1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu thơ nôm tự trào của nguyễn khuyến và tú xương

117 3,2K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 674 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy so sánh thơ tự trào của Nguyễn Khuyến và TúXương để từ đó ta có thể thấu hiểu thêm về hai tác giả qua sự tương đồngcũng như khác biệt trong sáng tác thơ của hai nhà thơ, từ

Trang 1

Trong mảng thơ trào phúng của hai ông thì thơ tự trào chiếm vị trÝquan trọng cả về số lượng và giá trị nghệ thuật, nó thể hiện rất rõ tâm trạngcủa nhà thơ Thơ tự trào vừa thể hiện ý thức cá nhân lại vừa mang ý nghĩa xãhội Qua những bài thơ tự trào, chóng ta có thể cảm nhận được tiếng lòngcủa tác giả Nh vậy không chỉ thơ trữ tình có thể giúp các nhà thơ bày tỏ tâmtrạng, tình cảm mà chính mảng thơ tự trào cũng giúp các nhà thơ bộc lộ cảmxóc, suy tư một cách rất hữu hiệu

Cùng là tự cười mình song mỗi tác giả đều có những cách cười thậtkhác nhau Chính vì vậy so sánh thơ tự trào của Nguyễn Khuyến và TúXương để từ đó ta có thể thấu hiểu thêm về hai tác giả qua sự tương đồngcũng như khác biệt trong sáng tác thơ của hai nhà thơ, từ đó góp phần làmsáng tỏ phong cách của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương- hai cây đại thụ lớncủa Văn học Trung đại Việt Nam cuối Thế kỷ XIX

1.2 Về thực tiễn

Trong chương trình văn học nhà trường từ trung học đến đại học

có rất nhiều những thống kê cho thấy vị trí quan trọng của thơ văn NguyếnKhuyến và Tú Xương ỏ bậc Trung học kể cả trong chương trình cũ và mới làrất quan trọng Còn ở các Trường đại học và cao đẳng thì thơ NguyễnKhuyÕn và Tú Xương càng có vị trí quan trọng

Trang 2

Sau đây là bảng thống kê những tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương được dạy học ở bậc Trung học chương trình đang hiện hành

Bậc học NguyÔn Khuyến Số tiết Tú Xương Số tiếtTrung học cơ sở Bạn đến chơi nhà 01

Với chương trình cũ thì số lượng các tác phẩm của Nguyễn Khuyến và

Tú Xương được giới thiệu tới các em học sinh nhiều hơn gấp 3 lần so vớichương trình mới nhưng không vì thế mà vị trí của hai nhà thơ lớn này sẽkém đi So sánh thơ tự trào của hai tác giả Nguyễn Khuyến và Tú Xươngchúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu và giảng dạythơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương được sâu sắc hơn

2 Lịch sử vấn đề

Đã trải qua biết bao những thăng trầm lịch sử nhưng thơ văn củaNguyễn Khuyến và Tú Xương vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng trong lòngnhững người dân Việt Nam và đặc biệt là những độc giả yêu mến thơ tràophúng Nhiều câu thơ của Nguyễn Khuyến, Tú Xương được dân gian sửdụng nh những câu châm biếm trong ngôn ngữ giao tiếp thường ngày

Trang 3

Thời gian sẽ làm cho mọi cái trở nên phai nhạt nhưng cũng là minhchứng để khẳng định một cách hùng hồn nhất cho những gì có sức sốngtrường tồn với thời gian

Như chóng ta đã thấy cho dù đã trải qua gần một trăm năm nhưngNguyễn Khuyến và Tú Xương luôn để lại trong lòng người đọc sự yêu mếnkính trọng, Một cô Tam Nguyên Yên Đổ nhẹ nhàng mà sâu sắc một ông Tú

Vị Hoàng sắc sảo và dữ dội, đã có nhiều công trình nghiên cứu về NguyễnKhuyến và Tú Xương Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều có liênquan đến đề tài, luận văn tập chung vào một số hướng chủ yếu:

2.1 Những nghiên cứu về tác giả có liên quan đến đề tài

Trong những nghiên cứu về tác giả có không Ýt những nhà nghiêncứu đã đề cập đến con người tác giả qua những vần thơ tự trào

2.1.1 Về tác giả Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến được biết đến với tư cách là một nhà thơ từ rất sớm,ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX Thơ nôm của ông đã được giới thiệu

trên tạp chí Nam Phong và cuốn sách: Quốc văn trích diễm của Dương

Quảng Hàm xuất bản 1925 cũng đã giới thiệu 7 bài thơ nôm của NguyễnKhuyến Từ đó trở đi Nguyễn Khuyến luôn là một nhà thơ được rất nhiềunhà nghiên cứu quan tâm Tác giả Nguyễn Khuyến được khẳng định là mộtnhà thơ lớn [13]

Nh lời đánh giá của Xuân Diệu: “Nguyễn Khuyến là một nhà thơlớn có biệt tài và có giá trị tiêu biểu cho văn học nước ta vào hồi cuối thế

kỷ XI X” [9; 15]

Như chóng ta đã biết Nguyễn Khuyến trưởng thành trong xã hội giaothời thực dân phong kiến ông là một nhà nho là người tiêu biểu cho lớpngười được xã hội phong kiến đào tạo Nguyễn Khuyến là một trong rất Ýtngười đã nhận ra sù bi thương lố bịch của xã hội phong kiến, cái xã hội đã ởvào giai đoạn cuối mùa

Trang 4

Tiếp sau: Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm thì trong cuốn

sách nổi tiếng Việt Nam Văn học sử yếu (Nha học chính Đông Pháp xuất bản

H 1943) đã xếp Nguyễn Khuyến vào hàng ngũ các nhà thơ trào phúng nổi

tiếng của Văn học dân tộc Hay trong cuốn: Văn thơ Nguyễn Khuyến, (Bộ

Giáo dục xuât bản H 1957) còng phong cho ông là một nhà thơ trào phúngViệt Nam có tiếng cười độc đáo

Bộ sách Văn học sử quan trọng nhất của Văn học cổ trung đại: Lược

thảo lịch sử văn học Việt Nam (gồm 3 tập của nhóm Lê Quý Đôn, Xây dựng

xuất bản H 1957) đã dành 20 trang để nghiên cứu về Nguyễn Khuyến với tư

cách là một nhà thơ trào phúng lớn

Trần Quốc Vượng khi viết về Tam Nguyên Yên Đổ cũng nhận xét

“Với nhiều day dứt trong nội tâm, Nguyễn Khuyến đã giải toả mặc cảm bằngnhiều cách và ông đã trở thành một nhà thơ châm biếm lớn; cười mình, cườingười Dùng tiếng cười châm biếm để phủ định để đưa ma cái cũ,” trích

trong: Nguyễn Khuyến trong bối cảnh văn hoá xã hội Việt Nam cuối thế kỷ

XIX- đầu thế kỷ XX [47; 107]

Bài viết của Nguyễn Huệ Chi cũng có những nhận xét về con ngườiTam Nguyên Yên Đổ: “con người đó cũng không quên nhìn lại mình tự vấnmình như một kẻ sỹ chân chính thầm để những giọt nước mắt chảy vào trong

và đành cười nhạo thân phận lơ láo tỉnh say, say tỉnh của mình: Sự đa dạng

và thống nhất trên quá trình chuyển động của một phong cách và dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc [4; 39]

Trong bài viết, Nguyễn Khuyến – thi hào dân tộc của nhà nghiên cứuPGS.TS Vò Thanh đã nói về điều này: “Nguyễn Khuyến lớn chính vì ông làmột trong rất Ýt tri thức thời kỳ Êy sớm nhận ra sự bất lực của giai cấpmình… Ông đem ra trào phúng và châm biếm thần tượng cao nhất của cảmột thể chế xã hội đã tồn tại hàng ngàn năm - Ông tiến sỹ nay đã trở thànhthứ đồ chơi bằng giấy để “dứ thằng cu” “Giá trị phê phán càng trở nên sâu

Trang 5

sắc hơn khi bản thân sự phê phán lại chính là sự tự phê phán – tự trào Bởitrong số những ông nghè tháng tám còn có cả bản thân cụ Tam Nguyên YênĐổ” [43; 12]

Quả thực con người ta tự hài hước mình, tự bôi nhọ mình, tự hạ bệmình và nói như PGS.TS Vò Thanh là “Tự ăn thịt mình” thì thực là khó lắm.Nhưng còn cay đắng hơn khi Nguyến Khuyến nhận ra mình cũng là “métquan nhọ, một tiến sỹ giấy, là bậc ăn dưng, là ông phỗng đá, lão giả điếc”…bài viết này PGS.TS Vò Thanh đã nhận xét: “Nguyễn Khuyến là một trongnhững nhà thơ có những bài thơ tự trào vào loại sâu sắc nhất trong thể loạivăn thơ trào phúng Việt Nam – người giã từ thế kỷ XI X bằng những bài thơcười ra nước mắt: “Năm canh máu chảy đêm hè vắng” [44,13]

Có lẽ nhà nghiên cứu Vũ Thanh là người có thể nói gần đây nhất, trựctiếp nhất đề cập đến mảng thơ tự trào của Nguyến Khuyến và có những nhậnđịnh thật sâu sắc về những vần thơ này Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một

số tác giả khi nghiên cứu về bản thân nhà thơ Nguyễn Khuyến đã Ýt nhiều

đề cập đến mảng thơ tự trào khi nghiên cứu thơ trào phúng

2.1.2 Về nhà thơ Tú Xương

Nói đến Tú Xương là độc giả thường nghĩ ngay mét trong những nhàthơ kiệt xuất của thơ ca trào phúng Việt Nam, trong đó mảng thơ tự tràochiếm một vị trí không nhỏ Thơ tự trào là một mảng thơ thể hiện rất rõ tâmtrạng và con người Tú Xương một cách khá chân thực

Trong cuốn sách Trông dòng sông vị, (Trung Bắc tân văn, xuất bản.

H.1935, nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn tái bản 1949) của tác giả TrầnThanh Mại đã đề cấp đến một phần đời của nhà thơ Tú Xương thể hiện quanhững vần thơ tự trào của ông Đó là những tiếng than thở thiết tha đau đớncủa một kẻ lỡ thời, bây giờ chỉ cầu lấy một cuộc đời bình thường có đượcmiếng ăn nuôi nhau Vậy mà ông không hề lên tiếng trách đời, trách người,trái lại vẫn nhìn cảnh ngộ của mình một cách thản nhiên bằng những tiếng

Trang 6

cười hóm hỉnh nhưng nhiều khi cũng là tiếng cười rơi nước mắt, những điều

Êy ông nói ra bằng giọng trào phúng khôi hài như để nhạo báng bản thânmình hay để che lấp vẻ thảm thiết ảo não của một tâm hồn đau đớn [33]

Bài viết Nhà thơ Trần Tế Xương, Nguyễn Văn Hoàn cũng đã nhận xét

“lịch sử đời riêng của Tú Xương cũng là một lịch sử thất bại, lịch sử của mộtngười suốt đời long đong lận đận vì thi mà chẳng bao giời toại nguyện Cùngvới xã hội thật lố lăng và lý tưởng tiến thân bằng con đường khoa bảng chínhđáng vậy mà suốt đời thất bại, Tú Xương đã tự cười mình qua những vần thơ

tự trào của ông” [21]

Bài Tú Xương- đỉnh cao của thơ trào phúng Việt Nam của Lê Đình Kị

cũng khẳng định “Tú Xương được thời buổi biến thành nhà thơ trào phúnglớn nhất của nền văn học Việt Nam, và ở nhà thơ này hình thức tự trào làhình thức thường dùng và thấm thía nhất, mang ý nghĩa khái quát phát hiệnlớn về tình trạng ý thức đương thời [22]

2.2 Những nghiên cứu về nội dung thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương có liên quan đến đề tài

Thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương phản ánh hiện thực xã hội và cuộcsống, trong đó cuộc sống của chính tác giả được thể hiện khá rõ nét quamảng thơ tự trào

2.2.1 Những nghiên cứu về nội dung thơ của Nguyễn Khuyến

Bài Nguyễn Khuyến trong bối cảnh văn hoá xã hội Việt Nam cuối thế

kỷ XIX đầu XX của tác giả Trần Quốc Vượng ( Theo thi hào Nguyễn Kuyến

đời và thơ) cho thấy sau khi chán ngán quan trường, Nguyễn Khuyến cáoquan về quê làm một cụ nghè sống cuộc đời như “phống đá”, “anh giả điếc”,

“mù loà”, “mẹ mốc”, “gái goá” Sống nh vậy dường nh nhà thơ muốn chạytrốn cuộc đời, chạy trốn giai cấp mà ông đã phục vụ quá nửa đời mình, giaicấp đã đến hồi kết thúc nhưng vẫn cố ngắc ngoải tồn tại khi vai trò lịch sửkhông còn nữa [47; 98]

Trang 7

Cô Tam nguyên Yên Đổ là một trong những chứng nhân cũng là nạnnhân, nhà thơ đã đem danh vị của mình để giễu để cười là “tiến sỹ giấy”,

“là vua chèo, quan chèo” trong một xã hội giả dối như những phương chèomặt nhọ

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng nhận định: “Nguyễn Khuyếnđứng ở tuyệt đỉnh vinh quang của khoa cử và đỗ do thực tài hẳn hoi Êy vậy

mà ông lại thấy cái danh vị Êy vô nghĩa, thấy cái danh tiến sỹ đang giễumình “bỡn ông” và nhử lớp trẻ con “dữ thằng cu”, thấy mình đã lầm khi

đem chí bình sinh đặt nơi khoa bảng: “nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi” Con

người trong sáng tác Nguyễn Khuyến, viết nhân ngày kỷ niệm150 ngày

sinh nhà thơ [41;130]

2.2.2 Những nghiên cứu về nội dung thơ của Tú Xương

Nguyễn Đình Chú với bài viết Tú Xương nhà thơ lớn của dân tộc đã

chỉ ra mét trong những gốc rễ của bản chất hiện thực và trữ tình trong thơ TúXương xuất phát một phần từ cuộc sống hiện thực của ông “Nghèo đói đãcưa xẻ Tú Xương, sự đểu cáng đã vả vào Tú Xương kết quả Tú Xương cũngphải vất vả cay có phát phẫn buồn phiền như ai” Mặc dù vậy nhưng TúXương không chịu để cái nghèo tha hoá mình [7]

Cùng với cái nghèo, chuyện thi cử của Tú Xương còng là một bầu tâm

sự đầy kịch tính

Cái bi kịch của nhân vật Tú Xương là muốn sống hồn nhiên nhưngkhông sao sống nổi, muốn bước ra khỏi cái quẩn quanh vô nghĩa nhưng cũngkhông sao bứơc nổi Trong khi đó cứ phải trương mắt ngồi nhìn cái xã hộithực dân nửa phong kiến đang hiện lên từng ngày từng giờ với bao nhiêu sựthối tha rác rưởi cứ phải nhìn cuộc sống như sụp lở dưới chân mình Cho nênrút cục là phẫn chí có khi nh phát điên phát dại đờ đẫn cả người

Trang 8

Trần Lê Văn cũng đã đề cập đến cái nghèo trong bài Nhà thơ lớn trên

bến vị Hoàng Xưa “Trong những điều than thở của Tú Xương gửi vào thơ phú

có một điều than thở cứ trở đi trở lại nh một điệp khúc “than nghèo”” [47]

2.3 Những nghiên cứu nghệ thuật thơ tự trào của Nguyễn Khuyến, Tó Xương

2.3.1 Những nghiên cứu nghê thuật thơ tự trào Nguyễn Khuyến

Có nhiều nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về nghệ thuật thơ của NguyÔnKhuyến đã đề cập đến nghệ thuật trào phúng của ông tuy nhiên nghiên cứuriêng về mảng thơ tự trào thì còn rất Ýt

Mét trong những bài viết đáng kể nhất là của tác giả Vũ Thanh: Tâm

trạng Nguyễn KhuyÕn qua thơ tự trào Theo nhà nghiên cứu thì “giá trị tư

tưởng nghệ thuật lớn nhất ở đây là sự phản ánh sâu sắc tâm trạng trữ tình củatác giả qua từng chặng đường đời, qua những cảnh ngộ của cuộc sống.Những biển đổi của thời cuộc và sự trưởng thành nhận thức của nhà thơ, từtin tưởng chờ mong đến gan lì chai sạn, từ tin tưởng lạc quan đến thất vọngkhổ đau, từ khẳng định nhiệt tình đến hoàn toàn phủ định” [44; 184]

Tác giả bài viết đã chia thơ tự trào của Nguyễn Khuyến thành haigiọng điệu trào phúng tiêu biểu thể hiện hai loại thái độ với bản thân: Thái

độ tự tin vào bản thân, Từ nghi ngờ đến phủ định

2.3.2 Những nghiên cứu nghệ thuật thơ tự trào của Tú Xương

Trong số những tác giả nghiên cứu thơ trào phúng của Tú Xương,chúng ta cũng thấy không nhiều bài nghiên cứu đề cập đến nghệ thuật tự trào

có lẽ tiêu biểu nhất là bài viết: Thơ Tú Xương với kiểu tự trào thị dân của tác

giả Đoàn Hồng Nguyên, ở bài viết này tác giả khẳng định: Tú Xương có mộtlối trào lộng khá độc đáo trong phong cách tự hoạ chân dung bằng lời hí hoạ

và lời tự chế giếu bôi xấu mình, đó là kiểu tự trào phủ định” [37; 354]

Trang 9

Bên cạnh đó tác giả còn chỉ ra tiếng cười khẳng định của Tú Xương.

Đó là một Tú Xương tài hoa phong lưu thế thiệp của chốn thị thành

Đặc biệt hơn cả ở bài viết này nhà nghiên cứu cũng đưa những nhậnđịnh để so sánh kiểu thơ tự trào của Nguyễn Khuyến và kiểu thơ tự trào của

Tú Xương

Tác giả viết ngoài những bài thơ tự trào một cách trực tiếp là nhữngtiếng cười ý nhị Nguyễn Khuyến còn thể hiện rõ hình ảnh một ông già tựcười mình, thâm trầm mà kín đáo, đó là kiểu tự trào ngôn chí mang tính chấtgiáo hoá, phi ngã hoá, chưa thoát khỏi quy phạm của văn chương nhà nho.Khác với Nguyễn Khuyến Tú Xương có một lối trào lộng khá độc đáo vớikiểu tự trào thị dân

Nh vậy chúng ta có thể thấy: bộ phận thơ tự trào của Nguyễn Khuyến

đã góp phần làm nên một dòng thơ tự trào theo bản ngã trong thơ trào phúngnhà nho Có thể ghi nhận đây là một biểu hiện của sự vùng vẫy nhằm thoátkhỏi khuôn khổ thi pháp văn chương trung đại Tuy vậy thơ tự trào củaNguyễn Khuyến vẫn còn trong khuôn khổ văn chương quy phạm nhà nho, doNguyễn Khuyến vẫn sáng tác trong cảm thức của nhà nho phong kiến

Phải đến thơ tự trào của Tú Xương sự bứt phá đó mới thực sự trọnvẹn Những cảm nhận thị dân của nhà nho thị dân Tú Xương tuy chưa thểhiện được một hình thức diễn đạt mới bằng một thể loại mới, nhưng Ýt nhiều

Tú Xương cũng đã tạo nên một giọng điệu riêng trong kiểu tự trào của mình

Trong cảm thức thị dân, bằng lối tự trào, tự vịnh, Tú Xương đã tạo nênmột kiểu nhà nho thị dân Trước Tú Xương chưa hề có và trong văn chươngtrào phúng hiện đại cũng hiếm có một kiểu tự trào độc đáo nh vậy

3 Nhiệm vụ của luận văn

Thực tế đã cho thấy sức sống và vị trí của hai nhà thơ trong tiến trìnhhình thành và phát triển nên văn học Việt Nam, thơ văn của hai tác giả nhưmột sinh thể có đời sống riêng có vị trí và tầm quan trọng riêng và nếu thiếu

Trang 10

nó thì nên văn học trung đại dường như có một khoảng trống không thể lấp.Thế hệ hậu sinh nh chóng ta khó lòng có thể hiểu được bản chất của một xãhội buổi giao thời tây – ta lẫn lén tranh sáng, tranh tối.

Thấy được giá trị của sự nghiệp thơ văn Nguyễn Khuyến và TúXương, đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu phê bình văn học dành thời gian

và tâm huyết để nghiên cứu thơ văn của hai tác giả Thực tế việc nghiên cứuthơ văn của Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã đạt được rất nhiều nhữngthành tựu ở nhiều phương diện khác nhau: sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứucuộc đời, sự nghiệp, nội dung nghệ thuật thơ văn của hai ông Có nhiều bàiviết, công trình có giá trị khoa học cao khi nghiên cứu sự nghiệp của hai ông

ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó thơ tự trào cũng là mét trong nhữngthể loại đã đem lại sự thành công và phong cách riêng cho từng tác giả Chođến bây giờ cũng đã có một số bài nghiên cứu về thơ tự trào của NguyễnKhuyến, Tú Xương Song chưa có công trình nào đặt vấn đề tìm hiểu so sánhthơ tự trào của hai ông một cách toàn diện và có hệ thống

Như vậy trong luận văn này chúng tôi không tìm hiểu lịch sử nghiêncứu Nguyễn Khuyến, Tú Xương mà cũng không tìm hiểu thơ trào phúng củahai ông nói chung mà chỉ đi vào loại thơ tự trào Nhiệm vụ của luận văn là sosánh một cách có hệ thống, toàn diện thơ tự trào của hai tác giả để từ đó chỉ

ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt giữa hai phong cách thơ NguyếnKhuyến và Tú Xương, góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu hai nhà thơ lớncủa nên văn học trung đại Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là thơ Nôm tự trào của Nguyễn Khuyến và TúXương ( không đi vào tìm hiểu thơ chữ Hán và câu đối) Trong cuốn sách :

+ Thơ văn Nguyễn Khuyến (Xuân Diệu giới thiệu, nhà xuất bản Văn

học – Hà Nội 1979)

Trang 11

+ Thơ Trần Tế Xương (Thơ văn Trần Tế Xương, nhà xuất bản Văn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Thống kê phân loại là một phương pháp thiết yếu, bởi kết quả thống

kê sẽ là cơ sở tư liệu để luận văn có thể phân tích, tổng hợp, rót ra những kếtluận khoa học

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi tiến hành thống kê phân loạitheo những yêu cầu sau:

+ Số bài thơ tự trào

+ Phân loại nội dung tự trào

+ Thống kê phân loại hình tượng tự trào, ngôn ngữ tự trào, các thủpháp tự trào

Trang 12

Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích những bài thơ cụ thể đểlàm sáng tỏ những điểm chung và riêng về nội dung và nghệ thuật thơ tự tràocủa Nguyễn Khuyến và Tú Xương.

6 CÊu trúc luận văn

- Phần kết luận

Trang 13

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: THỐNG KÊ PHÂN LOẠI 1.1 Một số khái niệm về thơ tự trào

- Tự trào có thể hiểu là một loại trào phúng nhưng đối tượng tràophúng là chủ thể (có nghĩa chính bản thân tác giả)

Vậy muốn hiểu được khái niệm “tự trào” trước hết chúng ta phải tìmhiểu thế nào là “trào phúng”

- Trong cuốn “Từ điển Hán Việt” từ “trào phúng” được giải nghĩa nh sau:

+Trào: Cười ( cười nhạo), giễu (chế giếu)+ Phóng: Nói bóng gió, nói ví

+ Trào phúng: có nghĩa là nói ví để cười nhạo, là châm biếmgiễu cợt, “trào phúng” cũng có nghĩa mượn lời bóng gió để tạo ra tiếng cườichâm biếm giễu cợt

- Từ nghĩa của từ “trào phúng” ta có thể suy rộng ra nghĩa của từ “tựtrào”

+ Tự: có thể hiểu là tự mình, tự chính bản thân mình

+ Trào: Cười ( cười nhạo) giễu ( chế giễu) nh vậy “tự trào” cóthể hiểu là: tự cười mình, tự chế giễu mình

+ Thơ tự trào là thơ làm ra để tự cười mình, tự chế giễu mình

mà trong đó đối tượng được cười nhạo trong thơ tự trào chính là chủ thể.Nóicách khác đối tượng cười nhạo trong bài thơ là chính tác giả Cũng có thểnói thơ tự trào là thơ trào phúng mà trong đó đối tượng trào phúng chính làbản thân chủ thể trữ tình

1.2 Thống kê phân loại

Trang 14

Để xác định cơ sở cho việc nghiên cứu và so sánh thơ tự trào của haitác giả một cách có khoa học, chúng tôi thống kê trước hết là số bài thơ tựtrào ( kể cả những bài chỉ có một vài câu hoặc những bài ngầm ngụ ý tự trào)

Trong việc thống kê nội dung tự trào chúng tôi đã chia thành hai nộidung lớn sau:

- Tự trào về diện mạo: + Tự trào về cách ăn mặc

+ Tự trào về dáng vẻ, đi đứng + Tự trào về phẩm chất, tính cách

- Tự trào về cuộc sống: + tự trào bản thân

+ tự trào về gia đìnhTrong thực tế khảo sát hai nội dung trên, nổi lên vấn đề: trong nộidung tự trào về diện mạo, đằng sau những tiếng cười nhiều khi Èn chứa biểu

lộ phẩm chất, tính cách của chủ thể Nhiều khi trong tiếng cười về tính cáchlại thể hiện phẩm chất, tính cách của nhà thơ của nhà thơ: Ví dụ trong bài TúXương tự cười mình

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành

Mắt thời thao láo mặt thời xanh Vuốt râu nịnh vợ con bu nã

Quắc mắt khinh đời cái bộ anh

Ta thấy dáng vẻ của tác giả trong bài thơ thật không có chút cảm tìnhTác giả tự giễu mình với một bộ mặt “mắt thì thao láo” “mặt thì xanh” Đằngsau hình hài Êy là con người với tính cách khinh đời ngạo thế “tứ đốm tamkhoanh” lung tung bừa bãi, và lại hay nịnh vợ, ông phèng sành vô tích sự.Bằng lối cường điệu hoá Tú Xương đã tự giễu chính bản thân mình, từ dáng

vẻ, đến phẩm chất tính cách

Trang 15

Nói như vậy để thấy một bài thơ bao gồm nhiều nội dung tự trào: Do

đó trong việc thống kê nội dung tự trào chúng tôi tạm chia một cách tươngđối thành hai nội dung lớn:

- Tự trào diện mạo

- Tự trào cuộc sống

Về phần nghệ thuật tự trào, chúng tôi đi vào thống kê nghệ thuật xâydựng hình tượng tự trào gián tiếp (hình tượng Èn dô) Bên cạnh những hìnhtượng Èn dụ xuất hiện thấp thoáng trong mỗi bài thơ thì có một số bài thơ tựtrào mà tác giả đã sử dụng hình ảnh Êy trong toàn bộ bài thơ ( Anh giả điếc,

Mẹ mốc, Tiến sỹ giấy….Nguyễn Khuyến) ( Chú mán… Tú Xương)

Nghệ thuật sử dụng ngôn từ và các thủ pháp tự trào, chúng tôi sẽ thống

kê trong quá trình phân tích

Tự trào gián tiếp ( thông qua hình

Nhìn vào bảng thống kê ta thấy có sự khác biệt thật rõ rệt trong mảngthơ tự trào của Nguyễn Khuyến và Tú Xương Không nói đến số lượngnhững bài thơ, mà điều ta thấy rõ nhất là ở nôi dung tự trào

+ Nguyễn Khuyến có 23 bài thơ tự trào, trong đó:

- Tự trào về diện mạo: 11 bài

- Tự trào về cuộc sống: 16 bài+ Tú Xương có 48 bài thơ tự trào, trong đó:

Trang 16

- Tự trào về diện mạo: 18 bài

- Tự trào về cuộc sống: 24 bàiXin xem bảng thống kê dưới đây:

Thơ tự trào của Nguyễn Khuyến:

Nội dung tự trào

Cáchănmặc

Dáng

vẻ điđứng

Phẩmchất,tính cách

Bảnthân

Giađình

Trang 17

Thơ tự trào của Tú Xương:

Nội dung tự trào

Cách

ăn mặc

Dáng

vẻ, điđứng

Phẩmchất, tínhcách

Bảnthân

Giađình

Trang 19

Với Nguyễn Khuyến nội dung tự trào của nhà thơ dường nh được chiađều từ dáng vẻ, phẩm chất, tính cách đến bản bản thân và gia đình Còn với

Tú Xương, số lượng những bài thơ tự trào của ông nghiêng hẳn sang nộidung tự cười, tự giễu bản thân và gia đình mình Điều này cũng một phầncho ta thấy hai nhà thơ cùng xuất thân là một nhà nho cùng quê hương cùngsống trong xã hội phong kiến buổi giao thời nhưng là hai con người khácnhau ắt phải có sự khác nhau trong “tiếng cười” của họ

Bên cạnh những điều khác nhau hiển nhiên Êy thì chúng ta cũng thấyhai nhà thơ cũng đã gặp nhau ở nhiều điểm chung trong loại thơ tự trào, tựcười chính bản thân mình Từ mảng thơ trào phúng chế giễu, cười cợt thiên

hạ, cười cợt xã, đến mảng thơ tự trào đã góp phần không nhỏ để làm nên cái

“tôi” riêng của hai nhà thơ

Vậy do đâu mà có sự giống nhau và khác nhau giữa Nguyễn Khuyến

và Tú Xương ở mảng thơ tự trào

Trước hết là những điểm giống nhau:

Thơ tự trào là thơ tự cười mình hay nói cách khác là thơ lấy đối tượngtrào phúng là chủ thể trữ tình

Trong thể loại thơ tự trào, chúng ta đều thấy cả Nguyễn Khuyến và

Tú Xương đều cười mình từ hình dáng, đến tính cách, phẩm chất, sở thích cánhân, tự trào cuộc sống gia đình

Nguyễn Khuyến và Tú Xương cùng sống trong giai đoạn xã hộiphong kiến đã hết thời, thay vào đó là một bộ máy thống trị quan liêu do bọnthực dân Pháp cầm đầu cùng với hệ thống bọn tay sai từ lớn đến bé với biếtbao nhiêu điều ngang trái lố bịch nhố nhăng nửa tây nửa ta “dở ông dởthằng” Với một cái gốc “nho” hai nhà thơ của chúng ta chắc hẳn cũng hếtsức đau lòng khi phải chứng kiến xã hội đảo điên nh vậy

Trang 20

Trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ, Nguyễn Khuyến và Tú Xươngkhông có nơi phát huy tài năng, chí lớn Nguyễn Khuyến đã phải từ quan vềquê Còn Tú Xương có muốn ra làm quan cũng thật khó Cuộc đời của conngười nhiều chữ nh Tú Xương vẫn cứ chìm đắm trong thi cử và hỏng thi.Chính vì thế, họ cùng cất lên tiếng cười chế giễu chính bản thân mình, qua

đó phản ứng lại trước hiện thực xã hội

Sống và phục vụ xã hội nhố nhăng với tầng lớp vua quan bù nhìn thìmột bậc “đại nho” như Nguyễn Khuyến cho dù có giữ chức quan to danh giáthì cuối cùng nhà thơ cũng nhận ra được bản chất xã hội đã hết thời mà vẫncòn cố cựa quậy để lấy chút sinh khí Nhà thơ đã cương quyết từ quan để trở

về sống cuộc sống thanh sạch chứ nhất quyết không chịu hợp tác với chínhquyền thực dân Còn Tú Xương đã từng dành cả cuộc đời để theo nghiệpnghiên cứu bút, mong được đậu khoa bảng để cống hiến bằng chính năng lựccủa mình nhưng vẫn cả đời lận đận cả đời hỏng thi cả đời phải “phó mặc”cơm áo gạo tiền cho “con bu nó”, Êy vậy mà nhà thơ vẫn không chịu bánmình cho bè lũ tay sai cùng với lũ cướp nước

Với những phẩm chất cao đẹp nh vậy, Nguyễn Khuyến và Tú Xươngđương nhiên sẽ trở nên lạc lâng, khác lạ với thời cuộc Hai nhà thơ càngcảm thấy sự bất lực, vô tích sự của bản thân mình Họ nhận thức được rõđiều gì đang sảy ra, nhận ra cái xấu xa ôi bẩn đang lấn dần sự trong sạchthuần khiết mà chính bản thân mình bất lực

Điểm khác nhau:

Chóng ta thấy nội dung thơ tự trào của hai nhà thơ có khá nhiều nhữngđiểm khác nhau Điều này xuất phát từ hai con người khác nhau, hai cuộcsống khác nhau, và hai hoàn cảnh khác nhau

Nguyễn Khuyến lớn lên trong gia đình nho học danh giá và ông cũng

là một trong những người thành công trong con đường khoa bảng Ông đãlàm quan gần 10 năm điều đó Ýt nhiều giúp gia đình ông, cuộc sống của ông

Trang 21

dễ chịu hơn Nguyễn Khuyến không phải chịu hoàn cảnh thi cử lận đận màcon đường quan lộ cũng đã cởi mở đối với ông Nhưng khi đã nhận ra bảnchất xã hội mà nhà thơ đã nuôi hy vọng thì mọi cái hầu nh đã sụp đổ NguyễnKhuyến đau đớn nhận ra mình cũng chỉ là ông “quan nhọ” là “tiến sĩ giấy”

để “dử thằng cu” mà thôi Do vậy tiếng cười của Nguyễn Khuyến tự giễumình nhưng cũng tự để khẳng định mình

Khác với Nguyễn Khuyến, Tú Xương cũng là một nhà nho nhưngkhông phải là một bậc đại nho nh Tam nguyên Yên Đổ Cuộc sống của TúXương đắm chìm trong học hành và những lần thất bại trong thi cử Mộtcon người được Nguyễn Khuyến cho rằng tiếp nối được mình chỉ có TúXương, Êy vậy mà qua tám lần thi cử ( tổng cộng 16 năm đèn sách) vớicuộc đời “tài dầy nhưng mệnh mỏng” thì 16 năm hỏng thi đã lấy ở TúXương đến nửa cuộc đời

Cuộc sống của Tú Xương cũng thật chật vật trong cơm áo gạo tiền,ông hoàn toàn phó mặc việc nuôi gia đình cho người vợ tảo tần Đối với việcnước, ông cũng bất lực, đến việc nhà ông cũng là kẻ vô tích sự, chÝnh vìnhững lý do Êy mà nội dung tự trào của ông có những điểm khác so với thơ

tự trào của Nguyễn Khuyến

Nh vậy cùng với Nguyễn Khuyến , Tú Xương cũng muốn dùng tiếngcười để làm nhẹ bớt đi, vơi bớt đi nỗi lòng mình.Vì vậy thơ tự trào thể hiệntâm trạng trữ tình của các tác giả qua từng cảnh ngộ từng chặng đường đời

Vì tự thấy mình bất lực trước thời cuộc sinh ra chán nản buồn đau cố gắngdấu diếm tâm trang của mình trong nụ cười châm biếm, khôi hài nhưng lắmkhi nụ cười cũng chỉ là cái mắm môi chua chát

Cho dù xuất phát từ những hoàn cảnh khác nhau và cùng là những conngười tài hoa lỗi lạc “ưu thời mãn thế” hai nhà thơ đã có những bài thơ để tựcười chính mình, chỉ có những con người như vậy mới nhận ra được mình là

ai và tại sao mình lại thất đáng cười Trong mỗi chúng ta liệu có ai có thể

Trang 22

nhìn thấy cái đáng cười của mình, chúng tôi nghĩ là sẽ có nhưng chắc chắn làkhông nhiều.

Trang 23

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TỰ TRÀO2.1 Tự trào về diện mạo

Nói đến diện mạo là nói đến hình thức bên ngoài Trong cuộc sống đểnhận biết phân biệt người này với người kia trước hết là ở diện mạo bênngoài

Các cụ xưa thường nói: “nhìn mặt mà bắt hình rong” “người hiền nóhiện ra mặt”: Con người ta khi gieo hành vi sẽ gặp thói quen, gieo thãi quen

sẽ gặp bản chất, gieo bản chất sẽ gặp số phận Chính vì vậy khi nhìn diệnmạo của con người, ta có thể cảm nhận hay linh cảm, đoán định tính cách sốphận con người Êy qua diện mạo của họ

Như vậy ta có thể nhận thấy diện mạo cũng góp một tiếng nói nhỏvào sự thể hiện bản thân con người Êy

Từ những vần thơ tự trào về diện mạo, Nguyễn Khuyến và Tú Xương

đã khắc hoạ hai bức chân dung từ góc nhìn biếm hoạ về chính mình, giúpchúng ta phần nào có thể hình dung ra con người, cuộc sống của tác giả

2.1.1 Tự trào về cách ăn mặc

Mảng thơ tự trào về cách ăn mặc của hai nhà thơ chiếm số lượng Ýthơn so với những mảng thơ tự trào mang nội dung khác Theo số lượng

thống kê thì Nguyễn Khuyến có 3 bài :Vịnh tiến sỹ giấy I, II và bài Ngày

xuân dặn các con Tú Xương có 4 bài:Tự đắc, Phú hỏng thi, Mùa nực mặc áo bông, Hỏng khoa canh tý Nhưng bài thơ trên có những câu thơ Èn hiện nội

dung tự trào này

Như chóng ta thấy, ở trong cuộc sống hàng ngày, cách ăn mặc cũngthể hiện rõ con người

Nguyễn Khuyến và Tú Xương sống cách chúng ta hàng trăm năm điềukiện kinh tế xã hội đó cũng hoàn toàn khác với bây giờ Có lẽ cách ăn mặccho thấy được địa vị và hoàn cảnh sống của nhà thơ

Trang 24

Không trực tiếp tự trào về lối ăn mặc của mình nhưng Nguyễn Khuyến

đã kín đáo thể hiện điều này qua những vần thơ miêu tả ông tiến sỹ giấyđược bán ngoài chợ làm đồ chơi cho trẻ con, ông tiến sỹ Êy không phải aikhác mà chính là nhà thơ

Nguyễn Khuyến trên con đường công danh sự nghiệp ông đã đỗ đếnTiến sĩ và được làm quan trong chiều đình đó là một học hàm cao nhất trong

xã hội thời đó quan phục cũng một phần tạo cho ông nghè thêm sự uy nghicủa chức quan thời đó

Cũng cờ cũng biển cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai”

(Vịnh tiến giấy)

Quả thực quân áo quan phục, cũng làm nên chức danh “có cờ, biển”

“cân đai” là ta có thể nhận ra đó là ngài tiến sỹ, là ông quan nghè, chức vịdanh giá như vậy với bé quan phục oai phong như thế lẽ ra con người Êyphải thật tự hào song sự thật lại không như vậy Nhà thơ của chúng ta thực

sự đã nhận ra cái chức vị đó không giá trị gì chẳng qua chỉ là một tờ giấy bọc

ở bên ngoài nó như một thứ đồ chơi dựng nên để cho đẹp

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng Nét son điểm rõ mặt văn khôi

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

(Vịnh tiến sỹ giấy)

Khi đã rời bá quan trường, rời bỏ cái chức danh nh là thứ đồ chơi xanh

đỏ khoe mẽ nh con tò he ngoài chợ, Nguyễn Khuyến trở về với cuộc sống thật Èn dật nơi thôn quê nhàn tản mà trong lòng không nguôi

Sách vở Ých gì cho buổi Êy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

( Ngày xuân dặn các con)

Trang 25

Quả thực trong xã hội thời buổi Êy sách vở thật chẳng Ých gì, giả sửnếu có đỗ đạt bằng tài thực được đứng trong hàng ngũ quan trường, xiêm áothì rồi sau này cũng tù “thẹn” Nguyễn Khuyến thấy xót xa cho sự thành đạtcủa mình, nhà thơ cười nhạo cho diện mạo mũ áo xênh xang “Tưởng rằng

đồ thật” nhưng “cũng hoá đồ chơi” Làm quan giúp dân giúp nước là điều

mà ai cũng muốn nhất là đối với kẻ sĩ thời xưa, Êy vậy mà khi về già nhà thơcủa chúng ta phải “thẹn” vì sự đỗ đạt làm quan của mình Cũng dễ hiÓu thôi,tưởng rằng được dốc hết tài năng để giúp dân giúp nước nhưng NguyễnKhuyến đâu ngờ đó chỉ là thứ đồ chơi bày cho đẹp Ông tiến sĩ cũng đủ cả cờbiển, mũ áo vua ban những tưởng có tài kinh bang tế thế hoá ra cũng chỉ làthứ đồ chơi Ta bắt gặp ở đây cái cười chua chát mà đắng cay, cái cười ranước mắt, buồn mà đau, nhẹ mà thấm Quả thực đã qua rồi cái thời làm quanxuất xử để hành đạo, thực hiện lý tưởng trung quân, còn làm quan bây giờvới nhiều người không ngoài mục đích gì khác là kiếm tiền và danh lợi.Chính vì điều đó, cũng dễ hiểu tại sao Nguyễn Khuyến lai cười xót xa chocái dáng vẻ mũ áo xênh xang trước kia của mình

Ghế gậy cân đai thế cũng là

Khác với vẻ cờ biển cân đai, xiêm áo, quan trường, Tú Xương nhà mộtđời lận đận mong ước có được cờ, biển, cân đai, xiêm áo của vua ban.Nhưng với mục đích làm quan để xuất xử hành đạo, cho đến lúc mất, nhà thơcũng không thể đạt được cái ước vọng đó

Qua những vần thơ tự trào về lối ăn mặc của chính tác giả, phần nào

đã cho chóng ta thấy được hoàn cảnh cuộc sống của nhà thơ

Như chóng ta thấy ngay ở trong bài Phú háng thi, Tú Xương tự

khai “lý lịch” của mình có câu “con nhà dòng dõi ở đất Vị Xuyên ănphần cảnh nọng” Có thể mượn câu thơ của cụ Nguyễn Du để nói về dòngdõi của Tú Xương

“Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”

Trang 26

Theo tục lệ thời xưa, trong mỗi kỳ hội hè đình đám, tế lễ xong lộcthánh được chia theo phần ngôi thứ, người giữ chức vụ cao trong làng đượcphần sỏ( lợn, trâu, bò) còn thấp hơn một bậc được phần 1 khoanh cổ của conthú gọi là phần “cảnh nọng” như thế ta thấy gia cảnh của cụ thân sinh ra nhàthơ cũng thuộc vào loại “thường thường bậc chung” vì do buôn bán mà tậuđược ba ngôi nhà ở phố Hàng Cót kinh tế cũng khá vì vậy tuổi thanh niêncủa Tú Xương ông lúc nào cũng hào hoa phong lưu

Quanh năm phong vận áo hàng tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh

Ra phố nghênh ngang quần tố nữ, bÝt tất tơ, giày Gia Định bóng

Ăn mặc vẫn ra người thế thiệp

(Tự đắc)

Nhưng quả thực “cơm áo gạo tiền” không đùa với khách thơ, cả giađình đông miệng ăn chỉ trông vào một mình bà Tú mà Tú Xương thì vẫn laođao lận đận hỏng trường thi Thôi thì để tự động viên nên mình không phải làngười ăn bám vợ, nhà thơ đã tự nhận mình là thầy đồ dạy học cho con bà

Tú Một thầy đồ rách rưới thật đáng thương, lại thêm phần ăn uống xô bồ:

Trang 27

Phải chăng tự hoạ mình xấu xí như vậy Tú Xương mới vơi nhẹ nỗilòng của một người được xem là vô tích sù Có khi dù đang là mùa hè nóngnực nhưnng nhà thơ chỉ có một chiếc áo bông

Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông Tưởng rằng ôm dậy hoá ra khôngMột tuồng rách rưới con nh bè

Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng

(Mùa nực mặc áo bông)

Câu thơ làm cho ta bật cười xót xa, một sự cảm thương xâu sắc đối vớinhà thơ không còn đâu cái ngày “Giày dôn anh giận ô tây anh cầm” mà thayvào đó là “Một tuồng rách rưới con nh bố” Phải chăng Tú Xương mỉm cười,đầu tiên là để cho vơi nhẹ tâm trạng của mình sau nữa là bật cười sót xa chocon người mình tiếng là “kìa thơ tri kỷ đâu anh nhất” văn chương thế thiệp,học rộng tài cao mà vẫn phải ăn nhờ vợ

Nh vậy, cách ăn mặc của Nguyễn Khuyến cho ta thấy ông là mộtngười có địa vị trong xã hội, mũ áo xênh xang nhưng rút cuộc cũng chỉ làđấng “bù nhìn” cho xã hội thực dân Còn Tú Xương con người vốn phonglưu, “giày Gia Đinh, ô lục soan xanh” nhưng sự nghèo túng đã biến nhà thơtrở thành kẻ rách rưới, ăn uống xô bồ

Cũng là cười về lối ăn mặc của mình, nhưng mỗi nhà thơ có một hoàncảnh khác nhau nên tiếng cười thật cũng khác nhau Người thì cười vì mình

đã từng có một phong cách ăn mặc “sang trọng” trong quan phục đến khingẫm lại thì thấy thật đáng hổ thẹn, còn người thì cười dù mình khó khănsong phong cách vẫn đĩnh đạc vẫn giữ được vẻ phong lưu thế thiệp trướccuộc đời lộn nhộn Nhưng cuối tiếng cười trở nên xót xa khi áo cơm khôngphải là thứ viết ra là có, công danh không phải thực tài mà được

Trang 28

Quả thực áo quần không làm nên một con người nhưng một phần nócũng thể hiện được hoàn cảnh vị trí của con người Êy trong xã hội Vớinhững vần thơ tự trào về kiểu ăn mặc của mình, tác giả đã một phần thể hiệncon người mình, tâm trạng và bản lĩnh của mình Dù sang hèn hay rách rướinhưng hai nhà thơ của chúng ta vẫn thể hiện đươc tài năng và đức độ VớiNguyễn Khuyến dường như là sự thể hiện: ta đã làm đến tiến sĩ đấy nhưngbây giờ ta cảm thấy thẹn với lòng mình, vì mình đã từng làm một ông quantưởng rằng oai phong để phò vua giúp nước, ai dè cũng chỉ là thứ bù nhìn màthôi Còn với Tú Xương thì dường như đó là một sự phản kháng của một conngười tài cao mà không có đất dụng

là thể loại dùng để trào phúng gây cười thì ắt không Ýt người sẽ hình dung ramột Tú Xương “Mặt bủng da trì bụng ỏng …” Với bộ dạng nh vậy khó aihình dung được bên trong hình hài Êy là một con người tài cao, phong lưu,xuất khẩu thành thơ khiến người đời phải ngưỡng mộ

Ở Nguyễn Khuyến, mảng thơ tự trào về dáng vẻ đi đứng, phần líncho chóng ta thấy hiện lên một lão ông răng rụng, tóc bạc nhưng tâm hồnthì vẫn rất khoẻ Tác giả vẫn tự khẳng định mình cho dù đã “vẫy vùng” bốn

bể trải qua nhiều sóng gió khó khăn trên đường đời nhưng mình vẫn cònsung sức lắm:

Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe

(Về hay ở)

Trang 29

Tóc bạc lòng son chửa dám già

(Về nhà nghỉ)

Từ những câu thơ trên có thể thấy tác giả là một con người khá lạcquan với tiếng cười tự tin, vào bản thân Cho dù tuổi đã già nhưng tấm lòngmuốn cống hiến cho non sông đất nước, dân tộc thì dường nh còn khoẻ lắm.Nhà thơ nghĩ rằng sự cống hiến của mình từ trước đến giờ vẫn còn chưa đủ,vẫn chưa thoả lòng cho nên dù tuổi đã cao, đã đến lúc phải nghỉ ngơi nhưngnhà thơ vẫn “chửa dám già” Hay vì đất nước còn gian truân, nhân dân cònđói khổ, một tấm lòng vì dân, vì nước như nhà thơ sao đành lòng đứng yên?Cũng vì lý tưởng “Trung quân ái quốc”, hết mình cống hiến cho nhân dânnên tiếng cười của nhà thơ là sự chứng tỏ niềm tin, sự khát khao cống hiến

Nhưng rồi với thời gian nhà thơ đã không còn vẻ tự tin “khoẻ khoe” nữa

mà thay vào đó là một ông lão thật đáng thương từ chốn quan trường về quê ởÈn:

Vườn Bùi chốn cũBốn mươi năm lụ khụ lại về đây

(Trở về vườn cũ)

Dường như quãng thời gian ở chốn quan trường đã vắt kiệt sức lựccủa nhà thơ, nay còn lại một cụ già sau bao năm “bôn ba” lại lụ khụ trở vềvới chốn yên bình khi trước Nếu nh tính ước chừng thì Nguyễn Khuyếncũng chỉ ngoài 50 tuổi Năm mươi tuổi người ta còn sung sức lắm Êy thế màNguyễn Khuyến thấy mình đã lụ khụ như mét ông già Có lẽ nhà thơ đã thấymình quá mệt mỏi và đã già sau những tháng năm vật lộn ở chốn quantrường Bây giờ trở về chỉ còn là một hình hài ông lão không còn sức Thậtchua chát vì nỗi vô tích sự của mình Không phải tác giả vô tích sự thật sự

mà đó là cái cười chua xót, sự bất lực của bậc tài cao đức trọng

Ở bài lên lão Nguyễn khuyến viết:

Trang 30

Năm lăm ông cũng lêo đđy mă

Bđy giờ đến bậc ăn dưng nhỉ

Có rượu thời ông chống gậy ra

Mới năm mươi mă đê đến bậc “ăn dưng”, không cần phải đóng góp gì

cả vì đê được lín lêo Tam nguyín Yín Đỗ mới ở độ ngũ tuần, có lẽ chưađến mức phải chống gậy nhưng nhă thơ gắn chiếc gậy văo mình cho có vẻ lẵng lêo với đầy đủ ý nghĩa của từ năy Đđy chính lă điều mă ông muốn lăm

để căng trânh xa chỉn quan trường (vì khi đê về quí ở Ỉn nhưng chế độ thựcdđn vẫn mời ông ra lăm quan) Ta có cảm giâc tâc giả xót xa khi mình đêphải “lín lêo”, lă “bậc ăn dưng” Nhưng thời thế khi Íy vẫn không thay đổikhiến cho những thâng ngăy chờ mong ở chốn vườn Bùi cứ trôi đi vùn vụt:

Thâng ngăy thấm thoât tựa chim bay Ông ngẫm mình ông thế cũng hay

Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ

Răng long ngăy trước hêy còn đđy

(Tự thuật)

Tuổi thím, thím được tóc rđu phờ

Nay đê năm mươi có lẻ ba

(Ngăy xuđn dặn câc con)

Với dâng vẻ “tóc bạc”, “răng long”, “tóc rđu phờ” quả thực qua chđndung tự hoạ Nguyễn Khuyến nh đê giă lắm rồi Nhưng so với tuổi thọ củanhă thơ lă 74 thì 53 tuổi vẫn còn khoẻ lắm vă trẻ lắm Phải chăng câi sự giă

Íy lă giă về ý chí, về khât khao được cống hiến của bậc cao nho vốn coiviệc phò vua giúp nước lă nghĩa vụ của cả đời mình, nay giữa buổi thế thờithay đổi, xê hội nhố nhăng nín mới ngoăi năm mươi mă nhă thơ đê phải vềquí ở Ỉn để lín bậc “ăn dưng”

Trang 31

Cảm nhận về dáng vẻ già nua của mình, trong thơ Nguyễn Khuyến đãbắt đầu xuất hiện hàng loạt những tiếng cười đau đớn, xót xa, cười ra nướcmắt, tiếng cười là sự nhạo báng chính mình, phủ nhận chính mình:

Còng chẳng giàu mà cũng chẳng sang Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng

(Tự trào)

Nếu nh trước kia nhà thơ đã từng làm tới quan tổng đốc thì nay thayvào đó là một ông già giả câm, giả điếc:

Khéo ngơ ngơ, ngác ngác, ngỡ là ngây

(Anh giả điếc)

Thay cho ý thức “trí quân, trạch dân” là một thái độ:

Đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ

Rằng khôn cũng kệ rằng khờ cũng thây

(Anh giả điếc)

Quả thực đó là một nỗi đau khổ, thất vọng, dằn vặt của một con ngườimuốn cống hiến hết sức mình nhưng nhưng trươc hiện thực “đau đớn lòng”đành phải trở thành “anh giả điếc” Nỗi đau Êy của nhà thơ là một nỗi đau sâusắc, cái anh giả điếc Êy cũng khiến cho người đời khâm phục với tấm lòng caocả:

Thà chết trong còn hơn sống nhục

Cũng vì hoàn cảnh xã hội mà nhà thơ của chúng ta đã rơi vào tâmtrạng bất lực Ông không còn tin tưởng vào sự bền vững của xã hội mà ônghằng dầy công phục vụ và tôn thờ, ông đã không còn tin vào cả những lớpngười đại diện cho chế độ Êy, cái chế độ bắt tay và cúi đầu làm tay sai chongoại bang Là một bậc đại nho, cho dù tư tưởng trung quân có lớn đến đâunhưng với chế độ lúc bấy giờ thì nhà thơ cũng không thể thoả hiệp, cũngkiên quyết khước từ, chối bỏ và chĩa mũi nhọn trào phúng vào nó Nghĩ lại

Trang 32

những ngày tháng còn trong quan trường đã đạt đến bậc tiến sĩ, NguyễnKhuyến không thể không xót xa cho bản thân mình, đến mức nhà thơ đã bậtlên tiếng cười nhạo báng bản thân mình và nhạo báng cả xã hội Tưởng rằnghọc rộng tài cao đỗ đạt cao để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân nhưng rốtcuộc cũng chỉ là “tiến sĩ giấy”:

Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi

(Vịnh tiến sĩ giấy II)

Và chóng ta thấy nỗi xót xa của tác giả cũng được nhẹ bớt đi quanhững câu thơ trào phúng:

Rõ chó hoa man khéo vẽ trò

Bỡn ông mà lại dứ thằng cu

(Vĩnh tiến sĩ giấy I)

Có mét sự độc đáo là cái hài hươc Êy đã xuất phát từ trong lòng đốitượng bị phê phán Nhà thơ đã từng làm đến quan tổng đốc, được xã hộidành cho những tôn vinh nhưng thứ tôn vinh Êy hoá ra cũng là ảo tưởng Tựgiễu cợt mình, tự nhạo báng mình cũng chính là tác giả đã giễu cợt cả mộttầng lớp đại diện cho một xã hội đã hết thời Quả thực ở góc độ này, chóng tathấy Nguyễn Khuyến là một trong những người sớm nhận ra bản chất thậtcủa tầng lớp mình Ông đã nhìn thấy sự vô nghĩa của bản thân, của giai cấpphong kiến trước những yêu cầu mới của lịch sử Chính những điều đó đã trởthành một bi kịch cứ dằng dai trong lòng nhà thơ:

Trang 33

những cám dỗ thấp hèn Có lẽ quyết định của nhà thơ là đúng đắn, nhà thơ

đã trở về chốn làng quê yên bình để ở Èn, hoà đồng vào cuộc sống dân dã,tắm mình trong thiên nhiên làng quê sạch trong mà mát rượi, hàng ngàyuống rượu ngâm thơ:

Thung thăng chiếc lá rượu lưng bầu

Dở dở lại ương ương

Cao lâu thường ăn quỵt

Thổ đĩ lại chơi lường

( Tự vịnh)

Với lỗi vẽ chân dung kiểu “bôi đen” này, Tú Xương thật là đặc biệt,một con người có thể nói là tài giỏi hơn người Ông là người có tài năng đặcbiệt nhưng tài năng của ông không thích hợp với sự đòi hỏi của chế độ thi cử

từ bao thế kỷ vẫn dập khuôn cổ hủ cứng nhắc Vì thế mà ông Tú Vị Xuyên

cả đời lận đận ở khoa trường mà cũng chỉ đậu ở mức Tú tài Còn ngược lạinhững kẻ vô tài dốt nát nhờ có tiền tài, thế lực lại dành được những học vịTiến sĩ, cử nhân Giá trị trong xã hội bị đảo lộn, đồng tiền trở thành điềuquan trọng có thể quyết định được vân mệnh của một con người

Trang 34

Xuất thân từ một nhà nho Tú Xương đau khổ vì phải sống trong cái xãhội Êy Thời của ông là thời mà uy thế của bọn thực dân đang lên nh diềugặp gió Những điều mắt thấy tai nghe đã khiến Tú Xương trở thành một câybút trào phúng xuất sắc.

Việc Tú Xương thoá mạ cả xã hội loài người cho ta thấy xã hội Êy quả

là thối nát, các hạng người trong xã hội Êy phần nhiều ươn hèn, khiếp nhượctồi tệ Nhà thơ đã bất mãn đến cao độ thì mới có được giọng hằn học, trắngtrợn, sỗ sàng khi ông đề cập đến một số loại người tha hoá trong xã hội Êy

Với lối trào phúng trực diện không nể nang, dồn dập nh hắt nước vàomặt đối tượng trào phúng, Tó Xương không thể để chân dung mình đĩnh đạchay nho nhã của một thư sinh đang theo đòi nghiên bút Có lẽ vì thế tác giả

đã bôi đen mình thật chẳng ra gì, giống như xã hội đương thời, có nghĩa TúXương muốn cho mọi người thấy mình cũng là một người tha hoá, thế mớihiểu xã hội, thế mới chửi được sâu sắc

Nhiều lóc Tú Xương cũng tự nhận thấy bản thân:

Chẳng phải quan, chẳng phải dân

Ngơ ngơ ngẩn ngẩn hoá ra đần

Con người phong nhã

Ở chốn thị thành

Râu rậm bằng chổi

Đầu to tày giành

Trang 35

(Thầy đồ dạy học I)

Như vậy không phải lúc nào Tú Xương cũng nhìn bản thân mình bằngmột cái nhìn đen đúa.Với giọng điệu hóm hỉnh, bức hí hoạ ở trên cũng làmột bức chân dung tự hoạ xấu xí “đầu to”, “râu rậm” Nhưng quả thực nóvẫn phảng phất đâu đó một nét đẹp của một “thầy đồ” với kiểu cười nhẹnhàng hóm hỉnh chứ không để lại dư vị của cái cười nặng nề như cách nhàthơ tự giễu mình ở trên

Với cách bôi xấu mình như vậy, Tú Xương luôn luôn hiện lên với vẻ

bề ngoài thật khác người Khi thì như kẻ bủng beo, khi thì như vẻ lơ láo, khithì giống như một người rừng … nhưng với cách Êy Tú Xương đã tạo nên vẻngoài của mình là một con người thật xấu xí

Như vậy thông qua cách tự trào về dáng vẻ của mình, Nguyễn Khuyến

và Tú Xương đã tự vẽ cho mình bức hí hoạ chân dung nhưng mỗi người mộtcách Đằng sau những bức chân dung tự vẽ Êy, mỗi nhà thơ đều gửi gắm mộttâm trạng khác nhau Mỗi người một kiểu cười mình nhưng chúng ta thấycác nhà thơ không chỉ vẽ chân dung mình để cười mà cả hai nhà thơ còncười cả thiên hạ

2.2 Tự trào về phẩm chất tính cách

2.2.1 Nguyễn Khuyến – Tự trào về phẩm chất tính cách

Chán ngán với xã hội đảo điên, vua quan bù nhìn “Vua chèo cònchẳng ra gì; Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”, Nguyễn Khuyến đã từquan về quê sống cuộc đời còn lại như những người nông dân chân chất,bình dị không màng thế sự, không luỵ phiền bởi trách nhiệm NguyễnKhuyến thấy mình là một hủ nho Nếu như ở thế kỷ 19, có biết bao nhà nhokhoe tài và xót xa người “hoài tài bát ngộ” thì cụ Yên Đổ qua những lời tựkhiêm, tự giễu như trên, đã thẹn cho cái tài của mình Ông thẹn cho conđường đã qua “Sợ ngủ gặp giấc mơ trước” thậm chí đêm buồn sợ nghe conđọc bài, rút lại chỉ có tấm lòng son và tự dũng cảm rút khỏi hoan lé

Trang 36

Nhận thức Êy đã quy định cái nhìn về nhà nho trong thơ NguyễnKhuyến Như mọi nhà nho xuất thế ở Èn luôn tạo cho mình những hình ảnhkhác tục, ta thấy Nguyễn Khuyến luôn nói tới cái “say”, “ngu”, “gàn”,

“điếc”, “dại” Mọi nhà nho ở Èn đều tự tác thanh cao, cô cao ngạo thế, đều tự

ví mình với “Tùng cô”, “Hạc độc”, “Mây côi”,… Mọi nhà nho bất đắc chíđều xưng già, “bệnh”, “tóc bạc” nhưng đó chính là dấu hiệu tri thiên mệnh,trải đời hoặc “lão giả an chi” Các Èn sĩ đều tạo cho mình thú điền viên taonhã Nguyễn Khuyến cũng nói nhiều đến điều đó, nhất là con mắt loà, tấmthân già yếu, “lụ khụ”, “răng rụng”, “tóc phờ” nhưng tất cả những hình ảnh

đó ở người xưa đều mang một vẻ cao xa thâm thuý còn Nguyễn Khuyến làmột ông lão “đi đâu cũng dở cối cùng chày”

Ngoài việc lấy thú điền viên làm niềm vui khuây khoả, NguyễnKhuyến còn một chí thú nữa là uống rượu, ngâm thơ nhưng không phải lòngthanh thản nhàn tản kiểu uống rượu, ngâm thơ, thưởng nguyệt mà nhà thơuống rượu ngâm thơ để có thể quên đi nỗi buồn về thế thái nhân tình Trongthơ rất nhiều lần Nguyễn Khuyến nhắc đến “rượu”, “say” nhưng kiểu uốngrượu của ông không phải là kiểu của những kẻ bê tha, nghiện ngập mà ôngmượn rượu để tiêu sầu Rượu rồi, say rồi, nhưng liệu có vơi được nỗi sầu haykhông? Có thể mượn câu thơ sau để nói về tâm trạng của Nguyễn Khuyến:

Rót dao chém nước, nước càng chảy mạnh

Nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm

Hình ảnh một túy ông vẫn thường trở đi trở lại trong thơ NguyễnKhuyến Một tuý ông muốn “say” vì nước, muốn “say” vì nỗi đau không thểnguôi ngoai:

Ngủ đi còn sợ chiêm bao trước

Nghĩ lại nh là chuyện thuở xưa

Có rượu trung sơn cho lũ tớ

Trang 37

Tỉnh ra hỏi đã thái bình chưa

(Nói chuyện với bạn)

Có phải vì uống rượu mà “say” đâu, mà say vì nỗi niềm không ai thấu: Trồng lan ngõ tối ngát nào hay

Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng

Chén rượu bên đèn luống tỉnh say

(Nghe hát đêm khuya)

Tuý ông say vì một nỗi niềm cao cả:

Tuý ông ý chăng say vì rượu

Say vì đâu nước thẳm với non cao

(Uống rượu vườn bồi)

Sách Thế Thuyết nói: Vương Tốn hỏi Vương Thầm rằng: “NguyễnTịch trong lòng chồng chất những khối, cho nên cần có rượu để tưới cho tanđi” Những khối Êy là sự ưu tư, bất bình, sầu muộn trong lòng và những lotoan đau đớn, xót xa, những buồn bã, chán nản, cô Tam nguyên Yên Đổ đãgửi vào trong rượu, trong say Nhà thơ cũng đã dùng rượu để mong tưới chotan khối ưu tư, sầu muộn đi Nguyễn Khuyến đơn độc và buồn bã, nhà thơ đãgiải sầu trong rượu điều đó cũng thật dễ hiểu

Bùi Thị Xuân cũng có nhận định hết sức sâu sắc về nguyên do cộinguồn của cái “say” ở cụ Tam Nguyên khi cho rằng: Nguyễn Khuyến là mộtnhà nho hiển đạt, có làm quan và từ quan về quê, cụ không có cái bải hoải,cái hối tiếc của câu ca dao nọ:

Tưởng nước giếng sâu, anh nối sợi gầu dài

Ai ngờ nước giếng cạn, anh tiếc hoài sợi dâyThu gầu về rồi, có tiếc sợi dây thì nào cũng có để làm gì? Tiếc màkhông tiếc Tiếc vì đoạn đời mình đã đi nhầm trên một quãng đường đời.Thôi thì trở về…”Cờ đương dở cuộc, bạc chửa thâu canh”, để giữ mình cho

Trang 38

trong, lánh đục, thoát tục Nguyễn Khuyến đã hết sức buồn đau“ngoái nhìnsông núi xiết buồn đau” Nhà thơ bế tắc, bế tắc đến gần tột đỉnh, ông tìmthanh thản trong rượu, trong say, phần lớn thơ say, thơ rượu Nguyễn Khuyếnviết khi đã treo Ên từ quan.

Thơ say ở bất cứ nhà thơ nào cũng thấm đẫm những chua xót đầy ắpnhững nỗi niềm

Nguyễn Công Trứ khi xưa cũng dùng rượu đê giải sầu:

Giắt láng giang sơn vào nửa túi

Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầuHay sau này Tản Đà cũng bộc bạch bằng một tâm sự:

Khi vui, vui lấy kẻo già

Cơn men dốc cả giang hà chưa say

Nói nh vậy ta càng ngẫm ta càng thấy thấm thía nỗi đau của cụ Yên

Đổ lúc trầm ngâm một mình uống rượu với ngâm thơ:

Lúc hứng đánh thêm dăm chén rượu Khi buồn ngâm lao một câu thơ

Cuộc tỉnh say say tỉnh một vài câu

Tỉnh lại say, say lại tỉnh quả thực nỗi buồn không thể nào vơi, uốngcàng say thì lại càng tỉnh, càng tỉnh lại càng muốn uống say Có ai khi say

mà nhận mình là say đâu Nhà thơ đâu có say, ông rất tỉnh, tỉnh lắm tỉnh để

Trang 39

mà nhìn ra cuộc đời, say để mà thoả sức chửi, say để mà quên Cái say Êycũng có khi là say sưa thật, dở dở ương ương:

Câu thơ được chửa, thưa rằng được

Chén rượu say rồi, nói chửa say

(Tự thuật)

Quả thực một tuý ông ngất ngưởng cứ hiện diện đâu đó trong thơNguyễn Khuyến, khi đớn đau, khi say mèm, và cũng có khi rất tỉnh:

Đời trước thánh hiền đều vắng vẻ

Có người say rượu tiếng còn nay

Cho nên say, say khướt cả ngày

Say mà chẳng biết rằng say ngã đùng

(Uống rượu vườn Bùi)

Nhưng lúc nào cũng đớn đau, lúc nào cũng dằn vặt:

Kẻ ở trên đời lo lắng cả

Nghĩ ra ông sợ cái ông này

(Tự thuật)

Và khi nào cũng buồn đau, cô lẻ:

Đời loạn đi về như hạc độc

Tuổi già hình bóng tựa mây côi

Trang 40

Đêm ngày gìn giữ cho ai đó

Non nước đầy vơi có biết không?

Biết chứ, sao không? Biết nên mới đau, biết nên mới phải là ôngphỗng đá Tuy không đủ sức để lay chuyển đất trời nhưng ông cũng biết táchmình ra khỏi guồng máy tội lỗi để tránh phải tội với dân tộc, với nước non.Ông chỉ biết đứng chờ và cảnh tỉnh, cảnh tỉnh cho những kẻ nh con thiêuthân ham hè danh lợi, bị đồng tiền làm mờ mắt mà bán rẻ danh phẩm, bán rẻđất nước

Mượn hình ảnh bà “gái goá”, nhà thơ đã bày tỏ rõ lòng mình Khi chế

độ phong kiến thực dân Êy không chịu buông tha cho nhà thơ và luôn mờigọi ông ra làm quan giúp chúng với biết bao nhiêu những cám dỗ:

Chàng chẳng biết gái này gái goá

Buồn nằm suông, suông cả áo cơm

… Thương thì gạo vải cho vay

Lấy chồng thì gái goá này xin can

(Lời gái goá)

Hay Nguyễn Khuyến tự nguyện là một “Mẹ mốc”:

So danh giá ai bằng mẹ mốc

Ngoài hình hài gấm vóc chẳng thêm raTấm hồng nhan đem bôi xấu xoá nhoà Làm thế để cho qua mắt tục

(Mẹ mốc)

Mét anh mù:

Xem hoa ta chỉ xem bằng mũi

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Văn Các, Lại Cao Nguyên. Sổ tay từ Hán Việt. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay từ Hán Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Bùi Văn Cường (sưu tầm và biên soạn) Giai thoại về Nguyễn Khuyến.Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh xuất bản, Nam Định 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai thoại về Nguyễn Khuyến
3. Nguyễn Huệ Chi. Nguyễn Khuyến về tác giả và tác phẩm. NXB Giáo dục, Hà Nội,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến về tác giả và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáodục
4. Nguyễn Huệ Chi. Một vài phương hướng tiếp cận thơ văn Nguyễn Khuyến. TCVH sè 4, 1958 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài phương hướng tiếp cận thơ văn NguyễnKhuyến
5. Nguyễn Phương Chi. Thi hào Nguyễn Khuyến và đời thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào Nguyễn Khuyến và đời thơ
Nhà XB: NXB Giáodục
6. Nguyễn Đình Chú. Nguyễn Khuyến với thời gian. TCVH sè 4, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến với thời gian
7. Nguyễn Đình Chú. Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo dục, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáodục
8. Nguyễn Duy Diễn. Luận đề về Nguyễn Khuyến. NXB Thăng Long, Sài Gòn,1953 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận đề về Nguyễn Khuyến
Nhà XB: NXB Thăng Long
9. Xuân Diệu (giới thiệu). Thơ văn Nguyễn Khuyến. NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Khuyến
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
10. Xuân Diệu. Thơ văn Trần Tế Xương. NXB Văn học, Hà Nội,1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Trần Tế Xương
Nhà XB: NXB Văn học
11. Xuân Diệu . Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện đại Việt Nam (tập II), NXB Văn Học,1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện đại Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn Học
12. Đỗ Đức Dục. Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện thực chủ nghĩa Việt Nam, trong cuốn Trần Tế Xương – về tác gia và tác phẩm.NXB Giáo dục, Hà Nội,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện thực chủnghĩa Việt Nam", trong cuốn "Trần Tế Xương – về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Dương Quảng Hàm. Việt Nam văn học sử yếu. Nha học Chính Đông pháp xuất bản, Hà Nội 1943. (Tái bản nhiều lần) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
14. Nguyễn Phạm Hùng. Thái độ trào lộng trước đối tượng khách thể trong sách Nguyễn Khuyến về tác gia tác phẩm. NXB Giáo dục Hà Nội.2003 15. Nguyễn Văn Huyền. Nguyễn Khuyến – tác phẩm. NXB Khoa học xã hội,Hà Nội,1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ trào lộng trước đối tượng khách thể "trongsách" Nguyễn Khuyến về tác gia tác phẩm". NXB Giáo dục Hà Nội.200315. Nguyễn Văn Huyền. "Nguyễn Khuyến – tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội.200315. Nguyễn Văn Huyền. "Nguyễn Khuyến – tác phẩm". NXB Khoa học xã hội
16. Trần Đình Hượu. Vấn đề xuất xứ của nhà nho và sự lựa chọn của nhà thơ, Trong Cuốn Nguyễn Khuyến về tác giả tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xuất xứ của nhà nho và sự lựa chọn của nhàthơ," Trong Cuốn "Nguyễn Khuyến về tác giả tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Nguyễn Công Hoan. Con người của Tú Xương trong cuốn Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo dục Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người của Tú Xương" trong cuốn "Trần TếXương về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
18. Nguyễn Công Hoan. Về nghiên cứu thơ văn Tú Xương. TCVH, sè 3, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghiên cứu thơ văn Tú Xương
19. Nguyễn Văn Hoàn. Địa vị của Nguyễn Khuyến trong trong lịch sử văn học Việt Nam. TCVH sè 4- 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị của Nguyễn Khuyến trong trong lịch sử vănhọc Việt Nam
20. Nguyễn Văn Hoàn. Nhà thơ Trần Tế Xương trong cuốn Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo dục, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Trần Tế Xương" trong cuốn "Trần Tế Xươngvề tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
21. Nguyễn Văn Hoàn. Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX). NXB Văn học, Hà Nội 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn học

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w