Nội dung được truyền đạt nhằm cung cấp những thông tin hiểu biết cho người nghe hoặc bày tỏ thái độ tình cảm của người nói cho người nghe chia sẻ hoặc tạo lập, duy trì quan hệ giữa người
Trang 1Để đạt được mục tiêu này cần phải đổi mới nội dung và phương pháp dạy học không chỉ cần những con người khéo tay, làm theo những khuôn mẫu cho sẵn, mà đào tạo ra những con người toàn diện, có thể chất khoẻ mạnh, tâm hồn phong phú, có đầy đủ tố chất của con người mới, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo
Học sinh tiểu học còn nhỏ tuổi, các em giàu trí tưởng tượng, cảm xúc
và sáng tạo Song thành phần sáng tạo ở lứa tuổi này vẫn còn phiến diện, nghiêng về nhận thức cảm tính, tư duy trừu tượng mới chỉ ở bước đầu phát triển Do đó, phải dạy học nh thế nào để có hiệu quả hơn
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để thúc đẩy quá trình dạy học sao cho có hiệu quả, nhằm đáp ứng được nhu cầu nhận thức của học sinh, khai thác và điều chỉnh vốn kinh nghiệm mà các em đã tích luỹ được trong cuộc sống, phát huy được tính tích cực tự giác của học sinh tiểu học Có nhiều cách giải quyết vấn đề này, khả thi nhất có lẽ là đổi mới nội dung và phương pháp dạy học
Năm 2001, Bộ giáo dục và đào tạo chính thức ban hành Chương trình tiểu học mới – bé chương trình của giáo dục tiểu học trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Cùng với chương trình các môn học khác, chương trình môn Tiếng Việt được biên soạn nhằm nâng
Trang 2cao chất lượng dạy học Tiếng Việt trên cơ sở phát huy những kinh nghiệm đã có và tiếp cận với những thành tựu hiện đại của việc dạy tiếng nói chung, dạy tiếng mẹ đẻ, tiếng phổ thông nói riêng của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Việc đổi mới nội dung tất yếu sẽ dẫn đến đổi mới phương pháp dạy học cho từng môn học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng Khi dạy các loại bài học tiếng Việt cần có sự linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng vùng, miền Dù sử dụng phương pháp nào, nguyên tắc cao nhất là phải phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, là tạo nhiều cơ hội cho học sinh luyện tập trong giao tiếp bằng tiếng Việt
1.2 Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới nhấn mạnh chủ trương:
“Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi” Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt Mục tiêu đó coi
trọng tính thực hành, thực hành các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong những môi trường giao tiếp cụ thể Điều này đã góp phần chỉ đạo việc biên soạn nội dung chương trình, SGK và chi phối các nguyên tắc, PPDH môn Tiếng Việt tiểu học
Quan điểm giao tiếp nói cụ thể hơn là quan điểm phát triển lời nói định
ra nguyên tắc, phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt Mỗi phân môn, mỗi tiết học, mỗi nội dung dạy học đều hướng tới mục đích phát triển lời nói
1.3 Đáp ứng nhu cầu phát triển của giáo dục, chương trình môn Tiếng Việt mới đã được soạn thảo năm 1991 và đã thử nghiệm năm 1996 Đến năm học 2002 – 2003, chương trình Tiếng Việt mới bắt đầu được triển khai đại trà trên toàn quốc Một trong những quan điểm cơ bản xây dựng chương trình là quan điểm giao tiếp và quan điểm này đã xuyên suốt chương trình tiểu học.Việc dạy học nói bước đầu hình thành và rèn luyện cho HS kĩ năng nói –
Trang 3mét trong những kĩ năng giao tiếp quan trọng của con người Mỗi hợp phần của môn Tiếng Việt đều rèn cho học sinh kĩ năng nói, trong đó hợp phần kể chuyện học sinh được trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp một cách hứng thú nhất Cho đến nay, việc triển khai trên toàn quốc chương trình Tiếng Việt
đã bước sang năm học thứ 5 nhưng phần lớn GV vẫn tỏ ra lúng túng khi tổ chức dạy học nói cho HS khi dạy phân môn kể chuyện nói chung và phân môn kể chuyện lớp 3 nói riêng
Xuất phát từ những lÝ do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Dạy luyện
nói cho học sinh líp 3 trong phân môn kể chuyện” làm đề tài luận văn của
mình
2 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nghiên cứu phát triển ngôn ngữ cho trẻ em đã và đang được các nhà giáo dục thế giới và trong nước quan tâm ở những bình diện khác nhau Các tài liệu cũng đã và đang đóng góp nhiều thành quả trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhất là trẻ trước tuổi tiểu học Tuy nhiên, việc nghiên cứu và vận dụng các biện pháp giúp phát triển lời nói cho HS tiểu học vẫn chưa nhận được sù quan tâm nghiên cứu thoả đáng của các nhà giáo dục
Bởi vậy, nghiên cứu về các biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh líp 3 trong phân môn kể chuyện là việc làm cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Trong luận văn,chúng tôi sẽ tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu để làm sáng tỏ các vấn đề mà chúng tôi quan tâm
3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh líp 3 và một số giáo viên tiểu học đang dạy lớp 3
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung phân môn kể chuyện và dạy học luyện nói trong phân môn kể chuyện lớp 3
- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung và phương pháp dạy học luyện nói cho học sinh
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trang 4Đề tài “Dạy luyện nói cho học sinh líp 3 trong phân môn Kể chuyện” góp
phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn kể chuyện lớp 3 nói chung và kỹ năng luyện nói cho HS nói riêng Thông qua một số phương pháp nhằm phát triển kĩ năng nói trong phân môn kể chuyện, đề tài tiến hành tổ chức dạy học nội dung này theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh nhằm đạt hiệu quả dạy học cao hơn
Để đạt được mục đích đó cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Tìm hiểu nội dung phân môn kể chuyện lớp 3
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng phân môn kể chuyện
- Phân loại hệ thống bài tập của phân môn kể chuyện lớp 3
- Đánh giá những điểm mới của phân môn kể chuyện lớp 3
4.2.2 Đề xuất một số phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học luyện nói trong phân môn kể chuyện lớp 3
- Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp phát triển
kĩ năng nói để tổ chức dạy học kể chuyện cho học sinh líp 3
- Một sè phương pháp dạy học phân môn kể chuyện nhằm phát triển kĩ năng nói cho học sinh líp 3
4.2.3.Xây dùng một số bài tập nhằm luyện nói cho học sinh líp 3 trong phân môn Kể chuyện
4.2.4 Tổ chức thực nghiệm dạy học phân môn kể chuyện cho học sinh líp 3 theo các phương pháp dạy học đã đề ra.
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu GV vận dụng các phương pháp dạy học một cách phù hợp nhằm phát triển kĩ năng nói để tổ chức dạy học phân môn kể chuyện sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Từ đó nâng cao được hiệu quả dạy học, tăng cường năng lực sử dụng ngôn ngữ nói phù hợp với mỗi hoạt động giao tiếp của HS
Trang 56 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2 Phương pháp quan sát
6.3 Phương pháp điều tra khảo sát
6.4 Phương pháp thống kê
6.5 Phương pháp thực nghiệm
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Bước đầu đưa ra một cách nhìn tổng quát về SGK Tiếng Việt 3 và nội dung phân môn kể chuyện trong SGK Tiếng Việt 3
- Cung cấp một số thông tin về thực trạng dạy học phân môn kể chuyện cho HS líp 3
- Đưa ra một số phương pháp dạy học đặc trưng nhằm rèn kĩ năng nói cho HS trong phân môn kể chuyện ở SGK Tiếng Việt lớp 3, cách thiết
kế bài dạy kể chuyện nhằm nâng cao hiệu quả dạy học luyện nói trong phân môn kể chuyện cho HS líp 3
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn này gồm ba phần:
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC LUYỆN NÓI
TRONG PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN LỚP 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Lý thuyết giao tiếp và những vận dụng vào dạy luyện nói cho học sinh líp 3 trong phân môn kể chuyện
1.1.Khái niệm về giao tiếp
Như chóng ta đã biết, giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài người Có nhiều phương tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ
là phương tiện quan trọng nhất, cơ bản nhất
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Giao tiếp là một hoạt động xảy ra khi
có một chủ thể phát tin, sử dụng một tín hiệu để truyền đến cho chủ thể nhận tin một nội dung nào đó Giao tiếp là hoạt động có đích Nội dung được truyền đạt nhằm cung cấp những thông tin (hiểu biết) cho người nghe hoặc bày tỏ thái độ tình cảm của người nói cho người nghe chia sẻ hoặc tạo
lập, duy trì quan hệ giữa người nói người nghe” (Cơ sở ngữ nghĩa học và
từ vựng -NXBGD-H2000 trang 32)
Cùng với quan điểm trên, tác giả Lê A, Đỗ Xuân Thảo cũng cho rằng
“khi có Ýt nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau điều gì đấy như nỗi buồn, vui, ý muốn, hành động, hay nhận xét nào đấy về sự vật xung quanh
thì giữa họ diễn ra một hoạt động giao tiếp (gọi tắt là giao tiếp)”[Giáo trình tiếng việt 1-NXBGD-1997 trang27]
Như vậy, giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội với nhau, dùng ngôn ngữ để bày tỏ tư tưởng, tình cảm, trao đổi ý kiến,
Trang 7kiến thức, nhận xét về xã hội, con người, thiên nhiên Mỗi cuộc giao tiếp tối thiểu phải có hai người và phải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định
Giao tiếp tồn tại dưới hai dạng: giao tiếp bằng lời (giao tiếp miệng)
và giao tiếp bằng văn tự (giao tiếp viết)
Vấn đề đặt ra là tại sao con người lại phải giao tiếp với nhau? Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong mục đích và chức năng của giao tiếp Vai trò
mà giao tiếp đảm nhận trong đời sống cộng đồng chính là chức năng của ngôn ngữ Giao tiếp có 4 chức năng chính:
Chức năng thông tin (chức năng thông báo): Qua các cuộc giao tiếp
người ta trao đổi những thông tin (các tin tức thời sự, chính trị, các tri thức khoa học, văn học nghệ thuật ) dưới dạng nhận thức, tức là họ đã thực hiện chức năng thông báo của giao tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người Đây chính là chức năng mà chúng ta thường gặp trong giao tiếp
Chức năng tạo lập quan hệ: Không chỉ dừng lại ở việc trao đổi thông
tin, trong quá trình giao tiếp con người còn hướng tới việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp giữa những cá nhân tham gia giao tiếp Đôi khi, mục đích này lại là mục đích chính của cuộc giao tiếp Tuy nhiên, chức năng này bao gồm cả chức năng phá vỡ quan hệ
Chức năng giải trí: Trong cuộc sống có những lúc con người phải
làm việc, hoặc học tập quá vất vả, những lúc như thế con người cần được nghỉ ngơi thư giãn Hoạt động giao tiếp với những câu chuyện cười, những lời đùa vui dí dỏm sẽ là liều thuốc hiệu nghiệm xua đi những mệt mỏi ưu phiền, làm cho con người thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn và hứng thú hơn với công việc hàng ngày của mình Đặc biệt trong thời đại ngày nay, chức năng này có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết
Chức năng tạo lập quan hệ: Cùng với chức năng giải trí, giao tiếp còn
có chức năng tạo lập quan hệ Các cuộc giao tiếp không chỉ giúp con người trao đổi thông tin với nhau mà còn giúp họ xây dựng và duy trì các mối quan
Trang 8có chức năng này mà con người có thể cộng tác được với nhau và thúc đẩy xã hội phát triển.
Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp con người có thể tự bộc lộ
mình về tình cảm, sở thích, trạng thái sức khoẻ, hay nguyện vọng, năng khiếu.Đối với các sự vật, hiện tượng hoặc một vấn đề nào đó mà họ quan tâm Tất cả các điều đó đều được thể hiện trong lời nói của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động giao tiếp Tuy nhiên trong quá trình giao tiếp con người có thể tự biểu hiện mình về nhiều mặt một cách có ý thức hoặc không có ý thức
Từ việc tìm hiểu những chức năng giao tiếp trên, chúng ta có cơ sở
để thực hiện thành công những cuộc giao tiếp trong cuộc sống Mặt khác
nó còn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học Nắm được những chức năng này sẽ giúp GV có cơ sở để đánh giá kết quả những ngôn bản nói và viết mà HS tạo ra trong quá trình học tập, giao tiếp một cách đầy đủ hơn, chính xác hơn và toàn diện hơn
1.2 Các nhân tố giao tiếp
Nhân tè giao tiếp là những yếu tố cùng có mặt và tham gia đồng thời vào một hoạt động giao tiếp nào đấy, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc để lại những dấu Ên trong hoạt động giao tiếp đó Vậy có những nhân tố nào tham gia vào hoạt động giao tiếp Người ta thường nhắc đến các nhân tố sau đây đã tham gia và ảnh hưởng đến các cuộc giao tiếp
1.2.1.Nhân vật giao tiếp.
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp Nhân vật giao tiếp có thể được chia làm hai loại nhân vật mà theo lý thuyết thông tin gọi là người phát (bao gồm người viết hoặc nói) và người nhận ( bao gồm người đọc hoặc nghe) Có nhiều nhân tố giữa hai loại nhân vật này ảnh hưởng đến kết quả giao tiếp như : trình độ và nghệ thuật nói năng của người nói; mức độ quan hệ giữa người nói và người nghe
Trang 9Để hoạt động giao tiếp luôn được diễn ra từ hai phía thì các nhân vật giao tiếp phải thực sự có nhu cầu và ý thức hợp tác với nhau trong suốt quá trình giao tiếp Nếu một trong hai nhân vật này không có nhu cầu giao tiếp thì cuộc giao tiếp sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn.
1.2.2 Hiện thực được nói tới
Hiện thực được nói tới chính là sự vật, hiện tượng, những sự kiện diễn
ra trong thế giới tự nhiên và trong đời sống xã hội của con người Hiện thực được nói tới cấu thành nội dung của cuộc giao tiếp và tạo nên đề tài, chủ đề của các cuộc nói chuyện Tuỳ theo đề tài, chủ đề của các cuộc nói chuyện mà
cả hai bên lựa chọn các nội dung chi tiết và phương tiện ngôn ngữ để giao tiếp
1.2.3.Hoàn cảnh giao tiếp
Cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể Hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại:
Hoàn cảnh giao tiếp rộng là tổng thể những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử Những yếu tố này có ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng nội dung giao tiếp và nó thường được thể hiện trong những hiểu biết, tư duy của nhân vật giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp hẹp còn gọi là tình huống giao tiếp, bao gồm các yếu tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khoẻ Tồn tại trong quá trình giao tiếp Tình huống giao tiếp tạo ra những quy định bất thành văn về cách thức nói năng, ứng xử mà mỗi thành viên tham gia giao tiếp trong hoàn cảnh đó đều phải tuân thủ thông qua các yếu tố ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cuộc giao tiếp
1.2.4.Ngôn ngữ được sử dụng
Ngôn ngữ là công cụ để cả hai bên tiến hành giao tiếp Cuộc giao tiếp chỉ được thực hiện tốt khi cả hai bên cùng sử dụng chung một thứ
Trang 10với sử dụng lời nói, nhưng vốn ngôn ngữ và năng lực sử dụng ngôn ngữ của mỗi cá nhân trong quá trình giao tiếp có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giao tiếp Nếu không có vốn từ phong phú, không nắm vững các quy tắc sử dụng ngôn từ thì người nói, viết sẽ không diễn đạt được một cách đầy đủ, chính xác ý định hoặc nội dung mà mình định truyền đi, còn người nhận sẽ không đủ năng lực phân tích, nhìn nhận, giải mã những thông tin
mà mình nhận được Từ đó dẫn đến tình trạng người phát, người nhận hiểu sai, hiểu lầm ý của nhau Ngược lại, nếu nắm được những biến thể của ngôn ngữ thì sẽ cảm nhận được cái hay cái đẹp của ngôn từ, đồng thời qua
đó hiệu quả giao tiếp sẽ đạt được một cách tối đa Nắm được điều này, trong quá trình giảng dạy GV cần giúp HS nắm chắc các quy tắc sử dụng ngôn từ và mở rộng tối đa vốn từ vựng của các em, đồng thời thường xuyên tiến hành các hoạt động thực hành, có như vậy hiệu quả của giờ Kể chuyện mới được nâng cao
Ngôn bản nói là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ thể hiện ra bằng âm thanh, bằng lời nói miệng khi giao tiếp
Ngôn bản viết là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ được thể hiện bằng con chữ trong các tác phẩm viết
Như vậy, dấu hiệu để phân biệt giữa ngôn bản nói và ngôn bản viết chính là ở yếu tố cấu thành lời nói khi giao tiếp (âm thanh hay chữ viết) Thêm vào đó, chúng còn có sự khác nhau về đối tượng tiếp nhận ngôn bản
Trang 11Thường thì ở ngôn bản nói luôn có sự hiện diện của người nghe, còn ở ngôn bản viết thì không có sự hiện diện của người đọc.
Nội dung của ngôn bản là thành phần phản ánh thực tế, phản ánh thái
độ, tình cảm, sự đánh giá hiện thực được nói tới và phản ánh ý muốn tác động tới hành động của người tiếp nhận ngôn bản khi giao tiếp
Nội dung của ngôn bản được chia làm hai phần: nội dung sự vật (còn gọi là nội dung miêu tả) và nội dung liên cá nhân (còn gọi là nội dung biểu cảm) Nội dung sự vật được coi là quan trọng nhất bao gồm tất cả những yếu tố có liên quan đến hiện thực được nói tới trong ngôn bản và nội dung này chính là thành phần chủ yếu thực hiện đích thuyết phục về nhận thức khi giao tiếp Nội dung liên cá nhân bao gồm tất cả những gì thuộc về thái
độ tình cảm, sự đánh giá nhận xét của người tạo ra ngôn bản đối với nội dung sự vật cũng như đối với người tiếp nhận ngôn bản Thành phần nội dung liên cá nhân sẽ là thành phần chủ yếu thực hiện đích thuyết phục về tình cảm và hành động khi giao tiếp
Nội dung và hình thức của ngôn bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nội dung ngôn bản thường quyết định việc lựa chọn hình thức của ngôn bản, ngược lại hình thức của ngôn bản lại thể hiện rõ nội dung của ngôn bản Tuy nhiên, mối quan hệ này không mang tính chất đối ngẫu, nghĩa là với một nội dung nhất định của ngôn bản thì chỉ có một hình thức thể hiện duy nhất phù hợp, ngược lại một hình thức thể hiện chỉ phù hợp duy nhất với một nội dung nhất định
Trang 12Như vậy, trong một ngôn bản các yếu tố cấu thành ngôn bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
* Quá trình sản sinh ngôn bản:
Quá trình mã hoá ngôn ngữ để sản sinh ra các ngôn bản gồm 4 giai đoạn: định hướng; lập trình biểu đạt; hiện thực hoá chương trình biểu đạt
và kiểm tra kết quả
1.3 Vận dụng lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ vào dạy luyện nói cho học sinh líp 3 trong phân môn Kể chuyện
Chương trình và SGK Tiếng việt được biên soạn theo quan điểm giao tiếp Quan điểm này đã chi phối toàn bộ chương trình Nh vậy các kĩ năng
sử dụng ngôn ngữ rất được coi trọng( nghe, nói, đọc, viết) đặc biệt kĩ năng nói (kĩ năng độc thoại và hội thoại) thể hiện rất rõ thông qua nội dung, phương pháp, hình thưc tổ chức dạy học, và hệ thống bài tập
Phân môn Kể chuyện là một phân môn không thể thiếu trong nhà trường tiểu học, nhu cầu được kể và nghe kể chuyện của học sinh tiểu học rất cao cho dù những truyện đó các em đã biết đã được nghe kể
Việc dạy kể chuyện thực chất là dạy các em thực hành những ngôn bản nói để phục vụ hoạt động và giao tiếp Trước một bài tập Kể chuyện hay một tình huống giao tiếp HS cần có kĩ năng tìm kiếm những nhân tố
giao tiếp (nhân vật giao tiếp, hiện thực giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, ngôn ngữ được sử dụng, ngôn bản).Các em phải xác định được: cần thông
báo nội dung gì, hướng nội dung đó đến ai Chính điều này sẽ quyết định việc thực hiện lựa chọn từ ngữ, chi tiết, hình ảnh, giọng điệu, phong cách….để thực hiện ngôn bản nói
Trong quá trình dạy kể chuyện lí thuyết giao tiếp giúp GV có sự định hướng về phương pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã
đề ra Việc vận dụng lí thuyết giao tiếp vào quá trình dạy luyện nói trong phân môn Kể chuyện một cách linh hoạt sẽ tạo cho HS có môi trường giao tiếp, nội dung giao tiếp, và hướng đến hoạt động giao tiếp đúng đắn
Trang 13Nh vậy GV cần biết chuyển những bài tập kể chuyện thành những môi trường giao tiếp thông thường, gần gũi với HS giúp các em vận dụng kinh nghiệm của mình để thực hành giao tiếp và phát triển lời nói một cách
tự nhiên nhất
Ví dụ1: Câu chuyện “ Người liên lạc nhỏ” (TV3-tuần 14)
Bài tập: Dựa vào tranh kể lại toàn bộ câu chuyện.
Nếu chỉ thực hiện theo đúng yêu cầu của bài tập, nghĩa là từng HS sẽ nhìn vào tranh và kể câu chuyện, như vậy các em sẽ đọc y nguyên câu chuyện được học qua giờ Tập đọc mà không có sự sáng tạo trong lời kể.Để
Hs kể đúng và kể hay câu chuyện, GV cần chú ý vận dụng lí thuyết giao tiếp vào hướng dẫn HS kể chuyện
Ví dô:
GV nên đặt câu hỏi để HS xác định nội dung, đối tượng nghe kể chuyện, mục đích và hoàn cảnh kể chuyện (Em kể chuyện gì? Kể cho ai nghe?Kể trong hoàn cảnh nào?Nhằm mục đích gì?)
Từ các nhân tố đã xác định HS lựa chọn ngôn từ, lời kể cho phù hợp.Sau khi xác định như trên, các em cần được tìm hiểu hoàn cảnh diễn
ra câu chuyện, tìm hiểu về nhân vật chính (anh Kim Đồng) Vì đây là câu chuyện lịch sử kể về cậu bé Kim Đồng đã anh dòng hi sinh trong cuộc chiến tranh để bảo vệ tổ quốc Trong suy nghĩ của các em “ chiến tranh” là một cái
gì đó rất xa lạ, nên khó có thể hình dung và kể laị một cách sinh động
Ví dụ: Câu chuyện kể về ai?(Anh Kim Đồng), câu chuyện diễn ra ở đâu,trong hoàn cảnh nào (ở chiến khu Việt Bắc, thời kí kháng chiến chống Pháp)
Lúc này GV phải là người tổ chức lớp một cách linh hoạt để HS hiểu
từ ngữ của truyện, tạo cơ hội cho HS được thực hành trong môi trường giao tiếp để tự kể một cách tự nhiên, hào hứng mà không bị gò Ðp theo khuôn mẫu của câu chuyện đã học
Trang 14ké, Nùng, Tây đồn giáo viên cần cho học sinh hiểu thêm về sự hi sinh, mất mát của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập ( thực dân Pháp
đã đưa lính sang xâm chiếm nước ta, những tên lính Pháp với vóc dáng to lớn, hung dữ, đi đến đâu tàn phá làng bản của dân ta đến đó )
Khi đã hiểu được những nhân vật trong truyện HS sẽ dễ tạo lập được ngôn bản mới cho mình
Ví dụ2: Bức tranh 2
HS có thể kể như sau:
Đến quãng suối, bất chợt Kim Đồng nhìn thấy mấy tên lính Pháp, cao lớn, dữ tợn, đang đi tuần Kim Đồng bình tĩnh còn ông Ké vội tránh sau lưng một tảng đá to, nhưng bọn lính đã trông thấy, chúng kêu ầm lên.Biết mình đã bị lộ, ông ké thản nhiên nhìn bọn lính, và ngồi xuống tảng
đá như người đi đường xa mỏi chân, ngồi nghỉ.
Như vậy GV sau khi GV giúp HS xác định các nhân tố giao tiếp các
em có cơ hội hiểu thêm những nhân vật trong truyện, nội dung câu chuyện, diễn biến câu chuyện, hoàn cảnh câu chuyện Từ đó HS có điều kiện phát huy khả năng nói của mình một cách tự nhiên nhất
2 Lí thuyết hội thoại và việc vận dụng lí thuyết hội thoại vào dạy học luyện nói cho học sinh líp 3 trong phân môn Kể chuyện.
"Lý thuyết hội thoại tính đến nay là lĩnh vực cuối cùng của ngôn ngữ học quan tâm đến các diễn ngôn trong hoạt động, trong hoàn cảnh giao tiếp" [Đại cương ngôn ngữ học -NXBGD-1996 trang 27]
2.1.Khái niệm hội thoại và các kiểu hội thoại
"Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản thường xuyên phổ biến của
hành chức ngôn ngữ" [Đại cương ngôn ngữ học trang 27-NXBGD-1996]
Diễn đạt lại cho cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu hơn thì hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời nói miệng giữa các nhân vật tham dù giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc tư tưởng, tình cảm… theo một mục đích đã đặt ra Lời nói trong hội thoại được gọi chung là lời thoại
Trang 15* Các kiểu hội thoại.
Có nhiều kiểu hội thoại khác nhau, tùy thuộc vào những nhân tố giao tiếp được lấy làm cơ sở để phân chia, cụ thể là:
- Dựa vào nhân vật giao tiếp người ta chia thành hai kiểu: đơn thoại và đa thoại
+ Đơn thoại: là kiểu hội thoại chỉ có một người chủ động nói còn những người khác đóng vai trò là người nghe, thậm chí nói cho chính bản thân mình nghe (độc thoại) Lời nói trong đơn thoại gọi là lời độc thoại.+ Đa thoại: là kiểu hội thoại giữa hai hay nhiều người cùng tham gia hoạt động giao tiếp nói với nhau Tùy thuộc vào số lượng cụ thể của người tham gia giao tiếp mà người ta chia nhỏ thành: song thoại (hội thoại giữa hai người), tam thoại (hội thoại giữa ba người), tứ thoại (hội thoại giữa bốn người)… và đa thoại (nhiều người) Lời nói trong đa thoại là lời đối thoại,
nó phải nằm trong một mạch của nhiều lời nói do nhiều người nói lần lượt nối tiếp nhau Mỗi lời nói phải ăn nhập vào mạch chung của nội dung câu chuyện thì mới đảm bảo cho cuộc hội thoại đạt kết quả tốt Điều này đòi hỏi giữa những người hội thoại phải có sự thỏa thuận ngầm với nhau về nội dung hội thoại và đặc biệt là họ phải cùng nhau thực hiện tốt những quy tắc hội thoại như: phải biết trao lời, tiếp lời đúng lúc; phải tôn trọng thể diện của nhau; phải có ý thức hợp tác với nhau trong suốt quá trình triển khai cuộc thoại…
Trong phân môn Kể chuyện lớp 3, phần lớn các dạng bài tập gồm cả
đơn thoại và đa thoại Đơn thoại chiếm tỉ lệ nhiều hơn(dạng bài tập nhập vai,
kể theo lời tác giả), còn đa thoại chủ yếu là kiểu đối thoại (kiểu bài tập phân vai) Trên cơ sở nắm vững khái niệm và đặc điểm của các loại hội thoại, khi
dạy luyện nói cho HS, GV cần biết luyện cho các em biết dùng lời độc thoại
và lời đối thoại Với lời độc thoại, GV phải giúp HS nói cho đầy đủ, có đầu có cuối một cách ngắn gọn, rành mạch, rõ ràng, giúp cho người nghe hiểu được
Trang 16nắm được diễn biến nội dung câu chuyện và có những lời nói phù hợp; Đồng thời phải giúp các em ý thức được khi nào cần nhường lời, tiếp lời,… cũng như việc lựa chọn, sử dụng thêm các yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,…) phụ trợ thêm cho lời nói của mình đạt kết quả cao nhất.
- Dựa vào hoàn cảnh giao tiếp hẹp diễn ra hội thoại người ta chia thành hai kiểu:
+ Hội thoại có tính chất nghi thức chính thức mang tính quy phạm: Đây là cuộc thoại đòi hỏi người tham gia tính toán suy nghĩ rất kĩ lưỡng trước khi nói sao cho phù hợp với vai (vị thế) của mình cũng như nội dung, hoàn cảnh giao tiếp lúc đó
+ Hội thoại không mang tính nghi thức: đây là những cuộc thoại mang tính riêng tư mà người tham gia có thể tự nhiên, thoải mái hơn khi bộc lộ
những suy nghĩ, tư tưởng của mình (Ví dụ: trò chuyện, thảo luận…).
Trong phân môn Kể chuyện lớp 3 có một số truỵện về nghi thức lời
nói (Ai có lỗi,Các em nhỏ và cụ già…) Khi dạy những dạng bài này, GV
phải giúp HS xác định vai của mình trong từng tình huống giao tiếp cụ thể
để các em lựa chọn cách xưng hô cũng như cách thể hiện thái độ cho đúng mực khi nói
- Dựa vào nội dung đề tài cuộc thoại ta có thể có các kiểu hội thoại bắt buộc (nội dung được định trước) và hội thoại tự do bao gồm nhiều kiểu đề tài khác
nhau như: đề tài học tập, đề tài thể thao, truyền thống dân tộc Người tham gia
hội thoại cần nắm vững nội dung đề tài để chủ động lời nói cho phù hợp với mỗi tình huống đặt ra
2.2 Các vận động hội thoại
Nói đến hội thoại phải nói đến người nói và người nghe với những hoạt động của người đó Họ sẽ thực hiện những vận động chính của một cuộc thoại là vận động trao lời, vận động đáp lời và vận động tương tác
* Vận động trao lời:
Trong hội thoại, thông thường khi một người nào đó nói ra và hướng
Trang 17lời nói của mình tới người nghe thì người đó đã thực hiện một vận động, ta gọi đó là vận động trao lời (trừ trường hợp độc thoại)
Khi đóng vai trò của người trao lời, người nói cần đảm bảo một số yêu cầu nhất định, cụ thể là:
+ Phải xác định vị thế xã hội của mình khi trao lời, qua đó gián tiếp xác định vị thế xã hội cho người nghe trong giao tiếp (thể hiện ở việc lựa chọn các đại từ xưng hô hoặc các danh từ thay thế cho đại từ đó)
+ Là người giữ vai trò khởi xướng hội thoại (mở đầu giao tiếp) bởi vậy lời trao phải có sự chủ động định hướng cho nội dung cuộc thoại
Tuy nhiên, khi thực hiện vận động trao lời, người nói phải có sự tôn trọng người nghe, tôn trọng những nghi thức giao tiếp, chuẩn mực giao tiếp do xã hội quy định
* Vận động đáp lời:
Sự đáp lời là một nhu cầu bức thiết của việc nói năng Khi đã có người trao lời mà không có sự đáp lời thì chưa thể gọi là hội thoại Trao lời và đáp lời là hai vận động cơ bản của hội thoại, giữa chúng cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau, bởi thế người thực hiện vận động đáp lời cũng phải thể hiện được sự nhiệt tình, cởi mở sẵn sàng khi đáp lời để cuộc hội thoại tiến triển và kết thúc tốt đẹp
* Vận động tương tác:
- Vận động tương tác là vận động tác động lẫn nhau, cùng làm cho nhau biến đổi Hội thoại là một vận động tương tác vì những đối tượng tham gia giao tiếp luôn có sự tác động lẫn nhau bằng lời nói, bằng điệu bộ,
cử chỉ, thái độ, ánh mắt… Kết quả là dù Ýt hay nhiều, họ cũng sẽ làm cho nhau biến đổi khi hội thoại kết thúc Sự biến đổi này thường được thể hiện
ở khoảng cách giữa những nhân vật giao tiếp vào thời điểm trước và sau khi giao tiếp
Trong quá trình dạy học kể chuyện , người trao lời thường là GV, còn
Trang 18lời, các bạn khác là người đáp lời (thực hiện dạng bài tập hỏi đáp) GV cần hướng dẫn để HS đáp lời một cách nhiệt tình, cởi mở, tự tin Về phía người trao lời cũng cần chú ý cách trao lời cho phù hợp, làm sao kích thích, thúc đẩy nhu cầu, hứng thú đáp lời ở HS với vị trí ở những vai giao tiếp khác nhau Nh vậy, việc dạy học kể chuyện mới có hiệu quả, mới thực sự rèn luyện được kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp cho HS.
2.3 Các quy tắc hội thoại
* Quy tắc thương lượng hội thoại
Thương lượng hội thoại là sự thỏa thuận giữa những người tham gia giao tiếp về nội dung đề tài, về vị thế giao tiếp, hình thức giao tiếp… Khi
có được sự thỏa thuận thống nhất thì cuộc giao tiếp mới có thể bắt đầu được
* Quy tắc luân phiên lượt lời:
Quy tắc này yêu cầu khi có hai người tham gia giao tiếp trở lên thì họ phải biết luân phiên lượt lời cho nhau Lượt lời là khi có một lời trao đến cho một người nào đó thì người đó phải thực hiện vận động đáp lời vào thời điểm lời đã trao kết thúc Như vậy, khi người này nói thì người kia phải biết nhường lời và lắng nghe, đồng thời phải phát hiện ra dấu hiệu kết thúc của lời trao mà mình đang nhận để đáp lời hoặc tiếp lời cho phù hợp để cuộc hội thoại được diễn ra liền mạch.Phân môn Kể chuyện quy tắc này được thể hiện rất rõ trong dạng bài tập phân vai dựng lại câu chuyện
* Quy tắc liên kết hội thoại.
Trong hội thoại, những lời nói của người tham gia giao tiếp phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau Sự liên kết này thể hiện ở các nội dung và hình thức của các hội thoại Về nội dung: các lời nói phải cùng hướng về nội dung đề tài nhất định Về hình thức: các lời thoại cũng cần có những dấu hiệu liên kết cụ thể, ví dụ việc sử dụng các phép thế, phép lặp, phép nối, các quan hệ từ… để liên kết các lời nói lại với nhau khi giao tiếp Tuy nhiên, sự liên kết hội thoại này không nhất thiết phải diễn ra trong suốt cuộc thoại
Trang 19* Quy tắc tôn trọng thể diện của nhau:
Quy tắc này quy định những người tham gia giao tiếp phải có ý thức giữ gìn thể diện cho nhau và cũng là cho chính bản thân mình Khi giao tiếp, người nói phải biết lựa chọn lời nói cho phù hợp với đặc điểm cá tính của người nghe Đồng thời đòi hỏi người nói phải biết khiêm tốn, không nên nói quá nhiều về bản thân mình vì có thể nó sẽ khiến cho người nghe khó chịu Đây cũng là điều cần chú ý khi hội thoại
* Quy tắc cộng tác hội thoại.
Người nói và người nghe cần có sự cộng tác với nhau trong suốt quá trình hội thoại về các mặt: nội dung hội thoại, hình thức hội tho ại, chất lượng hội thoại, quan hệ hội thoại… Cụ thể, quy tắc này đòi hỏi mỗi người tham gia giao tiếp phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản sau đây:
- Nói những thông tin đúng nh mục đích hội thoại yêu cầu
- Nói những gì liên quan đến đề tài hội thoại
- Không nên nói những gì chưa đúng hoặc chưa đủ bằng chứng
- Lời nói phải ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, không quá dài nhưng cũng không cụt lủn, nhấm nhẳng, cộc lốc mà phải đảm bảo văn hóa ứng xử
- Tránh nói những câu tối nghĩa hoặc những câu mơ hồ
- Phải chăm chú lắng nghe người khác nói, tránh ngắt lời người khác một cách đường đột
- Những phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng kèm theo lời nói
(nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ…) phải phù hợp và thể hiện được tính
văn minh lịch sự khi giao tiếp
Tóm lại, trên đây là những quy tắc hội thoại cơ bản nhất mà mỗi chúng ta cần tôn trọng và thực hiện tốt để thể hiện tính văn hóa khi giao tiếp Những quy tắc này cũng là những cơ sở để cho người GV tìm ra nguyên nhân thành công hay thất bại của mỗi cuộc giao tiếp do mình thực
Trang 20những yêu cầu khác nhau nhằm rèn luyện kĩ năng nói trong thực hành giao tiếp cho HS.
2.4.Vận dụng lí thuyết hội thoại vào dạy luyện nói cho học sinh líp 3 trong phân môn Kể chuyện.
Mục tiêu của mỗi phân môn trong bộ môn Tiếng Việt đều hướng tới
kĩ năng độc thoại và hội thoại Trong tất cả các phân môn, có lẽ phân môn
Kể chuyện ngoài việc rèn kĩ năng độc thoại, HS còn được rèn thêm kĩ năng hội thoại qua mỗi câu chuyện kể.Vì qua nhiều kiểu bài tập, nhiều cách tổ chức học tập, HS được hội thoại, giao tiếp với nhau
Để dạy HS kể chuyện tốt, cụ thể là dạy HS kể tốt những đoạn hội thoại, cần giúp các em xác định lời hội thoại của các nhân vật diễn ra trong hoàn cảnh nghi thức hay không mang tính nghi thức Lời trao, lời đáp là của những người ngang vai hay của những người vai dưới nói với người vai trên hoặc người vai trên nói với người vai dưới.Lời trao, lời đáp Êy có
ăn nhập liền mạch về nội dung không? Có thể hiện đúng quan hệ giao tiếp không? Những lời trao-lời đáp Êy có đúng với quy tắc hội thoại không?
Ví dụ: Câu chuyện “Chiếc áo len”
Đoạn 3: Đoạn Tuấn nói chuyện với mẹ.
Một lúc lâu, bỗng em nghe tiếng anh Tuấn thì thào với mẹ:
-Mẹ ơi, mẹ dành hết tiền mua cái áo Êy cho em Lan đi.Con không cần thêm áo đâu.
Giọng mẹ trầm xuống:
-Năm nay trời lạnh lắm Không có áo Êm, con sẽ ốm mất.
-Con khoẻ lắm, mẹ ạ.Con sẽ mặc thêm nhiều áo cũ ở bên trong.
Tiếng mẹ âu yếm:
-Để mẹ nghĩ đã.Con đi ngủ đi.
Qua ví dụ trên chúng tôi thấy:
+Hoàn cảnh giao tiếp thông thường (hoàn cảnh không nghi thức)+Nội dung lời trao lời đáp của Tuấn và mẹ xoay quanh nội dung
Trang 21chiếc áo len.
+Lời của Tuấn nói với mẹ là lời của vai dưới với vai trên, lời của mẹ nói với Tuấn là lời của người vai trên với vai dưới
Lời trao, lời đáp nhịp nhàng, liền mạch
Để HS đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình hội thoại GV cần giúp các em xác định được những việc cần làm để thực hiện tốt những bài tập
Kể chuyện Đó là : Kể về chuyện gì?(Nội dung câu chuyện), kể cho ai nghe (đối tượng), kể để làm gì?(mục đích).
Ví dụ: Câu chuyện “Chiếc áo len”(TV3-tuần 3-tr21)
Bài tập: Dựa vào các gợi ý dưới đây, kể lại từng đoạn câu chuyện Chiếc áo len theo lời của Lan.
Nội dung: Kể về cô bé Lan thích chiếc áo đẹp và đòi mẹ mua Vì nhà nghèo nên với mẹ Lan, chiếc áo đó bằng hai chiếc áo của Tuấn và Lan Biết được tâm trạng đó của mẹ, Tuấn đã nói với mẹ để nhường cho Lan Lan nghe được câu chuyện của anh và mẹ nên rất ân hận và nói với mẹ để dành tiền mua áo cho hai anh em.
Đối tượng: Cho cô giáo và các bạn nghe.
Mục đích: Rèn kĩ năng kể chuyện người thực, việc thực, từ đó có ý thức kể và nhận thức được chuẩn mực hành vi đạo đức.
Đối với mỗi yêu cầu trên nếu HS thực hiện một cách chính xác có nghĩa là các em đã làm tốt bài luyện nói của mình trong tiết Kể chuyện Tuy nhiên, với hệ thống bài tập phong phú sẽ là cơ sở để HS được luyện nói.Mỗi bài tập được chi phối bởi nội dung câu chuyện, mỗi câu chuyện đi theo chủ điểm học tập, chủ điểm đó lại gần gũi với các em, sẽ tạo cho HS một sự tự tin, mạnh dạn khi nói, nhờ đó lời nói thêm mạch lạc, rõ ràng, giúp người nghe dễ hiểu
Như vậy việc chuẩn bị nội dung trước khi tiến hành cho HS tập Kể chuyện, tập hội thoại là rất cần thiết, quan trọng Các em không những
Trang 22thức nói, sao cho phù hợp với yêu cầu bài tập kể chuyện.
Ngoài ra,để vận dụng lí thuyết hội thoại vào dạy luyện nói cho học sinh líp 3 trong phân môn Kể chuyện GV cần đạt được những yêu cầu sau:
+Phải tạo được nhu cầu hội thoại cho HS
Để tạo được nhu cầu giao tiếp cho HS, GV cần tạo ra những tình huống giao tiếp giả định song phải có tính chân thực, không gượng Ðp, khô cứng, phải gần gũi và có sức hấp dẫn, lôi cuốn, kích thích nhu cầu nói của các em
Ví dụ: Câu chuyện “Đối đáp với Vua” (TV3-tuần 24)
Bài tập trong SGK chỉ yêu cầu HS dùa theo tranh kể lại câu chuyện Yêu cầu trên hoàn toàn quen thuộc với HS, muốn có tình huống giao tiếp mới GV phải tạo những yêu cầu mới như: Dựa vào tranh em hãy tưởng tượng nếu Cao Bá Quát không nhảy xuống sông tắm thì ông còn có cách nào khác để có thể gặp được Vua Em hãy kể lại câu chuyện theo ý tưởng đó.
Với yêu cầu mới này của GV hoàn toàn phù hợp với tư duy của HS líp 3 và sẽ hứng thú hơn khi luyện nói
Nhu cầu nói của HS rất đa dạng, phong phú như: nhu cầu muốn bộc
lộ sự hiểu biết, muốn thể hiện kết quả học tập, rèn luyện, nhu cầu tranh luận và bàn bạc với mọi người Tất cả những nhu cầu đó đều là động lực kích thích các em nói trong lúc luyện nói Vì thế mỗi GV cần quan tâm, tìm hiểu nhu cầu HS để có biện pháp kích thích nhu cầu đó, tạo hứng thú học tập, từ đó góp phần quan trọng làm tăng hiệu quả dạy học luyện nói
+Phải tạo được hoàn cảnh giao tiếp tốt
Hoàn cảnh giao tiếp để HS luyện nói trong mỗi tiết Kể chuyện chính là điều kiện lớp học trong thời điểm luyện nói Điều kiện này bao gồm: không khí lớp học, tư thế của GV, các hoạt động nghe của HS, trật
tự lớp học và những hoạt động khác có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới việc nói năng của HS
Trang 23Trong lúc luyện nói, nếu lớp học ồn ào hoặc người nghe không có thái độ tôn trọng người nói, không có ý thức cộng tác hội thoại thì người nói sẽ không nói được GV và bạn bè xung quanh cần có những lời động viên, khích lệ, và sự chú ý lắng nghe để các em phấn khởi, tự tin hơn khi nói.Như vậy, GV cần hết sức chú ý đến hoạt động chung về mọi mặt của cả lớp, đảm bảo những điều kiện tốt cho HS luyện nói.
Ngoài ra, khi HS đang nói GV không nên ngắt lời các em một cách tùy tiện, kể cả việc tiếp lời các em nếu không đúng lúc, đúng chỗ Sự đứt mạch trong suy nghĩ hoặc lời nói bị gián đoạn sẽ làm các em thấy lúng túng, nhiều khi không nói tiếp được nữa Vì thế, GV cần phải bình tĩnh, tôn trọng "lượt lời" của HS, chỉ nên uốn nắn, sửa chữa trong từng trường hợp tối cần thiết hoặc đợi khi các em kết thúc lượt lời của mình
Đối với HS, GV cần giúp các em thực hiện được một số việc sau:
- Khi nói phải hết sức bình tĩnh, tự tin đồng thời phải chú ý theo dõi thái độ, diễn biến tâm lý, sự hứng thú của người nghe đối với lời nói của mình, để kịp thời điều chỉnh cách nói và một phần nào nội dung nói cho phù hợp yêu cầu đề bài và hứng thú của người nghe
- Phải lựa chọn và sử dụng những nghi thức lời nói đúng với vai trò giao tiếp Khi nói phải đảm bảo tính văn hóa của lời nói: phải nói đúng lúc, đúng chỗ, không nên có lời nói hoặc cử chỉ thừa, tránh thái độ thờ ơ cũng như thái độ quá nóng nảy, gay gắt khi không đồng tình với ý kiến người khác
- Cần tránh lối nói như đọc thuộc lòng, phải nói một cách chủ động,
tự nhiên với ngữ điệu phù hợp với từng kiểu lời thoại, từng thời điểm nói
1.3.Những biểu hiện của kĩ năng nói trong hoạt động giao tiếp ở phân môn Kể chuyện lớp 3
1.3.1 Biểu hiện của kĩ năng nói trong hoạt động giao tiếp trong nội dung các văn bản kể chuyện
Trang 24Chương trình kể chuyện lớp 3 có nhiều thể loại truyện phong phú, đa dạng, bao gồm: Truyện dân gian, truyện sáng tác, truyện khoa học, và
gương thiếu nhi anh dũng như:Truyện “ Người liên lạc nhỏ” là truyện tiêu
biểu về gương thiếu nhi anh dũng,truyện kể về cuộc chiến đấu và sự hi sinh của người chiến sĩ nhỏ tuổi Nông Văn Dền tức anh Kim Đồng… Những truyện người thực việc thực đã giúp các em hiểu và biết về chuẩn mực hành vi đạo đức Những câu truyện sáng tác là những câu chuyện có nội dung hết sức gần gũi với các em, những tình huống, lời đối thoại mà học
sinh thường chứng kiến như câu chuyện “ Trận bóng dưới lòng đường, Các em nhỏ và cụ già…”
Theo khảo sát của chúng tôi, các truyện trong SGK đều có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, lời thoại đơn giản, tạo cho HS sự gần gũi với các nhân vật trong truyện từ đó đi vào ý thức nói năng của HS
Số lượng truyện ngắn sáng tác tuy nhiều nhưng chương trình vẫn dành vị trí đáng kể cho truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện thần thoại.Đây là những thể loại truyện không thể thiếu đối với các em Những
câu chuyện như “ Sự tích chú cuội cung trăng”, “Cóc kiện trời”, “Hũ bạc của người cha”… đã như ngọn gió mát lành thổi vào tâm hồn trong sáng
của các em
Điều đặc biệt của phân môn kể chuyện chương trình mới là có rất nhiều câu chuyện nước ngoài được các soạn giả đưa vào nhằm nâng cao hơn sự hiểu biết và tìm tòi của các em
Nhìn chung mỗi văn bản truyện của từng thể loại truyện khác nhau đều tạo điều kiện rèn luyện kĩ năng nói cho HS trong quá trình giao tiếp
3.2 Biểu hiện của kĩ năng nói trong hoạt động giao tiếp qua hình thức các câu hỏi, bài tập.
Khác với chương trình kể chuyện 165 tuần, chương trình mới đã xây dựng nhiều dạng câu hỏi và bài tập khác nhau với hướng tăng dần mức độ
Trang 25khó đối với HS Với hệ thống bài tập như vậy, HS sẽ thuận lợi hơn trong quá trình thực hành giao tiếp.
Những dạng bài tập có trong chương trình kể chuyện lớp 3
+Kể lại theo đoạn
-Dùa theo tranh kể lại từng đoạn
-Kể lại từng đoạn câu chuyện theo gợi ý
-Dựa vào tóm tắt kể lại từng đoạn câu chuyện theo lời của em
-Dùa theo tranh, kể lại từng đoạn câu chuyện bằng lời của em
-Đặt tên cho mỗi đoạn truyện bằng một cụm từ hoặc một câu và kể lại câu chuyện
-Kể lại một đoạn câu chuyện theo lời nhân vật trong truyện bằng lời của mình
+Kể toàn bộ câu chuyện bao gồm:
-Kể lại toàn bộ câu chuyện theo tranh
-Sắp xếp lại các tranh theo trình tự câu chuyện
-Kể lại toàn bộ câu chuyện
-Phân vai, dựng lại câu chuyện
-Đặt tên cho từng đoạn câu chuyện
Qua các hình thức bài tập HS có nhiều cơ hôị để phát triển kĩ năng nói, nghe của mình Đặc biệt kĩ năng độc thoại và hội thoại của các em dần được hình thành trong quá trình kể và nghe kể chuyện
Ví dô: Khi thực hành kiểu bài “ Kể lại toàn bộ câu chuyện” HS được rèn kĩ năng độc thoại, nhưng chuyển sang kiểu bài “ Phân vai, dựng lại câu chuyện” HS lại được thực hành trong môi trường giao tiếp nên các
em được rèn thêm kĩ năng hội thoại.
1.3.3 Biểu hiện của kĩ năng nói trong hoạt động giao tiếp qua phương pháp, hình thức tổ chức dạy học.
Trang 26Chương trình tiểu học nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng
đã có những nội dung thay đổi để phù hợp với mục tiêu giáo dục Việc thay đổi nội dung tất yếu sẽ thay đổi về hình thức và phương pháp dạy học
Những phương pháp dạy học đều theo hướng tích cực hoá hoạt động của HS Phân môn Kể chuyện cũng vậy, GV trong mỗi tiết kể chuyện là người thiết kế, chỉ đạo tiết học, còn HS phải là người kể với những hình thức học tập khác nhau (cá nhân, nhóm, trò chơi) Qua mỗi hình thức học tập, HS được rèn nhiều về kĩ năng nghe nói và được nói một cách tối đa
Ví dụ: Kiểu bài kể chuyện theo tranh.
Kể theo đúng yêu cầu bài tập là: Em hãy dựa vào tranh và kể lại từng đoạn câu chuyện thì số HS được kể trong mỗi tiết sẽ rất Ýt.
Nếu GV tổ chức cho HS chia nhóm, mỗi cá nhân của một nhóm đó
kể một đoạn dựa theo nội dung từng tranh thì tất cả HS trong lớp đều được tham gia kể chuyện Ýt nhất một lần trong một tiết
Mỗi phương pháp dạy học đều có những hạn chế nhất định, vì vậy
GV cần có sự thiết kế bài giảng một cách cẩn thận, có định hướng rõ ràng
để có sự đan xen các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học để hướng dẫn HS và cùng các em xây dựng một giờ học thực sự sôi nổi, hấp dẫn
II.CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Mục tiêu của phân môn Kể chuyện lớp 3
1.1 Phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh
Bao gồm các kĩ năng sau:
a Kĩ năng độc thoại:
- Kể lại câu chuyện đã đọc hay đã nghe theo những mức độ khác nhau Cụ thể:
- Kể từng đoạn hoặc toàn câu chuyện
- Kể theo lời trong văn bản, kể bằng lời của mình,kể theo lời nhân vật
Trang 27- Kể một cách đầy đủ, trôi chảy, kể có điệu bộ và giọng diễn cảm.
b Kĩ năng đối thoại:
Tập dựng lại câu chuyện theo các vai khác nhau, bước đầu biết sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp như: nét mặt, cử chỉ, điệu bộ
c Kĩ năng nghe:
- Theo dõi được câu chuyện bạn kể, nêu ý kiến bổ sung, nhận xét
- Trong các giờ kể chuyện tự do (mỗi tháng một lần), nghe - hiểu nhớ được câu chuyện thầy cô hoặc bạn kể
1.2 Củng cố, mở rộng và tích cực hoá vốn từ ngữ, phát triển tư duy logic, nâng cao sự cảm nhận về hiện thực đời sống qua nội dung câu chuyện
1.3 Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềm vui tuổi thơ trong hoạt động học tập môn Tiếng Việt
(Dẫn theo tài liệu hướng dẫn dạy học Tiếng Việt lớp 3)
Cũng như mục tiêu môn Tiếng Việt là đặt việc hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt lên hàng đầu, phân môn Kể chuyện lớp 3 đã đặt mục tiêu rèn luyện kĩ năng Kể chuỵên (kĩ năng nghe, nói) cho học sinh lên trước hết Cùng với các phân môn khác, phân môn Kể chuyện góp phần thực hiện mục tiêu chung của môn Tiếng Việt
2.Cấu trúc chương trình Kể chuyện lớp 3.
2.1 Các thể loại truyện được chọn trong chương trình Tiểu học
Tham khảo một số ý kiến phân loại truyện của các tác giả Chu Huy (Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học); Tác giả Nguyễn Trí (Luyện tập văn kể chuyện ở tiểu học); Đinh Gia Khánh (Văn học dân gian Việt Nam), chúng tôi phân loại tên các truyện được chọn trong chương tình kể chuyện ở bậc tiểu học thành các thể loại truyện sau: Thần thoại, truyền thuyết; cổ tích, truyện cười; truyện ngụ ngôn; truyện danh nhân lịch sử; truyện khoa học; truyện "người thực, việc thực"; truyện sinh hoạt
Trang 28Các tác giả đã định nghĩa các thể loại truyện nh sau:
Truyện thần thoại là loại truyện được nảy sinh sớm nhất, là truyện phản ánh quan hệ giữa con người với tự nhiên ở thời kỳ tối cổ Đó là những chuyện hết sức hấp dẫn về các vị thần và anh hùng (sau cũng được thần thoại hoá) với những tình cảm và khát vọng chinh phục tự nhiên của người
xưa Ví dụ truyện Thần Trụ Thời (sách truyện đọc lớp 1 cò)
Về truyện truyền thuyết: thực ra ranh giới giữa truyền thuyết và truyện thần thoại có điểm chưa phân định dứt khoát Vì cũng nh thần thoại, nhân vật chính ở truyền thuyết cũng là các vị thần hoặc con người nhưng
đã được thần thánh hoá Tuy nhiên, người ta vẫn có thể chỉ rõ điểm khác biệt so với truyện thần thoại là:
Truyện truyền thuyết tuy có nhân vật thần linh, có yếu tố siêu phàm
dính líu với lịch sử dân tộc thời khuyết sử Ví dụ truyện Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử.
Truyện cổ tích là loại truyện phản ánh quan hệ giữa con người với
con người hay nói cách khác là quan hệ xã hội Ví dụ như Truyện Tấm Cám, Mồ Côi xử kiện, Sự tích chú cuội cung trăng…
Truyện cười là loại truyện dân gian lấy tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để thực hiện mục đích châm bíêm, đả kích, giáo dục hoặc mua vui, giải trí Đây là loại truyện ngắn gọn, nặng về ý chí, có kết cấu chặt chẽ và
kết thúc bất ngờ Ví dụ truyện Dại gì mà đổi, Không nỡ nhìn, tôi cũng như bác.
Truyện ngụ ngôn là loại truyện dân gian nhằm nêu lên những bài học
lí luận hoặc triết lí dưới một hình thức kín đáo, thâm thuý Ví dụ truyện Cái
gì cũng quý, Kéo cây lúa lên,Người đi săn và con vượn,Cuộc chạy đua trong rừng.
Truyện danh nhân lịch sử là những truyện kể về nhân vật lịch sử, những người có tên tuổi với đời, có công đóng góp to lớn nền văn minh
nhân loại Ví dụ truyện Bác sĩ Y-éc-xanh.
Truyện khoa học là truyện có nội dung khoa học Nội dung khoa học
ở đây bao gồm một số hiện tượng khoa học, một tri thức khoa học về nhiên
và xã hội
Trang 29Truyện "người thực, việc thực" là loại truyện viết về người tốt, việc
tốt có thực trong cuộc sống hàng ngày Ví dụ truyện Người con gái Tây Nguyên.
Truyện sinh hoạt đời thường những mối quan hệ hàng ngày trong
gia đình, nhà trường và xã hội Ví dụ truyện Chiếc áo len,Trận bóng dưới lòng đường.
Ngoài những loại truyện kể trên, chúng tôi còn thấy có một loại truyện nữa Đó là truyện đồng thoại, đây là những câu truyện nhân hoá thế
giới tự nhiên để kể về cuộc sống trẻ thơ Ví dụ truyện Cóc kiện trời, Cuộc chạy đua trong rừng.
2.2.Cấu tróc chung.
Sách bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị 2 tuần, gắn với một chủ điểm nhất định Giữa mỗi học kì có 1 tuần, cuối mỗi học kì có 1 tuần dành cho ôn tập và kiểm tra.Tập 1 gồm 8 đơn vị học, tập 2 gồm 7 đơn vị học
Trang 30Ở líp 3 có sự thay đổi về phân bố tiết học trong mỗi đơn vị học(2 tuần)
vì vậy ở phân môn kể chuyện cũng có những thay đổi.Ở líp 3, không có tiết
kể chuyện riêng Trong mỗi đơn vị học, học sinh kể chuyện ba lần:
Mỗi tuần có 1/2 tiết kể lại câu chuyện ở bài Tập đọc đầu tuần Trong 1/2 tiết này, giáo viên không cần giới thiệu bài.Việc kiểm tra bài cũ, củng
cố dặn dò được thực hiện trong khuôn khổ chung của giờ Tập đọc Số lượng truyện kể ở phần này gồm 31 truyện thuộc nhiều thể loại.Cụ thể:Thể loại truyện S.lượng Tên truyện
Thần thoại- truyền
thuyết
1 Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử(Tuần 25)
Đất quý đất yêu (Tuần 10)
Mồ Côi xử kiện (Tuần 16)Cóc kiện trời (Tuần 31)
Sự tích chú cuội cung trăng (Tuần 32)
Hũ bạc của người cha (Tuần 14) Cười 0
Ngụ ngôn 2 Cuộc chạy đua trong rừng(Tuần 26)
Người đi săn và con vượn(Tuần 29) Khoa học 1 Bác sĩ Y- Ðc- xanh
Trận bóng dưới lòng đường(Tuần 7)Các em nhỏ và cụ già (Tuần 8)Giọng quê hương (Tuần 9)Nắng Phương Nam (Tuần 11)
Trang 31Đôi bạn (Tuần 15)
ở lại với chiến khu (Tuần 19)Nhà ảo thuật (Tuần 22)Hội vật (Tuần 24)Buổi thể dục (Tuần 27)Giữa những người anh em (Tuần 28)
Cuối tuần thứ hai trong giờ làm văn, có gần 1/2 tiết nghe kể chuyện và
kể lại câu chuyện được nghe Trong 1/2 tiết này, giáo viên không cần kiểm tra bài cũ.Việc củng cố, dặn dò được thực hiện trong khuôn khổ chung của giờ làm văn
Ở phần này có hai hình thức học kể chuyện:
Thứ nhất: Sách đưa ra một câu chuyện, học sinh nghe giáo viên sau đó
kể lại truyện
Thứ hai: Ở một số giờ học, sách không đưa ra truyện kể, chỉ nêu yêu cầu
và gợi ý cho học sinh kể lại hoạt động mình đã được xem hoặc tham gia thành một câu chuyện
Ví dô: Kể lại buổi đầu em đi học, kể về một buổi thi đấu thể thao…
Những câu chuyện sách đưa ra ở phần này gồm 11 truyện, thuộc một số thể loại khác nhau.Cụ thể như sau:
Thể loại truyện Số
lượng
Tên truyện
Kéo cây lúa lên
Không nỡ nhìnTôi có đọc đâuTôi còng nh bácGiấu cày
Danh nhân-Lịch sử 4 Nâng niu từng hạt thóc
Trang 32Chàng trai làng Phù ủngNgười bán quạt may mắnCon cáo đẹp
Vì vậy, 20 phút kể chuyện theo SGK Tiếng việt 3 thực sự là 20 phút rèn kĩ năng của HS Vì thời gian không nhiều nên bài tập cho HS trong tiết Kể chuyện thường chỉ có một bài Nếu có hai bài thì đó là những bài tập đơn giản
Ví dô:
Bài tập 1: Sắp xếp lại các tranh đã cho theo đúng thứ tự trong câu chuyện.
Bài tập 2: Dựa vào tranh trên kể lại toàn bộ câu chuyện.
Như vậy phân môn Kể chuyện có mối quan hệ gắn bó với phân môn Tập đọc, Làm văn không chỉ ở sự phân bố giờ học mà còn ở nội dung dạy, thể hiện rõ quan điểm tích hợp trong việc xây dựng chương trình môn Tiếng Việt Chương trình đã tạo ra mét phong cách mới trong việc dạy phân môn Kể chuyện Việc lấy văn bản là bài Tập đọc làm ngữ liệu cho giờ Kể chuyện giúp tiết kiệm được khá nhiều thời gian, giảm bớt được thời gian giáo viên giúp học sinh tìm hiểu truyện do đó dành được nhiều thời gian cho việc rèn luyện kĩ năng nói (kĩ năng kể chuyện) cho học sinh
Trang 33Việc dạy luyện nói cho học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dưỡng mà chương trình đề ra là một việc làm không dễ dàng, đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và sự phối hợp chặt chẽ giữa các phân môn Kể chuyện không phải phân môn duy nhất có nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng nói Vì vậy chương trình Tiếng Việt tạo ra mối quan hệ giữa Kể chuyện với Tập đọc và Làm văn một việc làm khoa học.
-Thứ hai: Về số lượng các thể loại truyện
Chúng tôi đã thống kê về số lượng thể loại truyện ở chương trình 165 tuần như sau:
Thể loại
Số lượngThần thoại - truyền thuyết 4
sáng tác là những câu chuyện “được sáng tác theo phong cách hiện đại bằng
hư cấu, tưởng tượng, điển hình hoá, có cốt truyện hay, tình tiết rõ ràng có thể
kể lại được”(Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học-Chu Huy) Việc tiếp xúc với thể
loại truyện này giúp các em tiếp cận với các tác phẩm hiện đại, có một tầm nhìn
Trang 34rộng về văn học ngay ở bậc tiểu học.Ngoài ra việc tăng thể loại truyện sáng tác
ở phân môn Kể chuyện của chương trình mới so với chương trình 165 tuần còn
có một nguyên nhân là: môn Tiếng Việt chương trình hiện hành được xây dựng theo trục chủ điểm, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm Chủ điểm của từng đơn vị học chi phối việc lựa chọn nội dung văn bản Đặc điểm lứa tuổi và việc đưa truyện vào nội dung dạy học có những đòi hỏi mà truyện sáng tác dễ đáp ứng được Những truyện ngắn chọn dạy đều đã được sửa chữa, thay đổi cho phù hợp nhưng vẫn giữ nguyên phong cách riêng của nhà văn
Thể loại truyện danh nhân lịch sử được lựa chọn kĩ càng có số lượng tăng hơn so với các chương trình cải cách giáo dục Những câu chuyện này
kể về những danh nhân trong và ngoài nước, xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử, nêu lên những tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, tinh thần hăng say lao động vì lợi Ých của cộng đồng Qua những câu chuỵên
Êy, các em được khơi dậy lòng tự hào dân tộc Đặc biệt là các em học được phong cách làm việc khoa học, sáng tạo từ những câu chuyện Êy
Ở thể loại truyện này, sách đưa vào một số câu chuyện kể về những thiếu niên thông minh, dũng cảm, tuổi nhỏ mà chí lớn trong lịch sử dân tộc
ta nh Kim Đồng (Người liên lạc nhỏ, Ở lại với chiến khu) Những câu
chuyện này thích hợp với lứa tuổi các em và có ý nghĩa lớn trong việc tình yêu quê hương đất nước
Riêng về thể loại truyện khoa học, sách giáo khoa mới hầu như
không có, chương trình Kể chuyện lớp 3 có duy nhất một truyện “Nhà phát minh và bà cụ”.Chúng tôi xếp vào thể loại truyện danh nhân lịch sử có thể
Trang 35của sâu róm (lớp 3); Vì sao dơi quạ ngủ chúc đầu xuống đất mà chương
trình mới có thể lựa chọn để bổ sung vào
Số lượng truyện "Người thực, việc thực" đuợc dùng trong chương
trình cũng tương tự như thể loại truyện khoa học Kể chuyện "người thực, việc thực là một quá trình đãi cát tìm vàng, tìm cái tinh hoa ngay trong cuộc sống hàng ngày mà noi gương, mà học tập:" (Chu Huy) Vẫn biết
chọn những câu chuyện hay, hấp dẫn thuộc thể loại truyện này là rất khó Bởi vì những câu chuyện thuộc thể loại truyện này rất Ýt truyện "Người thực, việc thực ": thường được ghi chép một cách khô khan theo phong cách báo chí Tuy nhiên không phải là không có những câu chuyện hay Qua khảo sát chương trình cải cách giáo dục, chúng tôi thấy có những câu
chuyện khá hấp dẫn, đặc sắc như Người con gái Tây nguyên, Bàn chân kì diệu, Cái gói dưới ngòi Chương trình mới có thể lựa chọn đưa những câu
chuyện này vào dạy chứ không nên để tình trạng thiếu vắng thể loại truyện này
Ở chương trình mới, phân môn Kể chuyện đã khắc phục được một số hạn chế của phân môn Kể chuyện chương trình cải cách giáo dục Trước đây, trong sách giáo khoa của chương trình cải cách giáo dục dường như rất Ýt truyện cười Rõ ràng là trước đây chúng ta chưa đánh giá, nhận thức
rõ được vai trò của sự hài hước trong cuộc sống hàng ngày
Truyện cười là thể loại truyện mà học sinh rất hứng thú và tiếp nhận một cách tự nhiên.Vì thế chương trình mới đã đưa vào nhiều câu chuyện
cười hay, và thú vị, có ý nghĩa sâu sắc “Không nỡ nhìn, Tôi có đọc đâu, Tôi cũng như bác…”.Việc đưa vào chương trình dạy kể chuyện những câu
chuyện ngắn, hóm hỉnh như vậy ngoài ý nghĩa kể trên còn có tác dụng giúp học sinh biết cách kể thể loại truyện này- một thể loại truyện mà theo đánh giá của chúng tôi là rất khó để kể được hay, gây cười cho người nghe
Nhận xét:
Trang 36Qua việc tìm hiểu cấu trúc phân môn kể chuyện lớp 3 chương trình hiện hành chúng tôi có một số kết luận như sau:
*Phân môn kể chuyện chương trình mới đã tạo ra được một phong cách mới, khoa học, hợp lý trong việc dạy kể chuyện, tạo ra mối liên hệ chặt chẽ với các phân môn khác có cùng nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng nói, thể hiện quan điểm tích hợp trong dạy học Tiếng Việt
*Số lượng truyện thay đổi so với chương trình cải cách giáo dục Thể loại truyện cổ tích giảm, các thể loại truyện được phân bố đều hơn Truyện sinh hoạt tăng về số lượng tạo cơ hội cho học sinh được tiếp xúc với các tác phẩm văn học hiện đaị ngay từ bậc tiểu học Thể loại truỵên khoa học, Người thực, việc thực và truyện cười còn thiếu vắng cần bổ sung thêm Thể loại truyện phong phú, sắp xếp xen kẽ, gồm cả truyện trong nước và truỵên dịch từ nước ngoài
*Mức độ biểu hiện của kĩ năng nói
So với chương trình cải cách giáo dục, kĩ năng giao tiếp đặc biệt là kĩ năng giao tiếp bằng lời của chương trình mới có những thay đổi mang tính tích hợp Điều đó được thể hiện trước hết ở việc đưa phân môn Kể chuyện vào dạy chung với phân môn Tập đọc, nội dung các câu chuyện trùng với nội dung các bài tập của các bài tập đọc đầu tuần Điều này hoàn toàn không gây ra sự nhàm chán đối với các em bởi hình thức tổ chức dạy học, các kiểu dạng câu hỏi, bài tập luôn phong phú và hấp dẫn Biến giờ Kể chuyện thành một giờ học thực sự sôi nổi không chỉ mang tính chất giải trí
mà còn giúp học sinh phát triển khả năng nghe, nói Trong chương trình cải cách giáo dục, giờ Kể chuyện được dạy riêng vào cuối tuần Nội dung các câu chuyện hoàn toàn mới mẻ, các em không được học qua giờ Tập đọc, sau khi nghe giáo viên kể, Ýt học sinh có thể kể ngay tại lớp nội dung các câu chuyện Vì vậy, lớp học trầm hơn, khả năng nghe, nói của các em bị hạn chế hơn
Trang 37-Về nội dung: Chương trình mới đưa vào nhiều câu chuyện sinh hoạt
có nội dung gần gũi như: mẹ - con(giữa mẹ và con), thầy (cô) với em (giữa thầy và trò) những nội dung này đã tạo môi trường giao tiếp gần gũi với
HS để các em được luyện nói một cách tự nhiên mà không bị gò Ðp
-Về hình thức các câu hỏi và bài tập: Chương trình mới có hình thức câu hỏi và bài tập phong phú, hấp dẫn với các em nhằm hình thành kĩ năng độc thoại (tự kể câu chuyện) mà còn hình thành cho các em cả kĩ năng đối thoại qua hình thức bài tập sắm vai dựng lại câu chuyện Hình thức bài tập này buộc các em phải làm việc theo nhóm phối hợp với nhau ăn khớp, diễn đạt lưu loát Muốn vậy, đòi hỏi các em phải bạo dạn, tự tin trước thầy cô giáo và các bạn Hơn nữa, các em không những chỉ nhớ được cốt truyện mà còn phải nhập được vào vai nhân vật, không chỉ dùng lời nói mà còn dùng
cả cử chỉ, nét mặt để thể hiện Những dạng bài tập này thực sự rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng làm việc tập thể tốt
Chương trình cũ, giờ kể chuyện không có dạng bài tập này Giáo
viên kể mẫu xong chỉ có các câu hỏi như: Câu chuyện này có mấy nhân vật? Là những nhân vật nào? để các em nhớ lại cốt truyện ngay trên lớp,
trừ một số em đã đọc truyện đó ở nhà 1,2 lần Do đó hạn chế kĩ năng kể lại
và nhận xét bạn kể của các em Điều đó cũng ảnh hưởng đến việc rèn khả năng nghe, nói cho học sinh
Như vậy hình thức câu hỏi và bài tập sẽ chi phối phương pháp dạy học trong giờ Kể chuyện, giáo viên chỉ là người điều khiển, hướng dẫn, còn học sinh là người chủ đạo trong giờ học đó Các em sẽ phải làm việc nhiều hơn nghĩa là phải nói nhiều hơn và nghe chăm chú hơn để nhận xét bạn kể.Do các câu chuyện tương đối ngắn lại phân nhỏ ra làm nhiều đoạn nên trong tiết học kể chuyện số lượng học sinh phải kể lại, phải nhận xét bạn kể lại cũng rất nhiều Với cách dạy học như thế công việc của giáo viên sẽ nhẹ nhàng hơn so với dạy chương trình cũ
Trang 384 Thực trạng dạy - học phân môn Kể chuyện lớp 3
4.1 Đối tượng khảo sát
Để nắm được thực trạng dạy - học phân môn Kể chuyện lớp 3, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 47 giáo viên của một số trường tiểu học thuộc hai quận Cầu Giấy và Ba Đình trên địa bàn Hà Nội (Trường tiểu học Dịch Vọng B, Trường tiểu học Dịch Vọng A, Trường tiểu học Thành Công A,B ,
và Trường tiểu học Quan Hoa- Cầu Giấy- Hà Nội).Đối tượng điều tra giáo viên có 100% là nữ trình độ đào tạo chuyên môn khác nhau
Chúng tôi đã lập bảng thống kê các đối tượng nh sau:
Địa điểm
khảo sát
Số lượng
Trình độ đào tạo
SL(GV)
Như vậy sự chênh lệch về chuyện môn của các GV thuộc hai quận
Ba Đình và Cầu Giấy không lớn, nhìn vào bảng thống kê trình độ đào tạo của Quận Ba Đình luôn cao hơn Quận Cầu Giấy là do Cầu Giấy là một Quận ngoại thành, nên còn nhiều GV thuộc hệ đào tạo THSP và CĐSP nhưng vì điều kiện tuổi tác nên không thể học tập và nâng cao tay nghề của mình Quận Ba Đình là một quận nội thành, hơn nữa đội ngũ GV có tuổi nghề còn trẻ, năng động và có nhiều điều kiện hơn trong việc dành thời gian học tập để nâng cao trình độ chuyên môn
4.2.Nội dung khảo sát
Khảo sát thực trạng dạy học phân môn Kể chuyện trong SGK Tiếng Việt 3 của một số GV và khảo sát hứng thú học tập, các hoạt động khi học phân môn Kể chuyện của một số HS líp 3 bằng cách xây dựng phiếu hỏi ý kiến GV và phiếu điều tra dành cho HS với nội dung đã chuẩn bị
Trang 39-Nội dung điều tra GV tập trung vào một số vấn đề của PPDH Tiếng Việt nói chung và PPDH phân môn Kể chuyện nói riêng.Có 7 vấn đề cơ bản, có những nội dung tương ứng với 1 câu hỏi, có những nội dung tương ứng nhiều câu hỏi.Để tiện theo dõi chúng tôi thống kê thành bảng sau:
1 Tìm hiểu nhận thức của GV về vai trò của dạy học
phân môn Kể chuyện lớp 3 theo chương trình mới
1-2
2 Tìm hiểu hứng thú của GV đối với việc dạy Kể
chuyện theo chương trình mới
3
3 Tìm hiểu công tác chuẩn bị của GV trước giờ lên
lớp tiết Kể chuyện
4
4 Tìm hiểu những khó khăn của GV khi tổ chức dạy
Kể chuyện LÝ do của những khó khăn đó
5-7-8
6 Tìm hiểu nhu cầu cần nâng cao trình độ chuyên
môn của GV khi dạy phân môn Kể chuyện
- Phương pháp điều tra bằng ankét
- Phương pháp quan sát: được tiến hành đối với học sinh
- Phương pháp phỏng vấn: Được tiến hành đối với giáo viên và học sinh
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu những tài liệu có liên quan
4.4.Phân tích thực trạng dạy- học Kể chuyện lớp 3
4.4.1.Thực trạng dạy- học Kể chuyện rót ra từ kết quả điều tra giáo viên lớp 3
Trang 40Chúng tôi đã điều tra 47 GV (trong đó có 24 GV quận Ba Đình và 23
GV quận Cầu Giấy Với nội dung thăm dò nh trên chúng tôi thu được kết quả nh sau:
Nội dung 1: Khi được hỏi về sự cần thiết phải tiếp thu, đổi mới cách dạy phân môn Kể chuyện, đã có 100% GV nhất trí với quan điểm
này.Trong đó 16,67% GV cho rằng việc làm trên là rất cần thiết, 83,34%
GV cho là cần thiết.Không có ý kiến nào cho rằng bình thường hoặc không cần thiết
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy phần lớn GV đều có nhận thức đúng đắn về vấn đề này.Một thực tế cho thấy, khi nội dung chương trình, SGK thay đổi thì tất yếu PPDH và hình thức tổ chức dạy học cũng cần thay đổi cho phù hợp Nh vậy, việc tiếp thu chương trình và thay đổi PPDH là hoàn toàn đúng đắn
Còng trong nội dung này, khi hỏi về số lần tham gia các buổi tập huấn, hội thảo, chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm…số đông các GV đều khẳng định là đã tham gia đầy đủ Tuy nhiên, số lần tham gia của GV chưa nhiều và không đồng đều(ít nhất là một lần, nhiều nhất là 4 lần) và hầu như các đợt tập huấn đều do Phòng giáo dục Quận Ba Đình và Cầu Giấy tổ chức
Nội dung 2: Khi tìm hiểu hứng thú của GV líp 3 đối với dạy học phân môn Kể chuyện theo chương trình mới
Chúng tôi đã có thống kê thành bảng sau:
Tổng
SL (GV )
TL (%)
SL (GV)
TL (%)
SL (GV )
TL (%)
Có -HS được luyện nói
nhiều trong tiết Kể
chuyện