Ngay từ những năm sáu mươi, tác phẩm đã được dịch ra tiếng Nga, các nhà nghiên cứu Xô-viết khi nghiên cứu văn học phương Đông thường chú ý tới Truyền kỳ mạn lục [43, tr.114] Tác phẩm Tr
Trang 1tác phẩm thật khiêm tốn: Truyền kỳ mạn lục (ghi chép một cách ngẫu hứng
những truyện lạ được lưu truyền) nhưng từ khi ra đời đến nay, nó đã từng làm hao tổn tâm trí và giấy mực của nhiều thế hệ Từ các bậc túc Nho thời xưa cho đến các nhà nghiên cứu văn học thời hiện đại đều đánh giá cao và coi tác phẩm là một biểu hiện vinh dù cho nền văn học nước nhà Đặc biệt ở thế kỷ XVIII, một thế kỷ rực rỡ nhất của văn học trung đại, các học giả nổi tiếng như Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đã từng ca ngợi
Truyền kỳ mạn lục là một thiên cổ kỳ bút, áng văn hay của bậc đại gia với lời lẽ thanh tao tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen.
Vì vậy, nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục là việc làm có ý nghĩa nhằm
khám phá đầy đủ hơn giá trị của tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục không chỉ là mối quan tâm của người Việt Nam
mà còn là một tác phẩm văn học được sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học trên thế giới Ngay từ những năm sáu mươi, tác phẩm đã được dịch ra tiếng Nga, các nhà nghiên cứu Xô-viết khi nghiên cứu văn học phương
Đông thường chú ý tới Truyền kỳ mạn lục [43, tr.114]
Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là một trong những
đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại, càng ngày càng trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, càng chiếm được cảm tình của bạn đọc Càng ngày, người ta càng phát hiện và khẳng định vị trí vai trò của tác phẩm bởi nó ra đời đã đánh dấu sự trưởng thành của truyện ngắn Việt Nam trung đại, đánh dấu sự chuyển biến từ văn xuôi mang nặng tính chức năng
Trang 2sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật Mặc dù, tác giả đã khai thác những đề tài dân tộc, chú ý đến những truyền thuyết dân gian nhưng tác giả đã thực
sự vươn lên trên cách ghi chép của lối biên soạn truyện cổ [27, tr.54].Tác phẩm biểu hiện một xu hướng thoát dần khỏi ảnh hưởng thụ động của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử để bước sang mét giai đoạn mới, giai đoạn của văn xuôi tự sự, của truyện ngắn nghệ thuật
Vì vậy, nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục giúp ta soi rọi vào việc tìm
hiểu loại hình truyện ngắn trung đại Việt Nam
Sở dĩ Truyền kỳ mạn lục được đánh giá cao, được quan tâm như vậy
là vì: mặc dù viết theo thể loại truyền kỳ, một loại hình văn học dùng hình thức kỳ ảo làm phương tiện nghệ thuật nhưng tác phẩm đã mô tả khá phong phú về hiện thực cuộc sống một giai đoạn lịch sử mang màu sắc bi kịch của dân tộc Việt Nam thế kỷ XVI Sau cái vỏ hình thức kỳ ảo là những vấn đề
có ý nghĩa xã hội to lớn được thông qua số phận các nhân vật trong truyện
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề của xã
hội, trong đó nổi bật là vấn đề người phụ nữ Lần đầu tiên trong văn học
Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ đã xuất hiện như thế ở Truyền kỳ mạn lục, với cả diện mạo, tâm tư, tình cảm, nhu cầu và khát vọng, với số phận
của mình [43, tr.118-119]
Người phụ nữ, số phận của họ, những tâm tư, khát vọng … của họ đã được phản ánh nhiều trong văn học Việt Nam trung đại và hầu hết các nhà văn đều cho thấy người phụ nữ là nạn nhân của xã hội Nhưng nhìn nhận vấn đề, lí giải vấn đề về số phận của người phụ nữ sớm nhất và theo một
cách nhìn đa chiều thì có lẽ chỉ có trong sáng tác của Nguyễn Dữ Truyền
kỳ mạn lục là một tác phẩm có tác động lớn đến sự phát triển của văn học
Việt Nam trung đại trên nhiều phương diện, đặc biệt là vấn đề số phận con người, nhất là người phụ nữ
Vì vậy, nghiên cứu số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục là
Trang 3một công việc rất cần thiết và rất có ý nghĩa Nó giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về số phận người phụ nữ, tiếp cận vào đúng yếu tố cốt lõi của tác phẩm, từ đó có thể có được cách lí giải những vấn đề khác một cách đúng đắn về tác giả cũng như về di sản văn học quý giá này.
1.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với tư cách là một tác phẩm được xếp vào loại đỉnh cao của văn xuôi
tự sự Việt Nam thời trung đại, Truyền kỳ mạn lục đã được tuyển chọn để giảng dạy ở nhiều cấp học (Chuyện người con gái Nam Xương được học ở lớp 9, Chức phán sự ở đền Tản Viên được học ở lớp 10, tác phẩm được giới
thiệu trọn vẹn ở ngành văn các trường đại học và cao đẳng) Đây là tác phẩm đã tạo được nhiều hứng thú cho cả người dạy và người học nhưng cũng là một tác phẩm không dễ dàng chiếm lĩnh và cần phải được tiếp tục khám phá
Bởi vậy, nghiên cứu vấn đề đã nêu là một điều cần thiết và rất hữu Ých cho người viết để hiểu sâu hơn và giảng dạy đạt hiệu quả tốt hơn
2 nhiệm vụ của đề tài:
Trên cơ sở ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và những vấn đề liên
quan đến Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi nghiên cứu cụ thể từng số phận nhân
vật phụ nữ nhằm đi tới những kết luận khoa học về số phận người phụ nữ trong tác phẩm Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần năng cao hiệu quả trong giảng dạy và học tập về Nguyễn Dữ nói riêng, về loại hình truyện ngắn trung đại Việt Nam nói chung
3 Lịch sử vấn đề:
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm lớn mà ngay từ khi ra đời đã được
đánh giá cao, được nhiều học giả nổi tiếng quan tâm Nhiều vấn đề trong
Truyền kỳ mạn lục là đối tượng, là đề tài của các công trình nghiên cứu xưa
nay và không phải chỉ còn ở trong nước mà còn ở ngoài nước Từ nhiều góc
độ, đã có những công trình, bài viết có liên quan đến vấn đề mà đÒ tài của
Trang 4chúng tôi đặt ra Chúng tôi xin được lược dẫn về những công trình, những bài viết có liên quan trực tiếp đến đề tài:
bổ làm tri huyện Thanh Tuyền Mới được một năm ông cáo quan về nuôi
mẹ, thế rồi viết ra tập lục này để ngụ ý.”[ 8, tr 204]
- “Xem lời văn thì Truyền kỳ mạn lục không vượt khỏi phên dậu của Tông Cát, nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hoá ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu”[ 8, tr.204]
Đây có lẽ là ý kiến đánh giá sớm nhất về tác phẩm, Hà Thiện Hán chủ
yếu khẳng định mục đích sáng tác Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là để
nhắc nhở khuyên răn, liên quan đến việc dạy đời và tác phẩm là một cuốn sách có ý nghĩa giáo dục sâu sắc
3.1.2 Các học giả của thế kỉ XVIII – XIX, khi đánh giá về Truyền kỳ mạn lục thường thiên về ngợi khen nghệ thuật của tác phẩm:
- Ôn Như hầu Vũ Khâm Lân (1702 - ?) trong Bạch Vân am cư sĩ phả
kí coi Truyền kỳ mạn lục là một “thiên cổ kì bút”.
- Lê Quý Đôn (1726 – 1784)trong Kiến văn tiểu lục đánh giá văn chương Truyền kỳ mạn lục là “lời lẽ thanh tao tốt đẹp, người bấy giờ lấy
làm ngợi khen”
- Phan Huy Chó (1782 – 1840) thì khen rằng, Truyền kỳ mạn lục “là
áng văn hay của bậc đại gia”
Như vậy, các học giả thế kỉ XVIII – XIX, đã chú ý nhiều tới mặt văn phong, tới nghệ thuật ngôn từ nhưng chưa thực sự chú ý một cách thích đáng tới vấn đề số phận con người nhất là người phụ nữ
Trang 53.2 Thế kỉ thứ XX
Vào thế kỉ XX, Truyền kỳ mạn lục đã tiếp tục được khảo cứu trên
nhiều phương diện cả về nội dung và nghệ thuật Ngoài một số công trình nghiên cứu chủ yếu về nghệ thuật viết truyện ngắn, về thể loại của tác phẩm
như của Nguyễn Văn Dân ( Loại hình văn xuôi huyễn tưởng – Tạp chí văn học số 5 1984), Nguyễn Hữu Sơn ( Đặc điểm văn học Việt Nam thế kỉ XVI – các bước nối tiếp và phát triển, Tạp chí văn học sè 5,6 - 1988) còn có khá
nhiều các bài viết trong đó đáng lưu ý là các bài viết của Bùi Duy Tân
(Truyền kỳ mạn lục một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán – Văn học Việt Nam – Nhà xuất bản Giáo dục, 2001), Lại Văn Hùng ( Bàn luận thêm về vấn đề tác giả- tác phẩm Truyền kỳ mạn lục – Tạp chí văn học
số 10 - 2002 ), Vò Thanh ( Những biến đổi của những yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam – Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học), Nguyễn Phạm Hùng ( Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền
kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ - Tạp chí văn học số 7- 1987)).
Chúng tôi xin trình bày một số tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài
và nêu rõ ý kiến như sau:
3.2.1 Lời giới thiệu Truyền kỳ mạn lục của Bùi Kỷ (được Trúc Khê Ngô
Văn Triện dịch ra quốc ngữ in năm 1941):
- Về nghệ thuật, cụ Bùi Kỷ viết: “Nguyễn Dữ học rất rộng, lại có tài viết văn dùng nhiều điển tích Lối viết nào cũng hay, về phần uyên bác có thể ngang với Bồ Tùng Linh, về phần vận dụng các văn thể vượt hơn Đặng Trần Côn…”
- Về nội dung, cô cho rằng Truyền kỳ mạn lục đã đề cập đến vấn đề
người phụ nữ và xác định:
+ Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Người con gái Nam Xương
có chủ đề: Tả rõ phụ nữ ở xã hội cũ dù ăn ở thuỷ chung với chồng thế nào cũng chịu một thân phận hèn kém: Một đằng vì thua bạc mà gán vợ, một
Trang 6đằng vì ngờ vực hão huyền mà vợ phải quyên sinh Đáng giận thay! Cái thuyết “tòng phu” đã làm hại bao nhiêu bạn quần thoa trong bao nhiêu thế kỷ! [7, tr.10].
+ Truyện đối tụng ở Long cung, có chủ đề: “bài xích quỷ thần, quỷ thần mà lại cướp vợ người khác” [7, tr.10]
+ Truyện Từ Thức lấy vợ tiên có chủ đề: “ Cõi trần đáng chán làm sao, để cho người đời phải tưởng tượng ra một cõi tiên chăng?” [7, tr.10]
+ Các Truyện Nàng Thuý Tiêu và Lệ Nương có chủ đề: “ tả nông nỗi luân lạc của người phụ nữ, một đằng vì tên cường quyền chiếm đoạt làm rẽ thuý chia uyên, một đằng vì bọn ngoại xâm áp bức, làm cho bình rơi trâm gãy, nhưng Thuý Tiêu lại trở về được với Nhuận Chi, Lệ Nương cam chịu quyên sinh để trọn nghĩa với Phật Sinh, càng rõ ái tình chân chính không
có thế lực nào khuất phục được”[7, tr.10]
+ Truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa có chủ đề: “ …xem như hai câu thơ nói đùa Kim Hoa nữ sĩ làm cho bà phải mang hận đến suối vàng…” [7, tr.10]
+ Truyện Cây gạo, Kỳ ngộ ở Trại Tây và Yêu quái ở Xương Giang có chủ đề: “ bài xích thói đắm đuối trong vòng tình dục của bọn thiếu niên” [7,
tr.10]
+ Truyện Nghiệp oan của Đào Thị: “ vạch trần những hành động bất bình của bọn đội lốt thầy tu” [7, tr.10]
( Chữ Truyện là chúng tôi dùng theo nguyên bản của Bùi Kỷ)
3.2.2 Bộ sách Lịch sử văn học Việt Nam, tập II (sách Đại học Sư
phạm-NXB Giáo dục-1978) viết:
“ Nguyễn Dữ cũng đã Ýt nhiều nói lên được đời sống cơ cực của nhân dân, đặc biệt, tác giả đã chú ý đến đời sống tình cảm của những con người nhỏ bé…nhất là người phụ nữ bình dân …”
Tác giả của bộ sách này đã khẳng định số phận người phụ nữ bị đày
Trang 7đoạ vì loạn li, điêu đứng vì thế lực cường quyền nhưng chủ yếu là người phụ nữ bình dân Ngoài yếu tố Êy, theo tác giả thì đồng tiền cũng là một thế lực gây lên nỗi thống khổ cho người phụ nữ Ý kiến này theo chúng tôi cần được nghiên cứu thêm.
3.2.3 Bộ sách Văn học Việt Nam (NXB Giáo dục, 2001) viết:
Truyền kỳ mạn lục có nhiều truyện miêu tả tình yêu nam nữ, hạnh
phúc gia đình trong hoàn cảnh khó khăn và đầy biến động của xã hội phong
kiến Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Truyện người con gái Nam Xương phản ánh tình trạng đáng thương của người phụ nữ trong xã hội cũ: đảm đang, tình nghĩa mà vẫn phải chịu số phận oan nghiệt…Truyện Lệ Nương là bi kịch về mối tình chung thuỷ trong cảnh đất nước bị ngoai xâm Các Truyện nghiệp oan của Đào thị, Nàng Thuý Tiêu, Cây gạo, Kì ngộ ở Trại Tây thì lại miêu tả những mối tình trái với đạo lí Nho gia [33, tr.518]
Tuy nhiên các tác giả lại cho rằng Nguyễn Dữ đã táo bạo và phóng túng khi thể hiện quan hệ yêu đương không lành mạnh giữa TrìnhTrung
Ngộ và Nhị Khanh trong Truyện cây gạo, giữa Hà Nhân và hai nàng Đào, Liễu trong Truyện kì ngộ ở trại Tây và kết luận “ đối với truyện này
Nguyễn Dữ đã có lời phê bình để phê phán những quan niệm đồi truỵ và khẳng định lại những giáo điều về “đức hạnh tiết nghĩa” và bình luận thêm
“tuy thông cảm với khát vọng yêu đương của con người nhưng quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo Điều đó phản ánh thái độ đầy mâu thuẫn trong tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Dữ.” [33, tr.519]
(Chữ trại Tây là chúng tôi sử dụng theo nguyên bản của Bùi Văn Nguyên)
Với ý kiến này chúng tôi thấy:
- Các tác giả chỉ trình bày sơ lược về số phận người phụ nữ và cho rằng Nguyễn Dữ đã viết về tình yêu “ xuất phát từ thái độ bảo thủ của Nho giáo”
- Nếu Nguyễn Dữ đã “ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ cứng
Trang 8nhắc của lễ giáo…”, “táo bạo và phóng túng khi thể hiện quan hệ yêu đương”, “ có phần thương cảm với những khát vọng hạnh phúc chính đáng khi miêu tả những cặp trai gái công nhiên yêu nhau…” mà vẫn là người “có thái độ bảo thủ của nho giáo”, vẫn là người “bảo vệ lễ giáo” thì đây là một ý kiến đôi chỗ còn chưa nhất quán Ý kiến này gợi ý cho chúng tôi một hướng
tư duy: Phải chăng Nguyễn Dữ muốn nói rằng người phụ nữ thời Êy chỉ có thể có Ýt nhiều hạnh phúc khi không tuân theo nguyên tắc của lễ giáo phong kiến
3.2.4 Luận án Phó tiến sĩ khoa học Sự phát triển văn xuôi Hán – Việt từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX của phó tiến sĩ Nguyễn Đăng
Na (bảo vệ năm 1987) đã đặc biệt chú ý tới nhân vật phụ nữ và số phận của
họ trong Truyền kỳ mạn lục Tác giả luận án đã rót ra một kết luận rất thích
đáng: dù sống theo kiểu nào thì người phụ nữ cũng bất hạnh, cái chết
oan khốc là kết cục cuộc đời của hầu hết các phụ nữ.
Ý kiến trên là một gợi ý mang tính quyết định cho chúng tôi nghiên cứu đề tài này
3.2.5 Bài viết “Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ”(Tạp chí văn học số 7- 1987) của tác giả Nguyễn Phạm Hùng là bài viết được chúng tôi rất quan tâm Theo tác giả, Truyền kỳ mạn
lục là một tác phẩm đã đặt ra “vấn đề người phụ nữ” Chúng tôi tán đồng ý
kiến của tác giả khi nhận xét:
“Niềm khát khao hạnh phúc gia đình là chủ đề chính của nhiều truyện Mâu thuẫn giữa khát vọng hạnh phúc đó với các thế lực tàn bạo của
xã hội chính là hạt nhân nghệ thuật của những truyện này Người phụ nữ, hoặc vì chiến tranh phong kiến tàn khốc mà phải chịu thiệt thòi, khổ sở
(Truyện Lệ Nương) ; hoặc vì kẻ quyền thế độc ác, xảo trá mà phải chịu cảnh
“rẽ thuý chia uyên” ( Truyện nàng Thuý Tiêu); hoặc vì nam quyền phong kiến mà phải chịu cảnh chia lìa …Những khao khát hạnh phúc chân chính
Trang 9của người phụ nữ thường dẫn họ đến chỗ chết, và thường là tự vẫn”.
Tựu trung, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, người phụ nữ đã
xuất hiện rầm rộ như thế ở Truyền kỳ mạn mạn lục, với cả diện mạo tâm hồn, tình cảm, nhu cầu và khát vọng, với số phận của mình Đó là những
con người vốn xuất thân rất bình thường, có khi tầm thường, như kĩ nữ, tì thiếp …nhưng lại mang những phẩm chất rất đáng trân trọng, ngợi ca Nếu như trước đây, hình ảnh người phụ nữ quí tộc có đi vào sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Húc v.v …thì thường cũng mới chỉ dừng lại ở sự nhận thức trên bình độ tâm lí, còn ở đây, là một đối tượng nhận thức, đối
tượng thẩm mĩ trọn vẹn, thành vấn đề người phụ nữ trong văn học – với
những nhân vật trung tâm là phụ nữ Sáng tác của Nguyễn Dữ được xem là
mở đầu cho khuynh hướng phản ánh này để rồi những thế hệ nghệ sĩ kế tiếp sau tiếp tục phát triển nó, tạo nên những thành tựu rực rỡ với những tên tuổi chói lọi như Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, v.v …
Chính vì thế, khuynh hướng tư tưởng chủ đạo của Truyền kỳ mạn lục
đâu phải là đề cao chí khí nhà nho hay đạo đức phong kiến mà chính là ở chỗ
đấu tranh cho con người, cho quyền sống của con người, vì con người (nhất
là phụ nữ ), mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa Và đương nhiên, tác giả chống lại những gì bất công, tàn bạo, trái với con người, trái với tinh thần dân chủ mà thời đại cho phép Đó chính là khuynh hướng tư tưởng của
những nhà văn lớn của giai đoạn này, đang hoà nhập vào một trào lưu rộng
lớn trong suốt nhiều thế kỉ – trào lưu văn học nhân đạo chủ nghĩa [30,
Trang 10loại truyền kỳ và so sánh hình tượng phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ với những tác phẩm cùng thể loại
3.2.7 Một kết quả nghiên cứu mà chúng tôi rất chú ý là luận văn thạc sĩ của học viên Nguyễn Thị Dương (Đại học Sư phạm Hà Nội 1996) đã nghiên
cứu về “Số phận người phụ nữ và các phương thức thể hiện số phận Êy trong Truyền kỳ mạn lục” (do PGS.TS Nguyễn Đăng Na hướng dẫn) Đây
là một công trình nghiên cứu rõ nét về số phận người phụ nữ Tác giả đã
chia số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục thành hai nhóm: nhóm
thứ nhất là những số phận may mắn, nhóm thứ hai là những số phận rủi ro (cách phân chia này còn có những điểm khiến tôi băn khoăn, xin được trình bày ở dịp khác)
Do mục đích của đề tài, tác giả Nguyễn Thị Dương đã dành 26 trang cho việc trình bày số phận người phụ nữ và 35 trang cho việc trình bày các phương thức thể hiện số phận Êy Với một bố cục như vậy, luận văn thiên
về nghiên cứu các phương thức biểu hiện hơn là nghiên cứu các số phận
người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục.
Như vậy, nhìn một cách tổng thể, các học giả, các công trình nghiên cứu đã có những nhận xét tương đối thống nhất về số phận bi kịch của
người phụ nữ được phản ánh trong Truyền kỳ mạn lục Tuy nhiên, do những
mục đích khác nhau mà các tác giả, các công trình nghiên cứu trên đây chưa phản ánh đầy đủ về số phận người phụ nữ trong tác phẩm
Với mong muốn kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu
Truyền kỳ mạn lục của các thế hệ đi trước, chúng tôi chọn vấn đề Nghiên
cứu số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhằm cố gắng hoàn
chỉnh và làm nổi rõ hơn vấn đề đã nêu, hy vọng góp thêm ý kiến vào việc nghiên cứu một tác phẩm văn học lớn và có giá trị nhiều mặt này
Trang 114 đối tượng, Phạm vi, Phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Do yêu cầu, mục đích nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi chọn các nhân
vật phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục làm đối tượng nghiên cứu chính Truyền kỳ mạn lục có 20 truyện thì có có tới 12 truyện có nhân vật phụ nữ
Tuy nhiên không phải bất cứ truyện nào có nhân vật phụ nữ cũng là truyện nói về số phận người phụ nữ Chúng tôi chỉ chọn 11 truyện mà theo chúng tôi là có trực tiếp đề cập tới số phận người phụ nữ Đó là những truyện:
- Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa
- Chuyện đối tụng ở Long cung
- Chuyện nàng Thuý Tiêu
- Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
- Chuyện người con gái Nam Xương
- Chuyện nghiệp oan của Đào thị
- Chuyện yêu quái ở Xương Giang
- Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây
- Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm viết bằng chữ Hán, ra đời từ thế
kỷ XVI, đến nay đã nhiều lần tái bản Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi
dùng bản Truyền kỳ mạn lục do Trúc Khê Ngô Văn Triện (1941) dịch, Nhà xuất bản Văn hoá Ên hành tại Hà Nội năm 1957 và bản Truyền kỳ mạn lục
do Nhà xuất bản Văn học Ên hành năm 1998, Trần Thị Băng Thanh giới thiệu
Vì thời gian, trình độ, khả năng nghiên cứu có hạn, chúng tôi chỉ tập
trung làm nổi bật số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục.
Trang 124.3 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận văn này
- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại theo từng điều kiện sống và cách sống của nhân vật để phục vụ cho việc tìm hiểu và rót ra kết luận vÒ các số phận đó
- Phương pháp so sánh: Đây cũng là phương pháp quan trọng để so
sánh số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục với các nhân vật phụ
nữ trong các tác phẩm văn học khác nhằm làm nổi bật vấn đề đã đặt ra
5 Cấu trúc của luận văn
Mở đầu:
1 Ý nghĩa của đề tài
2 Nhiệm vụ của đề tài
3 Lịch sử vấn đề
4 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
5 Cấu trúc của luận văn
Trang 13Nội dungchương 1 những vấn đề chung
Để việc nghiên cứu có những kết quả tốt, đảm bảo khách quan khoa học, ở chương này chúng tôi trình bày những vấn đề có tính chất chung nhất
về lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài làm cơ sở để lí giải những vấn đề mà đề tài đặt ra
1.1 Nho giáo với người phụ nữ Việt Nam
Nho giáo là một học thuyết không những chỉ nổi tiếng ở phương Đông mà còn trên toàn thế giới Có rất nhiều vấn đề mà Nho giáo đặt ra nhưng tất cả vẫn quy tụ về mối quan hệ giữa con người với con người Đấy
là mối quan hệ đơn giản nhất mà cũng rất phức tạp vì con người phải có những quan hệ với những cộng đồng khác nhau như gia đình, xã hội, nhà nước… [17, tr.123] Tức là Nho giáo đòi hỏi con người phải luôn luôn xác định được mình đứng ở vị trí nào trong mối quan hệ Êy và phải luôn luôn làm tròn bổn phận của mình Những tư tưởng của Nho giáo đối với người phụ nữ về bản chất là sự tước đoạt quyền lợi của nữ giới Thời nhà Chu, Nho giáo đã phát huy đến cùng thắng lợi của cuộc cách mạng mà người ta
đã gọi là “ mét trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà loài người đã trải qua” tức là cuộc cách mạng chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền Người phụ nữ từ chỗ là chủ trong gia đình và xã hội trở thành người bị giam hãm, áp bức, ngoài công việc nội trợ chỉ có vai trò rất quan trọng riêng hẳn của mình là đẻ con – gần như duy nhất đáng kể là đẻ con trai- đÓ nối dõi tông đường và giữ gìn gia tài tư hữu của các gia trưởng từ thế hệ này đến thế hệ khác Chỉ biết “sự”, “tuỳ” và “tùng”, người phụ nữ không hề có và không được nhắc đến cái gọi là quyền, cả đến quyền yêu đương Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thế thôi Nếu không còn cha mẹ thì có chú, bác vậy Cụ thể là con gái chỉ biết vâng theo dù muốn hay không muốn
Trang 14Phụ nữ thật là bị ức hiếp suốt đời Làm con, làm vợ hay làm mẹ cũng đều bị
sự ức hiếp của nam giới, của lễ giáo, của pháp luật Khổng Tử cho rằng họ là loại người “khó giáo hoá”, “khó nuôi dạy” [10, tr.188]
Mặc dù tư tưởng Nho giáo khi vào Việt Nam không hoàn toàn cứng nhắc như ở Trung Quốc nhưng người phụ nữ Việt Nam vẫn là nạn nhân đau khổ của tư tưởng Nho giáo Êy Những đòi hỏi người phụ nữ về “tam tòng, tứ đức” vừa cột chặt họ vào công việc nội trợ gia đình, vừa thêm một lần nữa tước đoạt của họ những hạnh phúc vốn đã nhỏ bé và hiếm hoi Lấy chồng thì theo chồng và một khi bất hạnh, chồng chết thì theo con trai, tức là ở vậy nuôi con thờ chồng Xã hội phong kiến khuyến khích việc đó bằng cách tặng thưởng cho họ một tờ sắc “Tiết hạnh khả phong” Như thế, những năm tháng còn lại của người phụ nữ sẽ không còn biết đến hạnh phúc, đến tình yêu khi
mà họ vẫn còn rất trẻ, thậm chí có người mới mười tám, đôi mươi
1.2 Văn học trung đại Việt Nam với đề tài phụ nữ
“Văn học trung đại Việt Nam phát triển song song với văn học dân gian Nó một mặt hấp thụ kinh nghiệm nghệ thuật của văn học dân gian, nhưng mặt khác nó cũng luôn bổ sung cho văn học dân gian, thóc đẩy văn học dân gian cùng tiến tới Đi đôi với công việc này, văn học trung đại còn tiếp nhận tinh hoa của văn học các nước lân cận, chủ yếu là Trung Hoa, thứ đến Ên Độ, Campuchia, Triều Tiên, Nhật Bản…” [24, tr.13]
Nhận định này gợi mở và dẫn dắt chúng tôi có cái nhìn toàn diện về văn học trung đại Việt Nam, về hướng tư duy trong việc phân tích một tác phẩm thuộc về di sản văn học dân tộc
Nhìn lại toàn bộ diện mạo của nền văn học trung đại Việt Nam, chóng
ta thấy đề tài phụ nữ chỉ được phản ánh một cách có hệ thống và đạt được
những thành tựu rực rỡ ở giai đoạn thế kỷ thứ XVIII Trước khi Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra đời, văn học trung đại Việt Nam cơ bản là văn
học chức năng mà tập trung là các chức năng lễ nghi tôn giáo, chức năng giữ
Trang 15nước cùng các chức năng giáo hoá, giáo huấn và giáo hối Các triều Lí, Trần,
Lê đã ra sức xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, ra sức truyền bá Nho giáo, đã kiên cường chống giặc ngoại xâm, đã làm nên những trang lịch sử hiển hách Một hào khí chống xâm lăng trải suốt mấy trăm năm với ba triều đại đã thấm đẫm trong từng câu chữ Cảm hứng yêu
nước hừng hực trong văn chương thời Êy Những Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, thơ Thần của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Bạch đằng giang phó của Trương Hán Siêu, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
Trãi và vô số những tác phẩm văn chương của vua tôi nhà Trần thời Trùng hưng nhị thánh, thực sự đã mãi mãi trường tồn cùng sông núi nước Nam
Thành công rực rỡ của bộ phận văn học chức năng sẽ tất yếu dẫn tới những hạn chế của bộ phận văn học nghệ thuật Tập trung ca ngợi những cái lớn lao, văn học đã Ýt chó ý tới những vấn đề của cuộc sống đời thường, tới những cái vẫn bị coi là nhỏ bé Người phụ nữ và số phận họ thì càng Ýt được chú ý bởi vì họ vốn đã không được coi trọng, thậm chí có khi còn không được thừa nhận Nhìn lại văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, ta càng thấy rõ điều đó Chỉ có một số Ýt tác giả viết về phụ nữ: Trần Nhân
Tông với bài Khuê oán (Niềm oán hận của người khuê phụ), Nguyễn Húc với hai bài thơ Phong vũ khuê tư ( Khuê nữ buồn trong mưa) và Thu khuê oán (Than thở kẻ phòng thu), Lê Thiếu Dĩnh với bài Cung từ (Lời người con gái hầu trong cung vua).Thái Thuận có các bài Tràng An xuân mộ (Chiều xuân ở Tràng An), Chinh phụ ngâm( Nỗi lòng chinh phô) Lão kĩ ngâm( Khúc ngâm của người kĩ nữ già) Vua Lê Thánh Tông có các bài Hoàng Giang điếu Vũ nương (Qua Hoàng Giang viếng người đàn bà họ Vũ), Lỵ Nhân sĩ nữ (Trai gái ở Lỵ Nhân) Ngoài những bài Êy và một vài
bài nữa, Lê Thánh Tông còn có một số truyện ngắn viết về phụ nữ chứa
đựng nhiều yếu tố hoang đường được tập hợp trong Thánh Tông di thảo Trước Nguyễn Dữ, Lý Tế Xuyên (trong Việt Điện u linh) và Trần Thế Pháp
Trang 16( trong Lĩnh Nam chích quái lục) có viết về phụ nữ nhưng những nhân vật
phụ nữ thường là thần thánh, là nhân vật lịch sử và họ xuất thân thường là quý tộc Nhà văn chú ý tới cái siêu nhiên, cái khác thường ở họ, xây dựng
họ để làm sáng tỏ tư tưởng “ địa linh nhân kiệt” chứ không phải nhằm mục đích phản ánh về con người trần thế với cuộc sống hiện thực của họ
Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu đi vào thời kì khủng khoảng, con người có một nhu cầu nhận thức thực tế cuộc sống Con người - đối tượng phản ánh của văn học - từ đây Ýt bị ràng buộc hơn vào những tư tưởng giáo lí có sẵn Con người trước đó, thường được miêu tả bằng những bức chân dung “nhìn ngay ngó thẳng”, biểu tượng cho những chuẩn mực của “tam cương”, “ngũ thường”, “tam tòng, tứ đức” Con người trước đó, là con người của tinh thần và ý chí, tư tưởng và giáo điều thì nay được thay thế bằng những con người trần thế hơn với những nhu cầu trần thế, với da thịt hồng hào, tươi tốt, với những ham muốn thoát ra ngoài sự toả chiết của Nho giáo Nhu cầu sống, nhu cầu hạnh phúc, nhu cầu về sự ái
ân – tức là những nhu cầu cụ thể, hồn nhiên và tự nhiên như nó vốn có - đang cựa quậy và trỗi dậy Tôn giáo, các học thuyết và cả sự không hiểu biết đã nhồi nhét vào đầu óc con người trung đại ảo tưởng về một cõi tiên thì nay chính những con người ở cõi tiên Êy lại muốn xuống cõi trần với cuộc sống trần tục Tiên nữ Giáng Hương, từ khi lấy chàng Từ Thức đã trở
nên hồng hào chứ không khô gầy như trước nữa[8, tr.122] và chàng Từ
Thức đã lấy được tiên rồi mà vẫn muốn trở lại cõi trần Cái nhu cầu trần thế đòi hỏi phải được thực hiện mới mạnh mẽ biết bao.
Sau vai trò dường như là mở đầu viết về các nhu cầu trần thế của con
người của Truyền kỳ mạn lục, tác phẩm đã góp phần thúc đẩy xu hướng dân
chủ hoá trong văn học, thúc đẩy sự nẩy nở và trỗi dậy của tư tưởng nhân đạo của văn học các giai đoạn sau, đặc biệt là văn học thế kỉ XVIII Người phụ nữ mà trước đó văn học có nói đến với bao nhiêu thiết chế đè nặng, với
Trang 17bao nhiêu đòi hỏi vô lí, với bao nhiêu cấm đoán ngặt nghèo thì bây giờ đã được đề cập theo một cách nói khác, theo một cách nghĩ khác, theo một cách nhìn khác Văn học đòi hỏi phải nhìn nhận người phụ nữ một cách công bằng hơn rộng rãi hơn bởi họ là những con người có rất nhiều những khả năng sánh ngang với nam giới Họ phải được trả lại những quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền tù do, quyền yêu đương, quyền hạnh phúc Giai cấp thống trị, tư tưởng phong kiến không thể tiếp tục tước đoạt những quyền lợi Êy của họ Một trào lưu nhân đạo đã nẩy nở và phát triển với những thành tựu rực rỡ trong văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế
kỷ XIX là bằng chứng về điều đó Ở hai thế kỷ rất đáng tự hào của lịch sử văn học nước nhà này, đóng góp đáng kể nhất cho trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong vấn đề bảo vệ và đấu tranh cho quyền lợi người phụ nữ phải kể
đến vai trò của truyện Nôm bình dân Những gì mà ở Truyền kỳ mạn lục,
người phụ nữ chưa giành được thì ở truyện Nôm bình dân người họ đã giành được Ở đó, mọi người phụ nữ đều vượt qua thử thách, loại bỏ được
bi kịch của cuộc đời mình, giành lại cuộc sống và hạnh phúc cho mình
Bên cạnh những thành tựu của Truyện Nôm bình dân về vấn đề đã nêu, văn học viết nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX cũng rất thành công trong việc đề cao yêu cầu giải phóng tình cảm của con người khỏi
những ràng buộc của xã hội phong kiến Cung oán ngâm khúc của Nguyễn
Gia Thiều tố cáo chế độ cung nữ làm cho cuộc đời của biết bao cô gái tài sắc héo hắt lụi tàn trong cung vua, phủ chúa Người cung nữ có một thời kiêu hãnh về nhan sắc:
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa,
Hương trời đắm nguyệt say hoa,
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình
Nhưng rồi chính họ lại “giật mình” khi “bừng con mắt dậy thấy mình
Trang 18tay không” và cay đắng nhận ra sai lầm vì cái “bả vinh hoa” Êy Hạnh phúc thực sự đối với họ có thể chỉ là có một người chồng “dù rằng cục mịch nhà quê” và những đứa con “ lau nhau ríu rít cò con cũng tình”
Hồ Xuân Hương – nhà thơ của phụ nữ - qua những bài thơ Nôm của mình đã tố cáo chế độ đa thê và nền đạo đức phong kiến đối với người phụ
nữ Nền đạo đức phong kiến Êy đã gây nên cho người phụ nữ không biết bao nhiêu là cay đắng, tủi hờn Thân phận họ bấp bênh, hẩm hiu như chiếc bánh trôi “Bảy nổi ba chìm với nước non”; con ốc nhồi “Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi”, hay quả mít “ sù sì” Một nỗi khổ nữa của người phụ nữ đó là kiếp “lấy chồng chung” Thân phận họ chỉ là thân phận của một kẻ làm mướn, thậm chí còn tệ hơn làm mướn nữa - làm mướn không công Nhà thơ thường xoáy sâu vào các ngóc ngách Ðo le của cuộc đời để nêu lên những
bi kịch thật chua chát nhưng thường bị xoá nhoà trong một cuộc sống vốn
dĩ đã rập khuôn theo những chế ước nặng nề của lễ giáo Mặc dù bị áp bức nặng nề như thế, nhưng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương đã có lúc ngẩng cao đầu tuyên chiến với lễ giáo phong kiến và ý thức được giá trị của mình
Có thể nói, thơ Hồ Xuân Hương là sản phẩm của một thời đại, của phong trào quần chúng đấu tranh chống lại ách thống trị phong kiến thối nát, là kết tinh truyền thống phụ nữ trên lĩnh vực xã hội, văn học
Nguyễn Du, qua cuộc đời của nhân vật Thuý Kiều đã đặt ra một vấn
đề hết sức bao quát là quyền sống của con người trong xã hội phong kiến trong đó có một vấn đề rất quan trọng là quyền sống của người phụ nữ Thuý Kiều - nhân vật đại diện cho số phận người phụ nữ - hội tụ tất cả những phẩm chất tốt đẹp: sắc, tài, hiếu, nghĩa… nhưng lại có một số phận đầy bi kịch Những phẩm chất tốt đẹp của nàng và cả tài sắc nữa lại trở thành tai họa đối với nàng Cuộc đời của con người Êy thật là “hết nạn nọ đến nạn kia”, đúng như lời của Tam Hợp đạo cô:
Trang 19Người sao hiếu nghĩa đủ đường
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi.
Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm qua Chinh phụ ngâm đã nói về số
phận của người chinh phụ Nếu đối với người chồng đi chinh chiến, chiến tranh là chết chóc, thì mặt khác, đối với người vợ ở nhà, chiến tranh là sự
phá vỡ cảnh yên Êm của gia đình, là cô đơn, sầu muộn Chinh phụ ngâm
thực sự là một khúc ngâm ai oán, buồn thương về thân phận người phụ nữ Đặng Thai Mai đã gọi đó là “một khối sầu ngưng đọng”
Như thế, nền văn học trung đại Việt Nam đã có những bước tiến không ngừng trong việc phản ánh về người phụ nữ và số phận của họ Có thể nói, người phụ nữ đã ngày càng hiện lên trong văn học một cách đầy đủ hơn từ hình thức đến tâm hồn Mặc dù, ở nhiều tác phẩm, văn học viết chưa vượt ra khỏi những nguyên tắc của thủ pháp ước lệ tượng trưng nhưng rõ ràng là hình tượng người phụ nữ đã ngày càng được gia tăng những yếu tố hiện thực
1.3 Vài nét về thể Truyền kỳ và thể Truyền kỳ trong văn học Việt Nam
Truyền kỳ là thể loại truyện ngắn cổ điển của văn học Trung Quốc
thịnh hành ở đời Đường Kỳ nghĩa là kỳ ảo, kỳ lạ, nhấn mạnh tính chất hư
cấu Thoạt đầu là chí quái thời Lục triều, sau phát triển độc lập thành truyền
kỳ Có loại miêu tả cuộc đời biến ảo như mộng Có loại ca ngợi tình yêu nam nữ Có loại miêu tả hào sỹ hiệp khách Từ đời Đường trở về trước, tiểu thuyết Trung Quốc về cơ bản mới chỉ là mầm mống, tuy ở thời Hán Ngụy, Lục triều có chút Ýt phát triển, nhưng vô luận nhìn từ góc độ khắc họa nhân vật hay miêu tả tình tiết hãy còn đơn giản, chưa đạt đến mức độ thành thục Đồng thời, khái niệm tiểu thuyết cũng còn rất hỗn loạn, thông thường trở thành tên gọi chung cho các loại ghi chép truyện lạ hoặc truyện vặt lịch sử Phải đợi đến đời Đường, tiểu thuyết Trung Quốc mới dần dần trưởng thành, mới có được hình thức nghệ thuật tương đối hoàn hảo cũng như nội dung đời sống xã hội tương đối rộng rãi và giành được vị trí không
Trang 20thể xem thường trong lịch sử văn học Trung Quốc.
Vào đời Đường, người ta vẫn chưa bỏ được cách nhìn lệch lạc truyền thống đối với tiểu thuyết, nói chung vẫn gạt nó ra ngoài văn học chính thống Bởi cách “cấu tứ chuộng sự li kì”, cho nên nó được gọi là “truyền kỳ” Có điều những người sáng tác tiểu thuyết ngày một đông hơn, điều Êy nói rõ con đường sáng tác tiểu thuyết vốn bị coi là “tiểu đạo” đã ngày một hấp dẫn mọi người, hơn thế, đã bắt đầu trở thành hoạt động nghệ thuật có ý thức Một người đời Minh là Hồ Ứng Luân đã có thể nhìn thấy điều đó, từng nói: “Những chuyện biến hoá kì lạ rất thịnh vào đời Lục triều, có điều phần lớn là ghi chép lại những điều bịa đặt chứ đâu phải truyện biến hoá, đến người đời Đường mới có sự cấu tứ li kì, mượn tiểu thuyết để gửi gắm ngọn bút.” [38, tr.659]
Chóng ta thấy, về đại thể, truyền kỳ đời Đường có nội dung đa dạng, phong phó xoay quanh chủ đề tình yêu nam nữ trong đời sống trần tục thường ngày và mang đậm khuynh hướng nhân văn chủ nghĩa Vì thế, nó có vai trò lớn trong việc đưa văn học viết hướng tới truyền thống văn hoá dân gian, đời sống hiện thực của quần chúng nhân dân Đồng thời, với thủ pháp nghệ thuât độc đáo là lấy kì ảo làm phương tiện nghệ thuật để truyền tải nội dung về đời sống con người, truyền kỳ đời Đường góp phần không nhỏ khẳng định giá trị hư cấu và tưởng tượng trong việc phản ánh và lý giải hiện thực cuộc sống của tác phẩm văn học Loại hình truyền kỳ tiếp tục phát triển ở đời Tống, Nguyên (1279-1368) Cuối Nguyên, đầu Minh (thế kỉ thứ
XIV), có Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (1341-1427) là tác phẩm truyền
kỳ nổi tiếng, tiêu biểu cho thể loại truyền kỳ của Trung Quốc và có ảnh hưởng lớn đến thể loại truyền kỳ các nước trong khu vực như: Triều Tiên,
Nhật Bản, Việt Nam… Sang đời nhà Thanh (1644-1911), Liêu trai chí dị
của Bồ Tùng Linh (1640-1715) đã làm rạng danh cho truyền kỳ Trung Quốc… Như vậy, truyền kỳ trải qua quá trình hình thành và phát triển cùng
Trang 21với sự phát triển của nền văn hoá Trung Quốc đã trở thành một thể loại truyện ngắn cổ điển mang đặc trưng cho truyện ngắn Trung Quốc nói riêng, truyện ngắn phương Đông thời trung đại nói chung
Văn học Việt Nam thời trung đại là nền văn học trẻ, được “bứng trồng, cắt chiết” từ nền văn học già Trung Quốc nhưng phải “hợp thổ nghi” cho nên văn học trung đại Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của thể loại truyền
kỳ Trung Quốc
Ở Việt Nam, thuật ngữ truyền kỳ lần đầu tiên được xuất hiện trong đầu đề tập truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Sau đó là Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích Ngay
từ khi mới ra đời thể loại truyện ngắn truyền kỳ đã đạt được những thành
tựu rực rỡ và là đỉnh cao của văn xuôi dân tộc như Thánh tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục Ngày nay, nhìn lại quá trình phát triển của văn học Việt Nam trung đại, chúng ta thấy Truyền kỳ mạn lục là đỉnh cao, trước và sau
đó không có tác phẩm truyền kỳ nào sánh bằng Cũng giống như truyền kỳ
đời Đường, Truyền kỳ mạn lục có nội dung đa dạng, phong phó xoay quanh
chủ đề tình yêu nam nữ trong đời sống trần tục thường ngày và mang đậm khuynh hướng nhân văn chủ nghĩa Việt Nam và Trung Quốc có mối quan
hệ tương đối đặc biệt Đó là mối quan hệ láng giềng giữa hai nước rất gần gũi Hơn nữa, trước thế kỷ X, nước ta chịu ngót ngàn năm đô hộ của phong kiến Trung Hoa, điều đó đã dẫn đến lẽ tất yếu của ảnh hưởng qua lại giữa văn học hai nước Nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu đã cho chóng
ta thấy rõ sự ảnh hưởng khá sâu đậm của văn học Trung Quốc đối với văn học Việt Nam từ chữ viết đến thi liệu, nhất là về thể loại Theo PGS TS
Vò Thanh, Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng truyện của Cù Hựu chủ yếu là ở bút pháp thể loại Đó là quá trình “ ăn lá nhả tơ”, một sự học tập để sáng tạo
Bên cạnh việc ảnh hưởng sâu sắc của truyện truyền kỳ Trung Quốc, Truyền
kỳ mạn lục còn ảnh hưởng các câu truyện cổ có yếu tố kỳ lạ của Ên Độ,
Trang 22Campuchia hay Chiêm Thành…
Nhìn lại nền văn học Việt Nam trung đại, bắt đầu từ Việt điện u linh
của Lý Tế Xuyên( đầu thế kỷ XIV), chóng ta thấy, ở tác phẩm này đã chứa đựng những yếu tố kì ảo Nhà văn đã xây dựng hình tượng nhân vật của mình bằng bút pháp kỳ vĩ và trên thực tế, tập truyện là một cuốn thần phả
về những linh hồn bất tử của nước Đại Việt Nhân vật trong truyện hầu hết
là những thần linh vốn là những anh hùng dân tộc đã hiển thánh Vì vậy, trong truyện đã thấp thoáng yếu tố của bút pháp truyền kỳ và có thể đây là
giai thoại mầm mống cho sự phát triển của truyền kỳ sau này Sau Việt điện
u linh tập của Lý Tế Xuyên là sự xuất hiện Lĩnh nam trích quái lục của
Trần Thế Pháp ( cuối thế kỉ XIV đầu thế kỷ XV) Đây là tập truyện chép lại truyện dân gian nhưng đã có sáng tạo, Trần Thế Pháp đã tập trung chép lại
những truyện giàu yếu tố kì như truyện Đổng thiên vương, truyện Rùa vàng…
Việt điện u linh tập và Lĩnh nam chích quái lục là những tiền đề văn
học cho sự phát triển của thể loại truyền kỳ và Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp
là những nhà văn đặt nền móng cho thể loại truyền kỳ ở Việt Nam Cuối thế
kỉ XV, Thánh Tông di thảo, tương truyền của Lê Thánh Tông, đã là một
bước tiến xa hơn nữa cho thể loại truyền kỳ Tập truyện là một sáng tạo độc đáo và đặc sắc, mang đầy đủ tính chất bút pháp truyền kỳ với những truyện
tiêu biểu như Lấy chồng dê, Tinh chuột, Duyên lạ xứ hoa…
Nhưng chỉ đến Truyền kỳ mạn lục thì thể loại truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam mới thực sự được khẳng định Sự ra đời của Truyền kỳ mạn lục
đã đưa thể loại truyền kỳ Việt Nam tới đỉnh cao và chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong văn xuôi tự sự Việt Nam
Như trên đã nói, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của văn học Trung quốc cho nên tất yếu, truyền kỳ Trung Quốc sẽ du nhập vào Việt Nam
Trang 23Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm truyền kỳ có giá trị của Việt Nam
do tác giả Việt Nam sáng tác và mang tính dân tộc rất đậm nét Việc ảnh hưởng văn học Trung Quốc chỉ là một phần, còn văn học dân gian truyền thống và thành tựu của văn xuôi tự sự Việt Nam mới là nguồn gốc có ảnh hưởng trực tiếp nhất Trước đó, các nhà văn chỉ ghi chép lại các truyện dân gian, các thần phả trong các đền miếu, hoặc dựa nhiều vào truyền thuyết dân gian và Ýt nhiều thêm chi tiết cho câu truyện được hoàn chỉnh như
Lĩnh nam chích quái lục của Trần Thế Pháp, Thiên nam vân lục của Nguyễn Hàng Nhưng Truyền kỳ mạn lục thì khác Tác giả chỉ dựa vào một số cốt
truyện dân gian mà sắp xếp, hư cấu thêm và diễn tả bằng lời văn giàu chất nghệ thuật khiến cho tác phẩm không phải là sự ghi chép đơn thuần mà thực
sự là một tác phẩm văn học có tính nghệ thuật cao Việc sưu tầm, chỉnh lí, sửa chữa và khai thác đề tài của dân gian là một quá trình kế thừa và nâng cao liên tục Người đi sau tiếp bước người đi trước rút lấy những gì là tinh
hoa của người đi trước để thực hiện một bước xa hơn Từ Thức lấy vợ tiên
và Người con gái Nam Xương là hai truyện mà Nguyễn Dữ đã tiếp thu trọn
vẹn từ truyện cổ dân gian Nguyễn Dữ còn mượn môtíp từ văn học dân gian như môtíp lấy hồn hoa, môtíp người chết sống lại, môtíp đồ vật cũ biến
thành tinh rồi hoá thành người, môtíp lạc vào thế giới kì lạ… Truyền kỳ mạn lục là sản phẩm của một giai đoạn mới trong quá trình ảnh hưởng văn
học dân gian từ cốt truyện kết cấu, ngôn ngữ đến tư duy sáng tác Đó là sự ảnh hưởng có ý thức Nguyễn Dữ đã khéo khai thác đề tài dân tộc, đặc biệt
là trong các truyền thuyết dân gian, đã vượt lên trên sự ghi chép thông
thường như trong Lĩnh nam chích quái lục bằng cách hư cấu qua hình tượng nghệ thuật Trong Lĩnh nam chích quái lục thì sự ảnh hưởng của văn học
dân gian là rõ rệt, tác giả viết lại truyện dân gian một cách thứ tự có sắp
xếp Truyện Hà Ô Lôi là đỉnh cao của Lĩnh nam chích quái lục Nhiều nhà
nghiên cứu coi đó là tác phẩm mở đầu cho thể loại truyền kỳ bởi nó có đầy
Trang 24đủ các yếu tố của thể loại truyền kỳ Với nhiều thế hệ, từ tác giả của Thánh Tông di thảo đến tác giả của Truyền kỳ mạn lục, các nhà văn trung đại vẫn
tiếp tục con đường của Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp nhưng không nhằm phản ánh một thế giới trong truyện cổ tích, thần thoại hay truyện dã sử nữa
mà đã trực tiếp chuyển sang phản ánh những vấn đề xã hội Những câu truyện lịch sử được Thánh Tông và Nguyễn Dữ mô phỏng viết lại theo ý
của mình phù hợp với xu hướng đó Cái thực đã có phần lấn át cái kỳ, cái
kỳ không còn là mục đích chính, đôi lúc nó chỉ còn là phương tiện chuyển
tải nội dung hoặc để gây sức hấp dẫn cho tác phẩm Đề tài về tình yêu được viết nhiều hơn cả, các tác giả thường viết về truyện tình yêu, về mối quan
hệ giữa con người và ma quỷ Viết về tình yêu nhưng cũng chính là nhằm mục đích tố cáo xã hội, đề cao đạo đức, công lý, phản ánh về số phận đầy đau khổ của con người, nhất là người phụ nữ
Truyền kỳ xuất hiện trong xã hội trung đại và cái kỳ trong xã hội đó là
một mặt của hiện thực đời sống chứ không chỉ là mê tín dị đoan Bên cạnh đời sống hiện thực, con người thời trung đại còn có một đời sống tâm linh phong phú với các vị thần với những điều kỳ lạ, siêu nhiên và một quan niệm về thế giới bên kia Xung quanh họ cũng có biết bao điều kỳ lạ xảy ra
Họ sống một cách hồn nhiên trong môi trường như vậy Chính vì thế, việc
phản ánh cái kỳ cũng là phản ánh một mặt của hiện thực cuộc sống, đặc biệt
là đời sống tâm linh của con người
Truyền kỳ mạn lục so với Thánh Tông di thảo là một bước tiến lớn về
nội dung và nghệ thuật Nguyễn Dữ là nhà văn Việt Nam đã chịu ảnh hưởng khá sâu sắc các nhà văn viết truyền kỳ Trung Quốc, nhất là sự ảnh
hưởng của Cù Hựu Truyền kỳ mạn lục là một bước nhảy vọt về thể loại Từ
chỗ đóng vai trò người sưu tập ghi chép mặc dù là ghi chép có sáng tạo, đến chỗ tự thân sáng tác, từ chỗ chỉ phản ánh những hành trạng, sự hiển linh của các vị thánh, các vua chóa, anh hùng dân tộc lấy trong các thần tích đền
Trang 25chùa hoặc trong dân gian đến những tác phẩm phản ánh khá sâu sắc những xung đột xã hội, gần gũi với cuộc sống bình thường của con người là cả một quá trình không đơn giản trong việc hình thành tư cách của nhà văn [32, tr.63]
Nhìn lại những đặc điểm nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam ta thấy: Truyền kỳ Việt Nam còng không vượt ra ngoài đặc điểm có tính chất quy luật của văn học chữ Hán Việt Nam Đó là tính chất và đặc điểm gần với văn học Trung Quốc thời trung đại và chúng đều có thi pháp chung của văn học khu vực Truyền kỳ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc về mọi phương diện của thể loại truyền
kỳ Trung Quốc nhưng lại mang những nét riêng đậm đà bản sắc dân tộc của văn học trung đại Việt Nam Tính dân tộc được thể hiện rõ nét ở nội dung
tư tưởng, ở khuynh hướng cảm hứng sáng tác của nhà văn Truyền kỳ Việt Nam đã lấy con người với cuộc sống đời thường của họ làm đối tượng chủ yếu để phản ánh Nội dung cơ bản của truyền kỳ Việt Nam là viết về tình yêu tự do của nam nữ, về kiếp sống khổ đau của những con người bất hạnh, về xã hội bất công tàn bạo…
1.4 Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục
1.4.1 Nguyễn Dữ và thời đại ông
Những tài liệu mà chúng ta có về Nguyễn Dữ không nhiều Tuy nhiên những tài liệu Êy cũng không cung cấp cho chóng ta một cách chính xác về thân thế và sự nghiệp của ông Những tài liệu lâu nay được các nhà nghiên cứu giới thiệu về Nguyễn Dữ cho thấy: Nguyễn Dữ là người xã Đoàn Lâm, huyện Gia Phóc (nay là Thanh Miện – Hải Dương) Năm sinh và năm mất chưa rõ, chỉ biết ông là con trai của Thượng thư Nguyễn Tường Phiêu- đậu Tiến sĩ thời Hồng Đức, năm 1496 – tức là năm cận cuối cùng của nhà Lê niên hiệu này Nguyễn Dữ học rộng, tài cao, có thể là một trong những học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng có thể là bạn đồng học của Phùng
Trang 26Khắc Khoan [23, tr.239], [33,tr.247] Nguyễn Dữ đã đậu hương tiến, thi hội trúng tam trường, có làm tri huyện Thanh Tuyền một năm rồi cáo quan về, lấy lÝ do phải phụng dưỡng mẹ già cho tròn đạo hiếu.
Chính vì còn có điều không rõ nên đã từng có hai giả thuyết về thân
thế tác giả Truyền kỳ mạn lục.
- Giả thuyết thứ nhất dựa theo lời của Nguyễn Phương Đề trong “ Công dư tiệp kí”, Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”, Bùi Huy Bích trong “ Hoàng Việt thi tuyển” cho rằng Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm Giả thuyết này hiện đang tồn tại trong Giáo trình của Đại học
Sư phạm Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Giả thuyết thứ hai mà Lại Văn Hùng dẫn theo Trần Ých Nguyên
trong “ Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” lại
cho rằng Nguyễn Dữ là người đồng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm
Lại Văn Hùng dự đoán “ Nguyễn Dữ sinh vào khoảng thập niên cuối thế kỉ XV và mất khoảng thập niên thứ tư thế kỉ XVI, thọ 50 tuổi” và không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Dù còn có những điều không rõ như trên nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng: Nguyễn Dữ sinh ra vào khoảng cuối thế kỉ XV và lớn lên vào nửa đầu thế kỉ thứ XVI Đấy là thời kì nhà nước phong kiến Việt Nam bắt đầu đi vào con đường suy yếu, và sự suy yếu đã nhanh chóng trở nên trầm trọng Chỉ trong vòng ba mươi năm từ khi Lê Thánh Tông mất đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua đã có tới 6 ông vua lên ngôi rồi bị giết hoặc
bị phế truất Có vị bị coi là “vua quỷ”, có vị bị coi là “vua lợn” Những gì
mà Lê Thánh Tông – vị vua được coi là anh minh số một của nền phong kiến Việt Nam – dầy công xây dựng đã nhanh chóng sụp đổ Lê Hiển Tông
đã từng than thở về tình trạng quan trường hư nát và dù đã có chấn chỉnh
nhưng vẫn không cứu vãn được tình trạng suy vi đó Đại Việt sử kí toàn thư
đã viết: “ Sao mà những kẻ tại chức đều bị vị, không nghĩ đến phép tắc của
Trang 27triều đình Người vì nước quên nhà thì Ýt, người bỏ phận thiếu chức thì nhiều, tha giàu bắt nghèo, không chừa thói cũ tham tiền khoét của vẫn theo lối xưa” Thế rồi “chính sự phiền hà, lòng dân oán hận”, “thổ mộc bừa bãi” lại thêm đại hạn, đói khổ, nhân dân thÊt nghiệp, trộm cắp nổi dậy Vua hoang dâm xa xỉ, bất lực hoặc chết yểu, “ các quyền thần đánh lẫn nhau, giết nhau dưới cửa khuyết, dây máu chốn kinh sư” Chiến tranh loạn lạc xảy
ra khắp nơi: năm 1511, Thân Duy Nhạc dấy quân ở Kinh Bắc, Trần Tuân làm loạn ở Sơn Tây, năm 1512, Nguyễn Nghiêm loạn ở Sơn Tây, Hưng Hoá, năm 1515, loạn Phùng Chương ở Tam Đảo, loạn Đặng Hân, Đặng Ngật ở Thanh Hoá, loạn Trần Công Ninh ở Yên Lãng, Trần Cảo khởi binh đánh nhà
Lê Những cuộc chiến tranh Êy đã khiến cho suốt cho cả vùng Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây đến Thanh Hoá và cả kinh đô Thăng Long chìm đắm trong khói lửa chiến tranh Thêm vào nữa là cuộc chiến tranh Lê – Mạc, một cuộc chiến tranh dai dẳng, quyết liệt, một cuộc chiến mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng viết:
Cá đầm, sẻ bụi vì ai đuổi
Núi xương, sông máu thảm đầy vơi.
Tình trạng Êy gây nên một sự xuống cấp, suy thoái trong hàng ngũ Nho sĩ Lê Quý Đôn đã từng than thở: “ Từ năm Đoan Khánh trở về sau, lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thói cầu cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức Ýt giữ được phong độ thanh liêm, nhún nhường, trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè, cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân, dẫu người gọi là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ, nào ca, trao đổi, khoe khoang, tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng…”
Đứng trước một hiện thực như vậy, những nhà nho có khí tiết không thể tránh khỏi sự ngơ ngác, sự chán chường bởi sự đổ vỡ của niÒm tin, lí tưởng Không Ýt người đã từ quan mà về, trong sè Êy có Nguyễn Dữ Là
Trang 28con của Nguyễn Tường Phiêu - một bậc đại khoa, tước vị vào hàng nhất phẩm - Nguyễn Dữ đã cáo quan mà về, phản ứng Êy của ông là biểu hiện của một sự “phát phẫn” của một trí thức, mét danh sĩ trước thời cuộc Nguyễn Dữ cảm thấy xã hội Êy không có chỗ cho mình Cáo quan về, viết
Truyền kỳ mạn lục, đấy là một hiện tượng “phát phẫn trứ thư” (phát phẫn
viết sách) của ông Nguyễn Dữ đã dồn vào tác phẩm của mình tất cả những điều mắt thấy tai nghe với một mong muốn khuyến khích điều thiện, răn phạt cái ác, thương xót kẻ cùng quẫn, oan khuất
Chiến tranh, loạn lạc gây đói khổ, tang tóc cho nhiều tầng lớp trong
xã hội nhưng đau thương nhất vẫn là tầng lớp dân đen, nhất là người phụ
nữ ViÕt sách để răn đời, để lo đời, Nguyễn Dữ không thể không chú ý tới
Từ các công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục cho thấy hiện
đang có nhiều văn bản Ngoài bản được khắc in năm 1712( có bài tựa của
Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định sơ niên 1547) còn có một số bản chép tay Các bản này ngoài phần nguyên văn chữ Hán của Nguyễn Dữ còn có phần tăng bổ giải âm tập chú có chú thích điển cố và chữ khó
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ Sách gồm
20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể truyền kỳ Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở
Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội) Truyện được viết bằng văn xuôi chữ Hán có xen những bài
Trang 29thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa) đều có lời bình của tác giả.
Truyền kỳ mạn lục ra đời vào nửa đầu thế kỷ XVI (khoảng những
năm 20 – 30) Sở dĩ có kết luận như vậy là vì các nhà nghiên cứu dựa vào
thời điểm mà Hà Thiện Hán viết lời tựa cho Truyền kỳ mạn lục năm 1547
và kết hợp với tư liệu cuộc đời Nguyễn Dữ Như vậy, Truyền kỳ mạn lục ra
đời vào lúc triều đại nhà Lê trên đà suy vi với các ông vua nổi tiếng hoang dâm tàn bạo (như đã trình bày ở phần trên) Những đau thương của một thời
đại Êy cũng đã in đậm dấu Ên trong một số truyện của Truyền kỳ mạn lục
Nội dung cơ bản của Truyền kỳ mạn lục:
Chóng ta dễ dàng thấy rằng, nếu gạt bỏ những yếu tố hoang đường kỳ
ảo ta sẽ thấy một bức tranh xã hội rất rõ ràng Đấy là một xã hội mà giai cấp thống trị thì tranh giành quyền lực, chém giết lẫn nhau Tất cả đều giả dối,
vô đạo, tham lam, độc ác và đều có kết cục hoặc bị trừng phạt, hoặc bị phủ nhận, hoặc bị lên án chê cười Đấy là một xã hội mà các tầng lớp khác đặc biệt là người phụ nữ là nạn nhân đau khổ nhất của thiết chế xã hội, của quan niệm nho giáo, của hiện thực cuộc sống Trong sè Êy, có người được lên xem tiên cảnh, được thành tiên, được giải oan vì đức độ, vì trung thực, vì những phẩm chất tốt đẹp Cũng có người phải ngậm ngùi đau khổ vì chính những hành động của mình
Hệ thống nhân vật của Truyền kỳ mạn lục đa dạng phong phó bao
gồm đủ mọi loại từ vua, quan như Hạng Vương, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Trung Ngạn, Trụ quốc họ Thân… Đến cả những con người bình thường
như Vũ Thị Thiết, Thị Nghi… Phần lớn các nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục là những con người thuộc tầng lớp bình dân, trí thức bình dân hoặc phụ
nữ … “ Nếu Lê Thánh Tông hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng trung tâm phản ánh thì, Nguyễn Dữ đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận bi kịch của
Trang 30người phụ nữ Nhờ đó mà NguyÔn Dữ đã mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Dữ đi tìm giải đáp xã hội: Con người phải sống ra sao để có hạnh phúc ? Làm thế nào để nắm bắt hạnh phúc ? Hạnh phúc tồn tại ở thế giới nào ? ( Thiên tào, cõi tiên, cõi trần, thế giới bên kia?) Nguyễn Dữ đưa ra rất nhiều giả thiết, nhưng tất cả đều bế tắc [25, tr.213].
Về hình thức nghệ thuật, khi viết Truyền kỳ mạn lục nhà văn Nguyễn
Dữ đã “tuân thủ những nguyên tắc loại hình được chấp nhận bằng văn ngôn, song chỉ tuân thủ bề ngoài Ông đã phá vỡ những quy tắc lâu đời về hình thức thể loại và tạo ra những tác phẩm theo kiểu tự do hơn Tập hợp từ
“mạn lục” trong nhan đề đã chỉ ra sự độc đáo về loại hình tác phẩm [34, tr.74] Ý kiến đánh giá này dù có hơi quá, song cũng đã có lý khi khẳng định
sự sáng tạo của Nguyễn Dữ về phương diện nghệ thuật truyền kỳ Nguyễn
Dữ là tác giả đầu tiên khẳng định vị trí của thể truyền kỳ trong văn xuôi Việt Nam, đưa vào thể loại này những yếu tố của văn học dân gian tạo ra màu sắc riêng của thể loại truyền kỳ Việt Nam Nói như giáo sư Bùi Văn Nguyên thì
“tất cả hai mươi truyện trong Truyền kỳ mạn lục, nếu được phân tích tỉ mỉ,
bộc lộ Ýt nhiều yếu tố văn học dân gian đúng với bút pháp của thể truyền” [27, tr.54] Rõ ràng có một sự kết hợp hài hoà giữa thể loại truyền kỳ – một thể loại ngoại lai với các yếu tố của văn học dân tộc trong ngòi bút của Nguyễn Dữ
Với nội dung phong phó, mang tính hiện thực cao, với thủ pháp nghệ
thuật đặc sắc, Truyền kỳ mạn lục thực sự trở thành một “thiên cổ kỳ bút” và
trở thành cái đích không dễ dàng vượt qua đối với các tác phẩm sau này
Chắc rằng, càng nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục chóng ta sẽ càng phát hiện
ra giá trị muôn mặt của nó và cũng từ đó càng hiểu hơn những điều mà Nguyễn Dữ gửi gắm với bao thế hệ hậu sinh
1.4.3 Tóm tắt các truyện có đề cập tới nhân vật phụ nữ
Trang 311 Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa.
Ngô Lan Chi là phu nhân của quan giáo thụ họ Phù Nàng rất giỏi thơ phú, thường được Thuần hoàng đế yêu tài văn mặc, vời vào cung giao cho dạy các cung nữ Khi mất, nàng được táng ở cánh bãi Tây Nguyên Cuối đời Đoan Khánh, có chàng thư sinh là Mao Tử Biên đi du học ở kinh thành qua hạt Kim Hoa, trời mưa, đường tối đành phải ngủ nhờ ở mái hiên phía nam một căn nhà tranh Đêm khuya, chàng thấy một người khách đến thăm nhà Chủ khách cùng đàm đạo văn chương Tử Biên lắng nghe mới biết vị phu nhân Êy là Phù gia nữ học sĩ, rất có tài văn học nhưng bị người đời ghen ghét bày chuyện mỉa giễu Tử Biên bèn bước vào chào hỏi, được ông khách tặng một cuốn sách Sáng ngày tỉnh giấc, Tử Biên mới biết mình nằm cạnh ngôi mộ vợ chồng họ Phù và ông khách khi đêm là Lã Đường Sái Thuận Sau đó, Tử Biên đã sưu tầm thơ Lã Đường khiến cho di cảo thơ của Sái Thuận không bị thất lạc
2 Chuyện đối tụng ở Long cung.
Dương thị là một người đàn bà đẹp làm vợ quan thái thú Hồng Châu
họ Trịnh Nhan sắc của nàng làm Thần Thuồng luồng mê đắm Mặc dù đã hết sức đề phòng nhưng Dương thị vẫn bị thuỷ quái bắt đi Mất vợ, Trịnh buồn nản bá quan về đắp mả hờ, ở trong một cái lầu nhỏ trông xuống sông Sau chàng gặp được Bạch Long hầu Nhờ có Bạch Long hầu giúp đỡ, Trịnh
dò được tung tích Dương thị Bấy giờ Dương thị đã được phong là Xương
Êp phu nhân và đã có con trai với Thần Thuồng luồng Cũng nhờ Bạch Long hầu giúp đỡ, Trịnh kiện xuống Thuỷ cung Đức Long Vương cho đòi Thần Thuồng luồng và Dương thị tới đối chất Dương thị nhận Trịnh là chồng mình Long Vương kể rõ tội trạng của Thần Thuồng luồng, bắt thuỷ quái phải trả Dương thị về cho Trịnh còn con trai thì để lại cho hắn Vợ chồng Dương thị lại được đoàn tụ
3 Chuyện nàng Thuý Tiêu
Trang 32Dư Nhuận Chi là người Kiến Hưng, cã tiếng hay thơ Cuối đời Thiệu Phong, Dư có việc vào yết kiến quan Trần soái Lạng Giang là Nguyễn Trung Ngạn Quan Trần soái mến tài cho nờn đã tặng cho một nàng ca kĩ xinh đẹp, nết na, có khiếu thông tuệ, tên là Thuý Tiêu Hai người kết duyên
vợ chồng, tình cảm thật nồng nàn Năm Mậu Tuất, sinh lên kinh để dự khoa thi có mang theo cả Thuý Tiêu Nhân ngày Tết, Thuý Tiêu đi lễ Phật ở chùa tháp Bỏo Thiên, bị quan Trụ quốc trông thấy, bắt, cướp đem về làm của mình Dư Nhuận Chi kiện tận triều đình nhưng các toà, sở đều tránh kẻ quyền hào, gác bút không dám xét xử Sinh rất đau buồn chỉ biết than thở với đôi chim yểng Con chim yểng như hiểu ý sinh, chàng bèn viết một phong thư kể rõ nỗi lòng, buộc vào chân nó Rất may, chim yểng lại bay đúng tới chỗ màn của Thuý Tiêu Nhận được thư chồng, Thuý Tiêu buồn bã đến phát ốm Thân Trụ quốc bất đắc dĩ phải cho mời Nhuận Chi đến nhưng không cho hai người gặp mặt Thời gian trôi qua đến hơn một năm, nhờ có lão bộc giúp đỡ, vào đêmTrung Thu, Nhuận Chi cướp lại được vợ nhưng hai người phải Èn hình, náu vết, trốn lánh ở chỗ nhà quê Đến năm Đại Trị thứ 7, Trụ quốc phải tội, sinh mới dám về Kinh sư, thi đỗ TiÕn sĩ, vợ chồng mới được ăn ở với nhau đến già
4 Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
Nàng Nhị Khanh vốn là con nhà gia giáo nề nếp được gả làm vợ Trọng Quỳ con nhà quan Lấy nhau xong, Trọng Quỳ theo cha vào Nghệ
An nhậm chức Hai người phải xa nhau biÒn biệt sáu năm liền không hề tin tức Cha mẹ Nhị Khanh mất, nàng phải đưa về Khoái Châu chôn cất rồi đến nương tựa ở nhà bà cô họ Lưu Lưu thị tham tiền, Ðp gả nàng cho tướng quân họ Bạch Nhị Khanh vô cùng lo sợ Nàng nhờ lão bộc đi tìm và đưa được Trọng Quỳ trở về Trở lại với Nhị Khanh, Trọng Quỳ vẫn nết cũ không chừa, thường đánh bạc và giao du với tên lái buôn Đỗ Tam Bị thua sau mét canh bạc Đỗ Tam đòi đánh bằng nàng Nhị Khanh, Trọng Quỳ phải
Trang 33giao nàng cho hắn Quá uất ức, Nhị Khanh tự tử, bấy giờ Trọng Quỳ mới tỉnh ngộ và ân hận Nhị Khanh chết nhưng được Thượng đế thương là oan uổng, cho được làm thần Trọng Quỳ được gặp Nhị Khanh một lần, Nhị Khanh khuyên chồng nuôi dạy hai con bền chí theo giúp Lê Lợi Quả nhiên hai con nàng về sau thành đạt.
5 Chuyện người con gái Nam Xương.
Vũ Thị Thiết là một người con gái nết na phẩm hạnh có chồng là Trương Sinh Sau khi kết hôn Trương Sinh phải đi lính thú, nàng Vũ Nương
ở nhà một mình chăm sóc mẹ chồng và con nhỏ rất chu đáo Khi Trương Sinh trở về thì con đã bắt đầu học núi cũn mẹ già thì đã mất Trương Sinh
vô cùng đau buồn, chàng bế con ra viếng mộ mẹ già Đứa con rất ngạc nhiên khi thấy chàng xưng là cha nó và cho chàng biết khi chàng chưa về, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ nó đi cũng đi, mẹ nó ngồi cũng ngồi nhưng không bao giờ bế nó Vốn tính hay ghen, Trương Sinh nghi ngờ vợ mỡnh khụng chung thuỷ bèn mắng mỏ, nhiếc móc và đánh đuổi đi Nàng hỏi lÝ do thì sinh không nói Họ hàng, làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng sinh cũng không nghe Xấu hổ và đau đớn, Vũ Nương đã nhảy xuống sông tự vẫn Sau khi Vũ Nương tự tử, Trương Sinh mới biết người đàn ông mà con chàng nói chỉ là cái bóng của Vũ Nương Đêm đêm Vũ Nương thường trỏ bóng mình mà nói với con đấy là cha nã Trương Sinh bấy giê mới hối hận Vũ Nương được Linh Phi thương là vô tội cứu cho khỏi chết, lại được làm tiên Phan Lang, người cùng làng với
Vũ Nương, chạy loạn bị chết, may nhờ Linh Phi nhận ra ân nhân nên được cứu sống, đã gặp Vũ Nương Trở về, Phan nói lại việc Êy với Trương Sinh Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ nhưng cũng chỉ được gặp nàng một lần Vũ Nương cảm ơn đức của Long Phi đã không quay về nhân gian nữa
6 Chuyện nàng Lệ Nương
Lệ Nương và chàng Phật Sinh được hứa hôn từ trong bụng mẹ, khi
Trang 34lớn lên cả hai cùng yêu quý nhau và đều ham nghề nghiên bút Năm Kỷ Mão, đời Trần, vì cái vạ Trần Khát Chân, Lệ Nương bị bắt làm cung nữ, mấy năm sau lại bị tướng nhà Minh bắt đi Phật Sinh lặn lội đi tìm vợ Sau chàng đầu quân theo vua Giản Định đuổi theo quân Minh mong dành lại Lệ Nương Nghe tin quân Tầu sắp rút, Phật Sinh từ biệt quân sĩ lần đến trạm Bắc Nga nhưng không thấy Lệ Nương Bấy giờ trời đã tối, chàng gặp một
bà già và hỏi được tin tức về Lệ Nương: Lệ Nương và hai mỹ nhân nữa đã thà chết chứ không chịu nhục để bị đưa về Trung Quốc Các nàng đã chết
và được tướng Tầu thương xót mai táng ở trên núi Phật Sinh vô cùng thương tiếc, xin Lệ Nương cho được gặp gỡ trong giấc chiêm bao Canh ba đêm Êy Lệ Nương quả nhiên xuất hiện, hai người gặp gỡ tâm tình đằm thắm Phật Sinh muốn đem linh thấn của nàng về quê hương nhưng Lệ Nương lại muốn ở lại Hôm sau, Phật Sinh cải táng cho cả ba người Đêm
Êy, chàng nằm mộng thấy ba người đến tạ ơn rồi thoắt chốc cả ba đều biến mất Sinh buồn rầu quay về, từ đó không lấy ai nữa
7 Chuyện cây gạo.
Trình Trung Ngộ là một chàng trai đẹp ở đất Bắc Hà, thuê thuyền xuống vùng Nam buôn bán Chàng thường đỗ thuyền dưới cầu Liễu Khê để vào chợ Nam Xang Dọc đường thường gặp một người con gái rất xinh đẹp,
có một thị nữ theo hầu Một hôm, Trung Ngộ nghe lỏm được người con gái
Êy nói đêm nay sẽ đến cầu Liễu Khê thăm lại cảnh cũ, chàng liền đến đó đợi sẵn Quả nhiên đêm khuya thì thấy người con gái Êy xuất hiện Người con gái Êy cho Trung Ngộ biết nàng tên là Nhị Khanh, hai thân mất sớm, bị chồng ruồng bỏ phải dời ra ngoài luỹ làng Hai người đưa nhau xuống thuyền cùng nhau ân ái Từ đó, đêm nào họ cũng đến với nhau Bạn bè biết chuyện, khuyên Trung Ngộ hãy tìm rõ tung tích của Nhị Khanh Trung Ngộ yêu cầu, Nhị Khanh buộc phải đưa chàng về “nhà” Trung Ngộ tới nơi, thấy một căn nhà lụp sụp, trong Êy có chiếc quan tài, trên đề mấy chữ “Linh cữu
Trang 35của Nhị Khanh” Chàng khiếp đảm bỏ chạy về được cầu Liễu Khê Sáng hôm sau, Trung Ngộ đến Đông thôn hỏi thăm thì được biết có người con gái tên là Nhị Khanh, đã chết được nửa năm, hiện quàn ở ngoài đồng Từ đó Trung Ngộ sinh ra ốm nặng Nhị Khanh cũng thường qua lại, lúc thì đứng trên bãi sông gọi, khi thì đến bên cửa sổ nói thì thào Trung Ngộ muốn đi theo nhưng bị bạn bè trói lại Một hôm, họ thấy mất Trung Ngộ, bèn đi tìm thì thấy chàng đã ôm lấy quan tài Nhị Khanh mà chết Hai người sau đấy biến thành yêu ma, làm tai làm vạ cho người làng, bị người làng đào mả, vứt hài cốt xuống sông Linh hồn hai người nương tựa vào cây gạo, tiếp tục làm yêu làm quái Sau có một vị đạo nhân dùng phép trừng phạt, bị lính đầu trâu gông trói cả hai giải về âm phủ.
8 Chuyện nghiệp oan của Đào Thị.
Nàng ca kỹ ở Kì Sơn, có tài văn học, tên là Đào thị Nhân một lần nàng làm thơ nối vần bài thơ của vua Dụ Tôn, có hai chữ “hàn than”, nàng được vua khen, nhân đó gọi là “ả Hàn Than” Hai chữ Êy thành tiểu tự của nàng Vua Dụ Tôn mất, nàng phải thải ra ở ngoài phố, thường đi lại nhà quan Hành khiển là Nguỵ Nhược Chân Vợ Hành khiển không có con, tính lại hay ghen, ngờ nàng tư thông với chồng, bắt nàng đánh một trận rất là tàn nhẫn Tức tối vô cùng, nàng thuê thích khách vào nhà Nguỵ Nhược Chân để trả thù Việc không thành, lại bị bại lộ, nàng phải trốn đến tu ở chùa Phật Tích Nàng dựng ra am Cư Tĩnh, hội họp các văn nhân để xin một bài bảng văn Chỉ vì nói đùa một cậu học trò chừng 14, 15 tuổi, nàng bị cậu ta dò hỏi gốc tích rồi làm bài văn chế giễu Hàn Than lại phải trốn đến chùa Lệ Kỳ
Sư cụ Pháp Vân thấy nàng quá nhan sắc đã khuyên sư bác Vô Kỷ không nên nhận nàng Vô Kỷ không nghe, sư già lập tức dời lên núi Phượng Hoàng Ở với Vô Kỷ, hai người đã yêu nhau, mê đắm say sưa, hàng ngày thường làm thơ ngâm vịnh, chẳng để ý gì đến kinh kệ nữa Năm Kỷ Sửu, Hàn Than có thai, ốm lay lắt từ mùa xuân đến mùa hạ rồi quằn quại chết
Trang 36trên giường cữ.
Vô Kỷ quá thương xót nàng cũng ốm nặng Một đêm Hàn Than hiện
về xin Vô Kỷ về chốn suối vàng để cùng nàng đầu thai trả thù cái nợ oan gia ngày trước Ýt lâu sau, Vô Kỷ chết Oan hồn hai người đầu thai vào nhà Nguỵ Nhược Chân làm hai con trai là Long Thúc và Long Quý Chỉ còn mấy tháng nữa là đến dịp trả thù thì họ bị một vị thầy tu phát hiện, cuối
cùng bị sư cụ Pháp Vân trừng trị
9 Chuyện yêu quái ở Xương Giang.
Thị Nghi là con gái một thương nhân họ Hồ Bố chết, nhà lại nghèo kiết, mẹ nàng phải bán nàng cho nhà phú thương họ Phạm để lấy tiền đưa ma chồng về quê Thị Nghi lớn lên, khá có tư sắc, họ Phạm yêu mến rồi tư thông với nàng Vợ Phạm biết chuyện, bèn mượn cớ khác đánh Thị Nghi đến chết rồi chôn ở cạnh làng Hồn Thị Nghi biến thành một người con gái đẹp hưng yêu tác quái Người làng bèn đào mả Thị Nghi, vứt hài cốt xuống sông
Sau, có một viên quan họ Hoàng, xuống Trường An lĩnh chức, đỗ thuyền cạnh sông Hồn ma Thị Nghi lừa họ Hoàng, Hoàng thuê người mò hài cốt đem táng ở bên sông Thị Nghi xin đem mình hầu hạ khăn lược Họ thành
vợ chồng, tình ái rất là thắm thiết Làm quan được một tháng, Hoàng bỗng bị bệnh điên cuồng hoảng hốt Các thầy thuốc, thầy cúng đều ngờ có ma quỷ nhưng không biết làm thế nào Nhưng rồi cũng có một người tìm cách yểm bùa khiến hồn ma Thị Nghi phải hiện nguyên hình là đống xương trắng, lại tới bến sông Bạch Hà đào ngôi mộ táng ngày trước thì chỉ thấy mấy hòn máu tươi Hoàng được cứu tỉnh lại nhưng không nhớ gì cả Thị Nghi kiện việc đó đến Diêm vương Vương sai lính tới bắt viên quan họ Hoàng tới hầu kiện Hoàng chợt hiểu bèn lập tờ cung khai, tố Thị Nghi mê hoặc mình Diêm Vương rõ sự việc, sai trừng phạt Thị Nghi bằng nhục hình núi dao cây kiếm, lại giảm tuổi thọ của viên quan họ Hoàng một kỉ rồi cho về
10 Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây
Trang 37Hà Nhân người học trò quê ở Thiên Trường, lên kinh đô để theo học
Cô Ức Trai Hàng ngày thường đi qua một dinh tư đã đổ nát của vị quan Thái sư triều Trần có tên là Trại Tây Tại đây chàng gặp hai cô gái đẹp tự xưng là Liễu Nhu Nương và Đào Hồng Nương Hà Nhân bị họ quyến rũ cùng chung chăn gối rồi yêu hai nàng say đắm đến quên cả học hành Cha
mẹ hỏi vợ cho, chàng cũng từ chối Chừng một năm sau, một hôm, hai nàng rơi nước mắt tiễn biệt Hôm sau, Hà Nhân đến Trại Tây thì không thấy hai nàng, chỉ thấy hoa đào và hoa liễu rụng tơi tả Hoá ra các nàng là yêu hoa biến thành
11 Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên
Năm Quang Thái đời nhà Trần, có người Hoá Châu làm tri huyện Tiên Du tên là Từ Thức Cạnh huyện đường, có một toà chùa danh tiếng, trong chùa có một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở người đến xem đông như hội Một hôm, có người con gái xinh đẹp tuyệt vời, vin vào cành hoa không
may làm gẫy, bị người coi hoa bắt giữ lại Động lòng thương, Từ Thức cởi
áo gấm chuộc lỗi cho người con gái Êy
Tuy làm quan nhưng không mẫn cán, Từ thường bị quan trên quở trách Lại thêm tính hay rượu, thích đàn, ham thơ, mến cảnh, Từ bèn trả Ên tín, bá quan mà về, chu du khắp nơi Thế rồi lần Êy, Từ vào một hang động
và lạc tới cõi tiên, tên gọi Phù Lai Chàng được bà tiên gả vợ cho, chính là
tiên nữ Giáng Hương, người con gái đánh gẫy cành hoa ngày Êy Ở cõi tiên chừng một năm, Từ Thức nhớ quê nên xin về thăm một chuyến Giáng Hương buồn bã, khóc lóc từ giã chàng có gửi theo mét phong thư Thoắt chốc, Từ đã về dến nhà nhưng từ ngày chàng lên cõi tiên đã 80 năm nên không ai biết chàng cả Buồn bực, bùi ngùi, Từ muốn lại lên xe mây mà đi nhưng xe đã biến thành con chim loan bay đi mất Mở thư Giáng Hương,
Từ mới biết đấy là bức thư li biệt, báo cho chàng biết chàng không bao giờ trở lại cõi tiên được nữa
Trang 38Tiểu kết:
Mười một câu chuyện trên đây đều có các nhân vật phụ nữ Không gian của các truyện khá là rộng lớn và các nhân vật cũng tương đối đa dạng Chỉ xét các nhân vật là phụ nữ chúng ta cũng thấy có rất nhiều kiểu loại người Mỗi người tuy là những mảnh đời riêng nhưng mỗi mảnh đời riêng
Êy là một lối sống, một tâm tư, một khát vọng, một số phận Tất cả hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ và liên kết lại với nhau tạo nên cái chung làm
trăn trở, day dứt bao thế hệ độc giả của Truyền kỳ mạn lục, thành vấn đề số
phận người phụ nữ
Trang 39Chương 2
số phận người phụ nữ sống theo nguyên tắc đạo đức, lễ giáo phong kiến
Kiệt tác Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du đã từng khái
quát về số phận đầy cay đắng của người phụ nữ trong xã hội xưa:
Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
và
Đau đớn thay phận đàn bà Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
Trong tư duy của người trung đại, dường như là vạn vật đều có một
số mệnh mà người quyết định số phận Êy chỉ có thể là “ xanh kia thăm thẳm từng trên” phân phát bố trí cho mỗi con người, định trước cuộc đời của mỗi con người Con người đành phải an phận bởi lẽ “ phó quý tại thiên,
tử sinh hữu mệnh” Số phận đã là điều bất khả tri thì đương nhiên sẽ là điều bất khả kháng: vui buồn hay sướng khổ, phong trần hay thanh cao, thành công hay thất bại, từ thiên tử đến thứ dân thảy đều có số
Giữa một thời đại “hoàng hôn thế kỉ phủ bao la” Êy, ông cha ta đã từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời nhưng vẫn không thể tìm ra lối thoát Cuộc đời vẫn là một nỗi bi đát khôn cùng và ở đó, những con người yếu đuối nhất, hẩm hiu nhất, đáng thương nhất vẫn là người phụ nữ
Cũng như các nhà văn trung đại khác, trái tim tê tái yêu thương của Nguyễn Dữ đã hướng về người phụ nữ mà đồng cảm, mà xót xa Nguyễn
Dữ đã cố gắng tìm lời giải đáp căn nguyên của số phận Êy qua Truyền kỳ mạn lục Truyền kỳ mạn lục có 11 truyện viết về người phụ nữ thì tất cả
đều có những số phận riêng Dù họ có xuất thân từ đâu, địa vị xã hội thế nào, dù họ sống tự do hay tuân theo những đạo đức phong kiến, nếu không
có một phép thần, nếu không có một lực lượng siêu nhiên hay quý nhân phù
Trang 40trợ thì kết cục số phận vẫn vô cùng bi thảm.
Từ thực tiễn số phận người phụ nữ được phản ánh trong tác phẩm, chúng tôi nhận thấy có thể phân loại số phận người phụ nữ theo những tiêu chí khác nhau tuỳ theo mục đích, hướng đi của người nghiên cứu Có thể
phân loại số phận người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục theo địa vị xã hội
của họ Hướng đi này có thể phân loại như sau:
- Thường dân: Vũ Thị Khiết, Nhị Khanh( trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu ).
- Cung nhân: Đào thị
- Quyền quí: Ngô Chi Lan, Dương thị
Một hướng đi khác có thể nghiên cứu về số phận người phụ nữ dựa theo kết cục cuộc đời của họ Hướng đi này có nhiều ưu thế Luận văn “Số
phận người phụ nữ và các phương thức thể hiện số phận Êy trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ” do học viên Nguyễn Thị Dương đã triển khai theo
hướng này Tác giả đã căn cứ vào kết cục của số phận các nhân vật mà chia thành hai nhóm:
- Những số phận may mắn
- Những số phận rủi ro
Hướng đi của chúng tôi là nghiên cứu số phận người phụ nữ trong
Truyền kỳ mạn lục dùa theo cách sống của họ Theo chúng tôi hướng đi này
thể hiện một cách tiếp cận có ưu thế Chúng tôi sẽ xem xét nhân vật từ những hành vi cụ thể biểu hiện tính cách cơ bản của nó Nhân vật đã sống như thế nào, có tuân thủ theo những yêu cầu của đạo đức lễ giáo phong kiến hay không để rồi đi tới những kết cục số phận ra sao Làm như vậy vừa đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc trong phân tích văn học ( một phương pháp
mà chúng tôi sử dụng chủ yếu trong luận văn này) vừa thuận lợi cho việc đi tới mục đích của đề tài là người phụ nữ dù sống như thế nào, dù tuân thủ theo những nguyên tắc đạo đức lễ giáo phong kiến hay không thì vẫn có