phân bón lót, người Hmông xanh ở Văn Bàn bót lót bằng tro cá tranh…) Nếu là nương mới phải là nương khai phá từ rừng già đất mới tốt, loại nương này khi làm đất không cần phải bón lót, chỉ cần nhặt sạch cây cỏ là được.
Hạt giống lanh cũng là một yếu tố quan trọng, góp phần quyết định chất lượng lanh tốt Vì thế, người Hmông chọn hạt giống rất kĩ Cây để lấy hạt làm giống là những cây lanh mọc ở xung quanh nương Những cây này, do không
bị chen lấn về ánh sáng và chất dinh dưỡng nên phát triển tốt hơn, có nhiều cành, nhánh cho nhiều hạt mẩy, nhưng vỏ cây lại dầy và cứng nên người Hmông không dùng sợi của những cây này để dệt vải mà chỉ lấy hạt làm giống Có một số nơi, để lấy hạt làm giống, người Hmông gieo riêng một Ýt hạt lanh ở nương khác với mật độ thật thưa để cây lanh có nhiều cành, nhánh cho nhiều quả Hạt lanh được chọn làm giống có màu hơi đen pha sẫm, săn chắc và mẩy Sau mỗi vụ thu hoạch hạt lanh được người Hmông cất riêng vào những ống bương khô hoặc cất hạt trong chum đậy kín để chỗ ráo Theo kinh nghiệm dân gian, hạt lanh chỉ để được trong vòng một năm Sau mét năm, hạt giống sẽ không đảm bảo được chất lượng nữa Người Hmông không có tập quán mua bán hạt lanh giống, mÊt hạt giống coi như mất nguồn vải mặc
Người Hmông lựa chọn thời gian gieo hạt lanh rất kĩ Khi gieo hạt, bao giờ
họ cũng chọn ngày giờ tốt (người Hmông hoa chỉ gieo hạt lanh từ những ngày giữa tháng đến cuối tháng, mà kiêng không gieo hạt vào đầu tháng; Người Hmông trắng kiêng không gieo hạt vào ngày con nước, ngày giỗ, ngày hội…)
Họ quan niệm nương lanh tốt phải do cả hai vợ chồng gieo trồng Nên khi gieo hạt, người chồng cầm cuốc đi trước cuốc đất thành luống, vợ đi sau rải phân, gieo hạt, lấp đất Kỹ thuật gieo hạt lanh của người Hmông khá phức tạp, phụ thuộc vào sự khéo léo của người phụ nữ Hạt phải gieo đúng mật độ (khoảng 14
- 16 cm) và phải đều nhau, một nương lanh rộng từ 100m2 = 500m2, phải gieo từ
Trang 315- 25 ống hạt giống Nếu hạt gieo mau quá cây lanh bé cho Ýt vỏ, nếu gieo thưa quá cây lanh to, cho nhiều vỏ nhưng cứng, khó kéo thành sợi, vải dệt ra xấu Khi gieo hạt xong, chủ nhà chọn một cây rừng nhỏ có thân thẳng đẹp cắm vào giữa
nương và nói: "Mày phải lớn nhanh cao bằng cây này, gió thổi không đổ, mưa rơi không ngã đứng thẳng như cây này nhé" [75;11] Sau khi gieo, hạt lanh sẽ
nảy mầm trong ba ngày vì thế người Hmông có câu thành ngữ:
Ba ngày không mọc không phải cây lanh
Ba ngày không thối không phải con gấu [92;58]
Cây lanh mọc rất khỏe, nên từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch, không cần phải chăm sóc nhiều chỉ cần rào dậu để tránh bị gia sóc, gia cầm phá Khi thu hoạch lanh, người Hmông cắt cây lanh, phân thành các loại và bó thành từng
bó, mỗi bó khoảng 100 cây Những bó cây lanh cao to, sợi dùng để dệt bao tải, làm chăn, những bó cây lanh nhỏ dài, thẳng, sợi mềm dùng để dệt vải may quần áo, riêng những cây lanh lấy hạt giống thì sau vài ba tháng nữa mới được thu hạt (khoảng tháng 9 tháng 10) Quá trình trồng lanh, thu hoạch lanh
được phản ánh trong bài "Khúa kê" (tang ca) của người Hmông:
Ra tháng giêng tháng hai
Mình trồng vào bãi nương dốc nương bằng
Ra tháng 5 tháng 6
Mình đi cắt lấy
Cây to vào cây to
Cây thẳng vào cây thẳng
Cây nhỏ vào cây nhỏ
Cây to đem về làm vải chống tàu lau lá cỏ
Mà làm lụng nuôi cháu nuôi con
Cây nhỏ đem về làm vải đón rượu đón cưới
Cây thẳng đem về làm vải chống đất đen đất vàng của nhà trời [79;326]
Sau khi thu hoạch cây lanh trên nương về, người Hmông phơi cây lanh 10 ngày nắng và 3-> 4 đêm sương cho vá lanh săn lại, dai và mềm, mới tước lấy
Trang 32sợi Để tránh gió mùa đông bắc làm sợi lanh khô giảm độ bền, những người phụ
nữ Hmông phải tận dụng mọi thời gian để tước sợi Sợi lanh tước xong đem vào cối giã, rồi xe thành sợi lớn hơn mới đem sợi đi luộc và ủ sợi bằng nước tro bếp nhiều lần Sau mỗi lần ủ sợi, họ lại giặt sạch sợi, hong khô và cuối cùng cho sợi vào Ðp để sợi trắng mịn săn bóng, mềm mại Khi sợi lanh đã trắng mềm, người Hmông dùng guồng cuốn sợi vào các ống sợi, rồi đưa vào khung dệt truyền thống để dệt thành vải lanh
Vải lanh khi đã dệt xong có màu trắng đẹp Tuỳ vào yêu cầu màu sắc trang phục của từng ngành Hmông, người ta tiến hành nhuộm vải lanh bằng chàm hoặc một số loại cây cho màu khác lấy trong rừng Kỹ thuật pha chế màu và nhuộm vải lanh của người Hmông là những bí quyết gia truyền độc đáo Mỗi tấm vải thường được nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần (ít nhất 12 lần) mỗi lần nhuộm phải ngâm vải trong nước nhuộm 20 -> 30 phút đến khi vải đạt được độ màu như mong muốn mới thôi Khi vải đã nhuộm xong, người Hmông bôi sáp lên mặt vải rồi đem lăn trên đá cho vải được bóng mịn, tăng
độ bền và chống giá rét Đến đây, công việc dệt vải đã tạm hoàn thành, những người phụ nữ Hmông lại bằng bàn tay khéo léo của mình để biến vải lanh thành những bộ trang phục phù hợp với thẩm mỹ và điều kiện cuộc sống của dân tộc mình
Ở các làng Hmông, nghề trồng lanh dệt vải là một trong những nghề thủ công cổ truyền nổi tiếng, những yêu cầu kỹ thuật nghề nghiệp đã đạt đến trình độ cao của sự tinh xảo Các nghệ nhân Hmông bằng bàn tay và khối óc của mình đã không ngừng làm tăng vẻ đẹp, giá trị sử dụng của vải lanh khiến cho những bộ trang phục Hmông, đặc biệt là trang phục cưới, tang ma thực sự trở thành tác phẩm nghệ thuật độc đáo thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa của dân tộc này
Hiện nay, do nhiều tác động khác nhau của xã hội, nghề dệt vải lanh và may mặc trang phục truyền thống của người Hmông đang có nhiều biến động, nhưng cây lanh vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nghề dệt may cổ truyền của họ, vải lanh vẫn là loại vải được người Hmông ưa dùng và tự hào về nó
Trang 33Hơn nữa, để bảo tồn và phát triển nghề dệt may truyền thống của dân tộc Hmông, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những biện pháp chủ trương chính sách để bảo tồn và phát triển nghề trồng lanh dệt vải của người Hmông với mục đích giúp đồng bào phát triển kinh tế và bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Bên cạnh vai trò là cây cung cấp nguyên liệu để tạo nguồn vải mặc, cây lanh còn có một số công dụng khác trong đời sống kinh tế của người Hmông Người Hmông thi thoảng có ăn hạt lanh, hoặc dùng lá, rễ, của cây lanh để chữa bệnh Chẳng hạn khi đau đầu họ thường lấy lá lanh và lá cây ngải cứu gói vào một miếng lá chuối, ủ dưới tro nóng rồi đem chườm lên chỗ đau Trẻ em bị các bệnh ho gà, lên sởi, đậu mùa… người Hmông thường dùng hạt lanh đem rang vàng để sắc nước uống Cây lanh có thể trồng luân canh với ngô trên đất dốc, bởi
rễ lanh có nốt sần tổng hợp được đạm tự nhiên như rễ cây họ đậu Lá lanh dùng làm phân xanh, thân cây lanh phơi khô, đốt lấy tro hòa cùng với một số chất khác làm thuốc súng, hoặc dùng để sản xuất loại giấy than có chất lượng cao.Như vậy, kinh tế của dân tộc Hmông thuộc loại hình kinh tế tự cung tự cấp, khép kín còn nhiều khó khăn Cây lanh cùng với cơ cấu kinh tế truyền thống với
ý thức lao động cần cù, kiên nhẫn, trí thông minh sáng tạo người Hmông đã xây dựng được một nền kinh tế tương đối ổn định và phát triển hơn so với bà con các dân tộc khác trong vùng
3 Cây lanh trong đời sống tinh thần của người Hmông
Không những có công dụng thiết thực trong đời sống vật chất, cây lanh còn có vai trò quan trọng trong đời sống tâm tư tình cảm của người Hmông, lanh trở thành vật linh thiêng trong tôn giáo tín ngưỡng và các phong tục tập quán của họ
3.1 Trong các lễ thức dân gian
3.1.1 Lễ thức liên quan đến chu kỳ đời người
3.1.1.1 Trong tập quán sinh đẻ nuôi con thơ của người Hmông, có
Trang 34rất nhiều nghi lễ liên quan đến lanh và các vật dụng từ lanh Từ khi sinh ra cho đến ba ngày sau đứa trẻ chưa được mặc áo, người ta ủ bé trong một cái
tã cắt từ tạp dề cũ bằng vải lanh của mẹ Đến ngày thứ ba, gia đình tổ chức
lễ "gênh plì" (đặt tên - ru hồn) cho trẻ và mặc cho nó cái áo lanh đầu tiên do
người mẹ may cho Từ đây đứa trẻ mới chính thức là một con người, nếu chẳng may nã bị chết, gia đình mới được làm tang ma Trong thời gian ở cữ, nếu có người lạ đến nhà, chủ nhà phải mời người đó ăn bữa cơm, sau bữa cơm, người Êy phải buộc một sợi dây lanh vào cổ tay của đứa trẻ để cầu phúc cho nã
Các trang phục bằng vải lanh dày hơn so với các loại vải khác, nền vải nhẵn, mặc Êm vào mùa đông, mát vào mùa hè Dùng vải lanh may trang phục cho trẻ em rất tốt, vào mùa đông trang phục lanh giúp trẻ giữ Êm cơ thể, mùa
hè vải lanh thấm mồ hôi, không gây nóng bức khó chịu cho cơ thể của trẻ Nhiều phô trang cho trẻ: cái địu, cái mũ, túi thuốc (vật giữ vía cho trẻ, người Hmông quan niệm các loại ma rất sợ túi thuốc này)… vừa bền vừa đẹp lại rất thông dụng tiện lợi
3.1.1.2 Đám cưới của dân tộc Hmông thường gồm ba nghi lễ chính: lễ dạm hỏi, lễ đưa đồ cưới và lễ cưới: Lễ dạm hỏi thường được tiến hành sau khi thu hoạch vụ mùa xong, nhà trai chọn ngày lành tháng tốt nhờ hai ông mối đem lễ vật đến nhà gái dạm hỏi Nếu được nhà gái chấp nhận, nhà trai chuẩn
bị đồ thách cưới rồi đưa lễ vật đến nhà gái và bàn bạc chọn ngày đón dâu làm
lễ cưới Lễ cưới của người Hmông thường được tổ chức vào mùa đông sau khi thu hoạch xong, họ kiêng cưới vào mùa có tiếng sấm Lễ cưới gồm hệ thống nghi thức đón dâu, nhập môn (nhập ma nhà chồng) và liên hoan mừng ngày cưới Trong các nghi lễ cưới xin của người Hmông, lanh giữ một vai trò đáng kể, vải lanh là một vật biểu trưng không thể thiếu trong khi tổ chức lễ cưới người Hmông [27;88] Quy định trang phục cưới của cô dâu chú rể phải
là những bộ trang phục làm từ vải lanh, được thêu thùa rất kỳ công Ngoài ra,
Trang 35người Hmông ở một số vùng như xã Lùng Tám - Quảng Bạ - Hà Giang còn
có tục lệ khi tổ chức hôn lễ bắt buộc phải có hai cuộn vải lanh, mỗi cuộn dài khoảng 10 mét, cuén màu trắng dành cho cô dâu, cuộn màu đen dành cho chú
rể, hai cuộn vải lanh này được trải ra và cuộn lại theo các nghi thức được thầy cúng hướng dẫn [27;88]
3.1.1.3 Lễ tang của người Hmông là một hiện tượng văn hóa đặc sắc bao gồm nhiều nghi lễ khác nhau, phản ánh quan hệ về lịch sử xã hội, về cộng đồng dân tộc Trong lễ tang, người Hmông quy định trang phục cho người chết phải được làm từ vải lanh, các thủ tục khâm niệm, giày tất của người quá
cố, các loại dây đeo các vật tùy táng như: dao, nỏ, cáng, thừng buộc trâu… đều phải bện bằng lanh, người đến phúng viếng cũng phải mặc vải lanh, do đó lanh là một mặt hàng không thể thiếu [27;88]
Người chết có bao nhiêu con sẽ được mặc bấy nhiêu bộ trang phục bằng lanh do con gái và con dâu làm cho Nhìn vào số khăn đắp lên mặt người chết
ta có thể biết người chết có bao nhiêu con Vì thế người con gái Hmông sau khi lấy chồng, ngoài trách nhiệm may quần áo cho chồng con, họ phải lo chuẩn bị cho bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng mỗi người một bộ trang phục bằng vải lanh để mặc khi chết Việc làm này vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ vừa là để con cái bày tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ Ngược lại khi người con gái đi lấy chồng mẹ đẻ cũng trao cho cô gái một bộ váy áo bằng lanh do chính tay bà làm, người con gái cất kỹ bộ quần áo quý giá này và chỉ mặc nó khi trút hơi thở cuối cùng để sang thế giới bên kia người mẹ sẽ nhận ra con của mình [76;59]
Người Hmông quan niệm người chết phải mặc trang phục bằng vải lanh thì sang thế giới bên kia ông bà mới nhận ra con cháu, nếu không có trang phục bằng vải lanh mặc cho người quá cố thì phần hồn của họ không gặp được tổ tiên, không gặp được siêu thoát, không về phù hộ cho gia đình thậm chí còn làm hại mọi người trong gia đình, bản làng Nên khi tiến hành các thủ tục tang lễ, lanh và một số vật dụng từ lanh là những vật dụng không thể thiếu Người Hmông ở một số nơi treo cáng người chết gần bàn thờ tổ tiên,
Trang 36cáng này tượng trưng cho ngựa trời, khi khênh người chết ra bãi chôn, người Hmông phải dùng dây lanh buộc thi hài vào cáng, nÕu người chết không có con trai thì buộc bằng sợi lanh, nÕu người chết có con trai thì buộc bằng vải lanh trắng do con dâu dệt cho Dây lanh hoặc vải lanh, ngoài tác dụng giữ cho thi hài người chết không bị rơi ra khỏi cáng khi khênh người chết đi chôn, nó
còn có vai trò là dây "dắt ngựa", dây dẫn đường cho người chết về với tổ tiên
Lễ tang của người Hmông thường bao gồm: Lễ chỉ đường; Lễ thổi kèn;
Lễ đuổi giặc; Lễ viếng; Lễ đưa người chết ra ngoài bãi; Lễ hạ huyệt; Lễ cúng cơm ba ngày [73] Trong lễ đưa người chết ra ngoài bãi, một số dòng họ người Hmông không cho người chết vào quan tài, thì trước ngày chôn người ta làm lễ đưa thi hài người chết ra ngoài bãi để hiến tế trâu bò tài sản cho người chết Trâu bò được dắt ra ngoài bãi rộng, được buộc cách người chết 2 - 3m và được nối với tay người chết bằng một sợi dây lanh với ý niệm để hồn người chết nhận được gia súc Ông chủ ma đọc bài cúng giao trâu bò cho người chết xong, thì đưa chiếc bùa đập đầu trâu (bò) cho ông cậu, sau ông cậu là bà con cô bác trong dòng họ, người thông gia mỗi người đều cầm búa đập vào đầu trâu (bò) một nhát, rồi sau đó, người ta mổ trâu bò và tổ chức lễ ăn uống ngay tại đó Khi thực hiện lễ hạ huyệt, người Hmông thường chọn giờ tốt, thầy cúng đọc bài cúng đưa người chết đi chôn, những thanh niên khỏe mạnh khiêng cáng người chết chạy nh bay đến huyệt Người Hmông quan niệm cáng là ngựa, nên khi bó người chết vào cáng, thì kèn trống thổi bài lên ngựa Dây buộc thi hài vào cáng thường là dây lanh hoặc những tấm vải lanh được gọi là dây dắt ngựa Thầy cúng ngắt ba lá cỏ tranh làm động tác quét quan tài với ý niệm xua đuổi ma tà, sau đó mới đặt thi thể người chết vào trong quan tài rồi đậy nắp quan tài lại và lấp đất chôn Đối với những dòng họ cho thi thể người chết vào quan tài trước khi mang quan tài đi chôn, thì trước khi lấp đất người
ta mở nắp quan tài ra để mọi người nhìn người chết lần cuối cùng Tất cả những người khiêng quan tài khi trở về phải rửa tay vào thùng nước gạo đặt trước cửa nhà và hơ tay trên bếp lửa trước khi vào nhà, để đề phòng bị hồn
Trang 37ma người chết bắt đi.
- Trong lễ "Tò si" hoặc "Ua si" (lễ đón và tiễn hồn đi đầu thai ở kiếp
khác) thường được tổ chức sau khi chết được 12 ngày (nếu là trẻ em), 13 ngày (nếu là người lớn) Trước khi đi đầu thai kiếp khác, hồn sẽ trở về thăm con cháu lần cuối và nhận đồ đi ăn dọc đường Khi mời hồn người chết về nhà, người Hmông lấy một tấm ván đặt ngay giữa nhà, gần khu vực bàn thờ (Xưvcangz), trên ván đặt một ngọn đèn dầu, một cái bát úp trên ván với ý niệm là nơi để hồn trú ngụ Họ lấy sợi dây lanh buộc vào cổ gà rồi nối đến chỗ bát úp với ý niệm trao gà cho người chết mang đi ăn đường
- Lễ "Chòplì" (lễ làm hồn) được diễn ra khi người chết được một năm
hay lâu hơn (tùy vào điều kiện của từng gia đình) Người Hmông thực hiện lễ này để đón linh hồn người chết từ cõi chết trở về, cầu cho linh hồn được siêu thoát nhẹ nhàng và tháo gỡ cái gì còn ràng buộc giữa người sống và người chết để người chết phù hộ cho người sống làm ăn dễ dàng hơn
Lễ này có thể làm một lần cho một người chết, hoặc một lần cho nhiều người chết trong nhà Khi thực hiện nghi lễ này người Hmông chuẩn bị một vài cái sàng (nếu làm lễ cho một người thì chuẩn bị một cái sàng, nếu làm lễ cho nhiều người thì phải chuẩn bị bằng Êy cái sàng tương ứng) Trên mỗi sàng đặt hai cái bánh giầy, mét to, một nhỏ (tùy thuộc vào quy định của mỗi dòng họ) và một chai rượu Sau đó họ lấy một cái que quấn khăn lanh vào một đầu, đầu kia cắm vào sàng, trên đầu que treo một chiếc áo lanh để linh hồn người chết trú ngụ trong đó Tương ứng với số lượng cái sàng người ta
mổ bằng Êy con lợn Trước khi mổ lợn, thầy cúng dùng những sợi dây lanh buộc vào cổ những con lợn rồi nối với tay áo treo trên chiếc que cắm trong sàng, với ý niệm giao lợn cho người chết
- Trong lễ "Nhux đăngz" (lễ ma bò) Để giao trâu bò cho người chết, thầy
cúng lấy một chiếc áo lanh (nếu người chết là nam giới) hoặc một cái váy bằng vải lanh (nếu người chết là nữ giới) rồi đi ra ngoài mời hồn người chết về, sau
đó đặt áo (váy) lên một tấm ván trước bàn thờ tổ tiên "Xưvcangz" Khi kết thúc
Trang 38lễ cúng ở trên bàn thờ, thầy cúng mang áo (váy) ra khỏi nhà, đi đến một cái lều tre nhỏ (đã làm sẵn) ở ngoài vườn Thầy cúng trải chiếu vào trong lều, đặt áo (váy) vào chiếu, lấy một sợi dây lanh một đầu buộc vào cổ trâu (bò) một đầu nối với áo (váy) để trao trâu (bò) cho hồn ma, rồi mới tiến hành mổ trâu (bò).
- Lễ "Buôx đăngz" (lễ ma lợn) thường phải tổ chức khi trong nhà tự dưng
có nhiều người ốm đau, hoặc gia đình gặp nhiều chuyện xảy ra trái với lẽ thường (lợn mẹ ăn thịt lợn con; chó nhảy lên giường…) Người Hmông cho rằng đó là dấu hiệu tổ tiên ở thế giới bên kia bị đói, về đòi con cháu cho ăn
Để tiến hành nghi lễ này, thầy cúng lấy một cái áo làm bằng vải lanh (nếu là
ma nam) hoặc một chiếc váy lanh (nếu là ma nữ) đem ra ngoài mời hồn ma về nhập vào rồi đặt vào một tấm ván cạnh cột ma (cột chính trong nhà), bên cạnh chiếc áo (váy) đó đặt một bát cơm, một cái thìa, một chén rượu và một cái đèn dầu Tiếp đó người ta dùng dây lanh để treo một chiếc trống giả (lấy một miếng da trâu bịt miệng một chiếc "nu cở" - đồ vật dùng để giữ thóc, ngô của người Hmông) Thầy cúng lấy sợi lanh buộc vào áo (váy) rồi nối vào cổ con lợn và đọc bài cúng giao lợn cho ma mang đi
Trong tất cả các nghi lễ tang ma của người Hmông mà chúng tôi đề cập
ở trên, đều Ýt nhiều có liên quan đến lanh ở mặt này hay mặt khác, dù là gián tiếp hay trực tiếp Tuy nhiên những thủ tục nghi lễ này còn tùy vào từng ngành Hmông, từng dòng họ, từng địa bàn cư trú mà có thể có những nghi thức khác nhau Nhưng nhìn một cách tổng thể ta vẫn có thể khẳng định rằng lanh và các vật dụng từ lanh là một trong những yếu tố hàng đầu, không thể thiếu trong tang ma của người Hmông
3.1.2 Các lễ thức cộng đồng
Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Hmông, đã và đang tồn tại nhiều lễ hội lớn nhỏ khác nhau: lễ hội xuống đồng, lễ Nào xồng của cộng đồng "giao" và lễ hội Gầu tào…Trong những lễ hội trên, cây lanh và các vật dụng từ lanh đều Ýt nhiều có mặt và nó thường là vật để người Hmông gửi gắm tâm tư tình cảm, ước nguyện hay là vật thiêng để liên thông giao tiếp với
Trang 39thế giới siêu nhiên…Chẳng hạn, trong lễ hội Gầu tào (lÔ hội nhằm mục đích
để gia chủ cầu con, cộng đồng cầu mùa) Lễ này được tổ chức Theo phong tục của người Hmông: hai vợ chồng nào đó lấy nhau đã lâu mà không có con, hoặc làm ăn gặp nhiều khó khăn được thầy cúng phán truyền mở hội "Gầu tào" để có người nối dõi, làm ăn yên ổn no đủ Thì gia chủ đó, ngay từ trước tết (khoảng 26 - 28 tết), phải trồng cây nêu (cây mai hoặc cây tre), trên ngọn nêu treo một hoặc ba dải lanh màu đỏ, hoặc màu chàm sẫm, hoặc màu trắng (tùy thuộc vào quan niệm của từng dòng họ) Một dây giấy bản to, một quả bầu khô đựng rượu Những người Hmông ở xa gần nhìn thấy cây nêu đều biết
đó là điểm mở hội để đến chơi
Ngày 30 tết, sau khi cúng tổ tiên ở nhà, gia chủ làm một mâm cúng đặt trịnh trọng ở gốc cây nêu cầu khấn các lực lượng siêu nhân phù hộ cho mình
có con, cho gia đình mình làm ăn khấm khá Ngày mùng 1 tết, sau bài khấn
mở hội của thầy cúng là các nghi lễ cầu phúc, các màn hát giao duyên, các trò chơi diễn ra sôi nổi Hội Gầu tào thường được tổ chức từ 1-3 ngày, hết thời gian mở hội, các thầy cúng và người già làm lễ hạ cây nêu, bầu rượu được đổ tung ra khắp bốn hướng, gia chủ đem thân cây nêu về làm giát giường, mảnh vải lanh đỏ được gia chủ đem về treo trong nhà để mong sớm
có con và cầu hồng phúc
Tìm hiểu hát giao duyên trong các lễ hội của người Hmông, ta thấy hát ống - hát dây, có sự tham gia của sợi dây lanh Vào cuộc hát, nam nữ Hmông đứng chia làm hai bên, một bên là nam giới, một bên là nữ giới, đứng cách nhau khoảng hơn 10m Nối giữa hai bên là một sợi dây lanh dài nhỏ, bền chắc Hai đầu sợi được buộc vào hai ống hát làm từ cây tre hoặc cây trúc Người hát, người nghe đều cầm ống nghe trên tay, người hát thì ghé miệng vào ống nghe để hát và người nghe đưa ống nghe lên tai để nghe Những ống nghe này có tác dụng giúp cho việc nghe, hát được rõ ràng hơn Sợi dây lanh có tác dụng truyền âm thanh qua lại giữa hai bên Thông qua lời ca tiếng hát đối đáp giữa hai bên, không những người ta có thể phân tài cao thấp mà còn
Trang 40có thể cùng nhau trao đổi tâm tư, tình cảm, một cách tế nhị kín đáo Vì thế loại hình hát này rất được người Hmông, đặc biệt là nam nữ thanh niên ưa chuộng
3.1.3 Các lễ thức cúng cầu khác
Bên cạnh các hệ thống lễ thức cộng đồng (lễ Nào xồng, lễ Gầu tào) và các lễ thức liên quan đến chu kỳ đời người (sinh đẻ, cưới xin, tang ma…) người Hmông còn có một số nghi lễ liên quan đến sản xuất như lễ cúng cầu mùa, lễ cầu không bị mưa đá ở vùng Bắc Hà - Lào Cai
Hàng năm trước khi vào mùa phát nương, làm rÉy người Hmông ở huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An tổ chức lễ cúng bảo vệ hồn mọi người trong gia đình Khi làm lễ cúng, toàn bộ thành viên trong gia đình phải ở nhà Thầy cúng lấy sợi lanh bôi máu chó buộc xung quanh nhà để hồn người sống được bảo vệ, không bị tai nạn khi làm nương rẫy
Người Hmông ở xã San Sả Hồ - Sa Pa, tổ chức lễ giải hạn "Tú Sù" theo
dòng họ Trong nghi lễ của họ Sùng, trưởng họ dùng một sợi lanh trắng nhúng nước thiêng cúng gà, cầu mong thần linh nhập vào tấm vải lanh che chở cho các thành viên trong dòng họ Kết thúc buổi lễ, trưởng họ cắt vải lanh làm nhiều mảnh phát cho từng hộ gia đình, các gia đình chôn vải lanh trước cửa nhằm tạo ra bức tường vô hình ngăn chặn ma ác vào nhà, riêng trưởng họ phải treo tấm vải lanh trắng trước cửa, nhằm trừ tà ma cho cả dòng họ [74]
3.2 Lanh trong tôn giáo tín ngưỡng
3.2.1 Thờ cúng tổ tiên và ma nhà là những hình thức tín ngưỡng khá phổ biến của người Hmông Các lễ cúng này thường được tổ chức vào những dịp năm mới, lễ cơm mới hoặc khi cầu cúng chữa bệnh, khi làm tang ma… Người Hmông thờ cúng tổ tiên với lòng tin tổ tiên sẽ phù hộ cho họ Các nghi
lễ cầu cúng tổ tiên cũng bắt nguồn từ quan niệm: người có ba hồn (Plì) một tâm hồn chính ở đầu (thóp đỉnh đầu), hồn thứ hai ở rốn có nhiệm vụ cai quản thân thể và các bộ phận nội tạng, hồn thứ ba ở ngực Các hồn này luôn liên quan đến sức khỏe và sinh mệnh của con người, nếu một trong ba hồn lìa khỏi xác con người sẽ ốm đau, đặc biệt hồn thứ ba bỏ đi là khi con người đã bị