và con người và cái gốc tiếng cười, cảm hứng trào lộng của văn học, cảm hứng giễu nhại trong văn xuôi sau 1975 có điều kiện hình thành và phát triển mạnh mẽ.Trong quá trình đổi mới, một
Trang 1và con người và cái gốc tiếng cười, cảm hứng trào lộng của văn học, cảm hứng giễu nhại trong văn xuôi sau 1975 có điều kiện hình thành và phát triển mạnh mẽ.
Trong quá trình đổi mới, một số nhà văn thuộc thế hệ thứ tư của văn học Việt Nam như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh…có nhiều tìm tòi, thể nghiệm và quan trọng hơn đã có những đóng góp nhất định Trong số những nhà văn thành danh Êy, Hồ Anh Thái được xem như một cây bút có dấu Ên riêng Một đặc điểm mà nhiều bạn đọc dễ nhận thấy trong văn chương Hồ Anh Thái chính là cảm hứng giễu nhại Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có những công trình nghiên cứu riêng biệt, có quy mô về văn chương của anh nói chung, về cảm
hứng giễu nhại nói riêng Đi sâu nghiên cứu vấn đề Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái, chúng tôi hướng tới mong muốn góp phần
khẳng định vị trí và tài năng của nhà văn này
2 Lịch sử vấn đề
Mặc dù được coi là nhà văn đã có những thành công nhất định nhưng sáng tác của Hồ Anh Thái chủ yếu mới được bạn đọc tiếp nhận dưới giác độ thưởng
Trang 2thức, giải trí Độc giả phổ thông dường như chưa biết nhiều đến Hồ Anh Thái và tác phẩm của anh trong khi anh có một lợi thế lớn: vừa là nhà ngoại giao vừa là Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội Dư luận về cây bút tài năng đã được khẳng định này chủ yếu tập trung trong giới chuyên môn qua một số bài viết, phê bình, đánh giá, giới thiệu sách và một số khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên Những đánh giá của bạn đọc nói chung, các nhà nghiên cứu, phê bình nói riêng về sáng tác của tác giả này trong thời gian qua có giá trị định hướng, và khơi gợi sự khám phá Chúng tôi nhận thấy một điểm chung trong đánh giá, nhận xét của đồng nghiệp và giới phê bình về sáng tác của Hồ Anh Thái là chất giọng hài hước, trào lộng đậm nét trong nhiều sáng tác của anh
Sau một vài truyện ngắn có dư vị hài hước trong tập truyện ngắn Mảnh
vỡ của đàn ông, dư luận đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến chất giọng hài hước, trào lộng của Hồ Anh Thái trong tập truyện ngắn Tự sù 265 ngày Đối tượng
hài hước, châm biếm của tập truyện là giới công chức mà tập trung nhất là
những trí thức thời đổi mới Trong bài Có ai chẳng muốn đùa, nhà văn Ngô
Thị Kim Cúc nhận xét: “Thật thú vị khi được dẫn đường bởi một người hiểu chuyện, hóm hỉnh và biết đùa như thế Ở đâu, với ai, trong chuyện gì Hồ Anh Thái cũng tìm ra được bao nhiêu là cái hài hước, đáng cười, mà lại cười một cách rất đúng mực, chỉn chu, rất an toàn Tưởng có thể cười mãi với Hồ Anh Thái cho đến lúc buông sách ra” [5; 231] Đọc Hồ Anh Thái “người ta có thể cười một cách vô tư nhưng cũng đầy xót xa” [5; 235]
Sau khi nhận xét khá sắc sảo về cái tôi cô đơn của Hồ Anh Thái, Lê
Quang Toản trong bài Che giấu sự cô đơn cũng không quên nhắc đến cái chất
cười cợt, trào tiếu của tập truyện: “Hồ Anh Thái cần có nơi để đùa cợt, để xả soupape hay là tác giả đã quá khéo léo che giấu sự cô đơn của mình trong
những tiếng cười rất đời” [5; 239] Vân Long trong Một giọng văn khác đã
viết: “Ở tập truyện ngắn này, nhà văn hình thành một giọng văn hoàn toàn khác thời kỳ đầu: Trào lộng, châm biếm, hóm hỉnh và sắc sảo những câu chuyện, những thói tật đáng cười trong xã hội Đọc tập truyện này, người đọc
Trang 3nhiều chỗ phải bật cười thành tiếng như đọc Số đỏ của Vũ Trọng Phụng,
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan hay Azit Nêxin” [5; 245] Trên báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 05/10/2001, Trần Thị Trường dẫn ra ý kiến của người
khác cho rằng trong “Tự sù 265 ngày có cái cười nửa miệng của thi hào
Gôgôl, có cái giọng điệu hiện thực huyền ảo của Milan Kundera…nếu muốn
cười mà lòng vẫn đau đủ chín khúc thì hãy đọc Tự sù 265 ngày Cười người
hay cười mình lẫn lộn cả nhưng đọc rồi cũng thấy muốn cười một tí…” [5;
247] Bằng lập luận kiểu phản đề, Nguyễn Chí Hoan trong bài Nhà văn không cười đã viết: “có lẽ nói cho đúng, nhà văn cười nhưng chỉ nhếch
mép…Toàn bộ 11 truyện trong tập đều một lối hoạt kê, không thể không cười song “ý tại ngôn ngoại” ở đây thì đều đắng đót” [5; 249]
Từ Tự sù 265 ngày đến Bốn lối vào nhà cười, đối tượng giễu nhại đã
mở rộng ra cả cõi nhân sinh bằng bốn lối Sinh - Lão - Bệnh - Tử Giới thiệu
tập truyện ngắn Bốn lối vào nhà cười, báo điện tử Vietnamnet.vnn.vn viết:
“Cuộc đời theo Hồ Anh Thái như một cái nhà cười mà bốn con đường đi vào ngôi nhà Êy là Sinh - Lão - Bệnh - Tử”, “Hồ Anh Thái viết như để giảm stress bởi bốn con đường vào nhà cười của anh đều lát đá hoạt kê Cái giọng văn hài hước, ngôn ngữ đường phố, chợ búa đầu thế kỷ XXI đọc để giải sầu” [38] Có điều đặc biệt là “ở lối vào nhà cười nào cũng có tiếng cười, nó biến giọng văn của Hồ Anh Thái thành giọng của một trí thức châm chọc, giọng hoạt kê, đả
kích bằng thứ ngôn ngữ đáo để, hài hước” [38] Báo Sài Gòn tiếp thị nêu nhận
xét: “Ở Bốn lối vào nhà cười, tiếng cười thật chua chát, bật lên được ý thức
tự trào của một người Việt tự trào Từ những chuyện vặt nhưng khả năng phóng chiếu, châm biếm của nó thì không vặt chút nào, bởi nó chạm đến phần nhạy cảm trong tính cách con người ta Nếu tự tri ngộ tức là tự cười mình để thoát ra tứ đại khổ, nhìn xuống nhân sinh có khi chợt thấy một nhà cười” [38]
Tạp chí Sức khoẻ và đời sống cũng có những đánh giá khá thống nhất với
những gì dẫn ra trên đây: “Nhà văn Hồ Anh Thái đã mang đến cho bạn đọc những giây phút sảng khoái cười Ngòi bút trơn lướt, anh viết hấp dẫn, giọng
Trang 4văn châm biếm, trào lộng; ngôn ngữ hoạt kê hiện đại… Cái sự gây cười nhiều hơn là ở những chi tiết đắt giá” [38]
Gần đây, Hồ Anh Thái đã cho ra mắt độc giả tập truyện mới Sắp đặt và diễn Có thể nói, tập truyện này là sự sắp đặt các truyện ngắn trong ba giai
đoạn sáng tác của anh: Giai đoạn trước Ên Độ, giai đoạn viết về Ấn Độ và giai đoạn sau Ên Độ Hầu hết những truyện ngắn trong giai đoạn sau Ên Độ
đã được in trong tập Bốn lối vào nhà cười, Tự sù 265 ngày Nhà văn Nguyễn
Thị Thu Huệ trong cuộc nói chuyện với Phạm Xuân Nguyên đã nhận xét:
“Tôi không thấy những chuyện tưởng chỉ để cười nếu đọc thoáng qua chỉ đơn thuần là những chuyện cười cho vui, mà ở đây là cười ra nước mắt” [46]
Trên đây là những đánh giá về truyện ngắn Về tiểu thuyết của Hồ Anh
Thái xét trên đặc điểm đang bàn chúng tôi nhận thấy đáng chú ý nhất là Cõi người rung chuông tận thế và Mười lẻ một đêm.
Tiểu tuyết Cõi người rung chuông tận thế không phải ngay từ khi ra
đời đã được công chúng đón nhận nhiệt tình Nét nổi bật ở tiểu thuyết này theo nhiều người đánh giá là chất giọng đa thanh nhưng cũng không Ýt người
đã nhận ra giọng hài hước, trào lộng Trong bài Cái ảo trên nền thực tác giả
Vân Long viết: “Về mặt này, Hồ Anh Thái đặc biệt mài sắc được giọng kể trào lộng, châm biếm có duyên… giọng văn trào lộng, hóm hỉnh nhà văn như chỉ dành cho nhận vật phản diện…” [53]
Trần Duy Hiển trong Rung chuông cảnh tỉnh con người nhận xét:
“Đọc Cõi người rung chuông tận thế, người ta thấy nụ cười chua chát của
nhà văn trước mọi nhố nhăng của đời sống…” [4, 325] Ghi nhận tài năng của
lớp trẻ, nhà văn Ma Văn Kháng khẳng định trong Cái mà văn chương ta còn thiếu rằng: “Tôi thích giọng văn của Hồ Anh Thái Nó có cái thông minh,
hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa có tính truyền thống Hơn nữa, cái này mới là cái thật thích đây: Chất trào phúng, giễu nhại cay chua mà tâm thiện, chất này văn chương ta thiếu quá Không có tài, chịu đấy!” [4; 326, 327] Phạm Chí
Dũng trong bài ám ảnh và dự cảm đăng trên báo Văn nghệ ngày 22/11/2003
Trang 5đã nhận định: “Cõi người rung chuông tận thế có lẽ là một trong sè Ýt
những sự phơi bày được văn học hoá thành công bởi ngoài yếu tố mạch truyện chuyển động nhanh, hiện đại, đi thẳng vào vấn đề của xã hội hôm nay như nhà văn Tô Hoài nhận xét; còn vì bút pháp châm biếm trào lộng mặc dù
có đôi chỗ hơi thái quá nhưng quả tình là đặc biệt và đặc sắc, với cả một kho ngôn ngữ dân gian Èn dụ và tả thực phải nói là rất phong phú, cùng với điểm nhìn xuất phát từ góc độ khách quan và thái độ giễu cợt của nhà văn với những mặt trái của xã hội cứ thế mà tuôn trào ra, được lôi tuột ra, không che giấu gì cả… đã làm cho cuốn tiểu thuyết này trở nên cuốn hút” [4; 334, 335]
Đánh giá chung về Cõi người rung chuông tận thế và mét số sáng tác giai
đoạn sau của Hồ Anh Thái, tác giả Nguyễn Đăng Điệp trong bài nghiên cứu
Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc đã khái quát: “Trong sáng tác của Hồ
Anh Thái nhất là giai đoạn sau, ta bắt gặp khá nhiều chất giọng giễu nhại Sự xuất hiện của loại giọng này hiếm khi xuất hiện trong tư duy nghệ thuật sử thi Cái nụ cười chua chát về cõi nhân sinh, khả năng lật tẩy những trớ trêu, nghịch cảnh trong đời chỉ có thể có được khi nhà văn không nhìn đời bằng cảm hứng lãng mạn thuần tuý màu hồng mà nhìn nó như những mảnh vỡ…” [4; 348]
Gần đây nhất, Hồ Anh Thái được bạn đọc đón nhận bằng tiểu thuyết
mới Mười lẻ một đêm Trong Nhà văn đích thực phải là người tử tế đăng
trên Tạp chí Thể thao - Văn hóa ngày 15/4/2006, Ngọc Lan viết: “Giữa thời buổi người khôn của khó, sách in 1000 bản bán vẫn còn lay lắt, Hồ Anh Thái
vẫn sống khỏe, sống tốt nhờ những cuốn bestseller… Mới đây nhất là Mười
lẻ một đêm Vẫn thấy cái chất giễu nhại, sự sắc sảo như đọc thấu gan ruột
thiên hạ của Hồ Anh Thái… những câu chuyện khiến người ta phải cười thắt ruột, cười ra nước mắt” [10; 321] Tác giả Tuyền Lâm trong bài viết ngắn
Nghìn lẻ một chuyện đời đã đưa ra cảm nhậm về tiểu thuyết này: “Vẫn một
sân khấu cuộc đời nhưng không phải cười xong… đỏ mặt mà cười xong để xót, để suy tư Đọc Hồ Anh Thái xong còn muốn ngứa tay để viết văn, mà
Trang 6khó” [10; 328] Đời cười trong Mười lẻ một đêm là bài viết của Thuý Nga
đăng trên báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/3/2006 trong đó có
đoạn: “Hồ Anh Thái hay đùa, có lần đùa hơi dai với nhân vật văn hoá lớn Giọng bỡn cợt và hài hước theo suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết mới nhất này của anh” [10; 330] “Khá giống với phong cách và giọng điệu của ba cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn gần đây, Hồ Anh Thái đem đến cho độc giả từ đầu đến cuối là một giọng điệu châm biếm, hài hước và cười cợt quen thuộc những trò lố lăng, kệch cỡm về đời sống thị dân, giới trí thức nửa mùa, những
kẻ bất tài mang danh nghệ sĩ…” [10; 332] là nhận xét của Lê Hồng Lâm về
Mười lẻ một đêm đăng trên tạp chí Đàn ông tháng 3/2006 Với một cái tên gây Ên tượng mạnh Tiếng cười trên từng trang đăng trên tờ Tin tức cuối
tuần tháng 6/2006, tác giả Từ Nữ ca ngợi Hồ Anh Thái: “Một cuốn tiểu
thuyết hơn 300 trang với cách viết hài hước, tràn đầy chi tiết Carnaval khiến
nó trở thành cuốn sách được yêu thích nhất trong tháng 3/2006 Không ai lạ
lẫm gì lối viết Thị Mầu của nhà văn Hồ Anh Thái nhưng bạn đọc vẫn vấp từ
bất ngờ này sang bất ngờ khác” [10; 333] “Mười lẻ một đêm được viết bằng
giọng hài hước chủ đạo, thậm chí có đoạn được lồng vào cả truyện dân gian Câu văn thụt thò, dài ngắn có chủ đích Chương 1, chương 2 cái ngả nghiêng
còn liu riu, rồi cái sự ngả nghiêng cứ tăng dần…” (Ngả nghiêng trần thế - Sông Thương, báo Thanh niên ngày 11/4/2006) [10; 337] “Tiểu thuyết Mười
lẻ một đêm của nhà văn Hồ Anh Thái có thể khiến người ta phải bật cười bởi
tính chất hài hước của nó… Có thể thấy, giọng văn ở đây là kiểu giọng phát ngôn tưng tửng, nó được xuyên thấm bởi tính chất bỡn cợt, giễu nhại” [55]
Qua liệt kê chưa đầy đủ nhưng những đánh giá trên đây đều có điểm chung là khẳng định tính chất hài hước, trào lộng, giễu nhại trong giọng điệu, ngôn ngữ nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật… nhằm qua đó thể hiện nội dung giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái Điều đó chứng tỏ đây là một đặc điểm nổi trội, xuyên thấm nhiều sáng tác của nhà văn này Tuy nhiên nội dung giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái chưa được các tác giả tìm
Trang 7hiểu một cách hệ thống, chưa đặt thành những luận điểm rõ ràng đồng thời chưa chỉ ra được ý nghĩa xã hội và thẩm mỹ của nó Bên cạnh đó, các biểu hiện của cảm hứng giễu nhại thâm nhập sâu vào từng yếu tố của hình thức nghệ thuật như nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ… cũng chưa được chú ý khai thác Chính vì thế, một công trình có tính chất tổng kết, đánh giá trên cơ sở phân tích kỹ lưỡng các tác phẩm cụ thể để có những kết luận về cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái là một việc làm cần thiết đối với người nghiên cứu văn chương Hồ Anh Thái nói riêng, văn học sau 1975 nói chung
Từ những đánh giá, nhận xét mang tính gợi mở và định hướng trên đây, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài Cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của
Hồ Anh Thái với mong muốn đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống đặc điểm nói trên ở văn chương Hồ Anh Thái
3 Mục đích và nhiệm vụ
Qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi muốn chỉ ra mét trong những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Hồ Anh Thái chính là cảm hứng giễu nhại Cảm hứng Êy được thể hiện trong cái nhìn đời sống và con người trong sáng tác của Hồ Anh Thái cũng như trong các phương diện nghệ thuật ở sáng tác của nhà văn
Qua việc nghiên cứu cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái, luận văn khẳng định những đóng góp của nhà văn trong việc khám phá
và miêu tả hiện thực đời sống xã hội và con người cũng như những đóng góp của anh cho sự đổi mới văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại Để đạt được mục đích nghiên cứu nh trên, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu chính sau đây:
Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về giễu nhại, văn học nhại và cảm hứng giễu nhại trong văn học
Đặt sáng tác của Hồ Anh Thái vào xu hướng nảy sinh và phát triển cảm hứng giễu nhại trong văn học Việt Nam từ sau 1975
Trang 8Tìm hiểu sự thể hiện cụ thể cảm hứng giễu nhại trong cái nhìn hiện thực
và con người ở sáng tác của Hồ Anh Thái và các phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác giả để thể hiện cảm hứng Êy
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn chính là cảm hứng giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái Tuy nhiên, không phải mọi sáng tác của Hồ Anh Thái đều thể hiện tập trung cảm hứng giễu nhại, do đó đối tượng khảo sát của luận văn chỉ giới hạn trong những tiểu thuyết và tập truyện ngắn sau đây:
- Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế
- Tiểu thuyết Mười lẻ một đêm
Trang 9- Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp so sánh là nhằm làm rõ những nét đặc trưng riêng trong cách thể hiện cảm hứng giễu nhại của Hồ Anh Thái ở các phương diện nội dung và nghệ thuật trong tương quan đồng đại và lịch đại với một số nhà văn có cùng đặc điểm hài hước, trào lộng, giễu nhại trong sáng tác
5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận Trong
đó, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Giễu nhại, một cảm hứng nổi bật trong văn học việt nam sau 1975
1.1 Giễu nhại trong văn học
1.2 Cảm hứng giễu nhại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
Chương 2: Cảm hứng giễu nhại trong cái nhìn đời sống và con người của Hồ
Anh Thái
2.1 Giễu nhại trong cái nhìn đời sống
2.2 Giễu nhại trong cái nhìn về con người
Chương 3: Cảm hứng giễu nhại với một số thủ pháp nghệ thuật trong sáng tác
của Hồ Anh Thái
3.1 Xây dựng những nhân vật hài hước, nghịch dị
3.2 Giọng điệu
3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 11Phần nội dung Chương 1 Giễu nhại, một cảm hứng nổi bật trong văn học việt nam sau 1975
1.1 GIỄU NHẠI TRONG VĂN HỌC
1.1.1 Khái niệm giễu nhại và khái quát về văn học nhại
Nhại theo từ điển tiếng Việt được dùng nh nhái với nghĩa động từ tức là
bắt chước ví nh nhái điệu bộ của ai Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa:
“Một thể văn châm biếm dùng sự bắt chước để chế giễu một tác phẩm hoặc cả một trào lưu nghệ thuật Phương tiện chủ yếu của nhại là bắt chước phong cách Hai kiểu nhại chủ yếu (đôi khi tách thành những thể tài riêng) là: kiểu
khôi hài trong đó đối tượng thấp được trình bày bằng một phong cách cao; và kiểu chế nhạo trong đó đối tượng cao được trình bày bằng phong cách thấp
Sự chế nhạo có thể nhằm vào phong cách, có thể nhằm vào đề tài, có thể nhằm vào những thủ pháp thi ca đã trở thành khuôn sáo, lỗi thời hoặc những hiện tượng đời sống vốn dung tục không xứng với thi ca Có thể có lối nhại một thi pháp, một tác giả, một thể loại, một thế giới quan…” [39; 155]
Nhại (parody) có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp paroidia, có nghĩa là “một
bài hát được hát cùng lúc với bài hát khác” Trong văn học, từ xuất phát điểm
của khái niệm, nhại là hình thức phê bình châm biếm hoặc là hình thức chế
giễu khôi hài bằng cách bắt chước phong cách (style) và bút pháp (manner) của một nhà văn hoặc nhóm nhà văn đặc biệt để nhấn mạnh đến sự non yếu của nhà văn Êy hoặc những quy ước bị lạm dụng của trường phái Êy Xét theo quan niệm về kiểu nhại giữa tác phẩm này với tác phẩm khác như trên, tức là bao gồm hầu hết các yếu tố làm nên chỉnh thể tác phẩm như hình tượng nhân vật, hệ thống chi tiết, ngôn từ nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… “nhại khác với với trò hài hước (burlesque) ở độ sâu từ sự xâm nhập kỹ thuật của nó vào đối tượng nhại và bởi độ sâu từ sự bôi bác được dùng để xử lý những vấn
Trang 12đề được đề cao trong bút pháp tầm thường, nhại thật sự bóc trần một cách tàn nhẫn những mánh lới của bút pháp lẫn tư tưởng của những nạn nhân của nó, nhưng nhại không thể được thực hiện nếu không có sự đánh giá thấu đáo tác phẩm mà nó chế giễu” [27; 31]
Xét ở phạm vi rộng hơn, trong văn học còn có những kiểu nhại khác nhnhại chính các đối tượng phản ánh của văn học Kiểu nhại này đa dạng cả về đối tượng nhại và cấp độ nhại Các vấn đề về thể chế chính trị, văn hoá khoa học, văn chương nghệ thuật, đạo đức lối sống, thói hư tật xấu của con người ở mọi tầng lớp, địa vị xã hội… Mức độ của nhại có thể đi từ khái quát đến chi tiết tuỳ theo mục đích của chủ thể sử dụng nhại trong tác phẩm của mình Đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở nhại là sự mô phỏng, dựa theo, bắt chước đối tượng nhại hoặc một đặc điểm nào đó của đối tượng nhại để làm bật nên cái đáng cười, đáng phê phán, chế giễu Nhại gắn với bắt chước, mô phỏng âm thanh của đối tượng nhại (một bài hát, điệu hát) nhưng nhại còn gắn với bắt chước,
mô phỏng cả dáng hình, cử chỉ, điệu bộ, phong cách của đối tượng là con người
Văn học nhại là kiểu sáng tác văn học phổ biến trong thời hậu hiện đại
khi ý thức về cái tôi cá nhân đã trở thành một trong những giá trị định hình để đánh giá trình độ văn minh của xã hội Con người có nhiều cơ hội nhìn nhận, đánh giá người khác và chính bản thân nó nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện các quan hệ xã hội và tự hoàn thiện ứng xử của mình trong quan hệ với cộng đồng Chính vì thế, các tác phẩm văn học nhại trở thành công cụ thúc đẩy sự
tiến bộ của xã hội Nhìn chung, văn học nhại thường gắn liền tiếng cười nhằm tống tiễn cái xấu, cái ác và chào đón cái thiện, cái tốt đẹp Tiếng cười của văn học nhại luôn có tác dụng thanh lọc tâm hồn; cảnh tỉnh, định hướng suy nghĩ
và hành động của con người thông qua thái độ phê phán quyết liệt và triệt để của tác giả Chủ thể nhại khi đã ý thức được sức mạnh và sự thắng thế của mình trước đối tượng nhại tức là anh ta đã nắm trong tay mình một phương tiện có giá trị nhằm thực hiện sứ mệnh xã hội và nghệ thuật với tư cách là nhà
Trang 13văn Cái khó ở đây chính là ở chỗ, không phải mọi trường hợp chủ thể nhại cũng luôn giành sự thắng thế trước đối tượng nhại bởi trong nhiều trường hợp, chủ thể và đối tượng nhại cùng tồn tại trong mét con người Đây là lúc chủ thể nhại bị thử thách nhiều nhất Anh ta buộc phải vượt lên chính mình, vượt lên trên những xấu xa, nhá nhen, ti tiện của bản thân để dũng cảm chỉ ra, vạch ra và lên án nó Đây chính là cơ sở hình thành khái niệm tự nhại trong văn học.
Rất gần với nhại, trong văn học còn có giễu Thuật ngữ này chủ yếu
được các nhà lý luận, phê bình văn học của Việt Nam sử dụng trong các công
trình nghiên cứu gần đây Khái niệm này được sử dụng song hành với nhại
một cách khá phổ biến trong nghiên cứu các tác phẩm văn học chứa đựng yếu
tố hài hước, trào lộng, châm biếm… Tuy nhiên nội hàm khái niệm này lại chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo kể cả những công trình mang tính
chất công cụ như Từ điển thuật ngữ văn học Trong từ điển Tiếng Việt, từ
này được định nghĩa nh sau: “Giễu là nêu ra để đùa bỡn, chế nhạo hoặc đả kích”, “giễu cợt là nêu thành trò cười nhằm chế nhạo, đả kích” [73]
Trong nghiên cứu văn học Việt Nam, giễu thường đi liền với nhại và trở thành một thuật ngữ kép là giễu nhại và được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu, phê bình văn học sau 1975 Qua tìm hiểu thuật ngữ giễu nhại cả trên lý luận và thực tiễn, chúng tôi nhận thấy giễu nhại vừa là sự nhắc lại, mô
phỏng, bắt chước một lời nói, một cử chỉ hay mét phong cách, giọng điệu của đối tượng nhại (bao gồm cả đối tượng phản ánh của văn học, tác giả văn học
và bản thân văn học) nhằm làm bật lên cái đáng cười, cái tầm thường, xấu xa,
kệch cỡm đáng phê phán của chúng Trong giễu nhại luôn có sự bắt chước,
mô phỏng các đặc điểm của đối tượng giễu nhại nhằm tạo ra sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, bên trong và bên ngoài… hướng người đọc đến nhận thức cái khiếm khuyết, cái lỗi thời, lạc hậu, phản tiến bộ của đời sống xã hội và trong bản thân con người để cùng nhau nhận
thức lại, hoàn thiện bản thân và thúc đẩy tiến bộ xã hội Giễu nhại có quan hệ
Trang 14mật thiết với một số phạm trù và khái niệm nh: cái hài, châm biếm, trào phóng…
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Cái hài là một phạm trù mỹ
học, phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở nhiều cung bậc và sắc thái khác nhau Đó là sự mâu thuẫn,
sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội - thẩm mỹ nh hình thức với nội dung, mục đích và phương tiện, bản chất
và hiện tượng… Trong đó, hoặc là chính bản thân mâu thuẫn hoặc là những
mặt của nó đối lập với lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp Cái hài bao hàm một ý
nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tưởng thẩm mỹ cao cả Nó là sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực và có sức công phá mãnh liệt đối với những cái xấu xa, lỗi thời Sức mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định lại vừa mang ý nghĩa khẳng định Nó phủ định cái lỗi thời, xấu xa nhân
danh cái cao đẹp (một chiều) Ba yếu tố tạo nên cái hài là bản chất mang tính
hài của đối tượng mà ai cũng dễ nhận thấy; sự cường điệu những đường nét, kích thước và những liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tượng; sự sắc bén,
ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện làm tăng hiệu quả của tiếng cười Có thể
thấy, cảm hứng giễu nhại nằm trong phạm trù cái hài, là một dạng biểu hiện
độc đáo bằng thủ pháp giễu cợt và mô phỏng (nhại) đối tượng để tạo nên cái hài nh một hiệu quả thẩm mỹ ở người đọc
Châm biếm là một dạng của văn học trào phúng, dùng lời lẽ sắc sảo,
cay độc, thâm thuý để vạch trần thực chất xấu xa của những đối tượng và hiện
tượng trong xã hội Châm biếm gắn liền với tình cảm xã hội như yêu nước,
yêu lẽ phải, tình yêu con người Châm biếm khác hài hước ở mức độ gay gắt của sự phê phán và ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nghệ thuật
Trào phóng là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng
là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác
Trang 15trong xã hội Trào phóng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, trào phóng gắn liền với phạm trù mỹ học cái hài với các cung bậc hài hước, châm biếm Trào phóng bao gồm nhiều dạng nh khôi hài, châm biếm, đả kích mà sự phân
biệt các dạng này là ở mức độ và tính chất cùng với phương thức thể hiện
Còn giễu nhại sử dụng những phương thức đặc trưng nh mô phỏng, giễu cợt
nhằm cười cợt, châm biếm, đả kích đối tượng
Nh vậy, giễu nhại có thể chứa đựng sự châm biếm nhưng lối văn châm biếm không chỉ sử dụng giễu nhại So với các khái niệm trên, sự khác biệt chủ yếu của giễu nhại là ở độ sâu của sự xâm nhập vào đối tượng giễu nhại, tức là
sự giễu nhại có thể có ở tất cả các cấp độ trong chỉnh thể tác phẩm từ cảm hứng chủ đạo, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật (kết cấu, hình tượng nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ) Khi đời sống văn học xuất hiện những tác phẩm văn học mang tính chất giễu nhại là khi Êy xã hội cần có một sự thay đổi theo hướng tiến bộ vì bản chất của giễu nhại là mang tiếng cười tống tiễn cái xấu xa, độc ác tiếp nhận cái đẹp, cái thiện Một điểm khác biệt nữa của giễu nhại so với các khái niệm gần nó nh
đã nói ở trên là tính đa trị, đa diện mạo của tác phẩm do giễu nhại tạo nên Giễu nhại thường tạo ra “độ mờ hoá” cao cho sự kiện, hình tượng Do đó, để hiểu được giá trị của sự kiện, hình tượng giễu nhại và rộng hơn là ý nghĩa tác phẩm là điều không hề đơn giản Giễu nhại thường đòi hỏi ở người đọc và cả người sáng tác một tầm trí tuệ cao, một nền tảng kiến thức văn hoá đủ rộng và sâu sắc mới có cơ sở để suy luận, liên hệ, khái quát nên những giá trị của nó
Từ đặc điểm này, văn học nhại tự nó đã phân hoá được độc giả: “điểm hấp dẫn của văn học nhại so với các dạng tác phẩm khác là nó đáp ứng được cả hai dạng độc giả: bình dân và bác học Với đối tượng độc giả bình dân, tác phẩm nhại chủ yếu được tiếp nhận ở góc độ giải trí, gây cười; còn đối với đối tượng độc giả bác học thì đằng sau tiếng cười Êy, người đọc có thể khai thác
sự kiện, hình tượng ở nhiều cấp độ nghĩa khác nhau” [27; 35]
Trang 16Trên thực tế, văn học nhại còn gắn với giải thiêng, thay thế Đây là một nguyên tắc sống còn của con người phương Tây và vì thế văn học nhại ở phương Tây rất phát triển Có thể nói, cùng với khoa học kỹ thuật, điều này góp phần tạo ra động lực cho sự phát triển cao hơn của xã hội của phương Tây so với phương Đông.
1.1.2 Cảm hứng giễu nhại trong văn học
Có thể nói, cảm hứng giễu nhại chính là trạng thái tình cảm phê phán ở mức độ mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm được lồng vào trong những phương thức biểu hiện có tính chất hài hước, trào lộng, gợi lại, vẽ lại, bắt chước đối tượng giễu nhại để làm bật lên tiếng cười và quan trọng hơn, nó tác động mạnh mẽ đến nhận thức và tình cảm của chủ thể tiếp nhận tác phẩm văn chương về hiện thực mà nó phản ánh
Cảm hứng giễu nhại trở thành một yếu tố của nội dung nghệ thuật, của thái độ, tư tưởng và cảm xúc phê phán của người nghệ sĩ đối với thế giới hiện thực mà tác giả mô tả, phản ánh trong tác phẩm Trên bình diện này, cảm hứng giễu nhại có quan hệ thống nhất với chủ đề và tư tưởng của tác phẩm, chi phối sự lựa chọn đề tài và phương thức thể hiện nội dung tư tưởng Êy Nó tạo ra trong tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần là sự phê phán mạnh
mẽ không né tránh tất cả những thói tật của con người trong xã hội và những quan hệ xã hội đã lỗi thời, phản tiến bộ qua đó giúp mỗi người trong chóng ta
tự nhìn lại, tự nhận thức và nỗ lực làm thay đổi, loại bỏ những cái xấu xa, tầm thường, giả dối… hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn
1.2 CẢM HỨNG GIỄU NHẠI TRONG VĂN XUÔI VIỆT Nam SAU 1975
1.2.1 Những tiền đề xã hội chủ yếu làm hồi sinh cảm hứng giễu nhại
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả dân tộc bắt tay vào thời kỳ xây dựng lại đất nước Cùng với tình hình kinh tế - xã hội đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn, khủng hoảng, văn học cũng chững lại và dường như rơi vào
Trang 17“khoảng chân không” Đứng trước hiện thực đó, nhu cầu đổi mới đã trở thành cấp thiết hơn bao giờ hết Ở vào thời kỳ đó, “những nhà văn mẫn cảm với cuộc sống và có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình đã không ngừng
nỗ lực, tìm tòi đổi mới” Cùng thời điểm này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI nêu ra yêu cầu đổi mới: “Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn, phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chóng ta mới có thể vượt qua khó khăn…” [73; 64] Những đòi hỏi từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hoá trong khu vực và trên thế giới đã làm nảy sinh những quan hệ xã hội mới; thời cơ và thách thức cả trên phương diện kinh tế và văn hoá; vấn đề cũ mới, sự suy thoái về đạo đức lối sống; những biểu hiện mới của tính cách con người v.v đã trở thành chất liệu mới của văn học Cuộc sống mới có nhiều giá trị tốt đẹp song cũng không Ýt điều tồi
tệ, xấu xa Đây là lúc văn học có thể ngợi ca và cũng có thể lựa chọn cảm hứng phê phán Với cái xấu xa, lạc hậu, lỗi thời thì tiếng cười giễu nhại như một cái chổi quét sạch mọi rác rưởi xã hội đã được văn học lựa chọn
Trên tinh thần dân chủ của thời đại, quan điểm chỉ đạo văn nghệ thông thoáng và cởi mở hơn “đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra một thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vằo sự thật” [52; 11] Điều đó cho phép con người thể hiện chính kiến, quan điểm của mình về mọi vấn đề trong đời sống xã hội một cách thẳng thắn, trung thực Có thể nói, ý thức cá nhân, trách nhiệm cá nhân được đề cao hơn bao giờ hết Khi văn học bắt đầu đi vào khám phá con người ở muôn mặt cuộc sống đời thường thì những giá trị tinh thần, khát vọng cá nhân được đề cao Cùng với nó, nhu cầu thể hiện cá tính, vai trò
cá nhân của con người trong mối quan hệ với tập thể, cộng đồng trở nên bức thiết hơn Nhu cầu được thư giãn, được giải toả và được đánh giá, bình phẩm
về các hiện tượng đời sống mà văn học phản ánh, thể hiện cũng trở nên mạnh
mẽ hơn Chính vấn đề số phận cá nhân, thân phận con người và yêu cầu được
Trang 18thoả mãn những nhu cầu Êy trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã khơi nguồn cho những cảm hứng phê phán mới mẻ trong văn học Trên cơ sở đó, tiếng cười và cảm hứng giễu nhại đã gặp được cơ hội hồi sinh Đúng như Tiến
sĩ Nguyễn Thị Bình đã nhận định: “Trong công cuộc đổi mới đất nước sau chiến tranh, ý thức cá nhân được giải phóng, ý thức cá tính được đề cao trong văn chương đã là cơ sở cho tiếng cười nở rộ” [29]
1.2.2 Cảm hứng giễu nhại trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
Nhìn một cách đại thể trong văn học Việt Nam sau 1975 nói chung, văn xuôi sau 1975 nói riêng, giễu nhại dường như đã trở lại và hồi sinh thành một cảm hứng khá rõ nét ở một số cây bút Nó rất gần gũi với cảm hứng trào lộng, châm biếm, trào tiếu… vốn đã từng có trong văn học Việt Nam trước đây Càng về sau, cảm hứng giễu nhại càng đậm nét và trở thành một cảm hứng chủ đạo ở nhiều nhà văn trẻ Trước năm 1975, văn học mải mê đi tìm hình mẫu con người lý tưởng mang tầm vóc sử thi, mang vẻ đẹp và khát vọng của thời đại Cảm hứng tụng ca trở thành tiếng nói có trọng lượng, có sức mạnh trong đời sống cộng đồng Tiếng cười giễu nhại không có cơ hội nảy sinh và phát triển trong một môi trường nghiêm túc, trong không khí sử thi thiêng liêng Êy Đất nước hoà bình, thống nhất đưa con người trở về với quỹ đạo đời thường Con người đối mặt với muôn mặt đời thường và ở đó mặt trái của cuộc sống luôn mở ra với tất cả màu vẻ của nó Đó là những bất ổn, những ngang trái, những thói tật của con người mà không phải đến lúc này mới phát
lộ Chỉ có điều, bây giờ họ mới đủ bình tĩnh, đủ tâm thế, đủ bản lĩnh để nhìn nhận, để chiêm nghiệm
1.2.2.1 Giai đoạn từ 1975 đến 1986
Nguyễn Minh Châu, nhà văn được coi là “người mở đường tinh anh và
tài năng” trong Hãy đọc lời ai điếu cho mét giai đoạn văn nghệ minh họa đã
nhanh chóng nhận ra vai trò, trách nhiệm của người cầm bút trước yêu cầu đổi
mới của văn học Với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền
Trang 19ngoài xa, Mùa trái cóc ở miền Nam, Sắm vai… Nguyễn Minh Châu đã tạo
ra một “cú vặn mình” cho sự đổi mới, trong đó Èn chứa chất giễu nhại được gợi ra từ mối quan hệ giữa thật và giả, những tình huống nghịch lý, dở khóc
dở cười trong cuộc sống hàng ngày Trong mỗi truyện ngắn của ông luôn Èn giấu những suy tư, trăn trở; những cái cười đùa hóm hỉnh, cái “cười ra nước
mắt”, hoặc là giọng châm biếm phẫn nộ Đó là hình ảnh nhà văn T trong Sắm vai, một người “dám tự tước bỏ đi hết cái phù phiếm, những lớp vỏ bề ngoài,
tất cả những cái gì lấp lánh có thể lừa dối mình và người khác” nhưng để chiều lòng người vợ trẻ, đã chấp nhận sống một cuộc sống “sắm vai”, sẵn sàng đánh mất mình, tự biến mình thành một con rối Đó còn là nhà nghệ sỹ nhiếp ảnh và vị quan toà nông nổi trước cuộc sống như một bể thẳm không
cùng của người phụ nữ làng chài Là Toàn trong Mùa trái cóc ở miền Nam,
một kẻ hèn nhát, sợ chết trong chiến tranh, tiểu đoàn trưởng mà chưa biết đến mùi thuốc súng, đã đẻ ra cái quân lệnh nghiêm ngặt mà vô lý hết sức là bắt
“những người lính giải phóng vừa chiến thắng luyện khoa mục đi đều dưới trời mưa” [15; 791]
Nếu Nguyễn Minh Châu được coi là người mở đường của văn học thời đổi mới thì Lê Lựu được xem là người tạo ra bước ngoặt của tiến trình đổi
mới văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này Thời xa vắng được in năm 1986 là
một tiểu thuyết có giá trị nhiều mặt trong đó cảm hứng giễu nhại là một sự thể nghiệm độc đáo Từ vị trí người trần thuật từng trải, hiểu đời, tác giả đã dẫn người đọc trở về với “thời xa vắng” đầy bi hài Cái làng Hạ Vị của Giang Minh Sài dẫu đã lên đến hợp tác xã cấp cao, trải qua những cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, có đủ cả bộ máy đảng, chính quyền nhưng vẫn chỉ là một hình ảnh thu nhỏ của một vương quốc “rất ngố”, “rất nhắng” Sự Êu trĩ của những người nắm quyền lực, nắm sinh mạng kẻ khác đã giết chết con người cá nhân, những mơ ước khát vọng và tài năng của không Ýt người trong đó có Giang Minh Sài Tiếng cười xen lẫn dư vị chua cay mà tác phẩm tạo ra được khai thác ở những “chuyện thật như đùa” ngay trong hiện thực đời
Trang 20sống đất nước sau chiến tranh, vốn trước nay “vẫn bị dồn nén, che giấu cẩn thận”
1.2.2.2 Giai đoạn từ 1987 đến nay
Bước sang giai đoạn này, Nguyễn Minh Châu tiếp tục có những thể nghiệm về cảm hứng giễu nhại trong sáng tác Đó là cái nực cười trong cuộc đối thoại ngầm của lão Khúng và “người lãnh đạo huyện” chỉ chăm chăm
“cách cái mạng” của người dân quê muôn đời nghèo khổ trong Phiên chợ Giát Vậy mà cái lão dân quê tăm tối kia không hiểu cứ thận trọng lảng ra
Khúng “nín lặng nghe một cách cung kính” ông chủ tịch giảng giải về “hai con đường” mà chỉ chực thốt lên: “tôi gần mười đứa con, vào hợp tác xã để
mà chết đói à?” Ông chủ tịch là nhà cách mạng luôn thường trực bầu máu nóng “lúc nào cũng như cái chảo nước đang sôi, hễ thích làm gì là làm, bất chấp tất cả” nhưng với lão Khúng thì: “công trường với chả công triếc… toàn
là một lũ ăn cắp” Bằng ngòi bút của mình, Nguyễn Minh Châu đã giễu nhại những căn bệnh trầm kha của xã hội mà biểu hiện rõ nhất là những sự phi lý
cứ ngang nhiên tồn tại trong cuộc sống
Tô Hoài là nhà văn thuộc lớp những nhà văn mở đường cũng đã nhập cuộc với không khí đổi mới bằng một tâm thế đầy hứng khởi Những tác phẩm thể hiện cái nhìn quá khứ vừa nghiêm khắc, vừa hóm hỉnh và có phần
tinh quái Cái áo tế là một trong những truyện ngắn khá tiêu biểu về đề tài tín
ngưỡng dân gian được viết ở thời kỳ đổi mới Cùng với sự phát triển của đời sống vật chất theo kiểu “phú quý sinh lễ nghĩa”, chuyện thờ cúng, đình đám, chùa chiền được cả xã hội quan tâm Nhưng cũng chính vì thế mà không khó nhận ra cái nhiêu khê, cái hủ lậu trong cách nghĩ của không Ýt người Chỉ việc tranh cãi xem ai xứng đáng là chủ tế của một cuộc lễ hội cũng đã bộc lộ những suy nghĩ lạc hậu, thói háo danh, sù ganh tỵ nhỏ nhen của những người trong cuộc - những thứ có thể phá vỡ những điều tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc Có thể dẫn ra đây suy nghĩ vừa lạc hậu vừa mê tín của những người nông dân qua con mắt hài hước của tác giả: “Ngài thiêng lắm Đến
Trang 21ngày kỵ, hàng giáp mổ lợn, mổ trâu mặc lòng bao giờ trên bàn thờ, dưới tay ngai cũng phải buộc đôi Õch - phải vào tận trong núi kiếm Õch hương về nuôi
vỗ béo hàng tháng Làng lại kiêng những huý kỵ Con Õch được gọi là “Ông ộp”, mà lại phải nói nhẹ nhàng như khấn, sợ to tiếng, ngài quở ” [19; 307] Cùng với Nguyễn Minh Châu, những gợi mở của Tô Hoài đã chuẩn bị cho những bước phát triển tiếp theo của cảm hứng giễu nhại
Với những nhà văn trẻ “thuộc thế hệ thứ tư”, yêu cầu đổi mới văn học dường như đã trở thành một nhu cầu quyết liệt, sống còn Trong công trình
nghiên cứu Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn) năm 1996, PGS.TS Nguyễn Thị Bình đã khẳng
định giễu nhại là một trong những đặc điểm khá tiêu biểu của văn xuôi sau 1975: “Ở lớp nhà văn trẻ, nổi bật là giọng giễu nhại Tuổi trẻ nhạy cảm với cái mới và sớm được hít thở làn gió dân chủ lại nhập cuộc hầu như cùng cơ chế thị trường Họ công khai chống lại các thứ quy tắc bảo thủ, lỗi thời, các quy phạm, thói trịnh trọng cứng đờ, tính giáo huấn, những quan hệ xã giao nhiều đạo đức giả, lối thưa gửi khúm núm, những huý kỵ, tóm lại là tất cả những gì trói buộc cá tính Dường như không quá coi trọng văn chương như lớp đàn anh nên họ ứng xử với nó tự do hơn, họ đưa vào văn chương cái nhìn suồng sã, không quan trọng hoá cái gì, có khi cực đoan đến mức không coi cái
gì là quan trọng” [28; 123] Trong lời đánh giá trên về quá trình đổi mới của văn xuôi sau 1975, có cả sự cắt nghĩa về những nguyên cớ sâu xa cho sự hồi sinh của cảm hứng giễu nhại
Với Lê Minh Khuê, một cây bút nữ khá nổi bật thì cảm hứng giễu nhại chỉ thấp thoáng trong một số tác phẩm ban đầu, càng về sau càng trở nên mạnh mẽ và đậm nét Bằng cảm quan của mình, tác giả đã tập trung giễu nhại
sự tha hoá và lối sống thực dụng của con người thời hiện đại, những bất ổn của cơ chế xã hội, những quan niệm lệch lạc, Êu trĩ của con người Tất cả được nhà văn trình bày bằng một giọng văn hài hước, châm biếm theo kiểu:
“đường về làng trồng nhiều cây bạch đàn, con mương thẳng theo hàng cây
Trang 22Hai cái quán karaokê đứng cạnh mấy đống rơm… bố mẹ Na cũng xây cái hộp vuông như cái bánh chưng, bên trên nhọn hoắt những tháp của người ả rập…”
(Làng xi măng) Nhà văn giễu sự mù quáng của con người trước đồng tiền đến mức tự biến mình thành một kiểu con vật - người (Anh lính Tony.D); giễu chủ nghĩa bình quân, chủ nghĩa lý lịch, chủ nghĩa thành phần (Ga xép)
và cũng chẳng ngại ngần châm biếm loại người “cỗ máy”, công cụ (Thân phận cu li) Chất giễu nhại trong văn Lê Minh Khuê được bộc lộ ngay trên bề
mặt lời văn thông qua từ ngữ, cách gọi tên nhân vật, hình ảnh, lời trữ tình ngoại đề Cũng có lúc Èn sâu sau lời trần thuật khách quan hoặc trong nhịp văn Tuy nhiên, tiếng nói trong tác phẩm của chị về cơ bản không nhẹ nhàng, kín đáo mà có phần chất chứa cay đắng Đằng sau đó là cái nhìn nghiêm khắc đối với hiện thực
Có thể nói, cảm hứng giễu nhại đến Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài mới thực sự rõ nét cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã khẳng định chất giễu nhại trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp như là một nét phong cách ở nhà văn này PGS.TS Lê
Huy Bắc trong bài viết Bậc hiền triết - con chó xồm hay kỹ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng chính hình ảnh trong sáng tác của Nguyễn
Huy Thiệp để khái quát thành một đặc điểm trong bút pháp của ông: “Trời rất xanh Giữa trời có đám mây trắng trông hệt dáng điệu một nhà hiền triết Thoắt cái, gió xua mây đi, nhà hiền triết biến thành con chó xồm lớn” [52; 319]
Nguyễn Huy Thiệp viết về lịch sử bằng một cái nhìn hoàn toàn mới Vấn đề lịch sử được đặt ra để nhìn lại, để suy ngẫm và để đánh giá Chính vì
thế, trong sáng tác của ông có hẳn một mảng đề tài viết về lịch sử nh Phẩm tiết, Kiếm sắc, Vàng lửa… với mục đích “giải thiêng”, giải huyền thoại Trong Phẩm tiết, người đọc ngỡ ngàng trước những lời lẽ thô tục, lỗ mãng
chẳng khác một kẻ hạ dân của Gia Long và cũng ngạc nhiên bởi sự nghiệp lẫy lừng của ông ta hoá ra cũng chỉ là thứ trò chơi không hơn không kém: “Mày
Trang 23tưởng công mày to ư? Mày ở gần ta mà không biết ta Trò chơi nào chẳng vô công? Mày phạm luật thì mày chịu Đừng trách ta ác… Binh đao là trò chơi của trời Sao mày lại hỏi ta? Ta chơi trò khác, chơi trò đế vương! Thằng mặt xanh kia! Kề miệng lỗ còn dê ư? Ta cho cắt dái mày! Ta cho mày ăn cứt” [22; 220] Qua đây, bậc đế vương dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp hiện lên như bao người bình thường, thậm chí tầm thường khác Nghệ thuật giễu nhại của Nguyễn Huy Thiệp đã giúp nhân vật lịch sử hiện ra thật hơn, đời thường hơn và trọn vẹn hơn, điều mà người đọc có thể chưa nhận thức được Với những vấn đề khác của hiện thực đời sống, nhà văn nói nhiều đến cái lố bịch nảy sinh trong đời sống xã hội bằng sự phê phán mạnh mẽ Hàng loạt truyện
ngắn như Tướng về hưu, Những người thợ xẻ, Sang sông, Không có vua… được tác giả viết bằng cảm hứng giễu nhại Trong Tướng về hưu, tác giả đã
sử dụng nhại để “giải thiêng” những quan niệm anh hùng, thi vị hoá cuộc sống Chẳng hạn, tác giả dẫn vào trong truyện cuộc đối thoại ngắn giữa đứa cháu thơ ngây và ông nội để làm bật lên cái hiện thực trớ trêu của vị tướng giữa đời thường: “Cái Mi hỏi: Ông đi ra trận hả ông? Cha tôi bảo: Ừ! Cái Vi
hái: Đường ra trận mùa này đẹp lắm có phải không ông? Cha tôi chửi: Mẹ
mày! Láo!” [22; 34] Ở đoạn khác, nhà văn lấy suy nghĩ của những đứa trẻ để giễu nhại và xót xa về lối sống thực dụng đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi con người: “Cái Mi hái: Sao chết đi qua đò cũng phải trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà? Cái Vi bảo: Đấy có phải ngậm miệng ăn tiền không bố? Tôi khóc: Các con không hiểu đâu Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín Cái Vi bảo: Con hiểu đấy Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền Chết cũng cần” [22 ;
29] Trong truyện ngắn Sang sông, dường như ngòi bút giễu nhại của tác giả
đã hướng về những vấn đề đạo đức, niềm tin tôn giáo khi cho người đọc chứng kiến hành động đập vỡ chiếc bình quý của hai tên buôn đồ cổ để cứu đứa bé bị kẹt tay trong miệng bình Chính ông giáo, một biểu tượng sống của văn hoá, đạo đức phải thốt lên: “Trời! Anh Êy dám đập vỡ bình! Thật đúng là một anh hùng! Một nhà cách mạng! Một nhà cải cách! Chị lái đò giấu nụ cười
Trang 24thầm Chị biết, vô phúc cho ai một mình gặp hắn trong đêm” [22; 235] Kẻ cướp có thể trở thành anh hùng, thậm chí thành Phật nếu chúng ta đối sánh với nhà sư - người từ đầu đến cuối không hề biểu lộ một lời nói hay hành động nào Đó chính là một vài dẫn chứng minh hoạ cho triết lý mang cảm hứng giễu nhại “bậc hiền triết - con chó xồm” mà Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng khá thành công trong sáng tác của mình.
Cùng với Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài là một trong số những nhà văn có ý thức cách tân mạnh mẽ với một mục tiêu “viết như một phép
ứng xử” Trong Thiên sứ, các mô hình nhân vật lý tưởng, mẫu mực đều trở
nên “mất giá” dưới ngòi bút của tác giả Đây chính là điều mà có người gọi thẳng là “sự phá huỷ kiểu nhân vật truyền thống” Tác giả đã dành nhiều trang viết, sử dụng số lượng nhân vật trí thức “đủ để tạo một dàn hợp xướng trí thức Việt Nam thời quá độ” để lật tẩy, phê phán, để phá huỷ hình tượng loại nhân vật này Đó là những gương mặt méo mó, đội lốt trí thức, thậm chí là phản trí thức Bố Hoài sưu tập sách nhằm mục đích khai báo một “bộ mặt tinh thần tươi tốt” và để “mở hiệu cho thuê sách khi về hưu”, ông quan tâm đến độ dày mỏng của cuốn sách chứ không phải nội dung, tư tưởng của nó Hùng là một người có trình độ (bằng đỏ Lômôlôxốp) nhưng tiếc thay anh ta lại là người
“trung lập và ôn hoà tuyệt đối”, “toàn diện và hời hợt”, suốt đời “thủ thế phòng ngự” Kiên là giáo viên nhưng chẳng sư phạm chút nào mỗi khi giảng bài xong lại “lồm ngồm tìm dép ở xó nào”, “bọt trào ra trắng xoá hai bên mép” Hoàng thuộc loại người làm thầy thì bạc nhược và yếm thế nhưng làm con buôn lại mạnh mẽ, tự tin; sẵn sàng bẻ nát một “bông cẩm chướng không gai” và đẩy cái đẹp trong sáng, ngây thơ vào vòng xoáy tha hoá Những chuyện học hành, yêu đương…đều như là những trò chơi, đều mang tính chất giả dối, sống sượng Người đọc phải bật cười chua chát khi nghe một lời tỏ tình “y như khẩu hiệu chính trị” của một nhân vật: “Anh yêu Hoài Nhưng chúng ta không thể để tình yêu lấn át lý trí Anh cần ra đi Nhiều nhiệm vụ cấp bách của cách mạng đang đòi hỏi” [52; 216]
Trang 25Dù chưa điểm hết những tác giả có tác phẩm mang cảm hứng giễu nhại song có thể thấy sự phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong
đó có sự tìm tòi đổi mới cách thức thể hiện của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới là một thực tế không thể phủ nhận Với cái nhìn thẳng vào sự thật, khám phá hiện thực ở nhiều chiều kích khác nhau trên cơ sở của những cảm xúc mới mẻ trong đó có cảm hứng giễu nhại, các tác giả văn xuôi sau năm 1975
đã đem đến cho văn học một diện mạo mới, sắc thái mới Qua đó, chúng ta
có thể khẳng định cảm hứng giễu nhại là một đặc điểm khá nổi bật trong văn xuôi nước nhà sau 1975 đồng thời là một vấn đề cần được nghiên cứu tìm hiểu một cách nghiêm túc và có hệ thống khi nghiên cứu văn học sau 1975
1.2.3 Giễu nhại, một cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái bước vào làng văn từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX nhưng phải sau đó gần 10 năm, tác phẩm của anh mới được người đọc chú ý Khởi đầu cho những sáng tác thành công của Hồ Anh Thái là tập truyện ngắn
mang tên Chàng trai ở bến đợi xe (1985) Ngay sau đó tiểu thuyết Người và
xe chạy dưới ánh trăng xuất hiện năm 1987 đã chứng tỏ một sự đổi mới rõ
rệt về tư duy nghệ thuật của nhà văn ở khả năng khám phá hiện thực Đó là thứ hiện thực mờ ảo, chập chờn hư thực giữa thực tại và những giấc mơ Có thể nói, cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là chất trữ tình nhân văn thấm đẫm không gian của thực tại và hồi ức, cả hiện tại và quá khứ của nhân vật trung tâm là Toàn Chiến tranh được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, được soi chiếu từ chiều sâu tâm hồn con người, từ số phận cá nhân Một cái nhìn hiện thực không bằng mắt thường mà bằng tâm linh
Cùng cảm hứng nhân văn với Người và xe chạy dưới ánh trăng, tiểu thuyết Trong sương hồng hiện ra, lại hướng góc nhìn vào chiều sâu vô thức,
tái hiện hiện thực qua những giấc mơ, những yếu tố kỳ ảo Qua tác phẩm, tác giả như “muốn bày tỏ khát khao của một thế hệ hậu chiến đuợc nhìn xuyên
Trang 26qua màn sương dày đặc của huyền thoại anh hùng và quyền uy bao phủ lên thế hệ chiến tranh” [1; 426 ]
Với một thời gian sống và làm việc tương đối dài ở Ên Độ cũng nh nghiên cứu văn hoá phương Đông, Hồ Anh Thái có điều kiện suy nghĩ, chiêm nghhiệm sâu sắc hơn về cõi đời mênh mông, số phận con người nhỏ bé Những tác phẩm viết trong “giai đoạn Ên Độ” của anh thấm đẫm cái nhìn cảm động về số phận con người Tác giả đặt con người trong mối quan hệ với
những hủ tục ngàn đời (Tiếng thở dài qua rừng kim tước), trong quan hệ giữa các nền văn minh văn hoá (Cuộc đổi chác, Người Ên), hoặc với lịch sử
xã hội (Lá quốc thư)
Sau giai đoạn Ên Độ, Hồ Anh Thái vẫn tiếp tục con đường tìm tòi đổi mới của mình nhưng đã bắt đầu có những thể nghiệm mới Biểu hiện rõ nhất trong sự đổi mới đó chính là sự trỗi dậy của cảm hứng giễu nhại Tiểu thuyết
Cõi người rung chuông tận thế viết về cõi người nh mét sa mạc mênh mông,
hoang vắng của cái ác, dục vọng và lòng Ých kỷ Tưởng chừng sự trỗi dậy của cái ác mạnh đến nỗi mà tác giả phải hốt hoảng rung lên hồi chuông cảnh tỉnh Trong cõi người, thiện ác luôn là một vấn đề lớn lao, có tầm ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống con người Một trong những điểm mới trong cách thể hiện của tác giả là việc lựa chọn điểm nhìn trần thuật Anh “đứng trên cỗ xe của cái ác”, gần gũi, tòng phạm, hoá thân vào cái ác để chỉ ra nguyên nhân sâu xa của nó, để giúp ngnười đọc nhận ra sự thật trần trụi trong cõi đời này là
“cái ác vẫn còn đeo đẳng, khó buông tha ai” Viết về một vấn đề lớn lao với thái độ phê phán quyết liệt nh vậy nhưng Hồ Anh Thái vẫn có thể khiến người đọc đôi lúc phải bật cười dù đó là những cái cười ra nước mắt Từ cách đặt tên nhân vật - những gã thanh niên cao to, đẹp trai có những cái tên rất lạ, gắn liền với tính cách hoặc mang hàm ý giễu nhại như Bóp, Cốc, Phũ đến hiện thực đời sống làng chài bị cơn lốc kinh tế thị trường xâm nhập đã biến những bãi biển của những người dân chài lam lũ thành một bãi biển sôi động thị trường kinh doanh vốn tự có Nền kinh tế thị trường còn tạo ra một loại người
Trang 27háo danh, hám lợi, “công ty TNHH mọc nên như nấm”, “giám đốc công ty TNHH cũng đội đất chui lên như rươi” đến độ “cha lập công ty của cha, mẹ lập công ty của mẹ, con lập công ty của con Óm ba la, ba ta đều là giám đốc!” [4; 139]
Mười lẻ một đêm mới ra mắt bạn đọc gần đây như là sự tiếp tục khẳng
định lối viết đã định hình của Hồ Anh Thái Cốt truyện kể về một người đàn
bà và một người đàn ông tình cờ (hoặc cũng có thể không phải thế) bị nhốt trong một căn hộ chung cư trên tầng sáu trong 11 ngày đêm (thực ra là 8 ngày) Trong những ngày bị giam lỏng đó, đã có biết bao nhiêu chuyện xảy ra với họ và cũng có bao nhiêu chuyện để người đọc biết và suy ngẫm Từ nỗi mừng tủi trong ngày gặp gỡ sau bao năm xa cách; chuyện “ẩm thực rồi sex”; chuyện đời mẹ người đàn bà - một bà mẹ năm đời chồng “năm mươi tám tuổi nhưng mãi mãi có một trái tim thiếu nữ”, đến những chuyện về “hoạ sĩ trồng chuối hột” có sở thích khoả thân dốc ngược đầu xuống đất; chuyện vị giáo sư khả kính thao thao bất tuyệt cả trong diễn thuyết và Èm thực lại có tật hay đái bậy; chuyện ông Víp chồng người đàn bà có tật nhắm mắt khi diễn thuyết vì
thấy nó như một khoái cảm xác thịt v v Có thể nói Mười lẻ một đêm cũng
chính là mười lẻ một chuyện đời, mười lẻ một chuyện hài
Cùng với hai tiểu thuyết tiêu biểu trên đây, những truyện ngắn của Hồ Anh Thái sau giai đoạn Ên Độ thật sự là những trang văn nổi bật cảm hứng
giễu nhại Tập truyện ngắn Tự sù 265 ngày ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn
năm 2001 đã gây được sự chú ý của người đọc về nhiệt tình tìm tòi, tự đổi mới mình không ngừng nghỉ của tác giả Qua tác phẩm, người đọc chứng kiến
sự thật trong đời sống của tầng lớp được coi là ưu tú của xã hội Từ quan chức đến chuyên viên, phục vụ; đủ học vị, học vấn, thành phần giới chức: Nhà khoa học, nghiên cứu viên, nhà văn, sử học, võ sư, nghệ sỹ; phần lớn được đặt
tên bằng cách mã hóa hoặc vô danh Có thể nói, những nhân vật trong Tự sù
265 ngày được xây dựng như là những mẫu hình đại diện cho một loại trí
thức, công chức “rởm” và sự nhạt nhẽo, vô nghĩa trong việc làm và lối sinh
Trang 28hoạt của họ Rất nhiều thói hư, tật xấu, sự bất tài vô tướng của giới công chức
trong Tự sù 265 ngày được chỉ ra dù Hồ Anh Thái không có ý bôi đen cuộc
sống Việc nhận ra và nói thẳng bằng thái độ giễu cợt, trào lộng những thói tật của một bộ phận người đang có nguy cơ phổ biến trong xã hội là một trong những đóng góp quan trọng của tác giả ở tập truyện này Tư tưởng và cách thể
nghiệm này được anh tiếp tục phát huy trong tập truyện ngắn Bốn lối vào nhà cười và một số truyện ngắn trong tập truyện ngắn Sắp đặt và diễn.
Có thể nói, trong các sáng tác ở giai đoạn sau của Hồ Anh Thái, giễu nhại đã thực sự trở thành một cảm hứng chủ đạo, có tác động tới hầu hết các yếu tố của mỗi tác phẩm Qua cảm hứng giễu nhại, Hồ Anh Thái muốn khẳng định các nguyên tắc thế giới quan nhất quán của mình trong sáng tác Đó là lòng yêu thương con người, yêu thương cuộc sống Vì yêu thương nên mới có phê phán để con người và cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn
Chương 2 Cảm hứng Giễu nhại trong cái nhìn đời sống và con người của hồ anh thái
Như đã nói ở trên, giễu nhại đã trở thành một cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác của Hồ Anh Thái giai đoạn sau Ên Độ tập trung ở các tác phẩm
Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, Tự sù 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười và một số truyện ngắn trong hai tập truyện ngắn Mảnh vỡ đàn ông và Sắp đặt và diễn Trong những tác phẩm này, Hồ Anh Thái đã tập
trung thể hiện cái nhìn đời sống và con người không xuôi chiều, dễ dãi mà trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đi sâu khai thác những vấn đề gai góc
Trang 29của đời sống, khám phá những điều mới mẻ trong bản chất con người Tất cả được dẫn dắt bởi cảm hứng giễu nhại độc đáo mà chính nó đã làm nên chiều sâu trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái.
2.1 GIỄU NHẠI TRONG CÁI NHÌN ĐỜI SỐNG
Trong xu hướng đổi mới văn xuôi sau năm 1975, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn mạnh dạn phơi bày sự thật trần trụi của đời sống đất nước trong thời kỳ đổi mới, lật tẩy những cái tiêu cực của xã hội, nhận chân lại các giá trị của đời sống bằng cảm hứng giễu nhại nhất quán Nội dung giễu nhại chủ yếu mà tác giả hướng đến là những nguy cơ làm biến dạng và tha hóa đối với con người; những xác tín bị nghi ngờ, những chuẩn mực bị mất giá; những góc khuất của đời sống công chức, trí thức; những mảng tối của văn hoá, khoa học giáo dục, văn chương nghệ thuật
2.1.1 Những nguy cơ làm biến dạng và tha hoá đối với con người
Hiện thực đời sống đa dạng và phong phú luôn là đối tượng phản ánh của văn học Bằng cái nhìn hiện thực không đơn giản, xuôi chiều được soi chiếu bởi kinh nghiệm cá nhân, Hồ Anh Thái đã chạm đến, khơi ra những vấn
đề gai góc và bức xúc của đời sống vốn vô cùng phong phú và phồn tạp Điểm chú ý đặc biệt của tác giả là môi trường gia đình với tư cách là một xã hội thu nhỏ, nơi có thể sẽ hình thành nên những thói quen xấu, nơi có thể tiềm
Èn những nguy cơ làm băng hoại đạo đức, nhân cách con người, đẩy con
người đến sự tha hoá Trong Cõi người rung chuông tận thế chính Đông,
người chú đã chứng kiến toàn bộ câu chuyện ba gã trai là Cốc, Phũ và Bóp tìm cách chiếm đoạt một cô gái trẻ trên một bãi biển du lịch nhưng anh ta không can ngăn thậm chí còn đồng loã để hai kẻ còn sống thực hiện ý định trả thù cho bạn khi nghĩ rằng cô gái là nguyên nhân dẫn đến cái chết của thằng Cốc: “Hai thằng quay nhìn tôi Tôi im lặng nhìn lại Nh vậy có nghĩa là tôi không đi Tôi chưa tin Tất nhiên là chưa tin cô gái kia giết thằng Cốc Nhưng tôi để mặc hai đứa Hãy để cho chúng được quyền tin điều chúng đang tin…
Trang 30Chắc là tôi sẽ không tham gia Nhưng cũng chẳng có một lời nhắc nhở thận trọng Con người nếu cẩn thận ở nơi này thì vẫn bất cẩn ở nơi khác Biết ai dại ai khôn hơn ai mà lên giọng khuyên bảo Những gã trai ngoài tuổi hai mươi đã có thể tự lo liệu và tự chịu trách nhiệm” [4; 48, 49, 51] Nhà văn giễu
sự im lặng một cách lạnh lùng và những suy nghĩ vô trách nhiệm của bậc cha chó nh Đông Đó chính là nguyên nhân góp phần đẩy những gã thanh niên vốn hiếu sát nhanh chóng đến với tội ác Phải chăng trong cuộc sống chỉ có Đông mới có cách nghĩ và cách hành xử như vậy? Phải chăng mọi ông bố, bà
mẹ đều đã biết tôn trọng quyền tự do của con cái một cách đúng mực? Chính những kẻ cha chó trong cái gia đình thế lực Êy đã không Ýt lần tiếp tay cho những sai lầm, tội lỗi của con cháu “Một giờ sáng anh Thế biết tin thằng Phũ
bị giữ cả người cả xe ở đồn công an quận thì tám giờ sáng anh đã đến đón cả
xe cả người về Ngay trong đêm anh đã gọi điện cho một ông thứ trưởng nội
vụ thân tình Gọi cho ông giám đốc bệnh viện để bó bột cẩn thận cho cái chân
gãy của con bé” [4 ; 87, 88] Tác giả Cõi người rung chuông tận thế đã giúp
người đọc nhận thấy rõ sức mạnh của thế lực, địa vị xã hội, qua đó đặt vấn đề
về hệ quả khôn lường của sự đồng loã với cái ác trong môi trường gia đình
Không chỉ có vấn đề thiện ác, môi trường gia đình có khi là nơi hình thành những thói quen xấu của con người Chẳng hạn, hãy xem cách giáo dục giới tính của Đông - một sinh viên trường Hàng Hải vốn đã từng có một thời
để nhớ là những cuộc tình giường tầng, ri đô che tạm trong kí túc xá sinh viên, một thuỷ thủ tàu viễn dương lọc lõi tình trường - đối với ông cháu quý hoá là thằng Phũ: “Phũ thật thà kể cho tôi nghe lai lịch từng chiếc một, thứ đồ Thái có thể bóp gọn trong lòng bàn tay và đút nhanh vào túi quần khi từ giã Màu xanh thiên lý là cái đầu tiên biến Phũ thành đàn ông Màu nâu có bộ ngực đồ sộ Màu da người làm nó đắm chìm suốt một đêm trắng u mê đến mức không nhớ nổi bao nhiêu lần… Thứ kiến thức giáo dục giới tính tôi truyền cho từ năm nó mười bốn tuổi đủ cho Phũ sống phóng đãng mà không một lần để lại hậu quả” [4; 78] Một cách nhìn hài hước về mối quan hệ “dân
Trang 31chủ” chú cháu giữa Đông và Phũ trong chuyện thoả mãn dục tính Có cái hí hửng trong việc khoe khoang chiến tích của thằng cháu nhưng cũng có sự tự hào, kẻ cả của ông chú khéo dạy bảo thế hệ sau Và quả thật, Phũ đã hơn đứt ông chú mình về sự lọc lõi, đểu giả đến trắng trợn trong sự ăn chơi sa đoạ:
“Tôi giữ chân thằng Phũ tồng ngồng lại không thì nó đạp con kia nát bét Con
bé phải khai ngay Em bị một tuần nay rồi, sau đó ngày nào cô Tì cũng bắt em phải nhận là còn trinh để bán tiếp cho khách đang háo Đúng lúc Êy cô Tì đẩy được cửa ngách đi vào… Thằng Phũ dí cái vật dính dấp trên ngón tay vào mặt
cô Tì Đây là bong bóng cá mè, định lừa bố mày à, bố mày đi làm một quả để thi cuối năm cho son mà mày dám đưa sọt thủng, lôi ngay con khác ra đền đi, không có à, vậy chạy ngay ra đường mà săn bò lạc, các bố mày chờ” [4; 80] Đến tận lúc Phũ chết, người đọc còn nhận được sự bất ngờ về số chiến lợi phẩm là “101 chiếc quần lót phụ nữ”, đến mức ông chú phải thốt lên bằng một
sự so sánh đầy thán phục: “Vậy là trong một quãng đời ngắn ngủi chín năm làm đàn ông, ông mãnh này đã sống cuộc đời của 101 người đàn ông đạo đức suốt đời chỉ biết có một người đàn bà” [4; 81] Thật chua chát khi những thói sống gấp, hưởng lạc, đàng điếm đã lấn át hoàn toàn đạo đức truyền thống
Ở một môi trường hẹp hơn là những “phòng khách” gia đình, ông bố đã dạy cho cậu quý tử những bài học kinh nghiệm vào đời thật bổ Ých “Bố tôi dắt tôi qua những phòng chiêu đãi như vậy Hình như ông có ý cho tôi trải nghiêm thực tế giao tiếp lễ tân để dần dà làm chủ phòng khách gia đình, để dẫn dụ đưa đẩy mối manh giữa tầng lớp chuyên gia ăn tiệc mới hình thành Lực lượng này cũng non trẻ hãnh diện như lực lượng tiểu tư sản dân tộc, như cánh giàu xổi nouveaux riche mới hình thành từ sau tám sáu” [5; 22] Phòng khách là “trường đại học” nơi có những ông giáo sư “đầu bù răng bựa” vừa tham ăn vừa hay tắt mắt; những ngành học thì văn sử dẫm chân lên khảo cổ,
“văn chả được thì võ vậy”; nơi tạo ra một loại người “chuyên gia ăn tiệc”, cơ hội, háo danh, thực dụng
Trang 32Môi trường gia đình khi mà nền tảng truyền thống bị phá vỡ là nguyên
nhân sâu xa làm băng hoại các giá trị đạo đức của con người Trong Cõi người rung chuông tận thế, một thuỷ thủ trên con tàu vượt đại dương luôn
tâm niệm một chuyến đi an lành phụ thuộc vào sự thuỷ chung của người vợ ở nhà Vì vậy khi thoát chết sau vụ đắm tàu trở về, anh ta đã được chứng nghiệm sự đúng đắn của cái lý thuyết kia: “gã về nhà, bắt tận mặt vợ và con gái đang nuôi béo hai thằng đĩ đực xấp xỉ tuổi nhau mỗi cặp ở một phòng, ra đụng vào đụng mặt nhau tự nhiên như không Gã vác dao đuổi chém hai thằng kia chạy tan tác Gã đuổi chém mụ vợ Căm hờn gấp bội vì gã tin rằng chính
sự thập thành của mụ đã làm biển nổi giận, nhấn chìm con tàu và dìm chết đồng nghiệp của gã Gã đuổi chém con gái Nhà dột từ nóc dột xuống Gã uất
vì dòng giống mình nảy nòi ra một thứ ngợm vô luân như thế” [4; 156] Sự uất hận và hành động căm thù của người đàn ông trong câu chuyện qua cái nhìn giễu nhại của Hồ Anh Thái là một sự bất lực, một kết cục xót xa của một gia đình đầy nghiệp chướng
Hôn nhân không tình yêu và mải mê chạy theo nhu cầu vật chất của những người trong cuộc cũng là nguyên nhân dẫn đến những bất hạnh của con người, sự đổ vỡ của gia đình là điều mà Hồ Anh Thái muốn cảnh báo Trong
Mười lẻ một đêm là năm cuộc hôn nhân chợt đến chợt đi luôn mang màu sắc
vụ lợi của bà mẹ “năm lần đò và những cuộc phiêu lưu” Với người đàn bà
Êy, “Chồng đầu tiên được cái nhà để xe Chồng thứ hai được chia đôi căn phòng hai mươi sáu mét vuông Chồng thứ ba căn hộ tập thể tầng hai Chồng thứ tư được chín mét vuông phố cổ Chồng thứ năm khá nhất, giáo sư viện trưởng, căn hộ chung cư chất lượng cao” [10; 60, 61] Sống với mẹ và chứng kiến những cơn lốc phiêu lưu tình ái của mẹ, cô con gái vẫn phải giật mình trước cái phương châm sống “chơi xuân kẻo hết xuân đi mà sao giống thứ Èm thực ăn gỏi nhắm sống nuốt tươi Cái câu đùa về làm gì, ở lại đây mà ngủ chỉ
có một phần đùa, chín phần là thật” [10; 92, 93] Độc giả phải bật cười sau lời giễu nhại của Hồ Anh Thái nhưng rồi cũng phải gật đầu xác nhận “chỉ có một
Trang 33phần đùa, chín phần là thật” về thực trạng xấu đi của quan hệ gia đình trong
xã hội hiện nay Dưới ngòi bút giễu nhại của Hồ Anh Thái, những quan hệ hôn nhân như thế không chỉ có kết cục ngắn ngủi theo kiểu “mây mưa mau tạnh” mà còn tiềm Èn những nguy cơ tha hoá đối với con người Dường như
đó là những cái bẫy mà sức hút của nó là bả vật chất luôn giăng ra theo kiểu
“cháu giai đang thiếu công ăn việc làm Bố mẹ gửi cháu sang cô có việc gì cô cho cháu giai làm Còn phải làm gì nữa Bỗng dưng cô xây nhà mấy tỉ cho cháu giai ở, cô mua xe hơi Nhật tặng riêng cho giai, mỗi tháng cô cho cả chục triệu ăn chơi Cháu nào gặp vận hội Êy mà chẳng chuyển kênh gội cô bằng
em xưng anh ngọt lịm Cháu nào chẳng từ bỏ mẹ cha mà theo cô cho đến khi
cô đầu bạc nhuộm răng long hàn” Cả một dây theo nhau đi [6; 245, 246]
Cũng có khi sự đổ vỡ của quan hệ hôn nhân gia đình lại bắt đầu từ sự giả dối của những người trong cuộc mà chỉ đến sắp lìa xa cõi đời họ mới có
những phút thật lòng với nhau hoặc mới lộ ra bộ mặt thật Trong Tự sù 265 ngày là chuyện ông Sử vợ mới chết được tám tháng đã có ngay vợ mới là một
cô Mỹ, những tưởng gây sốc cho họ hàng nhưng “cả làng mừng cho ông vợ chết tám tháng đã có người nâng khăn sửa túi” Cái đáng cười nằm ở chỗ đám dân làng cổ hủ, lạc hậu vẫn hàng ngày “đất lề quê thói ra ngồi cầu tõm tụt quần thả mồi nuôi cá” lại dễ dàng chấp nhận sự kiện tày đình đến thế Còn
trong Cả một dây theo nhau đi, chính tác giả đã phải thốt lên: “Lời trăng trối
này mới thật là thực phẩm đặc sản cho đám trẻ thích giật gân Ông thều thào tôi có lỗi với bà Bà thút thít tôi mới có lỗi với ông Ông vẫn phều phào bà đừng khóc nữa, bà bảo cô Êy bế thằng bé đến đây nhận mẹ già nhận các anh các chị Nghĩa tử là nghĩa tận Dù sao cũng là máu đào của tôi tinh lực của tôi Ngày mai tôi đi rồi thì phải đoàn kết nhất trí không ngại khó ngại khổ ủng hộ giúp đỡ nhau xoá đói giảm nghèo” [6; 237] Thật đúng là một vở hài kịch về đời sống vợ chồng mà sự giả dối đã được tác giả khéo léo sắp đặt để cả ông cả
bà cùng thú nhận Có lẽ cái kết cục nh thế vẫn còn là may bởi còn có những cuộc hôn nhân bất hạnh hơn nhiều dù đối với nhiều người, đó là những bài
Trang 34học nhãn tiền Trong Anh xe ôm một chặng đường núi có chuyện về những
người đàn ông đi đâu có vợ đó nhưng khi chết bất đắc kỳ tử lại chẳng có lấy một người; có người dù đã hai vợ vẫn còn “chài thêm con Ôsin của sếp làm
vợ ba”, có ba đứa con đều dính hút hít; người khác thì mấy cô vợ đều dê, bản thân thì “thân tàn ma dại”, “mười mấy đứa con chẳng đứa nào học xong phổ thông” [6; 20, 21] Dẫn ra nhiều nh thế hẳn tác giả muốn nhấn mạnh thực trạng Êy phổ biến đến mức phải báo động đồng thời chỉ ra nguyên nhân và những hệ luỵ của nó đối với xã hội nh nghèo đói, thất học và những tệ nạn xã hội
Cuộc sống lứa đôi thời hiện đại còn phải đối mặt với tình trạng “ông ăn chả bà ăn nem”, những cuộc tình vụng trộm chớp nhoáng nơi nhà nghỉ, khách
sạn, công sở… Trong Mười lẻ một đêm dù phản đối cách sống của bà mẹ
nhưng trớ trêu thay mệnh phụ phu nhân danh tiếng Êy vẫn không tránh được cám dỗ của tình xưa Cuộc “hẹn hò” vô tình trở thành “bị nhốt” trong một căn
hộ chung cư Êy được Hồ Anh Thái miêu tả bằng cái nhìn giễu nhại: “Quá khứ dan díu chưa đẩy họ tới việc Êy Dùng từ dan díu e rằng không nói đúng bản chất mối quan hệ vô tư của hai người mười sáu năm qua Đúng ra đấy là một tình bạn khá lạ lùng, phải đến tận hôm nay họ mới chịu để dẫn tới chuyện thân xác” [10; 8] Sự “khá lạ lùng” trong tình bạn hai người có liên quan đến mối quan hệ tay ba giữa hai người đàn bà và người đàn ông Khá lạ lùng có lẽ còn vì “chuyện Êy ngày nay hơi bị dễ” Nói tóm lại, tất cả đều “hơi bị dễ” thì việc Êy hỏi có khó gì?! Những quan hệ bất chính, “mèo mả gà đồng” giữa đàn ông và đàn bà cũng được Hồ Anh Thái nhắc đến như là một thứ mốt của đời sống hiện đại dưới hình thức những câu chuyện “tiếu lâm công sở” nhưng sự
tỉ mỉ, chính xác của nó lại được giễu giống như “giọng văn của ba cái tạp chí khiêu dâm phương Tây” Chẳng hạn: “hai lần trong phòng bà viện phó Gã tập tễnh từ trong đó đi ra, đến mức thành tục ngữ chị viện phó em chó què Ba lần trong thư viện, lạ thay cho thư viện hàn lâm bỏ hoang cho mèo mả gà
Trang 35đồng sùng sục đứng trong góc ngôi đền tri thức thiêng liêng Bốn lần trong căn nhà áp mái dột nát Èm mốc kích thích tính phiêu lưu” [5; 47, 48]
Bên cạnh đó, quan hệ gia đình còn bị đe dọa bởi sự vi phạm những nguyên tắc đạo đức tốt đẹp Sự hiếu nghĩa đôi khi là chỗ để con người diễn trò
đạo đức mà thực chất là vô đạo, bất hiếu Trong truyện ngắn Cả một dây theo nhau đi, Hồ Anh Thái đã dựng lại một cảnh diễn trò hiếu nghĩa của cô con
dâu trước cái chết của bố chồng: “Khóc rống lên Chồm ngay tới vồ lấy cái
mũ trên tay chồng Bố ơi là bố Lúc sống bố con mình phố trên phố dưới biền biệt, Lúc đi bố con mình bố con mình âm dương ngăn cách đời đời Xin bố cứ thanh thản mà ra đi, con sẽ không để bố thiếu thốn gì, bố muốn gì con cúng nấy Voi chín ngà gà chín cựa ngựa chín hồng mao Nem công chả phượng
Xe hơi đời mới, áo quần thời trang Con đốt cho bố mấy mỹ nhân làm hình nhân thế mạng để bố có năm thê bảy thiếp, bõ khi sống bố ăn nhịn để dành Thuốc tráng dương tăng lực viên lắc hút hít không thiếu cái gì, mùa nào thức Êy” [6; 247] Đặt sự báo hiếu trả nghĩa làm đối tượng châm biếm, đả kích là một vấn đề không mới Trước Hồ Anh Thái rất lâu, Nguyễn Công Hoan đã có
đủ “Báo hiếu trả nghĩa cha”, “Báo hiếu trả nghĩa mẹ”; Vũ Trọng Phụng đã có một vở bi hài kịch về “Hạnh phúc của một tang gia” Điểm mới của Hồ Anh Thái là dùng ngòi bút giễu nhại để lật tẩy sự đểu giả trong cái hiếu nghĩa thời hiện đại Trong những đám tang, những người sống không chỉ có hạnh phúc
mà đủ cả “ái ố hỉ nộ” Nội dung châm biếm đả kích trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng là sự bất hiếu, vô đạo ở cái thời nhố nhăng, phong hoá hủ bại mà nhà văn với vai trò xã hội của mình phải “đào tận gốc trốc tận rễ” Hồ Anh Thái đặt chúng ra ngay trong thời đại mà chúng ta đang cố sức xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nỗi xót xa mang dư vị cay đắng trong nội dung giễu nhại của Hồ Anh Thái vì thế
có phần khác hơn Có bao giờ một cô con dâu khóc thương bố chồng mà hứa trả nghĩa bố bằng “nem công chả phượng”, bằng “mấy mỹ nhân để bố có năm thê bảy thiếp”, bằng “thuốc tráng dương tăng lực viên lắc hút hít”?
Trang 36Từ môi trường gia đình đến xã hội là một bước rất ngắn của những rạn nứt, đổ vỡ và xuống cấp của các giá trị đạo đức xã hội Trong sáng tác của mình, Hồ Anh Thái đã khai thác khá triệt để một trong những vấn đề bức xúc của xã hội mà bấy lâu nay văn học Ýt đề cập hoặc né tránh là những tệ nạn xã
hội Trong Cõi người rung chuông tận thế, hiện thực đời sống của ngư dân
một bãi biển du lịch nào đó với những nhọc nhằn vất vả của nghề chài lưới, làm mắm lại được tác giả phơi lật ở những góc nhìn vừa hài hước vừa đau đớn Người đọc trước có thể cười nhưng sau đó là đau xót cho sự đổi thay ghê gớm của cuộc sống làng chài trước sự tác động của đồng tiền, của lối sống sa đọa: “Biển rũ rượi nằm lại, phập phồng thoi thóp như cô gái đồng trinh sau vụ hãm hiếp tập thể Bấy giờ mới bắt đầu giờ làm ăn của những người đàn bà làm nghề buôn hương bán phấn Thực ra thì hương chẳng có mà phấn cũng chẳng có Phần nhiều là mùi mắm muối dân chài thất thu một vụ cá, mùi mồ hôi gay gắt đồng quê hạn hán, thậm chí có cả mùi sữa vú em hoi hoi con ơi con ở lại nhà Tất cả đều được vụng về át đi bằng một thứ nước hoa rẻ tiền đồng hạng” [4; 17] Xót xa thay cho thận phận của những cô gái điếm mang nhãn hiệu ngư dân, cho những người thân trong gia đình của họ Còn đây là hình ảnh một cuộc đốt vía tập thể của những cô gái điếm Õ khách dưới con mắt của thằng Cốc là “một vũ điệu thổ dân ngoạn mục”: “Những người đàn
bà không nhìn rõ mặt, hình hài cũng chập chờn, đang đứng dạng chân trong tư thế com pa mở hai mươi lăm độ Họ cũng đốt những tờ giấy, lay lay ngọn lửa nhỏ có nốt ngân luyến láy ở cái nơi là nguồn vố tự có của một cái nghề bất chấp mọi quy luật của kinh tế thị truờng là lấy lỗ làm lãi Ngọn lửa nhấn nhá như một khúc cải lương tự sự, rồi bất chợt lao vút lên thành cao trào như viện đến sự mưa móc ban phát của trời xanh trên đầu Lửa phất phơ cười với ông trời phong tình đến đủ độ, rồi đổ xề một giọng thật đã để cầu xin sự đồng tình của đất Những tờ giấy vừa đốt lên chạy tiếp sức cho những tờ giấy đã cháy hết Vòng lửa lại cháy rừng rực, lại luyến láy phừng phừng từ nơi xuất phát
Êy, vung lên tới trời, ngoặt lối ra sau lưng để cầu xin những gì họ bỏ lại đằng
Trang 37sau…” [4; 18] Có lẽ hình ảnh những cô gái điếm trong tư thế compa hai mươi lăm độ mà tác giả gọi là “những vũ nữ kiên gan” trên bãi biển nọ đã khiến độc giả bật cười, nhưng là cái cười ra nước mắt bởi nỗi ám ảnh khôn nguôi về một hiện thực phũ phàng nơi vùng quê nghèo khó Êy Những người phụ nữ Êy vừa là tội nhân vừa là nạn nhân của một môi trường xã hội bị tha hoá Sự thật là nh vậy nhưng có điều bấy lâu nay người ta không dám hoặc không muốn thừa nhận thậm chí còn dung túng, tiếp tay cho chúng phát triển ngày một lớn mạnh Chắc có lẽ chỉ còn số Ýt người phải giật mình nghi ngờ
về sự thật của những vấn đề nhạy cảm mà Hồ Anh Thái đã đặt ra Số đông sẽ
im lặng bởi họ đã “ngấm” cái dư vị cay đắng của hiện thực xã hội Êy Cũng
nói về tệ nạn mại dâm, trong Mười lẻ một đêm tác giả viết: “Chuyện Êy ngày
nay hơi bị dễ… Hà Nội có thành ngữ chỉ những nơi hứng lên là vào thuê phòng được ngay: Ngủ Gia Lâm đâm Thái Hà, thậm chí vừa văn hoá ngủ nghê vừa văn hoá Èm thực đất Tràng An chó Nhật Tân vần Hồ Tây… nhà nghỉ mỗi ngày đổ vào xe rác cả sọt bao cao su” [10; 8] Do nhu cầu phát triển, các trung tâm kinh tế, đô thị hình thành thay thế những khu phố “lối vào nhà hẹp như đường ống dẫn dầu” kéo theo hàng loạt những vấn đề xã hội nhức nhối đặc biệt là mại dâm Điều đó dẫn đên thực tế “vỡ Gia Lâm chạy về Thái
Hà lập căn cứ địa mới, vỡ Thái Hà chạy về đường Hoàng Quốc Việt lập lại chiến khu Vỡ Hà Nội tràn ra ngoại ô, tràn về các tỉnh, cơn lũ quét qua vùng Xuân Mai, tràn xuống các ngã ba ngã tư sung sướng Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thanh Hoá Sài Gòn không vỡ thì Sài Gòn cũng vươn ra ven đô cho tới miệt vườn, Sài Gòn đi tắt đón đầu xuất khẩu công nghệ về miền viên ngọc Tây Đô, bao quát cả một vùng con nước trong về miền đông con nước đỏ Nước non đâu cũng là nhà, quê hương đâu cũng gọi là vòm chơi” [10; 9] Những vùng đất, những địa danh văn hoá của đất nước dưới ngòi bút của Hồ Anh Thái đã trở thành những cái tên gắn liền kỳ tích bất hảo, những khu ăn chơi sa đọa Lời trữ tình của một bài hát bỗng chốc trở thành điệp khúc khó quên về sự lớn mạnh như “cơn lũ quét” của tệ nạn mại dâm Đó là một thực trạng nguy cấp
Trang 38về sự xâm hại của văn hóa ngoại lai, của tệ nạn xã hội đối với văn hoá truyền thống, đến nền tảng gia đình và hạnh phúc lứa đôi Con người nhiễm thói xấu, nhanh chóng thích nghi và hình thành những thói quen sinh hoạt của xã hội hiện đại: “kiu kiu choai choai rủ nhau vào nhà nghỉ thuê phòng ngủ trưa, chưa đến tuổi có bằng lái thì chìa thẻ học sinh Bệ vệ sồn sồn thì vào gửi cái đăng
ký xe, ở khu vực nhạy cảm thì nhớ đừng quay biển số xe hơi, xe máy ra ngoài đường, nhân viên khách sạn có boa tốt còn chạy ra khoác áo cho biển số xe của khách An toàn tuyệt đối, dân chủ thuận tiện Một giờ hai giờ, một ngày hai ngày, từng đôi từng đôi ra trả phòng rã rời tơi tả hay hả hê tươi mưởi, tuỳ khả năng và tuỳ hứng Tuỳ tâm” [10; 9] Đọc những dòng này, người đọc phải bật cười bởi hình như Hồ Anh Thái đúng là “con ma xó” vì cái gì cũng biết,
cứ như thể anh là người trong cuộc Hay bởi ai mà chẳng biết vì “những vụ việc nh thế chẳng có gì độc đáo Quá đại trà” [10; 10] Có hàng tá những hệ luỵ từ những mối quan hệ thân xác, những cuộc tình “mưa bóng mây” kiểu
Êy đã được tác giả cảnh báo: giết người để trả thù tình; quay phim chụp ảnh
để làm bằng chứng tống tiền, tống tình, tống quyền lực, địa vị; để “bẫy chức, bẫy danh, bẫy ô danh” Đến nỗi mà “khách sạn nhà nghỉ thoạt nghe chỉ là cái chốn ngủ nghê hiền lành, nghe thế một hồi thì nó đã thành chốn hang hùm nọc rắn, hầm chông bẫy đá lưới trời, có kẻ được lên tiên mà cũng có kẻ xuống cõi âm, không tiên không âm thì thân bại danh liệt” [10; 11] Vậy mà trong thực tế vẫn có vô khối kẻ đặt bẫy và bị sập bẫy! Ở một khía cạnh nào đó, Hồ Anh Thái đã thẳng thắn giễu sự bất lực của chính quyền và các cơ quan chức năng trong việc xác lập trật tự xã hội ở lĩnh vực này Tất cả đều quá rõ sự thật nhưng cách hành xử mới là mấu chốt của vấn đề: “tiếng tăm những khu ăn chơi xả hơi bình dân phải đợi đến khi khét lên tận mũi lực lượng an ninh lành mạnh xã hội thì các tụ điểm mới bị rà quét Tìm và diệt Tìm được rất Ýt và diệt Ýt hơn” [10; 9] Giải thích cho cái kết quả “tìm và diệt” kém cỏi Êy là
“những nguồn giải trí chốc lát cho đàn ông không còn dám đứng tụ tập dưới những gốc cây hẻm phố những khuôn viên nữa Nơi Êy bây giờ đang là hiện
Trang 39trường của những đợt truy quét Vậy thì chị em ơi lên xe ta lên đuờng, người
có tiền thì xe máy, kẻ Ýt tiền thì xe đạp, ta không đứng gốc cây thì ta thành người tiếp thị lưu động… May là đường vắng tanh, đám gái làm tiền lưu động hoảng hồn lẩn ngay khỏi nơi dễ bị chôm làm nhân chứng, đám cảnh sát thì không có mặt ở con đường vắng, như thể đã thoả thuận bỏ ngỏ cho chị em làm ăn” [4; 92, 99]
Cùng với mại dâm là những tệ nạn xã hội khác được tác giả chỉ ra bằng cái nhìn không mấy lạc quan dù anh đã cố gắng diễn tả chúng bằng sự hài hước, trào tiếu Đây là một phần trong văn hóa và lối sống của giới trẻ những năm cuối thế kỷ XX: “Rồi sẽ tới lúc người ta không hình dung nổi chuyện những năm đầu thập niên thứ chín của thế kỷ XX có một lũ thanh niên choai choai phóng xe máy như mất trí trên những đường phố hẹp đủ mội thành phần
xe cộ Đường hẹp thì mặc đường hẹp, đây là thời đại của tốc độ Ăn uống thì
có đủ mọi thứ ăn liền, học hành và công việc thì có đều có lối đi tắt, vui chơi giải trí thì đều có thứ tàu nhanh, yêu thì cũng là thứ tình yêu tốc độ, đã được đảm bảo bằng tự do cá nhân và bao cao su OK nhà vô địch cùng thuốc tránh thai choice… chúng lạng lách, chúng đánh võng, chúng cướp đường, chúng
xô người đi đường ngã chết ngay tại chỗ Tốc độ thôi chưa đủ, thanh niên cần những Ên tượng mạnh đánh thẳng vào màng nhĩ và tròng mắt… tất cả các tay đua đều giật hết phanh trước phanh sau ra, đội lên đầu một vành khăn trắng coi như đã vĩnh biệt mẹ để thanh thản lao vào cuộc tỉ thí Ngồi đằng sau chúng cũng là những đứa con gái choai choai, đầu cũng chít khăn trắng bày tỏ
ý chí đồng quyết tâm, những cổ động viên đắc lực và cuồng nhiệt bậc nhất” [4; 84, 85] Dù Hồ Anh Thái đã cảnh báo sự thật khó tin này nhưng nó vẫn xảy ra và thậm chí ngày càng phổ biến hơn bởi “máu chỉ càng làm say máu, tai nạn chỉ càng thêm màu sắc mạo hiểm và iêng hùng… cảnh sát rượt đuổi và lùng bắt càng khiến chúng kiêu hãnh vì tự coi là những phần tử ngoài vòng pháp luật…” [4; 86]
Trang 40Thông qua cái nhìn giễu nhại, Hồ Anh Thái đã phơi bày một thực trạng đáng báo động về tệ nạn xã hội và những cạm bẫy, những nguy cơ làm băng hoại những giá trị tốt đẹp giữa con người với con người trong quan hệ gia đình, cộng đồng, đẩy con người tới sự tha hoá, biến dạng Nhưng có lẽ điều sâu xa mà tác giả muốn nhấn mạnh ở đây là nguyên nhân dẫn tới thực trạng
Êy Chính con người chứ không phải ai khác, bằng cách này hay cách khác,
vô tình hay cố ý đã và đang tạo ra những cạm bẫy hiểm nguy từ sự vô cảm, vô trách nhiệm, thói Ých kỷ và lối sống buông thả, sa đọa
2.1.2 Những xác tín bị nghi ngờ, những chuẩn mực bị mất giá
Hồ Anh Thái tập trung phơi bày những bức xúc trong quan hệ gia đình, những tệ nạn xã hội được coi là những nguy cơ biến dạng và tha hóa của nhân cách con người Bên cạnh đó, không Ýt lần nhà văn còn hướng ngòi bút của mình tới một đối tượng khác là những xác tín, những chuẩn mực mà qua cái nhìn giễu nhại của anh, nó trở nên mất giá hoặc đáng ngờ
Trước hết, Hồ Anh Thái đặt ra những hoài nghi về con đường đạt đến
sự đốn ngộ của chúng sinh trong kiếp tu hành theo giáo lý nhà Phật Không
Ýt lần tác giả đã làm cho người đọc phải ngỡ ngàng về những phát hiện của mình Khi triết lý về sự khôn dại của con người trong cõi nhân sinh, Hồ Anh Thái đã nhại lại chính sự lọc lõi của người đời trong cái triết lý “khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống” bằng việc nhấn mạnh “Chỉ có kẻ biết là sống Nhưng biết được rồi, giác ngộ được rồi, thì không chết nhưng sống khổ sống sở về tinh thần” [4; 53, 54] Ngay đến đức Phật cũng cô đơn, cũng đáng thương chẳng kém chúng sinh ở giữa cõi khổ ải này Nhà văn đã viết: “Những năm tháng lênh đênh trên biển tôi đọc nhiều sách Phật Đọc xong tôi chỉ thấy thương Ngài Ngài giác ngộ năm ba mươi lăm tuổi, bốn mươi lăm năm sau
đó, Ngài phải sống giữa cõi người tôn sùng Ngài, kính phục Ngài, tin theo Ngài nhưng không chắc đã hiểu Ngài Ngài cô đơn và đáng thương là ở chỗ Êy” [4; 54] Sự nghiệt gã của cuộc đời chính là lúc con người đã ngộ ra tất cả
nhưng vẫn không thể thoát khỏi vòng luân hồi, bể khổ Trong Cõi người