1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng câu hỏi trắc nghiệm và nâng cao cho bài hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

26 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 140,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi, giới hạn đề tài Bài tập chuyên đề thử đi vào tìm hiểu những bài học thuộc phân môntiếng Việt có nội dung Ngữ dụng học thuộc chương trình SGK PTTH líp 10, 11, bộ cơ bản và líp 12

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ do chọn đề tài

Chương trình sách giáo khoa (SGK) THPT chỉnh lí mới đã được thực hiệntrên cả nước trong một thời gian không ngắn nhưng vẫn còn rất nhiều mới mẻ đốivới học sinh và đặc biệt là với người giảng dạy cả đội ngò giáo viên cũ và mới.Với những sinh viên năm cuối, chuẩn bị ra trường và chính thức giảng dạy thìchương trình SGK thực sự là một mối quan tâm lớn và cần thiết

Trong bộ môn Văn trước đây còng nh bé môn Ngữ văn bây giê thìphân môn tiếng Việt bao giê cũng là một khó khăn đối với cả người học vàngười dạy Nhất là khi những kiến thức rất mới mẻ được đưa vào chươngtrình như bây giê thì dạy học tiếng Việt càng cần thiết được nghiên cứu mộtcách kĩ càng Nội dung chuyên đề hướng vào những bài học tiếng Việt có nộidung ngữ dụng chính là một cách tìm hiểu những nội dung kiến thức mới mẻphục vụ thiết thực cho những bài giảng sau này

II Phạm vi, giới hạn đề tài

Bài tập chuyên đề thử đi vào tìm hiểu những bài học thuộc phân môntiếng Việt có nội dung Ngữ dụng học thuộc chương trình SGK PTTH líp 10,

11, (bộ cơ bản) và líp 12 (ban KHXH, bé 2 sách thí điểm), bao gồm ba đơn vịkiến thức: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (líp 10), Ngữ cảnh (líp 11),Hàm ý hội thoại (líp 12)

Chuyên đề chủ yếu thử nhận xét việc xây dựng các đơn vị kiến thứctrên có những ưu điểm và tồn tại gì rồi tìm hướng khắc phục phù hợp nhất đểhọc sinh có thể tiếp nhận hiệu quả nhất Do phạm vi của một chuyên đềkhông cho phép nên chúng tôi chỉ khảo sát về cách xây dựng nội dung líthuyết của ba đơn vị kiến thức nêu trên Trên cơ sở đó thử đưa ra một đề bàitập trắc nghiệm cho một đơn vị kiến thức đó là bài Hoạt động giao tiếp bằng

Trang 2

ngôn ngữ để có thể thử áp dụng kiểm tra và khảo sát hiệu quả tiếp nhận củahọc sinh sau khi đã tiến hành những khắc phục về các mặt còn tồn tại.

III Kết quả đề tài và phương pháp sử dụng

Chuyên đề này có thể trở thành một tài liệu khá bổ Ých cho nhữngngười giảng dạy, nhất là những người mới bước vào nghề Nó có thể khôngphải là những phát hiện hoàn toàn đúng đắn về chương trình SGK nhưngnhững kết quả mà chuyên đề đã rót ra được sẽ là những định hướng nhất định

để tiếp cận kiến thức một cách toàn diện và khoa học Từ những kết quả nàychúng ta có thể áp dụng phương pháp này để tiến hành nghiên cứu các mảngkiến thức khác

IV Cấu trúc chuyên đề

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì phần nội dung của chuyên đềgồm có 3 phần lớn chia làm 3 phần:

Phần I: Cơ sở lí thuyết

Phần II: Nhận xét chương trình SGK

Phần III: Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm và nâng cao cho bài Hoạt

động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

I Cơ sở lí thuyết

Xem xét những bài học có nội dung ngữ dụng học trong chương trìnhSGK Ngữ văn THPT chóng ta phải tiếp xúc với những khái niệm của bộ mônngữ dụng học Cô thể trong những cụm bài tiếng Việt đã giới hạn ở trên đó

là những khái niệm: Hoạt động giao tiếp, nhân vật giao tiếp, ngữ cảnh, hộithoại, hàm ý… Những khái niệm trên thực ra là những khái niệm của các líthuyết dụng học rất chặt chẽ nhưng để học sinh dễ tiếp nhận và thông hiểu nênchúng đã được đơn giản hóa và tách rời ra thành những đơn vị nhỏ Để tiếnhành một bài dạy tiếng Việt thực sự có hiệu quả người giáo viên cần nắm chắccác khái niệm đó để làm cơ sở triển khai cách xây dựng hệ thống câu hỏi còng

nh bài tập cho phù hợp và hiệu quả nhất Những khái niệm sau đây là mộttrong những khái niệm và lí thuyết nền tảng của Ngữ dụng học mà người viếtcoi đó như cơ sở để tiến hành nhận xét, xây dùng câu hỏi trắc nghiệm cũngnhư tạo cái nền kiến thức chung cho thực tế giảng dạy Tuy nhiên ở đây chỉđưa ra những khái niệm mà chương trình chưa có điều kiện đi sâu để học sinhnắm bắt chứ không tham vọng giới thuyết được tất cả các lí thuyết liên quan

1 Nhân tố giao tiếp

Các nhân tố giao tiếp được hiểu là các nhân tố có mặt trong một cuộcgiao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn về hình thức cũngnhư về nội dung Các nhân tố giao tiếp là: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn

Ở đây chỉ xem xét đến khái niệm ngữ cảnh

Ngữ cảnh là những nhân tốt có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưngnằm ngoài diễn ngôn Ngữ cảnh là một tổng thể những hợp phần sau đây:

Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào một cuộc giao tiếpbằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà

Trang 4

tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ Giữa cácnhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân.

Vai giao tiếp: trong một cuộc giao tiếp có sự phân vai, vai phát ra diễnngôn tức là vai nói (viết), kí hiệu là SP1 và vai tiếp nhận diễn ngôn tức vainghe (đọc), kí hiểu SP2 Trong cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói vanghe thường luân chuyển, SP1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe SP2

và ngược lại

Tuy nhiên trong một cuộc giao tiếp bàng lời trừ thuyết ngôn, các vaigiao tiếp trên có thể có mặt hoặc vắng mặt tiếp ngôn hoặc đích ngôn (nóichung là người nhận) có thể ở tình trạng chủ động (có thể đáp ngay lời củangười nói) mà cũng có thể bị động (chỉ tiếp nhận không phản hồi tại chỗ)

Trong một cuộc giao tiếp người tham gia này phải xây dựng nên mộthình ảnh tinh thần về các đặc điểm, trạng thái năng lực của người kia theođích giao tiếp của mình để rồi căn cứ vào các hình ảnh tinh thần đó mà định

ra chiến lược hay kế hoạch giao tiếp, kế hoạch này là một tổ chức gồm cáchành động chủ yếu bằng lời để đạt đến đích của mình

Quan hệ liên cá nhân: quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhânvậy giao tiếp đối với chinh sự phát, nhận trong giao tiếp Quan hệ liên cánhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữacác nhân vật giao tiếp với nhau

Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo 2 trục:trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy, trục hoành là trục củaquan hệ khoảng cách, còn gọi là trục thân cận Quan hệ này có thể thay đổi

Ýt hoặc nhiều trong quá trình giao tiếp Thường thì quan hệ quyền uy sẽ giữnguyên trong quá trình giao tiếp còn quan hệ khoảng cách có thể thay đổi

Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung vàhình thức diễn ngôn Trong các ngôn ngữ, đặc biệt là trong tiếng Việt, xưng

hô chịu áp lực rất mạnh của áp lực liên cá nhân

Trang 5

Hiện thực ngoài diễn ngôn: trừ nhân vật giao tiếp, tất cả những yếu tốvật chất, xã hội, văn hoá có tính cảm tính và những nội dung tinh thầntương ứng không được nói đến trong diễn ngôn trong quá trình giao tiếp đượcgọi là hiện thực ngoài diễn ngôn (đối với ngôn ngữ thì là hiện thức ngoàingôn ngữ).

Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần nhưng hiện thực ngoàidiễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức Khi đã trở thành hiểu biết củanhững người giao tiếp (và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì hiện thựcngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao tiếpcủa ngôn ngữ

Hiện thực ngoài diễn ngôn bao gồm: Hiện thực đề tài của diễn ngôn,hoàn cảnh giao tiếp và thoại trường

Hiện thực - đề tài của diễn ngôn: khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp sửdụng diễn ngôn của mình để nói về một cái gì đó Cái được nói tới là hiệnthực - đề tài của diễn ngôn Hiện thực – đề tài của diễn ngôn trước hết baogồm những cái tồn tại, diễn tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoàidiễn ngôn; cái thuộc tâm giới của con người như cảm xúc, tư tưởng, nguyệnvọng Hiện thực - đề tài của diễn ngôn còn là bản thân ngôn ngữ

Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giaotiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới, vật lý,sinh lý, tâm lý, xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệthuật ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp

Thoại trường: được hiểu là cái không – thời gian cụ thể ở đó cuộc giaotiếp diễn ra Mỗi thoại trường quy định một cách thức sử dụng ngôn ngữ phùhợp với nó

2 Hội thoại

Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,

nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại được

Trang 6

diễn ra theo những quy tắc nhất định Những quy tắc Êy khá mềm dẻo, linhhoạt và gắn bó chặt chẽ với ngữ cảnh.

Các quy tắc hội thoại bao gồm: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời,quy tắc điều hành nội dung của hội thoại và quy tắc chi phối quan hệ liên cánhân – phép lịch sự

Trang 7

II Nhận xét chương trình tiếng Việt có nội dung Ngữ dụng học trong chương trình SGK THPT.

1 Cấu trúc chương trình:

Trong chương trình THPT, kiến thức ngữ dụng được phân chiang trình THPT, ki n th c ng d ng ến thức ngữ dụng được phân chia ức ngữ dụng được phân chia ữ dụng được phân chia ụng được phân chia được phân chiac phân chia

ng u cho c ba kh i líp 10, 11,12 Không ch c gi ng d y tr c

đ đều cho cả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ỉ được giảng dạy trực được phân chia ả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ạy trực ực

ti p trong các b i d y thu c phân môn Ti ng Vi t, n i dung ng d ng cònến thức ngữ dụng được phân chia ài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ạy trực ộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ến thức ngữ dụng được phân chia ệt, nội dung ngữ dụng còn ộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ữ dụng được phân chia ụng được phân chia

c tích h p trong mét sè b i d y thu c phân môn L m v n ây l k tđược phân chia ợc phân chia ài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ạy trực ộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ăn Đây là kết Đây là kết ài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ến thức ngữ dụng được phân chia

qu c a xu hả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ướng tích hợp kiến thức trong giảng dạy Ngữ Văn trong nhàng tích h p ki n th c trong gi ng d y Ng V n trong nhợc phân chia ến thức ngữ dụng được phân chia ức ngữ dụng được phân chia ả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ạy trực ữ dụng được phân chia ăn Đây là kết ài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn

trư ng ph thông H c sinh s có c h i ti p c n v i ki n th c ng d ngổ thông Học sinh sẽ có cơ hội tiếp cận với kiến thức ngữ dụng ọc sinh sẽ có cơ hội tiếp cận với kiến thức ngữ dụng ẽ có cơ hội tiếp cận với kiến thức ngữ dụng ơng trình THPT, kiến thức ngữ dụng được phân chia ộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ến thức ngữ dụng được phân chia ận với kiến thức ngữ dụng ớng tích hợp kiến thức trong giảng dạy Ngữ Văn trong nhà ến thức ngữ dụng được phân chia ức ngữ dụng được phân chia ữ dụng được phân chia ụng được phân chia nhi u chi u, nhi u góc ều cho cả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ều cho cả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ều cho cả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực độc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ến thức ngữ dụng được phân chia ki n th c Trong ph m vi chuyên ức ngữ dụng được phân chia ạy trực đều cho cả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn n y chỉ được giảng dạy trựcxem xét nh ng b i d y ti ng Vi t C u trúc chữ dụng được phân chia ài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt, nội dung ngữ dụng còn ạy trực ến thức ngữ dụng được phân chia ệt, nội dung ngữ dụng còn ấu trúc chương trình ngữ dụng ở bậc ương trình THPT, kiến thức ngữ dụng được phân chiang trình ng d ng b cữ dụng được phân chia ụng được phân chia ận với kiến thức ngữ dụngtrung h c ph thông ọc sinh sẽ có cơ hội tiếp cận với kiến thức ngữ dụng ổ thông Học sinh sẽ có cơ hội tiếp cận với kiến thức ngữ dụng được phân chiac th hi n c th trong b ng th ng kê dể hiện cụ thể trong bảng thống kê dưới đây: ệt, nội dung ngữ dụng còn ụng được phân chia ể hiện cụ thể trong bảng thống kê dưới đây: ả ba khối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ối líp 10, 11,12 Không chỉ được giảng dạy trực ướng tích hợp kiến thức trong giảng dạy Ngữ Văn trong nhà đi ây:

1 SGK 10 – T1.

- Hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ (thế nào là hoạt động giaotiếp bằng ngôn ngữ)

- Hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ (tiếp theo) (Luyện tập)

Bài 1 –trang 14

Bài 2 –trang 20

2 SGK 11 – T1.

- Ngữ cảnh+ Khái niệm

+ Các nhân tố của ngữ cảnh

+ Vai trò của ngữ cảnh

+ Luyện tập

Bài 10 –trang 102

Bài - trang236

Dùa vào bảng thống kê, có thể thấy cấu trúc chương trình ngữ dụng ởbậc trung học phổ thông khá đồng đều Nội dung ngữ dụng được phân bốđảm bảo cho mỗi khối líp đều có điều kiện giảng dạy kiến thức ngữ dụng.Việc phân chia cấu trúc chương trình như vậy sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến

Trang 8

thức ngữ dụng một cách hệ thống Các kiến thức ngữ dụng trong chươngtrình học THPT ở mức độ chuyên sâu hơn, nội dung bài học đa dạng vàphong phú hơn, bài tập đưa ra có số lượng lớn hơn so với những líp dưới, tạođiều kiện cho học sinh thực hành kiến thức

Ở chương trình sách giáo líp 10, kiến thức ngữ dụng phân bố trong mộtbài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” được giới hạn trong hai tiết Nộidung ngữ dụng trong chương trình líp 10 chiếm 7,56% chương trình TiếngViệt (kể cả phần Ôn tập cuối năm) Nhìn chung đây là một tỉ lệ hợp lí, kiếnthức ngữ dụng đưa vào không quá dài cũng không quá ngắn Với hai tiết dạynày, học sinh hoàn toàn có thể nắm được những kiến thức cơ bản, đồng thời

có thời gian luyện tập về những nội dung kiến thức vừa lĩnh hội

Ở chương trình sách giáo líp 11, kiến thức ngữ dụng có trong một bài

“Ngữ cảnh”, giới hạn trong một tiết, chiếm gần 5,5% cấu trúc chương trìnhTiếng Việt (kể cả bài Ôn tập) So với líp 10, tỉ lệ nội dung ngữ dụng đưa vàosách giáo khoa ở líp 11 có giảm đi Nhưng trên thực tế, trong một tiết học Êy,học sinh được tiếp cận với rất nhiều kiến thức (khái niệm, các nhân tố củangữ cảnh, vai trò của ngữ cảnh) đồng thời phải giải quyết một khối lượng bàitập nhất định Do vậy, có thể thấy kiến thức ngữ dụng đưa vào líp 11 là cũngđáng kể

Ở chương trình sách giáo líp 12, kiến thức ngữ dụng được giới thiệutrong một bài “Hàm ý hội thoại”, giới hạn trong ba tiết Cấu trúc chương trìnhngữ dụng líp 12 chia đều cả lí thuyết và luyện tập ở ba tiết Trong từng tiếthọc, học sinh vừa được tiếp cận với các nội dung kiến thức vừa được thựchành Nh vậy học sinh sẽ không bị giãn cách trong việc tiếp nhận, kiến thứcvừa được lĩnh hội sẽ được củng cố lại qua thực hành Việc phân chia cấu trúcchương trình như vậy còn phù hợp với nội dung kiến thức, bởi trong hai tiết,học sinh được tiếp cận với một khối lượng kiến thức khá lớn (khái niệm hàm

ý hội thoại, cách thức tạo câu có hàm ý)

Trang 9

Nhìn chung kiến thức ngữ dụng được đưa vào phân môn tiếng Việttrong chương trình THPT được phân bố khá hợp lí, vừa tầm nhận thức vàcũng vừa đủ tầm để có thể vận dụng được.

2 Nội dung kiến thức.

Trong bố cục của một bài tiếng Việt bao giê cũng gồm hai phần: líthuyết và luyện tập Đi vào xem xét nội dung kiến thức được đưa ra trongchương trình người viết cũng đi theo hướng đó

2.1 Nội dung kiến thức

2.1.1 Bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” (tiết 1)

Nội dung kiến thức về ngữ dụng được đưa vào chương trình líp 10 làvừa sức với học sinh Những kiến thức về hoạt động giao tiếp, nhân vật giaotiếp, vai giao tiếp, lượt lời, hoàn cảnh, nội dung giao tiếp, mục đích giaotiếp đều đã được trình bày cho học sinh tiếp cận từ các líp dưới

Về ngữ liệu: trong phần 1, ngữ liệu Hội nghị Diên Hồng ngắn gọn, rõràng, bảo đảm đủ thông tin để phân tích cho học sinh nắm được hoạt độnggiao tiếp bằng ngôn ngữ Văn bản đưa ra cũng đã quen thuộc với học sinh từchương trình THCS nên dễ tiếp cận Trên nền văn cảnh quen thuộc, học sinh

sẽ dễ dàng trả lời chính xác các câu hỏi do SGK đặt ra

Câu hỏi để phân tích ngữ liệu rõ ràng, dễ hiểu, có kèm theo câu hỏi gợi

mở để học sinh tiếp cận vấn đề từng bước là rất khoa học Câu hỏi đặt ra ởhai phần, nhìn chung không có câu nào đặt học sinh vào tình thế quá khó đểlùa chọn câu trả lời Mỗi câu hỏi đề cập đến một vấn đề của hoạt động giao

Trang 10

tiếp, có logic trình tự hợp lí, đi từ đối tượng thực hiện hoạt động giao tiếp(nhân vật giao tiếp), qua sự luân phiên lượt lời của hoạt động giao tiếp đếnhoàn cảnh giao tiếp để từ đó hiểu nội dung cuộc giao tiếp, nhằm mục tiêucuối cùng là hiểu mục đích giao tiếp, kết quả giao tiếp Phân bố câu hỏi theotrình tự Êy, học sinh sẽ có được tâm thế nhận thức về hoạt động giao tiếp mộtcách logic và khoa học.

b Tồn tại

Trong phần ghi nhớ tổng kết cuối tiết học, SGK chia ra 3 nội dung cơbản rất rõ ràng: khái niệm về hoạt động giao tiếp, hai quá trình hình thànhhoạt động giao tiếp và các nhân tố chi phối đến hoạt động giao tiếp Tuy

nhiên, phần đề mục của tiết học lại chỉ đề cập đến “Thế nào là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” rất dễ khiến học sinh hiểu rằng bài học chỉ tìm hiểu

về khái niệm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Do đó, để thống nhất vớinội dung bài học cũng như kiến thức cơ bản cần nắm cuối bài, nên sửa mục Ithành “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” sẽ khái quát đúng được các nộidung trong bài học

Không chỉ có sự không thống nhất giữa đề mục và ghi nhớ, mà giữanội dung bài học và những kiến thức cần ghi nhớ cũng tồn tại một số chênh

lệch Mục đầu tiên của ghi nhớ nêu khái niệm hoạt động giao tiếp là “hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ (dạng nói và dạng viết), nhằm thực hiện những mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hành động” Mục 2 của ghi nhớ nêu lên: “Mỗi hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình: tạo lập văn bản (do người nói, người viết thực hiện) và lĩnh hội văn bản (do người nghe, người đọc thực hiện) Hai quá trình này diễn ra trong quan hệ tương tác” Nhưng trong cả

hai phần hệ thống câu hỏi phân tích ngữ liệu không có một câu nào đề cập

đến “hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là gì” và quá trình thiết lập hoạt

động giao tiếp

Trang 11

Để “nâng cao kĩ năng phân tích, lĩnh hội và tạo lập văn bản trong giao tiếp” nh phần Kết quả cần đạt đưa ra, trước hết cần giúp học sinh

“nắm được kiến thức cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” Nếu

những kiến thức Êy chỉ được đưa ra trong quá trình giáo viên giảng hoặc ởphần ghi nhớ, học sinh sẽ bị đặt vào thế bị động, áp đặt tiếp nhận kiến thức,làm giảm vai trò tích cực chủ động của học sinh Do đó cần thiết phải đưa racâu hỏi để học sinh tự phát hiện và lĩnh hội hai vấn đề trên

Chẳng hạn, trước khi đưa ra 2 ngữ liệu 1 và 2 cùng các hệ thống câuhỏi phân tích ngữ liệu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh chia làm 2 nhóm,thực hiện giao tiếp với nhau bằng hai dạng nói và viết về một nội dung nhấtđịnh: một nửa líp giao tiếp bằng ngôn ngữ nói về thời tiết; nửa líp còn lạigiao tiếp bằng ngôn ngữ viết bằng cách viết một tờ đơn xin nghỉ học Sau đóchọn bất kì và đưa ra câu hỏi để học sinh tiếp cận vấn đề:

- Hoạt động bàn bạc về thời tiết và viết đơn xin nghỉ học là hoạt độnggiao tiếp Hoạt động đó được tạo lập nh thế nào? Nhằm mục đích gì?

- Khi thực hiện một hoạt động giao tiếp, chúng ta đã thực hiện nhữnghành động gì? Sử dụng phương tiện gì là chủ yếu? Ngoài ra còn dùng nhữngphương tiện nào?

Đưa thêm hoạt động này vào, học sinh vừa hiểu rõ được về hoạt độnggiao tiếp, vừa được áp dụng kiến thức vào thực tiễn để bước đầu hoàn thành kĩnăng

Tuy nhiên, với nội dung kiến thức này, yêu cầu rèn luyện, nâng cao kĩnăng phân tích, lĩnh hội và tạo lập văn bản trong giao tiếp là trọng yếu Do

đó, cần bố trí câu hỏi phân tích về các nhân tố chi phối hoạt động giao tiếpvối số lượng lớn như SGK đã đưa là hợp lí

Về kĩ năng, ở mục 2, ngữ liệu được chọn là bài Tổng quan văn họcViệt Nam có dung lượng quá dài và ở mức độ khó so với học sinh đang tìmhiểu về hoạt động giao tiếp Việc đưa ngữ liệu dài sẽ làm học sinh phân tán,

Trang 12

khó tập trung vào kiến thức cần nắm Ngữ liệu này khó ở chỗ người tạo lập

và người tiếp nhận văn bản đều không thể xác định cụ thể, hoàn cảnh tạo lậpgiao tiếp cũng không rõ ràng, học sinh khó trả lời một cách chính xác các câuhỏi Nên chọn một đoạn trong văn bản hoặc thay bằng một ngữ liệu ngắnhơn: một bài thơ, một bài ca dao hoặc một truyện cười dân gian

2.1.2 Bài Ngữ cảnh

a Ưu điểm.

Phần nội dung lí thuyết của bài học Ngữ cảnh được phân bố rất rõràng, rành mạch từ đề mục lớn đến các đề mục nhỏ Trình tự của các phần (từphần lớn đến phần nhỏ) cũng được sắp xếp, đảm bảo tính logic và khoa học:

đi từ khái niệm đến các nhân tố cấu thành và cuối cùng là vai trò của ngữcảnh Trình tự này hoàn toàn phù hợp với quy luật tiếp nhận và nhận thức củahọc sinh Nội dung kiến thức đưa vào bài học là vừa sức với học sinh Bàihọc gần như là một sự hệ thống lại kiến thức cho học sinh dễ có cái nhìn kháiquát về kiến thức, tránh sự nhỏ lẻ vụn vặt và nhầm lẫn các khái niệm như ởcác líp dưới, chứ không mang tính chất trình bày kiến thức hoàn toàn mới

Các nội dung của Ngữ cảnh được đưa ra rất linh hoạt và không gâynhàm chán Cụ thể nh sau:

Trong mục “Khái niệm”, kiến thức được đưa ra theo hình thức quy

nạp: đi từ ví dụ cụ thể để đưa ra khái niệm Ngay trong cách đưa ngữ liệu đã

có thể gây hứng thó cho học sinh, đó là cách đưa ra hàng loạt các câu hỏi và

khẳng định theo lối phản đề: “Nếu đột nhiên nghe được câu nói này, không biết bối cảnh sử dụng của nó thì khôn mét ai có thể trả lời được những câu hỏi trên” Cách đặt vấn đề này gây chú ý và học sinh sẽ tập trung vào phần

trả lời và phân tích ngữ liệu ở mục sau

Đến mục “Các nhân tố của ngữ cảnh”: kiến thức lại được đưa ra theo

hình thức diễn dịch Nghĩa là, SGK đưa ra khái niệm trước, sau đó mới lấyngữ liệu và phân tích ngữ liệu để mình hoạ làm sáng rõ

Trang 13

Về ngữ liệu được lùa chọn: mang tính chất tích hợp giữa ngữ và văn,lại là những ngữ liệu quen thuộc, dễ tiếp vận và phân tích, rèn luyện khả năngphân tích tác phẩm văn chương từ góc độ của ngữ dụng học, của hoạt độnggiao tiếp bằng ngôn ngữ

Phần ghi nhớ đưa ra 3 điểm tương ứng với 3 phần lớn trong nội dungbài học rất súc tích, rõ ràng và thể hiện được sự nhất quán cao Các nội dungđưa ra đều hướng tới và phục vụ cho kiến thức cần ghi nhớ ở cuối bài

b Tồn tại.

Bài học Ngữ cảnh được thiết kế trên hình thức diễn giải là chủ yếu.Nhìn vào nội dung lí thuyết này học sinh không có cơ hội để phát huy tínhchủ động, tính tích cực trong lĩnh hội kiến thức Các khái niệm về ngữ cảnhkhông phải là những khái niệm đơn giản nên việc đưa trực tiếp khái niệm đểhọc sinh nắm bắt là hợp lí, song cần thiết phải phân tích rõ ràng ngữ liệu, đểtránh học sinh ghi nhớ máy móc

Phần 1 đưa ra cách khẳng định phản đề gợi sự chú ý và tò mò của họcsinh Phần 2, khi đưa ra bối cảnh phát sinh của câu: “Giờ muộn thế này mà

họ chưa ra nhỉ?” nên bỏ phần phân tích ngữ liệu mà thay vào đó là yêu cầuhọc sinh dùa vào bối cảnh trên hãy trả lời các câu hỏi mà phần 1 đã đưa ra đểthấy được vai trò của bối cảnh và nhận diện về bối cảnh Nh thế khi đưa rakhái niệm bối cảnh, học sinh sẽ dễ dàng hiểu rõ bản chất Có thể để nguyênphần khái niệm vì rót ra khái niệm chính xác là một yêu cầu hơi khó đối vớihọc sinh THPT

Ở phần 2 và 3 còng vậy Nên xây dựng theo cách đưa khái niệm ra và yêucầu học sinh từ khái niệm cơ bản đó phân tích ngữ liệu trên để thấy trong ngữliệu Êy đâu là nhân vật giao tiếp, đâu là bối cảnh ngoài ngôn ngữ, đâu là văncảnh để từ đó rót ra vai trò của ngữ cảnh đối với người nói (người viết) và ngườinghe (người đọc) Nh vậy, vừa kiểm tra được mức độ hiểu khái niệm của họcsinh vừa phát huy được tính tích dực, chủ động của học sinh trong giê học

Ngày đăng: 18/12/2014, 02:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w