1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên

81 938 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 3,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của một số tổ chức đến sự phát triển nghề sản xuất cánh kiến đỏ tại khu vực nghiên cứu .... Đề xuất các giải phát phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ tại khu vực nghiên cứu ...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NUÔI THẢ CÁNH KIẾN ĐỎ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC

H'MÔNG XÃ HUỔI LÈNG - HUYỆN MƯỜNG CHÀ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang LỜI NÓI ĐẦU

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 01

Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 03

2.1 Lịch sử sản xuất cánh kiến đỏ 03

2.2 Các công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ 04

2.2.1 Trên thế giới 04

2.2.2 Ở Việt Nam 08

Chương 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12

3.1.1 Mục tiêu chung 12

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 12

3.2 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu 12

3.3 Nội dung nghiên cứu 12

3.4 Phương pháp nghiên cứu 13

3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp 13

3.4.1.1 Chuẩn bị 13

3.4.1.2 Điều tra 13

3.4.2 Phương pháp nội nghiệp 18

Chương 4: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 19

4.1 Điều kiện tự nhiên 19

4.1.1 Vị trí địa lí 19

4.1.2 Địa hình, địa mạo 19

4.1.3 Khí hậu 19

4.1.4 Sông suối thuỷ văn 20

4.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng 21

4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 21

4.2.1 Dân sinh 21

4.2.2 Kinh tế 21

4.2.3 Cơ sở hạ tầng 22

4.2.4 Văn hóa xã hội, thực trạng y tế, giáo dục 22

Trang 3

4.2.5 Các dự án hỗ trợ phát triển 23

Chương 5:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

5.1 Đánh giá hiện trạng nuôi thả cánh kiến 24

5.1.1 Đánh giá hiện trạng rừng cây chủ thả cánh kiến đỏ 24

5.1.1.1 Hiện trạng diện tích rừng cây chủ cánh kiến đỏ 24

5.1.1.2 Đánh giá mật độ và tình hình sinh trưởng của rừng Cọ khiết 26

5.1.1.3 Đánh giá thực trạng nuôi thả cánh kiến đỏ tại xã Huổi Lèng 27

5.2 Đánh giá vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đỏ đến phát triển kinh tế xã hội tại địa phương 31

5.2.1 Vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đến kinh tế hộ gia đình 31

5.2.2 Vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đỏ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 37

5.3 Phân tích thị trường tiêu thụ cánh kiến đỏ tại địa phương 39

5.3.1 Thị trường tiêu thụ cánh kiến đỏ trên thế giới và tại Việt Nam 39

5.3.2 Thị trường cánh kiến xã Huổi Lèng 40

5.4 Vai trò của một số tổ chức đến sự phát triển nghề sản xuất cánh kiến đỏ tại khu vực nghiên cứu 44

5.5 Phân tích thuận lợi khó khăn và đưa ra giải pháp phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ xã Huổi Lèng 47

5.5.1 Thuận lợi, khó khăn 47

5.5.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với nghề nuôi thả cánh kiến xã Huổi Lèng 50

5.5.3 Đề xuất các giải phát phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ tại khu vực nghiên cứu 51

Chương 6: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 54

6.1 Kết luận 54

6.2 Tồn tại 55

6.3 Kiến nghị 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, có nhiều sản phẩm rừng quý hiếm, đặc biệt là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ như sa nhân, thảo quả, quế, hồi … Một trong những đặc sản rừng đó là nhựa cánh kiến đỏ

Điện Biên là tỉnh có diện tích nuôi thả cánh kiến đỏ lớn của cả nước Trồng cây chủ nuôi thả cánh kiến đỏ đang làm thay đổi đời sống kinh tế, xã hội của người dân, đặc biệt là người dân tộc ít người của các xã khó khăn vùng 135 Được sự đồng ý của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường,

trường Đại học lâm nghiệp tôi thực hiện đề tài : “Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên”

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Trần Ngọc Hải; sự quan tâm giúp của các thầy cô giáo trong bộ môn Thực vật rừng; Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường; đặc biệt là sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã và bà con người H’mông xã Huổi Lèng Nhân dịp hoàn thành đề tài tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ quý báu đó

Mặc dù có nhiều cố gắng song do năng lực và thời gian còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, với tinh thần học hỏi và cầu thị tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Hà Tây, ngày 09 tháng 05 năm 2008 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Kim Phượng

Trang 5

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhựa cánh kiến đỏ là sản phẩm đặc biệt của tự nhiên Cánh kiến đỏ chỉ phân bố ở một số vùng của các nước Nam Á như: Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc, Lào… Cánh kiến đỏ được sử dụng hơn 2000 năm nay để làm thuốc, chất nhuộm, đánh bóng gỗ Hiện nay nhựa cánh kiến đỏ được sử dụng rộng rãi nhất trong các ngành công nghiệp Với những tính năng đặc biệt mà không một lọai nhựa tổng hợp nhân tạo nào có thể thay thế được, chính vì vậy mà nhựa cánh kiến đỏ là một mặt hàng quan trọng có giá trị kinh tế cao và là mặt hàng độc quyền của các nước Nam Á

Việt Nam cũng có nghề nuôi thả cánh kiến đỏ từ rất lâu đời Những năm 1963 – 1988 cánh kiến đỏ là sản phẩm thế mạnh của ngành Lâm nghiệp, sản phẩm chế biến của nhựa cánh kiến đỏ (gọi là Shellac) được xuất sang Liên Xô và các nước Đông Âu, trung bình mỗi năm chúng ta xuất sang Liên

Xô 100 tấn Shellac một năm Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã thị trường cánh kiến đỏ của nước ta thu hẹp lại, nghề nuôi thả cánh kiến đỏ không được quan tâm phát triển nữa Một vài năm trở lại đây do nhu cầu sử dụng nhựa cánh kiến đỏ tăng lên, nhiều địa phương lại quan tâm phát triển nghề này

Cánh kiến đỏ phân bố tự nhiên ở các tỉnh phía Bắc kéo dài đến mãi Hà Tĩnh Trước kia, người ta chỉ tập trung vào khai thác cánh kiến đỏ từ tự nhiên

mà chưa quan tâm đưa cây chủ vào trồng rừng Ngày nay, khi nhu cầu nhựa cánh kiến lớn, sản xuất chỉ dựa vào tự nhiên không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, vì vậy nhiều địa phương đã trồng cây chủ để thả cánh kiến đỏ Đặc biệt các tỉnh vùng Tây Bắc (cái nôi của sản xuất cánh kiến đỏ) như: Sơn La, Lai Châu và Điện Biên còn đưa cây chủ thả cánh kiến đỏ vào trồng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất nhựa cánh kiến

Huổi Lèng là xã vùng cao thuộc tỉnh Điện Biên nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc H’Mông Trước kia, với tập quán du canh du cư, phá

Trang 6

rừng làm nương rẫy làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng, đất đai xói mòn thoái hoá; đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn Hiện nay người dân đã sống định canh định cư nhưng do địa hình toàn đồi núi cao, không có diện tích trồng lúa nước đời sống của người dân vẫn chưa được cải thiện Từ khi đưa cây Cọ khiết vào trồng rừng phòng hộ kết hợp với nuôi thả cánh kiến đỏ, người dân nhận thấy cảnh quan rừng xanh và ổn định, đời sống kinh tế phát triển

Sản xuất cánh kiến đỏ đã và đang làm thay đổi đời sống vật chất, tinh thần, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho cộng đồng người H’Mông, góp phần vào bảo vệ và phát triển rừng Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu hiện trạng và vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến với người dân tộc

H’Mông xã Huổi Lèng Chính vì vậy tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp “Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc HMông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên” với mong muốn giúp địa phương phát triển và nhân rộng mô

hình nuôi thả cánh kiến đỏ ra toàn xã

Trang 7

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Lịch sử sản xuất cánh kiến đỏ

Cánh kiến đỏ có từ thời cổ xưa, cái tên Lacca của rệp cánh kiến đỏ

(Kerria lacca) theo tiếng Ấn Độ có nghĩa là hàng trăm nghìn Từ những thế kỉ

trước công nguyên người Ấn Độ đã biết sử dụng cánh kiến đỏ làm thuốc chữa bệnh sốt rét mãn tính, bệnh thấp khớp… Về sau người ta sử dụng cánh kiến

đỏ làm thuốc nhuộm gam màu đỏ Chất nhuộm màu cánh kiến đỏ được sản xuất thành bánh khô ở Ấn Độ và được xuất khẩu đi nhiều nước Lúc bấy giờ nhựa cánh kiến đỏ được sử dụng đánh bóng đồ gỗ, đồ mỹ nghệ…

Vào cuối thế kỷ XIX khi hàng loạt chất nhuộm tổng hợp ra đời với giá thành rẻ hơn thì thị trường màu nhuộm cánh kiến đỏ bị đóng cửa, tuy nhiên việc sử dụng cánh kiến đỏ trong các lĩnh vực của công nghiệp ngày càng nhiều Hiện nay cánh kiến đỏ đã trở thành mặt hàng quan trọng có giá trị kinh

tế cao, sản phẩm độc quyền của các nước Nam Á Các nước sản xuất cánh kiến đỏ lớn hiện nay là Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Trung Quốc… Trong đó Ấn Độ và Thái Lan là hai nước sản xuất nhiều nhất, sản lượng nhựa hai nước chiếm 80 – 90% sản lượng nhựa của toàn thế giới Tại Ấn Độ nhựa cánh kiến đỏ xếp hàng thứ 10 trong các mặt hàng xuất khẩu lâm nghiệp

Tại Việt Nam chất nhuộm cánh kiến đỏ cũng đã được sử dụng từ lâu Trong các vật liệu khảo cổ có tấm vải nhuộm từ nhựa cánh kiến đỏ có tuổi hơn 300 năm (Lê Văn Giai) [Kinh nghiệm sản xuất cánh kiến đỏ trang 76] Trước những năm 1945 người Pháp cũng cho sản xuất cánh kiến đỏ ở Việt Nam Họ thường trồng cây chủ quanh làng xã ven đường Rệp cánh kiến đỏ phân bố tự nhiên ở miền Bắc nước ta tại các tỉnh vùng núi: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh Sơn La là cái nôi của sản xuất cánh kiến đỏ Suốt 17 xã dọc sông Mã đều có cánh kiến đỏ, nhân dân ở đây có nghề nuôi thả sản xuất cánh kiến đỏ từ lâu Tại tỉnh Lai Châu (cũ) cánh kiến đỏ có nhiều tại các huyện: Điện Biên, Tủa Chùa, Mường

Trang 8

Lay, Sìn Hồ, Phong Thổ và Mường Tè Vùng cánh kiến đỏ Hòa Bình – Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh được nối liền từ Mai Châu – Quế Phong – Tương Dương – Kỳ Sơn kéo dài đến Hà Tĩnh, cả về phía Lào và ta đều là vùng phân

bố tự nhiên của cánh kiến đỏ Theo đề tài Phó tiến sĩ của Nguyễn Xuân Thanh

1991 [trang 88] thì vùng Đắc Lắc, Plây cu cũng có cánh kiến đỏ; tuy nhiên nhân dân ở đây không có tập quán thả rệp cánh kiến đỏ

Từ những năm 1960 đến đầu năm 1990 Nhà nước thành lập các cơ sở quốc doanh sản xuất cánh kiến đỏ, ngoài ra còn có các hợp tác xã cũng trồng cây chủ kinh doanh cánh kiến đỏ Theo số liệu thống kê năm 1980 cả miền Bắc có khoảng 4000 ha rừng cây chủ thả cánh kiến đỏ trồng tập trung, còn rừng cây chủ nuôi thả tự nhiên thì không thống kê được Nghề sản xuất cánh kiến đỏ được phát triển mạnh ở nước ta trong khoảng những năm 1960 –

1990, trong khoảng thời gian này nước ta chủ yếu xuất nhựa shellac sang Liên

Xô, trung bình một năm chúng ta xuất khoảng 100 tấn/năm, năm xuất nhiều nhất là năm 1966 khoảng 310 tấn Khi Liên Xô tan rã thì nghề sản xuất cánh kiến đỏ của chúng ta chỉ để đáp ứng nhu cầu Shellac trong nước Từ năm

2005 đến nay Trung Quốc đang nhập nhiều sản phẩm nhựa cánh kiến đỏ thô của nước ta, vì vậy mà nghề sản xuất cánh kiến đỏ lại được nhiều địa phương, ban ngành quan tâm đến Nhiều nơi đã khôi phục và phát triển thêm diện tích cây chủ thả cánh kiến đỏ Năm 2006, huyện Mường Lát – Thanh Hóa trồng mới 240 ha rừng Cọ phèn, còn huyện Quỳ Hợp - Nghệ An đưa 540 ha rừng

Cọ phèn vào thả cánh kiến đỏ Sản lượng nhựa cánh kiến đỏ của nước ta hiện nay đã tăng lên nhưng vẫn chưa ổn định, vì vậy cần được sự quan tâm của các ban ngành để sản phẩm cánh kiến đỏ thành một trong những sản phẩm lâm sản ngoài gỗ có giá trị ở nước ta

2.2 Các công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ

2.2.1 Trên thế giới

Cánh kiến đỏ là một sản phẩm của tự nhiên, nó chỉ phân bố ở một số địa điểm thuộc Nam Á như: Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Trung Quốc… Mặc dù

Trang 9

nhựa cánh kiến đỏ được sử dụng hơn 2000 năm nay nhưng việc nghiên cứu cánh kiến đỏ mới được quan tâm phát triển một vài thế kỷ gần đây

Ấn Độ là nước đầu tiên thành lập Viện nghiên cứu cánh kiến đỏ (năm 1925) sự ra đời của Viện này đã góp phần phát triển việc nghiên cứu về cánh kiến đỏ Theo tài liệu thống kê của Viện này cho đến năm 1983 có 4000 tài liệu công bố về rệp cánh kiến đỏ, cây chủ và kỹ thuật nuôi thả và phòng trừ sâu bệnh hại…với mục tiêu tăng cường sản xuất loại nhựa quý này Trung Quốc và Thái Lan là hai nước cũng có nhiều công trình nghiên có giá trị về cánh kiến đỏ

Cánh kiến đỏ được nhiều tác giả nghiên cứu đến: Tachard (1709), Kerr (1781), Mirsa (1929), P.S Teotia và N Majundar (1967), G.P Luxikhia (1968), các nhà khoa học Bắc Kinh… Công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ đầu tiên được công bố tại Viện hàn lâm khoa học Pháp là của Tachard (1710)

Theo thời gian các vấn đề nghiên cứu cánh kiến đỏ được quan tâm mở rộng, những lĩnh vực quan tâm nghiên cứu nhiều là: tính năng và tác dụng, ứng dụng của nhựa cánh kiến đỏ; đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của cánh kiến đỏ đến các nghiên cứu về sâu hại và cây chủ

Những nghiên cứu về tính năng tác dụng của nhựa cánh kiến đỏ, những nghiên cứu này chỉ ra rằng nhựa cánh kiến đỏ là một hợp chất trong đó chất nhựa chiếm nhiều nhất từ 70 – 80%, chất màu chiếm từ 5 – 7%, chất sáp chiếm từ 3 – 5%, các chất đường, muối khoáng, protein chiếm khoảng 4 – 5%, còn lại là các tạp chất Tính năng của nhựa cánh kiến đỏ rất đặc biệt mà không một loại nhựa tổng hợp nhân tạo nào có thể thay thế được Những tính năng của nhựa cánh kiến đỏ là: Khi nhiệt độ thay đổi nhựa co dãn ít, nhựa dẫn nhiệt tốt, hằng số cách điện cao, nhựa chống được tia tử ngoại, không thấm

ẩm tuyệt đối, chịu được axit, có tính kết dính và khả năng tạo màng Nhựa cánh kiến đỏ sau khi chế biến xong được gọi là Shellac có khả năng dát mỏng như cánh của con kiến và màu đỏ nên gọi nó là cánh kiến đỏ

Trang 10

Những sản phẩm được chế biến từ nhựa cánh kiến

Hình 01: Sơn làm từ nhựa cánh kiến Hình 02: Vật liệu dẫn nhiệt

Hình 03: Dược phẩm làm từ nhựa

cánh kiến

Hình 04: Mỹ phẩm

Hình 05: Hoa quả có sử dụng thuốc

bảo quản từ nhựa cánh kiến

Hình 06: Rau quả có sử dụng thuốc bảo quản từ nhựa cánh kiến Nguồn: Mạng Internet

Trang 11

Đối với đặc điểm về sinh vật học, sinh thái học của cánh kiến đỏ đã có nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng Mirsa (1929) P.M Glover (1932) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm đến sinh trưởng và phát triển của cánh kiến đỏ các ông đã đi đến kết luận sau: Mùa hè nhiệt độ dưới

170C và mùa đông nhiệt độ dưới 150C thì con cái không đẻ trứng Độ ẩm tương đối của không khí từ 50 – 90% là điều kiện cần thiết đối với đời sống của cánh kiến đỏ Theo R Majumdar và A Bhattacharya (1968) cho rằng ảnh hưởng của khí hậu không chỉ tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một thế hệ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến 2 – 3 thế hệ sau thông qua quá trình sinh sản của chúng

Nghiên cứu sự biến động của quần thể và nguyên nhân chính gây ra mất mùa; hiện nay có hai quan điểm khác nhau về vấn đề này:

+ Theo quan điểm của Mirsa (1929), Glover (1932), Đặng Văn A (1976) và một số tác giả khác thì nguyên nhân chính gây ra mất mùa chủ yếu

do thời tiết

+ Còn quan điểm của các nhà khoa học khác như Mahdi hassan (1933), Hajumdar và Bhattacharya (1968) và Nguyễn Đức Khảm (1976 – 1985) và một số tác giả khác thì cho rằng nguyên nhân chính gây mất mùa là do tổ hợp các nhân tố, trong đó chủ yếu do nội tại quần chủng là cơ bản, các nhân tố khác là quan trọng nhưng chỉ đóng vai trò thúc đẩy tần số của chu kỳ biến động

Cánh kiến đỏ là loài rệp dùng vòi chích nhựa cây và tiết nhựa bảo vệ bằng vô số tuyến bao quanh thân thể nó Vì vậy khi nuôi thả cánh kiến đỏ người ta rất quan tâm đến cây chủ thả cánh kiến đỏ; kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ

Tại Ấn Độ việc nghiên cứu cây chủ và kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ

đã được quan tâm từ thế kỷ XX (các công trình nghiên cứu về cách tỉa cành, tạo tán, quan hệ của việc bón phân đến sản lượng cánh kiến đỏ…) Nisra

(1929), Nirit (1973), Singh (1956), N.B Raiza (1958) cho rằng: “ Một trong

Trang 12

những nhân tố chính làm cản trở việc sản xuất cánh kiến đỏ tại Ấn Độ là thiếu tổ giống, nhất là vào vụ mất mùa kiệt Hiện tượng này thường do các trận mưa kéo dài và nóng ác liệt của mùa hè”

Song song với những công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học và kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ là các công trình nghiên cứu về sâu bệnh hại cánh kiến Đây là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất Về

sâu hại hai loài sâu hại rệp cánh kiến đỏ đầu tiên được mô tả là Eublemma amabilis và Holcocera pulvera Năm 1887 Moore là người đầu tiên mô tả Eublemma amabilis Moore và năm 1907 Meyrick đã mô tả Holcocera pulvera Meyer Sau này danh sách những loài gây hại cho rệp cánh kiến đỏ

ngày càng được tăng dần lên Đến nay tại Ấn Độ người ta đã tìm ra 29 loài gây hại cho cánh kiến đỏ trong đó có 24 loài côn trùng và 5 loài động vật có xương sống Ở Sukhumi (Liên Xô cũ) theo Louk, H.K (1975) có 29 loài thiên địch của rệp cánh kiến đỏ Trong các loài thiên địch của cánh kiến đỏ thì các nhà khoa học đều khẳng định nguy hiểm nhất là hai loài được phát hiện đầu

tiên là Eublemma amabilis và Holcocera pulvera Về bệnh hại thì chưa có tài

liệu nào công bố Tuy nhiên thì các nhà khoa học đã phân bệnh hại thành hai loại là bệnh hại trực tiếp và bệnh hại gián tiếp Loại bệnh hại gián tiếp bao gồm nấm mốc, nấm men và vi khuẩn sống nhờ chất thải của rệp cánh kiến đỏ trong độ ẩm cao các loài này phát triển mạnh và bịt kín lỗ bài tiết, lỗ thở khiến cho rệp chết Còn loại bệnh hại trực tiếp là nấm mốc và vi khuẩn, thế giới phát hiện được từ những loài nói trên nhưng chưa giám định và phân lập được tên

Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại, ban đầu các nhà khoa học đều tập trung nghiên cứu vào các biện pháp chăm sóc cải tạo cây chủ (chọn giống, cải tạo tán, tỉa thưa và bón phân), tuyển chọn giống rệp tốt, thu bã giống kịp thời, diệt trừ nguồn gốc gây hại ngay từ tổ giống Cũng có những nhà khoa học lại quan tâm đến các biện pháp sinh học, có nhiều tác giả tập trung vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và kỹ thuật nhân nuôi đại trà các

Trang 13

loài ong kí sinh quan trọng như Bracon greeni, Elamus claripennis Ban đầu

quan điểm của các nhà khoa học đều cho rằng không thể sử dụng thuốc hóa học vào việc phòng trừ sâu bệnh hại cho rệp cánh kiến đỏ nhưng về sau người

ta đã tìm ra được một số lọai thuốc hóa học như: Malathion, DDT, Metyl parathion … có khả năng diệt trừ sâu bệnh hại cho rệp cánh kiến đỏ

2.2.2 Ở Việt Nam

Tại Việt Nam, tài liệu nuôi thả cánh kiến đỏ đầu tiên được đăng vào những năm 1890 Trong tài liệu này Hober Cagob gọi rệp cánh kiến đỏ là

Cocus lacca (Lê Văn Giai) Mãi đến năm 1960 của thế kỷ XX các nhà khoa

học Việt Nam mới có công trình nghiên cứu đầu tiên về cánh kiến đỏ Đó là công trình nghiên cứu của: Thái Văn Trừng, Nguyễn Đức Khảm (1976); Đặng Văn A, Hà Văn Thi (1978); Nguyễn Đức Khảm và Đặng Văn A (1970 – 1985) đã nghiên cứu sự phát triển bên ngoài tổ nhựa (điểm vàng, vết nứt tổ, hình thái sợi sáp) liên hệ với thời gian phát triển của phôi làm cơ sở cho việc

dự đoán thời gian thiếu trùng nở Cũng theo Nguyễn Đức Khảm nghiên cứu thì rệp cánh kiến đỏ có ba kiểu sinh sản là sinh sản đơn tính, sinh sản lưỡng tính và ấu trùng sinh Phùng Tiến Huy, Lương Gia Thụy, Thân Văn Cảnh (1968 – 1985) đã nghiên cứu kỹ thuật tạo cây chủ, gieo ươm và trồng rừng cây chủ cánh kiến đỏ Cọ phèn, Cọ khiết, Đậu thiều Dưới sự chỉ đạo của T.S Thái Văn Trừng cánh kiến đỏ đã được nghiên cứu ở Ngọc Lặc – Thanh Hóa (1971 – 1973) và ở Quan Hóa – Thanh Hóa (1974 – 1977) Các đề tài này làm theo phương pháp luận sinh thái học thực nghiệm Tất cả các thí nghiệm được tiến hành ngoài hiện trường có sự tác động của các nhân tố sinh thái Các thí nghiệm cụ thể:

- Thí nghiệm dự tính thời gian cắt giống cánh kiến đỏ

- Thí nghiệm xác định lượng giống thả trên cây Đậu thiều

- Thí nghiệm cách thả giống cánh kiến đỏ

- Thí nghiệm sử dụng cây chủ Đậu thiều

- Thí nghiệm xác định tuổi cành thả thích hợp trên cây Cọ phèn cải tạo

Trang 14

Kết quả của các thí nghiệm trên như sau:

- Dự tính được thời gian cắt cành giống theo phương pháp dự tính tổng hợp

- Xác định được lượng thả thích hợp với sức chịu đựng của cây Đậu thiều và cường độ sử dụng cây Đậu thiều

- Xác định được thời vụ thả rệp, kỹ thuật buộc giống và chăm sóc cánh kiến đỏ trên cây Đậu thiều

- Xác định được kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ trên cây Cọ phèn cải tạo, chọn tuổi cành thích hợp, chọn nơi thả mùa vụ thả và cách buộc chọn cành giống

Những kết quả trên làm cơ sở lý luận cho các nhà sản xuất và đưa ra sản xuất tại hiện trường Nhờ vậy người nuôi thả đã có những cơ sở để xác định biện pháp kỹ thuật kết hợp với kinh nghiệm có được trong sản xuất góp phần phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ

Lê Văn Giai (1960) đã tổng kết một số kinh nghiệm kỹ thuật sản xuất cánh kiến đỏ Kỹ thuật tạo hình cây chủ, thu hái hạt giống gieo ươm và trồng rừng cây chủ Cọ khiết, Cọ phèn và Đậu thiều được Phùng Tiến Huy, Lương

Gia Thuỵ, Thân Văn Cảnh (1968 – 1985) được nghiên cứu Trong cuốn “ Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích - tập 1” của PGS - TS Nguyễn Thế Nhã

(chủ biên) có tổng hợp những kỹ thuật cơ bản nhất nuôi thả cánh kiến đỏ Tài liệu của Ngô Huấn Kỷ (1961), Vũ Văn Hon (1987) đã thống kê 10 loài cây chủ nuôi thả cánh kiến đỏ ở Đông Nam Á Danh mục cây chủ nuôi thả cánh kiến đỏ của Vũ Đức Sinh đã thống kê hơn 200 loài cây có khả năng đậu rệp cánh kiến đỏ ký sinh

Sản lượng cánh kiến đỏ ở nước ta rất bấp bênh và ngày càng thấp, một trong những nguyên nhân đó là do sâu bệnh hại Lê Thị Phi nghiên cứu về quần xã sinh vật sống ở trên tổ nhựa cánh kiến đỏ và thu được 22 loài Các nhà khoa học Việt Nam cũng khẳng định rằng trong đó hai loài nguy hiểm

nhất là Eublemma amabilis và Holcocera pulvereae Vấn đề phòng trừ sâu hại

cũng được lưu ý từ những năm 1970 Theo Lê Nam Hùng (1973 – 1985) tại

Trang 15

Lương Sơn - Hòa Bình có 5 thế hệ Eublemma amabilis trong một năm Tác

giả này cũng đề xuất phương pháp phòng trừ loài sâu hại này là sử dụng bẫy đèn từ thời gian 22h – 2h hoặc bắt giết thủ công tức là dùng que nhọn đâm chết sâu trắng trong các nốt phồng trên lớp nhựa cánh kiến đỏ Đối với các bệnh hại cánh kiến đỏ thì chúng ta chưa có bất cứ công trình nghiên cứu nào Tuy nhiên có thể khẳng định một điều rằng bất cứ loại cây chủ nào và bất cứ

vụ thả nào cũng xuất hiện bệnh hại rệp cánh kiến đỏ

Sản xuất cánh kiến đỏ của nước ta từ trước đến giờ chủ yếu dựa vào cây chủ có sẵn trong tự nhiên nên năng suất nhựa bấp bênh không ổn định Tháng 5 năm 1982 Lâm trường cánh kiến đỏ Huổi Lèng thuộc Công ty Lâm đặc sản xuất khẩu (Bộ Lâm nghiệp) đã nuôi thả thành công cánh kiến đỏ trên diện tích trồng tập trung trên quy mô lớn (100 ha) Thành công này đã đánh dấu một bước tiến bộ lớn trong công tác nuôi thả cánh kiến đỏ

Như vậy thời gian qua Việt Nam cũng đã có những công trình nghiên cứu về cánh kiến đỏ Tuy nhiên các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu

về đặc điểm hình thái sinh thái của rệp cánh kiến, kỹ thuật trồng cây chủ và thả cánh kiến đỏ cũng như các loại sâu bệnh hại rệp và biệp pháp phòng trừ chúng mà chưa có công trình nghiên cứu nào nói về vai trò của cánh kiến đỏ đối với đời sống kinh tế và xã hội của các địa phương

Gắn bó với nghề nuôi thả cánh kiến đỏ từ thời bao cấp, những năm vừa qua nhựa cánh kiến đỏ đã góp phần làm cho đời sống của người dân, nhất là người dân các xã khó khăn vùng 135 Hiện nay Chi cục lâm nghiệp tỉnh Điện Biên kết hợp với dự án lâm sản ngoài gỗ (Non – Timber Forest Product research centre) đang triển khai một số đề tài nghiên cứu tổng hợp các kiến thức bản địa của người dân về kỹ thuật trồng Cọ khiết, nuôi thả rệp cánh kiến

đỏ, khả năng cải tạo các rừng Cọ khiết cũ bằng cách tạo chồi từ rễ cây

Song song với các đề tài nghiên cứu về cây Cọ khiết, nuôi thả cánh kiến đỏ, Chi cục Lâm nghiệp Điện Biên còn phối hợp với tổ chức cộng đồng Châu Âu triển khai dự án EU “Nghiên cứu phát triển cộng đồng” Dự án EU

Trang 16

căn cứ vào thực tế từng xã thực hiện lại công tác giao đất, giao rừng; giai đoạn 3 giúp bà con các xã xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ và phát triển rừng Cuối cùng trước khi Dự án rút đi sẽ xây dựng cho mỗi xã một quỹ Hỗ trợ phát triển cộng đồng trị giá 4 nghìn Euro để các xã thực hiện các công việc phát triển cộng đồng của mình Hiện nay Dự án EU nay đang thực hiện ở giai đoạn 2

Dự án EU chỉ tập trung vào giúp đỡ bà con phát triển cộng đồng, bảo

vệ rừng mà vẫn chưa tìm được hướng phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Nếu như, đời sống được cải thiện thì người dân sẽ có trách nhiệm bảo vệ rừng Phát triển sản xuất cánh kiến đỏ có thể tạo sinh kế bền vững cho bà con tỉnh Điện Biện, đặc biệt là bà con các xã khó khăn Chính vì vậy mà khi thực hiện đề tài này tôi mong muốn góp phần phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ, mang lại cuộc sống ổn định cho người dân xã Huổi Lèng

Trang 17

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu chung

Thông qua việc đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’Mông để tổng hợp được khó khăn từ đó đưa ra giải pháp phát triển nghề này

3.1.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể sau:

- Đánh giá được hiện trạng nuôi thả cánh kiến đỏ tại địa phương và vai trò của nuôi thả cánh kiến với cộng đồng người H’Mông tại khu vực nghiên cứu

- Thông qua xác định những khó khăn, nguyên nhân của những khó khăn để

từ đó đề xuất giải pháp phát triển nghề nuôi thả cánh kiến

3.2 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mô hình nuôi thả cánh kiến đỏ quy mô hộ gia đình của đồng bào người H’Mông

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên tôi triển khai các nội dung nghiên cứu sau

- Hiện trạng của việc nuôi thả cánh kiến ở địa phương

- Vai trò của nuôi thả cánh kiến đến kinh tế, xã hội

- Thị trường tiêu thụ nhựa cánh kiến đỏ tại Huổi Lèng

- Một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của nghề nuôi thả cánh

kiến đỏ tại địa phương

- Phân tích thuận lợi, khó khăn, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển sản xuất cánh kiến đỏ tại địa phương

Trang 18

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu trên tôi thực sử dụng một số công cụ của PRA như:

- Kế thừa tài liệu

- Phỏng vấn hộ gia đình có nuôi thả cánh kiến, các hộ tư thương thu mua nhựa cánh kiến đỏ, cán bộ các cơ quan ban ngành

- Phân tích kinh tế hộ gia đình

- Phân tích thị trường

- Sơ đồ Venn

- Kết hợp với phương pháp điều tra truyền thống lập OTC

Chi tiết từng phương pháp được trình bày cụ thể dưới đây

3.4.1.1 Chuẩn bị

- Tìm hiểu những thông tin có liên quan đến sản xuất cánh kiến đỏ, tìm hiểu các thông tin về địa phương

- Chuẩn bị dụng cụ, bảng biểu, câu hỏi phỏng vấn

- Xây dựng kế hoạch thực hiện và các bước cần tiến hành trong quá trình thực tập

3.4.1.2 Điều tra

a, Đánh giá hiện trạng sản xuất cánh kiến đỏ tại địa phương

Để đánh giá được hiện trạng cuả nuôi thả cánh kiến đỏ xã Huổi Lèng tôi thực hiện các phương pháp sau.:

- Kế thừa tài liệu của các cơ quan: Ủy ban nhân dân xã Huổi Lèng, Ban quản

lý rừng phòng hộ huyện Mường Chà, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Điện Biên

- Phỏng vấn 30 hộ gia đình thuộc 3 bản Huổi Toong 1, Huổi Toong 2 và Chống Dình Ngoài ra còn phỏng vấn các cán bộ xã, cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Chà

Trang 19

+ Đối với hộ gia đình phỏng vấn năng suất, sản lượng cánh kiến đỏ của từng

hộ gia đình một vài năm trở lại đây, diện tích, mật độ nuôi thả cánh kiến đỏ Nội dung phỏng vấn được trình bày trong phần phụ biểu

+ Đối với cán bộ ban ngành nội dung phỏng vấn tổng diện tích nuôi thả cánh kiến đỏ, thực trạng quản lý của chính quyền địa phương với nghề nuôi thả cánh kiến đỏ Nội dung phỏng vấn cán bộ xã và các ban ngành có liên quan được trình bày trong phần phụ lục

- Điều tra thực địa, lập ô tiêu chuẩn diện tích 500 m2 đánh giá mật độ rừng Cọ khiết, tình hình sinh trưởng và tỷ lệ đậu rệp cánh kiến Các thông tin điều tra trên OTC được ghi vào mẫu biểu 01:

Mẫu biểu 01: Phiếu điều tra OTC

Số hiệu OTC: Trạng thái rừng: Độ dốc:

Sinh trưởng

Mẫu biểu 02: Thống kê hộ gia đình nuôi thả cánh kiến

TT Hộ gia đình Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ ha) Thu hoạch

(Triệu)

2000 2005 2006 2000 2005 2006

Trang 20

b, Đánh giá vai trò của nuôi thả cánh kiến đỏ đến kinh tế xã hội tại địa phương

Để đánh giá được sự tác động của nghề nuôi thả cánh kiến đỏ đối với kinh tế hộ gia đình và sự phát triển kinh tế, xã hội của người H’Mông xã Huổi Lèng tôi sử dụng phương pháp sau:

- Kế thừa tài liệu: Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội xã Huổi Lèng năm 2007, hướng dẫn xét hộ nghèo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên gửi cho các xã, quy hoạch lâm nghiệp xã Huổi Lèng đến năm 2010

- Phỏng vấn hộ gia đình, thu thập các thông tin kinh tế hộ Cách lựa chọn hộ phỏng vấn theo nhóm hộ gia đình: giàu, khá, trung bình, nghèo Tiêu chuẩn phân chia nhóm hộ: Hộ nghèo thu nhập bình quân đầu người dưới 240.000 đ/người/tháng; hộ trung bình từ 240.000 – 550.000 đ/người/tháng; hộ khá từ 550.000 – 750.000 đ/người/tháng, hộ giàu 750.000 đ/người/tháng trở lên

- Phân tích cơ cấu thu nhập hộ của 30 hộ gia đình đã phỏng vấn ở trên để làm

rõ hơn vai trò của sản xuất cánh kiến đỏ đối với thu nhập hộ gia đình

Kết quả điều tra phỏng vấn phân tích cơ cấu thu nhập hộ được tổng hợp vào mẫu biểu 03

Mẫu biểu 03: Thu thập thông tin kinh tế hộ gia đình

Tên chủ hộ ……… Tuổi…… Nam (Nữ)……

Số nhân khẩu ………… Số người lao động ………

KT

Diệ

n tích (ha)

Năng suất Tấn/h

a

Giốn

g

Phân bón

m đất

Chă

m sóc

Tổn

g

Sản lượn

g

Giá bán

Tổn

g

Trang 21

Công thức tính sản lượng như sau:

- Đối với cây nông nghiệp và cánh kiến

Q = P x S Trong đó: Q sản lượng (kg)

P năng suất (kg/ ha)

S diện tích (ha)

- Đối với các loài gia súc, gia cầm

Q = P x S Trong đó:Q sản lượng (kg)

P năng suất (kg/ con)

S số lượng gia súc, gia cầm (con)

Kết quả phân tích cơ cấu hộ gia đình được ghi vào mẫu biểu 04:

Mẫu biểu 04: Biểu tổng hợp kinh tế hộ gia đình

Hiệu quả

KT

Phân loại

hộ

c, Tìm hiểu thị trường tiêu thụ nhựa cánh kiến đỏ xã Huổi Lèng

Để thực hiện nội dung này tôi sử dụng các phương pháp:

- Kế thừa tài liệu của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Điện Biên

- Phỏng vấn hộ gia đình tư thương thu mua cánh kiến đỏ tại xã Huổi Lèng Nội dung phỏng vấn sản lượng thu mua, giá thu mua của người dân và giá bán lại cho tư thương nơi khác… Số hộ phỏng vấn 5 hộ mua bán cánh kiến

Trang 22

- Phân tích kênh thị trường Xây dựng kênh thị trường từ người nuôi thả đến người tiêu thụ Từ các kênh tiêu thụ xây dựng các chuỗi sản phẩm, tìm hiểu giá bán qua từng mắt xích chuỗi sản phẩm

d, Một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ

Để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến nghề nuôi thả cánh kiến đỏ tôi

sử dụng các phương pháp sau:

- Phỏng vấn cán bộ xã, cán bộ ban quản lí rừng phòng hộ huyện Mường Chà

và người dân Mục đích phỏng vấn để thấy được ảnh hưởng của từng cơ quan ban ngành và các tổ chức của địa phương ảnh hưởng đến nghề nuôi thả cánh kiến Nội dung phỏng vấn được định hướng trước, nội dung phỏng vấn này sẽ được trình bày ở phần phụ biểu

- Xây dựng sơ đồ Venn để phân tích vai trò của các tổ chức ở địa phương tới

sự phát triển của cánh kiến đỏ

e, Phân tích những thuận lợi, khó khăn, đưa ra các giải pháp phát triển nuôi thả cánh kiến đỏ tại Huổi Lèng

Để thực hiện được nội dung này tôi thực hiện các phương pháp sau:

- Phỏng vấn người dân, cán bộ xã Người dân và các cán bộ địa phương là những người nắm rõ nhất những thuận lợi và khó khăn của địa phương mình Chính vì vậy mà tôi thực hiện phỏng vấn người dân, cán bộ địa phương để họ đưa ra những ý kiến của mình về những thuận lợi và khó khăn của địa phương Từ những thuận lợi và khó khăn này tôi đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi thả cánh kiến đỏ của địa phương Nội dung phỏng vấn được trình bày trong phần phụ biểu

- Phân tích sơ đồ mảng

- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

Trang 23

3.4.2 Phương pháp nội nghiệp

Từ số lệu thực tế thu thập được tiến hành xử lý số liệu, tổng hợp và

phân tích số liệu với sự trợ giúp của các phần mềm thông dụng Word, Excel

Trang 24

Chương 4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI 4.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1 Vị trí địa lí

Huổi Lèng là xã vùng cao, được xác định là vùng sâu vùng xa nhiều khó khăn (khu vực 3), cách trung tâm huyện Mường Chà 30km về phía Tây Bắc Xã Huổi Lèng có toạ độ địa lí:

Từ 21045’50” đến 21057’01” độ vĩ Bắc

Từ 103003’27” đến 103011’17” độ kinh Đông

Phía Bắc giáp xã Mường Tùng

Phía Nam giáp xã Sa Lông

Phía Tây giáp xã Hứa Ngài

Phía Đông giáp xã Sa Pi Phìn

Xã Huổi Lèng nằm trên trục đường Quốc lộ 12 nối thành phố Điện Biên Phủ và tỉnh Lai Châu Đây là điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế với địa phương khác trong cả nước

4.1.2 Địa hình, địa mạo

Xã Huổi Lèng thuộc địa hình núi cao, độ chia cắt sâu, độ dốc lớn Độ cao trung bình 850m Phía Nam của xã là dãy núi Phi Tông cao 1700m, phía Bắc và Tây Bắc là các đỉnh núi Pẫy La Se (1300m), Hổ Huổi Cang (1300m), Huổi Lèng (1500m) và núi Địa Hồ

Phần lớn diện tích đất có độ dốc từ 15 - 300 chiếm khoảng 90%, có những nơi độ dốc lớn hơn 450 Những nơi thung lũng hẹp độ dốc dưới 100

người dân khai phá làm ruộng bậc thang để sản xuất nông nghiệp

4.1.3 Khí hậu

Xã Huổi Lèng mang đặc điểm khí hậu của chung của khu vực huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên Đây là vùng nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa đông tương đối lạnh và ít mưa, đôi khi có hiện tượng sương muối, mùa hạ nóng mưa nhiều ít bị ảnh hưởng của bão

Trang 25

Nhiệt độ trung bình từ 20 – 250

Nhiệt độ thấp nhất 9 – 120 vào tháng 1

Nhiệt độ cao nhất 30 – 320 từ tháng 5 đến tháng 8

Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1750 – 2050 mm

Số ngày có mưa trong năm từ 140 – 150 ngày

Độ ẩm bình quân hàng năm là 83,5%

Tuỳ thuộc vào năm, mùa mưa có thể kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, trong thời kì này lượng mưa chiếm khoảng 75 – 80% tổng lượng mưa của cả năm Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Do lượng mưa phân

bố không đều mà các tháng mùa khô thường bị thiếu nước

Hàng năm có hai mùa gió chính thổi qua Mùa đông có gió mùa đông bắc, loại gió này thường tạo nên không khí hanh khô, lạnh và có sương muối Mùa hè có gió mùa Tây bắc, Đông nam thổi qua

Ngoài ra do điều kiện địa hình mà đã tạo nên khu vực có tiểu khí hậu riêng biệt thời tiết trong ngày có đặc thù của cả 4 mùa trong năm Buổi sáng

có thời tiết lạnh và ẩm của mùa xuân, buổi trưa thời tiết nóng như mùa hè, buổi chiều thời tiết lại mát mẻ như mùa thu và buổi đêm thời tiết lạnh như mùa đông

4.1.4 Sông suối thuỷ văn

Diện tích tự nhiên của xã Huổi Lèng gần 10 780 ha, nằm trong lưu vực đầu nguồn của suối Sun Lay, Nậm Lay đổ ra sông Đà

Có thể nhận thấy hai hệ thống đổ ra hệ thống suối Sun Lay là: Hệ thống suối Nu Trống, Nậm Lay trong lưu vực dãy núi Phi Tông và hệ thống suối khe hẹp tạo nên bởi lưu vực của dãy núi Địa Hồ

Suối Sun Lay xuất phát từ xã Huổi Lèng đổ vào sông Đà có chiều dài hơn 10 km lắm thác ghềnh, dòng chảy quanh năm Hàng năm thường xuất hiện lũ mạnh vào mùa mưa nhất là tháng 6 – 7

Nhìn chung các khe suối trong khu vực đều là vùng thượng nguồn thuỷ sinh nên lưu lượng nước không lớn, tuy vậy vào mùa mưa do độ che phủ rừng

Trang 26

thấp, địa hình lại dốc nên những trận mưa to thường có lũ xảy ra; nhưng vào mùa khô thì ít nước Các khe suối phụ thường không có nước Lòng các dốc chính thường dốc đá nổi nhiều suối nên chỉ đủ để sử dụng trong sinh hoạt

4.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng

Địa chất: Kết quả điều tra của đoàn địa chất cho thấy hầu hết đất đai trong khu vực nghiên cứu đều hình thành từ đá mẹ phiến thạch cát và một phần trên đá vôi (vùng Cổng Trời)

Thổ nhưỡng: Phần lớn đất đai trong khu vực là thuộc nhóm đất đen cacbonan và đất đen trên sản phẩm bồi tụ cacbonart Thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, xốp đến hơi chặt Tỷ lệ đá lẫn ít nhưng nhiều nơi có đá lộ đầu gây khó khăn cho công tác trồng rừng và canh tác nương rẫy

Nhìn chung xã Huổi Lèng nằm ở vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội Khí hậu, đất đai thuận lợi phát triển một số loại nông lâm sản đặc biệt là lâm sản ngoài gỗ như cánh kiến đỏ, tre nứa… Tuy nhiên phần lớn đất đai nơi địa hình dốc cao đi lại khó khăn vận chuyển và trong khai thác hết tiềm năng của địa phương Đây cũng là khu vực tiềm ẩn nhiều những rủi ro thiên tai, xói mòn, lũ quét và lở đất không chỉ gây thiệt hại cho các công trình hạ tầng nông thôn mà còn ảnh hưởng đến sử dụng đất đai, bảo vệ và phát triển rừng

4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

4.2.1 Dân sinh

Tính đến tháng 7 năm 2007 xã Huổi Lèng có 2464 người, 396 hộ Trong đó dân tộc H’Mông chiếm 90,02%, mật độ dân số 23 người/ Km2 Bình quân 5 người trong hộ, tổng lao động 1048 người

Tỷ lệ tăng dân số 0,8 % một năm

4.2.2 Kinh tế

* Sản xuất nông nghiệp:

- Những năm gần đây diện tích canh tác nương rẫy đã giảm vì đất đai cằn cỗi và năng suất lúa nương chỉ đạt 500 – 800 kg/ ha, có nơi chỉ thu hoạch dưới 100 kg/ ha/ vụ Đây là lý do tại sao nương rẫy phải bó hoá

Trang 27

Để đủ lương thực người dân có ba lựa chọn:

+ Khai phá ruộng bậc thang trên thung lũng bồi tụ để sản xuất lúa nước + Phát rừng tái sinh để lấy đất canh tác nương rẫy

+ Một số vẫn còn xâm canh, du canh

- Chăn nuôi trâu bò được người dân coi trọng Toàn xã hiện có 1090 con trâu bò, bình quân 3 con/hộ Người H’Mông lập nên các khu chăn thả ở các bản xa, xa khu vực sản xuất hoa màu và lương thực và có những luật lệ riêng

để chăn thả đàn gia súc của mình

* Ngoài sản xuất nông nghiệp truyền thống, người dân Huổi Lèng rất quan tâm bảo vệ tăng thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ Đặc biệt người dân nơi đây có truyền thống từ rất lâu đời trồng rừng Cọ khiết để thả cánh kiến đỏ Tỷ trọng thu nhập bình quân từ rừng chiếm từ 20 – 30% tổng thu nhập cho nhu cầu sinh kế hộ gia đình

- Tổng thu nhập bình quân chung từ 80 000 – 200 000 đồng/ hộ/ tháng Tỷ lệ nghèo đói 36,7% (2006)

4.2.3 Cơ sở hạ tầng

Xã Huổi Lèng nằm trên quốc lộ 12 có chiều dài 24 km và mới xây dựng thêm 15 km đường ôtô liên bản Tuy nhiên vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, vận chuyển nông sản, lâm sản và tiếp cận thị trường trao đổi hàng hóa Các bản xa xôi như bản Huổi Lèng, bản Ca Dính Nhè, bản

Ma Lù Thàng đi lại vẫn là vấn đề rất khó khăn

Hệ thống điện đã đến được với 5/7 bản, hai bản còn lại là Nậm Chua và

Ca Dính Nhè vẫn chưa có điện người dân vẫn phải dùng đèn dầu

Ở đây vẫn còn thiếu nước vào mùa khô, chỉ có 3 bản là bản Chống Dình, bản Huổi Toong 1 và bản Huổi Toong 2 là có được nhà nước cung cấp hệ thống nước sạch tự chảy

4.2.4 Văn hóa xã hội, thực trạng y tế, giáo dục

- Xã đã có 14 phòng học kiên cố còn lại là 6 phòng học tạm thời

- Toàn xã có 30 máy điện thoại, 50 máy thu hình

Trang 28

- Số trẻ em chưa được đi học còn nhiều, đặc biệt là trẻ em gái

- Dự án giáo dục tiểu học chú trọng khuyến khích trẻ em đến trường xóa mù chữ cho phụ nữ

- Dự án 661 hàng năm giúp đỡ cho địa phương trồng rừng khoanh nuôi tái sinh rừng

- Dự án của Hạt kiểm lâm Mường Chà trên diện tích hơn 200ha

Nhìn chung trong thời gian qua đời sống người dân trong vùng đã có sự cải thiện rõ rệt Nhiều nhà đã đủ ăn và mua sắm được nhiều trang thiết bị phục vụ đi lại nâng cao dân trí Tuy nhiên xã vẫn còn phải đối mặt với đói nghèo cao (chiếm 34,6%), nhiều phụ nữ không biết chữ, cơ sở hạ tầng yếu kém, đi lại khó khăn, phát triển thiếu bền vững

Trang 29

Chương 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5.1 Đánh giá hiện trạng nuôi thả cánh kiến

5.1.1 Đánh giá hiện trạng rừng cây chủ thả cánh kiến đỏ

5.1.1.1 Hiện trạng diện tích rừng cây chủ cánh kiến đỏ

Tổng diện tích đất Lâm nghiệp của xã Huổi Lèng là 5073,05 ha; trong

đó diện tích rừng Cọ khiết là 655ha (chiếm 12,91%) Mỗi vụ, toàn xã đưa 300

ha rừng Cọ khiết vào thả cánh kiến đỏ

Từ khi thành lập Lâm trường cánh kiến Huổi Lèng đến nay diện tích rừng Cọ kiết tăng lên đáng kể Những thay đổi về diện tích nuôi thả cánh kiến

đỏ Huổi Lèng trong hơn 40 năm qua được thể hiện qua bảng 5.1

Bảng 5.1: Diện tích (ha) rừng Cọ khiết theo năm

Trang 30

Hình 07: Cây Cọ khiết tại vườn

ươm Hình 08: Rừng cọ khiết

Hình 09: Bản người H’Mông ven chân rừng Cọ khiết

Trang 31

1994 trở lại đây Tuy nhiên, trong giai đoạn 1987 – 1994 diện tích rừng bị giảm do khi Lâm trường cánh kiến đỏ giải thể, diện tích rừng Cọ khiết được giao lại cho những hộ dân có điều kiện nuôi thả cánh kiến đỏ Vì vậy có nhiều diện tích bị phá đi làm nương rẫy Từ năm 1995, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Chà đưa cây Cọ khiết cùng thông mã vĩ và tre bát độ vào trồng rừng phòng hộ, phủ xanh đất trống đồi núi trọc diện tích rừng Cọ khiết tăng lên nhanh Hiện nay, nhận thấy vai trò của nhựa cánh kiến đỏ rất quan trọng nên nhiều hộ gia đình đã tự cải tạo trồng lại những diện tích rừng Cọ khiết khả năng sản xuất thấp

Hiện nay trung bình mỗi hộ gia đình xã Huổi Lèng có 1,65 ha Tuy nhiên, diện tích rừng Cọ khiết phân chia không đều cho mỗi một hộ gia đình Một số hộ gia đình có 12 – 15 ha rừng Cọ khiết trong khi đó nhiều hộ gia đình chỉ có 0,5 thậm chí 0,3 ha Nguyên nhân khi Lâm trường giải thể chỉ một số ít

hộ gia đình nhận lại diện tích rừng Cọ khiết tiếp tục sản xuất cánh kiến đỏ Đến nay khi nhận thức ra vấn đề, thấy được giá trị của việc nhận đất nhận rừng nuôi thả cánh kiến đỏ thì không còn quỹ đất để giao cho bà con sản xuất

Xét về chủ thể quản lý hiện nay rừng Cọ khiết được chia ra làm hai loại Một loại rừng Cọ khiết do người dân nhận bảo vệ khi Lâm trường giải thể; hiện nay không có cơ quan ban ngành chức năng nào quản lý, đầu tư giúp

đỡ trong sản xuất Khi phỏng vấn các hộ gia đình có diện tích này thì nhiều hộ gia đình còn chưa có “sổ xanh” công nhận quyền sử dụng đất rừng Một loại rừng Cọ khiết là diện tích rừng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mường Chà quản lý, diện tích này được quan tâm đầu tư theo đúng quy định hiện hành của nhà nước Mỗi ha rừng Cọ khiết trồng mới hoàn toàn được đầu tư cây giống trị giá 1 triệu đồng; hàng năm nhà nước sẽ giả cho tiền khoanh nuôi bảo vệ là 100.000 đ/ha/năm; ngoài ra khi cây Cọ khiết trưởng thành người dân được phép thả rệp cánh kiến đỏ và được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ việc nuôi thả đó Bảng 5.2 cho thấy tỷ lệ hai loại rừng này và tỷ lệ rừng cánh kiến của các bản

Trang 32

Bảng 5.2 Tỷ lệ phần trăm diện tích rừng Cọ khiết của các bản

TT Tên khu vực/ địa phận

bản

Diện tích Cọ khiết (ha)

% diện tích Cọ khiết

5.1.1.2 Đánh giá mật độ và tình hình sinh trưởng của rừng Cọ khiết

Theo thiết kế ban đầu của Lâm trường rừng Cọ khiết được trồng với mật độ 450 cây/ha và phải luôn đảm bảo mật độ này trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, hiện nay nhiều lô rừng Cọ khiết có mật độ thấp hơn có nơi chỉ đạt

300 cây/ha nhưng cũng có nơi mật độ cao đạt 800 cây/ha Một số nguyên nhân dẫn đến mật độ thay đổi: Những rừng Cọ khiết này thả rệp cánh kiến nhiều năm nay cây bị khai thác quá mức nên chết; do người dân phá bỏ cây

Cọ khiết khi Lâm trường giải thể; một số hộ trồng dặm làm mật độ tăng lên Rừng Cọ khiết được trồng vào khoảng những năm 1999, 2000 có mật

độ khá đều nhau, trung bình khoảng 900 – 1000 cây/ha Rừng Cọ khiết trồng

Trang 33

Hình 10: Rừng Cọ khiết trồng

năm 1980 Hình 11: Rừng Cọ khiết trồng năm

1990 - 2000

Hình 12: Rừng Cọ khiết trồng năm 2006

Trang 35

mấy năm gần đây có mật độ dầy hơn nhiều, theo thiết kế của Ban quản lý rừng phòng hộ những rừng Cọ khiết này có mật độ từ 1800 – 1900 cây/ha Mật độ trồng ở những giai đoạn sau cao hơn rất nhiều so với trước vì ngoài nuôi thả cánh kiến các rừng Cọ khiết còn có chức năng phòng hộ đầu nguồn

Bảng 5.3: Tỷ lệ phần trăm cây đậu kiến trong 10 OTC

Tỷ lệ % cây đậu kiến

5.1.1.3 Đánh giá thực trạng nuôi thả cánh kiến đỏ tại xã Huổi Lèng

Nuôi thả cánh kiến đỏ là nghề truyền thống của người dân tộc H’Mông

xã Huổi Lèng Qua tìm hiểu thực tế và kế thừa tài liệu, toàn xã hiện nay có

173 hộ gia đình có từ 0,5 ha rừng trồng Cọ khiết để thả cánh kiến đỏ Hầu như bản nào cũng có hộ gia đình trồng Cọ khiết để sản xuất nhựa cánh kiến đỏ

Trang 36

Bảng 5.4: Tỷ lệ phần trăm số hộ sản xuất cánh kiến đỏ của một số bản

TT Tên bản Tống số hộ

của thôn

Số hộ sx Cánh kiến

Tỷ lệ % so với thôn

Năng suất và sản lượng nhựa cánh kiến đỏ từ năm 2000 trở lại đây tăng nhanh, đạt cao nhất vào năm 2006, nhưng đến năm 2007 năng suất và sản lượng nhựa lại giảm xuống Năng suất và sản lượng cánh kiến từ năm 2000 được tổng hợp trong bảng 5.5

Bảng 5.5 : Năng suất và sản lượng cánh kiến đỏ xã Huổi Lèng

Năm 2000 2004 2005 2006 2007

Năng suất (kg/ha) 6,67 66.67 100 233,3 46,67 Sản lượng (kg) 2 000 20 000 30 000 70 000 14 000

Trang 37

Biểu đồ 02: Biểu đồ năng suất và sản lượng cánh kiến đỏ

Năng suất và sản lượng

cánh kiến

050100150200250

Sản lượng cánh kiến đỏ tăng lên là do diện tích thả cánh kiến được mở rộng, người dân đã quan tâm đến việc chăm sóc cây chủ, nuôi thả cánh kiến

đỏ hơn trước Tuy năng suất và sản lượng cánh kiến đỏ đã tăng lên từ những năm 2000 nhưng không ổn định Năm 2007 năng suất, sản lượng nhựa cánh kiến thô giảm mạnh so với năm 2006 Nguyên nhân của việc này là do thời tiết năm 2007 không thuận lợi, sâu bệnh hại rệp cánh kiến phát triển hơn những năm trước, nhiều khu rừng cây chủ đã quá già đưa vào sản xuất không đạt hiệu quả cao Ngoài những nguyên nhân kể trên còn một nguyên nhân nữa

là cứ sau một năm được mùa nhựa cánh kiến mấy năm sau sẽ bị mất mùa Theo họ đó là do cây Cọ khiết đã tập trung hết nhựa và sức sống để nuôi rệp trong năm đó, nên năm sau cây không kịp hồi phục sức sống nuôi rệp cho năng suất cao như năm trước Những năm sau năm được mùa sản lượng nhựa

sẽ tăng dần lên theo sự phục hồi của cây Cọ khiết Vài năm sau nếu điều kiện

Trang 38

Hình 13: Cây cọ khiết có khả năng

đậu kiến

Hình 14: Chuẩn bị thả cánh kiến

Hình 15: Phương pháp cải tạo rừng Cọ khiết bằng tạo vết xước ở rễ

Trang 39

mới Đây là một kinh nghiệm quý giá của đồng bào H’Mông, dựa vào kinh nghiệm này khi sản xuất nhựa cánh kiến ta phải luân chuyển rừng Cọ khiết không thể thả rệp cánh kiến liên tục trong nhiều năm trên cùng một diện tích, năng suất và sản lượng sẽ giảm dần, thậm chí cây Cọ khiết có thể chết Hiểu được nguyên tắc này nhiều hộ gia đình có diện tích rừng Cọ khiết nhiều

đã luân chuyển diện tích cánh kiến đỏ theo năm để ổn định thu nhập Những

hộ gia đình có ít diện tích rừng Cọ khiết vẫn thả liên tục, năng suất nhựa cánh kiến của những hộ gia đình thường thấp hơn những hộ gia đình thả luân chuyển

Năng suất và sản lượng nhựa cánh kiến không ổn định còn thể hiện ở

sự khác nhau về năng suất và sản lượng của giữa các khu rừng Cọ khiết Như

đã nói ở phần trên, khả năng đậu rệp của các cây Cọ khiết khác nhau, sức sản xuất của những rừng cây chủ lâu năm thường thấp hơn những khu rừng mới trồng Để tạo nên năng suất cao và ổn định nên trồng mới lại những diện tích rừng Cọ khiết đã quá già cỗi, khi trồng lại cần chú ý đến khâu chọn giống cây chủ để đảm bảo rừng cây chủ mới trồng lại có khả năng đậu rệp

Gắn bó lâu dài với nghề nuôi thả cánh kiến đỏ, cộng đồng người dân tộc H’Mông xã Huổi Lèng đã hình thành những kiến thức bản địa nuôi thả cánh kiến đỏ Hiện nay, người dân vẫn nuôi thả cánh kiến đỏ chỉ dựa vào những kiến thức bản địa được đúc rút trong quá trình sản xuất cánh kiến đỏ

Trong khâu chọn giống, vào tháng 10 bà con thu nhặt hạt giống từ những cây Cọ khiết khỏe mạnh, đậu kiến mang về rửa sạch đem phơi khô; đến cuối tháng 12 đầu tháng 1 đem gieo ở chỗ ẩm ướt trên nương khi nào cây lớn mang đi trồng Cách để giống này không hiệu quả, cây con bị chết nhiều phải trồng dặm lại Tuy nhiên, cách để giống của đồng bào H’Mông lại đảm bảo rằng cây ở thế hệ sau sẽ đậu kiến nhiều như cây mẹ Kinh nghiệm này của người dân cần được ghi nhận và nhân rộng

Trong khi lựa chọn cây chủ để thả rệp giống người dân có nhiều kiến thức bản địa về kỹ thuật lựa chọn cây thả rất hay Để nhận biết cây có khả năng đậu kiến họ quan sát vỏ cây, những cây có vỏ màu đen, đẽo vỏ nhấm có

Trang 40

vị ngọt cây đó chắc chắn sẽ đậu kiến; họ sẽ thả giống kiến trên cây đó Đây là kiến thức bản địa quý giá, được đúc rút từ thực tế không phải nơi nào cũng có được, cần phải phát huy và nhân rộng kiến thức bản địa này ra nhiều địa phương khác

Tuy nhiên chỉ áp dụng kiến thức bản địa vào nuôi thả cánh kiến đỏ sẽ không cho hiệu quả cao mà cần phải biết kết hợp kiến thức bản địa với kiến thức khoa học kỹ thuật Người dân H’Mông xã Huổi Lèng chưa áp dụng được kiến thức khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất cánh kiến đỏ Nguyên nhân do chưa có cơ quan ban ngành nào thực hiện chuyển giao những kiến thức khoa học đến người dân Trong khi phỏng vấn các hộ gia đình nhận thấy mong muốn của người dân là các cơ quan ban ngành tổ chức các buổi tập huấn kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ, kỹ thuật thu hoạch chế biến và bảo quản nhựa cánh kiến

5.2 Đánh giá vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đỏ đến phát triển kinh

tế - xã hội tại địa phương

5.2.1 Vai trò của nghề nuôi thả cánh kiến đến kinh tế hộ gia đình

Vai trò của sản xuất cánh kiến đỏ mang tính chất quyết định đến đời sống của người dân xã Huổi Lèng Cánh kiến đỏ đã và đang giúp người dân thoát nghèo Với hơn 90% dân số là người H’Mông kinh tế chưa phát triển, trong những năm gần đây cánh kiến đỏ đã đóng vai trò thúc đẩy nâng cao đời sống vật chất cho người dân

Để đánh giá vai trò của cánh kiến đỏ đối với kinh tế hộ gia đình tôi tiến hành phân tích kinh tế hộ gia đình để từ đó thấy được thu nhập từ cánh kiến

đỏ chiếm tỷ lệ như thế nào trong tổng thu nhập hộ gia đình

Các hộ gia đình được chia thành 4 nhóm, tiêu chí phân loại hộ như sau

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1, Đặng Văn A và Hà Văn Thi (1978), Thông báo khoa học kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ, Viện nghiên cứu lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo khoa học kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ
Tác giả: Đặng Văn A và Hà Văn Thi
Năm: 1978
2, Đặng Văn A và Hà Văn Thi (1985), sâu hại cánh kiến đỏ ở vùng núi Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Tóm tắt báo cáo hội thảo về nghiên cứu KHKT cánh kiến đỏ, Viện khoa học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: sâu hại cánh kiến đỏ ở vùng núi Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh
Tác giả: Đặng Văn A và Hà Văn Thi
Năm: 1985
5, Phạm Văn Chung (2002), Điều tra tổng kết kinh nghiệm nuôi thả cánh kiến đỏ tại lâm trường Mường Lát – Thanh Hóa, Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tổng kết kinh nghiệm nuôi thả cánh kiến đỏ tại lâm trường Mường Lát – Thanh Hóa
Tác giả: Phạm Văn Chung
Năm: 2002
6, Nguyễn Văn Chữa (2007), Cánh kiến đỏ Điện Biên, Báo cáo hội thảo sản xuất cánh kiến đỏ tại Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh kiến đỏ Điện Biên
Tác giả: Nguyễn Văn Chữa
Năm: 2007
7, Chi cục Lâm nghiệp Điện Biên (2006), Sản xuất cánh kiến đỏ tại Điện Biên, Báo cáo hội thảo sản xuất cánh kiến đỏ tại Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất cánh kiến đỏ tại Điện Biên
Tác giả: Chi cục Lâm nghiệp Điện Biên
Năm: 2006
9, Lê Văn Giai (1965), Kinh nghiệm sản xuất cánh kiến đỏ ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm sản xuất cánh kiến đỏ ở Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Giai
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học
Năm: 1965
10, Bùi Trung Hiếu (2005), Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp bảo vệ cánh kiến đỏ tại Mường Lát – Thanh Hóa, Khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp bảo vệ cánh kiến đỏ tại Mường Lát – Thanh Hóa
Tác giả: Bùi Trung Hiếu
Năm: 2005
11, Vũ Tiến Hinh (Chủ biên) và Phạm Ngọc Giao (1996), Giáo trình điều tra rừng - Trường Đại học Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình điều tra rừng - Trường Đại học Lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tiến Hinh (Chủ biên) và Phạm Ngọc Giao
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
12, Lê Nam Hùng (1973), Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bướm trắng hại cánh kiến đỏ, Tổng kết KHKT, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bướm trắng hại cánh kiến đỏ
Tác giả: Lê Nam Hùng
Năm: 1973
13, Nguyễn Đức Khảm (1985), Thông báo sinh học cánh kiến đỏ, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo sinh học cánh kiến đỏ
Tác giả: Nguyễn Đức Khảm
Năm: 1985
14, Nguyễn Thế Nhã (chủ biên) và Trần Công Loanh (2002), Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã (chủ biên) và Trần Công Loanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
15, Lê Thị Phi (1996), Nghiên cứu cơ sở khoa học của biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại cánh kiến đỏ ở Việt Nam. Luận văn tiến sĩ. Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học của biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại cánh kiến đỏ ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Phi
Năm: 1996
16, Nguyễn Xuân Thanh (1991), Cở sở khoa học để nuôi thả cánh kiến đỏ ở Đắc Lắc – Tây Nguyên, Luận văn Phó Tiến Sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cở sở khoa học để nuôi thả cánh kiến đỏ ở Đắc Lắc – Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Xuân Thanh
Năm: 1991
17, Thái Văn Trừng (1985), Kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ theo phương pháp sinh thái học thực nghiệm, NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi thả cánh kiến đỏ theo phương pháp sinh thái học thực nghiệm
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1985
18, Bhatacharya, A. Sen P, Menra. B.P. (1974), Records of Agathis cirythe Nixon as new parasite of Holcocera pulver, Mayeric, a predator of the lac inseet, Kerria lacca Kerr. Indian Jour Ento Sách, tạp chí
Tiêu đề: Records of Agathis cirythe Nixon as new parasite of Holcocera pulver, Mayeric, a predator of the lac inseet, Kerria lacca Kerr
Tác giả: Bhatacharya, A. Sen P, Menra. B.P
Năm: 1974
19, Glover, P.M (1937) Lac cultivation in India. Indian Lac Research Istitute, Namkum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lac cultivation in India
20, Liu Chung Lo (1957), The Lac in seet in China India Jour Ento. New Delhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Lac in seet in China India Jour Ento
Tác giả: Liu Chung Lo
Năm: 1957
21, Majumdar, N. and Bhatacharya, Yên Tử (1968), Effect of insecticidae spray on the long vity and fecundity of Enblemma ambilis Moore and Holcocera pulvera Meyeric. Indian Jour Ento Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of insecticidae spray on the long vity and fecundity of Enblemma ambilis Moore and Holcocera pulvera Meyeric
Tác giả: Majumdar, N. and Bhatacharya, Yên Tử
Năm: 1968
22, Teotia J.P. S, Purkhayastha B.K, Malhotra, C.p and Bhatacharya A. Package of practice for lac production Bull. Indian Lac Research Istitute, Namkum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Package of practice for lac production Bull
23, Trang Web, “Sinh vật rừng Việt Nam” “ Báo điện tử tỉnh Thanh Hoá – 28/2/2008” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sinh vật rừng Việt Nam” " “ Báo điện tử tỉnh Thanh Hoá – 28/2/2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 04: Mỹ phẩm - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 04 Mỹ phẩm (Trang 10)
Hình 03: Dược phẩm làm từ nhựa - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 03 Dược phẩm làm từ nhựa (Trang 10)
Hình 01: Sơn làm từ nhựa cánh kiến   Hình 02: Vật liệu dẫn nhiệt - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 01 Sơn làm từ nhựa cánh kiến Hình 02: Vật liệu dẫn nhiệt (Trang 10)
Bảng 5.1: Diện tích (ha) rừng Cọ khiết theo năm - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Bảng 5.1 Diện tích (ha) rừng Cọ khiết theo năm (Trang 29)
Hình 07: Cây Cọ khiết tại vườn - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 07 Cây Cọ khiết tại vườn (Trang 30)
Hình 09: Bản người H’Mông ven chân rừng Cọ khiết - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 09 Bản người H’Mông ven chân rừng Cọ khiết (Trang 30)
Bảng 5.2 Tỷ lệ phần trăm diện tích rừng Cọ khiết của các bản. - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Bảng 5.2 Tỷ lệ phần trăm diện tích rừng Cọ khiết của các bản (Trang 32)
Hình 10: Rừng Cọ khiết trồng - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 10 Rừng Cọ khiết trồng (Trang 33)
Năm 1980  Hình 11: Rừng Cọ khiết trồng năm - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
m 1980 Hình 11: Rừng Cọ khiết trồng năm (Trang 33)
Bảng 5.3: Tỷ lệ phần trăm cây đậu kiến trong 10 OTC - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Bảng 5.3 Tỷ lệ phần trăm cây đậu kiến trong 10 OTC (Trang 35)
Bảng 5.5 : Năng suất và sản lượng cánh kiến đỏ xã Huổi Lèng. - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Bảng 5.5 Năng suất và sản lượng cánh kiến đỏ xã Huổi Lèng (Trang 36)
Bảng 5.4: Tỷ lệ phần trăm số hộ sản xuất cánh kiến đỏ của một số bản. - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Bảng 5.4 Tỷ lệ phần trăm số hộ sản xuất cánh kiến đỏ của một số bản (Trang 36)
Hình 14: Chuẩn bị thả cánh kiến - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 14 Chuẩn bị thả cánh kiến (Trang 38)
Hình 13: Cây cọ khiết có khả năng - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Hình 13 Cây cọ khiết có khả năng (Trang 38)
Bảng 5. 6 Phân tích cơ cấu thu nhập ba bản   Huổi Toong 1, Huổi Toong 2, Chống Dình. - Đánh giá hiện trạng và phân tích vai trò của nuôi thả cánh kiến đối với cộng đồng người dân tộc H’mông tại xã Huổi Lèng – huyện Mường Chà – tỉnh Điện Biên
Bảng 5. 6 Phân tích cơ cấu thu nhập ba bản Huổi Toong 1, Huổi Toong 2, Chống Dình (Trang 41)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w