Tập làm văn vừa có tính tổng hợp, sáng tạo thực hành.Bởi vậy ngoài việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng, người giáo viênphải quan tâm đến việc cung cấp cho các em vốn sống, bồi dưỡng
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học s phạm Hà Nội
Trang 2
Lời cảm ơn
Có đ ợc thành công này, lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Phan Ph ơng Dung đã tận tình h ớng dẫn, giúp đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Giáo Dục Tiểu Học - Tr ờng Đại học S phạm Hà Nội đã dạy dỗ và giúp
đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và các em học sinh Tr ờng Tiểu học Cự Khối, Tr ờng Tiểu học Thạch Bàn - Gia Lâm - Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, điều tra s phạm và thu thập những số liệu cần thiết phục vụ cho luận văn và tiến hành thực nghiệm s phạm
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, tháng 11 năm 2006
Tác giả
Phạm Thị Thu Hà
Trang 33 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối t ợng nghiên cứu
5 Giả thuyết khoa học
học sinh
10
1.1.1 Cơ sở tâm lí- ngôn ngữ học 10 1.1.2 Cơ sở giáo dục học 17 1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc tổ chức dạy học
TLV lớp 5 phù hợp trình độ HS 21 1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy Tập làm văn lớp 5 phù
hợp với trình độ học sinh
1.2.1 Tìm hiểu phân môn Tập làm văn lớp 5 qua Sách giáo khoa
Tiếng Việt 5 và Sách giáo viên
26
26 1.2.2 Thực trạng dạy và học Tập làm văn lớp 5 (khảo sát qua một
số tr ờng dạy thí điểm) 42
Ch ơng II: Một số bài tập, giáo án tổ chức dạy học tập làm văn
lớp 5 phù hợp trình độ học sinh 47
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Những thành tựu của tâm lí học hiện đại đã khẳng định ở mỗi độtuổi, ở mỗi vùng, miền học sinh có những đặc điểm tâm lí tiếp nhận riêng,
có năng lực ngôn ngữ riêng, có trình độ tiếng mẹ đẻ riêng
Trong cuốn Phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ, tài liệu dịch, tập 1, NXB
Giáo dục, H., 1989 các tác giả cũng rất quan tâm đến trình độ tiếng mẹ đẻcủa học sinh “Chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh là pháthuy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ dạy tiếng, một yêu cầuđang đặt ra một cách cấp thiết trong lí luận và thực tiễn giảng dạy” Khácvới các bộ môn khoa học thường học trong nhà trường, ngay từ đầu, bộmôn tiếng Việt có đầy đủ điều kiện và khả năng đặt học sinh vào tìnhhuống nghiên cứu: giáo viên có thể cùng học sinh tìm ngữ liệu, quan sát,phân tích ngữ liệu rồi khái quát, tổng hợp nên những quy tắc, quy luật ngônngữ
Theo GS.TS Lê A
Có thể quan niệm: nguyên tắc giảng dạy tiếng mẹ đẻ là những tiền
đề cơ bản xác định nội dung, phương pháp và cách tổ chức hoạt động dạy học tiếng mẹ đẻ của thầy giáo và học sinh Nguyên tắc này lưu ý các nhà phương pháp, các nhà giáo cần phải điều tra nắm vững khả năng ngôn ngữ của học sinh theo từng độ tuổi, từng địa phương để trên cơ sở đó mà xác định nội dung và phương pháp dạy học thích hợp.
Học sinh ở mỗi lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm tâm lí riêngtrong quá trình tiếp thu kiến thức và kĩ năng mới Khi xác định nội dunggiảng dạy, áp dụng và lựa chọn phương pháp giảng dạy, người giáo viêncần phải xuất phát từ trình độ nhận thức của học sinh, trình độ tiếng mẹ đẻcủa các em Nếu nội dung giảng dạy quá khó đối với học sinh thì bắt buộccác em phải học thuộc lòng một cách máy móc và giờ học trở nên nặng nề,
Trang 5buồn tẻ Ngược lại, nếu nội dung bài học lại quá dễ không đòi hỏi sự nỗ lựccủa học sinh thì các em sẽ chủ quan, không chịu suy nghĩ và giảm hứng thúhọc tập Tuân theo nguyên tắc này, người giáo viên phải nắm chắc đặcđiểm tâm lí lứa tuổi của học sinh, nắm chắc trình độ tiếng Việt của các em
để chuẩn bị và tiến hành giờ dạy sao cho các em đủ khả năng và hứng thútiếp thu kiến thức
Theo GS.TS Lê Phương Nga nguyên tắc này đòi hỏi người dạy cầnthực hiện các yêu cầu sau:
- Thứ nhất: Tìm hiểu, nắm vững vốn tiếng Việt của học sinh theo
từng lớp, từng vùng, nắm vững trình độ sử dụng tiếng Việt của học sinh để hoạch định nội dung kế hoạch và phương pháp dạy học.
- Thứ hai: Chó ý phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học tiếng Việt.
- Thứ ba: Hệ thống hóa, phát huy những năng lực tích cực của học sinh, hạn chế, xóa bỏ những mặt tiêu cực về lời nói của các em trong quá trình học tập (PPDHTV1- NXBGD -1998)
Nh vậy, nội dung, kế hoạch và đặc biệt là phương pháp dạy học phảiđược xây dựng trên cơ sở đặc điểm trình độ của học sinh Cùng một nộidung dạy học nhưng học sinh ở các trình độ khác nhau đòi hỏi cách tổchức, hướng dẫn khác nhau Cùng một đề bài, học sinh khá giỏi có thể thựchiện dễ dàng nhưng học sinh trung bình, yếu lại gặp rất nhiều khó khăn.Trong cùng một lớp, một giờ dạy, nếu người dạy chỉ quan tâm đến học sinhkhá giỏi thì số học sinh trung bình, yếu sẽ rơi vào tình trạng phải chấp nhậnđáp án một cách thụ động Các em sẽ không được tự đi đến kiến thức, kĩnăng Tập làm văn theo yêu cầu của bài học, không được phát triển tư duy
và ngôn ngữ nh mục tiêu của môn Tiếng Việt đặt ra Ngược lại, nếu khôngchú ý quan tâm đối tượng khá, giỏi, các em sẽ không có điều kiện phát triểnkhả năng của mình Bởi vậy, người dạy cần phải quan tâm đến trình độ học
Trang 6sinh để có yêu cầu nâng cao hoặc các bài tập giảm khó, hướng dẫn gợi mởgiúp tất cả các em đều tự làm được các bài tập, đều được phát triển nănglực sử dụng tiếng Việt.
Năm học 2006- 2007 sách giáo khoa Tiếng Việt 5 chính thức đượctriển khai dạy trên toàn quốc Cùng với phân môn Luyện từ và câu, Kểchuyện, Tập làm văn là một trong những phân môn có nhiều điểm khác biệt
so với sách giáo khoa cũ Bên cạnh đó phân môn Tập làm văn trongchương trình mới ở Tiểu học, so với các phân môn khác là rất khó Cái khókhông chỉ bắt nguồn từ sự mới mẻ về hệ thống kiến thức và kĩ năng làmvăn mà còn vì đây là phân môn tổng hợp của các kiến thức và kĩ năng sửdụng ngôn ngữ Nhiệm vụ chủ yếu của phân môn này là rèn cho học sinh kĩnăng tiếp nhận và sản sinh ngôn bản dưới dạng nói và viết để sử dụng tronghọc tập và giao tiếp Nếu như chúng ta không chú trọng đúng mức đến việcdạy học Tập làm văn thì khả năng nghe, nói, viết của học sinh sẽ gặp nhiềukhó khăn Nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Tập làm văn ở lớp 5 là rèn chohọc sinh kĩ năng sản sinh ngôn bản nói và viết phù hợp với mục đích giaotiếp, góp phần cùng các môn học khác phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn
từ, rèn luyện tư duy logic, tư duy hình tượng cho học sinh, bồi dưỡng tâmhồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh
Tập làm văn là quá trình mã hóa nội dung mang tính tinh thần ngônbản, mang tính vật chất để truyền thông tin đến cho người nhận Kết quảcủa việc mã hóa này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: vốn sống, sự hiểu biết,vốn ngôn từ,… của người viết, người nói Nhưng đây chưa phải là cái đíchcuối cùng của việc dạy Tập làm văn, mà dạy Tập làm văn phải giúp họcsinh biết cách trình bày, thể hiện tư tưởng, tình cảm, mong muốn của mìnhđối với người khác, để tác động đến họ, để thay đổi nhận thức, tình cảm vàhành động theo hướng mà người viết mong muốn Vậy làm thế nào để cho
Trang 7học sinh ở mọi trình độ khác nhau trong cùng một môi trường học tập đềuđạt được cái đích đó đặc biệt là học sinh trung bình, yếu.
Qua thực tế điều tra, chúng tôi nhận thấy việc dạy học phân mônTập làm văn ở lớp 5 đặc biệt dạy cho học sinh trung bình, yếu gặp rất nhiềukhó khăn Cái khó bắt nguồn từ sự mới mẻ của hệ thống kiến thức, kĩ nănglàm văn được triển khai trong sách giáo khoa; ngoài ra khi dạy giáo viên còngặp rất nhiều lúng túng trong phương pháp dạy học, giáo viên chưa thể quantâm hết đến tất cả học sinh trong lớp, đặc biệt là học sinh trung bình, yếu.Bởi vậy, không Ýt học sinh không tự trả lời được các câu hỏi, không tự làmđược bài tập mà chủ yếu là ngồi nghe các bạn khá giỏi trả lời câu hỏi, đọcđoạn văn của mình trong giê hay thậm chí các em chỉ việc chép đáp ánđúng Để tất cả mọi học sinh đều được quan tâm, phát triển nh nhau tronggiờ Tập làm văn thì không thể áp dụng một cách dạy chung, một giáo ánthiết kế chung trong sách giáo viên
Với mong muốn tất cả mọi học sinh đều có thể viết được văn, giúpcho học sinh trung bình, yếu viết văn tốt, đáp ứng được nguyên tắc của Bộ
đề ra: “Học sinh là nhân vật trung tâm trong giờ học tập, vui chơi, rèn
luyện,… (ở trên lớp cũng như ngoài giờ lên lớp), hoạt động theo hướng dẫn của giáo viên phát huy tính tích cực của từng học sinh, của tập thể học
sinh trong quá trình dạy học và giáo dục” Chúng tôi đã chọn đề tài: Tổ chức dạy học Tập làm văn lớp 5 phù hợp trình độ học sinh Trong phạm
vi của luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu và vận dụng những biện phápgiảm độ khó của bài tập, quan tâm đến đối tượng học sinh trung bình vàyếu
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Lịch sử dạy Tiếng Việt ở Việt Nam đã có gần 60 năm Trong nhữngnăm đó đã diễn ra hai cuộc cải cách giáo dục và nhiều lần chỉnh lí sách giáokhoa
Trang 8Chương trình 1956 đã rất coi trọng Tập làm văn, sự phân phối thờilượng các tiết Tập làm văn không phải là Ýt Người ta cũng dựa vào điểm
số, chất lượng của bài Tập làm văn để đánh giá kết quả học tập của mônNgữ văn và tốt nghiệp cấp I Bởi vậy mà không chỉ ở các nhà trường Tiểuhọc, trong các trường sư phạm Tiểu học, các tài liệu hướng dẫn giáo viên,các giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt đều coi Tập làm văn là mônhọc có tính chất toàn diện, tổng hợp, sáng tạo Nh vậy, bài Tập làm vănđược coi là sản phẩm kết tinh quá trình học tập của học sinh
Trong cuốn “Sơ thảo phương pháp dạy Ngữ văn ở các lớp cấp I
trường phổ thông cơ sở” (Nguyễn Hữu Tưởng chủ biên), các tác giả đã
nhận định “Trong ba kĩ năng cơ bản về ngữ văn là đọc, nói, viết cần rèn
luyện tập trung ở cấp I thì kĩ năng viết là khó nhất và đòi hỏi công phu nhất”.
Năm 1981 bắt đầu thực hiện cuộc cải cách lần thứ hai Môn Ngữ văn
có những thay đổi quan trọng nên có tên mới là môn Tiếng Việt và Vănhọc Đến lần chỉnh lí năm 1986, môn Tiếng Việt mới chính thức được côngnhận, bắt đầu có quan niệm hoàn chỉnh hơn về dạy học Tiếng Việt là rèncho học sinh cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết
Tính tích hợp ở Tập làm văn rất cao Nó là giai đoạn cuối cùng củaviệc dạy Tiếng Việt Tập làm văn vừa có tính tổng hợp, sáng tạo thực hành.Bởi vậy ngoài việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng, người giáo viênphải quan tâm đến việc cung cấp cho các em vốn sống, bồi dưỡng tâm hồn,
cảm xúc cho các như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Trong bài văn, ta
có thể dạy cái hay, cái đẹp của văn, đồng thời có thể dạy bao nhiêu cái hay, cái đẹp khác nữa, ở trong đó có cái đẹp về tâm hồn, về tư tưởng, về lẽ sống…một công đôi việc” (Phạm Văn Đồng: “Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện - TCNCGD sè 28 - 1973)
Trang 9Bàn về các biện pháp để dạy tốt Tập làm văn ở Tiểu học, đã có rất
nhiều tác giả công bố các công trình như: Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu
học của Nguyễn Trí Nhóm các tác giả Lê Phương Nga, Trần Thị Minh
Phương, Lê Hữu Tỉnh đã xuất bản các cuốn Tiếng Việt nâng cao líp 2, 3,
4, 5 trong đó có phân môn Tập làm văn Hai tác giả Trần Mạnh Hưởng,
Phan Phương Dung đã xuất bản cuốn Hướng dẫn tự học Tập làm văn 2, 3
được giáo viên, phụ huynh học sinh, học sinh sử dụng rộng rãi trong nhiềunăm qua, Tác giả Đặng Mạnh Thường cũng đã xuất bản cuốn Tập làm văn
2, 3, 4, 5 nhưng hệ thống bài tập, câu hỏi gợi ý hướng dẫn cũng vẫn chungchung
Ở góc độ phương pháp dạy học Tập làm văn hay hệ thống các bài tậpnâng cao dành cho học sinh khá giỏi đã có nhiều tác giả quan tâm Cáccuốn sách nâng cao, sách bồi dưỡng học sinh giỏi có rất nhiều ưu điểm,được đông đảo giáo viên, phụ huynh học sinh đánh giá cao đặc biệt là trongcuốn Bồi dưỡng học sinh giỏi của hai tác giả Lê Hữu Tỉnh và Trần MạnhHưởng
Năm 1974, Hoàng Ngọc Oánh cũng đăng bài Bồi dưỡng học sinh
kém về Tập làm văn ở lớp 4 Tác giả cũng đã nêu lên những mặt học sinh
còn yếu kém và đưa ra một số phương pháp dạy học để bồi dưỡng cho cácem
Vừa qua, Trần Mạnh Hưởng và nhóm tác giả đã có cuốn Hướng dẫn
dạy Tập làm văn 5 phù họp với trình độ học sinh Các tác giả đã dành khá
nhiều thời gian và công sức soạn hệ thống câu hỏi gợi ý, soạn cách hướngdẫn dạy học để học sinh ở các trình độ đều được quan tâm, được phát triển.Học sinh trung bình, yếu đã được các tác giả đặc biệt quan tâm, học sinhkhá giỏi được dành một số nội dung thích hợp Dựa vào những gợi mở,định hướng Êy, chúng tôi đã tiếp tục phát triển với mong muốn hoàn thiện
Trang 10các biện pháp giảm độ khó cho học sinh trung bình, học sinh yếu trong cácbài tập làm văn lớp 5
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nhằm vận dụng lí thuyết và thực tiễn để tổ chức dạy học Tập làmvăn ở lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh, đặc biệt là học sinh trung bình,yếu để nâng cao chất lượng học Tập làm văn và khả năng viết văn cho họcsinh trung bình, yếu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn để tổ chức dạy học Tập làmvăn ở lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh đặc biệt là học sinh trung bình,yếu
2 Tìm hiểu quá trình dạy Tập làm văn ở lớp 5 và thực tiễn dạy họcTập làm văn lớp 5
3 Thiết kế một số bài tập dạy Tập làm văn lớp 5 cho học sinh trungbình, yếu
4 Thiết kế một số giáo án tổ chức dạy học Tập làm văn lớp 5 phùhợp với trình độ học sinh đặc biệt là học sinh trung bình, yếu
5 Tiến hành thực nghiệm để đánh giá kết quả của các bài tập, giáo
án tổ chức dạy học Tập làm văn lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh, đặcbiệt là học sinh trung bình, yếu đã thiết kế
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, sách giáo viên, nội dung dạy học phânmôn Tập làm văn lớp 5
- Thực trạng dạy học phân môn Tập làm văn lớp 5 thí điểm ở nhữngvùng có nhiều học sinh ở trình độ khác nhau
Trang 11Nếu lựa chọn và xây dựng được các bài tập, các biện pháp dạy họcTập làm văn thích hợp với mọi trình độ của học sinh thì giờ học sẽ đạt hiệuquả hơn, khả năng nói, viết, của học sinh sẽ tốt hơn đặc biệt là học sinh trungbình, yếu.
3 Xây dựng giáo án dạy học Tập làm văn ở lớp 5 theo hướng phùhợp với trình độ học sinh
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong luận văn này, người viết chủ yếu dùng các phương phápnghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan tới đề tài là một việc làm hết sứcquan trọng giúp cho người viết nắm được những cơ sở lí luận và hiểu rõvấn đề nghiên cứu, từ đó có cơ sở để người viết xây dựng các bài tập nhằm
tổ chức giờ dạy học Tập làm văn lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh, đặcbiệt là học sinh trung bình, yếu
7.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Việc khảo sát chương trình và sách giáo khoa, điều tra quá trình dạy
và học Tập làm văn lớp 5 của giáo viên và học sinh giúp người viết nắmbắt được quá trình dạy học của thầy và trò những, khó khăn mà giáo viên
và học sinh gặp phải trong quá trình dạy học, những khó khăn mà học sinhtrung bình, yếu gặp phải Trên cơ sở đó, người viết xây dựng một số bài
Trang 12tập, giáo án để tổ chức dạy học Tập làm văn lớp 5 phù hợp trình độ họcsinh, đặc biệt là học sinh trung bình, yếu.
7.3 Phương pháp thực nghiệm
Đây là phương pháp có vai trò quan trọng với khoa học giáo dục vàcông tác nghiên cứu Để đảm bảo các bài tập tháo gỡ khó khăn cho họcsinh trung bình, yếu, giờ dạy phù hợp trình độ của học sinh chúng tôi tiếnhành dạy thực nghiệm ở lớp có nhiều đối tượng học sinh Trong luận vănnày, chúng tôi làm thực nghiệm để kiểm tra khả năng vận dụng của đề tài
và thực tiễn dạy học Tập làm văn lớp 5
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văngồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học Tập
làm văn lớp 5 phù hợp trình độ của học sinh
Chương II: Một số bài tập và giáo án tổ chức dạy học Tập làm văn
lớp 5 phù hợp trình độ học sinh, đặc biệt là học sinh trung bình, yếu
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương I
Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học Tập làm văn lớp 5
phù hợp trình độ học sinh
Trong luận văn này, chúng tôi hướng tới việc nghiên cứu và đề xuấtmột số bài tập, cách tổ chức dạy học nhằm dạy học Tập làm văn lớp 5 phùhợp với trình độ học sinh, đặc biệt là học sinh trung bình, yếu Vì vậy, khinghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, chủ yếu chúng tôi dựa vàonhững vấn đề cơ bản về tâm lí của học sinh líp 5, năng lực của học sinh, líthuyết về cấu trúc hoạt động lời nói có liên quan và phương pháp dạy họcphân môn Tập làm văn lớp 5
1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học Tập làm văn
Trong quá trình hình thành và phát triển, ngành khoa học ngôn ngữ
đã tìm ra những quy luật quan trọng làm cơ sở để xác định cụ thể các quytắc cũng như các phương pháp dạy học Tập làm văn trong trường Tiểu học
Là một trong sáu phân môn của môn Tiếng Việt nhưng Tập làm văn
là phân môn mang tính tổng hợp cao cả về kiến thức và kĩ năng sử dụngtiếng mẹ đẻ Do đó, việc dạy học Tập làm văn phải dựa trên kết quả nghiêncứu của nhiều môn khoa học
1.1.1 Cơ sở tâm lí- ngôn ngữ học
1.1.1.1 Đặc điểm tâm lí, khả năng nhận thức không đồng đều của học sinh líp 5 và vấn đề dạy học Tập làm văn phù hợp trình độ học sinh
a Đặc điểm chung về tâm lí của học sinh líp 5
Học sinh líp 5 đã bước vào tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh, kíchthước và thể chất của cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành Các embắt đầu có những thay đổi lớn về vật chất và tinh thần Hành vi và đời sốngnội tâm của các em đã có những thay đổi đột biến
Trang 14Líp 5 là lớp cuối cùng của bậc Tiểu học nên các em không còn những
bỡ ngỡ như khi mới vào trường và đã nhận thức được học tập là hoạt độngchủ đạo
Nét đặc thù của nhân cách học sinh lứa tuổi này là ý thức mìnhkhông còn là trẻ con Vì vậy tuy hành vi vẫn là trẻ con nhưng các em lạimuốn tỏ ra mình là người lớn nên bướng bỉnh, khó bảo nếu không được tôntrọng, không được cư xử bình đẳng Tuổi này, vì vậy gọi là tuổi chuyểntiếp, tuổi “bất trị”
Do sự cân bằng cơ thể của trẻ em bị phá vỡ, sự cân bằng cơ thể củangười lớn còn chưa vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao
L.X.Vưgôtxki đã viết: “Những giai đoạn khủng hoảng trong đời sống con
người, những thời kì chuyển tiếp và cấu tạo lại cơ thể luôn tràn đầy những phản ứng cảm xúc và đời sống tình cảm”
Tư duy trừu tượng đã dần thay thế tư duy cụ thể nên bước đầu các
em đã có khả năng trừu tượng hóa, đồng thời óc tưởng tượng cũng đã hìnhthành Tuy nhiên, tâm lí của các em chưa bền vững, khả năng chú ý đã pháttriển cao hơn ở các lớp đầu cấp nhưng vẫn còn thấp
b Đặc điểm nhận thức, tư duy của học sinh líp 5
Các nhà tâm lí học cho rằng ở mỗi giai đoạn khác nhau sự phát triển
về nhận thức, tư duy có thể đạt được ở một độ tuổi nhất định
Trong thực tiễn cuộc sống, có rất nhiều cái, rất nhiều điều mà ta chưabiết, chưa hiểu Song để làm chủ được thực tiễn, con người phải hiểu thấuđáo những cái chưa biết để tìm ra bản chất, nguồn gốc, mối liên hệ có tínhchất quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Quátrình đó gọi là tư duy
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngmối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực
Trang 15khách quan mà trước đó ta chưa biết (Giáo trình tâm lí học đại cương - NXBGD
2004 Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang)
* Tư duy của học sinh líp 5
Đây chính là giai đoạn phát triển mới của tư duy Các thao tác tư duynày được gọi tắt là “cụ thể” vì trong một chừng mực nhất định chúng còndựa trực tiếp trên các đồ vật, hình ảnh minh họa, mẫu, hiện tượng thực tại(như ở giai đoạn 7 đến 10 tuổi) mà chưa được tác động trên lời nói và cácgiả thiết bằng lời Trong một chừng mực nào đó, hành động trên các đồ vật,
sự kiện bên ngoài còn là chỗ dựa hay xuất phát cho hành động trong óc Ví
dụ ở lớp 3, khi dạy bài Tập làm văn 2 trang 18 với yêu cầu: Dựa vào mẫu
đơn đã học, em hãy viết đơn xin vào Đội Thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh, sách giáo khoa đã đưa ra mẫu Đơn xin cấp thẻ đọc sách ở Tuần 1.
Lên lớp 5, tư duy đã phát triển lên một bước cao hơn Năng lực họctập của các em đã được hình thành, tư duy đã dần chuyển sang tư duy trừutượng, học sinh đã có thể khái quát hóa những kiến thức đã học để tạo rasản phẩm của riêng mình
Ví dụ: Tuần 8 - Tiết 2 trang 83, SGK TV5, tập 1
Đề bài: Luyện tập tả cảnh
(Dựng đoạn mở bài, kết bài)
Bài tập 1: SGK đưa ra hai cách mở bài của bài văn Tả con đường
quen thuộc từ nhà em tới trường và yêu cầu: Em hãy cho biết: Đoạn nào
mở bài theo kiểu trực tiếp, đoạn nào mở bài theo kiểu gián tiếp? Nêu cách viết mỗi kiểu mở bài đó.
Bài tập 2: SGK đưa ra hai cách kết bài văn Tả con đường Em hãy
cho biết đoạn kết bài theo kiểu mở rộng (a) giống và khác kết bài theo kiểu
mở rộng (b) ở điểm nào?
Trang 16Bài tập 3: SGK yêu cầu: Viết một đoạn mở bài theo kiểu gián tiếp và
một đoạn kết bài mở rộng cho bài văn tả cảnh thiên nhiên ở địa phương em.
Như vậy, ở đây học sinh đã có thể thoát khỏi cái cụ thể là mẫu để điđến tư duy trừu tượng Học sinh có thể tiến hành các thao tác trí tuệ để tiếndần đến sản phẩm của riêng mình
* Tư duy của học sinh khá giỏi
Năng lực tư duy của các em học sinh khá giỏi đã phát triển ở mức độcao hơn, đặc biệt là tư duy sáng tạo Các em có ý thức chủ động, tự giác vàthích tự mình khám phá ra những điều mới, cái khác, có khả năng lập luận,suy luận tốt để đi đến khẳng định, phủ định một điều gì đó Trong cùng mộtlứa tuổi nhưng tư duy của học sinh khá giỏi linh hoạt và mềm dẻo hơn.Điều đó thể hiện ở chỗ:
- Các em có khả năng thay đổi phương thức hành động để giải quyếtvấn đề phù hợp với những thay đổi của các dữ kiện
- Các em có khả năng xác lập sự phụ thuộc giữa các dữ kiện theo hai
xu hướng xuôi và ngược
- Các em thích tìm tòi, xem xét một vấn đề theo nhiều khía cạnh khácnhau
- Các em có sự quan sát tinh tế, mau chóng phát hiện ra những vấn đềchung và riêng, mau chóng phát hiện ra những chỗ nút làm cho việc giảiquyết vấn đề phát triển theo chiều hướng hợp lí hơn, độc đáo hơn
- Các em có trí tưởng tượng phát triển, khả năng suy luận, căn cứ rõràng Có óc tò mò, không muốn dừng lại ở việc làm theo mẫu có sẵn hay ởnhững gì còn thắc mắc, hoài nghi, có ý thức tự kiểm tra, sửa chữa bài làmcủa mình
Những biểu hiện nêu trên còn có nhiều mức độ khác nhau ở mỗi họcsinh và thường thể hiện ra bên ngoài như: Sự tiếp thu nhanh, có trí nhớ tốt,
Trang 17có thái độ học tập tự giác, tự tin, diễn đạt bằng ngôn ngữ dễ dàng, sử dụngngôn ngữ thành thạo.
* Tư duy của học sinh trung bình, yếu
Ngược lại với học sinh khá giỏi, học sinh trung bình, yếu năng lực tưduy phát triển ở mức độ thấp, đặc biệt các em hầu như không có được khảnăng sáng tạo từ những yêu cầu của giáo viên hay của sách giáo khoa Các
em vẫn có ý thức chủ động, tích cực học tập nhưng ở mức độ đối phó.Trong lớp, có những học sinh ngồi học rất ngoan chăm chú nghe giáo viêngiảng bài nhưng thực chất trong đầu lại chẳng hề hiểu hay quan tâm đến bàigiảng và nếu có cơ hội sẽ chép bài của bạn hay bài mẫu
Học sinh trung bình, yếu không thể thay đổi phương thức hành động
để giải quyết vấn đề phù hợp với yêu cầu Nếu không làm được bài tập, các
em sẽ ngồi im lặng, trông chờ để chép đáp án của giáo viên hay học sinhkhá giỏi Chẳng hạn, trong những giờ Tập làm văn nói, các em nhút nhát,không dám trình bày sản phẩm của mình, khi được gọi thì nói lí nhí, không
tự tin Trong những giờ Tập làm văn viết, bài viết của các em sơ sài, chủyếu dùng lại các câu, đoạn đã nghe được, đọc được ở giờ luyện tập hay khi
các bạn khác trình bày Ví dụ: một học sinh đã miêu tả bà như sau: “Bà em
đã già Tóc bà em trắng phau Da bà nhăn nheo Má của bà hóp đi vì già Đôi mắt bà sáng, phúc hậu Bà luôn ăn mặc giản dị vì bà là một bà già thôn quê”.
Tiểu kết: Như vậy, với những đặc điểm khác biệt của học sinh khá
giỏi và học sinh trung bình, khi xây dựng một bài tập, một giáo án cho đốitượng học sinh ở các trình độ khác nhau, người dạy cần chú ý đến khả năngnhận thức, khả năng tư duy, ngưỡng phát triển trí tuệ của các em, quantrọng là phải làm cho các em động não, suy nghĩ trong quá trình làm bàitập Do đó khi tổ chức dạy học chúng ta cần phải tôn trọng những vốn kinhnghiệm, tri thức sẵn có của học sinh, trên cơ sở đó hình thành cho các em
Trang 18những tri thức mới Có làm được như vậy mới tăng lòng ham muốn học tập
ở học sinh trung bình, yếu, kích thích sự ham hiểu biết, sáng tạo của họcsinh khá giỏi, đảm bảo dạy học ở “vùng phát triển gần nhất”
1.1.1.2 Năng lực ngôn ngữ của học sinh líp 5 và việc dạy Tập làm văn phù hợp trình độ học sinh
Sau bốn năm học, vốn ngôn ngữ của học sinh líp 5 đã có nhữngchuyển biến rõ rệt nhờ nắm vững được ngôn ngữ viết, đồng thời các emcũng có những hiểu biết, vốn sống và vốn từ ngữ nhất định Ở lứa tuổi nàycác em yêu thích hoạt động sáng tạo trên cơ sở vốn tri thức mình đã có
Do sự phát triển tâm lí ở cùng một giai đoạn, ở cùng một lứa tuổi,phần lớn các em đều có những đặc điểm chung Nhưng do nhiều khía cạnhcủa cuộc sống: hoàn cảnh gia đình, mức sống, vốn sống, quá trình học tập
từ lớp 1 đến lớp 4 Ýt nhiều cũng tạo nên sự phát triển ngôn ngữ khôngđồng đều ở các em
Qua thực tế điều tra, chúng tôi nhận thấy: hầu như tất cả các em họcsinh líp 5 năng lực ngôn ngữ đều đạt tới mức hiểu đúng những lời giảngcủa giáo viên Kết quả đó có được là nhờ kinh nghiệm sống hàng ngày củacác em nhưng cũng có phần tương đối, khái quát, trừu tượng Mặt khác, các
em có khả năng diễn đạt đúng, rõ ràng, tương đối gãy gọn những ý nghĩcủa mình với người khác hoặc viết được những đoạn văn, bài văn có tìnhcảm chân thực của mình Tuy nhiên, một thực tế mà bất kì trong một lớp,một khối, một vùng, miền nào đó mà giáo viên nào cũng nhận thấy đó lànăng lực ngôn ngữ không đồng đều của tất cả các em Có những học sinhkhi giáo viên gọi trả lời câu hỏi hay đọc bài, nói câu hoàn chỉnh thì các emđều thực hiện tốt yêu cầu nhưng những học sinh trung bình, yếu thì nhútnhát, không tự tin, nói không thành câu hoàn chỉnh, trả lời sai câu hỏi, thậmchí đọc bài còn rất chậm Nói chung năng lực ngôn ngữ của những học sinhnày còn rất hạn chế Đối với các em việc nhớ lại từng câu, từng chữ dễ
Trang 19dàng hơn dùng lời lẽ của mình để diễn tả lại một sự kiện, một hiện tượnghay đặc điểm nào đó.
Một ví dụ cụ thể khi chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểuhọc Với cùng một đề bài: Dựa theo dàn ý mà em đã lập trong tuần trước,hãy viết một đoạn văn miêu tả cảnh sông nước, học sinh cùng lớp đã viếtnhư sau:
Bài làm của học sinh trung bình, yếu:
Một hôm em được gia ngoài sông hồng, ở đó các bác nông dân dang dánh cá, hay bên bở, một bên là cỏ Một bên là bãi ngô xanh biếc Con dàn trâu dang mải mê gặm cỏ Buổi sáng thì nước dục Buổi trưa thì nước ngả màu den như cái cặp của bạn văn long, ở đầu sông có một cái lò gạch Vả
ở cuối sông là bạn nghiêm dang câu cá rô phi Cá chép, cá cờ.
(Bài làm của Nguyễn Ngọc Tư - Trường Tiểu học Cự
Khối)
Dòng sông như là một người mẹ của quê tôi Ở 2 ven bờ có bãi cát
trắng Nước đục ngầu mang phù sa ở giữa sông có các cô, bác đánh bắt
cá, tôm Sông đã mang nước tưới cho cánh đồng, đem lại cá tôm cho quê tôi.
(Bài làm của Phạm Mạnh Khôi - Trường Tiểu học Cự
Khối)Bài làm của học sinh khá giỏi:
Con sông Hồng mới đẹp làm sao! Nhìn từ xa, mặt nước đỏ nâu phản
chiếu áng mây chiều Con sông quanh co, uốn lượn như một con trăn khổng lồ Hai bên bờ là những bãi ngô xanh non Bên kia sông san sát nhà cửa Đây đúng là một mảnh đất trù phú, Êm no Trên sông, tấp nập thuyền đánh cá Xa xa, tiếng ầm ì rẽ sóng của chiếc ca nô chở hàng từ Móng Cái hay Hải Phòng về Em rất thích ngồi trên triền đê vào những buổi chiều
hè Lúc Êy, em như có cảm giác được ngắm nhìn vẻ đẹp của làng xóm Em
Trang 20rất yêu quý con sông Hồng Nó là người bạn đã từng chia sẻ bao buồn vui với những người dân quê em Nó là máu thịt đã thấm dần vào thân thể của tuổi thơ chúng em.
(Bài làm của Đinh Ngọc Linh - Trường Tiểu học Cự Khối)
Hồ Gươm là một cảnh đẹp nổi tiếng của Thủ đô Hà Nội Du khách
một lần ghé thăm Hà Nội sẽ không thể quên được cảnh đẹp nơi đây Xung quanh hồ, những hàng cây cổ thụ nghiêng mình soi bóng Những cây liễu
e Êp làm duyên như thiếu nữ Giữa hồ, Tháp Rùa cổ kính, uy nghi như gợi lại dấu tích oai hùng của cha ông thuở trước Cầu Thê Húc cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn Hồ rộng, nước trong xanh có thể nhìn thấy rõ đàn cá đang bơi lội Mặt hồ phẳng lặng phản chiếu áng mây trời Sáng sớm, mặt hồ lăn tăn sóng gợn, phảng phất làn sương mờ Trưa, mặt nước lấp lánh như dát bạc Hồ như khoác tấm áo choàng đỏ tía lúc chiều
tà Hồ Gươm còn in đậm mãi trong làng mỗi người con đất Việt.
(Bài làm của Hoàng Thu Hà - Trường Tiểu học Cự Khối)
Thực tế đó đòi hỏi việc dạy học phải phù hợp trình độ học sinh haydạy cho các em cách tư duy phù hợp với những gì mà mình sẵn có, đảmbảo học sinh trung bình, yếu đạt được yêu cầu của bài học đặt ra
độ sơ đẳng qua tiếp xúc với những đối tượng quen thuộc, gắn bó trực tiếpvới cuộc sống hàng ngày của các em Trước khi bước vào hoạt động họctập, các em đã nắm được hai dạng hoạt động nói và nghe, các em đã có một
vốn từ và quy tắc ngữ pháp nhất định Vì vậy cần phải điều tra, nắm vững
Trang 21vốn tiếng Việt của học sinh từng lớp, từng vùng khác nhau để hoạch định nội dung, kế hoạch và phương pháp dạy học Chú ý phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học tiếng Việt và hệ thống hóa, phát huy những năng lực tích cực của học sinh, hạn chế, xóa bỏ những mặt tiêu cực
về lời nói của các em trong quá trình học tập (Theo GS.TS Lê Phương
Nga- PPDHTV 1, NXBGD, 1998)
Chó ý đến trình độ tiếng mẹ đẻ của học sinh cũng có ý nghĩa là làm sao để trong giờ học, học sinh ở các trình độ khác nhau đều được quan tâm, được làm việc và được phát triển Đối với học sinh dân tộc, giáo viên cần tìm hiểu sự chi phối, ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ của các em Cùng một kiến thức, cùng một kĩ năng làm văn, cùng một bài dạy nhưng dạy cho học sinh trung bình khác dạy cho học sinh khá, giỏi; dạy cho đối tượng học sinh ở thành phố, thị xã, thị trấn, khác cho học sinh nông thôn, học sinh vùng núi, hải đảo Chẳng hạn, với bài tập 1 và 2 tiết Tập làm văn đầu tiên
của lớp 5 (SGK trang 11- 12), học sinh khá giỏi thực hiện khá thuận lợi,các em không cần nhiều thời gian đã có đáp án đúng Nhưng học sinhtrung bình, đặc biệt là học sinh yếu lại khá chật vật, khó khăn Như thế cầnthiết phải có bài tập, yêu cầu nâng cao cho học sinh giỏi và có những dẫndắt, gợi ý, tức là có biện pháp “giảm độ khó” cho học sinh trung bình, yếu Chó ý đến đặc điểm trình độ của học sinh không chỉ thể hiện ở cáchtriển khai, hướng dẫn các bài tập mà còn thể hiện ở cách đánh giá Cùng mộtcâu hỏi, một đề bài Tập làm văn nhưng thái độ đánh giá và cách đánh giá sảnphẩm (câu trả lời hoặc bài làm văn) của học sinh ở các trình độ khác nhaukhông thể như nhau Với học sinh trung bình, yếu câu trả lời, bài làm có thểchỉ đạt ở mức độ đúng, đơn giản nhưng với học sinh giỏi nếu dừng lại ở mức
độ đó là không hợp lí, cần thiết và có thể yêu cầu các em ở mức độ cao hơn(bài văn phải hay, phong phó, sinh động)
Trang 22Chó ý hướng dẫn, tổ chức thực hiện các bài tập làm văn theo trình độhọc sinh cũng có nghĩa là tạo điều kiện để các em được học Tập làm vănmột cách tích cực, chủ động Theo yêu cầu cụ thể, học sinh suy nghĩ, lựachọn nội dung, chọn từ ngữ, cách diễn đạt để tạo ra lời nói theo khả năngcủa mình, tránh tình trạng chấp nhận đáp án đúng, làm theo lời văn, bài văncủa học sinh khá, giỏi một cách thụ động, máy móc Những học sinh khá,giỏi thực hiện câu hỏi, bài tập bổ trợ, nâng cao buộc phải suy nghĩ, tìm tòi,hoặc phải tìm cách diễn đạt khác nhau cho một nội dung,… do đó các emcũng được phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập Chẳng hạn, khicần thực hiện yêu cầu tìm cách diễn đạt khác cho cùng một nội dung, họcsinh sẽ có thói quen không dừng lại, không bằng lòng với một cách nói màluôn cố gắng tìm từ ngữ, lời văn sao cho hay hơn, phù hợp hơn Ở mức độcao hơn, các em sẽ có lời nói, bài viết sinh động, đa dạng, mang tính cá thểcao.
Nếu quan tâm hướng dẫn học Tập làm văn theo trình độ học sinh,người dạy không thể không chú ý đến việc giúp các em phát huy nhữngnăng lực tích cực, hạn chế, xóa bỏ những tiêu cực trong sử dụng tiếng Việtcủa các em Học sinh cần được sửa và có ý thức tránh các lỗi trong nói,viết, tả, kể… chưa hay, chưa đúng yêu cầu, thậm chí còn mắc lỗi Ví dụ:học sinh làm bài văn miêu tả nhưng chỉ kể sơ lược, bố cục không hợp líhoặc viết đơn, viết biên bản không đúng quy định Nhưng sau một thờigian, giáo viên cần giúp các em biết và tránh các lỗi đó, đồng thời phát huynhững ưu điểm đã có để nâng dần kĩ năng làm văn theo yêu cầu của khối,lớp
Có thể nói, hướng dẫn học Tập làm văn phù hợp trình độ học sinh làmột nhiệm vụ, yêu cầu cần được quan tâm thích đáng Hơn ai hết, các thầygiáo, cô giáo là những người hiểu rõ đặc điểm trình độ học sinh của mình.Bởi vậy, năng lực tư duy, năng lực sử dụng tiếng Việt của các em sẽ được
Trang 23nâng cao nếu giáo viên giúp các em học tiếng Việt nói chung và học Tậplàm văn nói riêng theo nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng mẹ đẻ của họcsinh.
1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển tư duy trong dạy học Tập làm văn phù hợp trình độ học sinh
Ngôn ngữ có hai chức năng chủ yếu là: Chức năng làm công cụ giaotiếp và chức năng làm công cụ nhận thức, công cụ của ý thức và tư duy,cho nên việc dạy và học tiếng phải được tính toán làm sao để đồng thờiphát triển ở học sinh cả hai chức năng này của tiếng mẹ đẻ Tiếng Việt với
tư cách là tiếng mẹ đẻ, là phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ để học cácmôn học khác và giao tiếp trong đời sống hàng ngày nên nó càng có tácdụng đối với việc phát triển khả năng trí tuệ, khả năng nhận thức, khả năng
tư duy của các em
Về nguyên tắc, năng lực ngôn ngữ và năng lực tư duy của con người
có sự song hành và tương tác với nhau Ví dụ như trong phân môn Tập làmvăn thì rõ ràng những năng lực phán đoán, suy luận, phân tích, tổng hợp,khái quát hóa, trừu tượng hóa, so sánh,…có quan hệ rất mật thiết với nănglực tạo câu, viết đoạn văn, bài văn miêu tả hay các văn bản thông thườngkhác Chẳng hạn các em chưa bao giờ chứng kiến cảnh cụ Ón trốn viện
nhưng khi tìm hiểu Biên bản về việc Mèo Mun ăn hối lộ của nhà Chuột và bài tập đọc Thầy cúng đi bệnh viện, các em có thể hình dung ra sự việc, so
sánh hai biên bản, phân tích các nội dung, khái quát hóa sự việc để có thểlàm được bài tập
Hơn nữa, những tri thức ngôn ngữ được đúc kết thành các khái niệm,ghi nhớ, đều là kết quả của hoạt động nhận thức, của tư duy trừu tượng.Khi dạy học sinh phần tri thức này, giáo viên sẽ giúp các em ý thức đượcnhững gì trước đó mà các em biết được do tự nhiên, tự phát, vô ý thức Nhờ
Trang 24vậy, học sinh sẽ có điều kiện để rèn luyện và phát triển nhận thức nóichung cũng như khả năng tư duy nói riêng.
Do vậy, nguyên tắc phát triển tư duy trong dạy học tiếng Việt nóichung và dạy Tập làm văn phù hợp trình độ học sinh đặt ra yêu cầu:
- Phải chú ý đến rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy trong giờ dạy Tập làm văn như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, mô hình hóa, phán đoán, suy luận,…
- Phải tạo điều kiện cho học sinh thông hiểu từ, câu, đoạn văn, kiểu bài văn mà các em phải nói, viết.
- Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần nói, viết và biết thể hiện nội dung này bằng các phương tiện ngôn ngữ.
Do đó, khi xây dựng hệ thống bài tập, câu hỏi gợi ý cho học sinh pháttriển từ ý đến lời, thành câu, thành đoạn văn, bài văn, chúng ta cần tôn trọngvốn sống của trẻ, tôn trọng những vốn kinh nghiệm, tri thức sẵn có của họcsinh hay nói cách khác là dạy học phải phù hợp với trình độ của học sinh đểtrên cơ sở đó học sinh được hình thành những tri thức, hệ thống kĩ năng, kĩxảo mới Có làm như vậy mới có thể hi vọng làm tăng lòng ham muốn học tậpcủa học sinh ở mọi trình độ khác nhau học sinh khá giỏi được tìm tòi, khámphá bài tập mới, khó hơn, học sinh trung bình, yếu giải quyết được bài tậptheo đúng yêu cầu, mục tiêu mà bài học đề ra
1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc tổ chức dạy học Tập làm văn lớp 5 phù hợp trình độ học sinh
Phương pháp dạy Tập làm văn phải dựa trên những cơ sở của ngônngữ học Nó liên quan mật thiết đến một số vấn đề của ngôn ngữ học như:các kiểu câu, các cách liên kết đoạn văn,…
1.1.3.1 Cấu trúc hoạt động lời nói và việc tổ chức dạy Tập làm văn phù hợp trình độ học sinh
Theo PGS.TS Nguyễn Trí: Giữa hệ thống kĩ năng làm văn với cấu trúc của hành vi nói năng có mối liên quan Xem xét mối liên quan này giúp chúng ta
Trang 25giải quyết được nhiều vấn đề đang đặt ra cho việc dạy học Tập làm văn Sau đây
là bảng hệ thống liên quan này:
Cấu trúc hoạt
động lời nói
Hệ thống kĩ năng làm văn
1 Định hướng 1 Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn đề bài
bài viết (kĩ năng tìm hiểu đề)
2 Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết
2 Lập chương
trình nội dung
biểu đạt
3 Kĩ năng tìm ý (thu thập tài liệu cho bài viết)
4 Kĩ năng lập dàn ý (hệ thống hóa, lựa chọn tài liệu)
6 Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo các phong cáchkhác nhau (miêu tả, kể chuyện, đơn từ, …)
4 Kiểm tra 7 Kĩ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện và sửa chữa
lỗi)
Qua bảng hệ thống hóa ta thấy: Hệ thống kĩ năng làm Tập làm văn hiệnnay về cơ bản là phù hợp với các phát hiện của lí thuyết hoạt động lời nói Trên cơ sở hiểu biết về lí thuyết hoạt động lời nói, chúng tôi đi sâuhơn nữa nghiên cứu các kĩ năng làm văn phù hợp với trình độ học sinh.Biện pháp giải quyết là giáo viên phải tạo ra một môi trường mà ở đó họcsinh với các trình độ khác nhau cùng được hoạt động dựa trên vốn kiếnthức, kinh nghiệm, năng lực của bản thân Do đó phải có một hệ thống cáccâu hỏi gợi ý làm nảy sinh nhu cầu nói của học sinh, tạo điều kiện cho các
em “phát triển ở vùng gần nhất” Vì thế chúng tôi xây dựng các bài tập, hệthống câu hỏi phù hợp với trình độ của từng nhóm học sinh và bám sát hệthống kĩ năng làm văn Vận dụng lí thuyết hoạt động lời nói để hướng dẫnhọc sinh làm các bài tập phù hợp với đặc điểm trình độ của các em sẽ giúpcho tất cả học sinh được làm bài, tự đi đến lời giải đúng Học sinh khá giỏi
Trang 26sẽ được quan tâm với những nhiệm vụ mới sau khi đã hoàn thành bài tập.Học sinh trung bình, yếu được phát huy tư duy và ngôn ngữ, nắm được kĩnăng làm văn qua việc thực hiện các thao tác, trả lời các câu hỏi gợi ý Các
em sẽ không rơi vào tình trạng chấp nhận đáp án
1.1.3.2 Ngữ pháp văn bản và sự ứng dụng vào dạy Tập làm văn lớp 5 phù hợp trình độ học sinh
Học sinh líp 5, đặc biệt là học sinh trung bình, học sinh yếu thườngrất hạn chế về kĩ năng liên kết câu thành đoạn, liên kết đoạn thành bài Bởivậy, người dạy cần nắm vững ngữ pháp văn bản để vận dụng tốt trong dạyhọc Tập làm văn phù hợp đặc điểm trình độ học sinh của mình
Để tạo nên một văn bản cần tạo nên sự liên kết về cả hai mặt: liên kếtnội dung và liên kết hình thức
Sự liên kết nội dung, dù là liên kết chủ đề hay liên kết logic, tạo nên
sự nhất quán của văn bản về nội dung Đây là một trong nhiều phẩm chấttạo nên giá trị của văn bản, tạo nên tác động mạnh mẽ của văn bản đối vớingười nghe và người đọc Dạy Tập làm văn không thể không luyện tập kĩnăng này cho học sinh nhằm đảm bảo bài viết hoặc bài nói của các em làmột khối thống nhất, không “râu ông nọ cắm cằm bà kia” Nhưng một thực
tế hiện nay trong dạy học Tập làm văn là kĩ năng liên kết nội dung Ýt đượcgiáo viên đầu tư Đặc biệt với việc biên soạn cách dạy Tập làm văn hiện nay làxây dựng đoạn, bài, có những học sinh không biết cách liên kết đoạn tả hìnhdáng của người và tả hoạt động của người Êy đã tạo nên sự “vênh” giữa cácđoạn trong bài Để luyện tập kĩ năng này, sự phân tích mối quan hệ giữa nộidung của các đoạn trong bài có ý nghĩa rất quan trọng Công việc này giáo viên
có thể tiến hành trong các tiết luyện tập hoặc các tiết trả bài Hiện tại, với tiết trảbài, việc chữa lỗi sai về từ, câu đôi khi lấn lướt việc phân tích mối liên kết nộidung của bài văn
Trang 27Ngữ pháp văn bản còn chỉ ra cả một hệ thống các biện pháp liên kếthình thức trong văn bản Sự phong phú của các liên kết hình thức giúp Ýchnhiều cho giáo viên Đặc biệt giáo viên có thể vận dụng các hiểu biết nàytrong tiết trả bài để chỉ ra những lỗi cho học sinh khi viết câu và đoạn Một ứng dụng khác của ngữ pháp văn bản là vận dụng lí luận về quátrình sản sinh văn bản vào việc xác lập hệ thống kĩ năng làm văn Theo ngữpháp văn bản, quy trình sản sinh một văn bản liên kết gồm 4 giai đoạn:định hướng, lập chương trình biểu đạt, hiện thực hóa chương trình biểu đạt
và kiểm tra Vận dụng vào việc dạy Tập làm văn, mỗi giai đoạn được thựchiện nhờ một số kĩ năng Giai đoạn định hướng gồm kĩ năng phân tích đề;giai đoạn lập chương trình đòi hỏi vận dụng các kĩ năng tìm ý, lập dàn ý;giai đoạn hiện thực hóa chương trình đòi hỏi các kĩ năng tìm từ, đặt câu,viết đoạn văn; giai đoạn kiểm tra cần đến các kĩ năng phát hiện lỗi và sửachữa lỗi Qua phân tích cho thấy giai đoạn định hướng ở chương trình Tậplàm văn hiện nay đã phần nào khắc phục được những thiếu sót, hạn chế củachương trình cũ Hầu hết học sinh líp 5 khi làm bài tập làm văn đã xác địnhđược các vấn đề trọng tâm như: đề yêu cầu viết về gì? Trong phạm vi nào?Hoàn cảnh viết là gì? Viết cho ai đọc? Viết nhằm mục đích gì? Tuy nhiênngược lại giai đoạn kiểm tra lại rất sơ sài Chương trình không hề có tiếthọc hay bài tập phục vụ cho kĩ năng mà tất cả được hiện thực trong tiết trảbài
Tìm hiểu sách giáo khoa hiện hành, chúng ta nhận thấy: chương trìnhtập làm văn hiện nay đã khắc phục được tình trạng ra đề bài một cáchchung chung của sách giáo khoa cũ Ví dụ: sách giáo khoa cũ thường đưa
ra các kiểu bài như:
1 Hãy tả lại cái cặp sách của em.
2 Em hãy tả lại hình dáng và hoạt động của một em bé đang tuổi tập nói, tập đi.
Trang 28Muốn làm bài theo các đề này, học sinh phải thực hiện một thao tácquan trọng: chuyển đề bài chung của cả lớp thành đề bài riêng của cá nhân
em Nhưng ở sách giáo khoa Tiếng Việt 5 hiện hành đã đưa ra các đề bàiđảm bảo học sinh được thực hiện việc cá thể hóa bài văn
1 Tả một em bé đang tuổi tập nói, tập đi.
2 Tả một người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, em,…) của em.
3 Tả một bạn học của em.
4 Tả một người lao động (công nhân, nông dân, thợ thủ công, bác
sĩ, y tá, cô giáo, thầy giáo,…) đang làm việc.
(SGK TV5, tập 1 trang 159) Như vậy đề bài ứng dụng được ngữ pháp văn bản vào việc dạy học
Nó phù hợp với mọi vùng và cũng quy định rõ: Mục đích của bài văn là gì?Nhân vật đọc bài văn là ai? Hoàn cảnh viết bài văn như thế nào?
1.1.3.3 Các kiến thức về loại thể và tác phẩm văn học và sự ứng dụng vào dạy Tập làm văn lớp 5 phù hợp trình độ học sinh
Các kiến thức về loại thể và tác phẩm văn học đã được trang bị trongmôn lí luận văn học Để có thể dạy tốt các bài Tập làm văn ở lớp 5, giáoviên cần vận dụng các tri thức về miêu tả, về kể chuyện (trong đó có cáchiểu biết về cốt truyện, chi tiết, nhân vật, cách biểu hiện ngoại hình và nộitâm) về ngôi trong truyện kể,… về truyện ngắn, truyện dài, về đơn từ, về
Trang 29chương trình hoạt động, cách thuyết trình, tranh luận, cách viết các đoạnđối thoại trong màn kịch,… Chính các tri thức này góp phần chỉ ra nộidung luyện tập khác nhau của các kĩ năng Nói cách khác, dựa trên hiểubiết về lí luận văn học, người giáo viên mới hiểu rõ tính đặc thù của từng kĩnăng trong từng kiểu bài văn, từng kiến thức làm văn Dạy học sinh tìm ý,viết đoạn, dạy học sinh hồi tưởng lại những việc đã xảy ra hoặc tưởngtượng ra những tình huống cụ thể có thể xảy ra trong thực tế để đảm bảohọc sinh viết được đoạn văn, bài văn đúng lứa tuổi đúng yêu cầu Ví dụ:khi dạy học sinh cách làm đơn ở Tuần 12 - tiết 2.
Đề bài:
Chọn mét trong các đề sau đây:
1 Phè em có một hàng cây to, nhiều cành vướng vào đường dây điện, một số cành sà xuống thấp, mùa mưa bão đến dễ gây nguy hiểm Em hãy giúp bác tổ trưởng tổ dân phố làm đơn gửi công ty cây xanh hoặc ủy ban nhân dân địa phương (quận, huyện, thị xã, thị trấn, ) đề nghị cho tỉa cành để tránh xảy ra tai nạn đáng tiếc.
2 Nơi em ở có một con suối hoặc một dòng sông chảy qua Gần đây,
có một số người dùng thuốc nổ đánh bắt cá làm cá chết nhiều và gây nguy hiểm cho người qua lại Em hãy giúp bác trưởng thôn (hoặc tổ trưởng dân phố) làm đơn gửi ủy ban nhân dân hoặc công an địa phương (xã, phường, thị trấn,…) đề nghị ngăn chặn việc làm trên để bảo vệ đàn cá và đảm bảo
an toàn cho nhân dân.
Để học sinh ở mọi trình độ, đặc biệt là học sinh trung bình, học sinhyếu làm được đề bài trên, giáo viên phải hướng dẫn để các em biết vậndụng mọi giác quan, tưởng tượng ra tình huống cụ thể, biết cách lựa chọnthời gian, địa điểm, nội dung, đối tượng phù hợp với từng đề bài mà các emchọn Giáo viên phải biết vận dụng các kiến thức về đơn từ, về các văn bảnhành chính thông thường để hướng dẫn học sinh của mình thực hiện đúng
Trang 30các thao tác, trình tự viết một lá đơn Điều này khi dạy học sinh trung bình,học sinh yếu đang còn gặp rất nhiều khó khăn.
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy Tập làm văn lớp 5 phù hợp trình độ học sinh
1.2.1 Tìm hiểu phân môn Tập làm văn lớp 5 qua Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 và Sách giáo viên
1.2.1.1 Mục tiêu của môn Tiếng Việt chương trình Tiểu học hiện hành nói chung và phân môn Tập làm văn lớp 5 nói riêng
* Mục tiêu môn Tiếng Việt chương trình Tiểu học hiện hành
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạtđộng của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học môn Tiếng Việt, góp phầnrèn luyện các thao tác tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt vànhững hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, vănhọc của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa
* Mục tiêu của phân môn Tập làm văn lớp 5
Phân môn Tập làm văn có tính chất tổng hợp, vừa vận dụng các hiểubiết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác cung cấp, đồng thờiphát huy những kết quả đó, góp phần hoàn thiện chúng Để thực hiện vaitrò này, phân môn Tập làm văn lớp 5 có các mục tiêu sau:
- Trang bị cho học sinh các kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làmvăn Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn bản nói và viết phùhợp với mục đích giao tiếp trên cơ sở một số kiến thức thuộc các loại vănbản: Kể chuyện, Miêu tả, các loại văn bản khác ứng dụng trong sinh hoạt
Trang 31hàng ngày: Báo cáo thống kê, Đơn, Thuyết trình tranh luận, Biên bản,Chương trình hoạt động, Tập viết đoạn đối thoại.
- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tưduy logic, tư duy hình tượng cho học sinh Ở líp 5, các bài Tập làm văn đềugắn với chủ điểm Quá trình thực hiện các kĩ năng: phân tích đề, quan sát,tìm ý, viết đoạn văn, viết bài văn là những cơ hội để học sinh huy động vốn
từ, phong phú hóa vốn từ, tích cực hóa vốn từ để diễn tả được nhân vật, vẽlại được hình ảnh, quang cảnh của cảnh vật, trình bày được tâm tư, tìnhcảm trong đối thoại, thuyết trình tranh luận, giúp các em mở rộng hiểu biết
về cuộc sống theo các chủ điểm đã học Qua việc phân tích cấu tạo của bàivăn, của đơn từ, qua việc quan sát, lập dàn ý, chia đoạn, giúp cho khả năngphân tích, tổng hợp của học sinh được rèn luyện qua những thao tác cụ thể,thực hiện sản sinh ngôn bản Tư duy hình tượng của học sinh líp 5 cũngđược rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi miêu tảcảnh, tả người, miêu tả con vật, miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối nhờ huyđộng vốn sống, huy động trí tưởng tượng Tư duy logic của học sinh đượcrèn luyện thông qua cách liên kết đoạn văn, bài văn
- Bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách chohọc sinh Khi học các giờ Tập đọc, Kể chuyện, học sinh được tiếp nhậnnhững hình ảnh đẹp của cuộc sống xung quanh các em theo các chủ điểm.Học các tiết Tập làm văn, khi nhận diện được các loại bài kể chuyện, miêu
tả, kịch, đơn từ, … các em đã có dịp tiếp cận với vẻ đẹp con người, thiênnhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình Khi phân tích các đề Tập làmvăn, học sinh lại có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ được địnhhướng trong đề bài Khi quan sát đồ vật trong miêu tả, học sinh được rènluyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi giữa người với vật Khihọc các bài: Luyện tập làm đơn, Luyện tập làm báo cáo thống kê, Lập biênbản, Thuyết trình tranh luận, Chương trình hoạt động,… giúp học sinh thể
Trang 32hiện được mối quan hệ cộng đồng Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêumến, gắn bó với thiên nhiên và công việc, con người làm trẻ nảy nở tâmhồn, tình cảm Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhâncách tốt đẹp của học sinh ở lứa tuổi này.
1.2.1.2 Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng của phân môn Tập làm văn ở lớp 5
* Nghe:
- Nghe để nhận biết được thái độ, tình cảm, chủ đích của người nóitrong giao tiếp trong những tình huống cụ thể (nội dung và kiểu bài cụ thể)
- Nghe và nắm được nội dung và chủ đích của các bài văn, bài viết
về khoa học thường thức để nhận xét, đánh giá được những thông tin đó
- Nghe và nắm được ý chính của bài văn, đoạn văn, văn bản; bướcđầu biết nhận xét, đánh giá những chi tiết có giá trị nghệ thuật của bài văn,đoạn văn
* Nói:
- Biết dùng lời nói phù hợp với các quy tắc giao tiếp trong gia đình,trong lớp học, với thầy cô, bạn bè nhất là trong các tình huống cụ thể:thuyết trình tranh luận, tập viết đoạn đối thoại, làm đơn, …
- Biết dùng lời lẽ, dẫn chứng của mình để giải thích rõ thêm vấn đềđang trao đổi: tán thành hay bác bỏ một ý kiến (thuyết trình, tranh luận)
- Biết phát triển một chủ đề cụ thể trong đề bài đưa ra
* Đọc:
- Biết cách đọc phù hợp các loại văn bản khác nhau (tả cảnh, tảngười, kể chuyện, văn bản, hành chính, khoa học,…) Biết đọc một mànkịch có giọng đọc phù hợp với nhân vật và tình huống kịch
- Đọc và biết tìm nội dung chính của bài văn, biên bản, … tóm tắtđược văn bản, chia đoạn, rót ra thành cấu tạo của bài văn, cấu tạo của biênbản, đơn từ, màn kịch,…
Trang 33- Đọc và biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong bài văn cógiá trị văn chương, nội dung mấu chốt của vấn đề được tranh luận
* Viết:
- Chuyển đoạn nói sang đoạn viết và ngược lại
- Lập dàn ý cho đoạn văn, bài văn và chuyển dàn ý thành đoạn văn,liên kết đoạn văn thành bài văn
- Biết cách tả cảnh, tả người, viết đơn từ, biên bản, biết cách viết mànkịch
- Tự phát hiện và sửa được một số lỗi trong bài văn
1.2.1.3 Nội dung dạy Tập làm văn lớp 5
a Các kiến thức làm văn lớp 5
Trong đó văn bản thông thường gồm:
- Báo cáo thống kê: 2 tiết
- Làm đơn: 2 tiết
- Thuyết trình, tranh luận: 2 tiết
- Biên bản: 3 tiết
- Lập chương trình hoạt động: 3 tiết
- Tập viết đoạn đối thoại: 3 tiết
Như vậy nhìn vào bảng hệ thống kiến thức làm văn trong phân mônTập làm văn ở lớp 5 ta nhận thấy: phân môn Tập làm văn lớp 5 ôn lại tất cả
Tảcâycối(3 tiết)
Kểchuyện(4 tiết)
Tảngười(13 tiết)
Tảcảnh(16 tiết)
Văn bản thông thường (15 tiết)
Trang 34các thể loại văn mà học sinh đã học từ lớp 2 đến lớp 5 Các kiến thức củaphân môn Tập làm văn lớp 5 đều gắn liền với đời sống xã hội.
b Các kĩ năng làm văn của phân môn Tập làm văn lớp 5
Diễnđạtthànhvăn bản
Kiểm trasửa chữavăn bản
- Quan sát đốitượng, tìm ý, lậpdàn ý đoạn bàimiêu tả
- Chọn từ, chọncâu, viết đoạn
- Liên kết đoạnthành bài
- Đối chiếu vănbản nói, viết vớimục đích giaotiếp, hình thứcdiễn đạt
- Sửa lỗi về nộidung và hìnhthức diễn đạt
Nhận xét: Các kĩ năng Tập làm văn ở lớp 5 được dạy bám theo các
kiểu bài cụ thể
- Kĩ năng định hướng văn bản (định hướng hoạt động giao tiếp)
Ví dô : Kiểm tra viết (Tả cảnh)
Trang 35Ví dô 1: Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)
(SGK TV5, tập 1- trang 14)
Ví dô 2: Từ những điều em đã quan sát được, hãy lập và trình bày dàn ý
bài văn miêu tả một cơn mưa.
(SGK TV5, tập 1- trang 32)
- Kĩ năng diễn đạt thành văn bản (hiện thực hóa hoạt động giao tiếp)
Ví dô 1 Chọn một phần trong dàn ý bài văn tả cơn mưa e vừa trình bày trong tiết trước, viết thành đoạn văn.
(SGK TV5, tập 1- trang 34)
Ví dụ 2 Tả một cơn mưa (Đề bài gợi ý của tiết kiểm tra viết văn tả cảnh)
Ví dụ 3 Viết đoạn văn tả hoạt động của một người mà em yêu mến.
(SGK TV5, tập 1- trang 150)
Ví dụ 4 Tả một người lao động (công nhân, nông dân, thợ thủ công, bác
sĩ, y tá, cô giáo, thầy giáo,…) đang làm việc (Đề bài gợi ý của tiết kiểm tra viết về văn tả người)
(SGK TV5, tập 1- trang 159)
- Kĩ năng kiểm tra, sửa chữa văn bản (kiểm tra, đánh giá hoạt độnggiao tiếp) Kĩ năng này được cụ thể hóa bằng các hoạt động của giáo viên
và học sinh trong các tiết trả bài
Ví dô: Trả bài văn tả người
1 Nghe cô giáo (thầy giáo) nhận xét về bài làm của cả lớp.
- Những ưu điểm chính.
- Những thiếu sót, hạn chế.
2 Chữa bài.
Đọc lại bài làm của mình và lời nhận xét của cô giáo (thầy giáo) Từ
đó, tự soát lại bài và sửa lỗi về các mặt sau:
Trang 36- Bài viết đã đáp ứng yêu cầu của đề bài chưa? Ví dụ: tả em bé đang tuổi tập nói, tập đi (tả cả hình dáng, tình hình, hoạt động) hay tả một người lao động đang làm việc (chú trọng tả hoạt động).
- Trình tự miêu tả đã hợp lí chưa?
- Các chi tiết miêu tả có chính xác không?
- Bài viết có thể hiện được tình cảm, cảm xúc của người viết với đối tượng được tả không?
- Cách dùng từ, đặt câu, chuyển ý, chuyển đoạn, chữ viết, chính tả, hình thức trình bày đã đúng chưa?
3 Chọn viết lại một đoạn văn cho hay hơn Đoạn có thể viết là: a) Đoạn tả hình dáng hoặc đoạn tả tính tình, hoạt động của người được tả.
b) Đoạn mở bài hoặc kết bài.
c) Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 5
Phân môn Tập làm văn lớp 5 rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, viết và đọc.Học sinh líp 5 được dạy các kĩ năng kể chuyện, miêu tả người, cảnh vật.Bên cạnh đó, học sinh còn được rèn kĩ năng thuyết trình, trao đổi, làm báocáo thống kê, tập viết đoạn đối thoại và nâng cao các kĩ năng viết thư, điềnvào giấy tờ in sẵn đã hình thành từ các lớp dưới Tổng cộng chương trình
Trang 37thực hành phân tích cấu tạo của một bài văn tả cảnh khác, sau đó tiết tiếptheo hướng dẫn học sinh cách quan sát cảnh vật, sử dụng các giác quan đểquan sát cảnh vật và lập dàn ý cho bài văn tả cảnh Các tiết tiếp theo đềuhướng dẫn học sinh cách lập dàn ý chọn hình ảnh hay, sinh động và luyệntập viết từng đoạn văn,… Đây là cơ sở để học sinh tránh khỏi việc làm bàimột cách lan man, các em đều cần biết viết cái gì trước, cái gì sau, sử dụngnhững giác quan nào để quan sát và trình bày theo cấu trúc một bài văn Nội dung các bài Tập làm văn rất gần gũi với đời sống của học sinh,
do vậy các em có điều kiện quan sát, tìm hiểu kĩ năng đối tượng, nội dungđược nhắc đến trong đề bài Chương trình Tập làm văn lớp 5 đã có nhữngkiểu bài tập dành riêng cho những sinh hoạt hàng ngày : Thuyết trình tranhluận, Lập biên bản, Lập bảng thống kê, Tập viết đoạn đối thoại,… Điều nàytạo điều kiện cho học sinh thêm hiểu biết và hòa nhập vào cuộc sống cộngđồng Nội dung đối tượng trong các bài Tập làm văn là những gì các emthường xuyên tiếp xúc (tả cảnh buổi sáng (hoặc trưa, hoặc chiều) trongvườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)
tả cảnh một cơn mưa; tả em bé đang tuổi tập đi, tập nói; tả một người thân(ông, bà, cha, mẹ, anh, em…) của em; viết đơn xin học môn tự chọn, lậpbiên bản đại hội chi đội; tổ chức chương trình văn nghệ chào mừng Ngàynhà giáo Việt Nam 20/11;…
Mỗi kiểu bài lại có tiết lí thuyết về cấu trúc mang đặc điểm riêngcủa một kiểu bài đó Chẳng hạn như khi học sinh học về tả cảnh thì có kếtcấu tạo bài văn tả cảnh, học về tả người thì có tiết dạy về cấu tạo của bàivăn tả người, học về lập biên bản thì có biên bản mẫu và cấu tạo của mộtbiên bản Chính vì vậy giúp cho học sinh có một cách nhìn cụ thể, gắn vớinội dung, yêu cầu của từng kiểu bài cụ thể Bên cạnh đó, sự gợi ý và bàivăn mẫu, biên bản mẫu giúp cho học sinh nhận biết dễ dàng và làm bàiđược tốt hơn
Trang 38Các bài tập trong chương trình Tập làm văn lớp 5 có sự thay đổi đặcbiệt tiến bộ so với chương trình Cải cách giáo dục, đáp ứng được mục tiêucủa giáo dục là “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của họcsinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học”… Các bài tập, các
đề tập làm văn không hoàn toàn giống nhau Nếu như ở chương trình cũ,tiết văn miệng, tìm ý, lập dàn ý, viết bài chỉ là một đề bài nên dẫn đến mộtthực tế là 3/4 số học sinh trong lớp tả cô giáo, cụ già hoặc em bé đang tuổitập nói, tập đi hoàn toàn giống nhau Nhưng ở sách giáo khoa Tiếng Việt 5hiện nay có rất nhiều đề bài để học sinh lựa chọn Sách giáo khoa đã đưa ranhững đề bài rất cụ thể tạo hứng thú học tập ở các em
Điều quan trọng và đổi mới rõ nhất trong chương trình Tập làm vănlớp 5 hiện nay là học sinh được học cách viết đoạn văn - cơ sở của việc viếtbài văn hoàn chỉnh Chính vì vậy, khi viết bài văn học sinh Ýt khi bị lạc đề,không biết trình bày cấu trúc một bài văn hay viết lộn xộn giữa các đoạn.Học sinh được rèn nhiều về viết đoạn văn nên việc viết bài văn đối với các
em trở nên thuận lợi hơn
* Một số điểm chương trình và sách giáo khoa còn bất cập
Chương trình Tập làm văn hiện hành, mỗi tuần có hai tiết học đượcsắp xếp theo các tuần, chủ điểm Nhưng theo chúng tôi sự phân bố về mặtthời gian của các mạch kiến thức trong các tiết học chưa thật là hợp lí.Trong số các kiến thức cơ bản về làm văn thì có đến 13 tiết ôn tập lại cáckiến thức về làm văn các em đã học ở lớp như: tả người, tả cảnh, làm biênbản lại được sắp xếp xen kẽ với các kiến thức khác như: làm đơn, thuyếttrình, tranh luận, báo cáo thống kê,…Chẳng hạn, giáo viên và học sinhngay từ tuần đầu tiên bắt đầu làm quen với kiểu bài văn tả cảnh ở Tuần 1thì tiết 2 của Tuần 2 lại học kiến thức về làm báo cáo thống kê rồi Tuần 3,Tuần 4 mới tiếp tục lập dàn ý cho bài văn tả cảnh Một ví dụ khác: ở tuần
11, 12, 13 học sinh đang học về văn tả người với các nội dung: phân tích
Trang 39cấu tạo bài văn, lập dàn ý cho bài văn tả người, luyện tập tả ngoại hình thìtuần 14 lại học kiến thức về làm biên bản cuộc họp rồi đến Tuần 15 tiếp tụcluyện tập tả hoạt động của người Điều này tạo ra những khó khăn khôngnhỏ đối với giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Chúng tôi thiếtnghĩ, với đặc điểm và trình độ nhận thức của học sinh líp 5 thì cách sắp xếpnhư trên là chưa hợp lí, cần có sự điều chỉnh để các em được thực hành,luyện tập thường xuyên Các em đang làm quen với một loại kiến thức mớirồi lại bắt đầu với kiến thức khác, đến khi quay lại thì với học sinh trungbình, yếu kiến thức này lại như mới Do vậy các kĩ năng trong từng mạchkiến thức nên liền mạch để giúp học sinh được thực hành, luyện tập thườngxuyên nhằm củng cố, duy trì và phát triển tốt các kĩ năng làm văn Bêncạnh đó, chúng ta cũng cần phải xem xét khoảng thời gian cụ thể và cầnthiết cho mỗi bài tập cần luyện tập là bao nhiêu vì sách giáo viên chưa cóhướng dẫn cụ thể.
Đối tượng miêu tả, nội dung các văn bản khác trong chương trình lànhững đối tượng, tình huống rất gần gũi đối với học sinh Tuy nhiên, theo chúngtôi tả cảnh là một loại văn miêu tả tương đối khó, vì cảnh vật như vậy nhưng các
em phải có cách cảm nhận, quan sát thật tinh tế mới có thể lột tả hết được vẻ đẹpcủa cảnh, mới gặp khó khăn khi luyện tập viết đoạn văn tả cảnh
Trong phần lập dàn ý, sách giáo khoa chưa hề đưa ra cách lập dàn ý
mà chỉ dựa vào cấu tạo của bài văn, bài văn mẫu rồi yêu cầu học sinh lậpdàn ý cho bài văn khác
Các phần luyện dựng đoạn mở bài, đoạn kết bài các cách viết: mởbài trực tiếp, mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng, kết bài không mở rộngchưa được nêu rõ mà chỉ đưa ra mẫu, nhận xét mẫu sau đó dựa vào mẫu đểviết Mặc dù ở lớp 4, các em đã được luyện viết đoạn mở bài, kết bài theocác cách khác nhau, song chúng tôi thiết nghĩ cũng cần phải có một sựhướng dẫn hợp lí để học sinh hiểu được thế nào là mở bài gián tiếp, mở bài
Trang 40trực tiếp, kết bài mở rộng, kết bài không mở rộng trong văn tả người và tảcảnh Chẳng hạn ở Tuần 8 - tiết 2, Bài tập 1 sách giáo khoa đưa ra haiđoạn mở bài cho bài văn Tả con đường quen thuộc từ nhà em tới trường:
a) Từ nhà tôi đến trường có thể đi theo nhiều ngả đường Nhưng con đường mà tôi thích hơn cả là đường Nguyễn Trường Tộ.
b) Tuổi thơ của tôi có biết bao kỉ niệm gắn với những cảnh vật của quê hương Đây là dòng sông nhỏ đầy ắp tiếng cười của bọn trẻ chúng tôi mỗi buổi chiều hè Kia là triền đê rộn rã tiếng hát của thanh niên nam nữ những đêm sáng trăng Nhưng gần gũi, thân thiết nhất với tôi vẫn là con đường từ nhà đến trường - con đường đẹp đẽ suốt những năm tháng học trò của tôi.
Và các yêu cầu
+ Đoạn nào mở bài theo kiểu trực tiếp, đoạn nào mở bài theo kiểu
gián tiếp? Nêu cách viết mỗi kiểu mở bài đó.
Đến bài tập 2, sách giáo khoa đưa ra hai cách kết bài của bài văn tả conđường:
a) Con đường từ nhà em đến trường có lẽ không khác nhiều lắm những con đường trong thành phố, nhưng nó thật thân thiết đối với em.
b) Em rất yêu quý con đường từ nhà đến trường Sáng nào đi học,
em cũng thấy con đường rất sạch sẽ Em biết đấy là nhờ công quét dọn ngày đêm của các cô bác công nhân vệ sinh Em và các bạn bảo nhau không xả rác bừa bãi để con đường luôn sạch đẹp.
Và các yêu cầu: Em hãy cho biết đoạn kết bài theo kiểu không mở
rộng (a) giống và khác đoạn kết bài theo kiểu mở rộng (b) ở điểm nào?
Đến bài tập 3, sách giáo khoa đưa ra yêu cầu: Viết một đoạn mở bài
kiểu gián tiếp và một đoạn kết bài mở rộng cho bài văn tả cảnh thiên ở địa phương em.