1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường thpt (vận dụng qua chương trình lớp 10- chương trình chuẩn)

129 779 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 580,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tính tổng thể các phương pháp, biện pháp sư phạm nhằm kíchthích niềm say mê, hứng thú học tập bộ môn và theo đó góp phần nâng caochất lượng dạy học bộ môn lịch sử, thì vấn đề sử dụ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Có lẽ chưa bao giờ, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt làdạy học lịch sử ở trường THPT lại được đặt ra gay gắt và chiếm được sựquan tâm đặc biệt của xã hội như hiện nay Như một lụgic tất yếu, chất lượngdạy học của bộ môn lịch sử không thể nâng cao nếu như cả người dạy vàngười học đều không hứng thú với môn học, mọi phương pháp, mọi đổi mới,mọi sự vận dụng các phương tiện dạy học hiện đại vào dạy học đều bị hạnchế tác dụng nếu người học vẫn thờ ơ với môn học

Làm thế nào để học sinh hứng thú với môn học, yêu thích môn học, tìmthấy ở đó niềm say mê khám phá những tri thức của lịch sử xã hội loài người,điều đú luụn là những câu hỏi lớn đối với đội ngũ những người làm công tácnghiên cứu và giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường THPT hiện nay, không chỉtrong nhận thức lý luận mà còn bằng hoạt động thực tiễn trong dạy học

Trong tính tổng thể các phương pháp, biện pháp sư phạm nhằm kíchthích niềm say mê, hứng thú học tập bộ môn và theo đó góp phần nâng caochất lượng dạy học bộ môn lịch sử, thì vấn đề sử dụng ngôn ngữ dạy học cómột vị trí đặc biệt quan trọng, bởi đây là một trong những nguồn cung cấpkiến thức chủ yếu cho học sinh

Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là vỏ của quá trình nhận thức, làchiếc cầu nối của quá trình dạy học, nói như TS Kiều Thế Hưng: Người giáoviên như người lái đũ trờn dòng sông thời gian, mà con đũ chớnh là ngônngữ Cùng với con đò giàu biểu cảm và sáng tạo ấy, người thầy sẽ đưa cácthế hệ học trò của mình đến bến bờ lịch sử xa xôi, nhưng đầy hấp dẫn và thú

vị để hình thành ở họ những phẩm chất tốt đẹp của con người trong xã hộimới, những hành trang không thể thiếu trên con đường đi tới tương lai

Không thể có một bài học lịch sử có chất lượng nếu như việc sử dụngngôn ngữ thiếu chất lượng, khô cứng, sáo mòn, thiếu khả năng kích thíchhứng thú và niềm say mê, sáng tạo của học sinh Chúng ta có thể có nội dung

Trang 2

dạy học tốt, có phương pháp dạy học phù hợp, có hệ thống phương tiện dạyhọc hiện đại, nhưng tất cả điều đó đều kém hiệu quả rất nhiều nếu nó khôngđược chuyển tải và vận hành qua hệ thống ngôn ngữ giàu biểu cảm.

Vai trò của ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ trong dạy học lịch sử nóiriêng rất quan trọng, nhưng lâu nay chưa được các nhà nghiên cứu quan tâmđúng mức Vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt, tập trungnào đề cập đến vấn đề quan trọng này, xuất phát từ thực tế trên đây và kinhnghiệm dạy học ở trường THPT, chúng tôi mạnh dạn đi sâu vào vấn đề ngônngữ trong dạy học lịch sử

Tuy nhiên, do ngôn ngữ trong dạy học là một vấn đề lớn, bao gồmnhiều nội dung và được thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau, trong phạm vicủa luận văn, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một trong những nội dung đượccoi là nhân tố máu thịt của nó- đó là tính biểu cảm của ngôn ngữ

Tính biểu cảm của ngôn ngữ là gỡ? Nú cú vai trò quan trọng như thếnào trong dạy học lịch sử? Cần phải sử dụng các biện pháp sư phạm như thếnào để ngôn ngữ trong dạy học lịch sử thể hiện được sức sống của nó trongviệc góp phần vào tích cực vào việc nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, từ đónâng cao chất lượng dạyhọc lịch sử ở trường THPT Đó là những lý do cơ

bản để chúng tôi lựa chọn đề tài: Một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường THPT (vận dụng qua chương trình lớp 10- chương trình chuẩn) Sự thành công

của đề tài khẳng định ý nghĩa của biện pháp sư phạm, thao tác sư phạm vềviệc sử dụng ngôn ngữ, góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Cho đến nay, trong những công trình nghiên cứu về lý luận dạy học,phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học lịch sử nói riêng củacác Nhà giáo dục học và giáo dục lịch sử đã đề cập đến vấn đề quan trong này

ở các góc độ và mức độ khác nhau Có thể tóm lược ở mấy loại sau đây:

Trang 3

* Loại thứ nhất: Là các tài liệu của Hồ Chí Minh và các bài viết vềcách sử dụng ngôn ngữ của chủ tịch Hồ Chí Minh:

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất coi trọng ngôn ngữ và trong dạy

học, trong cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 2”: Qua những bài giảng cho

lớp tập huấn chính trị Quảng châu 1925-1927, chúng ta có thể học đượcPPDH của Người và đặc biệt là học tập được cách sử dụng ngôn ngữ giảngdạy của của chủ tịch Hồ Chí Minh qua các bài “Cuộc cách mạng tư sảnPhỏp”, “Cuộc cách mạng tư sản Mỹ”, “Cuộc cách mạng Nga” [12]

Khi nghiên cứu các tác phẩm của Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu

đã tập trung đi sâu vào vấn đề ngôn ngữ, trong số đó phải kể đến cuốn

“Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” do GS Đặng Xuân Kỳ (chủ

biên) [18], tác giả đã đề cao phong cách diễn đạt của chủ tịch Hồ Chí Minh

đó là: Có sự kết hợp hài hoà cái dân gian và cái bác học, cái cổ diển và cáihiện đại, giữa phong cách phương Đông và phong cách phương Tây để tạo rasức cuốn hút mạnh mẽ với người nghe

Khi nghiên cứu tác phẩm Hồ Chí Minh, chúng ta không thể không

nhắc tới tác phẩm “Hồ Chí Minh tác gia tác phẩm nghệ thuật ngôn từ” của

nhà xuất bản giáo dục Thông qua những bài viết, các tác giả đã phân tích

để thấy sự sáng tạo trong cách sử dụng ngôn từ của chủ tịch Hồ Chí Minh

cả trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, tác giả Nguyễn Kim Thản đã đánhgiá đó là: di sản về ngôn ngữ Giá trị ngôn ngữ mà chủ tịch Hồ Chí Minhsáng tạo ra dựa trên cơ sở ngôn ngữ truyền thống dân tộc và mối giao lư uquốc tế và nhấn mạnh: “Một người không tạo ra được ngôn ngữ Nhưng cóngười thông qua việc sử dụng ngôn ngữ, nhất là thông qua sự sáng tạo củamình về sử dụng từ ngữ, về cách diễn đạt, v v có thể đóng góp cho sựphát triển của ngôn ngữ, thậm chí có thể ảnh hưởng lớn đến chiều hướngphát triển của ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một người nhưthế” [13, 72]

Trang 4

* Loại thứ hai: Là các tài liệu giáo dục học, tâm lý học:

Nhà giáo dục học A.T.Ilina đã nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố

ngôn ngữ, trong cuốn: “Giỏo dục học” Tác giả đã viết: Rất nhiều những kích

thích bằng lời, một mặt đẩy chúng ta vào thực tế, vì thế chúng ta phải ghinhớ điều đó để không làm sai lệch quan điểm của chúng ta đối với thực tế.Mặt khác, chính ngôn ngữ làm cho chúng ta trở thành người [17.185]

Trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề”, tác giả I.Lecne đánh giá cao hình

thức “Trỡnh bày nêu vấn đề”, coi đó là hình thức để khai thác tiềm lực sángtạo của học sinh, tạo ra hứng thú trong việc tìm tòi, sáng tạo của các em vàđặt ra yêu cầu nêu vấn đề của giáo viên qua cách trình bày miệng

Khi nói về các biện pháp nâng cao hiệu quả giờ học, Nhà giáo dục học

N.V.Savin trong cuốn “Giáo dục học”, Tập 1, đã nhấn mạnh công cụ quan

trọng và phổ biến của dạy học là lời nói: “Việc dạy học là một nghệ thuật,không nên nghĩ rằng chỉ có một số người có thể nắm được nú…Lời núi củagiáo viên là công cụ dạy học dễ hiểu nhất và phổ biến nhất” [28.171]

Còn tác giả I.F.Kharlamốp trong cuốn “Phỏt huy tính tích cực học tập

của học sinh như thế nào?” đã đánh giá cao kích thích bên trong của học

sinh và nhấn mạnh đến nghệ thuật dạy học để tạo cho học sinh hứng thú họctập và khẳng định: “Chớnh đó là nghệ thuật của sự giảng dạy” [19]

Đối với quá trình nhận thức: PGS.TSKH Thái Duy Tuyên trong cuốn

“Giỏo dục học hiện đại” Để thực hiện điều có hiệu quả kế hoạch bài giảng,

giáo viên phải dự kiến cả ngôn ngữ, ngôn từ, tốc độ hành động, phong cáchthích hợp để tạo hứng thú cho học sinh khi nghe giảng

Cuốn 2 “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sỏch giỏo

khoa” tác giả Trần Bá Hoành [9] đã nêu ra đã nêu lên những lý luận cơ bản

định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy học, qua đó các tác giả chútrọng tới tâm lý lứa tuổi, phương pháp dạy học trong đó nhấn mạnh tớiphương pháp trình bày miệng, các hoạt động kích thích hứng thú học tậplịch sử của học sinh, những yêu cầu cần thiết để trở thành giáo viên giỏi,

Trang 5

theo tác giả: cần có vốn kiến thức sâu rộng về điều mình dạy, có kỹ năngtruyền đạt tốt

Cuốn “Lý luận giáo dục” của Phan Thanh Long (Chủ biên) – Trần

Quang Ấn - Nguyễn Văn Diện [26], khi đưa ra việc phân loại các phương

pháp giáo dục, các tác giả đã đánh giá cao về ý nghĩa của những phươngpháp dùng lời trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh

Cuốn giáo trình “Tâm lý học đại cương” của tác giả Nguyễn Xuân

Thức (Chủ biên) [32] đã nêu lên các dạng hoạt động ngôn ngữ, tác giả chỉ rõ

những yêu cầu đối với việc trình bày miệng của giáo viên Trong đó có nhấnmạnh yêu cầu phải có tính truyền cảm và khẳng định vai trò của ngôn ngữvới việc tưởng tượng của học sinh

Cuốn “Dạy học hiện đại, lý luận và biện pháp kỹ thuật” của tác giả

Đặng Thành Hưng [16], đã nêu lên những phương pháp dạy học cụ thể trong

quá trình dạy học, trong đó có nhấn mạnh tới những phương pháp và kỹ năngcủa ngôn ngữ như cấu trúc ngữ pháp ra sao, phát ngôn diễn cảm như thếnào? Tác giả đi sâu vào mô hình và kỹ năng thảo luận, nhất là thảo luậnnhóm- một hình thức dạy học khá phổ biến hiện nay, cách đặt vấn đề củagiáo viên phải khuyến khích học sinh bộc lộ được hiểu biết cá nhân củamình, vì vậy giáo viên phải biết lựa chọn những ngôn ngữ và cách trình bày

dễ hiểu

* Loại thứ ba: Các công trình về: Phương pháp dạy học lịch sử và

Ngôn ngữ học

Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào ?” của N.G.Đairi,

tác giả đã chỉ rõ yếu tố “Nhịp độ trình bày của thầy giáo phải đúng mực…nhịp độ của lời giảng còn ảnh hưởng đến thái độ của học sinh” [7], điều này

có ý nghĩa quan trọng trong phương pháp trình bày miệng của giáo viên,nhằm thực hiện mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển tư duy họcsinh

Trang 6

Trong cuốn: Giáo trình “phương pháp dạy học lịch sử” của GS.TS

Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị (đồng Chủ biên) đã nhấn mạnh vai trò quan

trọng của ngôn ngữ giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh trở về với quá khứ lịch sử,tạo được biểu tượng rõ ràng, cụ thể về một sự vật, biến cố lịch sử… giúp họcsinh biết suy nghĩ, tìm tòi, rút ra kết luận, hình thành khái niệm nhằm tìmhiểu bản chất của sự vật, quy luật của quá trình phát triển, tác giả viết “Lờinói nhiệt tâm, chân thành làm tăng tác dụng giáo dục” [ 23, 126] và luôn đềcập, nhấn mạnh vai trò đặc biệt của phương pháp trình bày miệng

Cuốn “Cỏc con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở

trường phổ thụng” của PGS.TS Nguyễn Thị Côi [4] Trong đó trình bày cụ

thể các vấn đề lý luận và có những bài minh hoạ về biện pháp sư phạm đểnâng cao hiệu quả bài học lịch sử, và nêu rõ yêu cầu khi trình bày nội dungphải: Ngắn gọn, xỳc tớch, cụ thể, dễ hiểu, không rườm rà, nhiều tên riờng,tờn nước ngoài, đõy cũng là nguyên tắc trong việc sử dụng ngôn ngữ tronggiảng dạy lịch sử ở trường phổ thông

Cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”- Tập 1, 2 của GS.TS

Phan Ngọc Liên (Chủ biên) - PGS.TS Trịnh Đỡnh Tựng - PGS.TS Nguyễn Thị Côi Trên cơ sở phân tích đối tượng chức năng, nhiệm vụ của phương

pháp dạy học lịch sử, đặc trưng của bộ môn để xác định hệ thống phươngpháp dạy học lịch sử ở trường THPT, trong đó nhấn mạnh: Việc sử dụng lờinói sinh động góp phần quan trọng vào việc giải quyết các nhiệm vụ của dạyhọc lịch sử ở trường phổ thông, đõy là những cơ sở lý luận và và những kỹnăng nghiệp vụ cơ bản để thực hiện đề tài

Trong cuốn“Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử lịch sử” (một số

chuyên đề) là một gợi ý quan trọng về phương hướng đổi mới PPDH lịch sử,

các chuyên đề đều đưa ra các biện pháp sư phạm và nhấn mạnh hiệu quả bàihọc không những cần đáp ứng tính khoa học của nội dung bài học vừa phảiđảm bảo tính vừa sức của học sinh

Trang 7

Trong “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học

cơ sở” của PGS TS Trịnh Đỡnh Tựng (chủ biên) - Trần Viết Thụ- Đặng Văn

Hồ đã nêu ra biện pháp sư phạm cụ thể cho việc sử dụng lời nói trong đoạn

tường thuật, miêu tả, giải thớch…

Những nội dung cơ bản viết trong chuyên khảo “Rốn luyện kỹ năng,

nghiệp vụ sư phạm” PGS.TS Nguyễn Thị Côi (chủ biên)- Trịnh Tùng- Lại Đức Thụ-Trần Đức Minh, tuy không phải là sách hướng dẫn cụ thể về nghiệp

vụ sư phạm, song tạo cơ sở cho giáo viên lịch sử ở trường phổ thông có kỹnăng và hướng sáng tạo trong dạy học lịch sử Cuốn sách đã đề cập sâu sắcđến vai trò và ý nghĩa của diễn đạt núi, nờu yêu cầu cơ bản của kỹ năng diễnđạt nói, cách diễn đạt trong một số trường hợp trình bày cho học sinh, biệnpháp rèn luyện kỹ năng diễn đạt nói

Trong các cuốn sách hướng dẫn trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa do

PGS TS Nguyễn Thị Côi (Chủ biên), cuốn hệ thống các câu hỏi tự luận và

trắc nghiệm do PGS TS Trịnh Đỡnh Tựng (chủ biên) đó giỳp cho giáo viên

và học sinh có những thuận lợi trong phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏitrong giờ hoc lịch sử

Trung tâm từ điển học điển học và Hội sử học Việt Nam- khoa Lịch sử

trường ĐHSP Hà Nội đã xuất bản cuốn “ Từ điển Tiếng Việt” và “Từ điển

Thuật ngữ lịch sử” [11] giúp tác giả luận văn giải thích các khái niệm, thuật

ngữ chính xác và mang tính hình ảnh

Cuốn “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tõm” của

Hội giáo dục lịch sử, khoa sử trường ĐHSP Hà Nội là một gợi ý về mặt lý

luận việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, tác giả Trần Đức Minh đãnêu rõ vai trò của việc sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh và đặc biệt học tậpphong cách, ngôn ngữ của chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phát triển năng lực tưduy của học sinh trong DHLS

Cuốn giáo trình “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Bùi Tất Tươm

(chủ biên) đã đưa ra những cơ sở lý luận về ngôn ngữ, tính biểu cảm của

Trang 8

ngôn ngữ, đõy là những kiến thức cơ sở về ngôn ngữ học, đặc biệt cuốn sáchcòn khái quát toàn bộ những biện pháp tu từ trong tiếng Việt và nhữngphong cách chính trong sử dụng ngôn ngữ.

Cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” của tác giả Đinh

Trọng Lạc, đã giới thiệu và phân biệt rõ 5 “phương tiện” và 5 “biện pháp tu

từ” trong tiếng Việt

Cuốn “Phong cách học tiếng Việt” cũng tác giả: Đinh Trọng Lạc ngoài

việc giới thiệu về phong cách tiếng Việt nói chung, tác giả đã nhấn mạnh đếnchức năng của hoạt động lời nói mang phong cách khoa học Tác giả chú ýtới ba đặc trưng của phong cách này là: tính trừu tượng- khái quát cao; tớnh

lụ gớch nghiêm ngặt; tính chính xác khách quan

Trong cuốn “Những bài giảng về ngôn ngữ học đại cương”, tập 1 (mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy), tác giả Nguyễn Lai đã nêu ra mối quan

hệcủa các chức năng của ngôn ngữ

Tác giả Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) cuốn “Văn miêu tả trong nhà

trường” đã nêu lên những biện pháp chủ yếu và những yêu cầu của văn miêu

tả, tác giả nhấn mạng đến mối liên hệ của miêu tả và tưởng tượng

Cố GS Vũ Dung và các tác giả Vũ Thuỵ Anh, Vũ Quang Hào với cuốn

“Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam”, đã tập hợp được những thành

ngữ, tục ngữ, những câu ca dao, dân ca giúp cho việc sử dụng trong lĩnh vựcnày một cách có hiệu quả nhằm nâng cao tính biểu cảm cảu ngôn ngữ DHLS

Công trình của tác giả Hoàng Anh: “Một số vấn đề sử dụng ngôn ngữ

bỏo chớ” tác giả viết: “Tớnh biểu cảm của ngôn ngữ gắn với sử dụng từ ngữ,

lối nói mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân, và do đó hấp dẫn hay ítnhất cũng gây ấn tượng với độc giả [1.23]

Trong cuốn “ Hệ thống thao tác trong dạy học lịch sử ở trường trung

học phổ thụng” của tác giả Kiều Thế Hưng đã khẳng định “Ngụn ngữ là

nhân tố tất yếu trong dạy học, bởi vì lời nói là nguồn cung cấp kiến thức chủyếu và sử dụng lời nói là một phương tiện rất quan trọng để truyền thụ kiến

Trang 9

thức… Ngôn ngữ trong dạy học lịch sử phải chính xác, để trình bày sự kiệnđúng như nó tồn tại, nhưng điều quan trọng là nó phải hàm chứa được trong

đó hơi thở của thời đại và sức sống của hiện thực” [14- 57] Từ đó tác giả đề

ra những nội dung chủ yếu của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử: “Âm lượngtrong ngôn ngữ tuy có phụ thuộc lớn vào yếu tố bẩm sinh, nhưng chủ yếu doquá trình rèn luyện của người sử dụng nú” [14- 60]; Âm sắc và ngữ điệutrong ngôn ngữ dạy học lịch sử được tác giả đánh giá “Âm sắc và ngữ điệutrong ngôn ngữ dạy học phải nhằm hỗ trợ trong việc dạy học được truyềncảm hơn, sinh động hơn và thực hiện những yêu cầu dạy học xác định” Tuynhiên, trong dạy học ngôn ngữ, các động tác sư phạm, tư duy tri thức lịch sử

có quan hệ chặt chẽ với nhau như một thể thống nhất “Tri thức nào thì ngônngữ ấy và động tác ấy”

Ngoài ra còn có nhiều chuyên khảo đề cập tới nghiệp vụ sư phạm vàcác bài đăng trờn cỏc Tạp chí Giáo dục, khoá luận tốt nghiệp của đồng

nghiệp, một số cuốn Tài liệu bồi dưỡng chu kỳ cho giáo viên 1997-2000; Bồi

dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT [2], việc thực hiện chươngtrình SGK lớp 10, năm 2006 nhấn mạnh việc đổi mới phương pháp dạy họclịch sử

Để tiến hành phần thực nghiệm sư phạm chúng tôi cần nhiều các tàiliệu giáo trình “Lịch sử thế giới cận đại”[27], SGK [3], Tư liệu lịch sử 10[31], Sử dụng kờnh hỡnh lịch sử trung học cơ sở (Phần lịch sử thế giới) củaPGS TS Trịnh Đỡnh Tùng (chủ biên), cuốn “Tỡnh bạn vĩ đại và cảm động”của L Vớtgốp và I.A Xukhụtin là những tư liệu để chúng tôi tham khảo vàgiảng dạy trực tiếp các bài dạy thực nghiệm

Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến ngôn ngữ và ngônngữ dạy học lịch sử, có thể thấy vấn đề ngôn ngữ không phải là vấn đề cònmới mẻ trong dạy học nói chung và trong dạy học lịch sử nói riêng, tuy nhiênchưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt và tập trung vào vấn

đề này, Đặc biệt chưa có công trình nào đi sâu vào tính biểu cảm của ngôn

Trang 10

ngữ trong dạy học lịch sử Vì thế có thể coi đề tài: Một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (Vận dụng qua chương trình lịch sử lớp 10- chương trình chuẩn) là một đề tài mới mẻ.

Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung, chuyên biệt vềvấn đề này, nhưng vấn đề ngôn ngữ trong dạy học nói chung và dạy học lịch

sử nói riêng được thể hiện trong các công trình nói trên là những cơ sở quantrọng giúp chúng tôi trong việc tìm hiểu và đi sâu nghiên cứu đề tài này

3 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Trên cơ sở xác định và nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của ngônngữ trong dạy học lịch sử và một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tínhbiểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

Đề tài này có mục đích cơ bản là: Tìm hiểu cơ sở khoa học, xác định nộidung, bản chất và biện pháp sư phạm để nâng cao tính biểu cảm của ngônngữ trong dạy học lịch sử, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy họclịch sử và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Một số biện pháp sư phạm nhằmnâng cao tính biểu cảm trong ngôn ngữ dạy học lịch sử ở trường THPT Đốitượng này gồm các vấn đề cụ thể do nội dung của đề tài đặt ra đó là: Sự cầnthiết, cơ sở khoa học, những khái niệm cơ bản, nội dung và các biện pháp sưphạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học lịch sử ở trườngTHPT

5 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Xuất phát từ mục đích, đối tượng nghiên cứu, đề tài nàycú những nhiệm

vụ cơ bản sau đây:

5.1 Từ lý luận giáo dục học, tâm lý học, phương pháp dạy học lịch sử,xác định sự cần thiết tất yếu cũng như vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của

Trang 11

ngôn ngữ nói chung, tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học lịch sử nói riêngtrong dạyhọc lịch sử hiện nay ở các trường THPT

5.2 Trên cơ sở lý luận và điều tra thực tế xác định rõ những khái niệm,những nội dung, những yêu cầu cơ bản của tính biểu cảm trong ngôn ngữdạy học lịch sử ở trường THPT

5.3 Xây dựng hệ thống các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểucảm của ngôn ngữ DHLS ở trường THPT

5.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xác định tính đúng đắn khoahọc và khả năng thực hiện các biện pháp sư phạm đề ra

5.5 Rút ra những khái quát lý luận, những quan điểm khoa học về tínhbiểu cảm và các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngônngữ dạy học lịch sử ở trường THPT

6 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp luận:

Dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng HồChí Minh và quan điểm của Đảng ta về khoa học giáo dục và khoa học lịch

sử để thực hiện nghiên cứu đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu:

6.1.1 Từ lí luận giáo dục học, tâm lý học, phương pháp dạy học lịch sử,xác định sự cần thiết, vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc sử dụngngôn ngữ ở trường trung học phổ thông hiện nay

6.1.2 Các phương pháp nghiên cứu của khoa học giáo dục:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, hệ thống, khái quát

những tài liệu có liên quan

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp quan sát: Quá trình dạy học của một số trường THPTtrên đại bàn thực nghiệm

+ Phương pháp điều tra: Dùng phiếu điều tra với hệ thống câu hỏi đóng

và mở để khảo sát thực trạng việc sử dụng các biện pháp sư phạm nhằm

Trang 12

nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học lịch sử ở một số trường THPTtrên địa bàn tỉnh Hoà Bình, tỉnh Hưng Yên và thành phố Hà Nội.

+ Phương pháp thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm trong thực tế nhữngbiện pháp sư phạm đề xuất

+ Phương pháp trao đổi, phỏng vấn để tìm hiểu quan niệm và thực trạngviệc sử dụng ngôn ngữ ở trường THPT

+ Phương pháp thống kê toán học: Thống kê số liệu điều tra, kết quả họctập làm căn cứ khẳng định tính khả thi, độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm nhằm rút bài học và đề xuấtnhững kiến nghị

7 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Ngôn ngữ trong dạy học là vấn đề lớn và là một trong những nội dungquan trọng của hoạt động dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng.Tuy nhiên đề tài này chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu một trong nhữngnội dung quan trọng của ngôn ngữ trong dạy học- Đó là tính biểu cảm củangôn ngữ trong dạy học lịch sử, đõy là một trong những yếu tố quyết định đểnâng cao chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng ngôn ngữ trong dạy họclịch sử ở trường THPT Trong đó các vấn đề về khái niệm, những yêu cầu cơbản, nội dung và biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngônngữ trong dạy học lịch sử là những nội dung được nghiên cứu trực tiếp vàchuyờn sõu trong đề tài này

8 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Ngôn ngữ nói chung, tính biểu cảm của ngôn ngữ nói riờng, cú một vịtrí đặc biệt quan trọng trong ngôn ngữ dạy học lịch sử Với việc hiểu đúngđắn về vị trí, nội dung và tính biểu cảm của ngôn ngữ, đặc biệt là việc xâydựng các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữtrong dạy học lịch sử sẽ giúp người giáo viên có được một công cụ hữu hiệu,tạo cơ sở khoa học cho việc triển khai một bài học lịch sử hấp dẫn sinh động,góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trườngTHPT hiện nay

Trang 13

9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm cóhai chương với các nội dung chủ yếu sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của các biện pháp sư phạm

nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học lịch sử ở trường THPT.

Chương 2 Những biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm

của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

Trang 14

1.1.1 VỀ TÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ

Trong cuộc sống con người có nhiều hệ thống phương tiện để giao tiếp,song ngôn ngữ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất, “Ngụn ngữ là vỏ vậtchất của tư duy” Một trong những tác dụng quan trọng nhất của ngôn ngữ làcung cấp thông tin, cung cấp tri thức, không có thông tin, không có tri thức,không thể có quá trình nhận thức Nhà ngôn ngữ học F de Saussra nhấnmạnh: Ngôn ngữ là tổng thể hai mặt không thể tách rời, đó là cái biểu đạtnhư ý niệm, khái niệm về sự vật- hiện tượng, là nội dung cần biểu đạt và cáibiểu đạt như thái độ đánh giá, tình cảm, âm thanh- hay đó là hình thức biểuđạt nội dung

Ngôn ngữ luôn gắn chặt với hoạt động thực tiễn và nhận thức tạo nên

ba mặt khép kín, do đó, để sử dụng ngôn ngữ có hiệu quả chúng ta luôn phảitrả lời được các câu hỏi đó là: Biểu đạt cái gì? Cho ai? Dưới hình thức nào?Nhờ có ngôn ngữ mà nội dung cần thiết được trao đổi có thể được cảm nhận,được hình dung trực tiếp bằng tư duy với nhiều cung bậc và sắc thái khácnhau, một trong những sắc thái đem lại hiệu quả cao của ngôn ngữ đó là sắcthái biểu cảm của ngôn ngữ

Theo từ điển Tiếng Việt “biểu cảm” là biểu hiện tình cảm, cảm xúc

[35- 63], như vậy: Tính biểu cảm thể hiện cả ở hai dạng của lời nói đó làdạng nói và dạng viết Tuy nhiên nếu so sánh sự khác nhau, các nhà ngônngữ đã rút ra có 3 điểm khác nhau đó là:

Trang 15

Thứ nhất: dạng núi dựng âm thanh, ngữ điệu còn dạng viết dùng chữ cái, dấu thanh, dấu câu.

Thứ 2: Dạng nói thường hướng vào tri giác, phản ứng nhanh của người nhận nên thường kèm theo các phương tiện của ngôn ngữ là cử chỉ,

nét mặt, dáng điệu còn dạng viết không có những chức năng sử dụng các

phương tiện này.

Thứ 3: Dạng nói dễ biểu hiện thái độ đánh giá, cảm xúc, tình cảm còn dạng viết có hình thức gọn nhẹ, hoàn chỉnh.

Kết quả nghiên cứu trên của các nhà ngôn ngữ đã chỉ ra: Trong ngônngữ thì dấu hiệu hình thức của tín hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng mang sắc tháitâm lý, nờn chỳng rất cơ động để thích nghi với chức năng tạo nghĩa củamình Đó là cơ sở quan trọng để chúng ta lựa chọn cách thức sử dụng chứcnăng ngôn ngữ nói So với dạng viết, dạng ngôn ngữ nói dễ dàng thực hiệncác chức năng của phương tiện ngôn ngữ như: Thể hiện thái độ đánh giá,tình cảm, cảm xỳc…nhằm thực hiện mục tiêu giao tiếp đạt hiệu quả Các nhàngôn ngữ học đã nhấn mạnh đến các biện pháp tu từ, nhằm tạo ra phần nội

dung bổ sung của phương tiện ngôn ngữ, đú chớnh là sắc thái tu từ “Sắc

thái tu từ chỉ rõ thái độ đánh giá, tình cảm của người sử dụng là sắc thái biểu cảm” [34- 101]

Như vậy Tính biểu cảm của ngôn ngữ là hình thức biểu đạt nội dung

thông tin thông qua sắc thái tình cảm nhằm thực hiện đạt hiệu quả cao trong giao tiếp

1.1.2 VỀ TÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ DẠY HỌC

Từ định nghĩa trên và dựa vào đặc trưng của quá trình dạy học, chúng

tôi mở rộng nội hàm của khái niệm về tính biểu cảm trong quá trình dạy

học, một cách chung nhất, có thể hiểu tính biểu cảm trong quá trình dạy học

là: Cách biểu đạt để làm nổi bật những nét tinh tế nhằm phân biệt sự vật về

cơ bản giống nhau về thái độ đánh giá, tình cảm, cảm xúc về sự vật- hiện

Trang 16

tượng của giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục vàphát triển của học sinh

Trong quá trình dạy học, ngôn ngữ là một trong những nhân tố tất yếugiúp học sinh nhận thức cái mới, khác với nhận thức của nhà nghiên cứu,quá trình nhận thức cái mới của học sinh là một quá trình nhận thức đặc biệt

“Học sinh nhận thức cái mới chủ quan, nghĩa là chỉ mới với họ mà thụi”,chớnh vì vậy không thể thiếu được vai trò ngôn ngữ dạy học của người thầy.Theo nhà giáo dục học A I Ilina: “Giỏo viờn sắp xếp tài liệu sách giáo khoabằng một cách đặc biệt, nếu cần thì bổ sung, đính chính hoặc rút ngắn đểtrình bày nó bằng một ngôn ngữ giản dị và dễ hiểu hơn” [18- 12]

Rõ ràng, nếu học sinh không có những xúc cảm, không cảm nhận đượcnhững tư tưởng tình cảm thì không thể hiểu rõ bản chất của sự vật- hiệntượng, không thể phân tích, đánh giá sự vật- hiện tượng Theo các nhà phongcách học: “Chớnh thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện

bổ sung lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nộidung cơ bản và nhất là mục đích và ý nghĩa của lời núi” [22- 114]

Như vậy, ngôn ngữ đặc biệt là ngôn ngữ mang tính biểu cảm là cầu nốigiữa hoạt động dạy học và hoạt động nhận thức, nó định hướng cho hoạtđộng nhận thức làm cho hoạt động nhận thức có tính kế thừa Song, khôngphải vì thế mà hoạt động nhận thức mất đi tính sáng tạo, các nhà tõm lớ học

Xô Viết cũng đã phân tích: các hoạt động lĩnh hội tri thức đòi hỏi có mộtbước tiến tương ứng của tư duy, tạo ra điều kiện bên trong mới cho việc lĩnhhội tri thức tiếp theo

Ngôn ngữ có chức năng xã hội đặc biệt, vì vậy hoạt động ngôn ngữmang tính biểu cảm luôn xảy ra trong những bối cảnh cụ thể, do tính chấtđặc biệt của nghề dạy học, tính biểu cảm là yếu tố quan trọng để nâng caohiệu quả của hoạt động nhận thức Khác với nhận thức của nhà nghiên cứu,nhận thức cái mới của học sinh không phải là trực tiếp, mà dưới sự chỉ đạo

Trang 17

của giáo viên, thông qua cách diễn đạt của giáo viên, đõy là con đường nhậnthức ngắn nhất giỳp cỏc em nắm vững tri thức khoa học.

Diễn đạt là thao tác của hành vi làm cho sự vật, ý nghĩ, tình cảm…được sáng tỏ ra để có thể nhận thức được một nội dung hay đối tượng nào

đó Theo từ điển tu từ- phong cách thi pháp học thì: “Diễn đạt bằng lời làcách thức sử dụng lời nói (từ ngữ, ngữ pháp, ý nghĩa, tín hiệu) sao cho đúngvới quy tắc để người nghe tiếp nhận được đồng thời đáp ứng đầy đủ ý địnhcủa người muốn diễn đạt Diễn đạt bằng lời thực sự là một nghệ thuật baohàm cả sự lựa chọn các phương tiện, cách tổ chức và thực hiện phù hợp vớicác phương tiện đú” [21- 59,60]

Lí luận dạy học đã phân tích cơ chế của quá trình dạy học, tính chấthoạt động của quá trình dạy học từ đó tìm ra biện pháp khác nhau để làm tíchcực hoá tình cảm học sinh, tuy nhiên các biện pháp “tuỳ thuộc ở trình độ họcsinh, sự sáng tạo kể cả nghệ thuật của giỏo viờn” Một trong những nghệthuật quan trọng của giáo viên là nghệ thuật sử dụng lời nói, một lời nóithuyết phục, có tình cảm và được biểu hiện bằng một phong cách phù hợp sẽgây cho học sinh sự hứng thú, sự hào hứng, sự chú ý Đó là nhân tố quantrọng để học sinh tiếp thu kiến thức và sáng tạo “Trong quá trình dạy học cầnđạt tới sự xúc cảm là điều kiện cơ bản để đạt niềm tin cỏ nhõn”- Đõy chớnh

là gốc để biểu đạt nội dung bài học bằng một ngôn ngữ mang màu sắc biểu

cảm Từ những phân tích trờn thỡ: Tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học là

giá trị nội dung, là cái được biểu đạt và hình thức biểu đạt để thể hiện những nét tinh tế làm phân biệt sự vật cơ bản giống nhau về thái độ đánh giá, về tình cảm, về cảm xúc của giáo viên và học sinh.

Vấn đề này có vẻ phù hợp với bộ môn văn học, môn ngoại ngữ nhiềuhơn Song trên thực tế ở các môn học khác đặc biệt là bộ môn lịch sử, tínhbiểu cảm của ngôn ngữ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nhiệm vụ thựchiện mục tiêu giáo dục Do vậy chúng ta cần có những biện pháp sư phạm

Trang 18

nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học ở trường THPT nóichung và ngôn ngữ dạy học lịch sử nói riêng

1.1.3 VỀ TÍNH BIỂU CẢM TRONG NGÔN NGỮ DẠY HỌC LỊCH SỬNgôn ngữ trong dạy học nói chung và sâu hơn là tính biểu cảm trongngôn ngữ dạy học lịch sử nói riêng Cỏi riờng của tính biểu cảm trong ngônngữ dạy học lịch sử xuất phát từ đặc trưng của bộ môn lịch sử

Một là: Lịch sử là môn học nghiên cứu những sự kiện đã xảy ra trong

quá khứ- những sự kiện không còn tồn tại nguyên vẹn trong thực tiễn, ngoàinhững dấu vết, những “mảnh vỡ” chứng minh một quá khứ có thật đã tồn tại

Do đó nhận thức lịch sử không phải nhận thức bằng con đường trực tiếp nhưnhững môn học khác, mà bằng con đường gián tiếp Trong nhận thức lịch sửphải dựa vào nhiều yếu tố trong đó ngôn ngữ được coi là chất liệu cơ bản,chính ngôn ngữ với những sắc thái biểu cảm phong phú, đa dạng sẽ tái tạo lạibức tranh hiện thực như nú đó từng tồn tại lịch sử sẽ không còn là những sựkiện khô cứng, lạnh lùng cũ kỹ đầy rêu phong và bụi bặm, lịch sử không chỉ

là hững đống gạch vỡ mà sẽ phải là những cung điện nguy nga TS Kiều ThếHưng đã nhấn mạnh: “Ngụn ngữ trong dạy học lịch sử phải chính xác đểtrình bày sự kiện đúng như nó tồn tại, nhưng điều quan trọng là nó phải hàmchứa được trong đó hơi thở của thời đại và sức sống của hiện thực” [15- 57].Không giống các bộ môn khoa học tự nhiên, học sinh không thể quan sáttrực tiếp các hiện tượng trong phòng thí nghiệm Cũng không giống với mônvăn học, học sinh có thể tìm thấy các biểu tượng gần gũi với cuộc sống, hoặcđược gặp gỡ, đối thoại với các tác giả để nghe họ kể về những cảm xúc, tìnhcảm thể hiện trong tác phẩm

Lịch sử không như vậy, cho dù có thể tìm thấy trong các lễ hội nhữngnét văn hoá đặc sắc của dân tộc nhưng đó cũng chỉ là những thiết kế dựa trênnhững di vật, những truyền thuyết, những câu chuyện về một biến cố hoặchiện tượng lịch sử Học sinh có thể gặp gỡ những nhân chứng, nhưng chỉ là

Trang 19

nghe kể về trận đánh, về chiến công, về tư tưởng, tình cảm của một số nhânvật tham gia trong các sự việc- hiện tượng đó chứ các em không thể chứngkiến các sự kiện- hiện tượng lịch sử đã xảy ra.

Từ những đặc trưng này của bộ môn lịch sử đòi hỏi chúng ta phải giúphọc sinh tưởng tượng về những “hỡnh ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điềukiện địa lớ… được phản ánh trong óc học sinh những nét chung nhất, điểnhình nhất” [24-189], đó là phải tái tạo biểu tượng cho biểu tượng của sựkiện Theo tiến sĩ Kiều Thế Hưng, “Nhận thức trực tiếp một sự kiện đó khú,nhận thức một sự kiện trong biểu tượng (tái tạo và sáng tạo) cũn khú hơnnhiều” [14- 21] Do đó người thầy phải có ngôn ngữ giàu hình ảnh và thổivào đó những tình cảm, cảm xúc mang “hơi thở của thời đại” Nhờ có phongcách của thầy trên bục giảng, giúp học sinh tái tạo những hình ảnh đã đượctái tạo trên cơ sở những hiện thực lịch sử Học sinh cũng cần có những thaotác để nắm vững tri thức lịch sử Đây là đặc trưng cơ bản ảnh hưởng sâu sắcđến thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử như tư duy tri thức lịch sử, độngtác sư phạm và đặc biệt là phải có ngôn ngữ mang sắc thái đặc trưng riêngcủa bộ môn, điều đó làm nên sự khác biệt trong sử dụng phương tiện ngônngữ giữa dạy học lịch sử với các bộ môn khoa học khác

Thứ 2: Bản chất của nhận thức lịch sử không phải là nhận thức ở mặt

hình thức mà là nhận thức về mặt bản chất của sự kiện lịch sử để rút ra quyluật vận động và sự phát triển của xã hội Sự kiện lịch sử là cơ sở để khôiphục hình ảnh của quá khứ, là cơ sở để tạo nên cảm xúc mạnh mẽ của họcsinh đối với lịch sử, kích thích hoạt động tư duy của các em Các em nắmvững diễn biến lịch sử, hiểu rõ được bản chất của sự kiện để tiến hành việckhái quát lí luận Vì vậy nhận thức lịch sử thường phải trải qua quá trình tạobiểu tượng và hình thành khái niệm

Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại, nhiều

biến cố và sự kiện lịch sử được tái tạo lại với những nét điển hình và sinhđộng ví dụ những cảnh xây dựng kim tự tháp ở Ai Cập cổ đại, các cuộc

Trang 20

chiến tranh thống nhất Trung Quốc thời phong kiến v…v… Nhưng đó cũngchỉ là diễn lại, mô phỏng lại, tái tạo lại sự kiện đó mà thôi, còn sự kiện lịch

sử đú thỡ mói nằm lại trong quá khứ, chúng ta không thể đồng nhất tái tạo lạiquá khứ và hiện thực quá khứ

Những biến cố và hiện tượng trên chỉ là hiện tượng bên ngoài mà giácquan của con người cảm nhận được, còn bản chất của sự kiện- hiện tượnglịch sử thì chưa thể hiện được, chúng ta chưa biết tại sao các Pharaon phảixây dựng các kim tự tháp? Những con người thời đó làm thế nào mà xẻ đượcnhững phiến đá vài ngàn tấn và kĩ thuật xây dựng đạt ở mức như thế nào?Các em học sinh không thể hiểu được vì sao ở Trung Quốc thời phong kiếnlại diễn ra những cuộc chiến tranh liên miên? v…v…

Tuy nhiên, học tập lịch sử vẫn tuân theo quá trình nhận thức chung củaquá trình nhận thức là từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Trựcquan sinh động trong học tập lịch sử được ghi nhận bởi các giác quan như:thị giác tạo nên hình ảnh trực quan, thính giác được tạo nên hình ảnh thôngqua lời giảng của giáo viên về sự kiện- hiện tượng lịch sử Xác định đượcđiều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc lựa chọn hình thức biểu đạt hiệuquả trong dạy học lịch sử, bởi vì ngôn ngữ có thể làm thay đổi ngưỡng cảmgiác Nhờ ngôn ngữ mà quá trình diễn ra tri giác được dễ dàng, nhanh chóng

sự kiện được tái hiện lại một cách khách quan, đầy đủ, rõ ràng hơn

Ngôn ngữ là phương tiện để ghi nhớ, là hình thức để lưu giữ những kếtquả cần ghi nhớ Nhờ đó học sinh hình thành được các biểu tượng lịch sử.Ngôn ngữ biểu cảm có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, tình cảm của conngười được ghi lại, giữ gìn và nhớ sâu sắc, đầy đủ hơn Do đặc thù của dạyhọc lịch sử ở trường THPT, ngôn ngữ mang sắc thái biểu cảm kích thích tưduy nhận thức có vấn đề, hình thành và biểu đạt các hình ảnh mới thành cáckhái niệm lịch sử Sự nhận thức sâu sắc quá trình lịch sử của học sinh THPTcòn làm phong phú nội dung của biểu tượng và khái niệm lịch sử, học sinhbiết vận dụng những khái niệm đã học vào hoạt động thực tiễn

Trang 21

Thứ 3: Cũng như các kiến thức khoa học khác, kiến thức cuả bộ môn

lịch sử là yếu tố quan trọng để giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục thế giớiquan, nhân sinh quân cho học sinh Giúp học sinh vận dụng những hiểu biết

về quá khứ vào thực tiễn cuộc sống, nhà sử học Hy lạp cổ đại đã nói: “Lịch

sử là cô giáo của cuộc đời”

Tuy vậy không phải ai cũng cừ nhận thức và biết vận dụng khai thác tối

ưu giá trị này của bộ môn lịch sử, vì trên thực tế có nhiều bộ môn khoa họckhỏc luụn tỏ rõ ưu thế hơn và có tác dụng trực tiếp với cuộc sống, tình cảm

xã hội như cỏc mụn: Toỏn, vật lý, sinh học, hoá học, văn học Trong khi đógiá trị của kiến thức lịch sử lại có tính chất trừu tượng và chỉ ảnh hưởng giántiếp đến cuộc sống hiện thực, do đó việc nghiên cứu các biện pháp sư phạmlàm cho các kiến thức lịch sử trở thành công cụ “ Để chuyển hóa những giátrị có tính trừu tượng, giá trị gián tiếp của tri thức lịch sử trở thành sức mạnh

cụ thể và hiện hữu trong cuộc sống để khai thác triệt để ưu thế của tri thứclịch sử trong nhiệm vụ dạy học của bộ mụn” Không phải ngẫu nhiên trongphần mở đầu cuốn “Đường Cách Mệnh” lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết:

“Sỏch này chỉ ước sao cho đồng bào xem rồi nghĩ lại, nghĩ rồi tỉnh dậy, tỉnhrồi đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh” [12- 262], trong cuốn sáchnày, tác giả đã sử dụng khá nhiều phương tiện và biện pháp tu từ để trình bàylàm cho người đọc, người nghe dễ nhớ, dễ hiểu

Như vậy, lịch sử là một tấm gương soi cho các thế hệ sau: “Nú làm chomỗi người suy nghĩ, cảm thụ, tự hào về quá khứ, tin tưởng mơ ước và tíchcực đấu tranh cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” Lịch sử là cuộcsống quá khứ xã hội, vì vậy mỗi ngày, mỗi địa điểm luụn cú những sự kiệnđang diễn ra, không có sự kiện nào lặp lại tuyệt đối vả lại mỗi sự kiện cũngđược đánh giá khác nhau Trong DHLS cũng vậy mỗi tiết, mỗi bài, mỗichương lại có nhiều sự kiện khác nhau vì vậy giáo viên lịch sử phải biết lựachọn những kiến thức cơ bản để khắc sâu cho học sinh bức tranh quá khứchân thực nhất Xác định được điều này rất quan trọng, đây là gốc để tìm ra

Trang 22

các biện pháp sư phạm nhằm giáo dục niềm tin, lòng yêu lao động, yêu nhândân, rèn luyện ý thức, năng khiếu thẩm mỹ cho học sinh

Tính biểu cảm trong ngôn ngữ DHLS là bản chất vốn có của ngôn ngữdạy học, để nâng cao tính biểu cảm, đòi hỏi giáo viên phải có những biệnpháp sư phạm phù hợp Một trong những biện pháp đó là sử dụng các

phương tiện và pháp tu từ, trong DHLS việc sử dụng các phương tiện và

biện pháp tu từ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, những phương tiện và biện pháp tu từ giúp cho việc tái tạo lại lịch sử quá khứ, hình thành biểu tượng lịch sử cho học sinh có nhiều thuận lợi hơn

Trong cuốn “Rốn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm”, PGS TS NguyễnThị Cụi đó nêu rõ: “Muốn diễn đạt tốt cần có vốn từ phong phú Do đó giáoviên cần lập sổ tu từ Không phải tự nhiên mà giáo viên có vốn từ phong phú

để diễn đạt, có được điều này là do quá trình tích luỹ, rèn luyện.” và tác giảcũng đưa ra các biện pháp sử dụng như “ Sổ tu từ có thể phân ra nhiều phần:lịch sử Việt Nam cổ đại, cận đại, hiện đại…” [5- 39] Theo các nhà ngôn ngữhọc: “phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ, mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ýnghĩa sự vật- lụgic) ra, chỳng cũn có ý nghĩa bổ sung” còn “Biện pháp tu từ

là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữkhông kể là trung hoà hay tu từ trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả

tu từ” [21- 5]

Ở trường THPT, môn lịch sử có nhiều ưu thế trong việc giáo dục tưtưởng, tình cảm, óc thẩm mỹ cho học sinh, xin đơn cử một ví dụ: Khi giảngcho học sinh về những tấm gương anh dũng tuyệt vời của các chiến sỹ đấutranh cho độc lập tự do, những tấm gương sáng tạo trong lao động, nhữngthành tựu văn minh của nhân loại, người giáo viên truyền vào đó những xúccảm lịch sử và sử dụng ngôn ngữ biểu cảm cùng với phong cách biểu đạt gợicảm gây sự xúc động và sự đồng cảm cho học sinh làn cho các em có ấntượng sâu sắc về sự kiện, từ đó hình thành biểu tượng lịch sử, các em hiểu vànhớ lâu sự kiện đó Khác với văn học, hình tượng về các nhân vật lịch sử

Trang 23

được miêu tả với một vẻ đẹp chân thực, không hư cấu, điều đó nó không chỉgiáo dục trí tuệ, tư tưởng tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ mà nú cũn giỳp họcsinh xác định thái độ đối với cuộc sống hiện tại Đúng như nhà sử học N A.Erụphộep đó khẳng định: “Bắt nguồn từ một sự thực là khoa học lịch sử, rõràng có những yếu tố nghệ thuõt”[7- 189].

Như vậy: Tính biểu cảm trong ngôn ngữ dạy học lịch sử được hiểu là

hình thức biểu đạt giá trị nội dung của bài học lịch sử, thông qua hệ thống các ngôn ngữ dạy học giúp cho học sinh nhận thức quá trình lịch sử trong trạng thái tình cảm và xúc cảm, tích cực, chủ động, tự giác và hứng thú, kích thích niềm say mê sáng tạo góp phần hình thành ở họ những phẩm chất của con người mới.

1.2 VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO TÍNH BIỂU CẢM

CỦA NGÔN NGỮ DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

1.2.1 VỊ TRÍ CỦA VIỆC NÂNG CAO TÍNH BIỂU CẢM TRONG NGÔN

NGỮ DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

1.2.1.1 Tính biểu cảm của ngôn ngữ là nhân tố không thể thiếu trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nối riêng, ngôn ngữ là nhân

tố tất yếu quyết định quá trình dạy học Lời nói không những giữ vai trò chủđạo đối với việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, mà lời nóicũn cú mối quan hệ với tư duy nhận thức, vì vậy để học sinh nhận thức đượckiến thức khoa học không thể thiếu hoạt động ngôn ngữ

Từ những đặc trưng của DHLS, lời nói của giáo viên là phương tiện đểthực hiện phương pháp dạy học nhằm khôi phục những hình ảnh quá khứ,giúp học sinh nhận thức sâu sắc sự kiện, trình bày những suy nghĩ, hiểu biết

về kiến thức bộ môn PGS TS Trịnh Đỡnh Tựng đó khẳng định: “Với ngônngữ trong sáng, gợi cảm, giàu hình ảnh, lời nói của giáo viên sẽ dẫn dắt họcsinh trở về với quá khứ lịch sử tạo được hình ảnh rõ ràng cụ thể về một nhânvật, một biến cố, về một hiện tượng lịch sử…Nú cũn giỳp học sinh biết suy

Trang 24

nghĩ, tìm tòi, rút ra kết luận, hình thành khái niệm nhằm tìm hiểu bản chất sựvật- quy luật của quá trình phát triển lịch sử”[25- 39]

Như vậy, lời nói của giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng để họcsinh nắm vững kiến thức, kỹ năng bộ môn, từ đặc trưng của bộ môn lịch sử,đòi hỏi phải có sự thống nhất cao giữa mục tiêu và nội dung dạy học, điềunày không phải là mới mẻ đối với giáo viên, song không phải ai làm cũng cóhiệu quả Nhiều giáo viên nắm vững kiện thức cơ bản, có phương pháp tíchcực, nhưng lời nói thiếu sự truyền cảm, thiếu sự thuyết phục, sự biểu đạt về

tư tưởng, tình cảm không hiệu quả, học sinh nhận thức được nội dung kiếnthức, nhưng hiệu quả và tác dụng của giáo dục không cao

Khi dạy bài 37 trong chương trình lịch sử lớp 10 (ban cơ bản) Ănghen: sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học”, có một chi tiết rất quantrọng: đó là Mác mất, Ănghen thay Mỏc lónh đạo phong trào công nhân quốc

“Mỏc-tế Nội dung tri thức không có gì phức tạp, khối lượng kiến thức và thông tinkhông nhiều, nhưng làm thế nào để thể hiện nỗi đau quá lớn, tổn thất quá lớncủa giai cấp vô sản toàn thế giới đến sự kiện này thì là một việc không đơngiản Ở đõy hiệu quả bài học không chỉ phụ thuộc vào nội dung kiến thức,

mà phụ thuộc vào kết cấu đơn vị ngôn ngữ phản ánh những thông tin, hìnhảnh phản ánh thông tin và tính biểu cảm trong ngôn ngữ của thầy trên bục

giảng Sau đõy là cách thể hiện thông tin này qua bài giảng: Ngày 14/ 1/

1883 Bạn của Ăngghen không còn nữa Mác nhà tư tưởng thiên tài, đã từ trần trên chiếc ghế dựa vào bàn làm việc Những bức điện tín và thư báo tin buồn đã được gửi đi Báo chí đã đăng tin Nhưng con tim và khối óc vẫn chưa chịu tin và cũng không muốn công nhận điều ấy Còn đối với phong trào cộng sản và giai cấp công nhân quốc tế thì đó là một tổn thất to lớn không gì bù đắp nổi Trong một bức thư gửi Ănghen khi báo tin buồn này, Gioúc giơ đã viết: “Nhõn loại đã thấp xuống hẳn một cái đầu, mà lại là cái đầu đáng kể nhất trong tất cả cái đầu hiện có ở vào thời đại chúng ta Phong trào của giai cấp vô sản vẫn tiến theo đường đi của mình nhưng đã

Trang 25

không còn điểm trung tâm nữa, nơi mà lẽ dĩ nhiên, những người Anh, người Nga, người Pháp, người Đức…đều hướng tới vào những giờ phút quyết định

và lần nào họ cũng nhận được những lời khuyên sáng tỏ không gì có thể bác

bỏ được, những lời khuyên mà chỉ có những thiên tài với những kiến thức vạn năng mới có thể có được mà thụi”

Toàn bộ gánh nặng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế được đặt lên vai của Ănghen- một trong những nhà lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản và cũng là người bạn chiến đấu trung thành của Mác Bằng những thiên tài và sự hoạt động không mệt mỏi của mình, Ănghen đã đúng góp tích cực cho phong trào công nhân quốc tế cho giai đoạn này: Kiên quyết chống chủ nghĩa cơ hội, đoàn kết công nhân các nước, đẩy mạnh phong trào của giai cấp vô sản Tiếp tục sự nghiệp của Mác, cuối năm 1884 tại Béc- lanh, Luân- đôn, Giơ-ne-vơ và Pa-ri, cỏc nhúm xã hội đã đọc cuốn sách mới của Ănghen nhan đề là “Nguồn gốc gia đình, quyền tư hữu và nhà nước” Trong lời nói đầu, tác giả viết: “Tỏc phẩm của tôi chỉ có thể thay thế phần nào công trình

mà người bạn quá cố của tôi đã không thực hiện được”

Cái khó và cái thành công trong đoạn thông báo trên, không phải là nộidung tri thức, mà chính là tính biểu cảm của ngôn ngữ Người thầy không chỉphản ánh được thông tin về sự kiện Mác mất, mà qua đú còn đỏnh giá vai trò

và đống góp của Mác đối với sự nghiệp đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế.Qua lời giảng giàu biểu cảm của người thầy, hiệu quả của mục tiêu giáo dục

tư tưởng về tình cảm vĩ đại của Mác và Ănghen, niềm tin vào lý tưởng Cộngsản chủ nghĩa, ý thức vươn lên trong học tập của học sinh được nâng lên

Rõ ràng ở đây, giá trị hiện thực của tính biểu cảm không chỉ phụ thuộcvào nội dung bài học lịch sử mà còn phụ thuộc vào nghệ thuật dạy học củathầy Trước hết người thầy phải có những xúc cảm trước một sự kiên, mộthiện tượng lịch sử và phải biểu đạt nó qua âm thanh, ngữ điệu, các động tác

sư phạm phù hợp với nội dung sự kiện đó, khi đó hiệu quả của lời nói mớiđạt giá trị tối ưu

Trang 26

Như vậy, tính biểu cảm có vai trò quan trọng trong DHLS, là khâu tấtyếu để thực hiện trọn vẹn mục tiêu của DHLS.

1.2.1.2 Tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS là một trong những nhân tố trực tiếp gây hứng thú học tập lịch sử cho học sinh

Xét về bản chất, quá trình dạy học là sự thống nhất giữa cách thức hoạtđộng của giáo viên và học sinh, trong đó giáo viên giữ vai trò chủ đạo, cònhọc sinh hoat động tự giác, tích cực, chủ động để tự giáo dục, tự vận động vàphát triển theo mục tiêu giáo dục và yêu cầu của xã hội Người thầy lựa chọnnội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá quátrình học tập của học sinh, học sinh tự giác, chủ động nhận thức một cách có

ý thức, tham gia với sự cố gắng hết khả năng của mình không hoàn toàn phụthuộc vào thầy, tuy nhiên học sinh không thể thiếu vai trò định hướng củangười thầy, song nếu thầy dùng phương pháp áp đặt sẽ không phát huy vaitrò chủ động sáng tạo của học sinh Vì vậy, giáo viên phải tìm phương phápnhằm tác động vào thái độ, tình cảm của học sinh, làm nảy sinh ở học sinhnhận thức mới, tình cảm mới, nhu cầu mới, đồng thời phải có những biệnpháp kích thích, điều chỉnh nhằm phát huy tốt khả năng nhận thức, loại trừnhững yếu tố tiêu cực, gây hứng thú học tập cho học sinh

Từ đặc trưng của nhận thức lịch sử, học sinh phải nhớ nhiều sự kiện,nếu học sinh không ham hiểu biết, không biết lựa chọn để ghi nhớ sự kiện cơbản thì số lượng các sự kiện học sinh không nhớ được ngày càng tăng Đếnmột lúc nào đó, học sinh sợ các sự kiện và không đủ tự tin để học tập Vì vậychỉ khi việc học tập của học sinh đựơc thực hiện dựa trên những cảm xúclịch sử, thì mới thu đựơc hiệu quả tích cực “Hứng thú của học sinh không chỉdừng lại ở vẻ thích thú ở bề ngoài, sự tò mò mang tính hiếu kỳ Hứng thúchân chính luôn thúc đẩy con người hành động, hành động sáng tạo để chiếmlĩnh đối tượng đú”, như vậy, ngôn ngữ biểu cảm trong DHLS là phương tiệnhữu hiệu để tạo nên hứng thú học tập lịch sử của học sinh vì nhận thức vàtình cảm là hai mặt của một vấn đề nhân sinh quan thống nhất của một con

Trang 27

người Ví dụ: bài “Cuộc cách mạng tư sản Hà Lan và cuộc cách mạng tư sảnAnh”, trong chương trình lịch sử lớp 10 (chương trình chuẩn), đây là bài đầutiên trong chương trình lịch sử thế giới Cận đại Nội dung của bài giảng córất nhiều sự kiện vì vậy trong một tiết học, giáo viên phải xác định rõ nhữngkiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm và hiểu, từ đó tìm biện pháp và thaotác sư phạm cần thiết đểt triển khai bài học.

Tất cả các biện pháp và thao tác sư phạm đó hình thành một hệ thống,

ta chia ra thành các thao tác sau: Khi thực hiện các đoạn bình luận, giáo viênchú ý khai thác các phương tiện như ngữ điệu tạo sức truyền cảm mạnh mẽđối với học sinh Khi giảng về cách mạng Hà Lan, diễn ra tại một vùng đấtthấp, ta có thể dựng cỏch chấm lửng để tạo ra tính biểu cảm, hoặc so sánh,

vớ…Ta núi nư sau: Gọi Nờđeclan là vùng đất… thấp, khi nói về nguyên

nhân dẫn đến cách mạng Hà Lan, ta có thể miêu tả: Triều đình Tây Ban Nha

còn ra lệnh: Hễ ai là tín đồ Tân Giáo, Đàn ông sẽ bị chặt đầu, đàn bà sẽ bị

chôn sống hoặc thiêu chết, tài sản sẽ bị tịch thu Đó là việc sử dụng biện

pháp tu từ theo cấu tạo kiểu câu đặc biệt, sử dụng phép liệt kê theo hình thứctăng cấp, cách miêu tả như vậy làm cho đoạn văn trở nên sinh động, mangtính biểu cảm nờn nú trở nên hấp dẫn hơn

Khi giảng về O Cromoen trong cách mạng tư sản Anh, ta có thể đưa ratình huống: Năm 1658, ông qua đời, nước Anh rơi vào tình trạng không ổnđịnh về chính trị dẫn tới sự thoả hiệp giữa Quốc hội với lực lượng phongkiến cũ, vì vậy cuộc cách mạng tư sản Anh là cuộc cách mạng không triệt để,chúng ta chuyển đổi câu hỏi dạng tỡnh thỏi tu từ (dạng câu hỏi không yêucầu trả lời) giá như O Cromoen có chính sách ủng hộ nhân dân- những conngười đa tham gia cách mạng hơn?

Những câu hỏi như vậy thể hiện nội tâm của nhân vật, khơi dậy trítưởng tưởng cho học sinh, mang tính biểu cảm cao, nó làm cho cho việctrình bày sự kiện lịch sử trở nên sinh động, gây ấn tượng cho học sinh Nhưvậy, bản chất của lời nói sinh động phải mang tính biểu cảm, không thể hiện

Trang 28

được sự biểu cảm, lời nói không thể sinh động, mọi lời nói sinh động đềuhướng tới sự chú ý tích cực và do đó nó gây sự hứng thú học tập lịch sử củahọc sinh Như vậy các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm củangôn ngữ trong dạy học lịch sử là yếu tố tất yếu để nâng cao hiệu quả bài họclịch sử ở trường trung học phổ thông

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương có cách nói giản dị, dễ hiểunhưng ấn tượng, hấp dẫn, ví dụ: Khi giảng cho học sinh lớp 11 (chương trìnhchuẩn) về vấn đề Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ I,chúng ta học tập được cách miêu tả về cuộc sang Tây của vua Khải Địnhbằng ngòi bút châm biếm tài tình cuộc “Vi hành” của vua Người miêu tả haitâm trạng khác nhau để nhấn mạnh nỗi nhục mất tự do và thấy được xã hội

phong kiến lúc đó thối nát như thế nào: Nhà vua biết mình làm bậy nên ngủ

không yên, mê hoảng Khi vua chợt tỉnh cơn mê: một hoạn quan bước vào lom khom cái lưng 3 lần rồi the thé cái giọng đàn bà: ngài dưới đã có lệnh truyền sang từ toà khâm rồi ạ

Như vậy vua sang Tây là thừa lệnh cấp trên, tác giả chua chát: Ngày

nay cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thật tôi không sao che dấu nổi niềm tự hào được

là một người An Nam và sự kiêu hãnh có một vị hoàng đế Học sinh hiểu

được những hiện thực lịch sử đó, và cảm nhận được sự đau sót chua chát của

người dân mất tự do.

Trong các bài miêu tả, Hồ Chí Minh là Người vận dụng nhuần nhuyễncác phương tiện ngôn ngữ như: Từ vựng- là phương tiện dễ hiểu, có khảnăng đi sâu vào lòng người Khi miêu tả sự kiện ta thường thấy Người vẫn

sử dụng các từ cũ mà hiện nay ít khi còn được dùng Ví dụ: Để chỉ 2 ứng cửviên tổng thống Mĩ- Jụn (đảng Dân chủ) và Gôn- na- tơ (đảng Cộng hoà)

Người dùng: “Cả 2 chàng đều ra vẻ dân chủ, bắt tay với người này, cụng

chén với người kia” Từ “gó” để chỉ cho 2 nhân vật Lý Thừa Vãn và Ngụ

Đỡnh Diệm “Hai gã đều do đế quốc Mĩ nặn thành bù nhìn đẫm máu, hai gã

đều hầm hừ chống cộng và hò hét Bắc tiến” Bên cạnh đó Người cũng sử

Trang 29

dụng những từ nghĩa tốt để nói lên những việc làm xấu: Ví dụ nói Mĩ giúp

nhân dân miền Nam giữ quyền tự do, sự thực là chỳng hũng biến đồng bào miền Nam thành người Mĩ da vàng để làm nô lệ cho chúng

Việc dùng nghĩa xấu để tố cáo kẻ thù cũng thấy nhiều trong các tácphẩm của Người ví dụ để nêu bản chất của đối phương, Hồ Chí Minh dùng

từ động vật để chỉ bọn chúng Ví dụ: Chó sói đội lốt cừu non để chỉ bọn

trùm nhà Trắng Khi vạch trần tội ác và tỏ ý khinh miệt chúng Người dùng

lối nói: “Một bầy bộ trưởng và lãnh tụ quân sự Pháp hấp tấp sang Việt Nam

với một bầy quan thầy Mĩ để tìm cách cứu Na va”

Là Người hiểu nhiều thứ tiếng nước ngoài, nhưng Hồ Chí Minh rất biếtcách để dùng tiếng nước ngoài xen tiếng Việt, ví dụ khi Nava thất bại ở ViệtNam, Bỏc đó sử dụng các âm tiết để tạo ra một bài thơ:

Ô hô, Na va

Xa nơ va pa

Thôi chớ ba hoa

Phút lơ căng về nước Lang xa cho rồi

Mấy câu thơ trên có nghĩa là: Nava hỏng rồi, thua rồi, đừng ba hoa nữa,cút về nước Pháp cho rồi Cách nói thật tạo ra một tiếng cười ấn tượng với vẻkhinh bỉ sâu sắc Thậm chí để tố cáo tội ác của địch, Người còn lẩy Kiều:

Trăm năm trăm cõi người ta

Chính quyền Mĩ Diệm chỉ là hại dân

Như vậy phong cách ngôn ngữ của chủ tịch Hồ Chí Minh đó giỳp chohình ảnh quá khứ sống động, có âm sắc, giáo viên học tập phong cách củachủ tịch Hồ Chí Minh làm cho bài học trở nên sinh động, ấn tượng, gợi cảm.Học sinh sẽ nhớ lâu, hiểu sâu và rất thích học tập lịch sử

Như vậy, trong dạy học lịch sử ngôn ngữ biểu cảm là nhân tố quantrọng góp phần tạo nên phong cách của giáo viên lịch sử Giờ học sẽ cókhông khí của bộ môn, mang những nột riờng mà không môn học nào cú

Trang 30

được.Tớnh biểu cảm của ngôn ngữ trong dạy học lịch sử là một trong nhữngnhân tố trực tiếp tạo hứng thú học tập lịch sử của học sinh

1.2.1.3 Nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS là một trong những nhân tố quyết định trực tiếp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

Căn cứ vào đặc điểm của nhận thức lịch sử, để thực hiện tốt nhiệm vụcủa người giáo viên lịch sử như GS TS Phan Ngọc Liờn đó chỉ rõ: “Chấtlượng một bài giảng không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho học sinh mộtkhối lượng tri thức khoa học mà còn có tác dụng về mặt tư tưởng, tình cảm

và năng lực hành động Trí tuệ và tình cảm trong giờ học lịch sử phải đượctruyền thụ, bồi dưỡng cho học sinh khi giáo viên có đầy đủ phẩm chất, đạođức cách mạng, trình độ khoa học, nghiệp vụ”[24- 337] Để thực hiện yêucầu, đòi hỏi trên, người giáo viên lịch sử luôn phải vươn lên học tập, rènluyện và nghiên cứu các biện pháp sư phạm làm cho “bài giảng lịch sử phảithật nhuần nhuyễn, tự nhiên chứ không lên gân, đóng kịch, giả tạo, hời hợt,giáo điều” Những điều đó không chỉ được thể hiện trong tư duy mà còn phảibiểu hiện qua hành động và lời nói Lời nói thuyết phục mang tính biểu cảmtrong bài giảng lịch sử tạo sự chú ý, mang lại hứng thú, hình thành niềm tincho học sinh

Vì vậy, người giáo viên lịch sử có biện pháp sư phạm tốt không chỉ cókiến thức mà cũn cú ngôn ngữ dạy học và hình thức biểu đạt phù hợp với đặctrưng của bộ môn Do đó tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học là cầu nốigiiữa cảm xúc lịch sử và tư duy nhận thức lịch sử lời nói không biểu cảm sẽkhông hấp dẫn, không sinh động nên không thể dẫn dắt học sinh trở về vớihình ảnh quá khứ được Học sinh không có biểu tượng rõ ràng về nhân vậtlịch sử, biến cố lịch sử thì không thể hình thành những khái niệm lịch sử,không hiểu lịch sử xã hội loài người phát triển có tính chất quy luật

Ví dụ: Khi giảng về buổi đầu hoạt động cách mạng của C Mác và F.Ăngghen, bài này có nội dung mang tính chất lý luận nhiều, nếu ngôn ngữcủa giáo viên không mang tính biểu cảm, bài học sẽ trở nên khô khan và

Trang 31

nặng về tính chất chính trị Ở đây giáo viên phải giúp học sinh cụ thể hoỏcỏc sự kiện về cuộc đời, tư tưởng của C Mác và F Ăngghen mà còn phảigiỳp cỏc em có những biểu hiện cụ thể về một vấn đề mang tính chất lý luận-

đó là chủ nghĩa Mác, từ đó giáo dục niềm tin cho các em, giỳp cỏc em phântích và đánh giá vai trò của C Mác và F Ăngghen trong việc sáng lập ra chủnghĩa xã hội khoa học Nhờ có biểu tượng lịch sử này mà ý nghĩa giáo dục

và phát triển tư duy nhận thức và thực hành của học sinh trong DHLS mới cóhiệu quả cao

Ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ giàu biểu cảm có vai trò và vị trí vôcùng quan trọng Những tài liệu và tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh đã đểlại cho chúng ta một di sản về ngôn ngữ Tác giả Kim Thản viết trong cuốn

“Hồ Chí Minh tác gia tác phẩm và nghệ thuật ngôn từ” như sau: “Một ngườikhông tạo ra được ngôn ngữ Nhưng có người thông qua việc sử dụng ngônngữ, nhất là thông qua sự sáng tạo của mình về sử dụng từ ngữ, về cách diễnđạt, v v có thể đóng góp cho sự phát triển của ngôn ngữ, thậm chí có thểảnh hưởng lớn đến chiều hướng phát triển của ngôn ngữ Chủ tịch Hồ ChíMinh chính là một người như thế” [13- 72]

Rất nhiều tài liệu, sự kiện và những nhận định, đánh giá lịch sử trongcác tác phẩm Hồ Chí Minh không chỉ là những nguồn kiến thức chủ yếudùng để giảng dạy lịch sử cho học sinh Đặc biệt là các bài: Miêu tả, tườngthuật dạy trong lịch sử nhằm tạo biểu tượng cho học sinh; Bài ôn tập, kiểmtra, các hoạt động ngoại khoá Mà nú cũn chỉ ra cho giáo viên những lối nói,cách nói mới lạ, sâu sắc, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ đối với học sinh

Tác giả Nguyễn Kim Thản đã nhận xét: “Trước hết, đó là tấm gươngsáng chói của Người về lòng yêu mến, quý trọng tiếng Việt, tin tưởng vàokhả năng to lớn của tiến Việt” [13- 719] Có lẽ vì người đã sống xa Tổ Quốcmấy chục năm ròng, vậy nên nỗi nhớ quê hương da diết, từ sâu thẳm trongtâm hồn của Người đã trỗi dậy qua những lời ru, điệu hò xứ sở miền Trung.mặc dù trong thời gian đó người đã trau dồi khá nhiều ngôn ngữ khác nhau:

Trang 32

Pháp ngữ, Hán ngữ, Anh ngữ, tiếng Nga, Đức, Ý, Xiờm… Kể cả từ khi tiếngViệt còn chưa đủ thuật ngữ để diễn đạt những tư tưởng và khái niệm mới,nhưng Người vẫn dùng tiếng Việt để giảng giải những nguyên lý cao sâu củachủ nghĩa Mác- Lờnin để viết báo cỏo, sỏch cách mạng Trong đó tiêu biểu làcuốn “Đường kỏch mệnh” Người còn dạy cán bộ một cách ân cần, tỉ mỉ, kiêntrì về cách nói, cách viết, cách dùng tiếng Việt cho trong sáng

Khi đọc các tác phẩm lịch sử của Người, chúng ta nhận thấy rõ ràngNgười đã rất chú ý đến việc dựng cỏc loại từ ngữ mang phong cách tự nhiên,

ca dao, tục ngữ và Người còn sáng tạo ra những từ ngữ mới, các ca dao, tụcngữ mới mà hiện nay chúng ta đã quen dùng như: giặc đói, giặc dốt; “Quansơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em”; “khụng có việc

gỡ khú, chỉ sợ lòng không bền”; v v…Người còn truyền cho nhiều từ ngữnhững nội dung mới hoặc những sắc thái ý nghĩa mới Người khuyên mọingười dùng từ cho đúng, đặt câu cho đúng, chú ý những từ mà ta có sẵn,nhưng Người cũng không bài trừ những cách ghép từ hoặc đặt câu kiểu mới.Theo các nhà ngôn ngữ học thì biện pháp dùng từ của người là các dạng câuđơn và những từ ngữ dễ hiểu, từng câu và bài viết ngắn gọn không một từthừa, tiết kiệm lời mà dồi dào ý Đây là một vấn đề rất thiết thực đối với dạyhọc lịch sử, tăng giá trị giáo dục cho bài học lịch sử

Tóm lại: Biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm trong ngôn

ngữ dạy học lịch sử không chỉ là con đường, là cách thức dạy học lịch sử mà quan trọng hơn nó là yếu tố tất yếu và là một trong những nhân tố quyết định để nâng cao hiệu quả dạy học.

1.2.2 Ý NGHĨA CỦA TÍNH BIỂU CẢM TRONG NGÔN NGỮ DHLS ỞTRƯỜNG THPT

Những biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngônngữ DHLS có vai trò quan trọng như vậy, nờn nú cũng có ý nghĩa to lớntrong việc thực hiện các chức năng giáo dưỡng, giáo dục, phát triển năng lựctrí tuệ, năng lực thực hành của bộ môn lịch sử ở trường THPT

1.2.2.1 Ý nghĩa giáo dưỡng

Trang 33

Do ngôn ngữ có quan hệ đặc biệt với tư duy, ngôn ngữ là vỏ vật chấtcủa tư duy ngôn ngữ càng biểu cảm, tư duy nhận thức và tư duy thực hànhcàng phát triển Đây là vấn đề quan trọng, nắm được vấn đề này chúng ta sẽkhắc phục được quan niệm cho rằng: Ngôn ngữ biểu cảm của giáo viên là donăng khiếu, do thủ thuật cá nhân chứ không phải là một khâu trong quá trìnhdạy học Tất nhiên cách sử dụng lời nói, động tác của mỗi người có khácnhau khi cùng trình bày một kiến thức lịch sử, song dù bằng cách nào, nócũng phải nhằm đảm bảo thực hiện tối ưu việc cung cấp kiến thức cơ bảncho học sinh Bản thân việc học tập lịch sử của học sinh THPT luôn mangtớnh “phỏt hiện” và “ khỏm phỏ”, do đó giáo viên phải sử dụng phương pháplụgic và phương pháp lịch sử giúp học sinh “phỏt hiện” và “khỏm phỏ” cáimới trong tri thức lịch sử đã được khoa học lịch sử nghiên cứu.

Lời nói giàu hình ảnh, gợi mở, giàu cảm xúc làm cho học sinh dễ nhớ,nhớ lâu, đó là cơ sở để giúp học sinh tư duy tri thức lịch sử, V I Lờnin đókhẳng định: “ không có cảm xúc của con người thì xưa nay không có vàkhông thể có sự tìm tòi chân lý” Như vậy, những biện pháp sư phạm nhằmnâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS có ý nghĩ quan trọng để thựchiện mục tiêu giáo dưỡng và nâng cao hiệu quả DHLS, bộ môn lịch sử ởtrường THPT là bộ môn khoa học xã hội nhằm cung cấp những kiến thứclịch sử của xã hội loài người nờn nú mang tính quá khứ, tớnh khụng lặp lại,mang tính cụ thể, tính hệ thống và có sự thống nhất giữa sử và luận, vì vậy

nó rất phong phú, đa dạng

Trong một tiết học trên lớp, giáo viên không thể giảng giải cho học sinhhiểu được tất cả lượng kiến thức lịch sử có liên quan, giáo viên phải biếtchọn lọc những kiến thức cơ bản để trình bày đồng thời có biện pháp hướngdẫn để các em tự học, tức là giỳp cỏc em phải hiểu ý nghĩa của tài liệu (gồm

cả tranh ảnh, bản đồ) Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn thì học sinh tự mìnhđộng não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phântích, tổng hợp v v ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cựngcỏc phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới

Trang 34

quan (như trung thực khách quan, có tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiêntrì , nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thànhthuận lợi v v ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại,biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mỡnh” [30 - 59, 60] Để thực hiện mục tiêunày, giáo viên phải sử dụng một hệ thống ngôn ngữ chuẩn xác, giàu biểu cảm

để tác động vào ý thức vượt khó, vươn lên nắm lấy tri thức của nhân loại

1.2.2.2 Ý nghĩa giáo dục của việc nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS.

Môn lịch sử là môn khoa học xã hội, nó không chỉ có ý nghĩa giáodưỡng mà còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, lời nói mang tính biểu cảm tácđộng đến tình cảm, hình thành tư tưởng cho học sinh, nó tác động tới trái timcủa các em Từ những xúc cảm lịch sử, người giáo viên truyền lại cho họcsinh lòng tự hào, sự kính phục, sự tin tưởng và khả năng lao động sáng tạocủa cha ông và các thế hệ trước Chúng ta không thể nhiệt tình ca ngợi hànhđộng anh hùng của nhân dân trong chiến đấu nếu chúng ta không rung cảmtrước hành động ấy Chúng ta không thể giáo dục lòng căm thù với kẻ thùxâm lược, nếu chúng ta không thực sự căm thù chúng Lời nói nhiệt tâm,tăng thêm tác dụng giáo dục, lời nói lạnh nhạt hờ hững làm giảm nhẹ hoặcgây phản tác dụng giáo dục Chúng ta không thể tuỳ hứng ca ngợi về mộtnhân vật lịch sử chỉ vì rung động từ một vài hành động đơn lẻ của họ, khôngthể tuỳ tiện đánh giá về một nhân vật lịch sử mà không hiểu rõ bản chất củahiện tượng đú Đõy được coi như một nguyên tắc trong việc thực hiện cácbiện pháp sư phạm nhằm tăng cường tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS.Nói khác đi, các biện pháp sư phạm này phải căn cứ trên một cơ sở lý luậnthực sự và đúng đắn

Để thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo con người mới, người giáoviên không những cần nắm vững các phương pháp dạy học lịch sử, cần rènluyện kỹ năng- nghiệp vụ sư phạm mà còn phải học tập những cách nghiêncứu, cách sử dụng ngôn ngữ dạy học và dạy học lịch sử của chủ tịch Hồ Chí

Trang 35

Minh Người đã sử dụng lịch sử một cách sáng tạo để giáo dục quần chúng,điều đó không phải chỉ là Người là lãnh tụ của dân tộc, là người đứng đầuđất nước, mà ngay từ khi còn hoạt động ở nước ngoài Người đã nhận ra rằngkhoa học lịch sử có vai trò to lớn trong việc giáo dục quần chúng nhân dân.Không phải ngẫu nhiên mà người nói rằng: “Đem lịch sử các nước làmgương cho chúng ta soi Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rừ”.Trong nhiều tác phẩm của Người, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng

“Khoa học lịch sử không chỉ có nhiệm vụ góp phần vào thắng lợi của cáchmạng một cách thiết thực, hiệu quả mà còn làm cho bản thân nó phát triển.Chỉ có nghiên cứu lịch sử theo quan điểm khoa học tiến bộ- chủ yếu là chủnghĩa Mác- Lờnin kết hợp với thực tiễn đấu tranh cách mạng mới hiểu biếtmột cách hoàn chỉnh, sâu sắc, đúng với hiện thực khách quan nắm đượcnhững khuynh hướng và động lực phát triển của lịch sử, có khả năng theodõi các sự kiện đang xảy ra, đoán định được sự phát triển của tương lai mà

có thái độ và hành động đúng, có lợi cho cách mạng” [12- 9] Như vậy, nâng

cao tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, nhân sinh quan cho học sinh

1.2.2.3 Tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS góp phần phát triển năng lực tư duy và khả năng thực hành của học sinh

Việc phát triển năng tư duy và khả năng thực hành cho học sinh- là mộttrong những mục tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả dạy học, thông qua ngôn ngữnói của giáo viên, học sinh không chỉ tri giác tưởng tượng, nhớ, tư duynhững hình ảnh của quá khứ trong bài học Như đã phân tích ở trên, ngônngữ và tư duy có quan hệ gắn bó, mật thiết, ngôn ngữ là vỏ của tư duy, tưduy bao giờ cũng tiến hành trên cơ sở sự hiểu biết cụ thể, chính xác về hìnhảnh quá khứ

Vì vậy lời nói của giáo viên được coi là nguồn cung cấp hình ảnh vềquá khứ, lời nói có tính biểu cảm mang đến cho học sinh hình ảnh chân xác

về quá khứ, dễ dàng hình thành những biểu tượng, khái niệm lịch sử, làm

Trang 36

cho học sinh nhớ lâu, hiểu rõ bản chất của sự kiện, có thái độ đúng mức, cótình cảm, cảm xúc về sự kiện hiện tượng, đặc biệt học sinh hiểu được sự kiệncòn nắm được quy luật, phân biệt được bản chất của sự kiện lịch sử- là nộidung cơ bản nhất của tư duy lịch sử mà học sinh cần đạt được.

Trong DHLS, ngoài việc phát triển tư duy học sinh, cần phải phát triểnnăng lực thực hành theo phương châm “Học đi đôi với hành”, “lý luận gắnliền với thực tiễn” Việc phát triển tư duy, năng lực thực thực hành của họcsinh được thực hiện trong cả quá trình dạy học và có nhiều biện pháp để tiếnhành, song không có biện pháp nào riêng lẻ mà phải có sự phối hợp giữa cácbiện pháp, các môn học và cuối cùng thì đều phải thông qua các phương tiệnngôn ngữ Nhờ có phương tiện ngôn ngữ, nhất là tính biểu cảm của ngôn ngữ

mà các sự kiện lịch sử được học sinh tiếp nhận cả nội dung và tư tưởng, cóthái độ thông qua những sự kiện lịch sử ấy Do đó một trong những yêu cầuquan trọng của ngôn ngữ DHLS là nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữDHLS Để tạo ra tình huống có vấn đề, giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi

ở dạng tỡnh thỏi, không những giúp học sinh nắm được sự kiện lịch sử màcòn khơi dậy những suy nghĩ của các em, tạo ra sự đồng cảm có vấn đề giữagiáo viên và học sinh về một nhân vật, một hiện tượng lịch sử

Ví dụ: Khi giảng về cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công trong

cả nước và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, giáo viên thựchiện các mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng, và phát triển tư duy học sinh Giáoviên tạo cho học sinh bức tranh về mùa thu tháng Tám, giữa bầu trời thu HàNội Hàng triệu người với những bộ trang phục đẹp nhất đang nghiêm trangđứng trước Quảng trường Ba Đình Lịch sử lắng nghe chủ tịch Hồ Chí Minhđọc Tuyên ngôn độc lập, với giọng nói đầy truyền cảm và tự hào, giáo viêntrích đọc một đoạn trong Tuyên ngôn độc lập Qua đó, học sinh như đangđược chứng kiến một sự kịờn trọng đại của dân tộc, như nghe được tiếng nóicủa Bác Hồ, như được Bác truyền cho quyết tâm bảo vệ lấy thành quả củacách mạng Cách sử dụng ngôn ngữ có chất lượng cao như vậy, vừa giúp học

Trang 37

sinh nắm được kiến thức lịch sử, vừa có tác dụng giáo dục cao, sau khi kếtthúc phần nội dung kiến thức đó, giáo viên gợi ý tiếp tục:

Chúng ta có quyền tự hào vì non sông ta, đất nước ta đã sinh ra và nuôi dưỡng nên những anh hùng dân tộc “gặp loạn lớn mà chí càng bền” Các em hãy nhớ lại cách đây ngót nửa thiên niên kỷ, đã diễn ra một sự kiện

vĩ đại Đó là bản Tuyên ngôn độc lập dưới hình thức Cỏo Bỡnh Ngụ đó vang lên Tác giả của Cỏo Bỡnh Ngụ là ai? Giữa chủ tịch Hồ Chí Minh và ụng cú nột tương đồng nào không? Đây là một dạng câu hỏi tu từ, ý nghĩa nghi vấn

không phải là quan trọng nhất mà là ý nghĩa tỡnh thỏi mới là ý nghĩa nhấnmạnh thể hiện mục đích, nó khơi dậy suy tưởng của học sinh, tạo ra sự đồngcảm của giáo viên và học sinh khiến trong tư duy của họ nảy sinh mâu thuẫngiữa những điều đã biết và vấn đề đặt ra, các em sẽ thấy những bất ngờ trongvốn kiến thức của mình

1.3 THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM NÂNG CAO TÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY

Các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ dạyhọc lịch sử có vai trò quan trọng như vậy nên thực tế đã có nhiều giáo viênquan tâm đến việc nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ, song nhìn chung đềurất lúng túng trong việc thực hiện những biện pháp sư phạm nhằm nõng caotính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học Do vậy, vấn đề nâng cao tính biểu cảmmới chỉ được đề cập đến như những kinh nghiệm của giáo viên, thủ thuậtriêng lẻ, mà chưa có cơ sở lý luận cơ bản và chưa được bồi dưỡng có bài bản,chúng tôi đã thực hiện điều tra, khảo sát rút ra kết luận khi tiến hành nghiêncứu đề tài của mình

1.3.1 ĐIỀU TRA KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHẬN THỨC VÀ SỬ DỤNGCÁC BIỆN PHÁP TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ NHẰM NÂNG CAOTÍNH BIỂU CẢM CỦA NGÔN NGỮ DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNGPHỔ THÔNG TRUNG HỌC HIỆN NAY

Trang 38

1.3.1.1 Mục đích kiểm tra khảo sát: Khảo sát tình hình thực tế về nhận

thức và việc thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao tính biểu cảm trongngôn ngữ DHLS hiện nay, từ đó rút ra những nhận định khách quan khoahọc về thực trạng và nêu biện pháp, hình thức tiến hành tốt hơn, làm cho họcsinh hứng thú hơn trong việc học tập bộ môn lịch sử

1.3.1.2 Đối tượng, địa bàn điều tra, khảo sát: Để thực hiện đề tài luận văn

này, chúng tôi đã chuẩn bị các mẫu điều tra theo hình thức trò chuyện trựctiếp và điều tra bằng phiếu (Ang két) bao ggồm một số giáo viên bộ môn lịch

sử, học sinh một số trường tại Hoà Bình, Hà Nội, Hưng Yên và thu thậpthêm một số thông tin ở các địa phương khác

1.3.1.3 Nội dung điều tra, khảo sát

- Nhận thức của giáo viên và học sinh về các biện pháp sư phạm nhằmnâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học lịch sử ở trường trung học phổthông hiện nay

- Thực tế việc thực hiện các biện pháp sư phạm sư phạm nhằm nâng caotính biểu cảm của ngôn ngữ dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thônghiện nay

- Những điều kiện để tiến hành cỏc biờn pháp sư phạm này trong dạyhọc lịch sử

1.3.1.4 Phương pháp điều tra

- Quan sát, miêu tả giờ dạy lịch sử của giáo viên lịch sử ở trường trunghọc phổ thông

- Dùng phiếu trưng cầu ý kiến có câu hỏi để thu thập câu trả lời

- Qua tiếp xúc trực tiếp với một số cán bộ giáo viên nhằm bổ xung thêmnhững nhận thức về biện pháp sư phạm nhằm nâng cao tính biểu cảm trongngôn ngữ của giáo viên và học sinh khi dạy và học lịch sử

- Phân tích xử lý kết quả thu được

1.3.1.5 Tiến trình và kết quả điều tra

Trang 39

Sau khi tiến hành việc điều tra và xử lý các số liệu đã thu được theophương pháp mang tính định lượng, chúng tôi đã đạt được những kết quảđáng tin cậy và tổng hợp trong các bảng thống kê sau đây về tình hình nhậnthức và sử dụng các thao tác sư phạm trong DHLS ở trường THPT.

a, Câu hỏi điều tra số 1: (Đối với cả giáo viên và học sinh) Anh, chị đãnghe nói đến hoặc đã được phổ biến thực hiện các biện pháp sư phạm đểnâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ DHLS chưa?

Kết quả điều tra:

Tổng số GV và HS

được hỏi (Người)

Có nghe(Người)

Không nghe(Người)

Tỷ lệ có nghe(%)

Số người được chỉ đạo thực hiện (Giáo viên)

Số người được hỏi Đã thực hiện

(Người)

Chưa thực hiện(Người)

Tỷ lệ người thựchiện (%)

Câu hỏi 2 Theo anh, chị, trong DHLS có cần thiết phải nâng cao tính

biểu cảm không? (Kết quả sau khi đã giới thiệu về tính biểu cảm là gì?)

Số người được hỏi Cần thiết

(Người)

Không cần thiết(Người)

Tỷ lệ đồng ý(%)

Câu hỏi 3: Theo anh, chị để thể hiện tính biểu cảm khi sử dụng ngôn

ngữ cần phải có những yếu tố nào sau đây: Do năng khiếu, do rèn luyện, cóphương pháp?

Kết quả:

Số người được hỏi Năng khiếu

(người)

Do rèn luyện(Người)

Có phương pháp(Người)

Trang 40

Giáo viên: 60 15 30 15

Học sinh: 40 10 15 15

Câu 4 Theo anh, chị, những biện pháp sư phạm nào sau đây có tác

dụng làm tăng tính biểu cảm của ngôn ngữ trong DHLS?

Các biện pháp sư phạm nâng cao tính biểu cảm của ngôn ngữ Tỷ lệ đồng ýNgôn ngữ phải chính xác, giàu hình ảnh 100 % GVNgôn ngữ phải rõ ràng, các từ ngữ giản dị, trong sáng 100 % GVNgôn ngữ phải có cảm xúc của người truyền đạt 100 % GVCác từ ngữ được dùng phải mang tính lịch sử 100 % GV

Biết sử dụng các biện pháp tu từ phù hợp 100 % GVKhi sử dụng ngôn ngữ cần kết hợp các động tác sư phạm khác 100 % GVNgoài ra, chúng tôi có nhiều cuộc tiếp xúc với các cán bộ chỉ đạo tổchuyên môn, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, các thầy cô giáo đồngnghiệp dạy cỏc mụn văn, địa lý, các em học sinh một số trường THPT: TỉnhHoà Bình, trường THPT Trần Hưng Đạo (Hà Nội) và cùng nhận thấy kết quảtương tự như bảng thống kê

1.3.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VÀ RÚT RA KẾT LUẬN

Sau khi đã thu thập các kết quả điều tra và quan sát thực tế DHLS ởmột số trường THPT như trên, chúng tôi đã tổng kết và phân tích, tổng kết

và khái quát thành lý luận làm cơ sở cho việc đưa ra giải pháp mới nhằm làmtăng hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả của bộ môn

1.3.2.1 Kết quả về mặt nhận thức: Qua các số liệu điều tra trên, chúng

tôi nhận thức rằng: Đa số giáo viên đã có ý thức đổi mới phương phápDHLS và cũng rất quan tâm đến các biện pháp sư phạm để đạt hiệu quảcao Từ đó, khẳng định vai trò của việc nâng cao tính biểu cảm của ngônngữ DHLS là một trong các biện pháp sư phạm để gây hứng thú học tậplịch sử cho học sinh

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh- Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ báo chí, NXB CTQG, 2005 2. Bộ giáo dục và đào tạo- Tài liệu bồi dưỡng và nâng cao năng lực chogiáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2005
14. Kiều Thế Hưng- Xây dựng hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. Luận án TS, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
15. B. P. Êxipốp (chủ biên)- Những cơ sở lý luận dạy học. Tập 2, NXB GD, Hà Nội, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận dạy học. Tập 2
Tác giả: B. P. Êxipốp
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1971
17. Nguyễn Kỳ- Phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
18. I. F. Kharlamốp- Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào. tập 2, NXB GD, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào
Nhà XB: NXB GD
19. Đinh Trọng Lạc- 99 phương tiện và biện pháp tu từ, NXB GD, 2005 20. Đinh Trọng Lac- Phong cách học tiếng Việt, NXB GD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2005
21. Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị - Phương pháp dạy học lịch sử, NXB GD, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử
Nhà XB: NXB GD
22. Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Trịnh Đỡnh Tùng- Nguyễn Thị Côi, Phương pháp dạy học lịch sử. Tập 1, NXB ĐHSP, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử. Tập 1
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đỡnh Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2002
23. Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Trịnh đỡnh Tùng- Nguyễn Thị Côi, Phương pháp dạy học lịch sử. Tập 2, NXB ĐHSP, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử. Tập 2
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh đỡnh Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2002
24. Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Phương pháp dạy học lịch sử (một số chuyên đề), NXB ĐHQG, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học lịch sử
Nhà XB: NXB ĐHQG
25. Phan Ngọc Liên (chủ biên)- Đào Tấn Thành- Lịch sử thế giới cận đại, NXB ĐHSP, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Nhà XB: NXB ĐHSP
26. Phan Thanh Long (chủ biên)- Trần Quang Ẩn- Nguyễn Văn Diện- Lý luận dạy học, NXB ĐHSP, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học
Nhà XB: NXB ĐHSP
27. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên)- Nguyễn Kỳ- Vũ Văn Tảo- Bùi Tường- Quá trình dạy- tự học, NXB GD, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy- tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1997
28. Đỗ Ngọc Thống- Văn miêu tả trong nhà trường, NXB GD, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả trong nhà trường
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2005
29. Trịnh Đỡnh Tùng (chủ biên)- Trần Viết Thụ- Đặng Văn Hồ- Trần Văn Cường- Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở, NXB ĐHSP, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở
Nhà XB: NXB ĐHSP
30. Trịnh Đỡnh Tùng (chủ biên)- Nguyễn Mạnh Hưởng- Nguyễn Văn Ninh- Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và tự luận lịch sử 10, NXB TP Hồ Chí Minh, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và tự luận lịch sử 10
Tác giả: Trịnh Đỡnh Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 2006
31. Nguyễn Xuân Thức (chủ biên)- Tâm lý học đại cương, NXB ĐHSP, 2006 32. Bùi Tất Tươm (chủ biên)- Nguyễn văn Bằng- Hoàng Xuõn Tõm- Giáotrình cơ sỏ ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB GD, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Xuân Thức
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2006
33. Viên ngôn ngữ học- Hoàng Phê (chủ biên)- Từ điển tiếng Việt, NXB KHXH- Trung tâm từ điển, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB KHXH- Trung tâm từ điển
34. L. Vitgốp- I. A. Xukhụtin- Tình bạn vĩ đại và cảm động (Nguyễn Ngọc Bằng- Cao Xuân Hạo dịch), NXB Thanh niên, Hà Nội, 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình bạn vĩ đại và cảm động
Tác giả: L. Vitgốp, I. A. Xukhụtin
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1968

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w