1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

câu cầu khiến và tổ chức dạy học câu cầu khiến ở tiểu học

119 1,4K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 562 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 Phạm vi bao quát của sự điều khiển khá rộng như: ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên răn, cầu xin, van nài … Theo ông, trong tiếng Việt, câu cầu khiến đích thực thường dùng các phương

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ do chọn đề tài

Trong các kiểu câu chia theo mục đích nói thì câu cầu khiến là kiểucâu khá phức tạp, nó đòi hỏi người sử dụng phải tinh tế, phải cân nhắc kĩmỗi khi "cầu khiến" người khác, đặc biệt là khi cầu khiến người trên

Trong nhà trường tiểu học, kiến thức về câu cầu khiến được đưa vàogiảng dạy ngay từ các lớp cuối cấp Song, dạy kiến thức về câu cầu khiến

và cách sử dụng nó cho học sinh tiểu học không phải là dễ dàng Thực tếcho thấy giáo viên còn gặp nhiều khó khăn khi dạy học câu khiến Từ đóviệc học của học sinh về phần học này cũng nghiêng nhiều về hình thức,chủ yếu là nhận biết về một loại câu có nội dung cầu khiến trong tiếng Việt

mà không quan tâm đến việc hiểu về nó cũng như sử dụng nó trong thực tếgiao tiếp như thế nào

Từ thực tế trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề đặt ra là : cần dạy họccâu cầu khiến cho học sinh tiểu học như thế nào để đạt hiệu quả cao hơn

Để làm được điều này chúng tôi thiết nghĩ cần phải bổ sung, điều chỉnh vềnội dung và đổi mới phương pháp dạy học câu cầu khiến cho học sinh tiểuhọc Những hiểu biết về câu cầu khiến trong giờ giảng phải là cẩm nang đểcác em có thể áp dụng vào trong thực tế, cụ thể là biết sử dụng tốt, sử dụngsao cho câu cầu khiến có tính lịch sự cả khi nói cũng như khi viết một cáchđúng lúc, đúng chỗ Đồng thời còn phải có sự hiểu biết sâu sắc hơn về tácdụng của câu cầu khiến trong các cuộc giao tiếp, trong các mẩu chuyệnđược học trong chương trình sách giáo khoa tiểu học cũng như trong cáctác phẩm văn học mà các em được học khi lên các cấp trên

Hơn nữa, hiện nay, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy họcđang được đặt ra một cách cấp thiết ở tất cả các cấp học, bậc học Cụ thể làviệc thay đổi SGK đã và đang được thực hiện một cách đồng bộ ở các cấphọc Riêng với chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học, phân môn Từ ngữ

và Ngữ pháp như trước nay vẫn gọi được gộp chung vào và được gọi là

Trang 2

phân môn Luyện từ và câu Năm học 2005 - 2006 sách Tiếng Việt lớp 4chương trình mới sẽ được áp dụng đại trà trong cả nước Bộ sách giáo khoavới sự đổi mới cả nội dung lẫn hình thức như vậy sẽ kéo theo sự cần thiếtphải đổi mới việc dạy câu cầu khiến ở tiểu học.

Xuất phát từ những lÝ do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài

"

Câu cầu khiến và tổ chức dạy học câu cầu khiến ở tiểu học" với mong

muốn góp một tiếng nói về việc đổi mới trong việc biên soạn nội dung dạyhọc và đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học trong xu thế mới hiệnnay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở đây chúng tôi thấy cần thiết chia thành hai vấn đề:

- Lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến

- Lịch sử nghiên cứu về dạy học câu cầu khiến

2.1 Lịch sử nghiên cứu câu cầu khiến

Từ trước đến nay đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về câu

cầu khiến Các tác giả như Hoàng Văn Thung, Lê A, Đinh Trọng Lạc đã

nghiên cứu về cấu tạo của câu cầu khiến và cho rằng câu cầu khiến có cấutạo giống câu trần thuật nhưng không phải được dùng để miêu tả, nhận định

như câu trần thuật Các tác giả cho rằng câu cầu khiến nhằm đòi hỏi thực hiện một hành động, một chuyển biến Lực ngôn trung cầu khiến nhằm vào đối tượng phải thực hiện hành động thường là vai đối thoại (ngôi thứ hai), hoặc trong một số trường hợp chính là vai người nói (ngôi thứ

hai) Các tác giả cho rằng các động từ hành động sai khiến như khuyên, sai,

bảo, cấm , các phụ từ tình thái như hãy, đừng, chớ… và các trợ từ như đi, thôi, lên, nào, … có mặt trong câu cầu khiến không chỉ là dấu hiệu chuyên

dùng biểu thị mục đích cầu khiến Mục đích cầu khiến thường được cảm nhận trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, ví dụ như khi đối thoại trực

tiếp, có mặt người nói có ý định sai bảo và người nghe phải thực hiện ýđịnh đó hoặc người nói thực hiện hành động tác động vào người đối thoại

Trang 3

Chính vì thế, các tác giả xếp những câu có chủ ngữ ở ngôi thứ ba không phải là câu cầu khiến Nh vậy, các tác giả gắn câu cầu khiến với một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Và câu cầu khiến thường đi đôi với đặc điểm: có động từ hành động sai khiến, có các phụ từ tình thái, các trợ từ cầu khiến đi kèm 38

Giáo sư Diệp Quan Ban khi nghiên cứu về câu cầu khiến thì cho

rằng câu cầu khiến có chức năng điều khiển tức là người nói muốn hoặc nhờ người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu 5 Phạm vi bao quát của sự điều khiển khá rộng như: ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên răn, cầu xin, van nài … Theo ông, trong tiếng Việt, câu cầu khiến đích thực thường dùng các phương tiện diễn đạt sau đây kèm với nội dung lệnh:

- Các phụ từ (có tác dụng tạo ý cầu khiến): hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào, …

- Ngữ điệu (cầu khiến)

Khi nghiên cứu về ngữ điệu của câu cầu khiến, ông quan niệm ngữđiệu cảm xúc không có tác dụng tạo câu cầu khiến nhưng thường có mặt rõnét hơn ở câu cầu khiến so với những kiểu câu còn lại Như vậy, khác vớicác tác giả trên, giáo sư Diệp Quan Ban ngoài việc nghiên cứu về các dấuhiệu làm nên một câu cầu khiến như các phụ từ có tác dụng tạo ý cầu khiến,ông còn đi sâu nghiên cứu về ngữ điệu trong câu cầu khiến Và ông quan

niệm các câu cầu khiến muốn trở thành một câu cầu khiến đích thực thì câu đó ngoài hai điều kiện đã nêu trên phải là câu chỉ chứa những từ liên quan đến nội dung của lệnh.

Mét quan điểm nghiên cứu khác về câu cầu khiến, đó là quan điểmcủa TS Bùi Mạnh Hùng {17} Ông quan niệm câu cầu khiến là câu:

- Có từ cầu khiến: hãy, đừng, chớ và chủ thể của các từ cầu khiến bao giờ cũng ở ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ nhất số nhiều dạng ngôi gộp (chóng ta,

mẹ con mình…)

- Có khả năng thêm từ hãy, đừng, chớ ở những ngôi đã nêu trên.

Trang 4

Như vậy, khác với quan điểm nghiên cứu về câu cầu khiến của các tácgiả trên, ông cho rằng những dấu hiệu làm nên câu cầu khiến như từ cầukhiến, hoặc ngữ điệu cầu khiến là không cần thiết, vì đặc điểm nêu trên cókhả năng giải thích khái quát hơn, áp dụng cho nhiều dạng cấu trúc hơn,trong đó có cấu trúc thường được giải thích dựa vào những dấu hiệu trên.

Vì thế tác giả cho các câu sau là câu cầu khiến:

(a) Hãy sống lương thiện

(b) Cho biết châu Mỹ được phát hiện từ bao giê

Theo ông, câu (a) là câu cầu khiến vì nó có phụ từ tình thái hãy ởtrước động từ Câu (b) không hề có bất kì từ nào chỉ xuất hiện riêng trongcâu cầu khiến để giúp ta nhận diện nó là câu cầu khiến và khó có thể chorằng có một ngữ điệu nào đó đặc trưng cho kiểu câu này, nhưng tác giả thìcho câu (b) là câu cầu khiến vì có thể thêm một trong các phụ từ sau vào

trước động từ : hãy, đừng, chớ:

Hãy cho biết châu Mỹ được phát hiện từ bao giê

Với các quan điểm nghiên cứu khác nhau về câu cầu khiến, mỗi tácgiả nêu trên đã giúp cho chóng ta có những cách nghiên cứu về câu cầukhiến khác nhau Và còn rất nhiều các tác giả khác với những quan điểmkhác nhau khi nghiên cứu về câu cầu khiến như: Lê Văn Lý, Cao XuânHạo, Hồ Lê … nhưng do điều kiện nghiên cứu chỉ có hạn nên chúng tôi chỉxin trình bày quan điểm của một vài tác giả nêu trên

2.2 Lịch sử nghiên cứu về dạy học câu cầu khiến

Nh chóng ta đã biết câu cầu khiến thường gắn liền với dấu câu (dấu

chấm, dấu chấm cảm, dấu chấm hỏi, dấu hai chấm) Do đó, việc nghiên cứu về dạy học câu cầu khiến không tách rời với việc nghiên cứu về dạy học các dấu câu Vì vậy, khi đề cập đến lịch sử nghiên cứu về dạy học câu

cầu khiến, chúng tôi sẽ đề cập đến việc dạy học dấu câu liên quan đến câucầu khiến

Trang 5

Đã có nhiều nhà nghiên cứu khác nhau nghiên cứu về việc dạy họcdấu câu tiếng Việt ở trường tiểu học nói riêng và trường phổ thông nóichung.

Ở trường phổ thông, một tác giả tiêu biểu trong nghiên cứu việc dạy

dấu câu là Nguyễn Xuân Khoa Năm 1996, tác giả cho xuất bản cuốn:

"Phương pháp dạy dấu câu Tiếng Việt ở trường phổ thông" Cuốn sách nàydừng lại ở việc nghiên cứu dấu câu bên cạnh lời nói trực tiếp, dấu phâncách các cấu trúc đẳng lập, nghiên cứu nội dung và phương pháp giảng dạychúng Đến năm 2000, tác giả xuất bản tiếp cuốn "Dấu câu Tiếng Việt vàcách dạy ở trường phổ thông" nghiên cứu toàn bộ các dấu câu Tiếng Việt

và cách dạy các dấu câu nói chung Nhưng cuốn sách này vẫn chưa thấynghiên cứu cụ thể về việc dạy dấu chấm và dấu chấm hỏi trong câu cầu

khiến, sách chỉ đề cập đến dấu chấm cảm trong câu cầu khiến nh sau:

- Trong các nhan đề, đầu đề, dấu chấm cảm báo trước về tầm quan trọnghoặc tính chất không bình thường của thông báo Ví dụ:

Không nên nhìn vào người lớn mà đánh giá toàn bộ những người khác!

- Trong khẩu hiệu, dấu chấm cảm biểu thị lời kêu gọi hiệu triệu:

Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên !

- Ý nghĩa mệnh lệnh của dấu chấm cảm được biểu hiện trong các lời thôngbáo:

Cấp cứu ! Tiêm ! Tiêm mau ! 21

Tuy vậy, tác giả vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu dạy các dấu chấm câu

ở tiểu học, đặc biệt là các dấu câu gắn liền với câu cầu khiến như dấu chấmcảm, dấu chấm, dấu chấm hỏi, …

Ở trường tiểu học, tác giả tiêu biểu cho việc dạy dấu câu ở tiểu học là

Nguyễn Quang Ninh và Nguyễn Thị Ban Các tác giả này đã cho xuất bản

cuốn "100 bài tập luyện cách dùng dấu câu Tiếng Việt (dành cho học sinhtiểu học)" với mục đích giúp các em có điều kiện luyện tập để dùng đúng,tiến tới dùng hay các dấu câu trong các bài viết của mình, đồng thời giúp

Trang 6

giáo viên cùng các bậc phụ huynh học sinh có thêm tài liệu hướng dẫn con

em rèn luyện cách sử dụng dấu câu tiếng Việt Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc xây dựng bài tập giúp học sinh nhận diện và sử dụng các dấu câu tương ứng với mục đích của câu mà chưa đưa ra các bài tập để rèn luyện các kiểu loại câu cầu khiến khác nhau (câu nghi vấn dùng để

nêu yêu cầu, đề nghị; câu cầu khiến có dấu câu là dấu chấm, dấu chấmcảm… )

TS Nguyễn Thị Thìn đã dành một dung lượng không nhiều cho việc

nghiên cứu nội dung dạy học câu Tiếng Việt trong sách giáo khoa tiểu họchiện hành Trong cuốn sách này, tác giả đưa ra một số nhận xét của mình

về SGK tiểu học hiện hành và đề nghị xem xét lại tên gọi của dấu câu: dấuchấm hỏi và dấu chấm cảm Ngoài ra, tác giả còn xây dựng một số dạng bàitập thực hành 36 Tuy nhiên, vẫn chưa thấy tác giả đề cập đến việc dạyhọc câu cầu khiến ở tiểu học cả về nội dung lẫn phương pháp giảng dạy Tóm lại, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các dấu câu, có những đóng

góp trong việc hướng dẫn việc dạy và học dấu câu ở tiểu học Tuy vậy, vấn

đề dạy học dấu câu liên quan đến câu cầu khiến cũng như phương pháp dạy học câu cầu khiến ở tiểu học vẫn chưa được các tác giả đề cập một cách hệ thống Chính vì vậy, chúng tôi thấy rất cần thiết phải nghiên cứu

về câu cầu khiến và việc dạy học nó ở tiểu học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Đề tài "Câu cầu khiến và việc dạy học câu cầu khiến ở tiểu học" nhằmnâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu nói chung và câucầu khiến ở tiểu học nói riêng Để đạt được mục đích đó cần phải thực hiệnnhững nhiệm vụ sau:

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Qua tìm hiểu thực trạng dạy học câu cầu khiến ở tiểu học, nắm đượcnhững vướng mắc của giáo viên và học sinh cần phải tháo gỡ trong việc

Trang 7

dạy và học loại câu này, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tàinhư sau:

3.2.1 Hệ thống lại những kiến thức cơ bản về câu cầu khiến Đối chiếuquan niệm về loại câu này của hai trào lưu nghiên cứu ngôn ngữ: ngữ pháptruyền thống và ngữ pháp chức năng Từ đó, đúc rút những kiến thức cơbản về câu cầu khiến Những kiến thức này sẽ chi phối việc lựa chọn nộidung và phương pháp dạy học câu cầu khiến ở tiểu học

3.2.2 Đưa ra hướng điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học câu cầukhiến: dạy học câu cầu khiến trong ngữ cảnh và hướng vào mục tiêu dạy sửdụng câu cầu khiến, phát huy các hoạt động tích cực, hợp tác trong dạy học

và áp dụng dạy học theo hướng tích hợp

3.2.3 Tiến hành dạy thực nghiệm theo đề xuất, đánh giá tính khả thi của đề

tài

4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài

4.1.Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản của đề tài

- Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ câu cầu khiến chứ không

sử dụng thuật ngữ câu khiến như sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hiện hành sử

- Tác giả luận văn cho rằng nếu dựa trên tiêu chí mục đích phát ngôn, có

thể phân lời cầu khiến thành các mức độ như: cấm, yêu cầu, xin phép, nhờ, mời Nếu phân chia theo cách thể hiện lực ngôn trung của mệnh đề cầu

khiến chính thì lời cầu khiến gồm hai loại cơ bản là lời cầu khiến trực tiếp

và lời cầu khiến gián tiếp Sở dĩ như vậy vì đặc điểm chung của các loại

Trang 8

câu có nội dung như trên là đều chuyển tải một ý nguyện của người nói; ýnguyện đó được truyền đạt đến người nghe, làm nên một hành động phảnhồi từ người nghe.

4.2 Đóng góp mới của đề tài

4.2.1 Hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về câu cầu khiến tiếng Việt.4.2.2 Trên cơ sở nhận xét những ưu điểm và hạn chế trong sách Tiếng Việt

4 (chương trình cũ và chương trình thử nghiệm) phần câu cầu khiến, luậnvăn đã:

+ Bổ sung dấu hiệu nhận biết câu cầu khiến

+ Đề xuất hướng dạy câu cầu khiến trong ngữ cảnh Dạy câu cầu khiến làdạy hành động ngôn từ cầu khiến

+ Đề xuất các phương pháp tích cực để dạy các bài về câu cầu khiến cho cóhiệu quả

4.2.3 Dựa trên cơ sở nghiên cứu hệ thống bài tập dạy câu cầu khiến củasách giáo khoa, xây dựng thêm một số bài tập rèn luyện về câu cầu khiếncho học sinh như: bài tập nhận diện câu cầu khiến, bài tập luyện sử dụngcâu cầu khiến, trong đó ưu tiên các bài tập tạo lập câu khiến trong các ngữcảnh khác nhau, xác định nội dung, mục đích cầu khiến, vai và quan hệ vaicủa người cầu khiến với người bị cầu khiến, hoàn cảnh sử dụng câu cầukhiến

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ:

Để đưa ra được một nội dung cơ bản vừa sức với học sinh tiểu học cả về

lí thuyết và bài tập về câu cầu khiến, trước tiên chúng tôi tiến hành nghiêncứu những kiến thức khoa học về nó, sau đó phân tích để chắt lọc và đưa ramột nội dung dạy học hợp lí

- Phương pháp đối chiếu, so sánh:

Trang 9

Trong xu thế mới của Việt ngữ học, người ta nhận thấy không nên tiếptục nghiên cứu ngữ pháp trong trạng thái tĩnh mà nên đặt nó vào trong hoạtđộng hành chức: Ngữ pháp chức năng Để thấy rõ thành tựu nghiên cứu vềcâu cầu khiến trong Việt ngữ học, chúng ta sẽ so sánh thành tựu nghiên cứucủa cả hai khuynh hướng: Ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng.Hướng đi đó trong nghiên cứu khoa học giúp chúng tôi sẽ có những cáinhìn khách quan hơn đối với những thành tựu nghiên cứu của các trào lưungôn ngữ Thông qua đó chúng ta có thể mở rộng tầm nhìn của mình vàđặc biệt là có thể đưa ra giải pháp hợp lí trong việc lựa chọn nội dung dạyhọc ở nhà trường tiểu học

- Phương pháp quan sát:

Phương pháp này được áp dụng nhằm điều tra thực trạng dạy và học củagiáo viên và học sinh khi tiến hành dạy học về câu cầu khiến, nắm được sựthay đổi của nội dung phần học này trong sách giáo khoa tiểu học trước đây

và hiện nay Qua đó, để đánh giá phương pháp giảng dạy của giáo viêncũng nh kết quả học tập của học sinh qua thực tiễn sử dụng loại câu nàytrong văn nói cũng nh trong văn viết

Việc điều tra thực trạng giúp chúng tôi rót ra được những kết luận cầnthiết để tìm ra những hướng đi mới phù hợp với nội dung của phần họcnày

- Phương pháp thực nghiệm:

Phương pháp thực nghiệm là phương pháp quan trọng nhất trong quátrình nghiên cứu, được thực hiện sau khi đã bổ sung, điều chỉnh một số vấn

đề trong nội dung và phương pháp dạy học câu cầu khiến Cụ thể, chúng tôi

đã thiết kế được những giáo án nhằm thể hiện những kết quả nghiên cứuvào thực tiễn dạy học Thông qua phương pháp này người nghiên cứu sẽhiện thực hóa những nội dung nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy ở tiểuhọc, đồng thời đánh giá kết quả nghiên cứu sau khi kiểm tra kiến thức củahọc sinh sau các bài giảng Sau khi phát bài kiểm tra cho học sinh các lớp,

Trang 10

chúng tôi tiến hành thống kê, đánh giá kết quả Nghiêm túc trong nhữngbước tiến hành cùng với việc xử lí nhanh các tiểu tiết trong quá trình thựcnghiệm, chúng tôi có thể rót ra được những kết luận thật khách quan vềcông trình nghiên cứu của mình Từ đó, chúng tôi sẽ nhìn nhận lại vấn đềnghiên cứu một cách tổng quan xem những điểm nào thành công và nhữngđiểm nào còn hạn chế cần điều chỉnh và hoàn thiện.

1.1.1 Khái niệm câu cầu khiến

Nhìn từ góc độ sử dụng thì câu cầu khiến là loại câu có vai trò vôcùng quan trọng trong hoạt động giao tiếp Trong các hành vi ngôn ngữ,cầu khiến là hành vi đặc biệt nhất bởi khi cầu khiến là người nói đã làm ảnhhưởng đến thể diện của người nghe Có rất nhiều định nghĩa khác nhau vềcâu cầu khiến

Tác giả Hoàng Trọng Phiến quan niệm về câu cầu khiến như sau:

“Câu cầu khiến có nhu cầu của ý chí làm thành yếu tố thường trực của câu

Nó nêu lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lạibằng hành động Do đó, câu cầu khiến gắn kiền với ý nghĩa hànhđộng”.33

Còn tác giả Bùi Minh Toán thì quan niệm “Câu cầu khiến thườngđược xác định là câu nêu yêu cầu mệnh lệnh đối với người nghe thực hiệnđược yêu cầu sai khiến hay khuyên bảo” 9

Trang 11

Tác giả Nguyễn Thị Thìn lại quan niệm rằng “Câu cầu khiến là kiểucâu thường dùng để yêu cầu bắt buộc người đối thoại thực hiện hoặc khôngthực hiện một hành động, một quá trình nào đó Câu cầu khiến có dấu hiệuriêng biểu thị hành vi cầu khiến.” 36

Về mặt cấu tạo, câu cầu khiến có thể được cấu tạo một cách đơngiản: dùng một từ hay một cụm từ (chính phụ, đẳng lập, chủ – vị) với mộtngữ điệu cầu khiến thích hợp

Ví dô: Đừng có nhảy lên boong tàu !

- Dùng các từ: đi, nào, nhé, thôi đặt ở cuối câu:

Ví dô: Con học giỏi nhé !

Cậu có trăm trí khôn, nghĩ kế gì đi !

Về mặt nội dung và mục đích, câu cầu khiến có thể biểu hiện nhữngphương diện sau:

- Thể hiện một mệnh lệnh hoặc một điều ngăn cấm Đây là mức độ cầukhiến cao Vì thế trong câu không chỉ sử dụng ngữ điệu mà còn dùng cácphụ từ mệnh lệnh:

Cấm hút thuốc lá !

- Thúc giục người nghe hành động:

Nào ! Các em hãy lắng nghe và cho cô biết mẫu giấy nói gìnhé !

Chạy đi ! Voi rừng đấy!

- Bày tỏ lời yêu cầu, lời mời hoặc một nguyện vọng:

Xin hai anh vui lòng cho tôi được trả tiền

- Bày tỏ lời khuyên răn, dỗ dành:

Trang 12

Các cháu nên chia làm ba phần

- Thể hiện lời chúc, điều mong mái:

Xin thần tha tội cho tôi !Giống như các loại câu khác, việc xác định mục đích của câu không

chỉ dựa vào những đặc điểm trong hình thức cấu tạo của câu , mà còn cần căn cứ vào hoàn cảnh sử dụng câu, vào mối quan hệ của câu trong một ngữ cảnh, vào mối quan hệ của những người tham gia hoạt động giao tiếp Có nhiều câu mang hình thức của câu tường thuật, hay câu nghi vấn

nhưng lại nhằm mục đích cầu khiến Ví dụ:

Có nín đi không ? (Câu nghi vấn nhưng nhằm mục đích thúc giục)

1.1.2 Các quan điểm nghiên cứu câu cầu khiến

1.1.2.1.Quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống

a Câu cầu khiến là một kiểu câu chia theo mục đích nói, đây là cách phân loại của ngôn ngữ học truyền thống Để làm rõ khái niệm câu cầu

khiến chúng ta không thể không tìm hiểu hệ thống phân loại này

Câu chia theo mục đích nói gồm: câu trần thuật, câu hỏi, câu cầukhiến, câu cảm thán Các loại câu này được phân biệt về mặt nội dung vàmang những dấu hiệu hình thức riêng biệt

Ví dô: Em đi mặc thêm áo (Câu trần thuật)

Em không lạnh à ? (Câu hỏi )

Em mặc thêm áo vào đi ! (Câu khiến)

Em lạnh quá ! (Câu cảm thán)Xét về mục đích nói và dấu hiệu hình thức, bốn ví dụ trên thuộc bốn

kiểu câu Nhưng thực tế cho thấy câu hỏi "Em không lạnh à ?" cũng có thể

thực hiện chức năng thúc giục người nghe mặc áo vào Câu cảm thán "Em

lạnh quá !" cũng có thể biểu thị người nói mong muốn người nghe thực hiện

một hành động nào đó (ví dụ: đóng cửa hoặc lấy giúp áo lạnh…)

Có thể thấy rằng cách phân chia theo mục đích nói thể hiện cáchnhìn truyền thống về câu trong hoạt động Nhưng hoạt động của câu lại

Trang 13

mới chỉ được xét trong quan hệ với người nói Câu vẫn chưa được xét trongquan hệ với các câu trước và sau nó, bị tách khỏi tình huống và không đượcxét trong quan hệ với đối tượng giao tiếp (người nghe).

b Đặc trưng của câu cầu khiến theo quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống

Các nhà ngôn ngữ học truyền thống mô tả những đặc trưng của câu cầukhiến nh sau:

b1.Về mặt hình thức: Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến đổi hình thái

vì vậy dấu hiệu hình thức thể hiện câu cầu khiến gồm:

 Các phụ từ mệnh lệnh : hãy, đừng, chớ

 Các tình thái từ (cuối câu): đi, lên, thôi, nào, đã, nhé.

 Các động từ tình thái : nên, cần, phải …

 Các động từ có ý nghĩa cầu khiến (phương tiện từ vựng): cấm, mời, xin, yêu cầu

Các đặc trưng của câu cầu khiến nh trên là khá bao quát Nhưng thực tế,

có khi câu cầu khiến không cần người nói phải nói to, nhấn giọng và cónhững câu không phải chỉ cần nói to, nhấn giọng là thành câu cầu khiến

Thực ra, điều kiện để quy định một phát ngôn có giá trị cầu khiến còn là ngữ cảnh chứ không phải hoàn toàn là ngữ điệu.14

Nếu chỉ căn cứ vào dấu hiệu hình thức đã nêu sẽ có nhiều câu cầu khiếnkhông được thừa nhận là câu cầu khiến

Ví dô:

Có câm mồm đi không? (1)

(Khuất phục tên cướp biển - Trang 70 - Líp 4 - Tập 2)Các cháu có thể nói nhỏ hơn không? (2)

(Luyện từ và câu - Trang 155 - Líp 4 - Tập 1)Nếu xét về mặt hình thức thì hai câu (1) và (2) là câu hỏi Nhưng nếuđưa vào ngữ cảnh thì những trường hợp nêu trên sẽ được hiểu là câu cầukhiến Ngữ cảnh của câu (1) là: vì bác sĩ Ly vẫn ôn tồn giảng cho ông chủ

Trang 14

quán trọ nghe cách trị bệnh trong khi chúa tàu đã đập tay xuống bàn quátmọi người im lặng và mọi người ai nấy đã nín thít Do đó, Chúa tàu trừng

mắt nhìn bác sĩ và quát: Có câm mồm đi không? Ngữ cảnh của câu (2) là: khi đang ở trong Nhà văn hoá có hai bạn cứ say sưa trao đổi với nhau về bộ

phim đang xem làm ảnh hưởng đến người khác, do đó có người bên cạnh

bảo: Các cháu có thể nói nhỏ hơn không?

b2.Về mặt nội dung: Có hai xu hướng quan niệm về nội dung câu cầukhiến:

+ Xu hướng quan niệm rộng: "Câu cầu khiến nhằm mục đích nói lên ý chícủa người nói và đòi hỏi mong muốn đối phương thực hiện những điều nêu

ra trong câu nói" 38 Những điều nêu ra trong câu nói ở đây có thể là:mong muốn, đòi hỏi người nghe thực hiện một hành động, thể hiện mộttrạng thái, một phẩm chất

+ Xu hướng quan niệm hẹp cho rằng: " Câu cầu khiến nêu lên ý muốn củachủ thể phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động Do đócâu cầu khiến gắn liền với ý nghĩa hành động" 33

Đã có nhiều tranh cãi xung quanh việc xác định nội dung câu cầukhiến và vấn đề xác định "nội hàm khái niệm câu cầu khiến"

Tác giả Diệp Quan Ban và Hoàng văn Thung cho rằng: "Câu mệnhlệnh (còn gọi là câu cầu khiến ) được dùng để bày tỏ ý muốn nhờ vả haybắt buộc người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu" Vì thế mà các

nội dung: khuyên răn, dặn dò, mời mọc, chúc tụng không được tác giả xếp

vào nội hàm khái niệm cầu khiến 4

Nh vậy, khi nói về nội dung câu cầu khiến, ngữ pháp truyền thống đẫ

đề cập đến các loại: mệnh lệnh, yêu cầu, sai bảo, nhờ vả, đề nghị, cấm đoán, khuyên răn, dặn dò, chúc tụng, cầu mong, mời mọc, kêu gọi, thách thức, cổ vũ…

1.1.2.2 Quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại về câu cầu khiến

a Lí thuyết hoạt động ngôn ngữ và việc nghiên cứu câu cầu khiến

Trang 15

Theo lí thuyết về hành động ngôn từ thì khi giao tiếp người ta đã thể

hiện các hành động bằng ngôn ngữ như hỏi, cầu khiến, cám ơn, xin lỗi

và để diễn đạt những hành động nhất định, cộng đồng ngôn ngữ quy ước sửdụng những cấu trúc ngôn ngữ nhất định Hành động ngôn từ cầu khiến cóthể là đề nghị một yêu cầu thực hiện hoặc không thực hiện do đó nó diễn tảmong muốn của người nói đối với người nghe về hành động trong tươnglai

Như vậy, mỗi hành động ngôn từ được quy ước sử dụng những cấu trúc ngôn ngữ nhất định Có những cấu trúc ngôn ngữ chuyên dùng cho hành động cầu khiến, có cấu trúc ngôn ngữ chuyên dùng cho hành động

hỏi, lại có những cấu trúc chuyên dùng cho hành động ngôn từ cảm thán

hoặc trần thuật Ví dụ: cấu trúc ngôn ngữ để biểu đạt hành động cầu khiến

thường có các phụ từ khuyên bảo, ngăn cấm: hãy, đừng, chớ , các động

từ phải, nên ; các tình thái từ cuối câu: đi, lên, thôi, nào ; ngữ điệu

riêng .

Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, lời cầu khiến có thể được phânchia theo những tiêu chí khác nhau: 6

- Nếu lấy mục đích phát ngôn làm tiêu chí thì có thể phân lời cầu khiến

thành các tiểu loại nhỏ nh cấm, yêu cầu, xin phép, mời Ví dụ:

Cấm: Ta xuống xin bệ kiến Vua, không kẻ nào được giữ ta lại.

Yêu cầu: Thượng đế cần làm mưa ngay để cứu muôn loài.

Xin phép: Thưa ba, con xin phép đi học nhóm.

- Nếu phân chia cách thể hiện lực ngôn trung của mệnh đề cầu khiến chính thì lời cầu khiến bao gồm hai loại cơ bản: lời cầu khiến trực tiếp và lời cầu khiến gián tiếp Với lời cầu khiến trực tiếp, người nói trực tiếp nói ra điều

mình nghĩ và ý nghĩa cầu khiến được nhận biết qua bản thân các yếu tốngôn ngữ Còn ở hình thức gián tiếp người nói không trực tiếp nói thẳng rađiều mình nghĩ Lúc này ý nghĩa cầu khiến chỉ có thể hiểu được nhờ tínhquy ước của cộng đồng trong sử dụng ngôn ngữ hoặc nhờ ngữ cảnh (Vấn

Trang 16

đề ngữ cảnh chúng tôi xin trình bày ở mục sau) Chóng ta có thể thấy sựkhác nhau giữa lời cầu khiến trực tiếp và lời cầu khiến gián tiếp qua bảng

so sánh sau:

Lời cầu khiến trực tiếp Lời cầu khiến gián tiếp

(1) Già ơi! Ta đi thôi! (1) Già ơi, về nhà cháu còn xa đấy!

Thường thì cấu trúc đầy đủ của một lời cầu khiến gồm 3 thành phần sauđây:

- Thành phần báo hiệu,thường là một sự gọi ("Cậu ơi!") hoặc một lời hô với ngữ điệu nhất định ( "Êy!", "Này!")

- Thành phần biểu hiện mệnh đề chính Thành phần này không phụ thuộcvào các thành phần khác với tư cách là một lời cầu khiến Ví dụ:

Già ơi, ta đi thôi kẻo đường về nhà cháu còn xa đấy.

- Thành phần bổ trợ Thành phần này nhằm thuyết phục người nghe thựchiện điều được cầu khiến, nó có thể làm giảm mà cũng có thể làm tăng sựxúc phạm thể diện Sự phát ngôn sẽ có hiệu quả hơn trong trường hợpthành phần bổ trợ làm tăng sự xúc phạm thể diện

Ví dụ: Cậu mở cửa sổ ra cho nó mát mà ngủ

Trong một số trường hợp, thành phần này có thể trở thành một lờicầu khiến gián tiếp:

A: Trời ơi, nóng quá.

B: Để tớ mở cửa sổ ra

b Vấn đề tình thái và việc nghiên cứu câu cầu khiến

Xuất phát từ quan niệm tình thái là một phạm trù cú pháp ngữ nghĩa,ngôn ngữ học hiện đại đã rất quan tâm đến vấn đề tình huống, đặc biệt làtình huống cầu khiến Có thể tóm lược như sau:

- Tình huống cầu khiến có các thành phần cơ bản sau:

+ Chủ thể ý chí (C1) (chủ thể cầu khiến)

+ Chủ thể thực hiện (C2) (chủ thể tiếp nhận)

+Vị ngữ cầu khiến (hành động cầu khiến)

Trang 17

+ Hướng (từ phi hiện thực đến hiện thực, từ hiện tại đến tương lai)

Như vậy, nội dung cuả tình huống cầu khiến là ý chí xuất phát từ C1đến C2 và hướng đến sự biến đổi từ phi hiện thực thành hiện thực theochiều thời gian từ hiện tại đến tương lai Trong tình huống cầu khiến baogồm sự phản ánh một mối quan hệ nhất định đối với hiện thực, sự hoạtđộng của người nói hướng đến việc thay đổi thực tế, đến việc thay đổi mộthiện thực mới

- Tiền đề của tình huống cầu khiến

Bondarco cho rằng tiền đề của tình huống cầu khiến là sự tồn tại củatình huống hiện thực có trước hành vi của lời cầu khiến Đó là những lÝ

do, nguyên nhân ràng buộc khả năng, nhu cầu, lòng mong muốn, nguyệnvọng và cả lợi Ých của hành vi cầu khiến, kết quả của nó

Ví dụ: Nếu có tiền đề của tình huống cầu khiến là: "Học sinh đang rất ồn ào trong giờ học" thì sẽ có tình huống cầu khiến là "Học sinh im lặng! "

Tiền đề của tình huống giao tiếp được xem là yếu tố hoàn cảnh môitrường Và khi nói đến các tiền đề của tình huống cầu khiến người ta chó ýđến tính khách quan của sự tình, đến tình huống chủ quan (cảm giác suynghĩ của người nói như là sự kích thích đối với người thực hiện)

Trong một số trường hợp đặc biệt có sự biến đổi từ phi hiện thực đến

hiện thực Ví dụ: Đi đi!

Với ví dụ này tình huống hiện thực có thể là hai trường hợp khác nhau:

a Người đi đang đi thì dừng lại: ý chí truyền đạt ở đây không phải là "việcđi" mà là "việc chú ý tiếp tục đi"

b Người nghe chưa đi: ý chí truyền đạt là "hãy đi"

Việc nhận thức về tiền đề của tình huống cầu khiến sẽ giúp cho chóng tanhìn nhận đúng về vai trò của ngữ cảnh khi phân tích về nội dung cũng nhưcác biểu hiện câu cầu khiến Ngữ cảnh là tiền đề sản sinh ra các phát ngôncầu khiến, quyết định việc phiên giải, tiếp nhận ý nghĩa của nó

- Tình huống cầu khiến và tình huống lời nói

Trang 18

Bondarco cho rằng tình huống cầu khiến và tình huống lời nói có sựgắn bó với nhau và không đồng nhất Tình huống lời nói sẽ trở thành tìnhhuống cầu khiến khi có những tiêu chí thực tại hoá như:

+ Tình huống hiện tại, hiện thực

+ Các nhân vật (ngôi) biểu thị quan hệ cụ thể với người tham gia giao tiếp

Cụ thể sự hiện tại hoá trong hiện thực là các dấu hiệu: tôi, anh, ở đây, bâygiờ Đối tượng giao tiếp cụ thể, hình thức giao tiếp trực tiếp (ngôi 1 là ngôicủa người nói, ngôi 2 là ngôi của người nhận), thời điểm giao tiếp là hiệntại, cuộc giao tiếp hiện thực đang diễn ra

Bondarco đưa ra kết luận về phương thức ngữ pháp biểu thị tính cầukhiến Ông cho rằng các tiêu chí để nhận diện về mặt hình thức của câu cầukhiến trong sự thống nhất với các đặc trưng về tình thái nội dung là:

+ Ngôi: ngôi thứ hai tồn tại bên cạnh ngôi thứ nhất không chỉ đơn thuần là

hình thức cơ bản của ngôi mà còn chỉ ra sự tương ứng giữa những ngườitham gia vào tình huống và những người tham gia vào hành vi lời nói.+ Dạng: câu cầu khiến chỉ có dạng chủ động, không có dạng bị động

+ Thời: câu cầu khiến gắn với thời hiện tại, không có thời quá khứ 8

1.1.3 Các tiêu chí xác định câu cầu khiến tiếng Việt

Tác giả Chu Thị Thuỷ An có đưa ra một số tiêu chí xác định câu cầu

khiến có sức thuyết phục 3 Đó là:

1.1.3.1.Một câu phát ngôn được coi là câu cầu khiến khi có một ngữ cảnh chứa tình huống hiện thực tác động đến khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của người nói và lợi Ých của người nói, người nghe

Từ khi lí thuyết giao tiếp ra đời, vấn đề ngữ cảnh trở thành vấn đềđược các nhà nghiên cứu quan tâm Sự khác biệt của ngữ pháp chức năng,ngữ dụng học so với ngôn ngữ học trước đây là sự coi trọng yếu tố ngữcảnh khi nghiên cứu lời nói, cho rằng lời nói phải được đặt trong ngữ cảnhkhi xem xét

Cao Xuân Hạo khẳng định: “Một phát ngôn bao giờ cũng được thựchiện trong một tình huống nhất định kể cả tình huống bên ngoài lẫn tình

Trang 19

huống bên trong của quá trình hội thoại (thường gọi là văn cảnh hay ngôncảnh) 14

Như vậy, để xác định và phân loại các phát ngôn cầu khiến phải chú

ý đến ngữ cảnh Ngữ cảnh là một mảng hiện thực khách quan bao gồm

những sự kiện, hiện tượng và cả những phát ngôn xảy ra trước phát ngôncầu khiến Nói cách khác đó là tình huống mà câu cầu khiến xuất hiện vàcũng là tình huống cho phép người nghe xác định ra chúng Mỗi phát ngônbao giờ cũng được thực hiện trong một tình huống nhất định Nhưng tìnhhuống xuất hiện của câu cầu khiến có những đặc trưng riêng so với tìnhhuống giao tiếp của các loại câu khác Vì vậy, nó là tiêu chí để nhận diệncâu cầu khiến tiếng việt

Đối với một câu cầu khiến, tình huống xuất hiện của nó phải là một hiện thực chứa những lÝ do, nguyên nhân ràng buộc, thôi thúc khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của người nói Hiện thực này có thể tác động đến lợi Ých của người nói, lợi Ých của người nghe.

Ví dô: Trong bài “Người mẹ” Lớp 3 – Tập 1: có câu cầu khiến sau:

Hãy trả con cho tôi !

Tình huống xuất hiện câu cầu khiến đó là người mẹ bị bắt mất con,trên đường đi tìm con, bà phải trải qua bao nhiêu là khó khăn, gian khổ.Cuối cùng, khi gặp Thần Chết – là người đã bắt con bà - chính tình mẫu tử,lòng yêu thương vô hạn đối với đứa con và sự nhung nhớ người con của

mình đã là động lực thôi thúc bà phát ra câu: Hãy trả con cho tôi !

Như đã nói ở trên, khi nói đến tình huống xuất hiện của câu cầukhiến thì phải nói đến hai yếu tố: tình huống khách quan của sự tình và cảmgiác suy nghĩ của người nói khi chịu tác động của tình huống khách quan

đó Nghĩa là tình huống giao tiếp của một câu cầu khiến có hai mặt kháchquan và chủ quan

Như vậy, ngữ cảnh cho phép sử dụng các hành vi ngôn ngữ gián tiếp,

vì thế ngữ cảnh quyết định việc phiên giải ngữ nghĩa của các câu cầu khiến

Trang 20

Để hiểu đúng bản chất của các hành vi cầu khiến được chuyển tải trong câu

không thể tách câu khỏi ngữ cảnh của nó khi nghiên cứu Tóm lại, một câu chỉ được gọi là câu cầu khiến khi nó xuất hiện trong một ngữ cảnh chứa tình huống cầu khiến

1.1.3.2 Một phát ngôn được gọi là câu cầu khiến khi người nói trực tiếp truyền đạt nội dung ý chí, sự mong muốn của mình đến người nghe.

Các giáo trình nghiên cứu ngữ pháp theo quan điểm truyền thống khinói đến đặc điểm giao tiếp của câu cầu khiến tiếng Việt đều nhấn mạnh :câu cầu khiến là loại câu chỉ dùng để giao tiếp trực tiếp, không xuất hiệntrong giao tiếp gián tiếp 36

Khi chịu sự thôi thúc của tình huống khách quan thì nội dung ý chí,nguyện vọng xuất hiện ở người nói Tuy vậy, nội dung “ý chí” chưa thểbiến thành “nội dung cầu khiến” nếu nội dung Êy chưa được chủ thể cầukhiến trực tiếp truyền đạt đến một người nghe cụ thể Nếu không trực tiếphướng đến một người nghe thì nội dung ý chí chỉ tồn tại trong một câu trầnthuật – trần thuật lại ý nguyện của người nói

Ví dô: Trong bài: “Chiếc áo len” – Líp 3 – Tập 1 có đoạn:

Áp mặt xuống gối, em mong trời mau sáng để nói với mẹ: “Con không thích chiếc áo Êy nữa Mẹ hãy để tiền mua áo Êm cho cả hai anh em.”

Ở ví dụ này, nội dung “ý chí” chưa thể biến thành nội dung “cầukhiến” vì nội dung Êy chưa được chủ thể cầu khiến (là em gái trong truyện)

trực tiếp truyền đạt đến một người nghe cụ thể (người mẹ) Do đó, câu “Mẹ hãy để tiền mua áo Êm cho cả hai anh em” là câu trần thuật – trần thuật lại

ý nguyện của người nói, chứ không phải là một câu cầu khiến

Trong một câu cầu khiến, nhân vật giao tiếp và hình thức giao tiếp cóquan hệ mật thiết với nhau Giao tiếp trực tiếp nghĩa là người phát và ngườinhận đều xuất hiện Vì vậy, khi nói đến câu cầu khiến hầu như tất cảc cácnhà nghiên cứu đều đề cập đến vấn đề ngôi Vì hình thức giao tiếp là trực

tiếp nên chủ thể cầu khiến ở trong câu (dù có mặt hay tỉnh lược) đều ở ngôi

Trang 21

thứ nhất, chủ thể tiếp nhận bao giờ cũng ở ngôi thứ hai hoặc ngôi chung ( ngôi thứ hai và ngôi thứ nhất) Ngôi đặc trưng của chủ thể tiếp nhận trong câu cầu khiến là ngôi thứ hai (sè Ýt và số nhiều) Tuy nhiên, khi nội

dung cầu khiến là một hành động mà theo ý người nói là cả người nói vàngười nghe cùng làm thì đối tượng tiếp nhận trong câu được thể hiện ở

ngôi chung (ta, chóng ta, chúng mình)

Tóm lại, khi người nói trực tiếp truyền đạt nội dung ý nguyện của mình đến người nghe thì “nội dung cầu mong” biến thành “nội dung” cầu khiến Vì thế, hình thức giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe đi

kèm với nội dung ý nguyện, mong muốn người nghe thực hiện là tiêu chíxác định câu cầu khiến đích thực

1.1.3.3 Một phát ngôn được coi là câu cầu khiến khi nội dung cầu khiến của nó phải có khả năng hiện thực hoá.

Nội dung cầu khiến tức là nội dung ý nguyện của người nói đượctruyền đạt trực tiếp cho người nghe Sù mong muốn của người nói có thể làmột hành động, một tính chất hoặc một quá trình của người nghe

Xu hướng của một câu cầu khiến bao giờ cũng biến đổi từ phi hiệnthực thành hiện thực trong một thưòi gian từ hiện tại đến tương lai Nóphản ánh mối quan hệ giữa nội dung câu nói với hiện thực, giữa hành độngcủa người nói với sự thay đổi hiện thực, xuất hiện một hiện thực mới Vìthế, giá trị giao tiếp đích thực của câu cầu khiến được quy định bởi khảnăng hiện thực hoá của nội dung yêu cầu Điều này thể hiện đầu tiên ở chủthể tiếp nhận Đối với một câu cầu khiến, chủ thể cầu khiến không chỉ đơnthuần tiếp nhận nội dung câu nói mà đồng thời là chủ thể thực hiện hànhđộng tiềm tàng Khi nội dung cầu khiến được truyền đạt trực tiếp từ ngườiphát đến người nhận thì người nhận bị biến thành chủ thể hành động cótrách nhiệm thực hiện một hành động phản hồi Chủ thể thực hiện và khảnăng thực hiện của chủ thể tiếp nhận gắn với tính hiện thực của 1 câu cầukhiến Chính vì thế, tính chân thực của 1 câu cầu khiến được quy định bởi

Trang 22

điều kiện chủ thể tiếp nhận là con người Vì chỉ có con người mới có khảnăng tiếp nhận 1 cách có ý thức sự cầu khiến của người khác và đáp lại sựcầu khiến đó Sự vật, đồ vật vô tri, vô giác không thể hiểu được sự cầukhiến của con người

Nội dung ý nguyện khi muốn trở thành nội dung cầu khiến phải chịu

sự chi phối của các yếu tố khách quan như tình huống hiện thực, phươngthức truyền đạt và bản thân nội dung đó còn phải có tính chất hiện thực

Một nội dung yêu cầu có khả năng hiện thực hoá tức là hành động,tính chất, hay quá trình đó người nghe có thể thực hiện và người nói biếtchắc chắn là người nghe thực hiện được Điều này cho phép phân biệtnhững câu cầu khiến dùng trong giao tiếp chân thực hằng ngày và nhữngcâu cầu khiến mang phong cách tu từ, Èn dô trong thi ca

Ví dô: Lớp 3 - Tập 2 - Bài: “Một mái nhà chung” - Trang 100 có khổ thơ:

Bạn ơi ngước mắt Ngước mắt trông lên Bạn ơi hãy hát

Hát câu cuối cùng:

Một mái nhà chung Một mái nhà chung.

Những câu cầu khiến yêu cầu những trạng thái, quá trình, hành độngtrong thi ca thực chất không phải là những câu cầu khiến đích thực Vì nộidung yêu cầu của các câu cầu khiến trên không phải là nội dung bề mặt màcâu chuyển tải Người nói khi nói không cần biết đến khả năng thực hiệncủa người nghe, không cần tính đến khả năng hiện thực hoá nội dung cầukhiến bề mặt Cái mà người nói muốn đạt đến không phải là một hành độngtương ứng từ người nghe mà là một sự chuyển biến trong tinh thần ngườinghe

Trang 23

Như vậy chúng ta có thể khẳng định câu cầu khiến cũng có thể cónội dung yêu cầu một trạng thái, một quá trình, với điều kiện các trạng tháiquá trình đó có khả năng hiện thực hoá

1.1.3.4 Một phát ngôn được gọi là câu cầu khiến khi có những dấu hiệu hình thức đánh dấu tính cầu khiến

Ngoài ba điều kiện trên, một câu nói sẽ trở thành câu cầu khiến nếunhư hình thức đặc trưng của câu đó được biểu hiện qua các dấu hiện sau:

- Các phụ từ và động từ tình thái đứng trước vị từ: hãy, đừng, chớ, nên, cần, phải

Ví dô: Nhưng con hãy kể cho cha nghe về bạn của con

- Các từ tình thái đứng cuối câu: đi, với, thôi, nào, đã, nhé, xem

Ví dô: Cậu có trăm trí khôn, nghĩ kế gì đi !

- Ngữ điệu:

Ví dô: Đi đi !

- Các động từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến: cấm, mời, xin, yêu cầu, đề nghị, chúc, ra lệnh, khuyên, cho

Ví dô: Xin ông về tâu Đức vua rèn cho tôi chiếc kim này thành một con

dao sắc để xẻ thịt chim

- Các động từ có ý nghĩa cầu khiến khác: hộ, giúp (giùm), để, nhớ.

Ví dô: Mở hộ cháu cái cửa !

Như vậy, theo chúng tôi, về mặt nội dung, cầu khiến là phát ngôn màngười nói nói ra nhằm hướng người nghe đến việc thực hiện một hànhđộng, trạng thái, qúa trình nào đó; bao gồm các hành vi mà chúng tôi đã

nêu ở trên: ra lệnh, sai khiến, yêu cầu, đề nghị, hướng dẫn, khuyên bảo, cho phép, nhờ vả, mời mọc, thỉnh cầu, rủ rê, thúc giục, dặn dò.

Về mặt hình thức, các hành vi ở lời thuộc nhóm cầu khiến thườngđược biểu đạt bằng hai dạng bằng các cấu trúc chính:

Dạng thứ nhất, các cấu trúc cầu khiến được đánh dấu bằng các phụ

từ mệnh lệnh (hoặc động từ tình thái có ý nghĩa cầu khiến) trước vị từ,cùng với các tình thái từ cầu khiến cuối câu và ngữ điệu

Trang 24

Dạng thứ hai, các cấu trúc chứa động từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến.

Sự xuất hiện của loại câu có nội dung, hình thức như trên phải gắn liền vớimột tình huống hiện thực chứa đựng nội dung ý nguyện, với một chủ thểphát ngôn (người nói) và có chủ thể tiếp nhận (người nghe); người nói phảitrực tiếp truyền đạt nội dung ý nguyện có tính hiện thực cho người ghe cókhả năng hiện thực hoá Nói cách khác, câu cầu khiến phải tồn tại trongmột tình huống lời nói gọi là tình huống cầu khiến

Từ những vấn đề lí luận về câu cầu khiến như trên là cơ sở, chúng tôi

có thể có cách nhìn nhận, đánh giá về nội dung dạy học câu cầu khiến ởTiểu học một cách thoả đáng

1.1.4 Quan niệm của luận văn về câu cầu khiến

Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt ngữ, dưới góc độ

sư phạm, chúng tôi xin trình bày quan điểm về câu cầu khiến sẽ dùng trongluận văn

1.1.4.1 Về nội dung: câu cầu khiến là phát ngôn mà người nói nói ra nhằm hướng người nghe đến việc thực hiện một hành động, trạng thái, quá trình nào đó; bao gồm các hành vi ở lời: ra lệnh, sai khiến, yêu cầu, đề nghị,

hướng dẫn, khuyên bảo, cho phép, nhờ vả, mời mọc, thỉnh cầu, rủ rê, thúcgiục, dặn dò

1.1.4.2 Về hình thức: các hành vi ở lời cầu khiến thường được biểu đạt bằng hai dạng cấu trúc chính:

Thứ nhất, các cấu trúc cầu khiến được đánh dấu bằng các phụ từ

mệnh lệnh: hãy, đừng…(hoặc động từ tình thái có ý nghĩa cầu khiến) trước

vị từ, cùng với các tình thái từ cầu khiến cuối câu (nào, nhé….) và ngữ điệu

khi nói (đọc), dấu chấm than hoặc dấu chấm khi viết Tuy nhiên, trong những ngữ cảnh cụ thể (ví dụ cần liệt kê…) có thể đặt dấu hai chấm cuối

câu cầu khiến

Thứ hai, hành vi cầu khiến được biểu đạt bằng các cấu trúc chứa động từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến: cấm, mời, xin, yêu cầu, đề nghị, ra

Trang 25

lệnh, khuyên bảo … Động từ ngữ vi là những động từ khi nói ra đã là thựchiện hành động:

Mời chị uống nước ạ ! Các động từ có ý nghĩa cầu khiến khác như: giúp, hộ, để, nhớ, giùm… cũng

là dấu hiệu biểu đạt ý cầu khiến Ví dụ:

- Chị xách hộ em xô nước với

- Để em làm cho

- Chiều nhớ đón em con nhé

1.1.4.3 Sự xuất hiện của loại câu có nội dung, hình thức như trên phải gắn liền với một tình huống hiện thực chứa đựng nội dung ý nguyện, với một chủ thể phát ngôn (C1) và có chủ thể tiếp nhận (C2) Nói cách khác, câu

cầu khiến phải tồn tại trong một tình huống lời nói gọi là tình huống cầukhiến Các phát ngôn có hình thức là câu hỏi nhưng nhằm mục đích cầukhiến vẫn được coi là câu hỏi nhưng dùng để cầu khiến

Từ quan niệm về câu cầu khiến như trên, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểunội dung và phương pháp dạy học câu cầu khiến ở sách giaó khoa tiếngViệt 4

1.2 Một số vấn đề lí luận về dạy học Tiếng Việt chi phối việc tổ chức dạy học câu cầu khiến

1.2.1 Các nguyên tắc dạy học ngữ pháp và việc ứng dụng vào dạy câu cầu khiến ở Tiểu học

Xuất phát từ mục tiêu của dạy học, từ cơ chế của quá trình nắm kháiniệm nói chung, khái niệm ngữ pháp nói riêng, những đặc điểm của chínhkhái niệm ngữ pháp và những khó khăn của học sinh khi hình thành kháiniệm ngữ pháp người ta đã đề xuất thành những nguyên tắc dạy học ngữpháp Các nguyên tắc này làm chỗ dựa cho việc lựa chọn nội dung, phươngpháp, phương tiện, hình thức tổ chức quá trình dạy học ngữ pháp Cụ thểcác nguyên tắc như sau:

1.2.1 1 Nguyên tắc giao tiếp

Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ chính là cơ sở của nguyên tắc

Trang 26

giao tiếp trong dạy tiếng Việc học ngôn ngữ được xem là học như học sửdụng một công cụ giao tiếp để học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ làmphương tiện nghe, nói, đọc, viết Chính vì thế, việc dạy ngữ pháp đòi hỏiphải thoả mãn cho mục đích dạy tiếng như một công cụ giao tiếp Điều này

chi phối việc xác định nội dung dạy học ngữ pháp nói chung, dạy câu cầu khiến nói riêng, chi phối trật tự các bài học về câu cầu khiến, liều lượng kiến thức cần cung cấp cho học sinh và phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ học Cụ thể, với mục đích nhằm giúp học

sinh có kĩ năng giao tiếp tốt, phát triễn các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết,sách giáo khoa líp 4 chương trình mới đã sắp xếp nội dung dạy về câu cầu

khiến như sau : bài đầu tiên dạy về tác dụng và cấu tạo của câu cầu khiến, bài học tiếp theo dạy về cách đặt câu cầu khiến và bài học cuối cùng dạy cho học sinh biết sử dụng câu cầu khiến lịch sự khi giao tiếp Như vậy, sách giáo khoa đã chú trọng sắp xếp nội dung dạy câu cầu khiến như là dạy một công cụ để học sinh giao tiếp

Việc vận dụng nguyên tắc này trong dạy học câu khiến đòi hỏi :

Tất cả các quy luật, cấu trúc, hoạt động ngữ pháp của câu cầu khiếnchỉ được rót ra trên cơ sở nghiên cứu lời nói sinh động, những kinh nghiệm

lời nói và những kinh nghiệm sống đã có của học sinh Khi dạy các bài về câu cầu khiến cần chọn những tình huống giao tiếp điển hình, giàu tính sư phạm Điều này không có nghĩa là đưa ra các ngữ liệu khô cứng xa rời với

đời sống thực, với giao tiếp thực của học sinh

Đảm bảo sự thống nhất giữa lí thuyết và thực hành về câu cầu khiếnnhằm mục tiêu là hình thành năng lực giao tiếp cho học sinh Do đó, nộidung dạy về câu cầu khiến cần phải gắn lí thuyết với thực hành Điều này

đã được thể hiện rõ trong sách giáo khoa, sau các phần dạy về lí thuyết,người ta đưa ra các bài tập thực hành nhằm giúp học sinh nắm bắt lý thuyếtvừa học

Chú trọng dạy hệ thống quy tắc ngữ pháp bên cạnh hệ thống kháiniệm Hệ thống quy tắc ngữ pháp giúp học sinh chuyển từ nhận thức sang

hành động Ví dụ liên quan đến các khái niệm về câu cầu khiến có các quy

Trang 27

tắc chính tả - quy tắc sử dụng dấu chấm than, dấu chấm cuối câu, quy tắc

về ngữ điệu khi nói, đọc câu cầu khiến v v .

Việc dạy học ngữ pháp nói chung và dạy câu cầu khiến nói riêngphải được thực hiện bằng hệ thống bài tập thích hợp Bài tập ngữ phápđược sử dụng theo những mục đích khác nhau ứng với nhiều giai đoạnkhác nhau của các bước lên lớp Hiện nay, so với sách giáo khoa chươngtrình cũ thì sách giáo khoa chương trình mới về cơ bản đã có nhiều thay đổitrong việc đổi mới nội dung, hình thức cũng như số lượng bài tập Tuynhiên hệ thống bài tập dạy câu cầu khiến vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu làđưa học sinh vào hoạt động lời nói Số lượng bài tập tình huống, bài tập sửdụng câu khiến theo chúng tôi vẫn chưa nhiều Do đó, thiết nghĩ cần có sựthay đổi, bổ sung cho phong phú hệ thống bài tập dạy câu cầu khiến

1.2.1.2 Nguyên tắc trực quan

Cơ sở của nguyên tắc này chính là ở sự thống nhất giữa tính trừutượng và tính cụ thể của ngữ pháp Đối với việc dạy các bài về nội dung

câu cầu khiến, nguyên tắc trực quan ở đây chính là trực quan lời nói.

Trong một số bài, chúng tôi sẽ lựa chọn các ngữ liệu phù hợp, sử dụng cácsản phẩm lời nói của chính học sinh làm ngữ liệu dạy các bài về câu cầukhiến

Những yêu cầu của việc sử dụng trực quan trong giờ dạy ngữ pháp: Chất lượng đưa ra xem xét trong giờ ngữ pháp cần phải tiêu biểu, xứngđáng đại diện cho đơn vị ngữ pháp mà nó được đưa ra làm dẫn chứng Vìvậy, không nên dùng các trường hợp đặc biệt, các trường hợp có tính chất

trung gian Chẳng hạn như khi dạy về bài "Câu khiến", khi hình thành cho học sinh khái niệm và tác dụng của câu khiến, chúng ta không nên đưa ngữ liệu là một câu cầu khiến không điển hình

Những ngữ liệu đưa ra phải mang tính trực quan, nghĩa là làm sao chohiện tượng nghiên cứu dễ tách ra, nổi bật lên giữa những cái bao quanh nó

để dễ nhận diện

Trang 28

1.2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp trong khi dạy ngữ pháp

Nguyên tắc này được xây dựng dựa vào bản chất của khái niệm ngữpháp và những khó khăn của học sinh tiểu học trong việc lĩnh hội chúng vìkhái niệm ngữ pháp mang tính trừu tượng và khái quát cao, ý nghĩa ngữpháp bao giờ cũng trừu tượng, nhất là đối với học sinh nhá

Để đảm bảo nguyên tắc trên, chương trình tiểu học có cấu trúc đồngtâm: một số khái niệm được đưa ra nhiều lần Lần đầu chỉ đưa ra nhữngdấu hiệu hướng học sinh chó ý làm quen với khái niệm, không hướng đến

mở ra toàn bộ nội dung khái niệm Đầu tiên, chỉ để học sinh nhận ra đượcnhững dấu hiệu dễ nhận, đập vào trực quan của học sinh, lần sau sẽ hướngvào những dấu hiệu mới, dần dần mở ra toàn bộ nội dung khái niệm Ví dụ,

ở chương trình sách giáo khoa mới, trước khi được học các bài về câu cầukhiến ở lớp 4, học sinh được làm quen với các bài về dấu chấm cảm đượcdùng ở cuối câu cầu khiến ở các lớp 2 và 3

Trong dạy ngữ pháp, luôn xác lập mối quan hệ giữa ý nghĩa và hìnhthức ngữ pháp, luôn giúp học sinh nhận ra ý nghĩa và các dấu hiệu hìnhthức của hiện tượng ngữ pháp được nghiên cứu và chức năng của nó tronglời nói Mỗi nội dung đều có một hình thức tương ứng Khái niệm đượclĩnh hội trong sự thống nhất của nội dung và hình thức mới chắc chắn Ví

dụ, làm cho học sinh hiểu được câu cầu khiến thường có dấu chấm than hoặc dấu chấm ở cuối câu, tuỳ thuộc vào nội dung của câu cầu khiến mà câu đó có dấu chấm hay dấu chấm than ở cuối câu

1.2.2 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt và việc vận dụng vào dạy học cầu khiến

Phương pháp dạy học tiếng Việt có nhiệm vụ tối ưu hoá quá trìnhdạy học tiếng Việt, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhàtrường Nhiệm vụ này đòi hỏi phương pháp dạy học tiếng Việt phải luôn tựphát triển, khẳng định mình như một khoa học

Trang 29

Có thể nói cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy và học là hướng tớihoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Chính vìvậy, việc dạy và học câu cầu khiến không thể không nằm trong vòng quayđổi mới này được Từ trước đến nay, vấn đề dạy và học câu cầu khiến đượcxem nhẹ do nó chỉ chiếm một lượng tiết rất nhỏ trong toàn bộ chương trình.Chúng ta chưa chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy và học câu cầukhiến Do vậy, để góp phần nâng cao hiệu qủa dạy và học loại câu nàychúng tôi thiết nghĩ cần có một cái nhìn mới về phương pháp dạy học câucầu khiến cũng như về nội dung dạy học nó Định hướng đổi mới nội dung

và phương pháp dạy học loại câu này như thế nào chúng tôi xin được trìnhbày ở những phần sau

1.3 Thực tiễn dạy học câu cầu khiến ở tiểu học

1.3.1 Tìm hiểu qua thực tiễn dạy học

Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng việc dạy học câu cầu khiến

ở trường tiểu học bằng nhiều cách khác nhau và đều cho những kết qủa khátrùng hợp

1.3.1.1 Điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến giáo viên

Phiếu thăm dò ý kiến giáo viên được chúng tôi tiến hành điều tra mộtcách khách quan ở các trường sau:

- Trường tiểu học Đoàn Thị Điểm

- Trường tiểu học Thành Công B

Các phiếu thăm dò đã được thu thập và phân tích:

 Những thuận lợi:

Hầu hết các giáo viên đều cho rằng đây là loại câu có cấu tạo đặc thù, dễdàng tìm thấy ví dụ trong các tác phẩm văn học, trong ngữ liệu các bài tậpđọc, kể chuyện hoặc ở ngoài cuộc sống Trong thực tế giao tiếp, học sinhvẫn thường sử dụng loại câu này nên khi giới thiệu về loại câu này, các em

dễ dàng nhận diện

Mặt khác, sách giáo khoa khi đưa nội dung dạy về câu khiến vàogiảng dạy trong chương trình Luyện từ và câu lớp 4 đã chia ra làm 3 bài

Trang 30

dạy rõ rệt với 3 nội dung dạy khác nhau nên giúp cho cả giáo viên và họcsinh thuận lợi trong việc dạy và học Nội dung dạy học phong phú, cónhiều tình huống phù hợp với thực tiễn giao tiếp của học sinh Hầu hết họcsinh đều hứng thú với nội dung này Số lượng bài tập thực hành rèn luyện

về câu khiến của chương trình mới so với chương trình cũ vì thế cũng đượctăng lên, bài tập cũng có nhiều dạng hơn, sách giáo khoa cũng đã chú trọngtrong việc đưa các dạng bài tập khác nhau : bài tập tình huống, bài tập rèn

kỹ năng nói cho học sinh … Vì vậy, việc giảng dạy các bài về câu cầukhiến ở chương trình mới cũng gặp nhiều thuận lợi hơn so với chương trình

sử dụng dấu chấm cảm, khi nào thì sử dụng dấu chấm cuối câu cầu khiến vìchưa có một hướng dẫn cụ thể nào cho giáo viên (Sách giáo viên TiếngViệt 4 – sách lưu hành chính thức trong năm học 2005 – 2006 - đã đưa rahướng dẫn về việc sử dụng dấu chấm than và dấu chấm cuối câu khiến).Mặt khác nhiều giáo viên cũng cho rằng vì nội dung dạy về câu khiến được

chia ra làm 3 bài với 3 nội dung khác nhau, kiến thức cần cung cấp cho học sinh vì thế mà nhiều hơn, rắc rối hơn nên giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc xác định một phương pháp phù hợp để giảng dạy cho thích hợp với từng đối tượng học sinh.

Trang 31

Khi được hỏi ý kiến về nội dung các bài tập dạy thực hành về câu khiến,nhiều giáo viên có cùng chung một nhận xét rằng bài tập 3 phần luyện tậpcủa bài Cách đặt câu khiến – tuần 28 (sách thực nghiệm), học sinh gặp

nhiều khó khăn khi thực hiện Nhiều học sinh không nêu được tình huống nếu giáo viên không nêu ra một ví dụ mẫu hoặc có học sinh nêu được tình huống nhưng lại không nêu được câu khiến sử dụng trong tình huống

đó vì nghĩ rằng chỉ cần nêu tình huống mà không cần đặt câu.

Với bài 2 phần nhận xét của bài Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị: “Tìm những câu nêu yêu cầu, đề nghị trong mẫu chuyện trên”, một số

giáo viên cho rằng học sinh thường tìm thêm câu “Chiều nay cháu đi học

về, bác coi giùm cháu nghe, hổng biết sao nó cứ xì hơi hoài.” (Sách hướng dẫn giảng dạy không đưa câu trên vào đáp án) Và với bài 4 phần nhận

xét “Đặt câu khiến (chú ý đến tính lịch sự của câu khiến) trong các tình

huống” (sách thực nghiệm) rất nhiều giáo viên cho rằng các em thường đặt câu hỏi để nêu yêu cầu, đề nghị Mặc dù trong sách hướng dẫn dạy

học cũng chấp nhận phương án này nhưng theo ý kiến của nhiều giáo viênthì học sinh cần đặt theo yêu cầu của bài là đặt câu khiến chứ không phải là

câu hỏi Chính vì thế, rất nhiều giáo viên cho rằng khi gặp các tình huống nêu trên, giáo viên chưa có cách giải quyết thoả đáng, hoặc chỉ gải quyết theo kinh nghiệm cá nhân mà chưa có sự thống nhất Một số giáo viên

lại cho rằng, với tình huống khó khăn ở bài 4 phần nhận xét “Đặt câu khiến(chú đến tính lịch sự của câu khiến) trong các tình huống” đã nêu trên thìbắt buộc học sinh phải đặt câu khiến, không được đặt câu hỏi có nội dungcầu khiến (Khi dự giờ một số lớp chúng tôi cũng ghi nhận được những khókhăn này) Ngoài ra, một số giáo viên cho rằng nên đưa thêm những bàitập luyện sử dụng câu khiến lịch sự , lễ phép

Về tình hình sử dụng câu cầu khiến của học sinh trong văn nói và văn

viết : Hầu hết các ý kiến đều cho rằng, học sinh sử dụng câu cầu khiến trong văn nói nhiều hơn trong văn viết Do hay sử dụng câu khiến trong

Trang 32

văn nói nên các em mắc nhiều lỗi hơn so với trong văn viết Còn trong vănviết, tuy tần số sử dụng câu khiến Ýt hơn so với trong văn nói nhưng độchính xác lại cao hơn Ngoài ra, một số giáo viên còn cho rằng khi sử dụngcâu cầu khiến trong văn nói và viết các em thường mắc phải những sai sótnhư : dùng câu cầu khiến chưa đúng về hình thức lẫn nội dung, dùng từ

xưng hô chưa phù hợp, đôi khi dùng sai vị trí của các từ cầu khiến như hãy, đừng, chớ, lên, đi, nào … Đa số học sinh sử dụng câu cầu khiến chưa lịch

sự, các em thường xuyên sử dụng những câu cầu khiến cộc lốc, không cóchủ ngữ, không có đối tượng tiếp nhận hành động sai khiến … Thực tế nàycho thấy cần thiết phải tăng cường các bài tập hướng dẫn học sinh sử dụngcâu khiến lịch sự, lễ phép, đặc biệt là bài tập thực hành lời nói cầu khiếntrong tình huống cụ thể

1.3.1.2 Khảo sát giờ dạy của giáo viên

Sau khi thăm dò ý kiến giáo viên về việc dạy học câu cầu khiến,chúng tôi tiến hành khảo sát một số giờ dạy của các giáo viên ở các trườngtrên Cụ thể, chúng tôi tổ chức dự giờ của một số lớp như sau:

- Líp 4B trường Thành Công B - Hà Nội

- líp 4C trường tiểu học Nam Trực - Nam Định

Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy: bên cạnh các tình huống mà giáoviên và học sinh đã gặp phải khi học các bài về câu khiến mà chúng tôi đãnêu ở phần 1.3.1.1, hầu hết giáo viên đều tận dụng đến những phút cuốicùng của tiết học để giảng dạy Các cô giáo đều vừa kết hợp dạy lí thuyết,vừa kết hợp luyện tập các bài tập thực hành Các giáo viên hầu hết chỉ quantâm đến việc dạy làm sao để truyền đạt hết các kiến thức trong sách TiếngViệt 4 về câu cầu khiến Các ví dụ được sử dụng hầu hết là theo sách giáokhoa, chưa có sự tìm hiểu ở bên ngoài Trong gờ dạy nhìn chung giáo viêncòn thuyết trình nhiều Các phương pháp dạy học tích cực như thảo luậnnhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp nêu vấn đề hầu như Ýtđược sử dụng Giáo viên đa phần là sử dụng các phương pháp truyền thống

Trang 33

như hỏi đáp, thuyết trình là chủ yếu, thỉnh thoảng xen vào các trò chơicuối tiết học Do vậy học sinh học một cách thụ động, tính tích cực của họcsinh chưa được phát huy Phần bài tập thực hành trong SGK có nhiều dạngkhác nhau, từ bài tập nhận diện câu cầu khiến đến bài tập đặt câu khiến, bàitập tìm tình huống cho câu cầu khiến , các bài tập này có thể cho học

sinh thực hành ở dạng nói hoặc viết đều được nhưng các giáo viên đều cho học sinh thực hành ở dạng viết, học sinh hầu như rất Ýt được làm bài tập thực hành ở dạng nói Do đó, hầu hết các em khi nói câu cầu khiến đều

không có giọng điệu phù hợp Với các bài tập đặt câu trong các gờ chúngtôi đã dự, chưa có giáo viên nào chuyển hình thức từ đặt câu sang đóng vai

để giúp các em thực hành kỹ năng giao tiếp

1.3.1.3 Kiểm tra kiến thức của học sinh

Để đánh giá những kiến thức lĩnh hội được sau khi học về câu cầukhiến của học sinh líp 4, chúng tôi đã tiến hành trắc nghiệm học sinh cáclớp:

- Líp 5B trường Đoàn Thị Điểm

- Líp 5C trường Thành Công B

Nội dung phiếu trắc nghiệm đưa ra những câu hỏi để kiểm tra nhữngkiến thức lý thuyết cơ bản về câu cầu khiến và các bài tập với nội dung nhưsau:

- Yêu cầu học sinh đặt câu khiến theo những hoàn cảnh, nội dung, mụcđích giao tiếp khác nhau

- Yêu cầu học sinh đặt câu khiến với cùng một nội dung, mục đích giao tiếpnhưng với những đối tượng khác nhau: người ở vai dưới (em bé), ngườingang vai (bạn), người ở vai trên (cha, mẹ, anh, chị, bác hàng xóm .)Kết quả:

Đa phần các em đặt câu đúng với yêu cầu của bài tập Một số em đặtcâu cầu khiến hay, rõ ràng, phù hợp với đối tượng và nội dung giao tiếp,chú ý đến tính lịch sự của câu khiến Tuy vậy, bên cạnh đó còn có rất nhiều

Trang 34

học sinh đặt câu không chuẩn, không đúng với yêu cầu của đề bài Có một

số em đặt đúng câu khiến, đúng với nội dung, yêu cầu mà đề bài đưa ra

nhưng câu khiến đó lại không phù hợp với đối tượng giao tiếp vì không lễ

phép, thiếu lịch sự Chẳng hạn, bài tập 3 có yêu cầu như sau:

Đặt 1 câu khiến trong các tình huống sau:

a, Em muốn nhờ em của mình tưới hộ em cây hoa hồng

b, Em muốn nhờ bạn tưới hộ em cây hoa hồng.

c, Em muốn nhờ anh (hoặc chị) tưới hộ em cây hoa hồng.

Khi đặt câu khiến với người ngang vai và vai dưới (em và bạn), các

em đặt câu khiến phù hợp, nhưng khi đặt câu khiến với người trên (vai anh

(chị)) thì một số em lại đặt câu thiếu lễ phép, lịch sự như:

Nhờ chị tưới cây

Hoặc: Chị tưới cây cho em

(Đáng lẽ phải là: Chị ơi, chị tưới cây giúp em chị nhé !)

Ngoài ra, qua bài làm của học sinh, chúng tôi nhận thấy rằng đa số

các em sử dụng dấu chấm cảm và dấu chấm trong câu là theo cảm tính.

Các em không hiểu được rõ là khi nào thì dùng dấu chấm cảm, khi nào thì

sử dụng dấu chấm ở cuối câu khiến Do đó, rất nhiều học sinh khi đặt câukhiến các em sử dụng dấu chấm cảm, dấu chấm không phù hợp với nộidung cầu khiến như: với những câu cầu khiến cần nhấn mạnh nội dung cầukhiến thì các em lại sử dụng dấu chấm cuối câu, còn với các câu không cầnphải nhấn mạnh nội dung câu khiến thì các em lại sử dụng dấu chấm cảm

Bên cạnh việc phát phiếu bài tập cho học sinh, chúng tôi còn tiếnhành trao đổi với các em, yêu cầu các em đặt một vài câu khiến theo những

tình huống và vai giao tiếp khác nhau Chúng tôi nhận thấy trong giao tiếp, học sinh khi sử dụng câu khiến thường nói cộc lốc, không có chủ ngữ Vì

không chú ý đến vai vế trong giao tiếp nên các câu khiến mà các em sửdụng đa phần là những câu cụt, câu què, câu thiếu tính lịch sự, thiếu sự lễphép

Trang 35

Như vậy, qua việc khảo sát, điều tra học sinh và giáo viên như đãtrình bày ở trên, chúng tôi nhận thấy cần phải có những điều chỉnh trongnội dung và phương pháp dạy học câu cầu khiến để nâng cao chất lượngdạy và học câu cầu khiến cho tốt hơn Vì thế, hiện nay, việc thực hiện đề tàinày theo chúng tôi là rất cần thiết

1.3.2 Tìm hiểu qua sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học

Như chóng ta đã biết, SGK là tài liệu chuẩn, là chỗ dựa cơ bản đểgiáo viên thực hiện giờ giảng Nhưng với đặc điểm đối tượng học sinh tiểuhọc, trong khuôn khổ số tiết học và số trang in qui định trong SGK, cónhững điều chỉ được trình bày như là cái sườn, cái lõi của vấn đề Nội dung

về câu cầu khiến trong SGK cũng không nằm ngoài đặc điểm chung đó

1.3.2.1 Sách giáo khoa Tiếng Việt chương trình cũ

Thường thì cuối một câu cầu khiến người ta sử dụng dấu chấm cảm

Do vậy, dấu chấm cảm có liên quan trực tiếp đến câu cầu khiến Vì thế,trước khi dạy bài "Câu cầu khiến - dấu chấm cảm" ở lớp 4, SGK đã đưa haibài về dấu chấm cảm vào dạy ở lớp 3 - tập 2 Sở dĩ chúng tôi đề cập đếnvấn đề này vì hai bài này có nội dung liên quan đến câu cầu khiến Cụ thểnhư sau:

* Ở bài "Dấu chấm cảm" trang 33 - líp 3 - Tập 2 có nội dung ghi nhớ:

"Dấu chấm cảm ghi ở cuối câu diễn tả niềm vui, nỗi buồn hoặc cuối các câu kêu gọi"

Hoặc ở bài "Dấu chấm cảm" trang 39 - Tập 2 - có nội dung ghi nhí:

"- Dấu chấm cảm còn được đặt cuối các câu yêu cầu hoặc ra lệnh cho người khác làm một việc gì đó.

- Khi đọc, gặp các câu có dấu chấm cảm, phải thay đổi giọng cho phù hợpvới tình cảm được diễn đạt trong câu."

Như vậy, hai bài dạy về "Dấu chấm cảm" ở trên mang tính chất chuẩn bị

trước, giới thiệu trước cho học sinh về câu cầu khiến mà các em sẽ đượchọc khi lên lớp 4 Điều này cho thấy người biên soạn SGK đã có một cách

Trang 36

nhìn khoa học khi trang bị trước cho học sinh một số kiến thức cơ bản vềdấu chấm cảm gắn liền với câu cầu khiến

Nhằm giúp học sinh luyện tập về dấu chấm cảm có liên quan đến câu

cầu khiến, SGK đưa ra 3 bài tập cho hai bài dạy "Dấu chấm cảm" nêu trên: + Bài 3 trang 33: Tìm trong đoạn văn sau các câu cần đánh dấu chấm

cảm và đánh dấu chấm cảm cho các câu đó:

Mùa xuân, cô bé vào trong vườn Hoa đào đang nở màu hồng rợp trênđầu Cô gọi:

- Đào ơi, sao bạn mang màu sắc đẹp thế ?

- Tôi cũng giống như màu đôi môi của bạn Êy mà Đấy, bạn soi gươngxem Giống như đúc phải không? Tôi với bạn là một mà thôi

Cô bé âu yếm áp nụ cười của mình lên những nụ của hoa đào thầm thì:

- Ừ, hai chúng mình là một

-Nguyễn Phan HáchBài tập này có một câu cầu khiến cần đưa dấu chấm cảm vào Đó làcâu: “ Đấy, bạn soi gương xem !” Bài tập này nhằm giới thiệu trước chohọc sinh về dấu chấm cảm sử dụng để nêu yêu cầu hoặc ra lệnh cho người

khác làm việc gì đó mà các em sẽ được học kĩ hơn ở bài Dấu chấm cảm – trang 39 ( Tập 2).

+ Bài 2 trang 39: Đọc đoạn văn sau, chó ý đọc đúng giọng các câu có dấuchấm cảm:

Chiếc xe đi đầu bò tới

Một trăm mét rồi Ba nói nhỏ:

- Bắn được rồi, anh Nghiêu !

- Khoan đã, nó có thấy mình đâu, cứ để yên !

Năm mươi mét Vân ngắt vào đùi Nghiêu một cái:

- Kìa !

Giọng Nghiêu nghiêm khắc:

Trang 37

- Theo mệnh lệnh tôi, nằm yên !

Về số lượng, với hai bài dạy về dấu chấm cảm, trong đó có một bàidành riêng để dạy dấu chấm cảm dùng ở câu cầu khiến thì số lượng bài tậpluyện tập như vậy là chưa nhiều, chưa phong phú về kiểu loại (3 bài tập).SGK đã chú trọng đến việc luyện giọng đọc cho học sinh khi đọc câu cầukhiến, tuy nhiên số lượng bài tập rất Ýt (1bài) (bài tập 2 trang 39) Nhưvậy, quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt được thể hiện qúa hạnchế trong SGK Tiếng Việt 3

* Câu cầu khiến được dạy chính thức ở lớp 4 tập 1 qua một bài:

"Câu cầu khiến - Dấu chấm cảm" với số tiết là 1 tiết Qua khảo sát SGKchúng tôi nhận thấy:

- Các ví dụ đưa ra trong phần bài học chưa nhiều và còn trùng lặp:

Ví dụ: ở phần bài học trang 116, SGK đưa ra hai câu cầu khiến sau:

- Đi vào trong nhà kẻo nắng, cháu!

- Cháu rửa mặt đi, rồi nghỉ kẻo mệt!

Ở phần bài học 1 trang 117 lại đưa lại ví dụ này: Đi vào trong nhà kẻo nắng cháu!

Hoặc ở phần bài học 1 trang 117 lấy ví dụ là: Đốt lửa lên! Phần bài học 2

trang 117 lại lặp lại ví dụ này

Trang 38

Phần bài học 2 trang 117, SGK có đưa ra một ví dụ: c, Bắt buộc : Đốt lửa lên! Theo chúng tôi, nội dung bắt buộc của câu cầu khiến Đốt lửa lên! mà SGK đưa ra là chưa phù hợp vì câu cầu khiến nêu trên có thể tuỳ

vào ngữ cảnh khác nhau, tuỳ thuộc vào ngữ điệu của câu trên mà có nộidung cầu khiến khác nhau Ví dụ: khi đọc với giọng nhẹ nhàng, không nhấngiọng vào bất kì từ nào thì câu đó là một câu đề nghị, nó không mang tínhchất bắt buộc Khi đọc với giọng nhấn mạnh ở cuối câu thì câu đó mớimang tính chất bắt buộc Hoặc câu cầu khiến đó là câu nói của một ngườilớn tuổi, của Già làng thì nó sẽ là câu mang tính chất bắt buộc, mệnh lệnh.Còn khi nó là câu được nói ra sau câu "Trời tối quá!" thì lúc này nó trở

thành câu cầu khiến dùng để chỉ ý khuyên bảo: Đốt lửa lên! Vì vậy, theo chúng tôi, để làm rõ nội dung bắt buộc của câu cầu khiến Đốt lửa lên! trong

ví dụ trên, cần phải đưa ngữ cảnh của câu đó vào

- Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt được thể hiện hạn chế trongnội dung dạy câu cầu khiến trong SGK Tiếng Việt 4, chưa có dạng bài tậpđặt câu theo tình huống, bài tập sáng tạo nhằm hướng đến mục tiêu dạy câucầu khiến trong giao tiếp và bằng giao tiếp Bài tập nhận diện còn rất Ýt(chỉ có 1 bài) Các bài tập mà SGK đưa ra đa phần là bài tập đặt câu, bàitập chuyển đổi kiểu câu

Như chóng ta đã biết, câu hỏi ngoài tác dụng dùng để hỏi nó còn có tác

dụng dùng để nêu yêu cầu, đề nghị Nhưng ở bài "Câu hỏi - dấu chấm hái"

trang 114, SGK không nêu tác dụng khác của câu hỏi là dùng để nêu yêucầu, đề nghị Theo chúng tôi, bài "Câu hỏi - dấu chấm hỏi" được dạy trướcbài "Câu cầu khiến - dấu chấm cảm" nên cần phải đưa nội dung trên vàobài học để giúp học sinh định hình trước trong đầu thế nào là câu cầu khiếntrước khi học bài "Câu cầu khiến - dấu chấm cảm" Ở SGK Tiếng Việt 4chương trình mới, vấn đề này đã được thể hiện

Như vậy, nhìn chung, việc sắp xếp nội dung dạy học câu cầu khiến củaSGK Tiếng Việt 3 và 4 cũ về cơ bản là hợp lí, logic Tuy nhiên, việc dạy

Trang 39

câu cầu khiến ở lớp 4 chỉ có một bài duy nhất như vậy là chưa hợp lí, chưađáp ứng đủ nội dung kiến thức, kỹ năng cho học sinh, chưa giúp các embiết cách giao tiếp tốt hơn khi sử dụng câu nêu yêu cầu, đề nghị

1.3.2.2 Sách giáo khoa tiếng Việt chương trình mới

* Qua việc khảo sát nội dung chương trình sách giáo khoa TiếngViệt ở lớp 2 và 3, chúng tôi nhận thấy rằng : SGK đã chú ý đến việc chuẩn

bị trước, giới thiệu trước cho học sinh về dấu chấm cảm dùng cuối câu nêuyêu cầu, đề nghị Tuy không đưa ra một bài riêng cụ thể nào dạy về dấuchấm cảm có nội dung liên quan với câu cầu khiến nhưng SGK cũng đưa ra

2 bài tập cho cả 2 líp 2 và 3 Như vậy, các em bước đầu đã được làm quenvới câu cầu khiến một cách tự nhiên

 Ở líp 2 có bài 3 trang 18 - tập 2:

Em chọn dấu chấm hay dấu chấm than để điền vào ô trống?

a) Ông Mạnh nổi giận, quát:

- Thật độc ác

b) Đêm Êy, thần gió lại đến đập cửa, thét:

- Mở cửa ra

- Không Sáng mai ta sẽ mở cửa mời ông vào

Bài tập này đưa ra 4 ô trống cần điền dấu, trong đó có một ô điền dấuchấm còn ba ô điền dấu chấm than Trong sè ba dấu chấm than đó có mộtdấu thể hiện câu khiến:

Mở cửa ra !

 Ở líp 3 có bài 3 trang 108 - tập 1:

Em điền dấu câu nào vào mỗi ô trống dưới đây ?

Cá heo ở vùng biển Trường Sa

Đêm trăng, biển yên tĩnh Một số chiến sĩ thả câu Một số khác quây quần trên boong tàu ca hát, thổi sáo Bỗng có tiếng đập nước ùm ùm như

có ai đang tập bơi Một người kêu lên: “ Cá heo ” Anh em ùa ra vỗ tay hoan h : “ A Cá heo nhảy múa đẹp quá ” Thế là cá thích, nhảy vút lên thật cao Có chú quá đà, vọt lên boong tàu cách mặt nước đến một mét.

Trang 40

Có lẽ va vào sắt bị đau, chú nằm im, mắt nhắm nghiền Một anh chiến sĩ đến nâng con cá lên hai tay, nói nựng:

- Có đau không, chú mình Lần sau, khi nhảy múa, phải chú ý nhé Anh vuốt ve con cá rồi thả xuống nước Cả đàn các quay ngay lại phía boong tàu, nhảy vung lên một cái như để cảm ơn rồi toả ra biển rộng.

* Như đã nói ở trên, nội dung dạy câu cầu khiến được bố trí trongSGK Tiếng Việt lớp 4 (sách thử nghiệm) Trong xu thế đổi mới mạnh mẽ

về nội dung và phương pháp dạy học, bộ SGK thử nghiệm bước đầu đãkhắc phục được nhiều hạn chế so với chương trình SGK cũ Sự đổi mới lầnnày là sự đổi mới toàn diện, đặc biệt là việc tích hợp hai phân môn Từ ngữ

và Ngữ pháp trước kia vào làm thành một phân môn Luyện từ và câu Nộidung luyện và dạy Từ ngữ và Ngữ pháp có liên hệ với nhau chặt chẽ Ngoài

ra, quan điểm giao tiếp cũng chi phối mạnh mẽ việc biên soạn nội dungchương trình SGK lần này Do vậy, để đáp ứng được yêu cầu dạy họcnhằm giúp học sinh giao tiếp tốt, nhìn sơ bộ có thể thấy rằng số tiết học vềcâu cầu khiến đã được tăng lên là 3 tiết, tương ứng với 3 bài dạy hoànchỉnh Ngoài ra, liên quan đến nội dung câu cầu khiến, SGK đưa ra một bàidạy trong đó có nội dung liên quan đến câu cầu khiến có hình thức là câuhỏi Đó là bài: "Dùng câu hỏi vào mục đích khác" (Lớp 4 - tập 1)

 Về tên gọi "Câu khiến:

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w