Dạy và học câu không chỉ dừng ở việc học các câu đơn lẻ, viết cỏc cõu độc lập mà phải luôn gắn câu với văn bản, với yêu cầu của một hoạt động giao tiếp cụ thể.. Với mục đích giữ gìn sự t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-ĐINH VĂN THUẬN
TỔ CHỨC CHỮA LỖI CÂU
TRONG BÀI LÀM VĂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI- 2006
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2-ĐINH VĂN THUẬN
TỔ CHỨC CHỮA LỖI CÂU
TRONG BÀI LÀM VĂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
TIẾNG VIỆT
MÃ Sẩ: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN QUANG NINH
HÀ NỘI- 2006
Trang 3Với tấm lòng thành kính, em xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới PGS.TS Nguyễn Quang Ninh và các cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý trong tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt đã cho em kiến thức, nhiệt tình và lòng tự tin để em hoàn thành luận văn này.
Tác giả luận văn bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp, tới các thày cô và học sinh các trường THCS của Hà Nội đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo điều kiện tốt để luận văn được hoàn thành.
Hà Nội, tháng 10 năm 2006
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 4I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy tiếng Việt trong nhà trường không chỉ có nhiệm vụ là dạy cho học sinh nói đúng mà còn là viết đúng, viết hay tiếng mẹ đẻ Một trong cỏc khõu để dạy học sinh viÕt tốt là hoạt động chữa lỗi của chớnh cỏc em Chữa lỗi câu là một nhiệm vụ của giáo viên để nâng cao chất lượng diễn đạt cho học sinh Tuy nhiên, việc chữa lỗi câu cho học sinh còn chưa thực sự được coi trọng trong nhà trường hiện nay, cách chữa còn tuỳ tiện Giáo viên chủ yếu mới quan tâm đến chữa lỗi của một câu đơn lẻ, độc lập chứ chưa chú ý chữa lỗi câu đặt trong đoạn văn, bài văn của học sinh Chính vì thế, việc chữa lỗi câu cho học sinh là mét điều rất đáng được quan tâm
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp chủ yếu của con người Công nghệ thông tin càng phát triển, ngôn ngữ càng phát huy được giá trị to lớn của mình Ngôn ngữ viết trở nên quan trọng trong thời đại số hoá Thế nhưng ta đang gặp tình trạng viết câu sai khá phổ biến trên sách báo và trong bài làm của học sinh Có thể dễ dàng tìm thấy những cách diễn đạt sai ở nhiều tờ báo, cuốn sách xuất bản hằng ngày Điều nguy hiểm là tần xuất cách diễn đạt sai mà học sinh tiếp xúc hằng ngày rất cao nên nhiều em, trong nhiều trường hợp, không thể xác định được đâu là diễn đạt đỳng đõu là diễn đạt sai
Tiếp thu thành tựu của ngữ pháp chức năng, dưới ánh sáng của lý thuyết hoạt động giao tiếp, cách dạy tiếng Việt trong các nhà trường hiện nay cần phải thay đổi Dạy và học câu không chỉ dừng ở việc học các câu đơn lẻ, viết cỏc cõu độc lập mà phải luôn gắn câu với văn bản, với yêu cầu của một hoạt động giao tiếp cụ thể Vấn đề chữa lỗi câu cũng đòi hỏi phải đặt câu trong văn bản Như GS Cao Xuân Hạo đã khẳng định: “Muốn biết một câu văn nào đó đúng hay sai (chấp nhận được hay không chấp nhận được) không thể không đặt nó trong ngữ cảnh và tình huống giao tiếp Những tri thức cho phép người bản ngữ thấy trong hoàn cảnh nào thì người nào có thể nói như thế này mà không được
Trang 5nói như thế kia cũng là tri thức ngôn ngữ học, và không thể không được nói đến trong sách ngữ pháp”[23] Chỉ có chữa lỗi câu đặt trong mối quan hệ với cỏc cõu khỏc mới bảo đảm cho câu được chữa không chỉ đúng ngữ pháp của một ngôn ngữ, mà còn đúng với những quy tắc của tư duy, của hoạt động giao tiếp Với mục đích giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và mục đích ngày càng nâng cao chất lượng diễn đạt của học sinh, nâng cao hiệu quả của việc dạy
tiếng ở trường phổ thông, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tổ chức chữa lỗi
câu trong bài làm văn cho học sinh trung học cơ sở” Trên cơ sở kế thừa
những kết quả đã được nghiên cứu, từ thực tiễn dạy Ngữ văn ở trường THCS, luận văn sẽ trình bày một cách tập trung và cụ thể vấn đề chữa lỗi câu trong các bài làm văn của học sinh trung học cơ sở
II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Chữa câu sai là một lĩnh vực của khoa học giáo dục Vì thế, nó không chỉ được các nhà ngôn ngữ học quan tâm mà còn được các nhà giáo, được những người mong muốn “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” coi trọng Nhiều nhà ngôn ngữ học đã trình bày các loại câu sai có thể gặp trong cỏc cụng trình tiếng Việt thực hành Để nhìn lại một cách có hệ thống vấn đề chữa câu sai nói chung
và chữa câu sai trong văn bản, trong bài làm văn của học sinh nói riêng, trước khi đi sâu vào bàn cách chữa câu cho học sinh, chúng tôi xin điểm qua một số công trình chính về vấn đề này đã được công bố trước đây
Cuốn sách có thể coi là sớm nhất viết về vấn đề chữa lỗi câu cho học sinh
là cuốn “Sai, đúng, hay trong việc dùng từ, đặt câu, chấm cõu” của các tác giả Nguyễn Hữu Tưởng - Nguyễn Thu - Lờ Xuân Khoa Là sách viết cho học sinh cấp II (cấp THCS), các tác giả đã trình bày cách đặt câu từ đúng đến hay và đã chỉ ra những lỗi câu phổ biến mà học sinh hay mắc như lỗi ngữ pháp và lỗi lôgic [50]
Trang 6Tạp chí “Ngụn ngữ” cũng đã đăng nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà giáo dục về vấn đề chữa lỗi câu cho học sinh Có thể kể đến các bài như “Cú thể tìm con đường ngắn nhất để dạy viết đỳng cõu” của Trần Phô;
“Lỗi ngữ pháp của học sinh- nguyên nhân và cách chữa” của Nguyễn Xuân Khoa; “Mối quan hệ giữa ý và lời trong quá trình hình thành một số kiểu câu sai của học sinh” của Nguyễn Mai Hồng; “Tỡm cỏch giỳp thờm cho học sinh viết đỳng cõu Tiếng Việt” của Diệp Quang Ban …[43]; [29]; [26]; [6] Tạp chí
“Nghiờn cứu giáo dục” cũng có nhiều bài rất đáng chú ý về vấn đề chữa lỗi câu cho học sinh Vớ dụ nh “Chập cấu trúc - Một quá trình tâm lý trong những câu sai của học sinh” của Nguyễn Đức Dân; “Về các phương pháp chữa câu sai cho học sinh” của Nguyễn Thanh Bình…[15]; [9]…
Qua các bài viết trên, chúng ta thấy vấn đề lỗi câu và việc chữa lỗi câu cho học sinh đã trở thành một vấn đề quan trọng và cấp thiết trong việc dạy tiếng Việt Các bài viết đã đi sâu phân tích lỗi sai trong cấu trúc câu, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất cách chữa Đây là những đóng góp quan trọng trong việc chữa câu sai cho học sinh Nhưng đi theo hướng này thỡ khụng thÓ giải quyết được triệt để những vấn đề về lỗi câu trong thực tế dạy và học Chính vì vậy, tác giả Nguyễn Mai Hồng trong bài viết của mỡnh đó cú nhận xét: “Việc phân tích cấu trúc nội bộ của từng câu sai riêng lẻ là việc làm đầu tiên không thể thiếu được Song nếu chỉ chú ý câu sai trong khuôn khổ một câu riêng lẻ, chóng ta sẽ bị hạn chế tầm nhìn và đi tới việc phân tích nguyên nhân không đầy đủ, đề ra cách chữa không sát hợp” Với quan niệm nh vậy, tác giả đề xuất “Việc chữa câu sai
có thể được tiến hành ở một khâu sâu hơn cấu trúc bề mặt của nó: chữa ở quá trình tạo câu, ở nơi sẽ sản sinh ra hàng loạt câu sai” [26] “Khõu sâu hơn cấu tróc bề mặt…” mà tác giả đưa ra là chữa lỗi câu từ góc độ tư duy của học sinh Đây là một đề xuất rất đáng lưu ý
Trang 7Cũng cùng một quan điểm với Nguyễn Mai Hồng, tác giả Diệp Quang Ban trong bài viết “Tỡm cỏch giỳp thờm cho học sinh viết đỳng cõu Tiếng Việt” đã khẳng định: “ Việc nghiên cứu câu sai của học sinh dùa vào cấu trúc là một việc làm cần thiết, bổ Ých…nhng chưa đủ Đã đến lúc phải áp dụng vào việc dạy viết văn, cái bậc nổi hơn bậc cấu trúc thực sự thường dùng hiện nay nhằm trang bị thêm cho học sinh một số kiến thức nữa giúp họ tránh lỗi Nói cách khác, cần đề cập đến một số nhân tố trong việc chuyển từ ngôn ngữ sang lời nói chứ không dừng lại ở một số mô hình tiềm tàng của ngôn ngữ thuần tuý”[6] Các ý kiến của Nguyễn Mai Hồng, Diệp Quang Ban cũng như của một số tác giả khác sau này như Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Dõn.… đều đặt ra vấn
đề là việc nhận diện và chữa câu không chỉ dừng lại ở phạm vi cấu trúc của câu Nhưng mở rộng đến đâu thì hình như vẫn chưa được thống nhất
Do yêu cầu của cải cách giáo dục, môn tiếng Việt ngày càng được quan tâm nhiều hơn Trên cơ sở mục tiêu của môn học, trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu đã đến độ sâu sắc của ngành ngôn ngữ học, tiếng Việt thực hành được chú trọng Nhiều cuốn giáo trình được viết theo hướng thực hành tiếng Việt đã đi sâu vào việc hướng dẫn cụ thể về đặt câu, chữa câu cho học sinh.Cuốn giáo trình cần phải kể đến trước tiên là cuốn “Làm văn” của Đình Cao và Lê A Cuốn giáo trình này đã dành hẳn một phần để trình bày lý thuyết
về câu, kĩ năng luyện viết câu và đặc biệt là đã nêu ra một số lỗi câu phổ biến cần khắc phục khi viết văn như câu sai cấu trúc nòng cốt, câu thiếu vế, câu sai quan hệ lôgic, câu rối nỏt, cõu lạc ý trong đoạn… Cách trình bày vấn đề khá xác đáng và thuyết phục [11]
“Cõu trong tiếng Việt” (Quyển1) do Cao Xuân Hạo chủ biên là một cuốn sách trình bày khá đầy đủ các vấn đề về câu theo ngữ pháp chức năng Tuy nội dung chính không phải là đề cập đến việc chữa câu nhưng các tác giả đó cú những kiến giải rất sâu sắc về những lỗi câu thường gặp và cách chữa [23]
Trang 8Cuốn “Tiếng Việt thực hành” của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp là một cuốn giáo trình cung cấp cho người học “khụng phải là những định nghĩa, phân loại, trích dẫn người này người kia mang tính kinh viện mà là những cẩm nang để giải bài tập thực hành” Trong công trình này, các tác giả
đã dành chương II để “Rốn luyện kĩ năng đặt câu và dùng từ” Các tác giả đã đưa ra được một hệ thống kĩ năng sử dụng câu thông qua việc chữa các lỗi thông thường về câu và một số phÐp biến đổi câu trong văn bản Trong các lỗi thông thường về cõu, cỏc tác giả đã chỉ ra 4 loại lỗi thường gặp là lỗi thiếu các thành phần nòng cốt câu như thiếu chủ ngữ, vị ngữ, thiếu bổ ngữ bắt buộc; lỗi thiếu một vế của câu ghép; lỗi thể hiện sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu và lỗi sắp xếp sai trật tự từ Đơn vị được trích dẫn để minh hoạ và làm bài tập chủ yếu vẫn là cỏc cõu độc lập [54] Cuốn “Tiếng Việt thực hành” của Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hựng cú một chương- chương V- bàn trực tiếp về vấn đề “Đặt câu trong văn bản” Số trang viết không nhiều nhưng cuốn sách đã trình bày một cách gọn, rõ và khá toàn diện về vấn đề câu trong văn bản Điểm giá trị của công trình này là các tác giả luôn xem xét câu trong quan
hệ với văn bản, thực sự thể hiện tư tưởng dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động
và bằng hoạt động theo lý thuyết về giao tiếp Hệ thống bài tập về câu của công trình này rất phong phú, xứng đáng là tài liệu tham khảo tốt cho giáo viên phổ thông Tuy thế, khi trình bày việc chữa lỗi cõu, sỏch vẫn chỉ trích dẫn cỏc cõu độc lập, đơn lẻ [47] Cùng năm 1997 cũn cú cuốn “Tiếng Việt thực hành” của Trần Chớ Dừi được xuất bản Tác giả đã xây dựng được một hệ thống bài tập
về câu, chỉ ra các lỗi về cõu khỏ đa dạng [16]
Viết theo chương trình của dự án đào tạo giáo viên THCS, cuốn “Tiếng Việt thực hành” của các tác giả Bùi Minh Toán và Nguyễn Quang Ninh cung cấp cho giáo viên THCS một cách toàn diện và cụ thể những vấn đề của tiếng
Trang 9Việt thực hành, trong đó có “Luyện kĩ năng đặt câu trong văn bản” Theo các tác giả, câu trong văn bản phải đạt được các yêu cầu chung sau:
- Câu cần cấu tạo đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt
- Câu cần đúng về nội dung ý nghĩa
- Câu phải được đánh dấu câu thích hợp
- Câu cần có liên kết chặt chẽ với cỏc cõu khỏc trong văn bản
Là giáo trình của chuyên ngành phương pháp giảng dạy, viết cho đối tượng là những người đang trực tiếp giảng dạy tiếng Việt ở nhà trường phổ thông, “Tiếng Việt thực hành” dành phần quan trọng cho việc chữa câu sai và thực hành các thao tác rèn luyện về cõu Cỏc tác giả đã xác định 4 loại câu sai thường gặp là:
- Câu sai về cấu tạo ngữ pháp
- Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận
- Câu sai về dấu câu
- Câu sai về mạch lạc và liên kết câu trong văn bản
Tuy chỉ ra rất cụ thể các loại lỗi câu và cách chữa, song giáo trình vẫn sử dụng ngữ liệu chữa câu là cỏc cõu độc lập như nhiều sách viết về lỗi cõu khỏc [48]
“Tiếng Việt” (dùng cho đại học đại cương) của Nguyễn Đức Dân cũng
là một giáo trình được viết theo chương trình Tiếng Việt thực hành của Bộ GD
&ĐT Giáo trình tập trung về câu và văn bản Cách tiếp cận “Một số vấn đề về cõu” của tác giả rất thó vị Nguyễn Đức Dõn khụng trình bày lý thuyết theo tư cách một nhà ngôn ngữ học mà trình bày với tư cách của một người sử dụng ngôn ngữ Vì vậy, tác giả đã phân tích rất thuyết phục một số lỗi sai khi sử dụng câu Đây là một công trình đã đi sâu vào việc phân tích nguyên nhân tâm
lý dẫn đến câu sai và cỏc cỏch chữa cụ thể của những câu sai Êy [14]
Trang 10Là một nhà giáo nhiều năm gắn bó với phổ thông, Phan Thiều trong “Rốn luyện ngôn ngữ” đã rất chú trọng đến việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh thông qua thực hành, cung cấp cho học sinh các mẹo luật và tập trung qua sửa lỗi Đối với việc viết câu, tác giả dành 1 chương- chương IV- “Luyện nói, viết đúng ngữ phỏp” Trong chương này, tác giả Phan Thiều cũng đã đưa ra bài tập chữa câu sai Những loại câu sai được sử dụng chủ yếu lấy trong sách báo Giới hạn trích cũng thường chỉ dừng ở đơn vị câu [52]
“Cõu tiếng Việt và nội dung dạy học câu ở trường phổ thụng” của tác giả Nguyễn Thị Thìn là một trong sè Ýt công trình tập trung cho câu Sau khi trình bày các kiến thức cơ bản về câu, tác giả dành một phần nhỏ để chỉ ra các lỗi về câu Theo tác giả, có hai loại lỗi về câu Đó là lỗi về thành phần câu, lỗi về quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận trong câu và giữa câu với câu Trong lỗi về thành phần cõu, tỏc giả chỉ ra 3 loại lỗi cụ thể là:
- Không phân định rõ thành phần trạng ngữ và chủ ngữ
- Không phõn định rõ định ngữ, phần phụ chú và vị ngữ
- Không phân định rõ trật tự cần có của thành phần câu
Trong lỗi về quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận trong câu và giữa câu với câu, tác giả chỉ ra 2 loại lỗi:
- Không phân định rõ những bổ ngữ cú cỏch chi phối khác nhau
- Không phân định rõ mối quan hệ các vế câu hoặc giữa câu với câu Mặc dù không đưa ra các ví dụ chứng minh, song với cách trình bày trên, có thể thấy tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc chỉ ra lỗi của cỏc cõu độc lập
- những cõu đã được tách ra khỏi văn bản [46]
Vấn đề chữa lỗi câu cho học sinh vẫn còn rất nhiều nội dung cần được nghiên cứu kĩ và sâu hơn để đi đến thống nhất Gần đây, nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trên tiếp tục được công bố Có thể kể đến
“Nhận diện các dạng lỗi về câu từ góc độ văn bản” của Nguyễn Thị Ban [7];
Trang 11“Một số biện pháp hạn chế tình trạng viết câu sai của học sinh cuối bậc học Tiểu học” của Đinh Thị Oanh [61]; cuốn “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục” của tập thể tác giả Cao Xuân Hạo- Lớ Tùng Hiếu- Nguyễn Kiờn Trường- Trần Thị Tuyết Mai [25].
Rõ ràng, vấn đề lỗi câu và chữa lỗi câu cho học sinh đã thu hót được sự quan tâm của nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu Điều này nó vừa phản ánh việc mắc lỗi câu của học sinh là khá phổ biến vừa khẳng định việc tổ chức hướng dẫn chữa lỗi câu cho học sinh là việc làm cần thiết của giáo viên trong quá trình dạy học môn Ngữ văn Có thể thấy vấn đề chữa lỗi cõu đó được trình bày khỏ
rừ trong nhiều công trình nghiên cứu Và mặc dù các tác giả luôn thể hiện quan điểm chữa câu phải đặt trong văn bản nhưng khi đi vào cụ thể của vấn đề, các ngữ liệu trích dẫn chủ yếu mới là các câu đơn lẻ Điều này Ýt nhiều làm hạn chế tính hiệu quả của việc chữa lỗi câu
Khi xác định lỗi cõu, cỏc công trình nghiên cứu trước đây vẫn nặng về những lỗi ngữ pháp Có thể hình dung rằng, giả sử cú tỏch cõu đang xét ra khỏi cỏc cõu xung quanh thì vẫn nhận ra lỗi sai của cõu đú Lỗi của cỏc cõu nằm ngay trong chính nội bộ của câu Êy chứ không phải trong quan hệ với cỏc cõu khỏc Việc xét lỗi câu trong văn bản - theo nghĩa là phải đặt câu trong văn bản mới phát hiện ra lỗi- vẫn chưa được quan tâm đúng mức của các nhà khoa học Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về câu nói chung và việc chữa câu nói riêng, luận văn sẽ trình bày theo mét quan điểm nghiên cứu nhất quán: tổ chức việc chữa câu trong bài làm văn của học sinh THCS Trong một giới hạn nhất định, luận văn còng sẽ trình bày những quan điểm riêng về vấn đề khái niệm câu, các loại câu, các loại lỗi câu thường gặp và một số cách chữa lỗi câu Những quan điểm Êy được hình thành từ thực tế giảng dạy tiếng Việt ở các trường phổ thông hiện nay
III NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 121 Nhiệm vụ nghiên cứu
Là một luận văn về chữa lỗi câu trong bài làm văn của học sinh THCS, luận văn cú cỏc nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Khảo sát và phân loại lỗi câu trong bài kiểm tra viết của học sinh THCS Thực hiện nhiệm vụ này, luận văn sẽ trình bày cách thức người giáo viên Ngữ văn cần làm để nắm bắt những lỗi câu mà học sinh THCS thường mắc khi thực hiện các bài viết trong chương trình Lỗi câu của học sinh rất đa dạng bởi tính cá biệt trong diễn đạt và sự phong phú của các kiểu bài… Do đó,
để việc chữa câu có hiệu quả cần phải phân loại các kiểu lỗi câu phổ biến mà học sinh hay mắc trong bài làm văn ở nhà trường THCS hiện nay của Hà Nội
- Trên cơ sở các loại lỗi phổ biến, luận văn sẽ trình bày các phương án chữa câu trong bài làm văn của học sinh, cũng có nghĩa là chữa câu trong văn bản, trong mối quan hệ với những cõu khỏc Mục đích của người giáo viên Ngữ văn không chỉ dừng ở việc chữa cỏc cõu sai thành cõu đỳng mà qua việc chữa, hình thành cho học sinh cách thức để tự chữa lỗi khi viết văn và cao hơn nữa là ý thức trỏnh các lỗi trong diễn đạt Do vậy, luận văn sẽ tập trung trình bày cách thức tổ chức của giáo viên để chữa lỗi câu cho học sinh trờn líp và cả
ở nhà Từ đó, đÒ xuất biện pháp để hạn chế lỗi sai về câu cho học sinh THCS khi làm bài văn
2 Phạm vi nghiên cứu
Vì đề tài của luận văn là việc hướng dẫn học sinh chữa câu sai trong bài làm văn nên chúng tôi tập trung chủ yếu vào việc chữa các lỗi về câu trong các bài làm văn của học sinh THCS Chương trình tập làm văn với các dạng bài, số lượng bài cụ thể trong năm học là những đối tượng cần được xem xét bởi nó là
cơ sở để xét lỗi và tổ chức chữa lỗi cho các em Lỗi trong bài làm có nhiều loại, chữa lỗi về câu trong văn bản phải dựa trờn cơ sở những hiểu biết về câu và về
Trang 13văn bản Do đó vÊn đề về cõu, cõu trong văn bản đã được học trong chương trình là những vấn đề phải được giáo viên làm rõ.
Luận văn nghiên cứu vấn đề tổ chức chữa các loại lỗi câu của học sinh THCS, nên các dạng câu sai thường gặp là đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận văn Lỗi sai trong sử dụng ngôn ngữ còn chịu tác động của yếu tố vùng miền Học sinh Hà Nội sẽ có những lỗi sai khác với học sinh Thanh Hoá.v.v Hơn nữa, quan điểm cần được tôn trọng trong giảng dạy là dạy học phải phù hợp với đối tượng Vì lẽ đó, luận văn sẽ giới hạn đối tượng nghiên cứu là học sinh THCS của Hà Nội
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu dưới đây
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Để tìm hiểu các vấn đề lý thuyết ngôn ngữ làm cơ sở cho nội dung trình bày, luận văn sẽ phân tích các kết quả nghiên cứu về câu ở các giáo trình ngôn ngữ Trên cơ sở đú rút ra những kết luận cần thiết làm cơ sở lý luận cho luận văn
Phân tích ngôn ngữ còn là phương pháp đÓ giúp học sinh nhận ra lỗi câu trong các bài viết của mình
- Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp điều tra, khảo sát cho kết quả về thực trạng lỗi câu của học sinh THCS hiện nay, đồng thời tìm hiểu việc chữa câu sai trong bài làm văn của học sinh ở trường THCS Trên cơ sở đó, luận văn mới đưa ra các biện pháp chữa câu sai một cách hiệu quả
- Phương pháp thực nghiệm
Là một luận văn về phương pháp giảng dạy Tiếng Việt, thực nghiệm là
cách tốt nhất đÓ đánh giá hiệu quả của các biện pháp mà luận văn nêu ra và là
Trang 14cơ sở để đưa ra các đề xuất về việc chữa câu sai trong bài làm văn của học sinh THCS.
V NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Về mặt lý luận, luận văn đã hệ thống hoá và trên cơ sở đó khái quát thành các vấn đề lý luận về cách thức tiến hành việc chữa lỗi câu cho học sinh THCS được sử dụng phổ biến từ trước đến nay trong nhà trường phổ thông Việt Nam
Luận văn là những kinh nghiệm thu được trong việc dạy tiếng Việt nói chung và dạy diễn đạt tập làm văn nói riêng Trên cơ sở những kinh nghiệm
Êy, cùng với những nhận thức mới được tiếp thu từ chương trình học, luận văn
sẽ trình bày một hệ thống các thao tác của người giáo viên trong việc nâng cao chất lượng diễn đạt của học sinh THCS Người giáo viên THCS có thể tìm thấy những chỉ dẫn thiết thực về các loại lỗi câu thường gặp, cách khắc phục các loại lỗi cõu đú và nhất là các biện pháp để giúp học sinh trỏnh cỏc lỗi câu khi diễn đạt bài văn
VI GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu giáo viên xác định được lỗi, chỉ ra chính xác những cơ sở khoa học của việc chữa lỗi throng bài làm văn của học sinh và đề xuất được một hệ thống bài tập thích hợp thì chắc chắn việc rèn luyện đó sẽ giúp cho các em không chỉ viết cõu đỳng ngữ pháp mà còn viết được câu văn mạch lạc, chặt chẽ trong bài làm văn của mình
VII CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc chữa lỗi câu trong bài làm
văn cho học sinh THCS Chương II Tổ chức cho học sinh chữa lỗi câu trong bài làm văn
Chương III Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Cô thể hơn, các tác giả “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” định nghĩa:
“Cõu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập
Trang 16và có ngữ điệu kết thóc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn cú kốm thái độ của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất [11] Gọn hơn, các tác giả của “Dẫn luận ngôn ngữ học” quan niệm: “Cõu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một sự việc, một ý kiến, một tình cảm và một cảm xỳc” [19].
Gần đây, câu được hiểu “là một đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể”[4] Là một đơn vị của ngôn ngữ, cõu đó được nghiên cứu kĩ trên nhiều bình diện Những tưởng thành tựu nghiên cứu về cõu đó đạt đến sù thống nhất Nhưng, cùng với sự phát triển của xã hội, người ta ngày càng thấy tính phức tạp của ngôn ngữ nói chung và đơn vị câu nói riêng
Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của ngữ pháp chức năng, câu lại được nghiên cứu sâu hơn về mặt ngữ dông Để hiểu rõ về câu trong hoạt động hành chức, các nhà khoa học đã phân biệt khái niệm “cõu” và “cỳ” Câu
là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ Cũn cỳ được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một
vị tố và được dùng để diễn tả một sự thể (sự việc) [4], [12], [22]
Tuy cũn những quan niệm khác nhau, nhưng với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ lớn nhất trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, các nhà khoa học đều đã thấy “cõu” có mét số dặc điểm chủ yếu nh sau:
Trước hết, câu có chức năng biểu hiện Câu được dùng biểu hiện những kinh nghiệm mà con người trải qua vÒ các sự thể được nói đến hoặc nghĩ đến Trong giao tiÕp, người ta thường đề cập đến một hoặc những sự thể nào đó trong kinh nghiệm của mình Khi nghiên cứu câu trong chức năng biểu hiện cần xem xét đến hai bé phận:
Trang 17- Xét xem sự thể được nói đÕn thuộc lĩnh vực nào: vật chất, tinh thần, mối quan hệ trừu tượng và giữa chúng là những miền trung gian khác nhau Các sự thể này là động hay tĩnh.
- Xét xem trong sự thể đú cú những yếu tố nghĩa nào tham gia và mỗi yếu tố tham gia với vai nghĩa gì Thực thể tạo ra hành động gọi là động thể, thực thể chịu sự tác động của động từ gọi là đích thể, thực thể tiếp nhận gọi là tiếp thể… cả 3 thực thể đó gọi là tham thể Hoàn cảnh thời gian gọi là cảnh
huống Cả tham thể và cảnh huống gọi là các vai nghĩa VÝ dô: Hôm qua, tôi
tặng nó quyển sách (hôm qua là cảnh huống; tôi là động thể; nã là tiếp thể; quyển sách là đích thể)
Các vai nghĩa được xếp theo trật tự từ quan trọng nhất đến Ýt quan trọng hơn trong nhiệm vụ cấu thành nghĩa sự thể của câu: động thể >đích thể
>tiếp thể >đắc lợi thể > công cụ > vị trí > thời gian[4], [12]
Bên cạnh đú, cõu cũn có chức năng trao đổi, diễn đạt quan hệ liờn nhõn Trong lời trao đổi bao giê cũng có thái độ đối với người nghe nh để sai khiến, nhờ cậy, hỏi, bắt chuyện, bộc lộ tõm trạng… thái độ có thể là tôn trọng hay coi thường… Những hành động được thực hiện trong việc nói nh vậy gọi
là hành động nói Người nghe trong hội thoại không thụ động mà cũng giữ một vai trò tích cực trong việc duy trì hoặc thúc đẩy cuộc thoại Để phát triển cuộc thoại, người nghe có thể tỏ thái độ tán thưởng bằng cách đặt thêm câu hỏi, những yêu cầu, hoặc lời đánh giá của mình với sự thể được nói hay với người núi… Thái độ của người nói đối với người nghe và cách đánh giá của người nói đối với sự thể được nói đến trong lời nh vậy được gọi là quan hệ liờn nhân Ngoài ra, cõu cũn có chức năng tạo văn bản, diễn đạt cách tổ chức một thông điệp Trong mét tình huống cụ thể, câu phải được tổ chức phù hợp với những cái đi trước và những cái đi sau trong văn bản Trong trường hợp này, câu được coi là mét thông điệp Thông điệp được hiểu là tin được mó hoá
Trang 18thành lời nói hoặc lời viết và được truyền đi từ người phát đến người nhận Cách tổ chức câu nh mét thông điệp giúp cho chức năng biểu hiện và chức năng lời trao đổi của câu được thực hiện trong từng tình huống cụ thể Việc tổ chức câu theo cách khái quát của thông điệp trước hết phải chọn từ ngữ làm xuất phát điểm của câu YÕu tố được chọn làm xuất phát điểm của câu được gọi là phần khởi đề Phần còn lại là phần thuyết [4], [5], [12], [22].
Để thực hiện ba chức năng trờn, cõu cú cỏc kiểu cÊu tróc riêng.
Ngữ pháp chức năng cho rằng câu được dùng với 3 chức năng khác nhau
và mỗi chức năng có một cách tổ chức đặc thù trong câu Mỗi cách tổ chức đặc thù làm thành một kiểu cấu trúc dành riêng cho việc thực hiện một chức năng nhất định, không trùng lặp với cấu trúc của chức năng khác Chức năng biểu hiện có cấu trúc biểu hiện Chức năng lời trao đổi có cấu trúc thức và chức năng văn bản có cấu trúc đề - thuyết.[4], [12], [22]…
1.2 Câu trong hoạt động giao tiếp
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu giao tiếp đặc biệt Ngôn ngữ thực sự là ngôn ngữ, khi và chỉ khi được sử dụng trong giao tiếp xã hội Không được cộng đồng dân sử dụng, ngôn ngữ sẽ trở thành tử ngữ Trong giao tiếp, các đơn vị ngôn ngữ đều có những đặc trưng riờng Cõu cũng vậy Câu khi giao tiếp chính
là các phát ngôn Gọi là phát ngôn để phân biệt với khái niệm “cõu” của ngữ pháp cấu trúc Điều này phản ánh tính “rất Ýt được quy phạm hoá về mặt hình thức” của câu trong hoạt động giao tiếp [55]
Trong hoạt động giao tiếp, câu chịu ảnh hưởng của cỏc nhõn tố chính sau:
- Nhân vật giao tiếp: Giao tiếp thường có từ hai người trở lên Hiệu quả
giao tiếp không chỉ phụ thuộc vào người nói mà còn phụ thuộc vào người nghe Mỗi một người có một địa vị riêng, một trình độ riờng… và mét quan hệ riêng đối với người kia nên không thể nói với ai cũng như nhau được Nhân vật giao
Trang 19tiếp khác nhau phải có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau Nếu nói năng không phù hợp với nhân vật giao tiếp thì việc giao tiếp đó chắc chắn sẽ đổ vỡ.
- Hoàn cảnh giao tiếp: Xác định nói với ai rõ ràng là quan trọng Nhưng
xác định nói ở đâu, nói lúc nào cũng quan trọng không kém Cùng một nhân vật giao tiếp nhưng ở trong các hoàn cảnh khác nhau cũng phải có cách nói khác nhau Không thể nói ở nhà nh nói ở cơ quan, nói khi vui đùa nh khi nói trong hội nghị được
- Đích giao tiếp: Xét cho cùng thì mọi giao tiếp đều cú đớch Để đạt được
mục đích giao tiếp thì phải thực hiện được điều cha ông ta đã dạy “lựa lời mà núi” Với mỗi đích khác nhau phải có cách nói khác nhau
- Nội dung giao tiếp: Nội dung giao tiếp là những mảng hiện thực được
nói tới Nó có thể là một vấn đề tình cảm, tư tưởng, khoa học-kĩ thuật thuộc rất nhiều lĩnh vực khác nhau Với mỗi nội dung, cần phải có giọng điệu, phong cách nói phù hợp Do đó, nội dung giao tiếp là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc chọn lời
Do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố nên trong giao tiếp, câu (phát ngôn) không còn - và cũng không cần - giữ được đầy đủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về hình thức, cÊu tạo, ngữ nghĩa vốn có của nã nữa Nó bị tỉnh lược đi rất nhiều Ví dụ:
- Khi nào anh sẽ trở lại Huế?
- Mai.
Cũng có thể, câu bị chêm xen rất nhiều Ví dụ:
- Cái Hà Ý à, con bé Êy thế mà hát hay ra phết chứ lại.
Và cũng có khi, câu bị đảo lộn cả cấu trúc, thậm chí có khi tưởng nh chẳng theo mét quy tắc ngữ pháp nào Ví dụ:
- Đi với chả đứng, cái nhà anh này, hết lên người ta rồi, bắn quá!
Trang 20Câu (phát ngôn) trong giao tiếp nói năng hằng ngày rõ ràng là rất phong phú Tất cả sù “lệch chuẩn” của nó sẽ được người nhận, căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, khôi phục, nắn sửa lại để xác định được đúng ý của người nói Câu (phát ngôn) trong giao tiếp bằng văn bản có những đặc điểm riêng Phát ngôn không đứng một mình mà luôn kết hợp với các phát ngôn khác Vì thế, câu trong giao tiếp luôn có quan hệ về cấu tạo, ngữ nghĩa với cỏc cõu khỏc trong văn bản Hơn nữa, câu trong giao tiếp còn có quan hệ với các yếu tố ngoài văn bản, các nhân tố của hoạt động giao tiếp Trong giao tiếp, cấu tạo của một phát ngôn bị ảnh hưởng của cấu tạo cỏc cõu khỏc Nó mất dần tính độc lập tuyệt đối Cấu tạo của câu trong giao tiÕp phụ thuộc vào chức năng của văn bản Ví dụ nếu phát ngôn đứng đầu văn bản, nã phải là một câu đầy đủ Nhưng nếu nó có chức năng nối kết giữa các đoạn thỡ nú phải có đặc điểm hình thức làm nhiệm vụ liên kết và chứa các phương tiện liên kết Trong quan hệ với văn bản, cỏc cõu phải phù hợp với nhau về nội dung ý nghĩa Quan hệ đó bảo đảm nguyên tắc câu trước làm tiền đề cho sự xuất hiện của câu sau Cùng trong một văn bản, cỏc cõu phải được viết với cùng một phong cách.
Dạy và học câu trong nhà trường trước đây là dạy học câu độc lập Nghĩa
là cõu đó được tách ra khỏi những ràng buộc mà nó vốn có trong cuộc sống Cách dạy Êy khiến học sinh hiểu rất rõ lý thuyết về câu nhưng lại không thể viết được mạch lạc mét chuỗi câu liên tục
Tiếp thu những thành tựu của nghiên cứu câu trong văn bản, chóng ta thấy dạy học câu hiện nay phải và cần phải là dạy học câu trong văn cảnh, trong mối quan hệ lời nói, dạy học câu trong văn bản Cách tốt nhất để dạy cho học sinh viết câu có hiệu quả, vừa đúng về mặt ngữ pháp, vừa đúng về mặt ngữ nghĩa là dạy qua giao tiếp và bằng giao tiếp
1.3 Văn bản và câu trong văn bản
1.3.1 Từ khái niệm văn bản và câu trong văn bản
Trang 21Hiện nay, chưa có định nghĩa nào về văn bản được tất cả các nhà ngôn ngữ học chấp nhận Điều này cũng dễ hiểu vì văn bản là một đơn vị phức tạp.
Để xác định văn bản, các nhà nghiên cứu thường dẫn ra hai tiêu chí là: tính hoàn chỉnh, trọn vẹn về nội dung và tính liên kết chặt chẽ về hình thức Nhưng như GS Đỗ Hữu Châu đã nói “Nhưng thế nào là hoàn chỉnh, thế nào là liên kết và hai tiêu chí đó có thể hiện một cách giống nhau trong các loại văn bản khác nhau về dung lượng, khác nhau về loại hình hay không? Trả lời các câu hỏi trên không phải là chuyện dễ dàng” [12]
Trên cơ sở phân tích nội dung, tính chất của ngôn bản, GS Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa về văn bản: “Văn bản là một biến thể dạng viết liên tục của ngôn bản thực hiện một hoặc một số đích nhất định nhằm vào những người tiếp nhận nhất định thường là không trực tiếp có mặt khi văn bản được sản sinh ra” [12] Từ đó, chúng ta có thể thấy văn bản cú cỏc đặc trưng cơ bản nh sau:
a Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp dưới dạng văn tự
Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau Nhưng chỉ sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dưới dạng văn tự mới được coi là văn bản Vì tồn tại dưới dạng văn tự nên văn bản được trau chuốt và được định hình phong cách Có nhiều ý kiến coi văn bản tồn tại dưới cả 2 dạng viết và nói Quả là có nhiều tác phẩm dân gian độc đáo được truyền miệng, nhiều bài phát biểu của các nhà chính trị thật xuất sắc… xứng đáng là những tác phẩm, bài viết mẫu mực Nhưng chỉ khi được in viết ra chúng mới được định hình xác định về hình thức để ta nghiên cứu, xem xét như một văn bản thực thụ
b Văn bản bao giê cũng có tính hoàn chỉnh về nội dung và hình thức Tính hoàn chỉnh của văn bản làm cho văn bản thường có tên gọi Mỗi văn bản đều thực hiện một đích nhất định “Đớch của ngôn bản là nhân tố hàng đầu quyết định tính hoàn chỉnh của một ngôn bản” [12] Tính hoàn chỉnh của
Trang 22văn bản không phải là tuyệt đối vỡ nú cũn phụ thuộc vào trình độ của người viết, trình độ của người tiếp nhận, hoàn cảnh giao tiếp nhất định… Nói văn bản có tính hoàn chỉnh về nội dung là nói ở một hoàn cảnh cụ thể, văn bản thực hiện được mục đích của nó Tính hoàn thiện về hình thức thể hiện ở việc văn bản có thể tồn tại độc lập, không cần phải thêm bất cứ yếu tố ngôn ngữ nào vào trước và sau nã mà người đọc vẫn hiểu được.
c Văn bản bao giê cũng có tính liên kết
Sẽ chẳng thể có một văn bản nếu các yếu tố tạo nên nú khụng có liên kết, mạch lạc với nhau Toàn bộ các mối liên hệ, quan hệ giữa văn bản với cuộc sống khách quan và giữa các thành tố của văn bản với nhau tạo nên tính liên kết của văn bản Trong quan hệ nội tại, mối liên kết giữa các thành tố, trước hết
là mối liên hệ giữa các ý tưởng trong cỏc cõu, cỏc đơn vị trờn cõu được thể hiện ra nhờ các yếu tố ngôn ngữ được gọi là phương tiện liên kết hình thức Các mặt liên kết nội dung và hình thức Êy được thể hiện ở nhiều cấp độ: cấp độ cỏc cõu tiếp nối, cỏc cõu gián cách và cấp độ các đơn vị trờn cõu như cụm câu, đoạn văn, chương phần trong quy mô văn bản Điều này làm văn bản có tính hệ thống Người đọc có thể hiểu đúng được từng câu, từng đoạn văn bản khi và chỉ khi đặt nó trong mối liên hệ với toàn bộ văn bản
d Văn bản luôn có mục đích
Mọi văn bản tạo ra đều có một mục tiêu cụ thể Đích của văn bản chi phối cách sử dụng, lùa chọn thể loại, phong cách và các phương tiện ngôn ngữ
“Để đi đến đích, văn bản phải được tổ chức sao cho thành một hệ thống trong
đó nội dung và hình thức tạo nên văn bản phải có quan hệ với nhau, quy định lẫn nhau” [12]
Quan niệm về văn bản trên cho ta những chỉ dẫn về các yêu cầu cần phải quan tâm khi dạy học sinh làm một bài văn Tác giả Nguyễn Quang Ninh trong
Trang 23“Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp” đã nêu rõ những nét chung giữa bài làm văn của học sinh với cỏc ngụn bản khác.
- Vì được coi là văn bản nên bài làm văn bao giê phải cú đớch Do vậy, việc đánh giá bài văn của học sinh là phải dựa trờn cơ sở đánh giá xem bài tập làm văn của học sinh có đạt được cỏi đớch đề ra hay không Cỏi đớch đú phải được xem xét từ cả ba phương diện nhận thức, tình cảm và hành động
- Văn bản nào được tạo ra cũng phải tính đến sự tác động của các nhân
tố giao tiếp Bài tập làm văn của học sinh cũng phải tính toán đến các nhân tố giao tiếp như nội dung giao tiếp, đối tượng tham dù giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp…[34]
Quan niệm văn bản như thế nờn cõu trong văn bản cũng được nhìn nhận khác Câu trong văn bản được coi là một phát ngôn, mét đơn vị cơ sở của văn bản Người đề xuất quan niệm này là Trần Ngọc Thêm Trong “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”, ông viết: “Núi một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống trong đó cỏc cõu mới chỉ là phần tử Ngoài cỏc cõu- phần tử, trong hệ thống văn bản cũn cú cấu trúc Cấu trúc văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng
và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên tưởng Êy” Sang chương III, có tên “Phỏt ngụn- đơn vị liên kết văn bản”, ông gọi câu trong văn bản bằng một tên gọi khác: “Từ đây, thay vì nói sự liên kết liờn cõu, ta sẽ nói đến sự liên kết phát ngôn, và thay vì nói cấp độ câu, ta sẽ nói đến cấp độ phát ngôn Cấp độ phát ngôn là cấp độ ngôn ngữ ở dưới cấp độ đoạn văn và ở trên cấp độ từ”[55]
Câu là phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc hay nói ngược lại: những phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc, trên lý thuyết, tương ứng với quan niệm “cõu” xác định theo hai tiêu chí hình thức và cõu trỳc Nhưng trong văn bản, ngoài các phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc (cõu) cũn cú những phát ngôn không
Trang 24hoàn chỉnh về cấu trúc Đây là một chỉ dẫn quan trọng để làm tiêu chí xác định câu sai trong văn bản Nó thể hiện rất rõ sự khác nhau khi xột cõu sai trong văn bản với câu sai đơn lẻ.
Câu trong văn bản, do chịu tác động của các yếu tố nội dung, liên kết, tu từ… nờn nó không phải lúc nào cũng đầy đủ các tiêu chí nh câu độc lập
Có khi nó bị tỉnh lược chủ ngữ VÝ dô:
Mùa xuân, chim chóc kéo về từng đàn Chỉ nghe tiếng hót líu lo mà
không thấy bóng chim đâu
(Nguyễn Thái Vận)
Có khi nó bị tỉnh lược vị ngữ VÝ dô:
Năm 1967 đến Thình lình Cách mạng Văn hoá cài lên một số cao hơn
Ở giai đoạn đầu , Mao chỉ cốt tạo ra không khí khủng bố Nay ông quay sang mục tiêu chính của ông: thay thế “bộ tư lệnh tư bản” và hệ đẳng cấp hiện tồn trong đảng bằng hệ thống quyền lực riêng của ông Lưu Thiếu Kì, Đặng Tiểu
Bình bị đấu và giam giữ Cả Đào Chú.
(Trương Nhung)
Có khi bị lược cả chủ ngữ và vị ngữ VÝ dô:
Sau chuyến đi xuyên Việt cùng Nguyễn Lương Ngọc đó, Hoà Vang có
tiểu thuyết “Tai quỉ” Bõy giờ thỡ cả Nguyễn Lương Ngọc và Hoà Vang có lẽ
lại đầu thai lại cái “dương thế bao la sầu này” Để lại chịu đựng Để lại làm
văn chương Để lại làm lính Để lại bị bệnh ung thư”.
(Nguyễn Thuỵ Kha)
Có khi lược cả một vế của câu ghép chính phụ VÝ dô:
Bọn học trò xưa nay vẫn mến y, vẫn phục y, vẫn coi y như cái kiểu mẫu
để mà theo Những lời nói của y đều được coi là những châm ngôn mà chính y
đã thực hành mãi mãi rồi Chao ôi! Nếu chúng biết rằng đó chỉ là những câu
giáo dục suông, những lời nói dối!
Trang 25(Nam Cao)
Những vớ dụ nh trên có thể thấy xuất hiện nhiều vô kể trong các văn bản Nếu cỏc cõu đú không phải do các nhà văn viết ra thì chắc các thầy cô trong nhà trường sẽ coi đó là cỏc “cõu quố”, “cõu cụt”… Điều này đặt ra vấn đề cần phải bồi dưỡng thêm cho giáo viên ngữ văn phổ thông những kiến thức về ngữ pháp văn bản Trần Ngọc Thờm cú nhận xét đúng “…tuy nhà trường có thể bắt học sinh viết những cõu “tiờu chuẩn” nhưng lại hoàn toàn không thể bắt buộc các em chỉ nghe và đọc những câu “hợp chuẩn” Kết quả là xảy ra một thực trạng nực cười: Có những “cõu” hoàn toàn giống nhau nhưng ở bài viết của học sinh thì bị thầy chê là “sai”, còn ở các nhà văn thì được coi là “đỳng”, thậm chí
“hay” nữa!” [55]
1.3.2 Đến quan niệm về bài làm văn của học sinh THCS
Bài văn của học sinh là một văn bản Đây tưởng là điều không cần bàn cãi gì nữa Theo đó, bài văn của học sinh THCS cũng phải bảo đảm các yêu cầu sau:
- Bảo đảm sự hoàn chỉnh về nội dung
- Bảo đảm sự liên kết chặt chẽ
Nhưng, nếu nhìn bài văn của học sinh THCS như nhìn một văn bản tất cả đều phải hoàn chỉnh thì cũng chưa hẳn đã thấu tình đạt lý Bởi các lý do sau: + Sù bắt buộc về đề tài: Học sinh có khi phải viết về những đề tài các
em không thông hiểu, khụng thớch… Do vậy, khi đòi hỏi về nội dung trong bài văn học sinh, người giáo viên phải chú ý đến đặc điểm này để bảo đảm sự đánh giá hợp lý
+ Sự giới hạn về thời gian Thời gian để viết một bài văn thường không nhiều Học sinh rất Ýt khi có thời gian để đọc lại và sửa chữa
+ Sù quy định về phương thức diễn đạt và cách thể hiện
Trang 26+ Tâm lý thi, kiểm tra đè nặng khiến học sinh không dám vượt qua những điều sách viết, cô dạy.
Có thể nói rằng trong nhà trường, chúng ta đang yêu cầu học sinh phải làm các bài văn khác rất xa với yêu cầu của việc sáng tạo văn bản Học sinh làm bài trong điều kiện bị giới hạn những nội dung đáng lẽ không nên bị giới hạn trong khi đó lại được tự do ở những nội dung đáng lẽ không được tự do Về vấn đề này, chúng tôi đồng tình với các nhận xét của PGS.Nguyễn Quang Ninh khi khảo sát các đề văn trong nhà trường: “ Việc xác định đích trong các bài làm văn còn bị giáo viên xem nhẹ”, “ mang nặng tính sách vở, thiếu hẳn tính phong phú đa dạng của đời sống thực”, “dường như các nhân tố giao tiếp đều
bị gạt ra ngoài sự chú ý của thầy và trũ”…[34]
Vậy cần quan niệm về bài làm văn của học sinh THCS nh thế nào để cú cỏch đánh giá đúng? Có lẽ phải có mét cách hiểu thoáng hơn để việc đánh giá chất lượng bài làm của học sinh được xác đáng hơn:
-Tớnh không hoàn chỉnh do bài làm của học sinh chưa phải là một sản phẩm đã được kiểm định Nó là mét dạng bản thảo TÝnh chất “tập làm” phải được quán triệt để đừng bắt học sinh làm những việc quá sức với các em Quan niệm này cũng tạo cơ sở để bắt buộc giáo viên phải hết sức coi trọng khâu chấm chữa bài cho học sinh
Tính hoàn chỉnh của văn bản chỉ là tương đối Tính hoàn chỉnh của văn bản cần phải được xét ở trong một hoàn cảnh, một mục tiêu giao tiếp nhất định Với những người thuộc các trình độ hiểu biết khác nhau thì nội dung, tính hoàn chỉnh của văn bản cũng khác nhau Một bài văn được đánh giá tốt của học sinh cấp THCS chỉ là một bài văn sơ sài của học sinh cấp THPT cùng đề tài Thế nên, tính hoàn chỉnh trong bài làm văn của học sinh THCS lại càng phải được quan niệm rộng rãi hơn Thực tế cho thấy, ngay cả giáo viên ngữ văn THCS cũng không dễ dàng gì khi viết được một văn bản, thậm chí một đoạn văn đạt
Trang 27yêu cầu Nói điều này không phải để chê năng lực của giáo viên phổ thông yếu
mà là để nói rằng việc viết văn với hàng loạt các yêu cầu ngặt nghèo, đòi hỏi độ
“chuẩn” cao như trong các nhà trường hiện nay không phải dễ
- Bài văn của học sinh là một đơn vị sản phẩm do các yếu tố – các đơn vị ngôn ngữ - nhá hơn tạo thành Các yếu tố Êy kết hợp với nhau không phải là một phép cộng đơn thuần Vì vậy, khi xem xét một bài làm văn cần phải xem xét trên cơ sở tổng thể của cả một văn bản Chúng tôi cho rằng việc đếm ý, đếm cõu… để đánh giá cho điểm như chúng ta đang áp dụng hiện nay là không đúng với bản chất của một văn bản
- Từ đó, khi bắt lỗi sai của học sinh cũng không thể tách riêng một cách
cơ học các yếu tố được Nguyên tắc khi xét lỗi của bài văn là phải đặt nó trong tương quan chỉnh thể của cả bài Điều này cứ ngỡ giáo viên nào cũng biết nhưng thực tế thì không phải vậy Tình trạng cắt vụn bài văn của học sinh rồi
“bắt bẻ” lỗi về chấm câu, dùng từ, đặt câu, viết đoạn… vẫn đang là cách làm phổ biến hiện nay Do đó, học sinh càng ngày càng không dám sáng tạo, không dám bộc lé ý kiến riêng của mình nếu còn muốn bài làm của mình được điểm cao Và đây cũng là nguyên nhân để giải thích tại sao học sinh lại không dám
sử dụng những kiến thức vừa học vào bài làm nếu kiến thức đó xem ra không thực sù “chuẩn” như các em nghĩ Sau khi học xong tiết “Cõu đặc biệt” (tiết 82- líp 7), chúng tôi yêu cầu học sinh viết một bài văn chủ đề về tinh thần học tập của thế hệ trẻ hiện nay Kết quả thu được là không một học sinh nào dựng cõu đặc biệt trong bài viết của mình! Đáng lưu ý hơn nữa là khi chúng tôi chọn một đoạn, trong đoạn có chuyển một câu thành dạng câu đặc biệt để tăng hiệu quả diễn đạt thì rất nhiều giáo viên và học sinh cho câu đó là sai ngữ pháp!
1.4 Quan điểm dạy tiếng trong nhà trường phổ thông
Tiếng mẹ đẻ là thứ tiếng của quê hương, Tổ quốc mình mà ông bà đó dựng từ lâu đời Tiếng mẹ đẻ đã thấm vào cuộc sống và tâm hồn con người từ
Trang 28khi sinh ra Dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh, dù ở bất kì quốc gia nào, cũng có mục đích hàng đầu là nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ cho người học Và muốn vậy thì không có con đường nào tốt hơn là tạo môi trường giao tiếp cho học sinh trong quá trình giảng dạy.
Hiện nay, việc dạy tiếng ở các nhà trường phổ thông vẫn còn nặng về cung cấp kiến thức, nặng về lý thuyết Học sinh nắm được rất nhiều những khái niệm, hiểu biết về ngôn ngữ nhưng viết và nói vẫn không trôi chảy, mạch lạc Cách dạy thoát ly giao tiếp đã bị phê bình là lối dạy hàn lâm kinh viện
Với các cơ sở trên, có thể khẳng định: Giao tiếp là phương pháp quan trọng nhất của dạy tiếng Việt ở nhà trường phổ thông Giao tiếp còn được coi là một nguyên lý hàng đầu của việc dạy tiếng Việt GS Lê A trong “Phương pháp dạy học tiếng Việt” đã viết về phương pháp giao tiếp: “Từ chức năng của ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của xã hội loài người và từ mục đích của việc dạy tiếng là hình thành và nâng cao khả năng giao tiếp cho học sinh có thể thấy giao tiếp vừa là mục đích lại cũng vừa là phương pháp để dạy tiếng Việt Điều này chứng tỏ, phương pháp giao tiếp là phương pháp quan trọng trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp Trên tinh thần này, phương pháp giao tiếp trở thành phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho học sinh” [1] L.S Vygotskij cho rằng ngay từ đầu, ngôn ngữ của trẻ đã mang tính giao tiếp Ông coi ngôn ngữ bên trong, lời nói bên trong là kết quả “hướng nội, nhập tõm” từ lời nói bên ngoài Theo quan điểm này, chúng ta cần phải tăng cường dạy bằng hình thức đối thoại, tăng cường cho học sinh giao tiếp với người xung quanh Qua các hình thức đối thoại Êy, các em sẽ nắm vững kiến thức hơn, bảo đảm việc học đi đôi với hành [48]
Trang 29Để thực hiện hiệu quả phương pháp giao tiếp trong dạy và học ngôn ngữ, người giáo viên cần phải làm tốt các yêu cầu sau:
- Phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến giao tiếp như hoàn cảnh, nhân vật, mục đớch… giao tiếp Sở dĩ phải nắm được các nhân tố này là vì chúng là các cơ sở để sản sinh lời và cũng là cơ sở để đánh giá lời, đánh giá hiệu quả giao tiếp của lời nói (viết)
- Phải tạo ra các tình huống, cung cấp cho học sinh các nhân tố giao tiếp
cụ thể Tạo tình huống là tạo ra một kích thích, tạo ra một môi trường để nảy sinh lời nói (viết) Việc dùng từ, đặt câu, đặc biệt là viết bài rất cần lưu ý đến yêu cầu này Một đề văn “vụ nhõn xưng” của thầy cô ra sẽ chỉ thu về một bài viết phi mục đích, vô hướng, thậm chí là vô cảm từ học trò
- Song song với việc rèn kĩ năng trong sản sinh lời, cần nâng cao cả khả năng phân tích để tiếp nhận tốt lời nói của người khác
- Phải đổi mới đánh giá, phải trờn cỏc tiêu chí, các tiêu chuẩn của một hoạt động giao tiếp để nhận xét, xem xét bài viết của học trò Làm tốt điều này
sẽ tránh được các bài viết hoa mĩ đấy nhưng sáo rỗng, không sáng tạo
Tóm lại, kết quả nghiên cứu về câu của Ngôn ngữ học đã cho chóng ta
cơ sở khoa học để thực hiện việc dạy và học câu trong quan hệ chặt chẽ với văn bản
2 Cơ sở tâm lý - giáo dục học
2.1 Không thể dạy tiếng Việt một cách hiệu quả nếu không tuân theo
những quy luật và đặc điểm tâm lý của học sinh, những quy luật tâm lý trong việc lĩnh hội và sản sinh lời nói đã được khoa học tâm lý và tâm lý - ngôn ngữ học đúc kết Trước khi đến trường, học sinh đã biết sử dụng tương đối thành thạo tiếng Việt ở hai hình thức nghe, nói và mặc nhiên sử dụng được các cấu trúc ngữ pháp thông thường Do đó, mục tiêu của dạy tiếng Việt trong nhà trường phải là nâng cao trình độ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp cho học sinh -
Trang 30nhất là giao tiếp bằng văn bản Những quy luật trong quá trình xuất hiện và phát triển ngôn ngữ ở trẻ em trước và sau khi đến trường, những kết quả của sự chiếm lĩnh các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp ở các lứa tuổi giúp cho chóng ta
đề xuất nội dung và phương pháp rÌn luyện phát triển vốn từ, cấu trúc, khả năng
sử dụng thành thạo các kỹ năng liên kết trong giao tiếp
Đến tuổi thiếu niên, khả năng khái quát, trừu tượng hoá phát triển cao hơn lứa tuổi học sinh tiểu học Nhờ vậy, các em có khả năng tiếp thu các khái niệm trừu tượng trong nội dung các môn học ở trường Tư duy trừu tượng phát triển
là điều kiện thuận lợi để học sinh THCS có thể tiếp thu các khái niệm và quy tắc ngữ pháp vốn là lĩnh vực có tính trừu tượng và khái quát cao Trong ngữ pháp, các khái niệm, các quan hệ, các mô hình cấu trúc, các quy tắc hoạt động và sử dụng mang tính khái quát, trong khi đó thực tế giao tiếp luôn luôn đa dạng và nằm trong trạng thái chuyển hoá linh hoạt
2.2 Xưa nay, dạy tiếng cho học sinh trong nhà trường, chúng ta chú
trọng dạy ngôn ngữ Dạy ngôn ngữ là cần thiết Bởi nh thế là ta cung cấp cho học sinh công cụ, phương tiện để giao tiếp Dạy và học tiếng trong một thời gian khá dài tập trung vào dạy các đơn vị ngôn ngữ Chương trình được thiết kế
để dạy cho học sinh các tầng bậc, cỏc lớp ý khác nhau của ngôn ngữ Vớ dụ nhdạy về đơn vị TỪ, chương trình yêu cầu dạy cả về cấu tạo, nghĩa, phân loại từ,
hệ thống từ … Dạy theo hướng này có điều bất cập là học sinh chỉ biết đến ngôn ngữ chứ chưa chú ý đến các yếu tố ngoài ngôn ngữ Mà thực tế giao tiếp, các yếu tố ngoài ngôn ngữ lại rất quan trọng Ngôn ngữ trong hoạt động không chỉ chịu sự chi phối của các nguyên tắc ngôn ngữ mà còn chịu sự chi phối của các nguyên tắc giao tiếp Nguyên tắc giao tiếp lại chịu sự tác động của các yếu
tố ngoài ngôn ngữ Vì vậy, dạy theo hướng ngôn ngữ thì rất dễ đưa học sinh đến chỗ lời nói đúng ngữ pháp nhưng không được chấp nhận trong giao tiếp Ngôn ngữ trong giao tiếp là ngôn ngữ của đời sống, rất cụ thể, sống động Tuy
Trang 31vậy, nếu cực đoan cho rằng dạy ngôn ngữ chỉ là dạy lời nói thì cũng lại khó được chấp nhận Vì tuy hướng dạy này phát huy được tính sinh động, cụ thể của ngôn ngữ và quan tâm được tất cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ nhưng lại thiếu tính khái quát, tập trung, khó giới hạn, và khó thiết kế chương trình.
Hai quan niệm trên sẽ dẫn đến hai phương pháp dạy Đó là dạy ngôn ngữ qua văn bản hay không cần qua văn bản
Dạy qua văn bản là cách dạy thông dụng nhất cho học sinh người bản ngữ Khi chưa đến trường, các em đã biết nói, biết giao tiếp, có một vốn từ nhất định Vì vậy, dạy qua văn bản phù hợp với quá trình tiếp thu và nâng cao hiểu biết ngôn ngữ Nhưng cách dạy này lại có hạn chế bởi tính thiếu linh hoạt, mang tính áp đặt trước Cách dạy thoát ly văn bản khắc phục được điểm yếu đó nhưng lại mang tính tuỳ hứng, thiếu chặt chẽ Phương pháp tối ưu để dạy ngôn ngữ cho học sinh là phối hợp cả hai cách dạy: Dạy qua văn bản và ngoài văn bản
Tư tưởng của lý thuyết giao tiếp bằng ngôn ngữ quan niệm hoạt động giao tiếp là nhằm mục đích tác động về nhận thức, tình cảm, hành động Theo quan niệm này thì một văn bản mó hoỏ đỳng quy tắc ngôn ngữ chỉ là điều kiện cần thiết để đạt đến mục đích chứ không phải là bản thân mục đích Trong lý thuyết hành động giao tiếp bằng ngôn ngữ thì ngôn ngữ chỉ là phương tiện còn tác động là mục đích Nh vậy, đích của giao tiếp là sự tác động đối với người đọc, người nghe Cho nên, việc đánh giá hiệu quả giao tiếp phải là ở chỗ người đọc, người nghe đó cú sự thay đổi nh thế nào về nhận thức, tình cảm, hành động trước lời nói Và xét từ góc độ này, ta thấy việc hiểu biết về đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp một cách sâu sắc sẽ giúp cho hiệu quả giao tiếp cao hơn Vậy nên, các yếu tố ngoài ngôn ngữ có tác động rất mạnh đến việc lùa chọn các phương tiện ngôn ngữ và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp
Trang 32Khi phương tiện chuyển tải thông tin là những văn bản viết thì chúng ta
bị phụ thuộc vào từ ngữ trên trang giấy, tức là chúng ta bị hạn chế bởi một giác quan duy nhất là thị giác Quá trình giao tiếp này không có sự tiếp xúc trực tiếp của người viết và người đọc, không có hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Do đó nếu không chọn lùa từ ngữ chính xác, ngữ pháp không chuẩn mực…thỡ hiệu quả giao tiếp sẽ hạn chế Trong giao tiếp hội thoại, phương tiện chuyển tải thông tin không chỉ là ngôn từ mà còn là các phương tiện khỏc, cũn cỏc yếu tố phi lời Bản thân các yếu tố phi ngôn ngữ Êy đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng Qua diện mạo, ăn mặc, tư thế, tác phong….ta đã có nhiều thông tin về người đối thoại Các phương tiện nh cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu… có khi cũn “núi” được nhiều thông tin hơn cả những lời mà người nói sử dụng
Phát triển lời nói cho học sinh là cung cấp cho học sinh những hiểu biết cần thiết để nâng cao chất lượng giao tiếp Để phát triển lời nói cho học sinh, ta cần tiến hành hàng loạt các hoạt động mà quan trọng nhất là tạo tâm thế, tạo môi trường để các em được nói, được giao tiếp dưới sự hướng dẫn của thầy Khảo sát các đề văn trong chương trình phổ thông trước đây, ta thấy vấn
đề trên chưa được thực hiện tốt Các em chỉ giao tiếp với một quan hệ quen thuộc là quan hệ thầy - trò Vấn đề các thầy cô yêu cầu học sinh nói là những vấn đề nhiều khi rất xa lạ với lứa tuổi, khô cứng, không tạo được hứng thó Bắt các em nói theo thầy, nói như thầy… đã khiến các em không thích thó với việc
“giao tiếp” trong khuôn khổ chương trình học
Khả năng ngôn ngữ của thiếu niên đang phát triển mạnh Vốn từ tăng lên, tính hình tượng và trình tự lụgớc phát triển Tuy nhiên, ngôn ngữ của các em vẫn còn những thiếu sót nh khả năng dùng từ để biểu đạt ý nghĩa còn hạn chế, chưa chú ý đến cấu trúc ngữ pháp chặt chẽ, chưa thực sự quan tâm đến các yếu
tố ngoài ngôn ngữ trong giao tiếp Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta phải
Trang 33nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy ngôn ngữ trong giao tiếp ở nhà trường phổ thông.
Với quan niệm mới, với những thành tựu nghiên cứu liên ngành của giáo dục học, tâm lý học và ngôn ngữ học, chúng ta tin tưởng rằng việc rèn luyện ngôn ngữ, rèn luyện lời nói cho học sinh trong tương lai sẽ đạt kết quả cao
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Chương trình và sách Ngữ văn THCS
1.1 Yêu cầu của chương trình Ngữ văn THCS
1.1.1 Yêu cầu tích hợp của chương trình.
Để đáp ứng với đòi hỏi của đất nước, của thời đại, giáo dục Việt Nam đang thực hiện đổi mới một cách toàn diện: đổi mới chương trình, sách giáo khoa và đổi mới phương pháp giảng dạy
Chương trình Ngữ văn THCS được thiết kế trên nguyên tắc tích hợp ba phõn mụn: Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn Quan hệ giữa ba phõn mụn chưa bao giê chặt chẽ như thế Kết quả học ngữ văn thể hiện rõ nhất trong các bài viết văn Mỗi bài viết phải thể hiện được sự nắm chắc kiến thức văn học, hiểu và vận dụng tốt kiến thức ngôn ngữ và kĩ năng trình bày một văn bản theo đúng kiểu bài Trong mối quan hệ Êy, một câu trong bài viết sai sẽ biểu hiện nhiều mức độ sai khác nhau Nh sai về kiến thức văn học, sai về cách đặt câu, về liên kết hoặc về phong cỏch… Và điều đó đặt ra cho người giáo viên khi chữa câu sai của học sinh phải đồng thời chữa nhiều loại lỗi khác nhau
1.1.2 Yêu cầu phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học
tập
Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THCS đặc biệt đòi hỏi người giáo viên phải phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập Nhưng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh không phải đơn thuần là giáo viên liên tiếp đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời mà phải
Trang 34làm sao để tạo hứng thó, kích thích học sinh suy nghĩ Nâng cao kĩ năng sử dụng ngôn ngữ qua việc chữa lỗi câu trong bài làm văn của học sinh là một cách tốt để thực hiện việc phát huy tính tích cực chủ động của người học.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động Quan niệm này đã xác định vị trí chủ thể của người học, bảo đảm tính tự giác tích cực và sáng tạo của hoạt động học tập Người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ chứ không phải hoàn toàn thụ động nghe theo, làm theo lời thầy Theo đó, vai trò của người thầy cũng không phải chỉ là người truyền thụ mà là người thiết kế, người uỷ thác, người điều khiển hoạt động dạy học Nguyờn tắc phát huy tính tích cực, tự giác của người học đòi hỏi người thầy phải đổi mới phương pháp để học sinh được hoạt động và thông qua hoạt động mà biết, mà làm được Hơn nữa, để người học nắm được tri thức của nhân loại, dạy học phải chú ý dạy kĩ năng tự học, khả năng vận dụng những điều đã biết để hiểu
và chiếm lĩnh được những điều còn chưa biết Tất cả bắt buộc phải đổi mới phương pháp giảng dạy ở các bộ môn, trong đó có dạy tiếng Việt
Tiếng Việt là môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông Qua tiếng Việt, người học được nâng cao khả năng diễn đạt, khả năng giao tiếp, rèn
tư duy và bồi dưỡng tư tưởng đạo đức Có thể nói, học tốt tiếng Việt là cơ sở để học tốt cỏc mụn khoa học khác
1.1.3 Yêu cầu dạy tiếng trong giao tiếp và bằng giao tiếp
Tiếng Việt là thứ tiếng mẹ đẻ Người học ngay cả khi chưa đi học cũng
đã biết được Ýt nhiều, đã biết nói, biết giao tiếp bằng tiếng Việt Lâu nay, dạy tiếng Việt trong nhà trường không chú ý đúng mức đến đặc điểm riêng của việc dạy tiếng mẹ đẻ nờn đó dạy tiếng Việt cho người Việt nh dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Trang 35Ngôn ngữ có chức năng cơ bản là chức năng làm công cụ giao tiếp Dạy tiếng Việt trong nhà trường phổ thông có mục đích là nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ cho người học Vậy nên cách cung cấp kiến thức, cách dạy
thiên về hiểu các đơn vị ngôn ngữ riêng lẻ không thích hợp Việc dạy tiếng ở
các nhà trường phổ thông trước đây còn nặng về cung cấp kiến thức, nặng về lý thuyết Học sinh nắm được rất nhiều những khái niệm, hiểu biết về ngôn ngữ nhưng viết và nói vẫn không trôi chảy, mạch lạc Cách dạy thoát ly giao tiếp đã
bị phê bình là lối dạy hàn lâm kinh viện Dựa trờn kết quả nghiên cứu của nhiều ngành, PGS.TS Nguyễn Đức Tồn đã lưu ý các cách thức dạy tiếng mẹ đẻ
là “Chỳng ta cần phải cho học sinh xuất phát từ ngữ liệu được quan sát trực tiếp
để khám phá, tìm ra điều cần dạy, cần học…Chỳng ta nên tạo ra cho trẻ nhu cầu cần diễn đạt mà muốn đáp ứng nhu cầu này để giao tiếp với người xung quanh, học sinh cần phải sử dụng hiện tượng ngôn ngữ đang được học…Chỳng
ta cần tạo ra ở trẻ những nhu cầu giao tiếp nhất định để học sinh vận dụng từ ngữ, cõu đó học vào hoạt động giao tiếp…” [48]
Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải chú ý dạy cho học sinh việc tổ chức giao tiếp, phải dạy cho học sinh sử dụng ngôn ngữ đúng với mục đích giao tiếp
Và để phát triển lời nói cho học sinh thì không chỉ dạy nguyên tắc ngôn ngữ mà quan trọng là giúp học sinh giải quyết tốt mối quan hệ với các yếu tố ngoài ngôn ngữ Đú chớnh là phương pháp phát triển lời nói cho học sinh trong dạy học Phương pháp phát triển lời nói cho học sinh vừa là phương pháp dạy cho học sinh tiếng Việt vừa là phương pháp dạy cho học sinh biết cách vận dụng lý
thuyết ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp một cách có hiệu quả Có thể nói từ
chính đặc trưng của tiếng Việt mà lý thuyết về hoạt động giao tiếp đã ra đời Lý thuyết về hoạt động giao tiếp là một phương hướng đúng đắn, khoa học đã và đang đem lại cho việc dạy và học tiếng Việt những kết quả tốt
1.2 Sách giáo khoa THCS về tập làm văn
Trang 361.2.1 Bài kiểm tra TLV trong chương trình Ngữ Văn THCS
Sách giáo khoa THCS dành nhiều thời gian cho làm bài cả ở líp và ở nhà
Thống kê trên chương trình:
- Líp 6: Tổng số có 6 bài viết tập làm văn
- Líp 7: Tổng số có 6 bài viết tập làm văn
- Líp 8: Tổng số có 7 bài viết tập làm văn
- Líp 9:Tổng số có 7 bài viết tập làm văn
Số liệu thống kê trên chưa kể đến 2 bài viết tổng hợp cuối kì I và cuối kì
II trong một năm học Các bài viết tổng hợp này thường là học sinh cũng phải giải quyết một đề tập làm văn hoàn chỉnh
Số lượng bài viết Êy cần một số lượng các tiết trả bài tương ứng Vậy nên, thiết kế giáo án một tiết trả bài nh thế nào cho đạt hiệu quả là một vấn đề đặt ra
Tất nhiên, trong tiết trả bài không chỉ là chữa lỗi trong bài làm văn của học sinh Nhưng thời lượng lớn nh thế của các tiết trả bài là điều kiện để giáo viên thực hiện việc chữa lỗi cho học sinh một cách hệ thống và bài bản trong
cả một năm học
Số lượng các bài viết nhiều nên kết quả các bài kiểm tra tập làm văn có vai trò quyết định đến điểm số đánh giá chung của môn Ngữ Văn Vì vậy, các bài kiểm tra trong chương trình có vai trò hết sức quan trọng
1.2.2 SGK và vấn đề chữa lỗi trong bài làm văn cho học sinh
SGK theo chương trình cũ không chú trọng đến việc chữa lỗi diễn đạt cho học sinh Ngoài yêu cầu chữa văn của học sinh qua một số tiết trả bài tập làm văn ra, chương trình và sách giáo khoa không dành cho việc chữa lỗi một thời lượng nào Do vậy, cả bốn năm học THCS, học sinh không có tiết nào thực
sự được chữa lỗi của mỡnh Xột về mặt phương pháp luận trong dạy học tiếng,
Trang 37một chương trình như thế là chưa khoa học Khi thực tế lỗi của học sinh rất phổ biến nh hiện nay, một chương trình nh thế sẽ hạn chế việc nâng cao chất lượng giảng dạy ngôn ngữ trong nhà trường.
Sách giáo khoa của chương trình cải cách đã khắc phục được sự bất hợp
lý Êy và chương trình đã coi trọng việc chữa lỗi cho học sinh từ chữa lỗi dùng
từ đến chữa lỗi đặt câu Điểm qua chương trình Ngữ văn THCS hiện nay, ta thấy quan điểm dạy tiếng đã đi vào quy trình hợp lý hơn Cụ thể:
* Lớp 6:
- Tiết 23 tuần 6: Chữa lỗi dùng từ
- Tiết 27 tuần 7: Chưa lỗi dùng từ (tiếp)
- Tiết 120 tuần 30: Chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ
- Tiết 127 tuần 32: Chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ (tiếp)
* Líp 7
- Tiết 33 tuần 9: Chữa lỗi về quan hệ từ
* Líp 8
- Tiết 122 tuần 31: Chữa lỗi diễn đạt (lỗi lụgic)
Ngoài các tiết có nội dung là chữa lỗi nh trên, chương trình hiện nay còn dành số tiết rất đáng kể cho ôn tập, luyện tập Số lượng các tiết này nhiều hơn rất nhiều so với chương trình và SGK trước đây
Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt cũ bám sát các đơn vị của ngôn ngữ Học sinh được học theo trỡnh tự : tiếng - từ - ngữ (cụm từ) - câu - đoạn - văn bản Chớnh vỡ quỏ lệ thuộc vào trình tự này nên chương trình trên thiếu sự gắn kết với phõn mụn Tập làm văn Chương trình mới lấy mục đích là dạy học sinh cách sử dụng và nâng cao kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nờn đó linh hoạt trong thiết kế chương trình và sách giáo khoa Đây là sự đổi mới cơ bản thể hiện mét quan điểm hết sức đúng đắn trong lý luận dạy học nói chung và việc dạy tiếng nói riêng Có thể thấy, ở sách giáo khoa mới, chương trình tiếng
Trang 38Việt được kết hợp chặt chẽ với chương trình văn và tập làm văn Như vậy có nghĩa sù liên kết giữa các đơn vị ngôn ngữ luôn luôn được coi trọng và theo đú cỏc đơn vị ngôn ngữ luôn luôn được đặt trong văn bản, trong tình huống giao tiếp.
Nh trên đã nói, số tiết trả bài nhiều đòi hỏi người giáo viên phải coi trọng tiết trả bài Nhưng thực tế hiện nay không phải nh vậy Do không có sách giáo viên, sách hướng dẫn… nhiều giáo viên đã tuỳ hứng trong soạn tiết trả bài Hiện tượng nhận xét chung chung, khen chê đại khái rồi trả bài và gọi điểm vào
sổ là hiện tượng phổ biến trong các tiết trả bài ở các trường phổ thông hiện nay Khảo sát qua giáo án Ngữ văn của giáo viên THCS, chúng tôi thấy tiết trả bài thường được soạn rất ngắn và hầu nh không có những đoạn văn hay, những đoạn văn cần chữa trong giáo án Ngay cả giáo án các tiết chữa lỗi dùng từ và câu, hiện tượng giáo viên chỉ sử dụng một số ví dụ trong các sách giáo khoa là phổ biến Rất Ýt giáo viên có ý thức tìm tòi các ví dụ khác và càng hiếm những
ví dụ được trích trong chính bài làm của học sinh
2 Thực trạng lỗi câu trong diễn đạt hiện nay
2.1 Lỗi cõu trờn cỏc phương tiện thông tin đại chúng
Tình trạng viết câu sai đang trở thành phổ biến trờn cỏc sách báo hiện nay
Đã rất nhiều ý kiến phản ánh, phê bình nhưng tình trạng hình như vẫn chưa được cải thiện Trên mạng diễn đàn giáo dục của Bộ GD&ĐT đã từng đăng tải rất nhiều ý kiến chê trách về những đoạn văn được viết một cách cẩu thả Xin dẫn lại một đoạn đã được các độc giả trích để thấy ngữ pháp Việt Nam đã bị các nhà báo sử dụng như thế nào: “ Trong bữa ăn cơm trưa với Thủ tướng Phan Văn Khải, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc và các quan chức thương mại, ngoại giao của chính phủ ta tại Yokohama, sau khi Thủ tướng đọc phát biểu tại hội nghị
“Tương lai châu Á” mà giáo sư Trần Văn Thọ ở Tụkyo đánh giá là một bài phát biểu Ên tượng nhất hội nghị và ngay chiều hôm đó Thủ tướng gặp Thủ tướng J
Trang 39Koizumi của Nhật bản, trong câu chuyện thân mật với chúng tôi và ban lãnh đạo Tổng công ty hàng không Việt Nam, ông say sưa kể chuyện làm ăn, đầu tư với nước ngoài, chuyện châu Á đang trở thành một trong ba trung tâm lớn của thế giới.” (Bài báo trên http://www Thanhniờn com.vn)
Đó là trờn bỏo mạng, cũn trờn bỏo viết, tình trạng cũng không sáng sủa hơn Có thể dễ dàng tìm được các đoạn viết mà câu sai còn nhiều hơn cõu đỳng
Ví dụ một đoạn trờn bỏo Giáo dục & Thời đại số 43 ra ngày thứ Ba- 11/4/2006:
“ Không Ýt PMU trong ngành GTVT đã tham gia nhiều dự án xây dựng cầu, đường, sân bay, bến cảng, hầm đường bộ, trong đó không Ýt công trình có tầm
cỡ Tuy nhiên, do sù thay đổi mức vốn đầu tư cho giao thông, từ chỗ hạn chế đến tăng đột biến trong vài năm gần đây, đã gây ra những bất cập Đó là sự bất cập trong quy hoạch, khảo sát, thiết kế, giải phóng mặt bằng, đội ngò cán bộ, đấu thầu, quản lý tài chính, kiểm định chất lượng cụng trỡnh….Với mô hình quản lý dự án như hiện nay đã tạo ra sự lạm quyền Riêng PMU 18, với sự kết hợp của cỏc “nhõn vật” chủ chốt, với kiểu quan hệ “mua”, quan hệ “gia đỡnh”, lĩnh vực xây dựng giao thông đã bị rút ruột”
Tình trạng viết sai, nói sai đã đến mức báo động Và điều nguy hại là nếu không hạn chế kịp thời thì tình trạng đó sẽ lây lan và đến một lúc nào đó sẽ được coi là bình thường Tình trạng này chắc chắn sẽ tác động đến việc nói và viết của mọi người nói chung và học sinh phổ thông nói riêng
2.2 Nhận thức của giỏo viên THCS về câu và lỗi câu
Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên THCS, chúng tôi đã tiến hành một thực nghiệm sau:
Đối tượng: Chúng tôi khảo sát 100 giáo viên là các thầy cô dạy Ngữ văn ở
các trường THCS của Hà Nội đang theo học líp Cử nhân do trường Đại học Sư phạm Hà Nội II tổ chức tại Đông Anh
Trang 40Thời gian thực nghiệm: Tháng 04 năm 2006
A Hãy đánh dấu vào những câu mà anh (chị) cho là sai ngữ pháp.
1.Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đanh thép tố cáo giá trị đen tối của đồng tiền trong xã hội đảo điên
2.Hôm qua, 24/2, tại triển lãm Vân Hồ, đã khai mạc hội trợ thiết bị và đồ dùng giáo dục năm 2005
3.Tè Hữu là lá cờ đầu của thi ca Cách mạng và là lá cờ đầu trong suốt nửa thế kỉ
4.Chóng em , những học sinh dưới mái trường xã hội chủ nghĩa
5.Muốn chiến thắng đòi hỏi ta phải chủ động tiến công
6.Tuy Lan học giỏi nhưng nú hỏt rất hay
7.Anh ta đóng cửa xe ô tô lại, ngồi vào trước vô lăng và nổ máy phóng đi
8.Em hãy lấy những câu thơ trong Chinh phụ ngâm, truyện Kiều, Hồ Xuân
Hương để chứng minh ý kiến trên.
B Hãy gạch chân những câu anh (chị) cho là sai trong các đoạn văn
bản sau:
1 Cái chết bất ngờ, thảm khốc và dữ dội của lão Hạc đã làm sáng tỏ những phẩm chất tốt đẹp, nhân cách cao thượng và đáng kính trọng của lão Và người đọc bỗng nhận ra rằng tính cách lão Hạc đầy mâu thuẫn nhưng cũng hết sức nhất quán Một lão Hạc nhân hậu, giàu tình thương cũng chính là một con
người đó khúc vỡ “chót lừa một con chú” Một lão Hạc đã “nhịn ăn để tiền lại