1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa của hai bà trưng ở hưng yên

126 1,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 799,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có một vị trí hết sức quantrọng trong lịch sử dân tộc, thấm sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam.Lần đầu tiên dưới sự lãnh đ

Trang 1

I Lí do chọn đề tài

1 Trong quá trình hình thành và phát triển của quốc gia – dân tộc ta, trải quamấy ngàn năm lịch sử Mỗi một thời kì lịch sử là một mảnh ghép hết sức quan trọngtạo nên một bước phát triển mới trong lịch sử nước nhà Trong đó phải kể đến cuộckhởi nghĩa Hai Bà Trưng từ những năm 40 – 43 TCN

2 Nói đến văn học dân gian Việt Nam thì truyền thuyết được coi là mộttrong những thể loại văn học độc đáo của dân tộc và nú cú một vị trí hết sức đặcbiệt Với đặc trưng thể loại của mình truyền thuyết đã cho ta thấy được những giá trị

to lớn trong việc lưu truyền lịch sử văn hoá của dân tộc

Trong kho tàng truyền thuyết giàu có và phong phú của dân tộc ta thì mảngtruyền thuyết về các anh hùng đặc biệt là các anh hùng chống ngoại xâm vẫn nổitrội hơn cả, tiêu biểu là truyền thuyết cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có một vị trí hết sức quantrọng trong lịch sử dân tộc, thấm sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam.Lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của những người phụ nữ, nhân dân ta nhất tề đứngdậy, đoàn kết một lòng, dũng cảm chống giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc Nghiên cứu truyền thuyết Hai Bà Trưng nói chung không chỉ có ý nghĩa vềmặt lịch sử mà còn đem lại giá trị to lớn về tư tưởng, chính trị, văn hóa, đặc biệt vớichuyên ngành văn học dân gian

3 Qua truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chúng ta càng thấy

tự hào hơn về ý thức độc lập dân tộc, khát khao về quyền tự chủ, khát khao ý thứcbảo vệ chủ quyền tổ quốc có ý nghĩa to lớn biết nhường nào Từ ý thức cộng đồng đãphát triển thành ý thức giống nòi, tinh thần dân tộc mạnh mẽ Cũng qua những câuchuyện đó, chúng ta thấy được những trang sử thi hào hùng của ông cha ta trong việcđấu tranh chống ngoại xâm Chỉ có khoảng gần ba năm thôi những gì mà Hai BàTrưng và các tướng lĩnh của Hai Bà càng làm cho chúng ta tự hào và nhớ ơn vềnhững người anh hùng dân tộc, những người phụ nữ luôn “anh hùng, bất khuất, trunghậu, đảm đang” mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã trân trọng trao tặng

Trang 2

thuyết quý báu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng Hệ thống truyền thuyết này đãphản ánh khá đầy đủ và chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của các tướng lĩnh vớinhững câu chuyện đầy thú vị và ý nghĩa trong những ngày cả dân tộc ta đang sục sôichống quân Nam Hán để bảo vệ bờ cõi Những câu chuyện về cuộc đời và sựnghiệp của hai Bà và các tướng lĩnh mang một ý nghĩa to lớn trong việc tạo nên hệthống truyền thuyết về Hai Bà Trưng nói chung Vì vậy hệ thống truyền thuyết nàycần phải được khảo sát và quan tâm, mô tả một cách khách quan khoa học, khôngnhững sẽ giúp cho việc giảng dạy tốt hơn các tiết học truyền thuyết ở phổ thông,

mà còn giỳp ích cho việc học tập môn tự chọn Ngữ văn trong chương trình mộtcách hiệu quả Bên cạnh đó còn khơi dậy tinh thần yêu nước, yêu dân tộc của nhândân Hưng Yên nói riêng và con người Việt Nam nói chung

Như chóng ta đã biết, trước đây việc nghiên cứu truyền thuyết về cuộc khởinghĩa Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà đã được một số nhà nghiên cứưquan tâm đến nhưng việc nghiên cứu đó chưa được xem xét một cách đầy đủ và hệthống.Đõy cũng là một điểm rất thiệt thòi cho chuỗi truyền thuyết này

Là một người con của quê hương giàu truyền thống cách mạng, nơi đã sảnsinh biết bao anh hùng dân tộc, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra đầy ắp các truyềnthuyết về thời Hai Bà Trưng đánh giặc giữ nước giữ nước Vì vậy bản thân tôi cũngmuốn gúp thờm một chút sức nhỏ của mình trong việc nghiên cứu, tìm hiểu vàkhảo sát một hệ thống truyền thuyết quý giá của địa phương mà hiện nay vẫn chưađược quan tâm một cách đúng mức, còn bỏ ngỏ Đặc biệt các di sán đó còn liênquan tới cả việc thờ cúng, tín ngưỡng và bảo vệ các di tích lịch sử quý báu còn tồntại ở tỉnh Hưng Yờn

Với những lí do trên, tụi đã lựa chọn đề tài “khảo sát truyền thuyết và lễ hội

về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hưng Yờn” để khảo sát và nghiên cứu

II Lịch sử vấn đề

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng cho đến nay đã trải qua được gần 2000năm trong lịch sử dân tộc Tuy chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn nhưng ýnghĩa lịch sử của nó thất là to lớn Sử sách trong nước và nước ngoài đã nói rấtnhiều cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và các nữ tướng của hai Bà

Trang 3

Biên niên sử Trung Hoa như “Hậu Hán Thư” hay “Thuỷ Kinh Chu”đó dànhnhững trang rất quan trọng ghi lại cuộc khởi nghĩa này Tác giả cũng đã dành nhữnglời đánh giá, bình luận rất sâu sắc về cuộc khởi nghĩa.

Tiếp đó là bộ lịch sử của Lịch Đạo Nguyên viết thời Bắc Nguỵ (515 –

516 SCN) đã dẫn lời Giao Châu Ngoại Vực thế kỉ IV – V là “Trưng Trắc là con gái lạc tướng huyện Mê Linh và Thi Sách là con của lạc tướng huyện Chu Diên đời Hán Hai dòng lạc tướng này đã kết mối thông gia và bà Trưng Trắc đó cựng con (Trưng Nhị) và chồng khởi nghĩa, công phá cỏc chõu, quận thuộc quyền cai trị của

đế chế Hán ở phương Nam”.

Như vậy cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tuy ngắn ngủi những những gì

sử sách nước ngoài viết về cuộc khởi nghĩa thì chúng ta có thể khẳng định đây làcuộc khởi nghĩa hoàn toàn có thật chứ không phải là huyền thoại

ở huyện An Hát” Như vậy dưới nhà Trần việc thờ phụng các vị thần linh thiờng đórất được coi trọng, trong đó có Hai Bà Trưng, bởi lẽ theo sách này thỡ vựng An Hỏtchớnh là vùng đất mà Hai Bà cai quản khi xưa và dưới triều vua Lý Anh Tông, đềnthờ Hai Bà Trưng đã được lập và nhà vua hay đến vùng đất này cầu mưa mỗi khitrời gặp đại hạn

Cuốn “Lĩnh Nam chớch quỏi”, cuốn sách tập hợp các ý kiến của các tác giảđời Lý - Trần – Lê sưu tập và sau cùng là do Trần Thế Pháp biên soạn và hoànthành vào cuối thế kỉ XV thì trong 23 truyện cơ bản của sỏch “đó cố định hoỏ” VũQuỳnh viết lời tựa năm 1493 đã đánh giá: “Hai Bà Trưng trọng nghĩa, khi chếtthành thần minh, treo cờ mà biểu dương, ai dỏm núi không được” Còn truyện “Hai

Bà Trinh linh phu nhân họ Trưng” trong “Lĩnh Nam chớnh quỏi” đó xác định rõ sau

Trang 4

thờ phụng”.

Sau nữa là cuốn “Tõn Lĩnh Nam chớnh quỏi” – tác phẩm gồm 25 truyện do

Vũ Quỳnh (1453 – 1516) biên soạn trên cơ sở của cuốn “Lĩnh Nam chớnh quỏi” và

“Việt điện U Linh” cùng nhiều tài liệu khác, ụng đã biên soạn thành một tác phẩmmới Ở đây, tác giả đã quan tâm nhiều đến phẩm chất của người phụ nữ Việt Namthuỷ chung, son sắc, anh hùng, bất khuất, nhưng truyện của ông vẫn mang phongcách chép thần phả

Khi ca ngợi khí phách anh hùng của Hai Bà Trưng, nhà sử học Ngô Sĩ Liêntrong cuốn “Đại Việt sử kí toàn thư” biên soạn năm 1479 đã đưa những truyện dângian chép trong cỏc sỏch vào quốc sử chủ yếu là những sự kiện chính và ca ngợi khíphách của Hai Bà Tiếp nữa trong cuốn sách diễn ca lịch sử khuyết danh “ThiờnNam ngũ lục” viết bằng chữ Nôm, ra đời vào thế kỉ XVII, trong 8136 câu thơ lụcbát, tác giả dân gian đã dành hơn 455 câu thơ giới thiệu thân thế, sự nghiệp anhhùng của Hai Bà Trưng Nhưng trong tác phẩm này, tác giả đó dựng ngòi bút lãngmạn bay bổng khi kết thúc truyện và kết thúc có hậu

Như vậy, sử gia phong kiến khi nói về các vị thần linh thiêng cũng đã rấtquan tâm đến Hai Bà Trưng, đã đề cao Hai Bà như những vị thần linh thiêng khác

để thờ phụng Điều đó chứng tỏ rằng Hai Bà Trưng dưới thời phong kiến đã được

đề cao và trân trọng

Từ sau cách mạng tháng 8 – 1945 cho đến nay, nước Việt Nam dân chủ cộnghoà ra đời đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Có một đội ngũnhà nghiên cứu Văn học dân gian chuyờn sõu như: Vũ Ngọc Phan, Nguyễn ĐổngChi, Bùi Văn Nguyên, Cao Huy Đỉnh, Bùi Mạnh Nhị, Kiều Thu Hoạch, Trần GiaLinh, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Khắc Xương, đã rất quan tâm và nghiên cứu vềtruyền thuyết Hai Bà Trưng Có thể nói đây là một đội ngũ chuyên gia rất giàu kinhnghiệm và nghiên cứu một cách tỉ mỉ, khoa học Vì vậy các công trình nghiên cứucủa các tác giả đã đem lại một giá trị khoa học to lớn cho ngành Văn học dân giannói riêng và ngành Văn học nước nhà nói chung, từ đó còn thu hút không chỉ nhữngngười nghiên cứu Văn học mà còn thu hút cả những người thuộc các chuyên ngànhkhác như Khảo cổ học, Dân tộc học, Kiến trúc, Hội hoạ

Trang 5

Giáo dục 1954, đã nêu lên những nét khái quát một số sử liệu chính và từ đó tác giả

đi vào phân tích nguyên nhân sâu sa và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưngtrên quan điểm Macxit

Tác giả Đào Duy Anh trong cuốn “Lịch sử Việt Nam đến cuối thế kỉ XIXquyển thượng” - tập san Đại học Sư phạm 1956 trang 37 – 41 phần viết về cuộckhởi nghĩa Hai Bà Trưng, tác giả đã phân tích nguyên nhân sâu sa và nguyên nhântrực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa và ý nghĩa của nó Tác giả đã nhận dạng “biểuhiện cái ý chí bất khuất của toàn thể nhân dân đối với ách áp bức của ngoại bang vàcái mầm mống tinh thần dân tộc tự cường” Có lẽ đây là một lời nhận định rất hay,rất sát thực với tinh thần chung của cuộc khởi nghĩa

Giáo sư Minh Hà có công trình “Hai Bà Trưng và Bà Triệu” – NXB phụ nữ

ấn hành 1962, ụng đã khái quát về thân thế, sự nghiệp của Hai Bà Trưng, Bà Triệu,khẳng định ý nghĩa to lớn của cuộc khởi nghĩa đối với dân tộc trong công cuộc đấutranh giải phóng Điều này ụng đó dựa vào những văn bản đã có trước

Trong cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” - tập I, NXB Giáo dục

1903 trong mục “Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng” Giáo sư Trần Quốc Vượng vàGiáo sư Hà Văn Tấn đã mô tả rất cụ thể và tỉ mỉ về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, ụng

đã mạnh dạn lên án những quan điểm sai lầm của học giả Nguyễn Tế Mỹ trong “Hai

Bà Trưng khởi nghĩa” – NXB Hàn Thuyên 1944 và khẳng định “Cuộc khởi nghĩacủa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của nhân dân Lạc Việt chống lại ách áp bức,bóc lột của bọn phong kiến Hán tộc, tính chất tiến bộ của cuộc khởi nghĩa là ở chỗ đú”

Ngoài ra còn có rất nhiều ấn phẩm đã được sưu tầm ở Hà Tây (cũ), VĩnhPhúc, Hà Nội, Hưng Yên, thật phong phú và đa dạng, trong đó phải kể đến một số

ấn phẩm:

Cuốn “Truyền thuyết Trưng Vương” của chi hội văn nghệ dân gian VĩnhPhúc xuất bản năm 1975 đã giới thiệu được hai truyền thuyết

Ấn phẩm của ty văn hoá Hà Tây (Hà Sơn Hoà Bình) “Một số truyền thuyết

về tướng lĩnh Hai Bà Trưng” - nhiều tác giả 1979 Các ấn phẩm này đã giới thiệuđược truyền thuyết về Hai Bà Trưng cùng các vị tướng lĩnh nổi tiếng của Hai Bàtrong cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Hán đầu công nguyên

Trang 6

thiệu với độc giả gương mặt nữ tướng anh hùng Hai Bà trong đó có các nữ tướng ởHưng Yên.

Tác giả Phạm Ngọc Phụng có tác phẩm “Hai Bà Trưng” – NXB Phụ nữ

1975, với các số hiệu có trước, tác giả đã dựng lại cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưngtrong những năm 40 – 43 “một cuộc khởi nghĩa vũ trang của toàn dân như chớpgiật, bùng nổ trên cả nước, làm chấn động toàn bộ Phương Nam của miền Đông Á.Như nước vỡ bờ, dũng thác cách mạng giải phóng dân tộc phút chốc đập tan tànhách thống trị của đế chế Hán trên đất nước ta Sau 219 năm tủi nhục mất nước, lá cờđộc lập tự do lại tung bay trước gió xuân, trên đỉnh thành Luy Lõu và 65 huyệnthành của non sông gấm vóc Phương Nam” (trang 5)

Ngoài ra, chúng ta phải nói đến các bài viết của Tầm Vu, Phan Trần cũng đãnói về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và các nữ tướng của Hai Bà trong bài viết

“Tư tưởng chủ yếu của người Việt cổ qua những chuyện đứng đầu thần thoại vàtruyền thuyết” và bài “Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử” Trong mỗibài viết của mình, hai ụng đó cú những lời nhận xét rất sỏt đỏng về cuộc khởi nghĩacủa Hai Bà Trưng như “Hai Bà Trưng khởi nghĩa là một đoạn quốc sử vẻ vang.Truyền thuyết về Hai Bà Trưng tô đậm thêm vẻ đẹp cho lịch sử, chứng tỏ một trình

độ chính trị cao của quần chúng và chứng tỏ một truyền thống yêu nước nồng nàncủa ông cha ta” và “đó có bao trang sách nói về sự nghiệp hiển hách của Hai Bà, hàtất phải nhắc lại Song cái hay là nếu sử sách chỉ ghi chép về bản thân sự nghiệp củaHai Bà thì truyền thuyết lại lưu truyền đến ngày nay cho chúng ta rất nhiều tướng táanh hùng: nam có, nữ có Nữ tướng của Hai Bà không phải là ít, họ đều làm nhữngchiến công hiển hách làm rạng rỡ truyền thống anh hùng bất khuất của người phụ

nữ nước nhà” Tuy nhiên qua hai bài viết trên, ta nhìn thấy hai tác giả mới chỉ nhìnnhận về truyền thuyết ở phương diện nghệ thuật (đặc điểm thi pháp) của các truyềnthuyết mà chưa đi sâu vào nội dung, sự phong phú của các truyền thuyết đú.Chưalàm nổi bật được đặc trưng thể loại cũng như các đóng góp của nhóm truyền thuyếtnày trong thể loại văn học dân gian nói riêng và văn học dân tộc nói chung

Nhóm tác giả Lê Trung Vũ (chủ biên) cùng với Nguyễn Xuân Kớnh, Lê Văncho ra đời công trình “Lễ hội cổ truyền” – NXBKH Xã hội và nhân văn 1992 Công

Trang 7

hội cổ truyền của dân tộc, mối quan hệ lễ hội và truyền thuyết Công trình đã tạođiều kiện rất tốt trong việc nhìn nhận một cách sâu sắc hơn các truyền thuyết vềcuộc khởi nghĩa của Hai Bà và tập tục thờ cúng ở địa phương và là nguồn tư liệu rấttốt cho các nhà nghiên cứu Văn học dân gian, dân tộc học, văn hoá học,

Trên cơ sở đó, năm 1995 nhà nghiên cứu dân tộc học Lê Trung Vũ cùng vớiThạch Phương lại xuất bản tiếp cuốn “Sỏu mươi lễ hội truyền thống Việt Nam”NXB Khoa học xã hội 1995 Trong tác phẩm này tác giả đã đề cập đến lễ hội Hai

Bà Trưng ở Hát Môn (Hà Tây), Hạ Lôi (Vĩnh Phúc), Đồng Nhân (Hà Nội) và chỉ ranét đặc sắc của các lễ hội Từ đó ta có thể đối chiếu với lễ hội ở Phụng Công (VănGiang Hưng Yên) để làm nổi bật những nét chung của mỗi lễ hội

Cũng trong thời gian này, nhân kỉ niệm 1960 năm cuộc khởi nghĩa Hai BàTrưng các nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định “cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

là có thật, một sự thật lịch sử, một bản anh hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam”

“Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ Mê Linh lan toả ra cả một không gian văn hoá –

xã hội rộng lớn từ Giao Chỉ đến Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố là có thật, và cáilàm nên giá trị vĩnh cửu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là việc đặt nền tảng chotinh thần bất khuất Việt Nam” [49]

Tác giả Nguyễn Minh San năm 1996 đã xuất bản cuốn sách “Những thần nữ danh tiếng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam” – NXB Phụ nữ 1996, trong mục

“Hai Bà Trưng” từ trang 23 đến trang 33, tác giả đã khẳng định cuộc khởi nghĩa Hai

Bà Trưng oanh liệt, mãi mãi được ngợi ca và trong tâm linh người Việt, Hai Bà mãimãi là những “linh tướng” được thờ phụng Trong niềm tôn kính thiêng liêng, nhândân đã sáng tạo quanh hình tượng Hai Bà nhiều truyền thuyết dân gian để hoànthiện linh tướng thờ phụng theo cảm quan và nhận thức của họ

Đặc biệt gần đây đó cú một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, khoá luậntốt nghiệp nghiên cứu nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vàcác tướng lĩnh của Hai Bà tiêu biểu như:

Trong luận văn Thạc sĩ của Bùi Quang Thanh với đề tài “Sơ bộ thẩm địnhmột số giá trị của truyền thuyết dân gian về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng -1983”, tác giả đã khái quát quá trình nghiên cứu truyền thuyết Hai Bà Trưng từ

Trang 8

tư liệu nghiên cứu, đưa ra một hướng tiếp cận mới về đề tài.

Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thế Dũng với đề tài “truyền thuyết và lễ hội

về Hai Bà Trưng ở Hỏt Mụn – Phúc Thọ - Hà Tõy” năm 2004, tác giả cũng đã khảosát có đánh giá về chuỗi truyền thuyết và lễ hội về Hai Bà Trưng ở Hỏt Mụn – PhúcThọ - Hà Tây Tác giả đã nghiên cứu những truyền thuyết này ở góc độ thi pháp,các mụtớp tiêu biểu Tuy nhiên Nguyễn Thế Dũng mới chỉ quan tâm đến truyềnthuyết thể hiện xoay quanh Hai Bà Trưng ở Hỏt Môn (Hà Tây cũ)mà chưa có sựquan tâm đến những con người đó cựng sát cánh với Hai Bà làm nên thắng lợi vẻvang trong cuộc khởi nghĩa đó

Và đáng chú ý với đề tài này là luận án Tiến sĩ của tác giả Phạm Lan Oanh –chuyên ngành Văn hoá học Tác giả đã khảo sát chi tiết được các điểm thờ cúng Hai

Bà và các tướng lĩnh của Hai Bà trên đất Hưng Yên, chỉ ra được nét chung vànhững đặc điểm riêng trong nghi lễ thờ cúng Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh củaHai Bà trên đất Hưng Yên Với các tỉnh lân cận như Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc, HảiDương, Bắc Ninh, Tuy nhiên với luận văn này, tác giả mới chỉ tập trung nghiêncứu việc thờ cúng nghi lễ mà chưa quan tâm đến nội dung, đặc điểm thi pháp củatruyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trên đất Hưng Yờn Đõy là tư liệu hữuÝch để chúng tôi tiếp cận với các truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà ởvùng này

Khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Xa khóa 49 khoa Ngữ văn Đạihọc Sư phạm Hà Nội với đề tài “Khảo sát đặc điểm nhóm truyền thuyết về các nữtướng của Hai Bà” Với đề tài của mình, Lê Thị Xa đã khảo sát, giới thiệu khá tỉ mỉnhóm truyền thuyết về nữ tướng của Hai Bà đặt trong bối cảnh lịch sử và nêu nhữngphẩm chất cao quý, tốt đẹp về những nữ tướng của cuộc khởi nghĩa Đáng chú ý làtác giả đã quan tâm đến những đặc điểm thi pháp nổi bật mà nhóm truyền thuyếtnày đã thể hiện Qua đó ta có sự nhìn nhận một cách toàn diện hơn về nhóm truyềnthuyết tren Tuy nhiên đặc điểm hạn chế của đề tài này mới chỉ quan tâm ở một cáchchung nhất, chưa có cái nhìn cụ thể, tỉ mỉ và sâu rộng của cả một kho tàng truyềnthuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà hiện nay

Trang 9

chúng tôi thấy đó là những tư liệu, kiến thức quý giá Tuy nhiên cho đến nay chưa

có một công trình nào khảo sát các truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa Hai

Bà Trưng ở Hưng Yên Vì Vậy, là một học viên cao học chuyên ngành Văn học dângian của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là người con của Hưng Yên, tụi

đã mạnh dạn triển khai khảo sát và nghiên cứu đề tài một cách có hệ thống, chi tiết

và cụ thể với hi vọng sẽ gúp thờm được phần vào kho kiến thức vô tận của ngànhVăn học nói chung và Văn học dân gian nói riêng

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

- Luận văn là là bước tổng hợp mới về những thành tựu nghiên cứu tìm hiểutruyền thuyết về thời Hai Bà Trưng ở tỉnh Hưng Yên

-Luận văn đã hệ thống hóa, khảo sát diện mạo truyền thuyết về cuộc khởi nghĩacủa Hai Bà Trưng và các tưóng lĩnh của Hai Bà trong toàn tỉnh

-Trong khuôn khổ của đề tài, người viết cũng đi vào phân tích, tổng hợp nhữngđặc điểm nội dung và nghệ thuật của nhóm truyền thuyết này

-Qua đây những truyền thuyết về thời Hai Bà Trưng ở tỉnh Hưng Yên được xemxét trong mối quan hệ với nghi lễ và lễ hội còn được tổ chức ở địa phương.Cũngqua đó người viết đã miêu thuật một số lễ hội tiêu biểu đẻ làm sáng tỏ mối quan hệtrên

Trên cơ sở này, chúng tôi đưa ra những đánh giá khoa học, khách quan chứkhông phải là suy diễn cảm tính về truyền thuyết và lễ hội trong cuộc khởi nghĩacủa Hai Bà Trưng ở tỉnh Hưng Yên

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát là truyền thuyết và lễ hội về Hai Bà Trưng và tướng lĩnhHai Bà trên đất Hưng Yên

2 Phạm vi nghiên cứu

Lấy phạm vi nghiên cứu ở nguồn thư tịch và truyền miệng Hiện nay chúngtôi đã khảo sát, điền dó tỡm được khoảng trên 20 truyền thuyết về Hai Bà Trưng vàtướng lĩnh của Hai Bà trên đất Hưng Yên

Trang 10

Khoa học xã hội 1997, cuốn “Thành Hoàng làng Việt Nam” của Phạm Minh Thảo (chủ biên), cuốn “Tổng tập văn học dân gian người Việt” tập I của tác giả Kiều Thu Hoạch (chủ biên) Đặc biệt nguồn tư liệu trong cuốn “Truyện cổ dân gian Hưng Yên” của tác giả Vũ Tiến Kỳ - NXB Văn hoá thông tin Đây là những nguồn

tư liệu khá phong phú và quý giá cùng với nguồn tư liệu trong quá trình chúng tôisưu tầm được trong dân gian đã giúp cho việc hoàn thành luận văn được nhanh vàphong phú hơn Tuy nhiên trong quá trình khảo sát và nghiên cứu những đóng gópcủa mọi người sẽ là nguồn tư liệu tốt cho luận văn

IV Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

1 Phương pháp điền dã

2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, mô tả

3 Phương pháp thống kê – phân loại

4 Phương pháp so sánh loại hình

5 Phương pháp liên ngành

V Những đóng góp của luận văn.

Luận văn sẽ thống kê một cách khá phong phú các bản kể truyền thuyết dângian về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Đồng thời đây cũng là một bước tổnghợp mới về những thành tựu nghiên cứu, tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội về cuộckhởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Hưng Yờn.Đõy cũng là lần đầu tiên các kiếnthức chuyên ngành Văn học dân gian được vận dụng vào việc khảo cứu truyềnthuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hưng Yên

Trên cơ sở này, người viết tự đào sâu và hoàn thiện kiến thức cũng như kĩnăng, phương pháp nghiên cứu khoa học, văn hoá tạo điều kiện, tiền đề cho côngviệc nghiên cứu sau này

Luận văn cũng gúp thờm một phần nào vào việc giáo dục cho thế hệ sau nàythêm tự hào về cha ông mình đã từng chiến đấu hy sinh chống giặc ngoại xâm bảo

vệ bờ cõi, giang sơn giành lại độc lập cho tổ quốc.Cũng thông qua đó, luận văn giúpcho việc giảng dạy của giáo viên trong chương trình địa phương cú thờm nguồn tưliệu quý về thể loại truyền thuyết trong chương trình giảng dạy của mình và học

Trang 11

tốt hơn.

IV Cấu trúc của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn đượctrình bày trong 3 chương:

Chương 1 Khảo sát diện mạo, nội dung, ý nghĩa truyền thuyết Hai Bà

Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà ở tỉnh Hưng Yên.

Chương 2 Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Hưng

Yên - Đặc điểm thi pháp.

Chương 3 Một số lễ hội tiêu biểu tưởng niệm Hai Bà Trưng và các

tướng lĩnh của Hai Bà.

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHẢO SÁT DIỆN MẠO, NỘI DUNG, Ý NGHĨA TRUYỀN

THUYẾT HAI BÀ TRƯNG VÀ TƯỚNG LĨNH

HAI BÀ Ở TỈNH HƯNG YÊN

1 Đôi nét về mảnh đất và con người Hưng Yên.

Trải qua các thời đại, Hưng Yên một vùng đất trung tâm của châu thổ SôngHồng, được hình thành vài ngàn năm trước và là cái nôi của người Việt cổ (técKinh) Vì vậy nơi đây có một tầng văn hoá rất sâu và đậm, nét văn hoá Êy đã luônđồng hành cùng lịch sử dân tộc Việt Nam

Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước đã có bộ lạc Trâu (còn gọi là bộ lạc câu lậu)

Sinh sống ổn định cùng với các dân tộc khác chung sức xây dựng Nhà nướcVăn lang - Âu Lạc (như bộ lạc chim ở Xứ Đoài, bộ lạc Rồng ở xứ Bắc, bộc lạcDâu ở hai bờ sông Đuống …), Sau một trận địa trấn, vùng đứt gẫy được phù sadòng sông Nhị Hà bồi lắng tạo nên châu thổ sông Hồng phì nhiêu, cư dân các bộ lạcviệt đều phá rừng, khai thác đầm lầy, dùng phép thuỷ nậu trồng lúa, dựng làng trênnhững gò cao để cư trú và sinh sống

Khi phong kiến phương Bắc đô hộ, vùng đất Hưng Yên luôn biến động vềgianh giới địa lí Nhà Tần (214 - 204) TCN chia nước ta làm hai quận, Hưng Yênthuộc quận Tượng

Thời Hán (111 TCN - 39 SCN) cai trị, Hưng Yên là vùng đất huyện Chu Diên,thuộc quận Giao Chỉ Thời Đông Ngô (226 - 265) đến thời vua Đường Trung Tông -

Lý Tôn Húc (939 - 936) Hưng Yên là đất huyện Vũ Bình thuộc An Nam hộ phủ

Đến khi Khóc Thừa Dụ hạ thành Tống Bình, đuổi quân Đường về nước,khởi đầu thời kỳ giành quyền độc lập, tự chủ, nhà Ngô (939 - 965) chia vùng HưngYên thuộc Đằng Châu, Nhà Đinh (908 - 980) lại chia nước ta thành 10 đạo, HưngYên thuộc Đằng đạo Đến đời Lê Long Đĩnh (con thứ 5 Lê Đại Hành), nhà Tiền Lê(980 - 1009) đổi Đằng đạo thành phủ Thái Bình Trong triều Đại Lý - Trần, Hưng

Trang 13

đổi nước ta thành quận Giao Chỉ và lúc này Hưng Yên lại thuộc phủ Kiến Xưởng

Sau khi Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, lên ngôi Hoàng Đế, ông đã chia Đông

Đô ra làm 4 đạo, Hưng Yên thuộc Nam Đạo Sau này Vua Lê Thánh Tông đã tiếnhành cải cách hành chính và chia nước ta thành 11 phủ, 42 huyện, Hưng Yên thuộcphủ Khoái Châu và thuộc trấn Sơn Nam Thượng

Dưới Triều Nguyễn, khi Nguyễn Phúc Đảm (1791 - 1840) lên nối ngôi GiaLong, hiệu Minh Mệnh (1820) đã chia các Trấn phía Bắc thành 18 tỉnh trong đó cóHưng Yên và cũng trong thời Nguyễn này phố Hiến chính là cảng thị buôn bán sầmuất ngoài Bắc Hà sau Thăng Long - Hà Nội Lúc này cả nước vẫn có câu: " Thứnhất kinh kì, thứ nhì Phố Hiến " nơi đây được chọn là nơi xây thành và là tỉnh lịcủa Hưng Yên

Tháng 10 - 1831, Hưng Yên mới chính thức được thành lập tỉnh và cho đếnkhi Vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, Hưng Yên vẫn không có gì thay đổi.Nhưng khi nhận được lời kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên đánh Pháp của Vua(7/1885) thì Hưng Yên là một trong những tỉnh ở Bắc Kì có phong trào kháng chiếnchống Pháp mạnh mẽ Tiêu biểu nh cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Đinh Gia Quế(1825 - 1885) và Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo (1844 - 1926) Nghĩa quân Bãi Sậyngày càng lớn phát triển lớn mạnh buộc thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh thành lập đạo BãiSậy (một đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh) và tháng 6/1889) để đặc tráchviệc đàn áp phong trào kháng Pháp ở đây

Cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, từ8/1945 đến tháng 11/1996, địa giới Hưng Yên đã được chuyển rất nhiều lần Đặcbiệt nhất là ngày 26/01/1968 uỷ ban thường vụ quốc hội ra nghị quyết số 544/NQ-TVQH hợp nhất hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hưng Yên và sau 29năm hợp nhất, ngày 6/1/1996 quốc hội khoá IX đã phê chuẩn tách Hải Hưng thànhhai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương

Nh vậy, hiện nay Hưng Yên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện là: Thànhphố Hưng Yên, Phủ Cừ, Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động, Khoái Châu, Văn Giang, Yên

Mĩ, Mĩ Hào và Văn Lâm với diện tích trên 923km2

Trang 14

biển, không nói, đất đai mầu mỡ được bồi đắp bởi con sông Hồng với điều kiện khíhậu nhiệt đới gió mùa Vì vậy Hưng Yên có đủ điều kiện để phát triển kinh tế, đặcbiệt là nghề trồng lúa nước, góp phần làm phát triển thêm cho nền văn minh nôngnghiệp lúa nước vốn có hàng ngàn năm của lịch sử dân tộc và cũng nơi đây đã sảnsinh ra một nền văn hoá đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc Những người con HưngYên qua hàng ngàn năm đã đi vào lịch sử dân tộc, đi vào truyền thuyết nh thờiHùng Vương, thời Trưng Vương, thời Đinh, Lí, Trần …

Mỗi một thời đại mảnh đất Hưng Yên đều có một bản anh hùng ca riêng củamình để đồng hành cùng lịch sử của dân tộc

2 Mảnh đất " địa linh nhân kiệt "- Giầu truyền thống văn hoá

2.1 Mảnh đất " Địa linh nhân kiệt "

Nước Văn Lang - Âu Lạc được hình thành khoảng thế kỷ XIII -> XVI TCNqua 18 triều đại Hùng Vương theo tục cha truyền con nối Theo “Lĩnh Nam chíchquái,” người đi khai phá vùng đầm lầy mới bồi đắp để lập làng, lập Êp ở châu thổSông Hồng là vợ chồng Chử Đồng Tử - Tiên Dung Trong tổng số 864 làng, Êphiện có ở Hưng Yên, làng được hình thành sớm nhất là làng Chữ Xá - Làng truyềnrằng do Chử Đồng Tử - Tiên Dung lập từ TK thứ III TCN, sau đó là một loạt cáclàng xã được hình thành theo trên vùng đất vừa hội tụ này

Theo dòng lịch sử, truyền thuyết, thời nào Hưng Yên cũng có anh tài Nhữngngười con Hưng Yên đã luôn sát cánh bên nhau trong công cuộc khai phá đấthoang, xây dựng quê hương đất nước biệt là trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm

để bảo vệ giang sơn, tổ quốc

Ngay từ thời Hùng Vương, cư dân Hưng Yên đã khá đông đúc, trở thành nơicung cấp nhân lực, vật lực cho các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và chiến tranh

bộ tộc Bằng chứng là vào thời Hùng Chiều Vương Long (Hùng Vương Thứ 6)làng Thổ Hoàng, Ân Thi đã có những chàng trai dũng cảm theo Phù Đổng thiênvương đánh giặc Ân Thời Hùng Nghị Vương (Vua Hùng Thứ 17), các hoàng tửBảo Quốc, châu Võ về làng Bình Hồ (xã Quảng Lãng, Ân Thi) lập đồn trại tuyểnquân chống quân thù Đại Vương thiên khai, một thủ lĩnh bộ tộc quy phục vuaHùng, trở thành đại tướng của nhà vua

Trang 15

ruộng mật này để xây dựng lên cộng đồng làng xã Bởi lẽ sự quy tụ này là một phần

do điều kiện thuận lợi của vị trí địa lí ven sông (Sông Hồng, Sông Luộc, Sông CửuYên, Sông Hoan ái, Sông Kim Ngưu) Vì vậy rất thuận lợi cho việc trị thuỷ, tướitiêu, đánh bắt cá.Vả lại đất đai lại mầu mỡ và có những dải đất cao hơn để xây dựngnhà cửa, vun đắp nên một truyền thống văn hoá tốt đẹp của mảnh đất Hưng Yên nóiriêng và văn minh sông Hồng nói chung

Vào những năm 40 - 43 sau công nguyên, nhà Hán xâm lược nước ta, cảnước chìm trong cảnh đau thương dưới ánh thống trị của bọn phong kiến phươngBắc Khi nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, một lần nữa, người dân HưngYên lại nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm Tiêu biểu như 7 cha con Trần Lữungười Đào Đặng (thành phố Hưng Yên) đã mộ quân về hưởng ứng Mỗi huyện đều

có những anh tài nổi danh như Bà Nguyệt Thai - Nguyệt Đô người Khoái Châuhưởng ứng lời hiệu triệu của hai Bà đã tuyển được 2000 người, lập trường luyệnquân ở Tân Trường, Thái Hoà, Bình Xuyên (huyện Bình Giang - Hải Dương) rồikéo đi hạ thành Yên Định Hai nàng song sinh này đã biết gom sức mạnh toàn dân

đã hội quân với Lã Văn Êt người Văn Giang cùng vừa hạ xong thành Kênh Cầu,cùng vây Ðp Luy Lâu, buộc Tô Định phải thay quần áo lính trốn về nước

Mảnh đất Hưng Yên cũng từng là nơi hội tụ, chiến đấu của nữ tướng Vũ ThịThục - quê tận Phượng Lâu (Phù Ninh - Phú Thọ) cùng chiến đấu với các chiến nữHưng Yên ở bờ sông Cát tại thôn Đoàn Thượng (xã Bảo Khê, thành phố HưngYên) Rồi bao người con Hưng Yên khác như các chàng trai Nguyễn Trung ngườithôn Phú Cốc (xã Ngũ Lão - Kim Động), Dương nước, Dương Đình, người làngMai Viên (xã Song Mai - Kim Động), là cô gái Hương Thảo, bà Ngọc Chi (ÂnThi), Trần Thị Mã Châu (Thành phố Hưng Yên)… Những chiến công của ngườicon Hưng Yên tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu dũng cảm,kết tinh ý chí, sức mạnh dân tộc trong các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm Tất cả

họ luôn sống mãi trong tâm linh và thần điện của các làng xã ở tỉnh Hưng Yên

Sau gần một nghìn năm chìm trong ách đô hộ của phong kiến phương Bắccho đến khi đất nước giành được chủ quyền năm (937) và trải qua các triều đại Tiền

Lê, Lý Trần, Hậu Lê (1427) Hơn 440 năm Êy, nhân dân Hưng Yên luôn sát cánh

Trang 16

những chiến công hiển hách Đó là trận Lê Hoàng giết Hầu Nhân Bảo và TrầnKhâm Tộ, bắt sống Quách Quân Biên và Triệu Phục Hưng trong cuộc kháng chiếnchống Tông năm 987.

Trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông dưới sự chỉ huy của Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn, người dân Hưng Yên cũng lập nên những chiến công tiêubiểu Đó là trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất, quândân Màn Trù, Mễ Sở (Khoái Châu) đã đón vua Trần Từ Thăng Long về đây xâydựng hậu cứ thực hành kế " thanh dã " của Trần Quốc Tuấn để rồi tập kích chiếnlược ở Đông Bộ Đầu (1258) Trong một trận chiến đấu cùng đại quân của ChiêuVăn Vương Trần Nhật Duật, Chiêu Thành Vương, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản,Tướng quân Nguyễn Khoái, nhân dân Hưng Yên đã cùng đón đánh giặc ở Tây Kết -Hàm Tử quan, chém chết Toa Đô tại trận trong cuộc kháng chiến chống quânNguyên Mông cần thứ 3 (1288) Vị tướng Phạm Ngũ Lão người Phù ủng - Ân Thi

đã tiêu diệt gần hết đội quân của địch đông tới 5000 người, góp phần đuổi quânNguyên Mông về nước Đất nước được giải phóng non sông thu về một mối

Dưới ách đô hộ của giặc Minh, Trấn Sơn Nam nằm trong tay giặc, người congái họ Đào người Làng Đào Đặng (xã Trung Nghĩa - thành phố Hưng Yên) vốn nổitiếng hát hay, bà được giặc tin tưởng cho phục vụ trong bản doanh của giặc Với tàichí của mình, bà đã dùng kế dụ giặc chui vào bao ngủ tránh muỗi Đêm đêm bà vàmột số anh em đã mang chúng ném xuống sông, góp sức cùng nghĩa quân Lam Sơngiành lại độc lập cho nước nhà

Khi triều đình lục đục, tranh giành quyền bá, hà hiếp nhân dân thì nhân dânvùng lên chống ách thống trị đòi công bằng xã hội và tìm minh chủ mới Hàng ngànngười ở vùng đất Sơn Nam thượng đã hưởng ứng theo lời Nguyễn Tuyển, Nguyễn

Cừ, Phan Bá Vành, Cao Bá Quát đứng lên khởi nghĩa chống lại các thế lực phongkiến giành lại áo cơm và ruộng đất

Ngày 01/9/1858 thực dân Pháp nổ súng ở cửa biển Đà Nẵng xâm lược nước

ta Mặc cho triều đình nhà Nguyễn nhu nhược từng bước đầu hàng quân giặc nhưngnhân dân Nam kỳ tự giác đứng lên đánh Pháp Khi quân Pháp đánh chiếm Bắc kìlần thứ 2 và lần lượt đánh chiếm các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có Hưng Yên

Trang 17

nhân dân các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động, Phù Cừ đã theoĐinh Gia Quế (1825 - 1885) làm lễ tế cờ " Bình Tây phạt tội "tại đình Thọ Bình(Khoái Châu) mở đầu cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) Sau khi Đổng Quếmất, Nguyễn Thiện Thuật (1844 - 1926) tiếp tục lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và phongtrào phát triển, lan rộng ra toàn tỉnh và sang các tỉnh bạn Nghĩa quân đã vượt sôngHồng đánh phá các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, rồi tấn công thànhHải Dương, đánh địch Tân Yên Quảng làm cho quân pháp nhiều phen lúng túng

Trong những năm diễn ra cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892) do Đinh GiaQuế và Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, nhân dân các làng xa Hưng Yên không chỉ cửcon em tham gia nghĩa quân mà con xây dựng làng trở thành những làng chiến đấugiúp nghĩa quân đánh thắng nhiều trận Làng Thọ Bình (xã Tân Dân - Khoái Châu) lậpnhững trạm tiền tiêu, quan sát địch giúp việc bảo vệ chỉ huy sở cuộc khởi nghĩa Cáclàng trong huyện Khoái Châu, Ân Thi, Yên Mĩ, Mĩ Hào, Văn Giang … đều tự nguyệnđóng thuế cho nghĩa quân, cất giấu lương thực, sản xuất vũ khí thô sơ trang bị cho con

em chiến đấu Họ thà hy sinh chữ không chịu tiếp tay cho giặc để bảo vệ nghĩa quân

Lý trưởng làng Xuân Dục (Mĩ Hào) chịu chết chứ không chỉ mồ mả tổ tiên quan Hiệpthống Nguyễn Thiện Thuật cho quân Pháp Nhân dân Lôi Cầu (Xã Việt Hoà, KhoáiChâu) thà chịu tàn sát chứ nhất định không chịu hàng giặc Làng khúc Lông (VĩnhKhóc, Văn Giang) đã phá huỷ các con đường vào làng để không cho quân địch tiếnđánh nghĩa quân đang đóng trong làng Điều đó càng khảng định truyền thống yêunước, truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm của nhân dân Hưng Yên

Sẵn có lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm,khi được tiếp nguồn ánh sáng của đường lối cách mạng vô sản, những người contiên tiến của Hưng Yên đã sớm giác ngộ cách mạng, gây dùng phong trào cộng sản

để lãnh đạo nhân dân làm cách mạng Năm 1928, dưới gốc đa Sài Thị (KhoáiChâu), chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được thành lập mộtnăm sau (1929), chi bộ chuyển thành chi bộ Đông Dương cộng sản Đảng đầu tiêncủa Hưng Yên Phong trào cách mạng trước năm 1945 ở Hưng Yên như cánh đồng

cỏ khô gặp lửa, từ mét chi bé, rồi hai, ba chi bé, đến tháng 7/1941, hội nghị các chi

bộ toàn tỉnh họp tại Ninh Thôn (xã Cẩm Ninh, Ân Thi) bầu Ban tỉnh uỷ lâm thời để

Trang 18

Phong trào tạm lắng, phong trào lại lên" và từ đó lực lượng ngày một lớn mạnh vàchuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.

Đêm 22/8/1945, UBND cách mạng lâm thời tỉnh Hưng Yên được thành lập

và đến ngày 25/8/1945, chính quyền cách mạng của ta đã được xây dùng trongphạm vi toàn tỉnh Nước nhà hoàn toàn độc lập, chính quyền thật sự về tay nhândân

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Hồ Chủ Tịch vĩ đại, Trong suốt hai cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của nhân dân ta trong suốt 30 năm (1945 -1975) hàng triệu người con ưu tú của Hưng Yên đã nô nức lên đường chiến đấu đểbảo vệ Tổ quốc Trong 9 năm chống Pháp, riêng ở Hưng Yên đã diễn ra hàng trămtrận đánh nổi tiếng như ở Bần Yên Nhân, ở Lực Điền (Khoái Châu) … với phươngchâm " Giặc đến nhà - đàn bà cũng đánh" người dân Hưng Yên luôn sát cánh mộtlòng, đánh giặc Pháp, nổi tiếng với phong trào " Nữ du kích Hoàng Ngân" làm chogiặc Pháp luôn phải khiếp sợ

Hoà bình lập lại, Hưng Yên cùng với miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa,miền nam phải chống giặc Mĩ xâm lược Với phương châm " vì miền nam ruột thịt "phụ nữ ở lại tăng gia sản xuất xây dựng đất nước Thanh niên, nam giới một lần nữalại nô nức ra trận Cũng ở Hưng Yên đã xuất hiện bao anh hùng trong lao động, anhhùng lực lượng vũ trang như: Bà Phạm Thị Vách, Nguyễn Văn Phụng … và hàngvạn người con Hưng Yên đã gửi lại tuổi thanh xuân ở chiến trường miền Nam vàmãi mãi không trở về Đặc biệt là người con của Hưng Yên, một vị lãnh tụ kiệt xuấtNguyễn Văn Linh là một minh chứng cho lòng dũng cảm, tinh thần chiến đấu trongchiến trường Trong thời bình, một lần nữa ông lại mang lại ánh sáng cho conđường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta mà cả nước phải mang ơn và kínhtrọng

Đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, Hưng Yên đã cùng

cả nước vững bước theo Đảng, xây dựng và chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, xâydựng mảnh đất hình lá cờ tung bay tiến lên chủ nghĩa xã hội

2.2 Mảnh đất giầu truyền thống văn hoá

Trang 19

được thiên nhiêu ưu đãi Ngay từ khi người dân Hưng Yên khai hoang mở đất, nơiđây đã là nơi sản xuất ra nhiều lúa gạo, hoa mầu Thành lập nên một nền văn hoá lúanước lâu đời, đó chính là nền tảng của văn minh nông nghiệp lúa nước của nước ta.Cũng chính văn minh đó đã sản sinh ra một nền văn hoá với bản sắc độc đáo củamình

Thứ nhất: Cốt cách của người Hưng Yên không chỉ không hình thành hệ giá

trị tâm thức con người qua tình yêu đất - nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng làng xã

mà đối với người Hưng Yên luôn luôn coi trọng cuộc sống thực tế để tạo dựng mộtcuộc sống lao động cần cù, nhân ái và bao dung, trọng nghĩa tình đạo lí Làm nôngnghiệp là phải " Một nắng hai sương" cần cù chịu khó Bởi lẽ, thực tế đã dạy conngười ta " Được mùa chớ phụ ngô khoai/ đến khi thất bát lấy ai đỡ lòng"

Cho nên, mỗi mét gia đình, mỗi con người luôn luôn cần kiệm để lo chotương lai, cho cuộc sống này phát triển

Cũng từ thực tế đó, người dân Hưng Yên luôn có tinh thần sáng tạo, từ mộtsáng tạo nhỏ, tích góp lại trở thành một sáng tạo lớn hơn Nghề thủ công truyềnthống ở Hưng Yên đã ra đời từ rất sớm và sau này đã dần dần trở thành những làngnghề truyền thống Ca dao xưa có những câu viết về làng nghề Hưng Yên

Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu, Đồng tỉnh bán thuốc, Huê cầu nhuộm thâm

Phú Trạch là đất trồng dâu nuôi tằm Phú Thị nhuộm vải bán tăm Thiết Trụ nấu rượu tế thần mọi nơi,

Đa Hoà đập đá nung vôi Bằng Nha dệt cửi là nơi thanh nhàn.

Và kể sao hết những làng nghề truyÒn thống ở khắp đất Hưng Yên Ngàynay người con Hưng Yên đã mang nghề truyền thống của quê hương đi khắp nơi đểxây dựng lập nghiệp như Quảng Ninh, Vũng Tầu, Tây Nguyên … Thiết nghĩ rằng,

đó là một nét đẹp về văn hoá, một truyền thống quý báu của người dân Hưng Yên

Trang 20

phải nhắc đến đó là truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, vượt lên khó khăn đểtrở thành người có Ých cho Tổ quốc, quê hương

Trong thực tế, kể từ khi ghi chép thành văn, chữ Hán đã du nhập vào nước ta,

và tính từ khoa thi cử năm Êt Mão (1075) đến hết đời nhà Nguyễn khoa Kỉ Mùi(1919) khoa cử của nước ta đã trải qua 845 năm Trong tổng số 2785 người đỗ trong

184 khoa thi thì Hưng Yên đã có 228 người đỗ đại khoa ở các kì thi hội, thi đình.Nhiều người đỗ đạt đã trở thành những lương thần danh tướng làm rạng danh đấtnước quê hương như: Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370) 12 tuổi đỗ Thái học sinh,

16 tuổi đỗ Hoàng Giáp đời Trần Anh Tông, đã từng đi sứ Bắc Soạn sử nam và làđại thần (Tể Tướng) 5 tiền vua Đó là lễ Bộ thượng thư Đào Công Soạn (1376 -1456) người đỗ đầu kì thi sẽ từ đời Lê Thái Tổ văn chương chính Lê Như Hổ (1511

- 1581) phó tướng Tả đô đốc Hoàng Nghĩa Giao (1623 - 1662) Hồng Hà nữ sĩĐoàn Thị Điểm (1705 - 1748) tác giả truyền kì Tân Phả và dịch giả “Chinh phụngâm khúc” nổi tiếng Hải thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1905….)… Điểmqua những người con tài danh đất Hưng Yên nêu trên mà chưa kể đến những nhânvật huyền thoại như trạng Nguyễn Tống Trân, người đi sứ “Mười năm khiết trờiNgô”, được vua Tàu phong là “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” Người Hưng Yên cócậu bé Tống Trân, con nhà nghèo khó, 8 tuổi đỗ Trạng Nguyên như một biểu tượngcao đẹp về tinh thần ham học, sự vượt khó vươn lên thành tài làm rạng danh đấtnước

Do vị trí cận kề Hà Nội, khi Tây học thịnh hành thì Hưng Yên cũng là nơi cóphong trào tân học khởi sắc Nơi đây cũng sản sinh ra được nhiều nhà khoa học, nhàthơ, nhà văn, tướng lĩnh … nhạc sĩ cho đất nước Tiêu biểu như nhà nông học cửnhân Nguyễn Công Tiễn (1892 - 1976), người huyện Phù Cừ, với công trình nghiêncứu bèo hoa dâu gây tiếng vang trên hội nghị khoa Thái Bình Dương Đó là nhà thơ,tác giả tập “Tiếng Dịch Sông ô” - Kiêm nhà khảo cổ học Tiến sĩ Phạm Huy Thông(1916 - 1988) - tác giả của nhiều công trình nghiên cứu thời Hùng Vương dựngnước Ông đã được nước cộng hoà dân chủ Đức công nhận là viện sĩ viện hàn lầmkhoa học Đó là cử nhân Dương Quảng Hàm (1898 -1946), một nhà sư phạm mẫumực, và là người Việt Nam đầu tiên biên soạn văn học sử - cuốn “Việt Nam văn học

Trang 21

1954) một hoạ sĩ nổi tiếng Đó là các nhà văn nổi tiếng, tiêu biểu cho dòng văn họchiện thực phê phán (1930 - 1945) như Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977), Vũ TrọngPhụng (1912 - 1939) và các nhà văn hiện đại như Học Phi, Lê Lựu, Chu Lai,Nguyễn Thị Hồng Ngát Trên lĩnh vực sân khấu, Hưng Yên có Lê Đình nghị (1884

- 1954), nhà cải cách và phát triển nghệ thuật chèo Một loại hình sân khấu dân gianđộc đáo của dân tộc từng được tôn vinh là ông Tổ nghề chèo Lĩnh vực nhạc sĩ cóCao Việt Bách, Phó Đức Phương, Nguyễn Hữu Ước … có những ca khúc đã đicùng năm tháng và được cả nước biết đến Đặc biệt, trong 2 cuộc kháng chiếnchống 2 đế quốc hung mạnh nhất của thế giới là Pháp và Mĩ, đã xuất hiện 44 tướnglĩnh tài ba công tác trong binh chủng quân đội nhân dân Việt Nam Những conngười thượng võ trên đất Hưng Yên đã làm rạng danh non sông gấm vóc như:Trung Tướng Nguyễn Bình (1908- 1951) Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng TướngHoàng Minh Thảo, Thượng Tướng Đặng Vũ Hiệp, Thượng Tướng Nguyễn TrọngXuyên, Thượng Tướng Phạm Thanh Ngân, Thượng Tướng Lê Quang Hoà …

Những người con ưu tú của Hưng Yên nêu trên là sản phẩm văn hoá củavùng quê chung đúc nên, vừa là sự tự vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao và sáng tạo nênvăn hoá của họ Đồng thời cũng làm cho truyền thống văn hoá của quê hương, đấtnước thêm giầu mạnh Đó là những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần hiếu học,vươn lên thành tài, cống hiến cho Tổ quốc của người Hưng Yên Vì vậy, không phảibỗng nhiên mà sách “Đại Nam Thống chí “đã ghi: ở đây “Kể sĩ gắng học, nhà nôngchăm cày, ưa tiết kiệm, tránh xa xỉ” Đây chính là giá trị vô cùng quý giá mà nhữngngười con Hưng Yên đã để lại cho đời

Thứ 3: Sẽ thiếu tính toàn diện và tính thống nhất khi khảo sát về truyền thống

văn hoá của một địa phương mà không xét qua phong tục tập quán, đời sống tâmlinh của cư dân sống ở địa phương, đó là hệ giá trị về tâm thức con người HưngYên

Ngoài giá trị về lòng yêu nước nồng nàn, lòng nhân ái bao dung, tinh thầnđoàn kết cộng đồng: Cá nhân - gia đình - làng nước, người dân Hưng Yên còn cómột nét đẹp nổi bật trong đời sống tâm linh đó là luôn luôn biết ơn về nguồn cội

Trang 22

xóm có một nét đẹp văn hoá sâu đậm và đó là một phần đời sống tinh thần trong họ.

Càng hoà chung trong thế giới tâm linh của người Việt ở vùng cư dân nôngnghiệp Đông Nam Á, nhất là vùng trồng lúa nước thì mẫu Thoải (mẹ nước) là vịthần được thờ phụng nhiều nhất Trong những ngày lễ, giỗ tết, trên bàn thờ bao giờcũng dâng cúng nước Điểm qua các hội Tứ Pháp ở Lạc Hồng (Văn Lâm) là lễ hộicầu mưa Hội Tống Trân (Tiên Lữ) Đa Hoà - Chử Đồng Tử, Tiên Dung và các lễhội ven sông Hồng bao giờ cũng có tục lễ rước nước, rồi tục lễ mộc dục, cầu mưathuận gió hoà Trong tâm thức của mỗi người, nước như một vật thiêng đem đếncho người dân phóc trạch dồi dào

Ngoài thờ thần nước, tập tục thờ cúng tổ tiên như một nét đẹp không thểthiếu trong mỗi gia đình, dòng họ Ngày giỗ, tết đồng thời cũng là ngày con cháu,gia đình được đoàn tụ đông đủ Sửa soạn mẫm cỗ cúng, bằng tấm lòng thành kính

để nhớ đến tổ tiên, ông bà đã có công sinh thành, dưỡng dục Rộng ra nữa thì mỗidòng họ lại có nhà thờ để thờ Thuỷ Tổ của dòng họ Làng xã có Thành Hoàng làngđược cả làng thờ phụng vì có công khai phá, dạy nghề cho cả làng mình Mỗi mộtdịp như vậy mỗi con người lại hướng đến một cái thiện, cái hoàn mĩ hơn

Một không gian trong đời sống văn hoá tâm linh nữa của người dân HưngYên không thể không nói đến đó là không gian văn hoá đình, chùa, miếu mạo Mỗimột công trình là một nét đẹp văn hoá, là cả một kiến trúc nghệ thuật độc đáo màcon người để lại Hưng Yên có hàng trăm ngôi đền, đình chùa, lăng tẩm được xếphạng văn hoá quốc gia như Đền Đa Hoà (Khoái Châu) Chùa An Xá (Kim Động)chùa Nôm (Văn Lâm) chùa Tứ Pháp (Văn Lâm) … Nhưng nổi bật hơn cả là trongmỗi công trình Êy là cả một đời sống tâm linh vô cùng phong phú đa dạng Đó làviệc thờ cúng các anh hùng dân tộc như có công với nước, với dân như Chử Đồng

Tử, Hai Bà Trưng và tướng lĩnh của Hai Bà, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, TriệuQuang Phục, Đào Nương … Tất cả đều được suy tôn thành các vị thần luôn để chechở, giúp đỡ người dân trong mọi lúc, mọi nơi để con người có thể yên tâm hơn

ở gần trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Bắc Ninh) tục thờ Phật ở Hưng Yên đã

có truyền thống rất lâu đời và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay ở Hưng Yêntôn thờ các hiện tượng có liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp lúa nước

Trang 23

nuôi Cây gỗ Êy được người thợ mộc là Đào Độ tạc thành 4 pho tượng tứ pháp thờ

ở bốn ngôi chùa.: Thành Đạo (Pháp Vò), Thiền Định (Pháp Vân) Phi Tường (PhápLôi), Trí Quả (Pháp Điện) Những cành còn lại của cây gỗ thường được ngườiHưng Yên đem về tạc thành tượng thờ tại các chùa Thái Lạc (xã Lạc Hồng) chùaPháp Vân (xã Lạc Đạo - Văn Lâm) Cù Tu (Xuân Trúc - Ân Thi), Bình Kiều (KhoáiChâu) chùa Thứa (xã Dị Sứ, Mĩ Hào)…

Như vậy, không gian văn hoá và nét đẹp trong đời sống tâm linh của ngườidân Hưng Yên thật đa dạng và phong phú Tất cả các không gian văn hoá Êy hiệnnay còn là nơi hội tụ của việc sinh hoạt văn hoá của đời sống nhân dân Tất cả cácnghi lễ trên thể hiện một nét đẹp văn hoá truyền thống, đó là nét đẹp cần được nângniu, trân trọng và cũng góp một phần không nhỏ vào làm tôn vinh thêm nét đẹp vănhoá, phong tục của văn hoá Việt Cũng qua đó nhằm giáo dục truyền thống đạonghĩa, hiếu học, tôn sư trọng đạo, yêu nước, yêu quê hương của bao thế hệ ngườiViệt nói chung và của người dân nói riêng

Quả thật, Hưng Yên đúng là một vùng đất giầu đẹp và là một tỉnh có truyềnthống văn hiến, vùng đất “địa linh nhân kiệt - ngàn năm văn hiến”

3 Bước đầu khảo sát truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Hưng Yên

3.1 Giới thiệu chung về truyền thuyết của cuộc khởi nghĩa Hai bà Trưng và các tướng lĩnh của bà trên đất Hưng Yên

Bước đầu tìm hiểu, sưu tầm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai bàTrưng và tướng lĩnh của Hai Bà ở tỉnh Hưng Yên, chúng tôi thấy ở đây có một khốilượng truyện kể tương đối dày dặn, phong phú Đầu tiên chúng tôi tìm hiểu trongcuốn “Tổng tập văn học dân gian người Việt” của tác giả Kiều Thu Hoạch chủ biên

- NXB khoa học xã hội 2004, cuốn “Thành Hoàng người Việt Nam - NXB khoa học

xã hội 1997”; “Thành Hoàng người Việt Nam” của soạn giả Vũ Ngọc Khánh, NXB KH xã hội 1998, cuốn “Truyện cổ dân gian Hưng Yên” của tác giả Vũ Tiến

-Kì và thông qua việc điền dã của bản thân, tôi đã tập hợp được 20 truyền thuyết.Cụthể như sau:

B ng 1 B ng th ng kê các truy n thuy t v ngu n trích d n ảng 1 Bảng thống kê các truyền thuyết và nguồn trích dẫn ảng 1 Bảng thống kê các truyền thuyết và nguồn trích dẫn ống kê các truyền thuyết và nguồn trích dẫn ền thuyết và nguồn trích dẫn ết và nguồn trích dẫn à nguồn trích dẫn ồn trích dẫn ẫn

Trang 24

Điền dã Cụ ông Nguyễn

văn Tuy 86 tuổi

Đầu-TP Hưng Yên

Truyện cổ dân gian Hưng Yên

Hoà-Truyện cổ dân gian Hưng Yên

4 Chuyện về Trần

Công hiển ứng

Xã Đào Đặng- Trung Nghĩa- Hưng Yên

Dũng 76 tuổi(thủ từ)

5 Truyện kể cậu

Cả Trực, cậu Cả

Minh

An Khê, An Viên, Hiệt Hoà, Khoái Châu

Thần tích đình

An Khê-Việt Hoà khoái Châu

6 Sự tích thần

Tam Giang

Làng Nôm, Văn Lâm, Hưng Yên

Truyện cổ dân gian Hưng Yên

Điền dã 1.Ông Ngô văn

Tuấn –trưởng thôn kể

2.Ông Nguyễn Hưng trưởng họNguyễn

Thần tích làng Mai Viên

9 Sự tích gò ông

Lủi

Xã Long Hưng, huyện

Điền dã Cụ bà Đặng Thị

Hy 83 tuổi

Trang 25

và làng Phụng

Công

Công, Văn Giang

quang Huy (thủ

từ đền Ngò Phụng Công –Văn Giang)

Truyện cổ dân gian Hưng Yên

12 Chuyện kể mẹ

con bà Ngọc Chi

Đền Nghè, xã Nguyễn Trãi,

Ân Thi, Hưng Yên

Ba 90 tuổi nguyên thủ từ đền Nghè

Thần tích thôn Câm Khê

Điền dã Trưởng đội tế

đình Minh Tân: Nguyễn văn Liễn

15 Tướng quân

Trần Thị Mã

Châu

Xã Bảo Châu, Hưng Yên

Truyện cổ dân gian Hưng Yên

17 Sự tích Bát Nàn

công chúa

Đoàn Bảo Khê- Hưng Yên

Thượng-Tổng tập văn học dân gian của Kiều thu Hoạch

18 Nguyệt Thai

Nguyệt Độ

Đông Kết – Khoái Châu

Tài liệu của thư viện Hán

Trang 26

Lưu thị Chinh

và Lưư thị Trân

Thắng –Phù- Cừ

Thắng-Trưởng ban quản lý di tích

20 Tướng Trần

minh Thông và

Thôi Nương

Đình Quyết Thắng-Tân Hưng –Tiên Lữ

Điền dã Cụ bà Trần thị

Tẹo 87 tuổi

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng trong hơn 20 truyền thuyết được kể vềcuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và tướng lĩnh của Hai Bà không phải đều đượcviết, kể từ thời Hai Bà khởi nghĩa Nhiều truyền thuyết được sáng tác ở thời kì saunhưng đều móc nối ở thời kì Hai Bà Điều đó cho thấy, trong tâm thức của ngườiViệt, nói chung, người Hưng Yên nói riêng, ảnh hưởng của thời kỳ Hai Bà Trưng làrất lớn, đã đem lại một ý nghĩa to lớn trong việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm,bảo vệ tổ quốc Sự tôn kính đó luôn ở trong tâm trí của mỗi con người Hưng Yên

Hơn thế nữa, đây là những truyền thuyết mang đậm tính địa phương, nơi sinhsống của các anh hùng và đồng thời cũng là nơi sản sinh các truyền thuyết đó.Trước khi đi tham gia trong cuộc khởi nghĩa, họ đã từng sinh sống và làm ăn, quâyquần bên tình làng, nghĩa xóm Cũng có những người trong cuộc khởi nghĩa mới trở

về đây, vì vậy nhân dân luôn luôn có ý thức gắn những địa danh, những sự kiện cóthật của quê hương mình vào truyền thuyết về các anh hùng Những cái tên LàngBạc, ác, Phụng Công, Dốc Yến mà truyền rằng Hai Bà trưng đặt cho vẫn tồn tại chođến ngày nay nh một mình chứng lịch sử cho cuộc khởi nghĩa ở Hưng Yên, cáctruyền thuyết này nằm rải rác ở các huyện, nhưng chúng tôi thấy phần nhiều là ởcác huyện ven bờ sông Hồng như: Phụng Công (Văn Giang) Trần Thị Mã Châu(Bảo Châu - Thành phố Hưng Yên) mẹ con bà Hồng Nương (Kim Động) bà Vũ ThịThục (Bảo Khê), Bến Nước đại vương … Nhân dân địa phương đã tôn vinh, thờphông hai bà và các tướng lĩnh như những vị anh hùng của sứ sở mình và lưu truyềncho con cháu muôn đời sau nhưng tấm gương kiên trung Êy cũng có biết bao huyềnthoại về họ Những truyền thuyết Êy luôn được cất giữ trong kí ức của nhân dân

Và các vị anh hùng đã trở thành những vị Thánh, những Thành Hoàng làng để đời

Trang 27

mình

Như vậy, thông qua quá trình khảo sát các truyền thuyết về cuộc khởi nghĩaHai Bà Trưng ở Hưng Yên, chúng tôi dễ dàng nhận thấy rằng các truyền thuyết nàyđược kể một cách hoàn chỉnh về cuộc đời, hành trạng của các tướng lĩnh

- Số phận của các nhân vật, các nhân vật trong các truyền thuyết thường cóquê quán cụ thể rõ ràng, thậm chí cả ngày sinh, tháng mất, cha mẹ là ai (trừ truyềnthuyết về Gò ông Lủi), các truyền thuyết đều ghi lại nguyên nhân, chiến công củacác vị anh hùng và họ được thiêng hoá Nhưng có điểm khác biệt là một số anhhùng được huyền thoại hoá ngay từ khi mới kể (Sinh nở thần kì) và khi hoá cũngthần kì, số còn lại là những nhân vật được sinh ra tự nhiên trong lòng nhân dân nhưnhững người bình thường khác Cuối cùng tất cả các danh phận Êy đều được ghinhận và tồn tại trong sự ngưỡng mộ, tôn thờ của nhân dân

Và còng qua khảo sát, chúng tôi đã dựa vào tiêu chí: tên truyền thuyết (cáctruyền thuyết Êy có tên là gì?)

- Địa chỉ (Hơn 20 truyền thuyết này được nằm ở các địa phương nào trong tỉnh)

- Nhân vật chính là ai? Họ đã sinh sống chiến đấu và gắn bó như thế nào vớidân địa phương

- Chủ đề: Chủ yếu là việc chiến đấu và xây dựng quê hương

Đây thực sự là một mảng truyền thuyết có giá trị cả về phương diện nội dunglẫn nghệ thuật, xứng đáng được nhân dân ta lưu giữ và truyền miệng

3.2 Vài nét về nguồn gốc bản kể.

3.2.1 Bản kể ở tư liệu truyền miệng

Ngoài việc nghiên cứu, khảo sát dựa vào những truyền thuyết đã được ghichép ở văn bản, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các truyền thuyết ở khắp các địaphương trong toàn tỉnh Việc sưu tầm, khảo sát này chính là dựa vào những lời kểcủa nhân dân từ đời này, đến đời khác còn lưu truyền lại

Nhân dân địa phương vốn đã tôn vinh, thờ phụng những người con anh hùngcủa quê hương sứ sở mình và lưu truyền cho con cháu muôn đời sau những tấmgương kiên trung Êy, cùng biết bao huyền thoại về họ Những truyền thuyết này

Trang 28

được một cách lưu giữ tốt nhất các truyền thuyết mà họ tôn thờ và kính trọng.

Nhưng người đời nay chép truyện đời xưa là một việc làm khó, bản kể quatruyền miệng lại càng khó hơn Bởi lẽ truyện truyền miệng chỉ có cốt lõi mà không

cố định, cũng cùng một câu chuyện mà ở mỗi vùng, mỗi người, mỗi thế hệ lại kểmột khác Chính vì vậy mà sự lưu truyền bằng con đường truyền miệng làm chodiện mạo của các truyền thuyết luôn thay đổi, luôn có các dị bản càng ngày cáctruyền thuyết này càng được bồi đắp thêm, thêu dệt thêm những lớp huyền thoạixung quanh cuộc đời và chiến công của các anh hùng Trong quá trình khảo sátchúng tôi đã chọn lọc những truyền thuyết mang tính chân chất hơn như chuyện bàTrần thị Mã Châu, bà Động Tần Loan do nhân dân cung cấp và không đưa vàonghiên cứu các truyền thuyết, những dị bản mang yếu tố phong kiến tô vẽ rườm rà.Bởi lẽ các chi tiết đó rõ ràng là tác phẩm của sự hư cấu, tô điểm của tầng lớp nho sĩtrí thức thêm thắt vào các câu truyện cổ dân gian

3.2.2 Bản kể thông qua văn bản ghi chép (thần tích và thư tịch)

Trong quá trình khảo sát, tuyển chọn tài liệu, ngoài việc tuyển chọn các bảncủa các nhà nghiên cứu khoa học(và các cuốn sách đã nêu ở mục 3.1), khảo sát truyềnthuyết qua tư liệu truyền miệng của nhân dân, chúng tôi không thể bỏ qua các vănbản thần tích Bởi lẽ, cũng chính từ cảm hứng thiêng hoá các nữ tướng của Hai Bàtrong đời sống tâm linh của dân chúng, nên qua các thời đại các triều đại phong kiếncoi những truyền thuyết dân gian này là cứ liệu quan trọng cho việc biên soạn thầntích với mục đích dùng thần quyền để củng cố vương quyền và thần tích đã trở thànhmôi trường ngôn ngôn từ của truyền thuyết dân gian Tuy đây không phải là môitrường đặc trưng nhưng là môi trường quan trọng để các truyền thuyết dân gian vềcác nữ tướng của Hai bà tồn tại trong một thời gian dài Khi mà nguồn tư liệu nơi biamiệng dễ bị mất mát lãng quên thì nguồn tư liệu bằng văn tự này lại có ưu thế của nótrong việc cố định các truyền thuyết và lưu giữ rất nhiều dấu vết của bầu khí quyển

mà hơi thở của đời sống dân dã đã thổi vào Các bản thần tích này được khai từ một

số người có chức săc trong làng xã xưa Do công thức bắt buộc của thần tích, do tìnhtrạng " tam sao thất bản" do sù can thiệp của các triều đại và đời sống tín ngưỡng củanhân dân mà mức độ gần gũi với truyền thuyết dân gian không những Ýt nhiều có

Trang 29

mà còn bị tô vẽ sửa đổi thành ra khô héo dần Mặc dầu vậy, thần tích vẫn có một ảnhhưởng rất lớn đối với cách kể truyền thuyết về tướng lĩnh của hai bà trong dân gian,thậm chí đã trở thành áp lực trong việc thờ cúng là lưu truyền các truyền thuyết Tuynhiên, đời sống dân gian với tất cả sự mạnh mẽ và hồn nhiên của mình, lại một lầnnữa dân gian hoá các văn bản thần tích về cuộc khởi nghĩa của hai bà và các tướnglĩnh theo đúng niềm tin và quan niệm của mình

Như vậy, có thể khẳng định, gốc gác của thần tích là những truyền thuyếtdân gian Con đường đi từ truyền thuyết dân gian đến văn bản thần tích qua nhiềugiai đoạn như vậy khiến cho thần tích không còn lưu giữ được nguyên dạng truyềnthuyết nữa Mặt khác, qua mỗi lần văn tự hoá truyền thuyết thì người ghi chép, biênsoạn lại đưa vào một chi tiết của mình Nhưng dù sao thì thần tích vẫn thoát thai từtruyền thuyết vì thế vẫn có những "gien" của người mẹ trong những đứa con củamình Vì vậy mà nó vẫn có mối quan hệ giao thoa lẫn nhau, trong quá trình sưu tầm,nghiên cứu chúng tôi vẫn phải sử dụng cả hai văn bản để đối chiếu, so sánh tìm rađiểm chung, và riêng giữa các văn bản đó

Trang 30

4.1 Bảng thống kê, nội dung cơ bản

B ng 2 4 B ng th ng kê v n i dung chính c a các truy n thuy t v cu c kh i ngh a c a Hai B tr ng t nh H ng ền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng ết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng ền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng ởi nghĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng ĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng ưng ở tỉnh Hưng ởi nghĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng ỉnh Hưng ưng ở tỉnh Hưng

Địa điểm thờ

1 Chuyện về

Mẹ con bà

Hồng Nương

Bà Hồng Nương, Phổ

Hé, Linh Lôi

Trung An Thái, Huyện Thiên Ban Phủ Nghĩa Hưng

Bà sinh được 2 người con là Phổ

2000 người Hai bà đã phong cho Phổ

Hộ là Đô chỉ huy tả sứ tả tướng quân

Linh lôi chức Đô chỉ huy sứ hữu tướngquan Hồng Nương là Nội thị phu nhân

- Khi đi thị sát ở bãi Bồng Cời (PhúCường - Kim Động) 2 ông đã thấy hình

“phi ngư” và cho tập 1 đồn thuỷ và dừngthuyền cho lập Êp, lập làng…

- Ba mẹcon làthànhHoànglàngBồng Cời

và đượcthờ tạiĐìnhBồngChâu - xãPhúCường -Kim

Trang 31

TT thuyết chính thân thờ

- Sau khi đánh tan giặc, và được 2 bàgiao cho Đạo Nam Định làm thực Êp

- Sau trận Mã Viện chiếm đóng lại nước

ta, 3 mẹ con bà đã xuôi thuyền về BãiBồng Cời và hoá bay về thiên giới

Động HưngYên

Trang 32

ông Trần Quang lấy nghề thuốc trị bệnh cứu người khốn khó không lấy tiền ông sinh

ra được Trần Lữu

có tài lại thông minh, giỏi võ sau này ông nhận nuôi thêm 6 người con cũng rất giỏi giangtrong đó có Xuân Hồi

- Khi Tô Định sang, Trần Lữu đã giaochiến hơn 30 triệu đều giành thắng lợi

Càng lúc đó Xuân Hồi cũng mộ quân vàđến yết kiến Hai Bà và đánh nhiều trậngiành thắng lợi và được 2 bà phong tước

và 6 người con đã xin, về thuỷ phủ

- Khi giặc quay trở lại xâm nước ta lầnthứ 2 mấy cha con ông lại quay lại giúp 2

bà đánh giặc Do so sánh lực lượng nênTrần Lữu và Xuân Hồi đã hy sinh Từ đónhân dân Đào Đầu vô cùng thương xétlập đền thờ và phong làm thành Hoànglàng

Đền thờtại thônĐào Đầu

TrungNghĩa -Thànhphố HưngYên

Quê gối: ởĐông Hoa

Lư, huyệnTrường An

- Ông Ngô CôngNgoài 50 tuổi chưa

có con Khi đólánh nạn giặc, một

- Khi đất nước có giặc, cha Ngọ Công bịgiặc giết, Ngọ Công đã được ông PhạmCông nuôi dậy và gả con gái cho lấy làm

vợ

Lời kểcủa nhândân xãTrung

Trang 33

TT thuyết chính thân thờ

Nga công

chúa

Khánh, PhủTường An,Châu ái(Thanh Hoá)sau này: xãTrung Hoàhuyện YênMĩ

đêm ông mơ thấy

1 vị thần thiên mũ

áo chỉnh tề, phong

tư đĩnh đạc Vị nàyđược nhà trời pháixuống đầu thai làmcon ông sinh raNgọ Công

- Nhà ông PhạmCông cũng mởthấy 2 con ngườibay vào tronglòng, về bà cũng

về mang thai vàcũng về mang thai

và sinh ra bọc có 2

cô con gái

- Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa,Ngọ Công và Nguyệt Nga đã đem 1200quân bản bộ theo xứ giả về bái yết Trưng

Nữ Vương … Hai ông, bà đã đánh thắngnhiều trận và được 2 bà phong tước Đạivương và công chúa

- Khi giặc phái chiếm, ông đã đượcTrưng Vương sai đi đánh mấy trận chưathất bại Một hôm ông đã lên đỉnh núi vàhoá Còn Nguyệt Nga còng thua trận vàxuống thuyền trở về đất Trung Hoà rồibiến mất

Hoà,huyệnYên Mĩ.Nhân dân

đã lậpđền thờ

và cầu tựrất linhthiêng

4 Chuyện về Trần Công Xã Đào Ông Trần Lữu rất Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Xã Đao

Trang 34

TT thuyết chính thân thờ

Trần Công

hiển ứng

Đặng TrungNghĩa- HưngYên

linh thiêng, saunày thường xuyênhiển ứng cứungười

lần 2 (1285) Trần Hưng Đạo khi đánhgiặc ngang qua đây và bị quân Môngdượt đuổi, ông đã vào khấn cầu ở đền

Vừa khấn xong thì thấy có một tiếng nổkinh hoàng quân Mông không dám đuổi

Nhờ đó mà Trần Hưng Đạo đã rút quân

an toàn

- Đến đời Mạc, Nguyễn Kim và quânMạc kịch chiến ở chợ Đầu, khi quânNguyễn Kim rời vào thế bí thì bỗngnhiên có tiếng sét lớn Quân Mạc hoảng

sợ, Nguyễn Kim thoát tội

- Sau này vua Trần và vua Lê đã phongnhiều chức sắc vì cho phụng thờ ôngHiển Công

trungNghĩaHưngYên

Trang 35

Quê gốc:

Đồng Quanghuyện Phú Xuyên, Phủ Thường Tín sau đến An Khê, An Viên Việt Hoà - Khoái Châu

- Cậu Cả Trực và cậu cả Minh mới 9tuổi mà đã tinh thông võ nghệ

- Khi 2 bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, 2ông đã luyện tập võ nghệ, chiêu mé binh

sĩ và đến Hát Giang vào bái yết TrưngVương 2 ông đã cải làm con gái bándầu Khi Tô Định gọi vào, 2 ông đã chém

Tô Định thành 3 mảnh quẳng xuốngdòng sông Hát

- Trưng vương đã phong cho 2 ông làKhái quốc Chính Trực đại vương vàcũng đánh giặc

- Khi bị thua trận, 2 ông về An Khê, chonhân dân tiền vàng Trong khi tắm, 2 ông

đã biến thành 2 con rồng đen và bay vàokhông trung áo mũ đã bị mối đùn thành

mả lớn và nhân dân đã dựng miếu ở đó

Thôn AnViên xãViệt Hoà

- huyệnKhoáiChâu

6 Sự tích thần Tam Giang Làng Nôm - - Bà Tĩnh mến cửa - Sau khi nghe lời hịch của Hai Bà Làng

Trang 36

Trưng, ông đã đến Yết Kiến và cùng 2 bàđánh giặc Trong quá trình đánh giặc,ông còn kéo quân đến địa phận HồngCầu, phủ Thuận An lập Êp và tuyển giathần

- Đất nước hoà bình, 2 bà đã phong choTam Giang là Điện Tiền và lấy phủThuận An làm thực Êp

- Khi mã viện quay trở lại, thế giặc baovây mạnh, ông đã đưa mẹ và vợ xuốngthuyền bỏ chạy Ông đã đâm thủngthuyền cho chìm Thuồng luồng, ba ba đãnổi lên mặt nước làm cho quân giặc bịmột phen khiếp sợ và sau đó 3 mẹ concũng hoá về trời

Nôm Văn Lâm

HưngYên

7 Chuyện về

Tướng Quân

Nguyễn

Nguyễn Trung

Xưa: ở Phủ Thuận Thành -

Bà mẹ đã mở thấy một con rết, sau đó

bà thụ thai và sinh

- Khi Tô Định sang xâm lược nước ta,chúng đã giết chết bố và mẹ NguyễnTrung Ông đã phái đến của chùa quy y

Đình thônPhú Cốc -

xã Phạm

Trang 37

sĩ và xưng là Trung Quốc đại vương vàđem quân địch đi đánh giặc

- Hai bà Trưng nghe tin đã triệu NguyễnTrung đến cùng đánh giặc Ông đã chỉhuy toàn quân đi sau Sau khi thắng giặc,ông đã xin về quê và được ban thưởng

- Chính tại quê ngoại, vào một đêm mưagió sầm sập, người ta thấy con rết bay từngười Nguyễn Trung ra và ông đã hoá từ

đó Dân làng bèn dựng miếu thờ và saunày rất linh thiêng

Ngũ Lão

- KimĐộng

Xưa: Xã xích Đằng phủ Khoái Châu đạo

Có một người tên

là Dương Đạo không có con, Bà

đã vào chùa

- Khi ông Dương Đạo ra làm quan cho

Tô Định, chúng đã và là tích luỹ làmphản cho ông và cho giết ông DươngĐạo Bến Nước và Đình chạy thoát, về

Sau vềtránh nạn

ở làngMai Viên

Trang 38

TT thuyết chính thân thờ

Sơn Nam Hương tích để cầu

tự Phật đã cho một vị Thuỷ thần

và một vị Long thần về đầu thai làm con Sau 12 tháng bà đã đẻ ra được 2 vị mặt phượng mày ngày

và đặt tên là Nước,

em thứ là Bình

đến tư viên lẻn vào chùa ở tạm

- Mối thù giết cha không lúc nào quên,khi nghe tin bà Trương khởi nghĩa 2 ông

đã lên đường yết kiến

- Hai bà đã sai ông về đạo Sơn Nam phủ

dụ nhân dân, chiêu binh sĩ và sau đó trở

về hội quân với 2 bà cũng đánh giặc

- Quét sạch giặc Hán, Hai bà lên ngôivua và phong tước cho 2 ông 2 ông đượccắt đất Khoái Châu là nơi ăn lộc củamình Sau này 2 ông hoá, Trưng Vương

đã phong làm Bến Nước đại vương vàBình đại vương

Song Mai

- KimĐộng

9 Sự tích Gò

ông Lủi

Các tướng

sĩ quân Tô Định

Xã Long Hưng huyện Văn Giang

- Khi nghĩa quân của 2 bà đi qua vùngđất tế Giang, kinh Bắc (khu vực huyệnVăn Giang ngày nay Những người mến

mộ nghĩa khí của 2 bà đã liền mở cổngđón nghĩa quân, cung cấp lương thực, vũ

Xã LongHưng,huyệnVănGiang

Trang 39

Sau trận đánh dân làng thu gom xác lại

và chôn vào 1 cái hố Oan hồn của chúngbay khắp nơi Dân làng mới lập 1 cái amnhỏ để ai đi qua thắp cho họ 1 nén hươngcho đỡ tội nghiệp và ném vào đó 1 hònđất nhỏ Dần dần gò đó đã trở thành 1 cái

gò lớn Dân làng gọi đó là gò ông Lủi

10 Sự tích dốc

Yến và làng

Phụng Công

Xã Phụng Công Văn Giang

- Khi chiến đấu bị thua trận nghĩa quân của Hai bà Trưng đã rút quân

- Khi đi qua khu làng bạc, làng ác, lànglại ốc, dân làng đã đóng cửa không chonghĩa quân vào Khi đến Phụng Công,dân làng đã đón Hai Bà rất nhiệt tình và

Hiện nay

3 làng đãkết chạanh em

Trang 40

TT thuyết chính thân thờ

qua khu vực này chu đáo Vào một buổi tối cả dân làng đã

góp của chiêu đãi nghĩa quân tại một condốc của làng

Sau này khi thắng giặc, để nhớ tới cônglao của dân làng, 2 bà đã ban thưởng rấtnhiều tiền của và gọi dân làng đó làPhụng Công và Dốc Yến để dễ phân biệt

và tên đó còn đến ngày nay Khi 2 bànhảy xuống dòng sông Hát tự vẫn, xác 2

bà đã hoá thành đá, dân Đồng Nhân (HàNội) phải mời dân Phụng Công lên thìmới vớt được 2 tấm đá đó

cùng thờicũng đó

là ở VĩnhPhúc,ĐồngNhân vàPhụngCông

11 Tướng quân

Hương Thảo

(Bà chúa Cỏ)

Bà HươngCỏ

Thôn BíchTràng, TiềnPhong, ÂnThi

- Là 1 cô gáinghèo, bị phú ônghành hạ, cô đãđược 2 ông cháugià Bạch cởi trói

để trốn thoát

- Khi bà Thánh Thiện trên đường về hộiquân với 2 Bà Trưng đi ngang qua, cô đãxin đi theo và cô được 2 bà Trưng giaocho việc trôi coi và cung cấp cỏ cho đànvoi và người chiến Cô còn trở về làngchiêu mộ quân và bà con cùng tham gia

- Hiệnnay bàđược thờtrongchùa cỏBích

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 4. Bảng thống kê và nội dung chính của các truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng Yên. - khảo sát truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa của hai bà trưng ở hưng yên
Bảng 2 4. Bảng thống kê và nội dung chính của các truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà trưng ở tỉnh Hưng Yên (Trang 30)
Bảng 4: Bảng thống kê các truyền thuyết có môtip tướng lạ. - khảo sát truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa của hai bà trưng ở hưng yên
Bảng 4 Bảng thống kê các truyền thuyết có môtip tướng lạ (Trang 60)
Bảng 5: Bảng thống kê những truyền thuyết môtip về tài lạ. - khảo sát truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa của hai bà trưng ở hưng yên
Bảng 5 Bảng thống kê những truyền thuyết môtip về tài lạ (Trang 62)
1.3. Bảng thống kê những truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở  Hưng Yên gắn với nghi lễ và lễ hội. - khảo sát truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa của hai bà trưng ở hưng yên
1.3. Bảng thống kê những truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hưng Yên gắn với nghi lễ và lễ hội (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w