Các luận văn Cái đẹp trong thương nhớ mười hai của Nguyễn Thị Thu Hòa ; Phong cách nghệ thuật kí của Tô Hoài qua hồi kí Chuyện cũ Hà Nội; Nghệ thuật viết kí của Vũ Bằng, Thạch Lam qua nh
Trang 1do phóng khoáng bậc nhất.Với kí nhà văn có thể bộc lộ một cách trực tiếp
và rõ ràng nhất những cảm xúc của mình Do đó kí không chỉ hấp dẫn lớnlao với nguời viết kí mà còn hấp dẫn với nguời đọc kí
Hà Nội- mảnh đất kinh kì nghìn năm văn hiến- với vẻ đẹp hào hoa, sangtrọng và thanh lịch đã trở thành đề tài quen thuộc, muôn thủơ của thơ văn.Nhìn suốt chiều dài lịch sử 1000 năm Thăng Long Hà Nội đã có biết baocây bút viết hay về Hà Nội nhưng có lẽ những áng văn hay nhất đẹp nhấtghi lại đuợc hồn cốt của Hà Nội muôn đời phải thuộc về những tác phẩm kí.Với những tác phẩm kí, Hà Nội hiện lên chân thực, sinh động với tất cả nétđẹp của mình Do đó để hiểu sâu sắc hơn về Hà Nội thân yêu chúng tôi tìmđến những tác phẩm kí- tản văn về Hà Nội
Chúng tôi lựa chọn kí về Hà Nội từ 1945 đến nay là bởi xét về mặt sốlượng cũng như chất lượng đây là giai đoạn tập trung nhiều bài kí hay về HàNội Hơn nữa đây là giai đoạn Hà Nội chứng kiến bao biến thiên dữ dội củalịch sử do đó tìm hiểu kí Hà Nội trong giai đoạn này chúng tôi muốn nhìn
Hà Nội trong sự vận động biến thiên cùng lịch sử của dân tộc từ đó tìm ra
vẻ đẹp làm nên sức sống mãnh liệt cho Hà Nội xưa và nay
Trang 2Dù không sinh ra ở Hà Nội nhưng lại là người yêu Hà Nội, với đề tài nàytôi mong muốn được bày tỏ tình yêu của mình với Hà Nội với tất cả niềm tựhào cùng ý thức giữ gìn tôn vinh vẻ đẹp vốn có của thủ đô ngàn năm tuổi để
Hà Nội ngày càng rực rỡ hơn xứng đáng là “nơi kinh đô bậc nhất của đếvuơng muôn đời” Đặc biết trong những ngày tháng này, cả nước đangchuẩn bị đón chào lễ kỉ niệm nghìn năm tuổi của thành phố, chúng tôi cũngmong muôn góp chút công sức của mình vào ngày hội lớn đó
II Lịch sử vấn đề.
Sau cách mạng Tháng Tám 1945,Kí viết về Hà Nội tiếp tục thu được những
thành tựu đáng kể Nguyễn Tuân đóng góp tập kí Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, Phố Phái, Cốm, Phở…Tô Hoài với Chuyện cũ Hà Nội, Cát bụi chân ai”,
“cỏ dại”…Vũ Bằng có Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội…Băng Sơn có Thú ăn chơi người Hà Nội, Đường vào Hà Nội, Tình yêu Hà Nội… Mai Thục đóng góp Tinh hoa Hà Nội…ngoài ra có thể kể đến hàng trăm bài
kí lẻ của các tác giả khác…
Số lượng kí viết về Hà Nội từ 1945 đến nay có thể coi là khá đồ sộ, xét vềmặt chất lượng nghệ thuật cũng đạt những giá trị nhất định Tuy nhiên quakhảo sát chúng tôi thấy các bài nghiên cứu thường tập trung vào một số tácphẩm tiêu biểu của các tác giả Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Tô Hoài và một sốbài viết đánh giá về Mai Thục, Băng Sơn
Đánh giá về những sáng tác về Hà Nội của Tô Hoài mỗi người có góc nhìnkhác nhau: Võ Xuân Quế soi chiếu dưới góc độ giá trị hiện thực của tác
phẩm thì nhận xét “Mặc dầu còn một vài hạn chế nhất định về tư tưởng song nó đã vẽ lên được một bức tranh chân thực về một vùng quê ngoại thành Hà Nội Đó là cảnh sống nghèo khó khốn khổ, cùng cực, những phong tục tập quán cổ hủ với những người thợ thủ công Nghĩa Đô trước
cách mạng” Trong cuộc trao đổi về Cát bụi chân ai giữa Xuân Sách và
Trang 3Trần Đức Tiến trên báo văn nghệ số ra ngày 13- 11- 1993 Trần Đức Tiến
nhận xét “ lần đầu tiên Tô Hoài đã cho thế hệ cầm bút của ông nhìn một số nhân vật lớn của văn chương nước nhà ở cự li gần- một khoảng cách khá tàn nhẫn nhưng chính vì thế mà chân thực và sâu sắc” còn Xuân Sách khẳng định rằng “ So với những tác phẩm của ông mà tôi đọc thì Cát bụi chân ai là tôi thích nhất tác phẩm mang dấu ấn đậm nhất phong cách Tô Hoài” Trong bài viết “ Viết về một cuộc đời và những cuộc đời” tác giả Đặng Thị Hạnh lại quan tâm đến cấu trúc thời gian và ngôn ngữ “ dòng hoài niệm trong “Cát bụi chân ai chạy lan man rối rắm như ba mươi sáu phố phường, những phố hẹp của Hà Nội cổ đan xen vào nhau dày đặc với những rẽ ngoặt co… vương quốc của Tô Hoài, Nguyễn Tuân và bè bạn Thời gian hồi tưởng như ngẫu hứng cũng chạy lông bong theo dòng hoài niệm…nhìn một cách tổng thể, cuốn sách có dáng vẻ đi theo trình tự biên niên, căn cứ trên việc từ 1 đến 6… nhưng chỉ cần dừng lại ở chương một ta
đã có thể thấy các bước chuyển khônng thời gian khiến trình tự biên niên bị phá vỡ tới mức nào”
Nhận xét về Thương nhớ mười hai, luận văn Nghệ thuật viết kí của Thạch lam, Vũ Bằng, Tô Hoài qua các tác phẩm kí viết về Hà Nội, Tạ Văn Hiếu đưa ý kiến: “ Hà Nội hiện lên thật đẹp, cái đẹp lộng lẫy tinh khôi đến kì ảo Cái đẹp ấy thể hiện ở thiên nhiên, cảnh quan ở nghệ thuật ẩm thực” Bài nghiên cứu cũng nhận ra: “Hà Nội qua Thương nhớ mười hai, Miếng ngon
Hà Nội còn gợi lên vẻ đẹp lễ hội, của tết nhất, của những con người nơi đây ” tuy nhiên với mục đích tìm hiểu để so sánh nghệ thuật viết kí giữa ba
tác giả nên bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu vẻ đẹp của thiênnhiên và miếng ngon của Hà Nội, những nội dung khác thì bài nghiên cứucũng chưa đề cập đến
Trang 4Với Băng Sơn và Mai Thục – hai cây bút kí khá thành công về đề tài HàNội trong giai đoạn đổi mới Xung quanh hai tác giả này cũng có khá nhiềubài nhận xét Về tác giả Mai Thục có những bài tiêu biểu như Mai Thục,
tinh hoa Hà Nội của giáo sư Trần Thiện Đạo, Tản mạn với tác giả Tinh hoa
Hà Nội của giáo sư Đỗ Đức Hiểu Những bài viết này đều có chung nhận
xét: Tinh hoa Hà Nội biểu đạt đúng bản sắc dân tộc Việt Nam Tác giả
Trần Thiện Đạo ghi nhận : Tập bút kí Tinh Hoa Hà Nội ghi chép những điều mắt thấy tai nghe, những rung động suy ngẫm, cảm nhận trước con người, sự việc và cảnh sắc hiện hữu ở vùng đất kinh kì thuở trước và thủ đô ngày nay” Còn giáo sư Đỗ Đức Hiểu nhận thấy chất thơ trong tác phẩm Tinh hoa Hà Nội: Đọc xong tác phẩm tinh hoa Hà Nội của Mai Thục tôi vừa cảm thấy như vừa thưởng thức nhiều bài thơ về Hà Nội chứ không phải những bài kí viết bằng văn xuôi” Như vậy những bài viết đó mới đơn thuần
là những cảm nhận của người đọc sau khi đọc những tác phẩm đó mà chưathể là những bài nghiên cứu sâu sắc Bên cạnh đó còn phải kể đến những tác
phẩm nghiên cứu và những luận văn nghiên cứu kí về Hà Nội như Vũ Bằng, bên trời thương nhớ của Văn Giá Các luận văn Cái đẹp trong thương nhớ mười hai của Nguyễn Thị Thu Hòa ; Phong cách nghệ thuật kí của Tô Hoài qua hồi kí Chuyện cũ Hà Nội; Nghệ thuật viết kí của Vũ Bằng, Thạch Lam qua những sang tác về Hà Nội…
Có thể thấy nghiên cứu về các tác phẩm kí viết về Hà Nội không phải là ít.Tuy nhiên khi tìm hiểu nhũng bài nghiên cứu đó chúng tôi nhận thấy nhữngbài nghiên cứu chủ yếu mới dừng lại ở việc đơn lẻ từng tác giả, hơn nữanghiên cứu chủ yếu với mục đích qua các tác phẩm ấy tìm hiểu phong cáchcủa các tác giả Do đó hầu hết các bài nghiên cứu chưa có cái nhìn toàncảnh đối với kí về Hà Nội từ sau 1945 đặc biệt chưa thể đem lại cái nhìntoàn diện về hình ảnh Hà Nộ qua các tác phẩm kí đó Bởi vậy khi nghiên
Trang 5cứu đề tài này chúng tôi không chỉ tìm hiểu sự phát triển của kí trong tiếntrình văn học Việt Nam từ sau 1945 mà còn muốn tìm hiểu them về Hà Nội,đồng thời để khẳng định giá trị và ý nghĩa của thể loại kí trong tiến trìnhvăn học Việt Nam cũng như trong đời sống hiện tại và tương lai.
III Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích: hiểu biết sâu sắchơn về thể loại kí, đặc biệt tìm hiểu thêm vẻ đẹp Hà Nội trong quá khứ cũngnhư hiện tại, từ đó quay lại phục vụ vào thực tiễn dạy học tác phẩm quí vớiđặc trưng thể loại và soi tỏ hơn vào thực tiễn đời sống
IV Nhiệm vụ nghiên cứu.
Xuất phát từ mục đích đó chúng tôi xây dựng cho mình nhiệm vụ chủ yếusau:
- Tìm hiểu về đặc điểm thể loại kí và diện mạo kí về Hà Nội từ sau
1945
- Các chủ đề chính cũng như những đặc sắc nghệ thuật của kí về HàNội từ sau 1945
V Đối tuợng - phạm vi nghiên cứu.
1.Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tác phẩm kí viết về Hà Nội
2 Phạm vi nghiên cứu.
Với đề tài kí viết về Hà Nội sau 1945 đến nay luận văn sẽ bắt đầubằng một số quan niệm về kí cũng như sự phát triển của kí Việt Nam từ xưađến nay Kiến thức lí luận không phải là mục đích cuối cùng xong là cơ sởvững chắc để lí giải cắt nghĩa đặc điểm kí từ 1945 đến nay
Luận văn sẽ triển khai những phuơng diện chủ đề cơ bản của kí viết
về Hà Nội từ sau 1945 đến nay: Chân dung tinh thần nguời Hà Nội, Đặc sắcvăn hoá Hà Nội và cảnh sắc thiên nhiên Hà Nội
Trang 6VI Phuơng pháp nghiên cứu.
Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, đồng thời cũng là để đạt đuợc những mụcđích như mong muốn, chúng tôi đã tìm đuợc cho mình những phuơng phápnghiên cứu đề tài sau:
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống
- Phuơng pháp thống kê
- Phuơng pháp phân tích, đánh giá tư liệu
VII Những đóng góp của luận văn.
Ở đề tài này chúng tôi không đi sâu vào nghiên cứu kí về Hà Nội của từngtác giả như một số công trình trước đây mà chủ yếu cung cấp cái nhìn kháiquát về kí viết về Hà Nội trong chiều dài lịch sử từ 1945 đến nay
VIII Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đuợc triển khai thành 3chương:
Chương I: Lý luận chung về kí và sự phát triển của kí ở Việt Nam
Chương II : Những chủ đề cơ bản trong kí viết về Hà Nội sau 1945
Chương III: Những nét đặc sắc về nghệ thuật
Trang 7Chương 1: Lí luận chung về kí và sự phát triển của kí ở việt Nam
1.1- Đặc trưng của kí văn học
1.1.1 Quan niệm về kí trong lịch sử
So với các thể loại khác như tiểu thuyết, thơ trữ tình, kịch, truyện ngắn thì
kí là một thể loại rất phức tạp Bàn đến các thể kí văn học dư luận dễ thốngnhất về tầm quan trọng của các thể kí, nhưng xác định một định nghĩa về kílại là vấn đề khá phức tạp Do đó, trong lịch sử phát triển của văn học xoayquanh kí có rất nhiều quan niệm
- Ở Trung Quốc:
Trong Văn tâm điêu long, khi bàn về thể loại tác giả, Lưu Hiệp chia toàn bộ thể loại văn học Trung Hoa thành hai loại: văn (văn chương thẩm mĩ gồm thơ, nhạc phủ tụng, phú ) và bút (văn nghị luận gồm có sử truyện chủ tử,
luận thuyết, chiếu sách, thư kí) Trong đó thư kí là thể loại nội hàm rất rộng
từ sự thể y phục đến ghi chép tạp danh
Đời sau người ta tách “thư” thành một loại riêng thành “thư điệp”, các loại văn chương như: trạng điệp, lệnh, sớ cũng tách ra khỏi loại “thư kí” Phần còn lại trong thư kí gọi là “tạp kí” Kí nằm trong thư kí là một loại văn bản
ghi chép mang tính chất hành chính
Nghiên cứu về các thể loại văn học cổ đại Trung Quốc, Chử Bản Kiệt nhận
định: “văn “tạp kí” rất phức tạp” Những cái gọi là văn tạp kí cũng bao
gồm những bài không dễ phân loại, bất đắc dĩ mà thành loại riêng Từ cácbài kí hiện còn mà nhìn lại thì có cái ghi chép về nhân vật, có cái ghi chép
về sự việc, sự vật, có cái ghi về phong cảnh núi sông, có cái chuyên tựthuật, có cái chuyên nghị luận, có cái chuyên trữ tình, có cái chuyên miêu
tả, vô cùng phức tạp đa dạng
Trang 8Như vậy có thể thấy thưở sơ khai hành chính công vụ, kí ở Trung Quốcđược coi là sau thể loại văn chương ghi chép lại các mấu chuyện trong cuộcsống thường ngày nhằm mục đích ghi nhớ, ít mang tính nghệ thuật.
Trong nghiên cứu văn học Trung Quốc hiện đại, tác giả Lưu An Hải, trong
cuốn lí luận văn học của mình đã đề cập đến “kí” là thể tài văn học biên
duyên – có thể dịch là văn học trung gian vừa có yếu tố văn học, vừa có yếu
tố ngoài văn học, trong đó có văn học báo cáo và tiểu thuyết kí thực, tạp văn
và tuỳ bút Bàn về đặc trưng của “văn học báo cáo”, tác giả cho rằng: “văn học báo cáo vừa có tính chất báo chí, vừa có đặc điểm của văn học Mang
tính chất báo chí, nó có tính thời sự, tính chân thực, tính tranh luận Mangđặc điểm văn học, nó thuờng xuyên sử dụng các thư pháp của văn học đểlựa chọn, sáng tạo hình tượng nhân vật từ người thật, việc thật Lấy thưpháp phong phú của văn học làm cho tác phẩm có một sức hấp dẫn nghệthuật Lấy nhãn quang thẩm mĩ mà lựa chọn cứ liệu đề tài, dùng các thưpháp biểu hiện của văn học để khiến tác phẩm giàu cảm xúc và có nhữngkhả năng miêu tả sinh động của đời sống Tạp văn, theo tác giả, là sự kếthợp giữa văn học và chính luận Sắc thái chính luận của tạp văn là thôngtính hình tượng văn học mà biểu hiện ra
Thông qua những thu nhận nói chung ít ỏi về nghiên cứu kí trong văn họcTrung Quốc, có thể thấy tính chất phức tạp của thể loại và cho thấy đặcđiểm của kí: tính thời sự và tính chân thực của kí
_Ở phương Tây
Từ Nghệ thuật thi ca của Arixtot đến Mĩ học của Hê-ghen đều chia văn học
thành 3 loại : Tự sự, trữ tình, và kịch Như vậy không có chỗ dành cho thể
kí Trong Từ điển thuật ngữ văn học phương Tây hầu như không có một
khái niệm nào tương đương với khái niệm kí vốn quen dùng trong văn học
Việt Nam, mà chỉ có khái niệm nonfiction ( chỉ văn chương phi hư cấu)
Trang 9phân biệt với fiction( chỉ văn chương hư cấu), ngoài ra có một số các thểloại khác như essay, report…nhưng cũng không bao quát hết phạm vi màchúng ta gọi là kí của Việt Nam Từ điển Encarta định nghĩa về thể loại
essay: là kết cấu văn học nhằm biểu hiện những tư tưởng của chính nhà văn
về một chủ đề và thường chỉ một phương diện riêng của chủ đề Khác với
những hình thức giải thích mang tính qui phạm như luận văn, luận thuyết,luận án, essay thường ngắn gọn về phạm vi và thoải mái về phong cách, chophép diễn tả phong phú và đầy đặn những vấn đề liên quan đến cá nhân.Như vậy từ arixtot đến He-ghen đều không nhắc đến kí như một thể loạinghệ thuật
- Ở Liên Xô:
Ở Liên Xô, kí được quan tâm đặc biệt Trong từ điền thuật ngữ văn học của
L.Chimôfeep và N.Vengro, các tác giả cho rằng kí là “một thể loại của văn xuôi tự sự”, “miêu tả chính xác sự kiện xảy ra trong cuộc sống thật và những người tham gia vào các sự kiện đó và những ngưòi có thật trong cuộc sống”, tác giả viết kí “không có quyền hư cấu mà chỉ có thể chọn lọc những sự kiện, sự việc, con người điển hình” (Chimôfeep và N.Vengrop-
Từ điển thuật ngữ văn học – NXB GDH.1956) Như vậy, theo hai tác giảnày thì kí thuộc thể loại tự sự Và nhấn mạnh đến tính xác thực của thôngtin sự kiện, nhân vật trong kí, không thừa nhận sự hư cấu trong tác phẩm kí Trong từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết – Maxcơva, khái niệm kí được
xác định: Thể văn thuộc loại văn xuôi tự sự, cơ sở của nó là thông qua miêu
tả sự kiện có thật của cuộc sống, điển hình hoá chúng để đạt đến những khái quát nghệ thuật Tác giả Giulaiep cho rằng đặc trưng của “kí” là ở tính
tổng hợp của đối tượng miêu tả, cách tiếp cận toàn diện, bao quát các
phương tiện đời sống, nhân vật của kí “đại diện cho một mặt nào đó của ý thức xã hội, cho phép biểu hiện những xu hướng đó trong sự phát triển của
Trang 10lịch sử”, kí là thể loại tổng hợp giữa những yếu tố của văn chương và sự
điều tra khoa học, nhân tố tác giả trong kí được bộc lộ một cách mạnh mẽ.Tóm lại, các nhận định của nhà nghiên cứu Nga tuy đa dạng nhưng nóichung rất thống nhất, đặc biệt khi đặt vấn đề kí miêu tả người thật, việc thật
_ Ở Việt Nam:
Quan niệm trong truyền thống được trình bày rải rác trong các bài Tựa :
Tựa Lam Sơn thực lục, Hồ Sĩ Dương viết “ôi quyển Lam Sơn thực lục này không nói chuyện hoang đường như Lĩnh Nam chích quái”, không chép những điều quái loạn như Việt điện u linh, chỉ thêm bớt đi cho đúng sự thực
để rõ chính thống và làm sáng tỏ rõ đế nghiệp mà thôi (Đặng Đức Siêu Tổng tập văn học Việt Nam – NXB KHXH H.1994)
-Tựa Trung hưng thực lục, Hồ Sĩ Dương cũng viết “sách thực lục được biên soạn nhằm chép lại sự việc, nêu công lao, tỏ rõ chính thống và ghi rõ dòng dõi của vua hiền”, “tập thực lục này không phải ghi chuyện phỏng đoán vu
vơ và đặt lời văn hoa thêm bớt mà chỉ căn cứ vào sự thực mà chép hẳn ra” Như vậy, trong các lời “tự, bạt” này, ta thấy các tác giả quan niệm là những ghi chép sự thực, những điều “bấy lâu nghe được” hoặc đã từng xảy ra với
bản thân, những điều hoàn toàn không hoang đường quái đản và các tácphẩm kí viết ra thường mang mục đích là để răn dạy, nêu gương, giáo dụchoá đạo đức
Đến thế kỉ thứ XVIII – Phan Huy Chú cũng nêu quan niệm về truyện kí:
“phàm các bản thực lục các triều, các sách ghi chép khác, các bản kiến văn tạp chí, cho đến các sách chép về môn phương thuật đều xếp vào loại truyện kí” (Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương tạp chí).
Như vậy, Phan Huy Chú đã bắt đầu có ý thức về phạm vi loại truyện kí.Song, phạm vi này rộng, bao gồm nhiều tác phẩm mang nặng tính chứcnăng, ít tính nghệ thuật, và đúng như tên gọi truyện kí, tác giả không tách
Trang 11truyện Lĩnh nam chích quái, Việt điện u linh, Truyền kì mạn lục ra khỏi kí.
Kí ở đây được hiểu theo một hàm nghĩa rất rộng là những tác phẩm ghichép dưới mọi hình thức văn xuôi, mọi phương diện đời sống, không phânbiệt sự thật và hư cấu
Đến thời hiện đại từ thế kỉ XX đến thế kỉ XXI:
Viết về thể kí, giáo sư Hà Minh Đức đã cho rằng “các thể kí văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép linh hoạt trong thế kỉ thứ XV với nhiều dạng tường thuật, miêu tả, biểu hiện bình luận về sự kiện, con người có thật trong cuộc sống, với những nguyên tắc tôn trọng tính xác thực và chú ý tính thời sự của đối tượng miêu tả”.
Nhà viết kí Tô Hoài cho rằng “ kí cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nó vẫn đầy nhưng vóc dáng nó luôn luôn đòi hỏi sáng tạo và thích ứng Cho nên, càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn, cũng không
có thể làm việc ấy được”
Trong Thuật ngữ nghiên cứu văn học (NXB GD Hà Nội.1973), kí được xem là “một loại hình văn học tái hiện cuộc sống qua sự ghi chép, miêu tả người thật, việc thật Hình tượng của kí có địa chỉ chính xác của nó trong cuộc sống Do đó, tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của kí Kí phản ánh cuộc sống kịp thời, linh hoạt và thuyết phục người đọc bằng người thật việc thật”
Còn theo giáo sư Trần Đình Sử “kí thực sự là một lĩnh vực văn học đặc thù.
Đó là các tác phẩm văn học văn xuôi tái hiện các hiện tượng đời sống và nhân vật như là các sự thật xã hội không tô vẽ…Đó là hình thức văn học để chiếm lĩnh các sự thực ngoài văn học của đời sống”
Có rất nhiều những quan điểm, định nghĩa khác nhau về thể loại kí, mỗingười, ở mỗi góc độ nghiên cứu lại có cái nhìn khác nhau về thể loại kí.Qua một số ý kiến và định nghĩa về thể kí trên, ta thấy dù soi chiếu ở góc độ
Trang 12nào thì giữa các quan niệm ấy đều có một quan điểm chung về kí: kí là tácphẩm văn xuôi nhấn mạnh đến tính chân thực, trong tác phẩm kí, những sựviệc, sự kiện, con người trong kí đều là các sự thật Những sự thật ấy đượctái hiện sinh động, linh hoạt, do đó, ta có thể rút ra một cái nhìn chung nhất
về thể loại kí: “Kí là một thể văn xuôi trần thuật, phản ánh đời sống một cách nghệ thuật mà chân xác linh hoạt, bộc lộ những ý nghĩ, cảm xúc trực tiếp của cá nhân về người thật việc thật có giá trị thẩm mĩ, có ấn tượng lớn với cá nhân ấy, tôn trọng sự xác thực và tính thời sự của đối tượng miêu
tả sử dụng hư cấu một cách hợp lí”
1.1.2 Các đặc trưng của kí văn học
1.1.2.1 Kí lấy sự thật khách quan của đời sống và tính xác thực của đốitượng làm cơ sở
Điểm khác biệt cơ bản của kí với các loại hình văn học khác là ở chỗ kíviết nhiều về những cái có thực trong đời sống, có ý nghĩa thời sự hoặc trựctiếp hoặc gián tiếp
Giống như người viết báo, người viết kí phải đặc biệt tôn trọng, phải truyềnđạt trung thực, chính xác những sự kiện của đời thực, việc thực, xúc cảmthực Nhà viết kí nào cũng phấn đấu theo phương châm xác thực đến mứctối đa Các xác thực ấy có lúc thuộc về khách thể, cũng có khi thuộc về chủthể sáng tạo Do đặc trưng này, người viết kí đòi hỏi một sự chuẩn bịnghiêm túc như là một công trình khoa học Vì vậy, tác phẩm kí không chỉ
có giá trị văn chương mà còn có giá trị cung cấp những tri thức về cuộc
sống và có giá trị như những tư liệu lịch sử Đọc những lá thư trong Từ tuyến đầu tổ quốc chúng ta biết được bao sự thật đau lòng như: “ở Điện Bàn, chị Th có mang bảy tháng, bị chúng bắt tra tấn suốt mấy ngày, cuối cùng bị một cú đá giày vào bụng, đứa con chưa đủ tháng bị phọt ra ngoài.
Trang 13Chị cầm cái thai vừa rú lên vừa chạy ra đường Một loạt tiểu liên bắn theo”; “ở Thăng Bình, chị T bị chúng cột chặt ống quần lại bỏ vào trong năm con rắn Chị ngã ra chết ngất Đến nay, đêm đến là chị rùng mình, đang ngủ vùng dậy kêu la: “nó nhiều quá”…(TTĐTQ.Tr112) Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, ngoài những trang viết cực kì phóng túng, tài
hoa, Nguyễn Tuân còn cho ta biết những số liệu rất cụ thể, tỉ mỉ về con sông
Đà: “Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc lấy tên là Li Tiên…tính toàn thân sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn thước mét” Trong Tờ hoa Nguyễn Tuân đóng vai trò là một nhà sinh vật học khiến ta bất ngờ, lí thú với những thông tin về loài ong: “ người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó là kết quả của 2.700.000 chuyến đi, đi từ tổ nó đến các nơi có hoa quanh vùng Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số”.
Như vậy có thể nói rằng sự thực là thước đo giá trị trong kí Giáo sư Hoàng
Ngọc Hiến đã khẳng định “ngoài gây hiệu quả khoái cảm mĩ học, thể kí gây ở người đọc những khoái thú thuần trí tuệ bằng việc cung cấp những tri thức người đọc quan tâm” Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng có ý kiến tương tự: “Cùng với cảm xúc văn học, ký còn chứa đựng cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm Sức nặng ấy được chuyển đi không giống như một cảm giác mỹ học mà như một quả táo Niu Tơn rơi xuống tâm hồn người đọc”
Nhưng kí là một tác phẩm nghệ thuật, sự thực trong kí là sự thực của nhữnggiá trị nhân sinh kết tinh trong sự kiện Kí không chỉ đơn thuần là thông tin
sự kiện mà là thông tin giá trị Đọc nhan đề của kí, đặc biệt là các tác phẩm
kí hiện đại, người ta thấy nội dung thông tin nổi bật lên là tiếng reo hân
Trang 14hoan, tự hào trong Những ánh đèn Hà Nội bật sáng, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, Vui dân công.…, là niềm suy tư chiêm nghiệm triết học trong Ai đã đặt tên cho dòng sông, Sử thi buồn…, là câu hỏi xót xa nhúc nhối trong Cái đêm hôm ấy đêm gì, Người đàn bà quỳ Dường như nội dung ghi chép sự
kiện nhòe mờ đi để lắng đọng lại một bức thông điệp về sự sống Mỗi trang
kí là một thể nghiệm của người viết, cho nên quá trình phát triển lâu dài củathể loại là quá trình tích lũy không ngừng những giá trị cuộc sống đã kinhqua sự trải nghiệm thực sự Trong kí, người ta thấy sự kết đọng của những ý
vị nhân sinh Đó có thể là niềm ngưỡng mộ trước công trình kiến trúc mangbiểu trưng cho cái huyền diệu của Phật Pháp, có thể là nỗi cảm hoài thờithế, có thể là tiếng nói vừa căm phẫn vừa xót thương trước sự sa ngã củacon người, có thể là một bản tố cáo đối với tội ác thực dân…Tất cả nhữngtrải nghiệm sự sống ấy không chỉ cung cấp cho người đọc một kho tri thức,
mà còn bồi đắp thế giới tâm hồn, khiến cho người đọc được sống nhiềucuộc đời, nhiều cảnh huống
Kí không chỉ sao chép lại, nhận thức những hiện tượng riêng lẻ của cuộcsống, nó thường có xu hướng siêu việt khỏi sự sống cá thể và hữu hạn đểvươn tới giá trị vĩnh hằng Cho nên, ta thấy trong các trang kí, lớp thông tin
sự kiện thường là lớp thông tin bề mặt mà chìm sâu của nó là bức thôngđiệp của nhà văn, những tìm tòi của nhà văn về ý nghĩa đích thực của sựsống, cắt nghĩa của nhà văn về thân phận con người Trong trang kí củaTrần Đăng, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, những tác phẩm văn học thựchiện chức năng của báo chí thời chiến tranh, những tác phẩm theo sát dòngthời sự nóng hổi của cuộc chiến, người ta vẫn thấy xu hướng khái quát một
quy luật tồn tại Trang kí Trên những con đường Việt Bắc của Nam Cao
dường như không chỉ nhằm mục đích ghi lại một chuyến công tác lên ViệtBắc mà còn thấm đẫm bao suy nghiệm về đất nước, về sự đổi thay và sức
Trang 15mạnh kì lạ của con người: “Người mình thì kiên nhẫn Cái nghị lực của dân tộc ta là một thứ nghị lực bình tĩnh, lặng lẽ, tiềm tàng Nó không nổ tung ra một cách ầm ỹ như trái phá, cốt mìn Nó không chuyển rung trời đất như núi lửa Nó là dòng sông cần cù, đêm ngày mài rũa đôi bờ để tạo cho mình một con đường rộng mãi ra, đêm ngày bồi đắp những cánh bãi phì nhiêu và ngày càng bát ngát Nó biểu lộ ra ngoài một cách giản dị, thản nhiên, dường như không tự biết” Như vậy là “Trên những con đường Việt Bắc”
không chỉ là cuộc hành trình trong không gian, mà là cuộc hành trình đi tìmkiếm những giá trị người, khám phá những bí ẩn của con người vốn tiềmtàng trên mỗi chặng đường của đất nước Xu hướng vượt thoát ra khỏinhững sự kiện mang tính chất cá thể, hữu hạn để vươn tới biểu đạt và tìmtòi những giá trị nhân sinh đã khiến cho kí thường mang tính triết luận.Nhưng đó là thứ triết luận xuất phát từ sự chứng kiến, suy ngẫm về một sựsống có thật, đơn lẻ, cho nên nó không trừu tượng, có khả năng lay gợinhững suy tư rất nhân bản nơi người đọc Do đó hạt nhân cốt lõi của kí làghi chép sự thực nhưng không phải bất cứ ghi chép sự thực nào cũng đượccoi là kí
1.1.2.2 Tuy phản ánh chân xác hiện thực nhưng không phải bao giờ nhàvăn cũng được trực tiếp chứng kiến các sự thực ấy Nhà văn có thể chỉ ghilại qua dòng hồi tưởng, qua lời kể của người khác Khi ấy, nhà văn cần đến
sự hỗ trợ của tưởng tượng và hư cấu
Nói như Nguyễn Tuân: “chẳng cứ trong truyện ngắn, truyện dài, kịch, thơ ca hay trong kí, trong sáng tác nghệ thuật nào cũng có hư cấu Hư cấu, nói cho nôm na dễ hiểu là tưởng tượng ra Hư cấu không phải là tách rời thực tiễn và thực tế đời sống mà chính là rất gắn bó với đời sống Vốn sống có nhiều bao nhiêu thì càng hư cấu được bấy nhiêu, sức tưởng tượng càng mạnh, sâu, cao rộng hơn”.
Trang 16Khi sáng tác kí, tác giả có thể cần vận dụng đến trí tưởng tượng, hưcấu, nhưng hư cấu trong kí khác với hư cấu trong truyện Nếu như trong
truyện, hư cấu tạo ra một cái “hiện thực thứ hai”, cao hơn hiện thực có thật
ngoài đời sống thì hư cấu trong kí chỉ thể hiện ở vai trò sáng tạo chủ quanthông qua liên tưởng, ước đoán trong công việc lựa chọn, tổ chức, sắp xếp,bình giá những hiện tượng được mô tả để liên tưởng, sự việc con ngườiđược nổi bật những nét tiêu biểu, điển hình của nó Nhưng cần lưu ý rằng,
dù có hư cấu, kí vẫn phải lấy điểm tựa ở sự thật khách quan đời sống và tôntrọng tính xác thực của đối tượng miêu tả và những sự kiện, sự việc xácthực chỉ được xem là có giá trị nghệ thuật khi chúng được lựa chọn, có ýnghĩa tiêu biểu và giá trị thẩm mĩ và được tổ chức theo một ý đồ nghệ thuật.Không gắn với tính xác thực của đời sống, kí sẽ tự xóa đi ranh giới giữamình và các thể loại khác
1.1.2.3 Ở trong kí, nhân vật trần thuật thường chính là tác giả
Đúng như nhà phê bình Xô Viết Priliut đã nói: “Thông thường tôi trong kí
là tác giả, mặc dù không trừ hình thức người trần thật ước lệ” Tác giả trong kí đóng một vai trò rất quan trọng và đa dạng: “ vừa là nhân vật – nhân chứng cho các sự kiện đời sống và là nhân tố tổ chức sâu chuỗi các chi tiết, sự kiện vừa là tác giả bàn bạc, đánh giá về đói tượng phản ánh và bộc lộ lập trường, quan điểm, cảm xúc của bản thân”.
Với vai trò là nhân chứng của hiện thực đời sống phản ánh trong tác phẩm,nhân vật trần thuật dẫn dắt người đọc đến mọi hang cùng ngõ hẻm của cuộcsống, trò chuyện với nhân vật khác để tìm tòi, phơi bày những mặt trái, góckhuất của hiện thực Theo chân người kể chuyện- nhân chứng- người đọcnhư được tận mắt chứng kiến những bằng chứng- sự thật sinh động, đáng
tin cậy Vì vậy, sự xuất hiện của nhân chứng “tôi” tạo nên niềm tin nơi
người đọc vào độ xác thực của kí Khi khoác áo phu xe, Tam Lang không
Trang 17ngoài mục đích thuyết phục người đọc cũng thấm thía như mình nỗi cơ cực
của hạng “ người ngựa ngựa người”: bị đánh đạp, bắt bớ lừa gạt, coi khinh,
ngỡ ngàng, vì những mánh khóe nghề nghiệp và phẫn nộ trước tình trạng
bất bình đẳng trong xã hội Khoác lên mình tấm áo cơm thầy cơm cô, Vũ Trọng Phụng có thể đưa ra “đủ những mẫu hạng người về giới cơm thầy cơm cô”, cung cấp cho người đọc một cái nhìn đúng đắn về hiện thực.
Nhân vật trần thuật xưng tôi trong kí còn là nhân tố tổ chức, xâu chuỗi cácchi tiết, sự kiện vào một điểm nhìn thống nhất để kết cấu nên tác phẩm Tất
cả những sự kiện, số liệu về hiện thực tưởng chừng như rời rạc bỗng đượcxâu chuỗi, liên kết với nhau, giới hạn trong tầm nhìn của cái tôi duy nhất.Không phải ngẫu nhiên mà có người gọi tác phẩm kí văn học là một dạng
“văn tư liệu” Điều này cũng có lý do của nó Có những thiên kí mà trong
đó xuất hiện dày đặc số liệu, chi tiết mà khi đọc lên ta có cảm giác rời rạc,khô cứng, không liền mạch nếu người đọc không tinh ý nhận ra dụng ý và
sự sắp xếp của tác giả Chắc hẳn phải có một lí do, dụng ý nào đó của ngườiviết chứ? Để phục vụ cho dụng ý này, người viết phải có cách tổ chức, xâuchuỗi, liên kết riêng của họ Chẳng hạn, ở những tác phẩm kí đậm màu sắctrữ tình của Hoàng Phủ Ngọc Tường thường không được tổ chức thông quahành động của “tôi” trong không gian mà thường qua sự suy biện, liêntưởng, xúc cảm trong chiều sâu thời gian Trong kí Hoàng Phủ Ngọc Tường
thường xuất hiện nhiều những “tôi cảm thấy hình như có một cái gì đang lắng xuống thêm một chút nữa trong thành phố vốn hàng ngày rất yên tĩnh này”, “ tôi cảm thấy điều đó một cách tự nhiên”…Phương thức nối kết sự
kiện bằng một cái tôi đượm những xúc cảm cảm giác suy tư ấy khiến cho kíHoàng Phủ Ngọc Tường thường man mác, da diết một chất trữ tình riêngtrầm tư sâu lắng
Trang 18Mặt khác, nhân vật trần thuật xưng tôi còn bộc lộ trực tiếp những lập trườngquan điểm , tư tưởng , cảm xúc của nhà văn Nói như giáo sư Phương Lựu
là “ nhân vật người trần thuật đóng vai người nhà thơ và là nhà hùng biện trong các tác phẩm kí văn học” Có thể nói đây là tiêu chí phân biệt rõ ràng
truyệ và kí, bởi trong kí tác giả có thể phát biểu trực tiếp quan điểm và lậptrường thái độ của mình một cách công khai, không như trong truyện tác giảchỉ có thể bộc lộ mình trong những đoạn trữ tình ngoại đề, song bộc lộ nàycũng rất hạn chế và không bao giờ cũng đáng tin cậy
1.1.3 Các tiểu loại kí
Kí có khá nhiều tiểu loại Nhưng sự phân chia kí thành những tiểu loại khácnhau không dễ dàng gì và cũng chỉ tương đối
Phóng sự nổi bật bằng những sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi So với
tùy bút, bút kí, phóng sự có mục đích cụ thể, trực tiếp, phạm vi sự việc vàđịa điểm được quy định chặt chẽ Phóng sự gần với khoa học hơn là nghệthuật, giàu yếu tố trữ tình
Bút kí cũng tái hiện con người và sự việc khá dồi dào, nhưng qua đó biểu
hiện khá trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả Bút kí do đó mangmàu sắc trữ tình Những yếu tố trữ tình luôn được xen kẽ với sự việc
Kí sự ghi chép khá hoàn chỉnh một sự kiện, một phong trào, một giai đoạn.
Kí sự là bức tranh toàn cảnh trong đó sự việc và con người đan chéo vàonhau, những gương mặt của nhân vật không thật rõ nét
Truyện kí tập trung cốt truyện vào việc trần thuật một nhân vật Xoay
quanh một nhân vật, truyện kí dễ triển khai những tình tiết thành một cốttruyện hoàn chỉnh Đây là một thể loại có tính chất trung gian giữa truyện
và kí
Hồi kí kể lại những sự việc trong quá khứ Hồi kí có thể nặng về người hay
việc, có thể theo dạng kết cấu- cốt truyện hoặc dạng kết cấu – liên tưởng
Trang 19Tùy bút là một tiểu loại có lối viết tương đối phóng khoáng, nhà văn tùy
theo ngòi đưa đi, có thể từ sự việc này sang sự việc kia để bộc lộ những cảmxúc những tâm tình, phát biểu những nhận xét về người và cảnh Tùy bút làthể giàu chất trữ tình nhất trong các thể loại kí
Ngoài những tiểu loại trên còn có thể kể đến du kí, nhật kí, tự truyện, tạpvăn, bút kí chính luận, tiểu luận…Nhưng tựu trung lại thấy có những tiểuloại rất gần với thông tin như kí sự, phóng sự…, có thể rất gần với chínhluận như: tạp văn, bút kí, chính luận…, có thể rất gần với lịch sử như : hồi
kí, tự truyện…, có thể mang nhiều yếu tố trữ tình như: tùy bút, bút kí…
1.2 Sự phát triển của kí trong văn học Việt Nam
1.2.1 Thời trung đại:
Trong văn học trung đại nước ta, kí là một bộ phận văn học bên cạnh cácloại hình truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi Sự hình thành và phát triểnthể loại kí là cả một hành trình gian khổ để giải thoát khỏi văn học chứcnăng
Như chúng ta đã biết, hình thức của kí đầu tiên ở nước ta là văn khắc, tự,bạt ghi trên văn bia, chuông khánh Bài tự đặt đầu tác phẩm và bạt đặt cuốitác phẩm có phần lạc khoản ghi rõ ngày, tháng, năm, tên tuổi, chức vụngười viết
Thuở sơ khai, kí chỉ là những ghi chép tổng hợp mọi phương diện đời sống
từ tự nhiên, lịch sử, địa lí, văn hóa Hình thức sử dụng là đi kí, minh kí, tháp
kí, mộ chí, văn bia
Đến cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, khi chế độ phong kiến bắt đầu nứtrạn, mục ruỗng, thể kí bỗng có sức mạnh mới, kí sự đột phá dần bứt thoátkhỏi văn học chức năng, tiến tới văn nghệ thuật
Với lối tự sự cặn kẽ, tỉ mỉ, xác thực, sinh động xen lẫn với những đoạn trữ
tình phóng túng, tự do Theo giáo sư Nguyễn Đăng Na “đây là một thế kỉ
Trang 20của kí và tiểu thuyết chương hồi” Người mở đầu cho kí thế kỉ XVIII – XIX
là Vũ Phương Đề (1697-?) với tác phẩm Công dư tiệp kí và tiếp theo là Trần Tiến (1708-1772) với Cát xuyên tiệp bút Sau đó kí nở rộ với Hoan châu kí của dòng họ Nguyễn Cảnh, Sơn cư tạp thuyết – khuyết danh, “Sơn
cư tạp thuật” của Đan Sơn, “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác, “Vũtrung tùy bút” của Phạm Đình Hổ”, “Tang thương ngẫu lục” của Tùng Niên
và Kính Phủ, “Mẫn hiên thuyết loại” của Cao Bá Quát Đây là giai đoạn xãhội Việt Nam có nhiều biến cố, biến động Con người trong giai đoạn nàykhông phải chỉ có rung cảm trước mà còn nhận thức, lí giải nó, và quá trìnhnày đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tác phẩm kí Từ những tác phẩm
kí ghi chép về những tấm gương, những vị thánh nhân trong lịch sử vànhững biến cố biến động lịch sử, các tác phẩm kí đã dần đi xa hơn Bêncạnh những dòng ghi chép lịch sử là những câu chuyện diễn ra bên lề màtác giả “mắt thấy tai nghe” cùng những lời bàn về vấn đề đạo đức, về luân
lí, phong tục… Cái tôi cá nhân ngày càng biểu hiện một cách trực tiếp.Trong những thành tựu kí văn học trung đại đã kể trên, “Thượng kinh kí sự”của Lê Hữu Trác, “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ là hai tác phẩmtiêu biểu tạo nền tảng cho thể loại kí những giai đoạn sau phát triển
“Thượng kinh kí sự” được xem là “một đỉnh cao”, “nghệ thuật đíchthực đầu tiên của văn học Việt Nam”, “sự hoàn thiện thể loại kí văn họctrung đại” và là “mực thước” cho lối viết sau này Tác phẩm vừa mang tínhchất du kí vừa mang tích chất kí sự Đây là lối khảo cứu đậm chất thời sự
và cũng uyển chuyển, tinh tế, phóng túng trong ngòi buts miêu tả nhữngđiều mắt thấy tai nghe trên đường đến phủ chúa của Lê Hữu Trác
“Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ ghi chép những việc xã hội xảy ralúc bấy giờ, người đọc hình dung không khí xã hội những năm cuối cùngcủa triều đại Lê-Trịnh ở Thăng Long Tác phẩm dù mang cảm hứng phê
Trang 21phán nhưng phê phán ấy vẫn trên lập trường đạo đức nhằm biểu dương lễgiáo phong kiến.
Như vậy có thể thấy kí trung đại tồn tại như một hình thức ghi chép tổnghợp văn sử triết bất phân mang nặng tính chức năng chưa có sự tách bạch rõràng truyện và kí, chưa có ý thức hư cấu tự giác Vì những lẽ đó, kí trungđại miêu tả một sự thực mang nặng tính ước lệ trên lập trường đạo đứcphong kiến
* Kí viết về Hà Nội
Thăng Long – Hà Nội là trung tâm văn hóa chính trị của cả nước Cùng vớidòng chảy của thời gian, qua những biến thiên của lịch sử, văn học viết vềđất “kẻ chợ” đã phát triển liên tục đóng góp một mảng quan trọng cho nềnvăn học nước nhà, đồng thời góp phần tô điểm thêm cho diện mạo văn hóamảnh đất kinh kì ngàn năm văn hiến
Trong năm thế kỉ đầu dựng nước, tác phẩm kí Thăng Long xuất hiện dướidạng các tác phẩm mang chức năng hành chính và nghi lễ tôn giáo, chủ yếu
là các tác phẩm thuộc loại văn khắc và một số tác phẩm có tính chất truyện
kí, tiểu truyện Văn khắc phần lớn được khắc trong dịp xây dựng hay tôntạo các ngôi chùa lớn để ghi lại việc xây dựng và công đức cho nhà chùa.Tác giả của các bài văn khắc này là tăng lữ hoặc quan chức cao cấp triềuđình, do đó dấu ấn tôn giáo khá rõ nét Tuy vậy, những tác phẩm kí của giaiđoạn này cũng có những thành tựu và vẻ đẹp riêng Những tác phẩm tiêubiểu: “Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn”, “Bia tháp Sùng ThiệnDiên Linh” thời vua thứ tư triều Lý nước Đại Việt, “Việt điện u linh” của
Lý Tế Xuyên, “Thiền Uyển tập anh” , “Lĩnh Nam chích quái” của Trần ThếPháp và “Nam ông mộng lục” của Hồ Nguyên Trừng
Có thể nói, kí Thăng Long trong năm thế kỉ đầu không chỉ thể hiện vẻ đẹpđộc đáo của văn hóa lịch sử đương thời mà còn đặt nền móng cho sự phát
Trang 22triển vượt bậc của thể loại này trong giai đoạn tiếp theo Các tác phẩm thuộcloại hình văn khắc tiếp tục con đường chức năng của nó nhưng dần mở rộngsang các lĩnh vực xã hội khác, đặc biệt là văn bia đề tên tiến sĩ trải suốt từđời Hồng Đức, đã ghi lại các kì thi quan trọng bậc nhất diễn ra tại đế đô ,cũng như sự trọng thị, bồi dưỡng nhân tài của quốc gia Các tác phẩm mangtính chất địa chí dần phát triển thành kiểu thức chuyên biệt, đạt thành tựucao sau này Riêng kí truyện thì phát triển theo hai nhánh, hoặc mở rộng kếtcấu để thành các tác phẩm kí trường thiên, nhiều thiên, mang vẻ đẹp hoànhtráng, hoặc phát triển theo hướng mài rũa tinh tế đẻ thành tá phẩm có dunglượng nhỏ, xinh xắn và hấp dẫn.
Thời Lê – Mạc, kí Thăng Long – Hà Nội tuy không có nhiều thành tựu nổibật nhưng lại lặng lẽ tạo nền móng cho sự phát triển nghệ thuật ở giai đoạnsau Điều đó gắn liền với việc bắt đầu hình thành quan niệm mới về conngười cá nhân, yếu tố cơ bản làm nên phẩm tính của kí nghệ thuật
Bước sang thế kỉ tiếp theo đặc biệt từ thế kỉ XVII trở đi lịch sử dântộc diễn ra quá nhiều thăng trầm Đời sống có quá nhiều xáo trộn của kinh
đô từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh rồi nhà Nguyễn lập nước, kinh đôđược chuyển vào Huế, Thăng Long trở thành cố đô và trở thành mảnh đấtmàu mỡ cho sự phát triển vá nở rộ của kí Người viết kí là người trongcuộc, sự kiện trong kí là sự kiện đời thường hằng sống, hằng tác động đếncon người Khi ấy các nhà văn bắt đầu mang trong mình ý thức cá nhânkhông thể không phản ánh thế cuộc bể dâu bằng cái nhìn thế sự Và hàngloạt các tác phẩm kí xuất sắc giai đoạn này đã đem đến cho văn học Thăng
Long một bước phát triển vượt bậc như: “Công dư tiệp kí” của Vũ Phương
Đề, “Tiên tướng công niên phả lục” của Trần Tiến, rồi “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác ghi lại bao chuyện bi hài trong lần lên kinh, “Vũ
Trang 23trung tùy bút”, “Phong Châu tạp thảo” của Phạm Đình Hổ, “Tang thương ngẫu lục” của Kính Phủ-Nguyễn Án
1.2.2 Thời hiện đại
1.2.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ xx đến 1945
Thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam đảo lộn từ một nước phongkiến trở thành thực dân nửa phong kiến Nhưng trong niềm “bất hạnh” bịxâm lược đó Việt Nam đã được tiếp xúc với văn hóa Pháp và văn minh ÂuTây Chính sự tiếp xúc đó đã tạo điều kiện cho văn hóa Việt Nam từng bướchòa nhập vào quỹ đạo văn hóa thế giới Trên cơ sở tiếp thu những ảnhhưởng của văn học phương Tây và dựa vào sự phát triển mạnh mẽ của báochí, kí thời kì này phát triển mạnh mẽ theo hai hướng: hướng thứ nhất kếthừa những hình thức kí đã có trong văn học truyền thống như kí sự, kí khảocứu, kí phong cảnh, hướng thứ hai là cách tân thể loại Sự cách tân này đưađến sự ra đời của thể loại phóng sự tạo nên bước tiến về thể loại, đến nhữngnăm ba mươi thế kỉ XX kí thật sự bước vào quỹ đạo hiện đại
*Kí về Hà Nội giai đoạn này phát triển theo hai hướng chính: khuynhhướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực Bên cạnh đó còn có khuynhhướng độc đáo là ghi chép khảo cứu phong tục
Về nội dung kí giai đọan này thay đổi cảm hứng từ biểu dương đạođức sang cảm hứng thế sự Điều này thể hiện rõ ở thái độ ngạo nghễ mà đauđớn của một thế hệ trí thức Tây học trước thế cuộc khốn cùng tùy bút của
Nguyễn Tuân như “‘một chuyến đi”, “ngọn đèn dầu lạc”, “tàn đèn dầu lạc”…ở thái độ phê phán công kích những kẻ bất lương, sự ô hợp của một
xã hội chạy theo đồng tiền trong các phóng sự của Vũ Trọng Phụng như
“cạm bẫy người,lục xì, kĩ nghệ lấy Tây…” hay như trong “Tôi kéo xe” của Tam lang,”Hà Nội lầm than ” của Trọng Lang, “ngoại ô, ngõ hẻm, thanh niên trụy lạc” của Nguyễn Đình Lạp…,
Trang 241.2.2.2 Từ 1945 đến 1975.
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đường lối văn nghệcủa Đảng đã đặt ra cho văn nghệ những những nhiệm vụ mới, nhận thức vàphản ánh kịp thời cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Kí trở thành mộtthể loại xung kích, tiên phong, đạt nhiều thành tựu rực rỡ Để phù hợp vớiyêu cầu thực tiễn cách mạng, kí giai đoạn này phản ánh không khí sôi độnghiện thực cuộc sống những năm tháng kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xãhội, kháng chiến chống Mỹ, do đó mang đậm tính thời sự, giàu chất trữtình, biểu dương sự tích anh hùng lao động và chiến đấu
*Kí viết về Hà Nội giai đọan này mang âm hưởng chung của văn học
cả nước đó là thể hiện một niềm tin phơi phới về chế độ cùng khát khao xâydựng Hà Nội to đẹp hơn, đàng hoàng hơn Những cây bút “gạo cội” nhưNguyễn Tuân ,Tô Hoài, Hoàng Đạo Thúy, Trần Quốc Vượng, Vũ Bằng …
đã thể hiện vẻ đẹp tế vi của Hà Nội từ nhiều góc độ khác nhau Tác phẩm
tiêu biểu nhất phải kể đến như: Phở , Giò lụa, Cốm của Nguyễn Tuân, Phố phường Hà Nội xưa của Hoàng Đạo Thúy, Thương nhớ mười hai của Vũ
Bằng Trong thời kì chống Mỹ,Hoa kỳ định đưa Hà Nội về thời kì đồ đá,hàng loạt tác phẩm đã ghi lại chân thực và sâu sắc cuộc đối mặt lịch sử này
như: Mảnh đất, bầu trời Hà Nội, Hà Nội mườì hai ngày ấy…
1.2.2.3 Từ 1975 đến nay
Sau 1975, đất nước bước vào thời kì hàn gắn vết thương và xây dựng một
cuộc sống hòa bình Những vấn đề về số phận cá nhân trong thời chiến trởthành vấn đề thứ yếu thì trong giai đoạn này lại nổi lên như một vấn đề thời
sự bức xúc Người ta quan tâm tới quyền dân chủ và bình đẳng của mỗi cánhân trong xã hội, vì thế nhãn quan sinh hoạt thời kì này chuyển từ nhãnquan cộng đồng sang nhãn quan dân chủ Bên cạnh đó xung đột trong quan
Trang 25niệm giữa các thế hệ, những rắc rối của đời sống kinh tế thị trường , cácmâu thuẫn về đạo đức lối sống…đã nảy sinh biết bao bi kịch trong cuộcsống đời thường Do vậy thời kì này phóng sự lại lên ngôi với những tác
phẩm đề cập đến những vấn đề xã hội: Người đàn bà quỳ, câu chuyện về một ông vua lốp, cái đêm hôm ấy đêm gì, công lí đừng quên ai….
Trong bối cảnh đó kí viết về Hà Nội thời kì này đã sớm nhanh nhạy cậpnhật những vấn đề của đời sống đang diễn ra ở Hà Nội, cố gắng khôi phụcnhững giá trị truyền thống, những nét đẹp của cổ truyền văn hóa dân tộc đãgóp phần lưu giữ những giá trị nhân bản, những nhân cách cao đẹp, nhữngcách ứng xử văn hóa giữa con người với con người, con người với cá nhân
với cộng đồng Những tác phẩm, tác giả tiêu biểu kể đến như: Chuyện cũ
Hà Nội, Chiều chiều và Cát bụi chân ai, của Tô Hoài; Thú ăn chơi người
Hà Nội, Đường vào Hà Nội, Dòng sông Hà Nội của Băng Sơn; Tinh hoa
Hà Nội của Mai Thục…điểm chung của những tác phẩm này đều tìm đến
vẻ đẹp tinh hoa từ ngàn xưa của Hà Nội
Trang 26Chương 2 Những chủ đề cơ bản trong kí viết về Hà Nội sau 1945
2.1 Người Hà Nội trong kí từ 1945 đến nay
Hà Nội, thủ đô của dân tộc bao đời nay vẫn là nơi mọi người hướngđến, trông về bởi đó không chỉ là nơi phồn hoa đô hội, là trung tâm kinh tếchính trị của cả nước mà còn là hình ảnh, biểu tượng cho linh hồn Việt, tâmhồn Việt Bản thân những người sống ở thủ đô được gọi bằng một cụmdanh từ ngưỡng mộ “Người Hà Nội” Vậy thế nào là người Hà Nội? Thậtkhó có thể đưa ra một khái niệm cụ thể nào đó bởi không có con người HàNội như một kiểu người đặc thù, tách ra khỏi khối cộng đồng dân tộc ViệtNam Con người Hà Nội chỉ là con người Việt Nam sinh sống, phát triển và
tự khẳng định mình trên một mảnh đất của tổ quốc gọi là Thăng Long và HàNội
Phẩm chất của họ chính là phẩm chất Việt Nam được vận động vàbiến đổi trong hoàn cảnh chung của đất nước và hoàn cảnh đặc thù của địaphương Phẩm chất của họ vừa mang tính phổ biến của dân tộc vừa mangtính đặc thù Do đó chúng tôi quan niệm “Người Hà Nội” là người sinh ra
và lớn lên ở Hà Nội Có thể đó là người nhập cư vào Hà Nội, nhưng nếu lànhập cư thì ít nhất phải có quá trình đủ để hòa nhập với lối sống và cáchcảm, cách nghĩ của cư dân gốc Hà Nội Với quan niệm đó chúng ta bắt gặpnhững con người có gốc gác Hà Nội hay từ mọi miền tổ quốc về đây vừatiếp nhận vừa hiến dâng tinh hoa làm nên bức chân dung đẹp đẽ về người
Hà Nội
2.1.1 Người Hà Nội trong chiến đấu.
Người Hà Nội kế thừa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam màtrước hết là nghị lực phi thường trước thử thách của thiên nhiên: đắp đập
Trang 27xây đê, ngăn sông lấp biển và chống lại những tai nạn thường xuyên của lũlụt, hạn hán, phải mất bao công sức mới có cơm ăn, áo mặc nên đối vớingười Việt Nam yêu lao động, quý trọng người lao động là truyền thống tấtyếu của dân tộc Cùng với y thức lao động đó là truyền thống xây dựng vàbảo vệ chủ quyền của dân tộc Mỗi khi quốc gia dân tộc có giặc ngoại xâm,tất cả già, trẻ, gái, trai, đều chiến đấu với sự kiên cường bất khuất đấu tranhđến cùng Dù thời gian đã trôi qua mấy trăm năm, bao đời đổi thay nhưngvẫn còn đó trong tâm thức người Việt hình ảnh chàng trai trẻ Trần QuốcToản bóp nát quả cam, và xung trận với lá cờ đỏ thêu sáu chữ vàng “phácường địch báo hoàng ân” Đó chính là hình ảnh sáng ngời của thế hệ tuổitrẻ Hà Nội: tuổi trẻ mà anh hùng.Từ 1945 đến 1975 dân tộc Việt Nam phảitrải qua những ngày máu lửa nhất của dân tộc, đó là cuộc kháng vĩ đạiđương đầu với kẻ thù sừng sỏ nhất thế giới là Mỹ, Pháp Kế thừa truyềnthống dân tộc chủ nghĩa anh hùng được phát huy đến đỉnh cao Hình ảnhngười lính Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riên trở thành nhữngngười lính đi đầu trong cuộc chiến chống lại bất công và tàn bạo, chống lạibon cướp nước dù chúng hùng mạnh đến đâu đi chăng nữa.
Vượt lên sự khó khăn, khốc liệt của chiến tranh, Người Hà Nội chiến đấu với quân thù bằng mưu trí và dũng cảm.Ngay từ những ngày đầu kháng
chiến chống Pháp, khó khăn về vật chất lại cộng thêm sự khủng bố gắt aocủa kẻ thù không hề làm nản ý chí chiến đấu của người Hà Nội Từ già đếntrẻ, từ phụ nữ đến nam nhi đều hăng hái tham gia kháng chiến
Với cuốn hồi ký Người Hà Nội những con người thật việc thật khiến ta
cảm phục Đó là hình ảnh của nữ cán bộ trẻ Lê Kim Toàn, là nam thanhniên Hà Nội Trần Minh Quốc, Trịnh Xuân Hoành, Nguyễn Đức Lạc, PhạmVăn Đôn…Họ đều là những chiến sỹ quả cảm, tham gia hết mình cho
Trang 28kháng chiến khi tuổi đời hầu hết mới đang ở độ tuổi hai mươi Bằng sự mưutrí dũng cảm của mình họ đã qua mặt được kẻ thù Chị Nguyễn Kim Toànnhanh nhẹn tháo vát trong các vai hóa trang, khi thì là cô gái buôn bán, lúclại đóng vai con dâu, hay người họ hàng xa… với cách đó chị đã che mắtđược kẻ thù, lượn khắp vùng Thăng Long thực hiện tốt nhiêm vụ Đảng giao
đó là vận động và tổ chức người tốt vào các đoàn thể kháng chiến như giađình anh Ba Tuân, ông chủ hiệu ảnh Vạn Hoa… Khi bị bắt kiên định gan dạ
và nhanh chóng tìm cách trốn thoát, hai lần chị bị bắt là hai lần trốn táo bạo,bất ngờ: chiều hôm trước đồng đội hay tin chị bị bắt sáng hôm sau đã thấy
về đến cơ sở rồi lại tiếp tục lao ngay vào hoạt động Với anh Trần MinhQuốc sự lanh lợi tài trí được phát huy cao độ Làm cán bộ địch hậu, anh bịbọn mật thám theo từng bước, không dưới hai lần chúng vui mừng vì bắtsống được anh, bọn đi trước lũ áp tải sau hai thằng hai bên súng ống đầymình giải anh về bốt vậy mà… anh đã trốn thoát ngay trước mũi chúng,thoát chết trong gang tấc Bắt mãi không được chúng điên cuồng treo giảithưởng cao cho ai bắt được anh, thậm chí còn hạ lệnh chỉ cần thấy người
giống thôi cũng bắn Mọi người thân mật gọi đùa anh là “cuốc lủi” dần dần
ngay cả bọn việt gian, mật thám cũng gọi như một sự chấp nhận thất bại,
bất lực trước con người này Trong hồi kí”Đơn vị pháo binh đầu tiên ” của
Phạm Văn Đôn một lần nữa lại khẳng định phẩm chất tuyệt vời của conngười Việt Nam nói chung và Người Hà Nội nói riêng đó là sự sáng tạo
tuyệt vời Chỉ với ”vài khẩu pháo già cỗi, trơ trụi, không máy ngắm, không máy tầm, máy hướng, thiếu mọi phụ tùng cần thiết trông không còn ra hồn pháo, cùng với một đống những bộ phận sứt mẻ, cong keo, gỉ bám thành lớp dày”, lính pháo thủ hầu hết chưa biết sử dụng thậm chí có người còn
chưa nhìn thấy pháo bao giờ Ngay người chỉ huy cũng chỉ có một chút xíukiến thức về pháo nhưng cũng không đủ để dạy cho anh em Vậy mà với sự
Trang 29kiên trì vừa đọc sách vừa thực hành anh em đã tái tạo lại được bảy khẩupháo Những khẩu pháo tưởng “có cũng như không” đã lập được chiến cônglàm nức lòng quân dân khiến quân giặc từ chỗ coi thường quay ra điêncuồng muốn triệt phá pháo đài của ta Trong trận quyết liệt giằng co với
địch, anh em pháo thủ bảo nhau “ai gan người ấy thắng” vừa hóm hỉnh lại
vừa thể hiện thái độ bình tĩnh và quyết tâm cao độ không sợ kẻ thù Trongtrận chiến ấy vì súng xấu, đạn tồi lại chưa được học qua bắn máy bay, quầnnhau với giặc suốt mấy ngày không hạ được chúng anh em nghĩ ra mẹo lậppháo đài giả bằng thân cau, bù nhìn rơm trông y như thật, còn pháo đài thậtthì được ngụy trang như đã tan hoang không còn gì Kết quả ta bắn rơi máycủa địch Pháo thủ sung sướng, bà con hoan hỉ, lãnh đạo Vậy là đơn vịpháo binh đầu tiên đã chính thức ra đời, thành công này có ý nghĩa lớn lao
về xây dựng lực lượng đồng thời là minh chứng hùng hồn cho chân lý củangười Việt “không có việc gì khó….quyết chí ắt làm nên”
Riêng Nguyễn Tuân đã có những phát hiện độc đáo vẻ đẹp của người
Hà Nội trong chiến tranh Người Hà Nội đánh Mỹ giỏi bằng mưu trí và lòngdũng cảm Nhà văn cảm thấy tự hào vô cùng trước những chiến công oanhliệt mà nhân dân thủ đô đã đạt được Tự hào về những chàng trai cô gái tàigiỏi của thủ đô đã làm nên những kì tích với một phong cách làm việcnhanh, mạnh,linh hoạt kịp thời và dứt khoát
Trận đánh ngày 29 tháng 6 năm 1966 đã diệt gọn bốn con ma thầnsấm Hoa Kì và bắt sống một tên giặc lái “Cùng ngày buổi trưa bắn Mỹ,buổi chiều lùng bắt Mỹ và vừa mới bật đèn đèn đường cho áp giải ngaythằng Mỹ qua phố nhà mình, người Hà Nội quả là có một phong cách làmviệc thật chi là linh hoạt kịp thời” Chào mừng chúa giáng sinh 25- 12 vàcũng để trừng trị những tên Giuda phản chúa, xâm phạm vào ngày lễ thiêngliêng này, quân dân thủ đô đã tiêu diệt 12 máy bay Mỹ trong một ngày, đây
Trang 30đúng là “vẻ đẹp tân thời của Hà Nội, của trời Hà Nội, của đất Hà Nội, của
cả hồ Hà Nội” (TTNT T3.TR 51) Trong những trận đánh trên không, HàNội luôn dẫn đầu các tỉnh thành miền Bắc về số lượng máy bay Mỹ đã hạđược (1967 hạ được 229 chiếc) và thực sự gây ngạc nhiên cho cho các tỉnhbạn về thành tích tiêu diệt máy bay địch
Không chỉ ở thành tích, Nguyễn Tuân còn phát hiện vẻ đẹp vẻ đẹpngười thủ đô trong cách đánh giặc tài hoa, tài tử Họ đánh giặc nhanh vàđẹp mắt Có trận chỉ diễn ra 30 phút, ta đã tiêu diệt được 3 máy bay Mỹ Cótrận lại chỉ diễn ra trong vòng 9 phút nhưng bọn Mỹ đã phải trả giá quá đắt
“tên lửa nổi đám mây vàng làm nổ tan hàng chùm giặc, giặc rụng lả tả
xuống như một cơn mưa đá”(TTNT T3 Tr 109) Mỗi đường đạn bắn ra không chỉ nhằm một mục đích là tiêu diệt địch là tiêu diệt địch mà mỗi đường đạn bay lên còn là một tác phẩm nghệ thuật, chỉ có ở Hà Nội, do
những con người Hà Nội tài giỏi tạo ra: “ Chao ôi! Giặc bay Hoa Kì đãchán ngấy Hà Nội quá lắm rồi Hà Nội mà lưới lửa tên lửa mỗi lần thổi rồnglửa bay lên nền trời xanh Thăng Long lại hệt như hạ bút viết chữ tháu lá bùathiêng khoanh đứng lại và đốt luôn các thứ “ con ma”, “thần sấm”, lôi tuộtxuống các thứ tướng úy, tá quỷ sứ ma vương Hoa Kỳ(TTNT.T3 Tr56).Cảnh tượng “rồng lửa’ rực trời Hà NỘi:””thật là nhanh, nhiều tốt, đắt ! Giặc
Mỹ trả giá đắt cho chuyến đi ăn cướp vừa rồi Mặt trận của thượng tầnghôm đó thật là giữ và cũng thật đẹp mắt Tên lửa nổi đám mây vàng là nổtan hàng chùm giặc,giặc rụng lả tả xuống như một cơn mưa đá Trận đánhchỉ diễn ra trong chín phút Buổi tối tên lửa lại nổ đỏ lừ lừ như con mắt thầnđang lùng bắt địch Những làn chớp chụp ảnh đêm một triệu nến sáng củaphi công trinh sát Hoa Kì chớp chớp được mấy cái rồi tắt ngấm Các cỡsúng của ta ban đêm càng rõ nét các đường đạn Hà Nội làm chéo cánh sẻ.Chưa đêm nào Hà Nội đánh giữ như vậy Sao lửa sao màu từ mặt đất vọt
Trang 31lên giữa mặt trời , sao sa ngàn vạ mảnh Nó lại còn như một cuộc đốt câybông toàn thành ăn mừng chiến thắng để đón mừng huân chương cao nhất.(TTNT.T3.Tr110) Dưới ngòi bút của tác giả thì đây không còn là một trậnđánh thông thường mà hình như đó là một cuộc trình diễn nghệ thuật đầyngoạn mục, ấn tượng.
Sau 12 ngày đêm liên tục ném bom Hà Nội, Mỹ đã phải gánh chịumột tổn thất nặng nề: 23 “pháo đài bay” B52 đã bị bắn hạ Ta đã lập nênmột trận “ Điện Biên Phủ trên không” làm nức lòng nhân dân cả nước, làmchấn động dư luận thế giới Cảnh bắt sống và giải tù Mỹ quanh phố Hà Nộitrong niềm phẫn nộ sôi trào, ngòi bút nghệ sỹ bốc men say trước cảnh giải
tù bừng bừng khí thế :”đả đả đế quốc Mỹ!Mỹ cút đi”.Trên trời giật giậtnhững cái chớp mùa hè giông, lũ dưới đường, rền như sấm là những tiêng
đả đảo: “đế quốc Mỹ cút đi” Đoàn tù Mỹ cúi đầu lầm lũi bước đi Hè phố
từ lúc chưa lặn mặt trời đã được vực cao lên như hai bờ sông đổ lá mớitrồng lên thành một rừng người Và giữa lòng sông khi trục chính của HàNội đang lừ lừ trôi đi những rơm rác Hoa Kì, từ lòng đường xông lên mùicủa thần chết Hoa Kì
Với chiến thắng ấy, ta đã buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán,chấm dứt ném bom miền Bắc rút quân ra khỏi Miền Nam Việt Nam Mùaxuân đó, để ăn mừng chiến thắng to lớn của mình, nhân dân Hà Nội đã đónmột cái tết tưng bừng toàn bằng hoa Mười tám cái tết chống Mỹ, nhưngchưa bao giờ Hà Nội ăn tết đặc biệt như vậy, nhiều hoa đến thế Cả mộtrừng hoa đào, những con phố đào từ từ tiến vào thành phố, “đào đứng, đàongồi, đào đi, đào cứ lấn dần sang đất phố phường vành đai của khu sơ tán.Đào ngồi nhờ cả sang phố Hàng Nón, đào tràn sang cả phố Hàng Ngang,ngồi nghé nhấp nhổm chỗ đầu Hàng Gai, bờ Hồ, hoa được thể còn nhíchvào Hàng Đào” Mọi người dân nô nức mua hoa đón mừng năm mới Dòng
Trang 32người chảy chợ tết “ như con trăn mình gấm” uốn khúc đang đói “ nuốtngấu nghiến bất cứ hoa gì, cỏ gì, sắc gì” Có lẽ mười tám năm chống Mỹ,chưa năm nào Hà Nội không có chợ hoa Nhưng mùa xuân năm nay, mừngchiến thắng, chợ hoa như đông hơn, tấp nập hơn, nhộn nhịp hơn, ai cũng cốgắng mua bằng được thứ hoa mình yêu thích “ có bao nhiêu đào, quất cúc làngười Hà Nội cũng mua cho bằng hết với bất cứ giá nào”(TTNT.T2.Tr569).Trong không khí tưng bừng của ngày tết, cách ăn mừng chiến thắng bằnghoa có lẽ chỉ có ở Hà Nội Không gian ngập tràn hương hoa ấy chiến thắngcủa ta trở nên đẹp hơn, tài hoa hơn và anh hùng hơn.
Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ chất tài hoa của Hà Nội khôngchỉ ở thành tích bắn trả nhanh,nhiều và đẹp mắt như đã nói mà còn ở phongthái sống rất thanh lịch Nghĩa là người Hà Nội muốn mọi thứ phải đẹp, lịch
sự, sang trọng Anh pháo thủ vẫn trồng hoa mười giờ trên nóc cầu LongBiên, treo hoa trên nòng pháo Đại đội nữ xung phong vẫn trang trí buồng
ngủ “đượm một vẻ thanh lịch giữa rừng Lưng vách, khẩu ca- bin treo cạnh
lọ hoa cắm cành mận trên ống mai…tập tiểu thuyết đặt dưới một viên cuội trắng vừa lấy từ lòng suối sâu lên Trên vách nứa, treo những tờ tranh cắt họa báo Tranh vẽ em bé ngủ, miệng tươi, đắp cái áo bộ đội; một nữ du kích Cu Ba, tóc xõa ngắn, đeo súng đứng gác bờ biển”(Hôm nay Hà Nội-
Tô Hoài) Người dân đào hầm không chỉ cốt cho sâu cho chắc mà còn phải đẹp nữa, “phải phủ cỏ lên cho áo thật xanh mượt một niềm hoài vọng”, và
mặc dù nổ súng, người Hà Nội vẫn trồng hoa ngay sát nách hầm cho đẹp.Các bạn nước ngoài đến Hà Nội trông thấy hoa hồng, rau cải trên chiến hào
và hầm trú ẩn, các bạn lạ và quý Thậm chí ở trại giam là nơi tưởng như cáiđẹp khó có thể tồn tại thì người Hà Nội vẫn cố gắng để tạo ra ở đây mộtkhông gian đẹp Bên cạnh những chấn song sắt, những bức tường xám lạnh
là “một sào cà chua lá xanh rờn và…những trái cà chua mũm mĩm” Ở một
Trang 33nơi khấc lại thấy có cả “thau cá vàng và lại có cả chậu cảnh nữa” Ngaychiếc mũ rơm cũng vậy Với người Hà Nội, dù là để tránh mảnh bom đạn
thì nó vẫn cần phải đẹp, nhẹ nhàng và luôn được cải tiến: “Cái kiểu mũ bùi nhùi mỗi ngày một chuyển phooc và cái dáng nó nhẹ nhõm mãi không ngừng cho nó hợp với cái kĩ tính của người Hà Nội” Dường như yêu cái
đẹp, thưởng thức cái đẹp đã trở thành nhu cầu, một thói quen của người HàNội Chiến tranh không làm họ mất đi vẻ lịch lãm vốn có mà ngược lại bằngnhững cử chỉ : đào hầm phủ cỏ một màu xanh hoài vọng cho đẹp, trồng hoamười giờ trên nóc cầu, treo hoa trên nòng súng …nói lên tất cả cái hào hoa ,lịch lãm, kiểu đánh giặc rất Hà Nội
Đó còn là nam nữ thanh niên tự vệ vẫn tổ chức đám cưới, cô dâu
và các phù dâu áo dài tha thướt Là cô thanh niên tự vệ hiên ngang chiến
đấu giữa “đất trời trời mù mịt, ầm ầm, đùng đùng đinh tai nhức óc là thế nhưng khi còi giả an vừa dứt cô lại rút chiếc khăn mùi xoa lụa trắng phau
ra lau mồ hôi trán, phủ bụi đất vương trên chiếc áo hoa ngắn tay, vai khoác súng trường, phe phẩy chiếc mũ rơm vàng óng lững thững bước về xí nghiệp sản xuất vừa đi vừa hát: “ mỗi tấc đất Hà Nội đượm thấm mãi lòng ta”(Chim bay trên trời Hà Nội- Đoàn Giỏi) Dường như khói bụi, chiến
tranh vẫn không làm mất đi sự yêu kiều trang nhã mà càng tôn thêm sự rắnrỏi của người phụ nữ Việt Nam: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” như tháchthức với kẻ thù Họ- những con người thủ đô,những con người ngoài cái tàithiện chiến để giữ đất nước còn dịu dàng trồng hoa ,chăm hoa yêu cây cỏ vàrung cảm mùa xuân đằm thắm như bất cứ dân tộc văn minh nào
Như vậy có thể thấy trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, người Hà Nội là biểu tượng sáng ngời cho tinh thần yêu nước, là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Họ chiến đấu và chiến thắng kẻ thù không chỉ bằng lòng dũng cảm, bằng ý chí kiên cường của một dân tộc có
Trang 34hàng ngàn năm lich sử mà còn bằng cả sự tài hoa tinh thần lạc quan, phong thái ung dung luôn bình tĩnh, tự tin trong mọi hoàn cảnh của mình.
2.1.2 Người Hà Nội trong xây dựng
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, trung tâm văn hóa chính trịchuyển từ “thủ đô gió ngàn Việt Bắc về Hà Nội Hà Nội là nơi có Đảng, cóBác mở lối soi đường Những trang văn thơ viết về Hà Nội, về “miền Bắcthiên đường của các con tôi” đều tràn đầy niềm hân hoan phấn khởi Từ đâymiền Bắc trở thành công trường xây dựng Các nhà thơ nhà văn hồ hởi niềmvui trước những thành quả mới của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tố Hữu, Huy Cận , Chế lan Viên cũng như thế hệ thi sĩ mới như Bằng Việt,Phan Thị Thanh Nhàn, Lưu Quang Vũ …đều có thơ nói về người Hà Nội.Cùng với đó các tác phẩm kí cũng lần lượt ra đời ghi lại chân thực, sinhđộng công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa đó
Dù chiến tranh hay hòa bình thì người Hà Nội vẫn luôn giữ cho mình mộtcốt cách, phong thái đặc trưng đó là sự thanh lịch, hào hoa Vẻ đẹp trí tuệ,thanh lịch, hào hoa của người Hà Nội trong công cuộc xây dựng gắn với vẻđẹp khỏe mạnh say mê cống hiến, họ là những người tiên phong đem hếtnhiệt tình để xây dựng chủ nghĩa xã hội Đó là Giáo sư -Tiến sĩ HoàngXuân Sính- nữ toán học đầu tiên của nước ta, bà đã từ bỏ thủ đô Pa-ri hoa lệtrở về đất nước với mong ước đào tạo thật nhiều cho đất nước những nhàtoán học.Giáo sư sinh ra trong gia đình danh sĩ của Hà Nội : Ông nội bà là
cụ cử Cót Hoàng Thúc Hội(1870- 1938) quê ở làng Cót, huyện Từ Liêm,
Hà Nội, đậu cử nhân nhưng không ra làm quan, ông nổi tiếng tài, đức vàđược sĩ phu trọng vọng; thân sinh ra giáo sư là cụ Hoàng Thúc Tấn đỗ tútài; các bậc cha chú của giáo sư đều đỗ đạt ở các trường Đại học danh tiếngcủa Pháp Gia đình của giáo sư là hình ảnh tiêu biểu cho những gia đình trí
Trang 35thức của Hà thành, bản thân GS là hình ảnh tiêu biểu cho phụ nữ thủđô,thanh lịch và tài năng, ý chí và nghị lực phi thường Tuổi thanh niên ,quyết tâm thực hiện ước mơ trở thành nhà toán học giúp bà vượt qua bứctường chắn của sự coi thường phụ nữ trên khắp hành tinh để tốt nghiệp thạc
sĩ toán tại Pháp trước sự ngạc nhiên của những người thầy Tương lai rộng
mở với cuộc sống bình yên tại Pa- ri hoa lệ, với gia đình hạnh phúc, vậy mà
GS dám từ bỏ tất cả để trở về tổ quốc nghèo khó, chiến tranh Điều gì khiến
Gs ngày ấy có quyết định táo bạo như vậy? Tình yêu tổ quốc mãnh liệt, lítưởng cách mạng tỏa sáng trong tâm hồn người phụ nữ trẻ khiến Gs khôngnhìn thấy con đường trước mặt đầy chông gai, hầm hố, bão giông, chỉ đitheo ngọn lửa trong tim và quyết định nhanh, dứt khoát, mạnh mẽ - về tổquốc Trở về khi đất nước đang hăm hở đi lên Xã hội chủ nghĩa, điều kiệnvật chất còn quá nhiều khó khăn, thiếu thốn, Gs khi ấy vẫn là một cô giáotrẻ giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội vừa đào tạo giáo viên vừatiếp tục say mê nghiên cứu toán học với ước muốn đào tạo ra những conngười biết suy nghĩ, biết ước mơ, và biết hành động chính xác khoa học.Khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, bà cùng với bạn bè đồng nghiệpsáng lập ra trường Đại học dân lập đầu tiên cho Việt Nam Cả cuộc đờingười phụ nữ ấy cống hiến hết mình cho khoa học, cho đất nước Hình ảnh
của bà là tấm gương để thế hệ trẻ ngày nay soi vào học tập: Sống phải có lí tưởng, niềm đam mê, quyết đoán và mạnh mẽ, sống là phải cống hiến
“sống là gì?điều cốt yếu là làm gì trong lúc sống” Không dưới một lần tác giả Mai Thục bày tỏ lòng thán phục ngưỡng mộ của mình với Gs : “nhà toán học nữ đầu tiên… duyên dáng và ý nhị, khiêm nhường và kín đáo, sôi nổi và say sưa, yêu đời, yêu người, yêu giới sinh viên trí thức trẻ”, “ở tuổi
70 Gs Tiến sĩ Hoàng Xuân Sính vẫn giữ nét trẻ trung, ý nhị, hào hoa”.Giáo
Trang 36sư Hoàng Xuân Sính mãi là hình ảnh tiêu biểu về người phụ nữ thủ đô chohôm nay và mai sau.
Đó còn là Nguyễn Tuân, Tô Hoài, những nhà văn tài năng tiêu biểu cho giớivăn nghệ sỹ thủ đô đã đóng góp những trang tuyệt bút về Hà Nội góp phần
xây nên lâu đài văn hóa Việt Nam, văn hóa Hà Nội “Nguyễn Tuân viết về
Hà Nội với tất cả ý tốt lời trong, mặn mà sâu sắc, có sức tỏa, sức ngân, có màu sắc, hương thơm và hồn người” Bằng tài năng và tình yêu với Hà Nội
Nguyễn Tuân đã tạo nên những trang văn đẹp chạm khắc trong lòng ngườiđọc hình ảnh về Hà Nội “Một Hà Nội chiến đấu,một Hà Nội thơ” một HàNội với tất cả đau thương mà hào hùng, khốc liệt nhưng anh dũng, hào hoa:
“bầu trời Hà Nội đánh Mỹ, mặt đất Hà Nội đánh Mỹ Vườn hoa, bãi chợ,bãi tha ma, ruộng rau,sân thóc, bờ ao,lề đường gác thượng… đều vút lênđường đạn Mũ rơm, mũ sắt lố nhố năm cửa ô Hình ảnh cô gái làng hoa
“cầm vội súng” bên những bông thược dược, huyết dụ bị thương đang bầmsắc và một tên Mỹ râu ria xồm xoàm, tóc râu ngô lim dim ngủ, đang ngồichờ hỏi tội Cảnh tượng pha nét anh hùng cổ đại Cái bi, cái hùng, cái nhântính hòa quyện Đó chính là tâm hồn người Hà Nội qua văn tài của NguyễnTuân” Tài năng Nguyễn Tuân bộc lộ rõ nét trong nghệ thuật tả cảnh Miêu
tả về Làng hoa Hà Nội : hoa đào thắm nở, cúc vàng khoe sắc, quất chín đỏ
ối, cúc chi vàng rực, laydơn màu san hô, luống phăng thơm ngát đủ màuxanh đỏ, trắng , tím, vàng, hoa sấu trắng tròn như hạt nếp… Nguyễn Tuântạo dựng một không gian đầy màu sắc Qua ngôn ngữ của Nguyễn Tuân,một cánh hoa, một thoáng hương cũng xao xuyến gợi về một Hà Nội vừađẹp vừa thơm Nó thức tỉnh cái thiện cái đẹp, đưa con người về với tình yêu
Hà Nội Đọc những trang Nguyễn Tuân viết về Hà Nội, chúng ta càng thêmyêu Hà Nội.(Hà Nội trong nét bút Nguyễn Tuân)
Trang 37Là người con sinh ra lớn lên Hà thành, Tô Hoài là hình ảnh conngười thủ đô biết vươn lên khó khăn,tự hoàn thiện và khẳng định bản thân,say mê cống hiến cho sự nghiệp văn chương nước nhà Theo tâm sự của TôHoài ông phải tự học, vừa đi vừa học, vừa viết vừa học Không chờ cảmhứng đến mới viết mà ngày nào cũng ngồi vào bàn làm việc “ngồi là viết,viết không hay hôm sau viết tiếp Cứ viết rồi cảm hứng sẽ đến” Sự miệtmài cố gắng ấy được đền đáp, nhiều tác phẩm xuất sắc cho văn học như: Vừ
A Dính, Kim Đồng, Vợ chồng A Phủ… lần lượt ra đời góp phần cổ vũ tinhthần cách mạng trong quần chúng nhân dân , làm dầy thêm lên nền văn họccách mạng Tuy nhiên trong những sáng tác đó nổi lên những tác phẩm viết
về Hà Nội Cũng như Nguyễn Tuân yêu tha thiết, gắn bó sâu nặng vớimảnh đất kinh kì này, Tô Hoài dành một phần đời văn để viết về Hà Nội
Ông nổi tiếng là nhà văn chuyên viết về Hà Nội Chiều chiều, Cát bụi chân
ai, Chuyện cũ Hà Nội,bộ ba tiểu thuyết Quê nhà- Quê người- Mười năm là
những tác phẩm gây được sự chú ý trên văn đàn Qua những tác phẩm này,
Tô Hoài làm sống lại không gian đời sống người dân làng Nghĩa Đô làng quê nghèo ven đô với những nhọc nhằn, thiện, ác, bạo lực “tạo ranhững mảnh vỡ của tâm hồn, và thân xác, trí tuệ”.Vậy mà con người vẫnthanh thản bước qua, ghép lại những mảnh vụn đó để thăng hoa thành vănchương âm nhạc, hội họa, thơ ca Vượt qua biên giới của nghệ thuật TôHoài còn là người “đứng mũi chịu sào” khi nhận trách nhiệm lãnh đạo Hộinhà văn Việt Nam, chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, đại biểu Quốc,tổng biên tập báo Người Hà Nội Nhưng dù ở cương vị nào Tô Hoài vẫnsống và viết về Hà Nội, xứng đáng là một trong những tác giả tiêu biểu củathơ văn hiện đại
Đâu chỉ có giáo sư, văn sĩ mà ngay những người con bình thường của HàNội cũng luôn ý thức giữ gìn nét đẹp truyền thống, đồng thời xây dựng hình
Trang 38ảnh Hà Nội – Việt Nam trên trương quốc tế Đó là Ngân An –người phụ nữnền nã và sang trọng của Hà Nội góp phần lưu giữ nét đẹp áo dài truyềnthống qua bộ sưu tập áo dài mang tên “Hà Nội phố’’, hơn thế nữa cònquảng bá hình ảnh Việt nam , văn hóa Việt Nam với bạn bè thế giới Sinh ra
và lớn lên ở phố Hàng Đào thuở nhỏ cô đã có niềm yêu thích mặc áo dài,lớn lên thích tự mình may những chiếc áo dài duyên dáng Khi mới mười batuổi cô đã có thể tự cắt áo dài cho mình Hơn hai chục năm sau niềm đam
mê giúp Ngân An không ngừng tìm tòi và sáng tạo, cắt may những chiếc áodài hợp ý từ các bà nội trợ đến các quý bà quý cô, các phu nhân TổngThống… Ngân An cùng với tà áo dài của mình sang Nhật, sang Mỹ,Sinhgapore để giới thiệu hình ảnh phụ nữ Việt Nam, văn hóa Việt Nam (Tà
áo dài Hà Nội – Mai Thục tr128)
Bên cạnh hình ảnh người Hà Nội tinh tế hào hoa các nhà văn có ý thứcmiêu tả họ với tư cách là những người đi đầu trong mọi lĩnh vực đờisống GS Tôn Thất Tùng,Tôn Thất Bách –hình ảnh của lương y tài năng, làcây đại thụ của y học nước nhà ( Cha truyền con nối- Mai Thục).Họ còn lànhững người táo bạo tiếp cận cái mới: GS Nguyễn Tài Thu-người đã đấutranh kiên cường với thói đố kị của người đời, kiên định theo đuổi cách
chữa bệnh mới bằng phương pháp châm cứu.
Công cuộc xây dựng đất nước ấy còn có sự góp mặt của càfe Lâm, là
họa sĩ Bùi Xuân Phái, ca sĩ Lê Dung…Tất cả làm nên diện mạo cho người
Hà Nội, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, hoàn cảnh nào họ luôn vươn lên và đạt đỉnh cao trong nghề nghiệp của mình Một trong những động lực để họ
vươn lên ấy chính là ý thức trách nhiệm công dân với đất nước nói chungvới Hà Nội nói riêng
2.1.3 Người Hà Nội trong cuộc sống đời thường
Trang 39Trong những năm tháng chiến tranh chống Pháp, đặc biệt là chống
Mỹ, nhiều bạn bè quốc tế khi được hỏi về ấn tượng của họ đối với Hà Nộiđều cho rằng đó là: Chiến tranh và Hòa Bình Chiến tranh là gian khổ, thiếuthốn, là tâm trạng lo âu phấp phỏng, thậm chí là đau thương chết chóc đó làhiện thực, là sự thật mà người dân Việt Nam nói chung và người Hà Nội nóiriêng đã trải qua Nhưng khi tận mắt chứng kiến cuộc sống thường nhật củangười dân thủ đô thì dường như tất cả đau thương hoảng loạn của chiếntranh đều mờ khuất sau tư thế ung dung, sự bình thản hiếm thấy ở bất cứdân tộc nào phải trải qua chiến tranh ác liệt như vậy
Trong chiến tranh, cuộc sống tuy có căng thẳng hơn nhưng người
Hà Nội vẫn sinh hoạt bình thường: đi chợ, làm việc…không chút kinhhoàng sợ hãi Đặc biệt họ vẫn giữ thói quen rất đẹp, rất sang của riêng HàNội Đó là thói quen đi dạo quanh hồ Gươm, hồ Tây, hay những con đườngrợp bóng cây mát rượi của Cổ Ngư Nhiều người nghĩ rằng : chiến tranh nổ
ra, bom đạn liên miên, loạn li sơ tán, người Hà Nội sẽ phải bỏ thói quen
này Nhưng ta vẫn thấy vào mỗi buổi sáng sớm hay buổi chiều “cho xe đạp tua một vòng hồ, ấy là thói quen của khá nhiều người thủ đô mở ra khép lại một ngày lao động xã hội chủ nghĩa của mình” (TTNT.T3.Tr18) Không vì chiến tranh mà họ bỏ thói quen của mình Thậm chí “có những ngày đường quanh hồ đông như hội chợ, mặc dù là còi báo động nổi lên tắt đi, lại nổi lại tắt hàng ba bốn lần”(TTNT.T3.Tr18) Nếu không đi dạo quanh hồ, họ
có thể tụ tập nhau tại quán bia ở bên hồ vào mỗi buổi chiều Hôm nào
“càng báo động nhiều thì những quán bia càng đông, càng có nhiều người tới để trò chuyện” Bom đạn không làm cho người Hà Nội phải chui vào
hầm mà lại làm cho họ đi ra ngoài phố, tới các quán bia Ở đây họ có thểbàn luận về mọi thứ chuyện Song nhiều nhất có lẽ là những câu chuyệnxoay quanh bọn giặc lái Mỹ bị bắt sống, tàu bay Mỹ bị bắn hạ…Ở đây ai
Trang 40cũng có thể tham gia vào câu chuyện bất luận già, trẻ lớn, bé…Với người
Hà Nội, tụ tập nhau lại đây là cách để chia sẻ niềm vui chến thắng của thủ
đô với nhau Một cách ăn mừng bình dân văn minh thể hiện tinh thần đoànkết và lối sống cộng đồng của dân Việt nhưng cũng rất đặc trưng Hà Nội.Thói quen này đến nay vẫn được người Hà Nội giữ, mỗi khi có sự kiện vui
họ lại túa ra đường cùng hò reo ăn mừng như một đại gia đình
Một thói quen nữa của người thủ đô là thói quen đọc sách Đọcsách là một thói quen rất văn hóa của người Hà Nội Thói quen này phù hợpvới với những ai không ưa sự ồn ào của phố phường Họ muốn trầm tĩnh,suy tư bên những trang sách để mà ngẫm nghĩ về nhân tình thế thái Bởi vậyđọc sách cần phải có thời gian cần thiết, không gian yên tĩnh Trong điềukiện chiến tranh những yêu cầu khi đọc sách thật khó có thể thực hiện được,người đọc sách sẽ ít đi, vậy mà “các hiệu sách cả cũ lẫn mới vẫn ùn ùnngười tiến vào lục sách cả xưa lẫn nay”(TTNT.T3,Tr21 ) Trong chiến tranhngười Hà Nội vẫn thói quen thưởng thức những món quà Hà Nội Ngay saukhi Ních xơn mở chiến dịch B52 ném bom xuống Hà Nội, Khi mà “kinhthành chưa nhạt khói trận, trăng cuối tháng chạp vẫn soi lên tội ác B52,những vệt trăng kéo dài hàng cây số miệng núi lửa thời đồ đá Nichxon “thìngười ta vẫn thấy bà cụ bán bún thang xuất hiện đều đặn không nghỉ buổinào, càng gần tết càng ngon lành, lại có cà cuống cay nữa” Dường nhưchiến tranh không làm cho người Hà Nội bỏ thói quen hàng ngày của họ.Bất cứ hoàn cảnh nào họ vẫn bình tĩnh thư thái Lúc nào đánh giặc thì họđánh, lúc nào không họ có thể làm việc, đi lại, ăn uống bình thường Nhữngtên lính Mỹ khi được tận mắt nhìn thấy tác phong của Hà Nội phải thốt lên:
“ lúc nào bắn súng thì họ bắn, lúc ngừng bắn vào dịp tết thì họ cầm vào hoa mùa xuân Thật là một sự năng động có loogic và thật là có văn minh”.