Thông qua đề tài “Nghệ thuật điển hình hoá trong những sáng tác tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Công Hoan”, người viết mong muốn góp thêm tiếng nói đối với một nhà văn mì
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ do chọn đề tài
Chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam với tư cách là một trào lưu, một phương pháp sáng tác ra đời muộn hơn ở phương Tây nhưng đã có rất nhiều thành tựu Mét trong những điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện thực phê phán là nghệ thuật điển hình hoá Đây là vấn đề lí luận và thực tiễn đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn học song vẫn còn nhiều vấn
đề có thể khai thác toàn diện hơn
Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) là một nhà văn xuất sắc của trào lưu hiện thực phê phán với sở trường là truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan sáng tác trong thời gian cả trước và sau Cách mạng tháng Tám nhưng những tác phẩm ra đời trước Cách mạng được đánh giá là thành công, phong phú và chiếm khối lượng lớn trong toàn bộ di sản văn học mà ông để lại
Là một đại diện xuất sắc của trào lưu hiện thực phê phán, song chủ yếu các nghiên cứu đối với sáng tác của nhà văn đều hướng về nghệ thuật trào phúng, về tiếng cười đả kích Phần nghiên cứu tìm hiểu nghệ thuật điển hình hoá trong truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan
còn Ýt được đề cập Thông qua đề tài “Nghệ thuật điển hình hoá trong những sáng tác tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Công Hoan”, người viết mong muốn góp thêm tiếng nói đối với một nhà
văn mình yêu quý
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Trước năm 1945:
Trước năm 1945, điển hình hoá của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam chưa trở thành đối tượng khảo sát của lĩnh vực nghiên cứu văn học Các bài viết chủ yếu dừng lại ở góc độ đánh giá tác phẩm riêng biệt Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã được
Trang 2hình hoá mới chỉ là những nhận xét sơ lược Năm 1932, trong bài viết Lược
khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết đăng trên báo
Nam Phong - sè 7, Trúc Hà là người đầu tiên đã nhận xét truyện của Nguyễn Công Hoan có ngô ý sâu sa về sự đời “văn ông (Nguyễn Công Hoan) có cái hay, rõ ràng, sáng sủa, thiết thực, hơi văn nhanh và gọn Lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thường đệm một vài câu hoặc một vài chữ có ý khôi
hài bông lơn, thú vị… Những bài văn đăng trong An Nam tạp chí trước sau
đều có ý khôi hài, dẫu là câu chuyện nó thương tâm như thế nào, trong khi đọc văn cũng phải buồn cười, nhưng mà cái cười đắng cay, chua chát, theo sau nụ cười thường là cái buồn ngấm ngầm trong tâm hồn… Lối văn viết vấn đáp được tự nhiên linh hoạt lắm…giọng nào ra giọng Êy, người nào ra người Êy như đứng trước cảnh thực vậy”
Năm 1935, nhà phê bình Hải Triều đứng trên quan điểm tả thực để
đánh giá quyển Kép Tư Bền: “Rồi các ngài lại đọc qua các truyện như Báo
hiếu, Mợ nó đi Tây, Tôi chủ báo Các ngài sẽ thấy trình bày biết bao nhiêu
sự xấu xa mục nát của một chế độ xã hội Những cái đạo đức, luân lí, tình ái
mà trước họ cho là thiêng liêng cao quý lắm, thì ngày nay đã hoá ra một bức
màn che đậy biết bao nhiêu sự thối tha hèn mạt ở trong” và “Kép Tư Bền có
thể nói rằng đã mở một kỉ nguyên mới cho cái tư triều văn nghệ tả thiệt và
xã hội ở nước ta” Bài viết Phê bình Kép Tư Bền của Trần Hạc Đình đăng
trên báo Bắc Hà sè 17, ra ngày 9-8-1935 đã nhận xét sâu sắc về óc quan sát
và tài dựng truyện của Nguyễn Công Hoan “từ một lời nói, từ một cử chỉ của những nhân vật trong truyện ông đều chép nguyên của sự thực Ông đã làm sống một cách linh động những nhân vật của ông” và khẳng định “Ông Nguyễn Công Hoan là nhà văn tả chân”
Ngoài ra còn hàng loạt các bài viết của các nhà văn, nhà lí luận phê bình văn học của cả hai phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” đánh giá nhận xét về Nguyễn Công Hoan Cách này hay cách
Trang 3khác, các tác giả đều thống nhất ở nhận định coi Nguyễn Công Hoan là nhà văn phái “tả chân”, “tả thực chủ nghĩa”, hay nói về “những bề trái của xã hội” Hoài Thanh viết “Tình đời chua, cay, mặn, lạt như vẽ ra dưới ngòi bút”, “Tài nghệ của nhà văn là ở cách kể chuyện” và Hoài Thanh đánh giá
“Văn Nguyễn Công Hoan xem mệt mà có Ých Văn như thế xem khôn người ra (24; 266) Ngoài việc khẳng định Nguyễn Công Hoan “biết vẽ người bằng những nét vẽ ngộ nghĩnh thần tình, biết vấn đáp bằng những giọng hoạt kê lí thú và biết kết cấu thành những tấn bi hài kịch”, Thiếu Sơn
đã phát hiện “Nguyễn Công Hoan rất sở trường về cái luật tương phản…bày
ra hai cảnh tượng trái ngược nhau để cảnh này làm tăng ý nghĩa cảnh kia”
(24; 275) Phê bình tập Kép Tư BÒn, Trần Hạc Đình còn tinh tế khi cảm
nhận được tình cảm thái độ của Nguyễn Công Hoan khi “vẽ cái đau đớn khổ
sở lầm than của hạng cùng đinh nghèo khó và cái giả trá xấu xa bất lương của bọn quyền quý trưởng giả” là thái độ bất bình phẫn uất muốn đạp đổ xã hội giả dối và ô trọc Tác giả Trần Hạc Đình cũng khẳng định “tiếng cười mỉa mai lạnh lùng trong đó Èn cả một tấm lòng cảm động, đau đớn ê chề vì những điều trông thấy…Tiếng cười Êy cũng như tiếng cười của Molière, nghe còn thảm hơn tiếng khóc” (24; 282,283)
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã có nhiều ý
kiến sâu sắc về truyện Nguyễn Công Hoan Theo ông, phần nhiều truyện ngắn Nguyễn Công Hoan “linh động, có nhiều bất ngờ …” Tác giả dẫn một
đoạn trong Thằng ăn cắp và đánh giá “tả chân tuyệt khéo”, “đặc kiểu Guyde
Maupassant”…
Nhìn chung, trước Cách mạng Tháng Tám, do hạn chế về phương pháp luận nghiên cứu khoa học nên các bài phê bình văn học về Nguyễn Công Hoan mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá mối quan hệ giữa văn học
và đời sống, chưa có phát hiện dù sơ sài ở góc độ nghệ thuật điển hình hoá
2.2 Sau năm 1945
Trang 4Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, phương pháp luận nghiên cứu khoa học thực sự phát triển và nghệ thuật điển hình hoá của chủ
nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam bắt đầu được xem xÐt Những nguyên lí
về lí luận văn học của giáo sư Hà Minh Đức đã dành gần trọn một chương
viết về Điển hình hoá trong văn học Sau đó, cuốn Phương pháp sáng tác
trong văn học nghệ thuật của Hồng Chương ra đời đã nhìn nhận văn học
Việt Nam dưới góc nhìn phương pháp sáng tác, trong đó Nguyễn Công Hoan được đánh giá là một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực phê
phán Năm 1957, cuốn Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm tác
giả Lê Quý Đôn đã chia văn học Việt Nam 1930 -1945 thành ba khuynh hướng: khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng hiện thực phê phán và khuynh hướng cách mạng Nhóm các tác giả đã khẳng định ưu điểm vượt trội của việc cấu tạo nhân vật và chọn lựa chi tiết ngôn ngữ của khuynh hướng nghệ thuật hiện thực phê phán “Nhân vật được sáng tạo trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, làm cho người đọc thấy rõ nó hoạt động trong môi trường nào và là sản phẩm của xã hội nào Nhà văn hiện thực còn chú trọng mô tả nhân vật của mình với những nét thật tỉ mỉ Lần đầu tiên trong văn học, những cảnh ngoại ô, xó chợ đầu đường…được phơi bày ra ánh sáng; lời ăn tiếng nói bình dân được đưa vào tác phẩm văn chương làm cho ngôn ngữ thêm cụ thể, chính xác” (9; 300)
Năm 1962, cuốn Những nguyên lí về lí luận văn học của giáo sư Hà
Minh Đức đã đi sâu vào việc phân tích cơ sở lí luận về “Điển hình hoá trong văn học nói chung” và “Tính chung và tính riêng của tính cách điển hình” Đây được coi là cơ sở lí luận có tính chÊt nền tảng cho việc tiếp cận tác phẩm của các tác giả thuộc trào lưu hiện thực phê phán
Năm 1961, tác giả Phan Cự Đệ đã dành viết một chương về Nguyễn Công Hoan - người đặt những viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho văn học hiện thực phê phán “Công lao của Nguyễn Công Hoan là giữa những
Trang 5con đường đang đan nhau ở các ngã ba, ngã tư, nơi mà những người cầm bút còn đang phân vân, thậm chÝ có thể lạc lối giữa những nguồn ảnh hưởng phức tạp, cũ mới tốt xấu lẫn lộn, ông đã chọn con đường đi về phía truyền thống dân tộc, về phía quần chúng bị áp bức, con đường của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam” (24; 175) Giáo sư Phan Cự Đệ cũng khẳng định
“Nguyễn Công Hoan có sở trường về mặt khắc hoạ tính cách nhân vật phản diện Ông thường dựng lên những chân dung biếm hoạ theo kiểu phóng đại…Phóng đại cũng là một biện pháp tô đậm một số nét điển hình của nhân vật phản diện làm cho người đọc tập trung chó ý vào những nét chủ đạo đó” (24; 179)
N.I Niculin, nhà Việt Nam học người Nga trong bài viết Nguyễn
Công Hoan mét bậc thầy về truyện ngắn châm biếm đã nhận xét sâu sắc về
năng lực tuyệt vời của nhà văn “tinh mắt nhìn thấy những tình huống hài hước và có tài nhận ra đằng sau những sự việc thoạt tưởng nhỏ nhặt các vấn
đề quan trọng của thời đại” và khẳng định “Văn châm biếm của Nguyễn Công Hoan là vũ khí của cái thiện” (24; 368)
Năm 1974, cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của giáo sư Phan Cự
Đệ ra đời Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện và công phu nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại trên nhiều vấn đề lớn mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị Tác giả đã dành 44 trang viết về vấn đề điển hình hoá trong tiểu thuyết hiện thực phê phán Tác giả Phan Cự Đệ khẳng định thành tựu quan trọng của tiểu thuyết hiện thực phê phán “đã biết đặt những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”, trong đó Nguyễn Công Hoan được nhắc
đến với tác phẩm Bước đường cùng.
Năm 1989, sau nhiều tập hợp tư liệu và nghiên cứu, trong cuốn Tổng
tập văn học Việt Nam- tập 29A, giáo sư Phan Cự Đệ khẳng định đặc trưng
của văn học hiện thực phê phán về nghệ thuật điển hình hoá “Thành công chủ yếu của tiểu thuyết Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công
Trang 6Hoan…là đã xây dựng được những tính cách điển hình đa dạng và phong phó về mặt thẩm mỹ, đặc biệt là những tính cách có quá trình phát triển tâm lí” (13, 47).
Được coi là một nhà nghiên cứu toàn diện nhất về Nguyễn Công Hoan, PGS TS Lê Thị Đức Hạnh đã có nhiều phát hiện sâu sắc mới mẻ trong đó có nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan “phác hoạ tài tình nhiều bức tranh hoặc chân dung sinh động với những nhân vật có lời ăn tiếng nói, điệu bộ, tính tình được phóng đại cường điệu nhưng lại rất hiện thực, bộc lộ được bản chất của sự vật, của con người…Bằng ngòi bút của mình, Nguyễn Công Hoan đã đóng góp vào lịch sử văn học nhiều bức tranh trào lộng, sinh động, có khi đẫm nước mắt và máu của những ngày nhân dân
ta đang sống cuộc đời nô lệ lầm than”(24; 420)
Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, bước đầu tác giả luận văn nhận thấy nghệ thuật điển hình hoá trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan đã được một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học nhắc đến song chưa có công trình nào đi sâu khảo sát về nghệ thuật điển hình hoá trong sáng tác của nhà văn Những kết quả nghiên cứu trên là những gợi ý
quan trọng cho luận văn để xác định một đề tài có giới hạn “Nghệ thuật
điển hình hoá trong những sáng tác tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Công Hoan”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Với yêu cầu của một luận văn thạc sĩ, thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn góp thêm một tiếng nói về đóng góp của nhà văn Nguyễn Công Hoan đối với nền văn học dân tộc Đó là nghệ thuật điển hình hoá, một thành tựu nổi bật của văn học hiện thực phê phán Việt Nam với tư cách là một đặc trưng nghệ thuật cơ bản của trào lưu văn học có một phương pháp sáng tác hoàn chỉnh mà Nguyễn Công Hoan là một tác gia tiêu biểu Luận văn tập trung khám phá những nét đặc sắc trong nghệ thuật điển hình hoá của Nguyễn
Trang 7Công Hoan từ việc xây dựng những tình huống độc đáo, thủ pháp khắc hoạ tính cách điển hình đến những đặc sắc về ngôn ngữ và giọng điệu.
Thuật ngữ điển hình hoá theo nghĩa rộng là “Tổng hoà mọi biện pháp nghệ thuật nhằm làm cho hình tượng trở thành điển hình, là con đường đưa sáng tạo nghệ thuật tới chất lượng cao” (43; 82) Điển hình hoá trong văn học có những đặc trưng riêng bởi vì văn học tái hiện cuộc sống bằng hình tượng Điển hình văn học là một khái niệm có những vận động đổi thay trong từng thời kì lịch sử, do đó cần sự nhìn nhận linh hoạt, toàn diện Nói đến nghệ thuật điển hình hoá là nói đến điểm hội tụ của trình độ nhận thức hiện thực, của tư tưởng, năng lực sáng tạo của tác giả Nói đến cùng thì mọi phương diện nghệ thuật cũng như giá trị nội dung của một hình tượng điển hình đều có dấu Ên của điển hình hoá Do vậy, nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan dưới góc độ điển hình hoá thực chất là đi tìm hiểu toàn diện giá trị hiện thực, ý nghĩa xã hội của hệ thống các hình tượng trong tác phẩm Qua đó, luận văn góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng độc đáo của nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp hệ thống: Đặt điển hình hoá trong các sáng tác tiêu
biểu của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng Tám trong hệ thống điển hình hoá của dòng văn học hiện thực phê phán để thấy được nét đặc thù trong sáng tác của nhà văn
4.2 Phương pháp so sánh: so sánh Nguyễn Công Hoan với các tác giả tiêu biểu khác của dòng văn học 1930 -1945 như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng…
4.3 Phương pháp phân tích tác phẩm, phân tích nhân vật…
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được tổ chức thành 3
chương chính:
Trang 8Chương I: Quan điểm nghệ thuật về con người và khuynh hướng điển
hình hoá của Nguyễn Công Hoan
Chương II: Xây dựng tình huống độc đáo
Chương III: Thủ pháp khắc hoạ tính cách điển hình
1.1 Đời là sân khấu hài kịch
“Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh dời sống, là hệ quy chiếu Èn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật và làm thước đo của hình thức văn học và làm cơ sở của tư duy nghệ thuật” (43; 230)
Quan niệm nghệ thuật là một phạm trù cơ bản của thi pháp học, là yếu tố then chốt, có vai trò chi phối toàn diện tác phẩm; là sự lí giải, cắt nghĩa “có tính phổ quát, tột cùng, mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người” (27; 45) Mỗi một nhà văn đều có một quan niệm nghệ thuật riêng chi phối toàn bộ quá trình sáng tác và là cơ
sở tạo nên tư duy nghệ thuật
Dòng chảy văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 có nhiều cây bút xuất sắc đã ghi dấu bằng những quan niệm nghệ thuật rất riêng Với Vũ Trọng Phụng thì đó là triết lí bi quan định mệnh chủ nghĩa, là thế giới nhân vật phản diện tàn bạo, đểu cáng, dâm ô và là tâm trạng uất ức mãnh liệt, khao khát trả thù cuộc đời “chó đểu”, “vô nghĩa lí”
Trang 9của nhiều nhân vật khác Đó còn là tâm trạng phẫn uất khôn nguôi của con người tài cao mệnh thấp, cả cuộc đời sống trong thiếu thốn, điêu đứng bởi đồng tiền Với Nam Cao là thế giới nhân vật vật vã quằn quại, bị áp bức giày xéo khinh miệt đến dị dạng, méo mó cả thể xác và linh hồn; là tiếng kêu rên của những tâm hồn giàu khát vọng ước mơ bị áo cơm ghì sát đất Với Nguyên Hồng là niềm tin về sức mạnh bất diệt của nhân tính, con người
dù sống dưới đáy cùng xã hội vẫn toả sáng những nét thiện lương Với Thạch Lam là cái nhìn đầy bao dung nhân ái và lòng cảm thông sâu sắc với những con người giản dị, tốt bụng hiền lành nhưng phải sống cơ cực nghèo khổ, bế tắc… Còn với Nguyễn Công Hoan là thái độ căm phẫn xã hội thực dân phong kiến mà ở đó tất cả như một sân khấu hài kịch đầy nhố nhăng bỉ
ổi, xấu xa Giáo sư Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Đi vào thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, ta có cảm tưởng như bước vào mét khu triển lãm phong phú, nhiều màu nhiều vẻ về những cảnh ngộ, những con người đang múa may, khóc cười trong xã hội cũ Có những truyện độc ác tàn nhẫn, những truyện xấu xa rởm hợm, những truyện thương tâm ai oán cùng những truyện nực cười lố lăng trong cái xã hội thực dân phong kiến đầy những ngang trái bất công…” (24; 177)
Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Công Hoan đã thể hiện một cách nhìn đời độc đáo Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra cách nhìn đời như một sân khấu hài kịch, một tấn trò nhố nhăng, giả dối của Nguyễn Công Hoan Cách nhìn Êy xuất phát từ lập trường quan điểm của tầng lớp quan lại xuất thân khoa bảng bị thất thế Hơn nữa nhà văn lại có khiếu hài hước “ranh mãnh tinh nghịch và hay chế nhạo”, lại sinh trưởng trong mét gia đình quan lại lỗi thời bị lép vế “chịu sự giáo dục hằn học với quan lại ôm chân đế quốc
để mưu cầu phú quý trên lưng những người nghèo hèn”, lại sớm chứng kiến cảnh đời nhiều ngang trái bất công…Tất cả những tiền đề Êy làm nên một
cách nhìn đời vô cùng đặc biệt Trong hồi kí Đời viết văn của tôi, Nguyễn
Trang 10Công Hoan đã tâm sự: “Tôi là người bi quan hoài nghi nên khinh thế ngạo vật, hay đùa và hay chế nhạo Sống dưới chế độ thực dân, tôi thấy cái gì cũng
là giả dối lừa bịp đáng khôi hài Thế mà thằng làm trò khôi hài là thằng thực dân, lại làm ra mặt nghiêm chỉnh Thật là buồn cười, nên tôi hay chế giễu mỉa mai Tôi coi thường tất cả TÊt cả đối với tôi chỉ là trò cười Tôi viết tiểu thuyết cũng mang giọng nói thẳng của tôi là trào phúng và hài hước” (22; 367)
Ngay từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã có khiếu hài hước Ông diễn trò cho gia đình và những người giúp việc xem “Tôi bắt chước Môlie, tôi cũng làm hài kịch Những hài kịch của tôi mới đầu chỉ là những màn ngắn mà diễn viên cương ra những câu nói nhảm để chế ông thầy bói thầy cúng phỏng theo truyện tiếu lâm Diễn viên chính bao giờ cũng là tôi Diễn viên phụ là những anh em trong nhà sàn sàn tuổi tôi Khán giả của tôi tối đầu là các anh các chị và người giúp việc trong nhà Rồi tiếng cười vang đến trại lệ trại cơ, anh em lính cũng rủ nhau vào xem Hài kịch của tôi làm mọi người cười sặc sụa Sợ nhàm, tôi thay đổi Tôi tìm những thói xấu của người xung quanh để làm đề tài dựng kịch chế nhạo” (22; 66) Nguyễn Công Hoan còn
có một quãng đời thơ Êu sớm được tiếp xúc với những cảnh trái ngang trong
xã hội Những gì thấy được đã in đậm trong tâm hồn ông “ Nếu tờ giấy trắng được nhuộm màu nào đầu tiên thì màu Êy là nền, nó rõ mãi và bền mãi, thì trong đời người ta những điều mắt thấy tai nghe được nhớ lâu nhất, ảnh hưởng lâu nhất, tạo cho con người một nền tảng về tư tưởng đối với sự việc, một khả năng làm cái gì sau này cũng là ở trong thời niên thiếu, óc còn ngây thơ trong trắng Những điều mắt thấy tai nghe có ảnh hưởng nhiều nhất mạnh nhất và sâu nhất đến nếp nghĩ và nếp làm của tôi” (22; 49)
Nguyễn Công Hoan căm ghét xã hội thực dân tư sản, căm ghét bọn quan lại nhờ liếm gót giày Tây mà trở nên quyền thế để bòn rút bóc lột nhân dân lao động Cả xã hội chỉ là những ngang trái giả dối bất công Sự lên
Trang 11ngôi của những “ông chủ”, “bà chủ” được thực dân dung túng khiến nhà văn căm phẫn Và ông đã dùng ngòi bút đầy căm giận và cay đắng để vạch trần những trò hề, những thủ đoạn bịp bợm, những trò bỉ ổi đồi bại vô đạo đức của những con người xấu xa trong xã hội nhố nhăng Êy Mỗi truyện của Nguyễn Công Hoan thường là một cảnh tượng, một tình thế mâu thuẫn giàu kịch tính Tất cả như một tấn trò đời mà ở đó những gì nghiêm trang cao quý thiêng liêng nhất cũng biến thành trò hề, trò lừa bịp giả trá Từ chủ trương chính sách của nhà nước đến công lí; từ đạo lí làm con đến tình nghĩa phu thê, từ đạo đức nghề nghiệp của giáo giới đến văn giới, báo giới, từ các hoạt động văn hoá đến thể thao… đều được đưa lên sân khấu hài kịch của Nguyễn Công Hoan Bản chất của đối tượng là đáng cười, song nó càng trở nên hài hước, bị lật tẩy và hạ bệ thấm thía hơn khi nó được hiện ra qua tài năng nghệ thuật của nhà nghệ sỹ Cái xã hội “tấn trò đời” vốn tiềm tàng mâu thuẫn và giả dối được phát hiện qua giác quan nhạy bén đặc biệt đã tạo nên bức tranh trào phúng đặc sắc sinh động “có một không hai”.
1.2 Nhân vật diễn trò, con người tha hoá
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải của chủ thể sáng tác Con người là đối tượng chủ yếu của văn học, tất cả những gì liên quan đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học GS Trần Đình Sử cho rằng “Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thì phải xuất phát từ các biểu hiện lặp đi lặp lại của nhiều nhân vật thông qua các yếu tố bền vững được tô đậm dùng để tạo nên chúng” (50; 66) Nói cách khác, nhân vật văn học là “yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và tư tưởng của chủ đề, đến lượt mình, nó lại được các yếu tố có tính chất hiện thực của tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhân vật, đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học” (34; 27) Như vậy, văn học không thể thiếu nhân vật
“đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình
Trang 12tượng Bản chất văn học là mối quan hệ đối với đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời” (38; 62).
Được chi phối bởi quan niệm nghệ thuật rất riêng mang tính độc đáo, Nguyễn Công Hoan đã xây dựng lên những hình tượng nghệ thuật nhân vật diễn trò, con người tha hoá Thông qua cái nhìn mang tính phát hiện đầy sắc sảo, Nguyễn Công Hoan nhận diện cả một xã hội đang diễn trò Sân khấu của trò diễn là bối cảnh xã hội, nhân vật diễn trò bằng những hành động, cử chỉ và ngôn ngữ đầy chủ động Ở đó có trò diễn của nhà nước với dân đen
(Đào kép mới, Tinh thần thể dục), trò diễn của vợ với chồng (Một tấm gương sáng, Thế là mợ nó đi Tây, Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn),
chồng với vợ (Xuất giá tòng phu, Cho tròn bổn phận); trò diễn của con cái với bố mẹ (Báo hiếu, trả nghĩa cha; Báo hiếu trả nghĩa mẹ); trò diễn của các cô gái mới tân thời Âu hoá, vui vẻ trẻ trung (Cô Kếu, gái tân thời; Oẳn
tà roằn) và nhiều nhất, đa dạng phong phú nhất là trò diễn của quan lại,
cường hào với nhau và với dân nghèo (Bước đường cùng, Cái thủ lợn, Ông
chủ, Thịt người chết, Đồng hoà có ma, Làm phúc, Biểu tình, Cấm chợ, Tôi
tự tử, Gánh khoai lang, Mua lợn…) Mỗi tác phẩm của Nguyễn Công Hoan
dù là tiểu thuyết hay truyện ngắn đều là bức tranh hài hước của tấn trò đời Một ông quan to béo oai vệ, sạch sẽ lại sẵn sàng ăn bẩn một đồng hào đôi, một cụ Chánh Bá luôn mồm ghét thói gian giảo lại sẵn sàng giở trò bẩn thỉu
để có được một đôi giày mới, kẻ giết sáu mạng người lại được thăng chức còn người hi sinh vì nghĩa lớn lại đắng cay nơi chín suối, bao con người bề ngoài đạo đức sang trọng nhưng thực chất lại bần tiện, đểu giả
Không chỉ thành công khi miêu tả những nhân vật diễn trò, Nguyễn Công Hoan còn thể hiện nét bản sắc rất riêng khi miêu tả con người tha hoá
Đó là tình cảnh của những con người bị biến thành xấu đi, xa rời chuẩn mực
xã hội, xa lạ với cộng đồng và môi trường hoàn cảnh sống Đó là những người đã đánh mất nhân tính, trở thành đối lập với những giá trị người Văn
Trang 13học hiện thực phê phán 1930 - 1945 có nhiều cách nhìn khác nhau về con người tha hoá Với Ngô Tất Tố, con người không bao giờ bị tha hoá bởi
hoàn cảnh Nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn đã trải qua bao vất vả đắng cay
vẫn luôn là mẫu nhân vật có phẩm chất trong sáng, là nét điển hình của người phụ nữ Việt Nam thủy chung thương yêu, hết lòng vì gia đình Với Nguyên Hồng, Nam Cao, con người chỉ có thể bị tha hoá một phần nào đó Trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhân tính ở họ vẫn trở về Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao vốn là một thanh niên lương thiện, sống trong sạch và biết xấu hổ khi bà ba Bá Kiến yêu cầu làm việc xấu xa Là nạn nhân của kẻ cường hào độc ác nham hiểm, Chí Phèo vào tù, ra tù và trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tác quái cho bao nhiêu dân làng, phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao người lương thiện” (1-I; 37) Mèi tình với Thị Nở đã thắp lên trong lòng Chí ánh sáng của hạnh phúc vợ chồng bình dị đầy thương yêu Bị từ chối sau bao nhiêu hi vọng, Chí lại trút nỗi buồn vào men rượu song “càng uống càng tỉnh” Chí đã xách dao đến nhà
Bá Kiến gào lên những tiếng kêu căm giận, tuyệt vọng để rồi giết Bá Kiến
và giết luôn cả chính mình Mối tình với Thị Nở đã giúp Chí nhận thức được tình người là đẹp đẽ, cuộc sống lương thiện giản dị và đáng mơ ước biết chừng nào Khi bản chất tốt đẹp trong con người Chí bừng tỉnh là lúc Chí
phải đau đớn chấp nhận chọn lựa cái chết Nội dung tác phẩm Chí Phèo
không đơn giản là số phận của một kẻ bị lưu manh hóa trong xã hội thực dân phong kiến mà còn là một lời tố cáo xã hội thối nát, một sự bày tỏ những khát vọng nhân đạo, một sự thức tỉnh đối với người đọc về sự bất tử của nhân tính con người
Nhân vật Tám Bính trong Bỉ vá của Nguyên Hồng sau bao nhiêu nổi
chìm đau đớn vẫn không nguôi hi vọng khát khao “trở về với con, làm ăn sum họp” Sống với Năm Sài gòn, nhận thức rõ cuộc đời tội lỗi của Năm,
Trang 14Tám Bính đã muốn dứt bỏ tất cả để trở về cuộc sống lương thiện, làm ăn tần tảo bằng đôi vai bé nhỏ của mình Và ngay cả khi tội lỗi vây chặt lấy nàng, nhân tính thánh thiện trong con người nàng vẫn trỗi dậy với bao xấu hổ và xót xa, nàng “ghê sợ cho cái dấu vết mãi mãi xấu xa của đời mình” (26; 169) Trong nhiều tác phẩm, Nguyên Hồng đã miêu tả một cách chân thật đau đớn và dữ dội quá trình bần cùng hoá và lưu manh hoá của dân nghèo thành thị Những con người Êy dù quằn quại trong bóng tối nhưng “vẫn
muốn ngoi lên ánh sáng như những mầm cây xanh” (Ngọn lửa)
Còn dưới lăng kính của Vũ Trọng Phụng, xã hội “khốn nạn”, “chó đểu” cộng với bao thói hư tật xấu mà ông cho là thuộc về bản chất con người đã đẩy con người vào tình trạng tha hoá “Đời chỉ toàn là những sự vô nghĩa lí, đời là một cơn giông tố làm đảo điên tất cả” Bè con trở thành kẻ
thù, anh em ruột trở thành chồng vợ (Giông tè), kẻ nghèo đói trở thành triệu phú, kẻ mạt hạng biến thành vĩ nhân (Số đỏ) Tất cả quay cuồng điên loạn
trong một xã hội mất hết tính người Con người trong xã hội Êy đầy nhơ
nhớp xấu xa Nhân vật Mịch và Long trong Giông tè đều thay đổi nhanh
chóng về số phận và tính cách Từ một người ngay thẳng có hoài bão và chí khí, Long đã trở thành kẻ xấu xa Đã có lúc Long tự nhận thấy nỗi khổ tâm khi mình rơi “vào hạng những kẻ thất phu, vô học, những kẻ mất nhân cách, những kẻ vô nhân tâm” song vẫn tiếp tục “trượt dài trên cái dốc sa đoạ tội lỗi” (46; 442) Còn Mịch lại từ một cô gái quê hiền lành trong trắng sau biến
cố cuộc đời đã trở thành một thiếu phụ gian trá, xảo quyệt đáng sợ, đáng khinh Chính cách nhìn con người ở mỗi nhà văn khác nhau đã tạo nên nét khác biệt Êy
Cũng như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan chỉ nhìn cuộc đời ở mặt trái, mất niềm tin vào nhân phẩm con người Trong sáng tác trước Cách mạng của ông, những nhân vật chính diện xuất hiện rất Ýt ái Hình ảnh con người tha hoá trở đi trở lại như một ám ảnh trong cả tiểu thuyết và truyện
Trang 15ngắn Nguyễn Công Hoan Kiểu con người bị vật hoá trong tình trạng phi nhân tính phù hợp với quan niệm của nhà văn “Tôi vẽ người xấu nhạy hơn người tốt Bởi vì tôi vốn bi quan, nên nhìn mọi vật bằng con mắt hoài nghi, chỉ thấy phía xấu Phía xấu dÔ nhận hơn phía tốt, cho nên tôi nhớ rất kĩ” (22; 351) Nguyễn Công Hoan cũng đã cắt nghĩa tại sao ngòi bút của ông lại hướng về những sự việc không bình thường “Tôi bi quan, tôi hoài nghi, tôi khinh ngạo tất cả Bởi vì tôi sống dưới một chế độ, một xã hội không làm cho tôi tin tưởng, vui vẻ và kính trọng mảy may” (22; 282)
Cái nhìn của nhà văn là một phản ứng của hoàn cảnh nghịch chiều ngoài đời tác động thành tâm lí sáng tác Với tầng lớp thống trị, nhà văn bóc trần cái xấu, cái kì dị, cái ngược đời của chúng Hình ảnh quan cha mẹ dân hiện lên thật ghê tởm “Quan phụ mẫu là một người có nhiều cái đặc biệt Đứng trước ngài, ta có cảm tưởng hỗn xược như ta lại phải ăn một mâm cỗ đầy ăm ắp khi ta đã no nê Nghĩa là ta phát ngấy về sự phì nộn của ngài Ngài cúi mặt xuống, cả tấm thịt trên quai hàm bị cổ áo là cứng nó đùn lên
Nó vẽ nên một nét răn chia hai má ra khu đều nhau, khu nào cũng phính và nung núc những thịt Cái tấm má Êy đầy đặn đến nỗi giá chỉ một mũi ghim nhỏ lỡ đụng vào, là có thể làm chảy ra hàng lít nước nhờn mà ta quen gọi là
mỡ” (20; 61) Nguyễn Thanh Tó trong luận văn viết năm 1994 “Nghệ thuật
trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” đã phân tích rất chi tiết
những biểu hiện nhân vật tha hoá trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan Với người nghèo, ông gọi họ là nó, là thằng, là con, là anh cu, chị cu, là anh
đĩ, chị đĩ Với kẻ giàu có là những khuôn mặt thịt vô hồn, là cây thịt Nguyễn Thanh Tú còng chia ra ba loại người tha hoá trong các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan Đó là con người xấu xí về ngoại hình, con người xấu xí về tính cách; con người thấp hèn và con người bi thảm
Đúng thế, đọc truyện Nguyễn Công Hoan người đọc luôn bị ám ảnh bởi sự tha hoá về nhân hình và nhân tính trong các nhân vật của ông Thế
Trang 16giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan hầu như đều có một ngoại hình xấu xí Điều này đã trở thành một ý thức thẩm mỹ trong sáng tác của ông Khi miêu tả bọn quan lại cường hào ngòi bút của ông không ngần ngại dựng lên những bức tranh đả kích Đó là vẻ xấu xí kì dị đến ghê tởm của hạng người giàu có, quyền thế mà đểu cáng bất nhân Sự xấu xí về ngoại hình đồng nghĩa với sự xấu xa về nhân cách về bản chất Hàng loạt bức chân dung quan lại được Nguyễn Công Hoan vẽ theo nguyên tắc vật hoá Đây là bức chân dung quan huyện Hinh “Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá
có thằng dân nào vô ý buột mồm nói một câu sáo rằng “Nhờ bóng quan lớn,
là ông tưởng ngay nó nói xỏ ông Tức thì mặt bàn là một, mặt nó là hai bị vả đôm đốp Trên mép ông, đã bao công trình mới cÊy được từng Êy râu cho
khác hẳn với tụi huyện trẻ nhãi” (Đồng hào có ma) Đây là bức chân dung
quan nghị Trinh “Một người mặt mũi phương phi, cổ rụt, bụng phệ, môi trễ
mà không râu, mặc quần áo lụa, phe phẩy cái quạt ra vườn chơi”(Hai thằng
khốn nạn) Và chân dung quan phụ mẫu trong tiểu thuyết Bước đường cùng
cũng là khuôn mặt thịt vô cảm không tâm hồn
Không chỉ miêu tả nhân vật tha hoá là kẻ giàu có, quyÒn thế, khi miêu tả người nghèo, Nguyễn Công Hoan cũng đã nhìn thấy ở họ sự xấu xí
vì nghèo khổ, vì đói kém, vì sự bóc lột tàn tạ cả về thể xác lẫn tinh thần Đó
là hình ảnh một bà cụ “trạc ngoài sáu mươi tuổi, trông rõ quê mùa đần ngốc
Mặt mũi đen đủi nhăn nheo” (Báo hiếu, trả nghĩa cha) Đó là chân dung một
thằng bé “Hai mắt trắng dã, lấm la lấm lét Tóc thì bồng lên như tổ quạ Da
đen thui thủi, mặt dạn như men lọ cổ” (Thằng ăn cắp) Và đó là bộ mặt một
kẻ ăn mày “Nó có một cái sọ đếm được tóc Không biết một thứ bệnh gì hương hỏa của cha mẹ đã làm chỗ cho cả chỗ da Êy nhẵn thín, bóng lộn, đỏ đòng đọc như cái mụn đương loét, khiến tóc nó chỉ có thể mọc lơ thơ, như
vầng cỏ trên tảng đá cằn” (Hai cái bụng)…Qua hình hài phi nhân tính của
nhân vật, nhà văn đã vạch trần sự thối tha của một xã hội phi nhân tính
Trang 17Những hình nhân Êy chỉ là nạn nhân của sự vô lương tâm, thói đạo đức giả,
là chất chồng của bao cay đắng tủi nhục đớn đau Hơn thế nữa, đằng sau sự miêu tả tỉ mỉ Êy là lòng căm thù ghê tởm một xã hội đầy rẫy sự tàn bạo, thối nát làm cho con người không phải là người, không thể là người
Không chỉ miêu tả nhân vật tha hoá qua ngoại hình mà nhà văn còn miêu tả rõ những con người tha hoá về nhân cách Kẻ quan lại cường hào thì
ra sức bóp nặn đục khoét dân nghèo Kẻ giàu có thì diễn trò giả dối tham lam, đê tiện Những kẻ nghèo hèn lại tiếp tục kéo dài sự sống bằng trò ăn cắp, ăn xin
Bằng năng khiếu trào phúng bẩm sinh, một vốn sống phong phú về trường đời và một trí tuệ sắc sảo, Nguyễn Công Hoan đã phơi bày thế giới, lộn trái thế giới Ông miêu tả con người tha hoá để cười sự tha hoá của cả xã hội Tố cáo trạng thái phi nhân tính để đòi một trạng thái có nhân tính là giá trị nhân bản trong những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng “Quan niệm con người này làm cho tác phẩm có dược chiều sâu phổ quát hơn một chủ đề tố cáo bọn thống trị hoặc nói đúng hơn là tố cáo trạng thái phi nhân tính của đời sống” (42; 39)
2 Khuynh hướng điển hình hoá của Nguyễn Công Hoan
2.1 Từ khuynh hướng chung của các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam: Xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình
Việt Nam từ thế kỉ XIX trở về trước tuy là một nước nhỏ chậm phát triển với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nhưng có nền văn hoá lâu đời Trải qua bao thử thách dưới áp lực thôn tính thường trực của phong kiến phương Bắc, nhân dân ta vẫn giữ được bản sắc văn hoá với tâm hồn, trí tuệ và sức sống bất diệt của con người Việt Nam Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nền văn hoá Việt Nam có nhiều thay đổi Một tầng lớp trí thức Tây học xuất hiện, tầng lớp này sống nhờ vào nhà nước bảo hộ và được hưởng đặc ân đặc quyền của Pháp Thực dân Pháp sử dụng họ như một
Trang 18công cụ đắc lực làm tay sai tuyên truyền cho những chính sách phản động và
ru ngủ tầng lớp thanh niên Mục đích của chúng được thể hiện rất rõ trong diễn văn khai mạc nghị viện Bắc Kì của thống sứ Pháp Đextơnây “Như vậy, trách nhiệm nhà nước có hai điều: một là coi giữ trong nước được thái bình, khỏi hỗn độn; hai là phải dẫn lối cho dân được tấn tới được phấn chấn hơn Nếu nhà nước trễ nải, không thi hành điều thứ hai thì nước sinh ra nhốn nháo, rồi sau sinh ra xôn xao loạn lạc Bởi vì trong nước thì tự nhiên lòng người dần dần biến hoá, ý kiến từ từ nảy nở, không có luật lệ nào ràng bó lại được Từ ngoài tư tưởng mới cứ lẳng lặng tràn vào không có thành luỹ nào ngăn cản được” (16- II; 174) Vì thế, thực dân Pháp ra sức kiểm duyệt sách báo và đàn áp tư tưởng tiến bộ “Về mặt văn hoá, thực dân Pháp còn thi hành chính sách ngu dân Chúng mở nhà tù nhiều hơn trường học Chúng bắt học sinh các trường tư thục từ mười tám tuổi trở lên phải đóng thuế thân để con
em nghèo không được đi học Kết quả là hơn 90% nông dân mù chữ” (8; 308)
Từ năm 1900 đến 1945, văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh của tư sản phương Tây trong “Hành lang của văn hoá Pháp” Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và ảnh hưởng của phong trào cách mạng, văn học Việt Nam ngày càng phát triển trong đó chủ nghĩa hiện thực càng có ý thức hơn khi hướng về con người trong cảnh lầm than để thức tỉnh
ý thức dân tộc
2.1.1 Những mầm mống của chủ nghĩa hiện thực trước 1930
Bất cứ nền văn học nào cũng phản ánh hiện thực Đó là quy luật tất yếu bởi vì đối tượng của văn học là hiện tượng khách quan, con người và cuộc sống xã hội Với những tiền đề xã hội lịch sử nhất định, chủ nghĩa hiện thực có điều kiện để trở thành một trào lưu, một phương pháp sáng tác hoàn chỉnh
Ở các nước Tây Âu, chủ nghĩa hiện thực phê phán ra đời vào khoảng những năm 30 của thế kỉ XIX trong lóc quan hệ xã hội tư bản chủ nghĩa đã
Trang 19trở thành mối quan hệ thống trị ở hầu hết các nước châu Âu và giai cấp tư sản là giai cấp thống trị Trong đó, giai cấp tư sản bộc lộ hết chân tướng của giai cấp thống trị với tất cả những mâu thuẫn sâu sắc của nó Như vậy, thời điểm xuất hiện mối quan hệ biện chứng giữa bản chất của thời đại và phương pháp phản ảnh thời đại đó theo quy luật lấy hiện thực trực tiếp đầy
bề bộn của chính cuộc sống làm đối tượng sáng tạo của văn học làm nảy sinh chủ nghĩa hiện thực phê phán
Yếu tố hiện thực và yếu tố phê phán thể hiện khá phong phó trong văn học Việt Nam trước thế kỉ XX Giáo sư Lê Đình Kỵ trong chuyên luận
Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du đã cho rằng “Truyện Kiều là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử văn học dân tộc Truyện Kiều đã đặt
nền móng đầu tiên vững chắc cho sự phát triển của nền văn học hiện thực chủ nghĩa ở nước ta” (29; 7) Những yếu tố, tiền đề của chủ nghĩa hiện thực tiếp tục phát triển qua các tác phẩm của Bà chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến…
Đến đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa hiện thực trở thành khuynh hướng văn học với cảm hứng chủ đạo là phản ảnh và tố cáo phê phán hiện thực Những năm 20 của thế kỉ, người ta được chứng kiến một sự chuyển mình thực sự với tên tuổi của Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Trần Quang Nghiệp, Nguyễn Bửu Mọc…Đó là những nhà văn mở đường đi đầu trong việc khám phá, tố cáo sự băng hoại của mọi giá trị nhân phẩm đạo đức Hệ thống nhân vật cũng dần đông đảo với đầy đủ các khuôn mặt xã hội Trong các sáng tác của Hồ Biểu Chánh, người đọc dễ dàng nhận ra nhân vật thợ thuyền, gái điếm, trẻ bán báo, thông ngôn kí lục, tá điền điền chủ, cường hào ác bá, hương chức hội tÒ… “Hồ Biểu Chánh đã bóc trần những lớp vàng son giả hiệu, đã lột mặt nạ những thủ đoạn lừa phỉnh nhơ nhớp, ti tiện
của bọn địa chủ phong kiến” (8- II; 38) Trong tiểu thuyết Tiền bạc, bạc
tiền, Hồ Biểu Chánh tố cáo sự khuynh đảo của đồng tiền trong xã hội Việt
Trang 20Nam trên con đường tư sản hoá Đồng tiền sai khiến con người làm điều bất nhân, biến quan hệ huyết thống thành mối quan hệ giả tạo, biến tình yêu và quan hệ vợ chồng gắn bó thiêng liêng thành những trò hề Tuy các tính cách
nhân vật còn đơn giản nhưng Tiền bạc, bạc tiền vẫn rất có giá trị, có nhiều bước tiến gần tới điển hình hóa Truyện Mạng nhà nghèo của Nguyễn Bửu
Mọc lại xoanh quay gia đình tá điền Năm Vạn, Thị Bần và cô con gái Kim
Sa Họ bị xã hội áp bức đến cùng cực, thậm chí bị bức tử Bộ mặt xã hội thực dân phong kiến hiện lên có sức nặng tố cáo sâu sắc
Truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tèn xây dùng hai
cảnh đối lập có tính kịch cao Một bên là bức tranh cơ cực của những thân phận con sâu cái kiến bé nhỏ chống chọi và bất lực trước sự hung dữ của thiên tai “lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo ngàn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to, nước lớn” Còn bên kia là cảnh trong đình làng, quan phụ mẫu, người có trách nhiệm cao nhất trong việc bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản cho dân thì lại ở trong đình “uy nghi chễm chệ” say sưa chơi tổ tôm mặc dân tình lo lắng khốn khổ Nhà văn đã có dụng ý tố cáo sâu sắc khi cảnh bên ngoài đê chỉ được miêu tả vừa đủ còn cảnh trong đình được miêu tả tỉ mỉ Kịch tính của truyện phát triển theo diễn biến ván bài mà quan phụ mẫu đang chờ ù trong tương quan với tiếng vọng bên ngoài về con đê sắp vỡ Lóc quan cha mẹ dân mãn nguyện được ván bài ù cũng là lúc “khắp mọi nơi, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu không sao kể xiết” Từ sự đối lập gay gắt giữa hai cảnh, Phạm Duy Tèn phản ảnh sự bất công của xã hội,sự vô trách nhiệm, nhẫn tâm lạnh lùng của quan lại và tình cảnh thê thảm của những người nông dân nghèo khổ
Quá trình hình thành chủ nghĩa hiện thực phê phán gắn liền với quá trình hiện đại hoá văn học dần dần làm hiện lên khuôn mặt của một nền văn
Trang 21học mới Quan niệm văn học phản ánh hiện thực thay thế quan niệm chính thống của văn học phong kiến “Văn dĩ tải đạo” Ý thức thẩm mỹ của các nhà văn bước đầu thay đổi với cách nhìn về cuộc sống và xã hội hoàn toàn khác trước Bằng văn học, người đọc nhìn thấu thực trạng xã hội, căm phẫn trước những bất công và thói đời, cảm nhận được nội dung hiện thực phản ánh qua từng tác phẩm Nhiều nhà văn đầu thế kỉ XX đều có một quan niệm chung
về văn chương là sự phản ảnh hiện thực Chất lượng của sự phản ánh làm nên giá trị của tác phẩm Văn học vừa gắn với cuộc đời vừa tiếp thu tinh hoa của văn hoá truyền thống
Nhìn chung, trong giai đoạn này, nghệ thuật điển hình hoá trong văn học chưa rõ, sự phản ánh còn mang tính trực quan, tầm khái quát chưa cao nhưng sự xuất hiện của các tác gia đầu thế kỉ XX là những cánh chim báo hiệu cho sự bùng nổ của chủ nghĩa hiện thực phê phán giai đoạn 1930 -
1945 với nghệ thuật điển hình hoá mà người đặt viên gạch đầu tiên chính là tác giả Nguyễn Công Hoan
2.1.2 Văn học hiện thực phê phán sau năm 1930 và quan niệm thẩm mĩ của các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam trong việc sáng tạo các nhân vật điển hình
Trong những năm 30 của thế kỉ XX, xã hội Việt Nam phát triển trong hoàn cảnh hội nhập tiếp xúc mạnh mẽ với văn hoá phương Tây, đồng thời luôn ý thức đặt văn học vào cuộc đấu tranh dân tộc đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt nhằm tiến tới phá bỏ chế độ thực dân phong kiến, xây dựng một thế hệ mới Hoàn cảnh đó dẫn đến những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, ý thức hệ hình thành những quan điểm, những tâm lí thẩm mĩ và nhiều khuynh hướng trào lưu văn học khác nhau Cuộc tranh luận nghệ thuật giữa hai phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” đã khẳng định phần thắng nghiêng về phái nghệ thuật vị nhân sinh, hướng dòng văn chương vào cuộc sống, phục vụ cuộc sống Ở trào lưu hiện thực phê
Trang 22phán, các nhà văn đã dám nhìn thẳng vào cuộc sống, dám phanh phui hiện thực và biểu hiện rõ thái độ bất bình với chế độ thuộc địa nửa phong kiến Nếu như chủ nghĩa lãng mạn đã có nét nhân văn đem lại sinh khí mới cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX song vẫn là thứ nhân văn tư sản thiếu tính hiện thực thì văn học hiện thực phê phán đã hướng tới những con người cùng khổ Ngòi bút của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng… đều hướng về cuộc sống Đối tượng các nhà văn hiện thực quan tâm không phải là những chàng, những nàng mà là mối quan
hệ giai cấp, là bộ mặt xấu xa của tầng lớp thống trị đương thời và nỗi thống khổ của những lớp người dưới đáy Hiện thực khách quan mà văn học phản ảnh là những mặt nghịch chiều của đời sống Chủ nghĩa hiện thực vạch rõ sự bất công về cuộc đời hướng con người tới thế giới lương thiện, nhìn thẳng vào đời sống để phanh phui nã ra để khám phá mạch ngầm trong dòng chảy chung của xã hội Nét đặc trưng cơ bản của văn học hiện thực phê phán là nghệ thuật điển hình hoá
Điển hình là một hiện tượng nghệ thuật phổ biến có ở nhiều trào lưu sáng tác như chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn và ngay cả trong nghệ thuật dân gian “Điển hình trong nghệ thuật là những nét, những tính cách cơ bản nhất, quan trọng nhất và nổi bật nhất trong đời sống xã hội được tập trung biểu hiện và nâng cao qua sự sáng tạo của nghệ sĩ nhưng chung quy nã vẫn là cuộc sống” (4; 259)
Điển hình là những hình tượng nghệ thuật có chất lượng cao kết tinh tư tưởng tình cảm và vốn sống, tài năng sáng tạo của nhà văn, nó phản ánh sinh động bản chất và quy luật của hiện thực đời sống trong một hình thức nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ Điển hình được coi là biểu hiện của tài năng sáng tạo: “Tính điển hình là một trong những dấu hiệu nổi bật nhất của tính mới mẻ trong sáng tạo, có thể nói điển hình là huy chương của nhà văn” (Bêlinxki) Đặc điểm cơ bản của điển hình nghệ thuật là sự thống nhất biện
Trang 23chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái khái quát và cái cá biệt Hình tượng điển hình là chất nhuỵ kết tinh từ hiện thực Quá trình kết tinh đời sống hiện thực trong điển hình nghệ thuật rất phong phú và đa dạng Nhà văn có thể căn cứ vào các nguyên mẫu ngoài đời để xây dựng hình tượng nhưng bản thân nguyên mẫu phải là những điển hình xã hội là cá thể biểu hiện tập trung tính quy luật.
Sức mạnh của nghệ thuật không chỉ có tính khái quát cao mà còn ở tính cụ thể độc đáo Nếu không có tài năng và vốn sống, nhà văn không thể xây dựng được những hình tượng điển hình Để cá thể hoá nhân vật một cách cao độ nhà văn cần phải tìm ra cá tính độc đáo của nhân vật, tạo dùng cho nhân vật chân dung riêng, ngôn ngữ riêng và phương thức hành động riêng Như vậy nghệ thuật điển hình là con đường tổng hợp từ những nguyên liệu đời sống để xây dựng điển hình Tuy nhiên chỉ đến chủ nghĩa hiện thực nghệ thuật điển hình mới được biÓu hiện rõ nét nhuần nhuyễn và trở thành nghệ thuật điển hình hoá Điển hình hoá là sự tái hiện một cách chân thật tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Tính cách điển hình
là sự hài hoà cao độ giữa cái riêng sắc nét và cái chung có ý nghĩa khái quát cao, phong phú và đa dạng, gắn bó và luôn luôn phát triển với hoàn cảnh điển hình Tính chung và tính riêng của điển hình là sự xuyên thấm nhuần nhuyễn của hai mặt cá thể hoá và khái quát hoá ở mức độ cao Chỉ đến chủ nghĩa hiện thực mới thật sự có điển hình còn chủ nghĩa cổ điển nặng về cái chung nhẹ về cái riêng, chủ nghĩa lãng mạn thì lại nhấn mạnh cái riêng đến mức phi thường nhưng lại nhẹ về tiêu biểu khái quát Kế thừa hai mặt mạnh của chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa lãng mạn đồng thời loại bỏ hai yếu tố hạn chế, chủ nghĩa hiện thực phê phán đã đem lại một sự kết tinh mới
Trong chủ nghĩa hiện thực, cá nhân tự nó là đối tượng trực tiếp của
sự miêu tả, cái khái quát, cái điển hình toát ra từ tính cách con người cụ thể
Cá tính cao độ của nhân vật sẽ làm nó trở nên sinh động Nhân vật của chủ
Trang 24nghĩa hiện thực phê phán hiện ra với những cá tính sinh động từ lí lịch, dáng
vẻ, tác phong, hành động đến ngôn ngữ làm cho người đọc như được tiếp xúc với những con người cụ thể ở ngoài đời đồng thời các nhân vật của chủ nghĩa hiện thực là tiêu biểu cho thời đại Tính chung và tính riêng có mối quan hệ hữu cơ không tách rời nhau Tính cách điển hình phải được đặt trong hoàn cảnh điển hình “Cũng như tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu khái quát của hoàn cảnh điển hình phải thông qua tính chÊt cụ thể riêng biệt của nó Cái hiện lên trước mắt người đọc chính là những hoàn cảnh cụ thể riêng biệt này Qua những nét cụ thể riêng biệt đó, người đọc cảm nhận được những vấn đề xã hội rộng lớn” (33; 532)
Với nguyên tắc lịch sử - cụ thể và nguyên tắc phản ánh bản chất qui luật đời sống hiện thực bằng chính hiện thực đời sống, chủ nghĩa hiện thực phê phán có lợi thế trong việc xây dựng nên những hoàn cảnh điển hình Đó
là hoàn cảnh của những nhân vật được tái hiện vào trong tác phẩm phản ánh được bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất trong những tình thế xã hội với mối quan hệ nhất định Chủ nghĩa hiện thực phê phán bác bỏ cách thức chủ quan, chú trọng quan điểm khách quan, đòi hỏi nhà văn xuất phát từ thực tại, xem xét sự vật trong hoàn cảnh quan hệ xã hội tình thế mâu thuẫn
và đấu tranh giai cấp Chủ nghĩa hiện thực phê phán không tìm đến thế giới
xa lạ mà tìm đến những đối tượng quen thuộc phổ biến của đời sống quanh
ta dù đó chỉ là những cảnh đời vụn vặt nhàm chán Chủ nghĩa hiện thực còn bao trùm cả phạm vi hiện thực tập trung vào khát vọng của con người với những biểu hiện phong phú phức tạp, phát hiện bản chất qui luật khách quan của đời sống bằng chính hiện thực đời sống, là sự “bắt mạch cuộc đời” Cũng như tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu của hoàn cảnh điển hình phải thông qua tính cụ thể riêng biệt của nó để người đọc cảm nhận được chủ đề xã hội rộng lớn Hoàn cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện do chính những tính cách tạo nên Tính cách chính là con đẻ của hoàn
Trang 25cảnh, được giải thích bởi hoàn cảnh Là con đẻ của hoàn cảnh điển hình, tính cách điển hình trở nên phong phú và đa dạng Số lượng tính cách mà chủ nghĩa hiện thực tái hiện nhiều chưa từng có Ở chủ nghĩa lãng mạn, tính cách thường chỉ là sự phân thân của tác giả cho nên số lượng không thể nào phong phú được Các nhà văn của chủ nghĩa hiện thực bám vào cảnh đời thực do đó họ có thể thu được vô số những nguyên mẫu trong đời sống để
tái hiện lại Tiêu biểu như tác phẩm Tấn trò đời của Bandắc có tổng cộng
trên hai nghìn nhân vật bao gồm cả địa chủ, nhà kinh doanh, nhà chính khách, chủ ngân hàng, quan toà, thầy kiện, linh mục, nhà báo, nghệ sỹ nhà văn, thầy thuốc, võ quan, thợ may, chủ hàng cơm, thợ mộc, gác cổng, sen đầm và cả gái giang hồ…
Mặt khác, nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực luôn đặt nhân vật vào hoàn cảnh mà hoàn cảnh xã hội bao giê cũng phức tạp, không đứng yên nên tính cách nhân vật luôn phát triển Tính cách nhân vật phụ thuộc vào hoàn cảnh tuy vẫn chịu sự chi phối của chủ quan nhà văn nhưng đó là thứ chủ quan đã nắm bắt được chân lí khách quan Chủ nghĩa hiện thực coi trọng việc khái quát hoá những đặc điểm miêu tả làm chúng tự nói lên tiếng nói của mình Các nhà văn hiện thực không can thiệp vào sự vật mà để sự vật nói lên toàn bộ bản chất của nó Sự tự phát triển của nhân vật không phải
do tự nó phát triển mà dưới tác động của hoàn cảnh điển hình Điều này khác nhiều so với chủ nghĩa lãng mạn xuất phát từ tính chủ quan trong xây dựng hình tượng do chủ nghĩa lãng mạn quan niệm nhân vật đối lập vượt ra khái quan hệ thực tại, chủ nghĩa lãng mạn không thật sự quan tâm đến hoàn cảnh điển hình mà trong đó các nhân vật hành động Trong các tác phẩm lãng mạn, hoàn cảnh nhiều khi không ảnh hưởng đến tính cách chủ yếu là do
ý chủ quan của tác giả vì thế tính cách nhân vật nhiều khi không phù hợp với lôgic khách quan của đời sống
Trang 26So với các phương pháp sáng tác trước đó, lần đầu tiên chủ nghĩa hiện thực xuất hiện một đặc điểm không phải ở chỗ nhân vật và hoàn cảnh chỉ có phương diện khách quan không liên quan gì đến chủ quan nhà văn mà
ở chỗ chủ quan nhà văn phải tự điều chỉnh phù hợp với thực tế khách quan
để đảm bảo nguyên tắc điển hình hoá
Như vậy, điển hình hoá là một trong bốn nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực mà ở đó có sự thống nhất hài hoà, sự gắn kết chặt chẽ giữa tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Sáng tác của mỗi nhà văn hiện thực- những thư kí thời đại sẽ là quá trình thâm nhập và nghiền ngẫm thực tế khách quan hoá cái chủ quan để nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực
là “một tấm gương xê dịch trên con đường lớn” (Stăngđan)
Chủ nghĩa hiện thực là một trào lưu sáng tác có vị trí quan trọng và
có những đóng góp vô cùng to lớn trong dòng chảy chung của nền văn học Với cảm hứng chủ đạo là sự miêu tả có tính chất phê phán xã hội, chủ nghĩa hiện thực đã hình thành một con đường đi riêng hết sức đặc thù Chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam, tuy xuất hiện sau phương Tây một thế kỉ nhưng đã tiếp thu những tinh hoa của chủ nghĩa hiện thực thế giới, phản ánh hiện thực xã hội thực dân phong kiến ở Việt Nam và hình thành con đường
đi riêng với nhiều sáng tạo Trào lưu hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945 đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của lịch sử văn học nước nhà
Nếu văn học lãng mạn chọn giải pháp đi tìm cái đẹp ở bên ngoài thực tại đương thời thì văn học hiện thực phê phán lại chọn giải pháp nhìn thẳng vào những ung nhọt xã hội, dùng văn chương để vạch trần những ngang trái
ở đời Các nhà văn hiện thực đã có ý thức sâu sắc trong việc xây dựng những điển hình qua quan niệm văn chương phải phản ánh sự thật, phải hướng tới số phận con người nghèo khổ và góp phần làm thay đổi xã hội trên hai phương diện xoá bỏ bất công và hướng tới tình thương tạo một chỗ
Trang 27đứng thanh cao cho con người Trong cuộc bút chiến với Nhất Chi Mai năm
1937, Vũ Trọng Phụng đã tuyên bố “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết, còn tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” (40; 105) Nam Cao cũng đã bày tỏ thẳng thắn quan niệm của mình trong sáng tác “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên
là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ
những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng”- Giăng sáng (1-II;
64) Các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam còng cho rằng phải biến
“văn chương thành một phương tiện tranh đấu của những người cầm bút muốn loại khỏi xã hội con người những nỗi bất công, nhen lên trong lòng người nỗi xót thương đối với những người bị chà đạp nhân phẩm, kẻ yếu bị đầy đoạ vào cảnh ngu tối, bị bóc lột, mỗi ngày kiếm ra đủ bữa ăn tối để còn nhịn sáng hôm sau” (40; 108)
Tiến xa hơn một bước, các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam còn tiếp cận tới gần mỹ học Mác - Lênin về quan niệm dùng cái đẹp để cải tạo
xã hội Họ cho rằng, văn chương phải tranh đấu với bất công xã hội để tìm
đến tình thương và lòng bác ái Nam Cao đã bày tỏ quan điểm trong Đời
thừa “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên tất cả các bờ cõi của giới hạn,
phải là một tác phÈm chung cho loài người Nó phải chứa đựng được những cái gì lớn lao mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn” (1-II; 91) Ước mơ khao khát của nhân vật Hộ chính là hiện thân, là ước mơ khao khát của bao nhà văn hiện thực lúc bấy giờ
Nhà văn Nguyên Hồng cũng luôn trăn trở với quan điểm nghệ thuật
Êy, ông đã viết trong tác phẩm Một trưa nắng những dòng tâm huyết “Tôi
sẽ viết dài về những buổi trưa nắng Êy cho Minh đây Những ông già kéo
xe, người đàn bà che vạt áo, người đàn ông thất thểu cõng đứa bé trên vai! Tôi sẽ đưa những người như thế lên mặt giấy? Tôi sẽ viết như thế nào để
Trang 28thoát khỏi những ám ảnh dứt không được, dập không tắt trong tưởng tượng của tôi” (26; 285) và “Những hiện thân của Minh, của tôi, của hầu hết chúng
ta, hay sẽ là cuộc đời chóng ta thôi Chúng ta phải nói gì về người Để tìm thấy một con đường, một chân trời êm mát, tốt tươi qua những ngày mưa dầu nắng lửa” (26; 286) Theo Nguyên Hồng người nghệ sĩ “phải đi thẳng
vào cuộc đời, xốc vác lấy một phần công việc với mọi người” -Hai dòng
sữa (26; 340), phải “trông thẳng vào cuộc sống, thấu suốt nó, nhận thấy nó
rồi biến đổi để thuận tiện cho sự nảy nở sinh lực của mình”- Ngọn lửa (26;
126) Nhà văn đã sớm nhận thức được mối quan hệ khăng khít giữa nhà văn với hiện thực, giữa tác phẩm văn học và cuộc đời “cái âm nhạc làm bừng sáng những tính tình, làm bừng sáng những tâm hồn, làm nảy nở mạnh mẽ thêm ý chí trong sù vui tin”, nhân vật Huyên thấy tràn đầy sức sống khi hoà mình vào cuộc sống quần chúng lao động “Đời Huyên bắt vào đời họ như
rễ cây tơ bám riết lấy lòng đất, càng lâu bao nhiêu càng vững chắc bấy nhiêu, nảy nở bấy nhiêu với những màu mỡ không bao giờ cạn” (26; 341)
2.1.3 Những thành tựu nghệ thuật điển hình hoá của văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945
Văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 -1945 đã lấy hiện thực đời sống làm chất liệu cho điển hình hoá Hơn hẳn các phương pháp sáng tác khác, chủ nghĩa hiện thực phê phán rất chú trọng yếu tố khách quan - đối tượng phản ánh của văn học Nếu chủ nghĩa lãng mạn chỉ chú trọng “cái tôi nội cảm” (Hêghen) để hướng ngòi bút và tâm hồn của mình vào cái mà “nhà văn muốn nó trở thành” (Gioócgiơ Xăng), thì chủ nghĩa hiện thực phê phán vừa chú ý đến cái tôi bản ngã của nhà văn vừa chú ý đến các “xung động thẩm mỹ nghịch chiều của đời sống” (14; 285) Ý thức về cái tôi của nhà văn là chất liệu để Nam Cao, Nguyên Hồng viết lên những tác phẩm thấm đẫm chất trữ tình nội tâm suy tư về cách sống cách làm người chân chính
Đó cũng là một phương diện của hiện thực Chọn cái tôi để bộc lộ những
Trang 29tình cảm thầm kín, những day dứt trong lòng cùng những khát vọng sống, Nam Cao và Nguyên Hồng đã thành công khi xây dựng bi kịch của những
trí thức nghèo Thứ (Sống mòn), Hé (Đời thừa), Điền (Giăng sáng), Huyên
(Hai dòng sữa), An (Ngọn lửa) là những nhân vật thể hiện ý tưởng nghệ
thuật của các nhà văn hết sức sâu sắc Giáo sư Hà Minh Đức đã nhận xét “có thể nói rằng, ngoài những tác phẩm viết về chủ đề nông dân, hầu hết các tác phẩm còn lại của Nam Cao đều khai thác từ bản thân Điều đó xác định một chủ đề quen thuộc của Nam Cao: chủ đề viết về con người tư sản nghèo, đặc biệt là người trí thức tư sản nghèo” (14; 21) Hệ thống nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đều là hình bóng nhân vật trong cuộc sống thực
Bà Bé Tý ở phố Hàng Bạc là nguyên mẫu nhân vật bà Phó Đoan, nhân vật TYPN cũng chính là một nguyên mẫu ngoài đời
Là những thư kí trung thành của thời đại, các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam đã lách sâu ngòi bót vào ung nhọt xã hội để vạch trần, phanh phui và tố cáo một cách mạnh mẽ Hiện thực xã hội Việt Nam những năm
30 của thế kỉ XX là xã hội thực dân nửa phong kiến với bao nhiêu áp bức nặng nề phơi bày nhiều bất công ngang trái Con người Việt Nam chịu bao nhiêu khổ cực : sự đầy đoạ cuộc sống dưới ách thực dân và phong kiến, sự huỷ hoại của văn hoá đạo đức và truyền thống dân tộc, sự xâm nhập của văn minh phương Tây trong ý đồ đen tối của thực dân Pháp Hoàn cảnh lịch sử
Êy đã tác động tới việc hình thành quan điểm sáng tác của các nhà văn hiện thực phê phán và bộc lộ rõ những tiêu chí của nghệ thuật điển hình hoá:
“Văn chương chỉ là món tiêu khiÓn nếu nó than mây khóc gió Tôi quan niệm văn chương là một phương tiện tranh đấu của những người cầm bút, muốn loại khỏi xã hội con người những nỗi bất công, nhen lên trong lòng người nỗi xót thương đối với những người bị chà đạp lên nhân phẩm, kẻ yếu, kẻ bị đày đoạ vào cảnh ngu tối, bị bóc lột” (40; 108) Trên nguyên tắc sáng tác lấy hiện thực trực tiếp nhưng trái chiều là đối tượng chính, chú
Trang 30trọng mối quan hệ giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình, giải quyết được mối tương quan giữa tính cách và hoàn cảnh thể hiện khuynh hướng nghệ thuật chân chính là nghệ thuật phục vụ cuộc sống, văn học hiện thực phê phán đã khẳng định vị trí xứng đáng của mình trên văn đàn để lại nhiều tác phẩm xuất sắc.
Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam đã có nhiều tên tuổi đầy tài năng tập trung hướng ngòi bút vào việc phê phán mặt trái của xã hội, tố cáo thủ đoạn bóc lột, thủ đoạn mị dân giả dối của giai cấp thống trị đương thời và phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân với thái độ cảm thông sâu sắc Các nhà văn hiện thực Việt Nam cũng chú trọng nguyên tắc điển hình hoá, tập trung xây dựng hoàn cảnh điển hình và tính cách điển hình
Tắt đèn được đánh giá là tác phẩm xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực
phê phán Việt Nam đồng thời cũng là tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất
Tố về nghệ thuật điển hình hoá Nhà văn đã dựng lên bức tranh về nông thôn Việt Nam dưới thời thuộc Pháp với cảnh đời tối tăm thê thảm của những người dân cày nghèo khổ và vạch rõ bộ mặt xấu xa của bọn dịa chủ, cường hào Tác phẩm đã xây dựng thành công tính cách điển hình ở cả nhân vật chính diện và phản diện qua nhân vật Chị Dậu và nhân vật Nghị Quế Tố cáo chế độ sưu thuế vô nhân đạo, Ngô Tất Tố đã ghi lại nét điển hình của nông thôn Việt Nam trong xã hội cũ Đó không chỉ là hình ảnh của làng Đông Xá mà đó chính là hình ảnh bao làng quê Việt Nam tối tăm khổ sở dưới chế độ thực dân nửa phong kiến đương thời Đó thật sự là những ngày rùng rợn cực khổ nhất của nông dân trong xã hội cũ và cũng là thời kì mà mâu thuẫn giữa nông dân và giai cấp thống trị được bộc lộ một cách rõ rệt nhất “quanh cái thẻ sưu thuế người, cả một hệ thống thiên la địa võng bóc lột sự sống, bức tử sự sống” (Nguyễn Tuân)
Trang 31Không chỉ có Tắt đèn của Ngô TÊt Tè, nghệ thuật điển hình hoá
còn thể hiện rất rõ trong nhiều tác phẩm của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng…
Chí Phèo là một truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao viết về bi kịch của
người nông dân trên con đường lưu manh hoá Dù chỉ trong một truyện ngắn, nhà văn đã kể trọn vẹn về cuộc đời một con người từ lúc sinh ra, lớn lên và chết thảm thương Qua số phận của nhân vật Chí Phèo, tác giả cất lên tiếng kêu đau thương của những người nông dân lương thiện bị cùng đường, trở thành tha hoá lưu manh và thể hiện niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con
người Đặt Chí Phèo trong khuynh hướng hiện thực phê phán mới thấy hết
cái nhìn mới mẻ của Nam Cao về điển hình hoá Nhiều nhà văn hiện thực phê phán đã nói đến nỗi khổ của người nông dân vì cùng đường mà phải bán ruộng, bán con, bán chó và bán cả dòng sữa của mình cho kẻ giàu Tưởng như sẽ chẳng có gì để nói thêm về nỗi cực khổ của người nông dân, thế nhưng Nam Cao đã sáng tạo ra mạch nguồn mới: nỗi khổ của người nông dân khi phải bán đi nhân phẩm của mình Từ một anh canh điền lương thiện, Chí Phèo đã trở thành quỷ dữ với khuôn mặt của “một con vật lạ” và với những cơn say vô tận triền miên, những hành động tội ác trong vô thức Và khi tưởng như có thể gột rửa tất cả để đứng dậy trong lương thiện bản năng, Chí Phèo lại bị những định kiến xã hội buộc phải tìm con đường chết Chí Phèo mang nét chung tiêu biểu về bi kịch tha hoá, về sù cự tuyệt trở thành con người và mang đầy những nét riêng cá biệt về lai lịch khi sinh ra trong cái lò gạch bỏ hoang, về ngoại hình kẻ lưu manh với “cái đầu trọc lốc, mặt đen và rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết…”, về ngôn ngữ đầu đường xó chợ với tiếng chửi đời, chửi trời và chửi chính người đẻ ra hắn, về cái chết trên vũng máu trong sự thờ ơ của cả dân làng
Tóm lại, từ những quan điểm thẩm mỹ của các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam 1930 -1945, bạn đọc nhận thấy rõ những tiêu chí tạo nên
Trang 32bản sắc của chủ nghĩa hiện thực phê phán nói chung và của Việt Nam nói riêng Văn học thời kì này đã khắc hoạ được chân dung khá đông đảo của những tầng lớp người thời kì đó Mỗi nhân vật đại diện cho một tầng lớp người rộng lớn Nhân vật có sức đại diện càng cao, càng tiêu biểu thì dấu
Ên càng sâu sắc, càng giàu sức nặng tố cáo Với quan niệm đó, văn học hiện thực phê phán đã xây dựng được nhiều nhân vật điển hình và hoàn cảnh điển hình Đó là những hình tượng văn học được khái quát từ hiện thực cuộc sống đầy sinh động
2.2 Đến nét riêng trong nghệ thuật điển hình hoá của Nguyễn Công Hoan
Trong sự đa dạng và phong phú của văn học Việt Nam 1930-1945, những sáng tác của Nguyễn Công Hoan chiếm một vị trí rất đặc biệt Ông viết nhiều song đặc biệt thành công ở truyện ngắn, tạo nên sự mới mẻ trong thể loại này những năm đầu thế kỉ XX Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mở
ra một thế giới mới lạ, hấp dẫn khiến người đọc yêu thích, mến mộ - đó là
khuynh hướng trào phúng Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan cũng viết
“người ta nhận thấy Nguyễn Công Hoan sở trường truyện ngắn hơn truyện dài Truyện ngắn của ông tiêu biểu cho thứ văn vui, thứ văn mà có lẽ từ ngày nước Việt Nam có truyện viết theo lối mới, người ta chỉ thấy ở ngòi bút ông thôi” (45; 56)
Đứng trên cảm hứng phủ định, phê phán xã hội của trào lưu hiện thực phê phán, tiếng cười của Nguyễn Công Hoan đa dạng, nằm trong mạch cười của văn học dân tộc, kế thừa tiếng cười trong văn học dân gian của Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến…“Nguyễn Công Hoan là nhà văn
xã hội lớn, một ngòi bút hiện thực trào phúng phong phú, cường tráng và hết sức độc đáo, xuất hiện một cách hiếm hoi trong lịch sử văn học Việt Nam từ đầu những năm 1930 -1945” (35; 31)
Là nhà văn mở đường cho trào lưu hiện thực trước Cách mạng, Nguyễn Công Hoan bắt đầu cầm bút từ những năm hai mươi của thế kỉ XX
Trang 33Tập truyện ngắn đầu tiên là Kiếp hồng nhan ra đời 1923 Từ 1926 trở đi ông
vừa dạy học, vừa viết văn và đến năm 1929, Nguyễn Công Hoan đã khẳng
định tài năng nghệ thuật của mình với những truyện ngắn in trong mục Xã
hội ba đào kí trên An Nam tạp chí do Tản Đà chủ trương Ông viết hàng loạt
truyện ngắn với khuynh hướng hiện thực rõ rệt, khẳng định một con đường
đi đúng đắn, tích cực, tiến bộ mặc dù hoàn cảnh văn học công khai nước ta trước Cách mạng bị bọn thực dân thống trị đặt dưới chế độ kiểm soát ngặt
nghèo Trong Đời viết văn của tôi, ông đã từng bày tỏ “ĐÒ tài truyện ngắn
của tôi là những việc, những cảnh xảy ra ở trước mắt Thường thì nó chỉ là một câu nói mà tôi vụt nghe thấy hoặc một hình ảnh thoáng qua trong khi tôi
đi đường Nó cũng chỉ là một chi tiết của một thời sự hoặc chỉ là tấm ảnh
đăng trên báo (Chiếc quan tài) Nếu tôi dùng được một đề tài thông thường
để ám chỉ xa xôi bóng gió một chính sách giả dối (Ngậm cười), một nhân vật quan trọng (Kép Tư Bền), một cách đãi ngộ bất công (Con ngựa già) NÕu
truyện ngắn biến thành thể ngụ ngôn để động chạm đến bọn thống trị mà Kiểm duyệt có mắt mà như mù, tôi mới cho là đạt” (22; 346, 347)
“Truyện ngắn là thể văn xuôi tự sự gần gũi, quen thuộc, là hình thức ngắn của tự sự Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải là hệ thống sự kiện mà là cái nhìn tự sự trước cuộc
đời”(Giáo trình lí luận văn học - NXBGD - 1997) Nhân vật của truyện
ngắn thường là hiện thân của một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người chứ không là toàn bộ tồn tại trong mọi mối quan hệ Các tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống con người Với Nguyễn Công Hoan, sự độc đáo khác biệt trong việc xây dựng điển hình hoá của ông chính là sở trường về truyện ngắn trào phúng với bút pháp cường điệu
Trang 342.2.1 Sở trường về truyện ngắn trào phúng
Cảm hứng phê phán của dòng văn học hiện thực 1930 -1945 có nhiều dạng thức phong phú Có cảm hứng bi kịch, cảm hứng bi hài kịch và đặc biệt độc đáo là cảm hứng trào phúng mà Nguyễn Công Hoan là một tác gia tiêu biểu nhất Ở các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, dễ dàng nhận thấy đả kích, trào phúng là cảm hứng chủ đạo Nhà văn bộc lộ sù phê phán kịch liệt
xã hội thực dân tư sản với những sản phẩm lố lăng đồi bại của nó Cảm hứng trào phúng Nguyễn Công Hoan tiếp thu truyền thống và được nâng lên tầm cao mới, giàu tính hiện thực, tính thời sự và tính chiến đấu cao với một nhiệt tình phê phán mãnh liệt cao độ Ngay từ khi mới cầm bút, ông đã tự vạch cho mình một con đường đi riêng Thông qua tiếng cười trào phúng, nhà văn tập trung làm nổi bật xung đột giàu nghèo, sự bất công, thối nát của
xã hội và cũng không ngại ngần đả phá những chính sách thực dân Cảm hứng phê phán của Nguyễn Công Hoan đã đạt đến đỉnh cao và tiếng cười trào phúng đã thực sự trở thành những đòn đánh “đơn giản mà ác liệt” (36; 123) Những đề tài về sự đối lập giàu - nghèo rất gần quan điểm giai cấp Nhà văn đã dũng cảm phơi bày bản chất xấu xa, bỉ ổi của tầng lớp quan lại
và tầng lớp tư sản, vạch trần những thủ đoạn bịp bợm của bọn thực dân thống trị
Với Nguyễn Công Hoan, trào phúng là một con đường đi riêng độc đáo, phù hợp với năng khiếu, sở trường và cá tính sáng tạo Cảm hứng trào phúng của ông được hình thành bởi cả nguyên nhân chủ quan và khách quan Do hoàn cảnh xã hội, điều kiện gia đình cùng cá tính nên Nguyễn Công Hoan dễ nảy sinh tiếng cười Cơ sở tiếng cười của ông thường là do nhà văn nhận thức được
sự trái ngược giữa hiện tượng với thực chất của sự vật và con người
Nguyễn Công Hoan là người có năng khiếu trào phúng bẩm sinh Ông vốn thông minh, tinh nghịch và từ nhỏ đã có khiếu hay hài hước, hay chế nhạo, luôn có cái tinh quái, nghịch ngợm ở tuổi học trò “làm giấy khai
Trang 35sinh là một việc nghiêm chỉnh nhưng tôi không bỏ được thói tinh nghịch Muốn ngày sinh tháng đẻ của tôi có ý nghĩa dối trá, tôi đã lấy ngày 1 tháng 4
là ngày mà phong tục nước Pháp cho phép cả nước được nói lừa để đùa nhau Tôi khai đẻ 1905, lậu hai tuổi” (22; 48) Khi viết văn, ông cũng mang giọng thường ngày là trào phúng và hài hước Tuy nhiên cảm hứng châm biếm không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà văn mà “nảy sinh do những đặc tính do chất hài khách quan của đời sống” (44; 172) Ông sinh ra trong mét gia đình quan lại nghèo thất thế, có điều kiện để mắt thấy tai nghe những truyện bất công vô nhân đạo ở chốn quan trường cùng với hiện thực
xã hội Việt Nam đương thời, đó là những tiền đề làm nên phong cách trào phúng Nguyễn Công Hoan Nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh đã nhận xét:
“Phong cách trào phúng Nguyễn Công Hoan vừa lộ rõ cái thông minh của bản thân, vừa có cái sâu sắc của văn học cổ, có cả cái khoẻ lẫn cái thô của văn học dân gian, đây đó có khía cạnh bảo thủ của Nho giáo và thường khi thấm đượm một chủ nghĩa nhân văn” (24; 32, 33)
Với hơn 200 truyện ngắn và gần 30 truyện dài, Nguyễn Công Hoan được đánh giá rất cao ở truyện ngắn trào phúng Đó là sở trường, là năng khiếu đặc biệt và cũng là quan điểm sáng tác của ông Với ông, truyện ngắn
là “một vấn đề được nuôi sống bằng những chi tiết hàm súc có sức chứa và sức nổ”, “được xây bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc” (22; 301) Và ông cũng đề cao cái
“ngắn”, cái “thanh giản” Sự ngắn gọn chặt chẽ Êy được nhà văn minh hoạ một cách cụ thể: “Trong việc viết truyện, quân là chi tiết, tác giả là tướng chỉ huy Quân phải đủ về số lượng và chất lượng” (22; 306) Quan điểm Êy được ông thể hiện rất đắc dụng trong nghệ thuật viết truyện ngắn trào phúng
“nhiều truyện thật hay, thuộc vào những sáng tác “cổ điển” của văn xuôi quốc ngữ hiện đại, khẳng định ông như là một bậc thầy trong truyện ngắn, trước hết là loại truyện ngắn trào phúng Tiếng cười trào phúng của Nguyễn
Trang 36Công Hoan là tiếng cười hồn nhiên, khoẻ khoắn, mặn mà Văn Nguyễn Công Hoan là thứ văn của đời sống, rất linh hoạt và đặc biệt là rất vui TiÕng cười Êy, lối văn Êy là sự kế thừa tiếng cười lạc quan, chứa đựng một quan điểm nhân sinh khoẻ mạnh tích cực trong truyền thống trào phúng của văn học dân tộc” (31; 4)
Truyện trào phúng dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để thực hiện chức năng phê phán, châm biếm, đả kích cái xấu, cái lỗi thời và tạo ra tiếng cười vui giải trí Để gây được tiếng cười, truyện phải lôi kéo được độc giả đi theo một mạch tình cảm nhất định, đến một lúc nào đấy truyện phải kết thúc đột ngột Kết thúc này, hoặc là trái với suy nghĩ của người đọc hoặc
là trái với nguyên nhân của sự việc Kết thúc càng có khoảng cách xa với cảm nhận về sự việc ở độc giả bao nhiêu thì tiếng cười bật ra càng sâu, càng lớn bấy nhiêu Nguyễn Công Hoan rất tài trong việc xây dựng những tình
huống bất ngờ và lối kết thúc độc đáo lật tẩy bản chất nhân vật Thế là mợ
nó đi Tây là một truyện độc đáo ngay ở cách thức thể hiện Toàn truyện là
chín bức thư nhân vật Tuyết Anh gửi cho chồng trong ba năm xuất dương
du học ở Pháp Qua những lời kể lể, giãi bày, nhờ cậy của Tuyết Anh với chồng, người đọc hiểu được nỗi vất vả của người ở lại Vợ đi du học, người chồng đã phải làm thêm giờ để có tiền gửi cho vợ, phải cáng đáng chăm sóc
“lấy tình rể như con” lo chăm mẹ vợ lúc ốm đau, lo tang ma khi mẹ vợ mất
và lo trông nom em vợ “cho nó được nên người” Ngay cả khi mắc bệnh ho
ra máu, người chồng vẫn không được nghỉ ngơi vì “trồng cây sắp đến ngày
ăn quả” Tám bức thư đầu, sau những lời biết ơn chan chứa là lời hứa thuỷ chung “Cậu sẽ trông thấy tôi công thành danh toại, một mai về nước đem tiếng thơm về đền ơn trả nghĩa cậu mà thôi Nếu kiếp luân hồi mà có thực, thì tôi xin cả kiếp sau cũng tìm được cậu để trả nghĩa cho trọn cái ơn này” (23-I; 168) Bức thư thứ chín là bức thư ngắn nhất lột tả toàn bộ bản chất người vợ phụ nghĩa bạc tình, giả dối thủ đoạn đến kinh tởm:
Trang 37“Thưa cậu.
Tôi bất đắc dĩ cầm bút viết thư này để tạ tội cùng cậu, xin cậu tha thứ cho người vợ bạc bẽo, phản bội này
Tôi đã chịu ơn cậu rất nhiều, cũng mong đến ngày công thành danh toại,
về để hầu hạ cậu, giúp đỡ cậu trong lúc ốm đau Nhưng mà…tóc tơ ngắn ngủi có ngần Êy thôi, cậu cũng cầm lòng như tôi hư mà cậu bỏ tôi từ trước, hoặc duyên đôi ta giữa đường đứt quãng, từ nay xin cậu coi như tôi không
hệ thống như Số đỏ của Vũ Trọng Phụng Nói chung, ông thường viết rất
ngắn, rất gọn “mỗi truyện trung bình chỉ độ ba đến bốn trang Số lượng nhân vật cũng rất Ýt, thường trong khoảng từ một đến ba nhân vật trong đó có một hoặc hai nhân vật chính Nếu tình huống truyện phức tạp hoặc cần số nhân vật nhiều hơn thì ông lại cắt làm hai đến ba truyện tiếp nhau nhưng vẫn
có sự hoàn chỉnh riêng như Chiếc quan tài, Samandji, Tôi cũng không hiểu
tại làm sao, Thằng Quýt Có khi ông lấy tên khác nhưng tạo thành cụm ba
truyện như Ai khôn; Đàn bà là giống yếu; Một tấm gương sáng hoặc cụm hai truyện như Công dụng của cái miệng; Người thứ ba hay Chiếc đèn pin;
Nạn râu…” (24; 393,394) Nguyễn Công Hoan có nhãn quan trào phúng
nhìn đâu cũng thấy mâu thuẫn nực cười, và độc đáo ngay từ việc lấy tên truyện, chọn tên nhân vật “Ông có một sức bút thật dồi dào, dẻo dai, nổi tiếng sớm cả ở truyện ngắn và truyện dài Song, chỉ ở truyện ngắn, cá tính
Trang 38sáng tạo mạnh mẽ , độc đáo của nhà văn mới phát huy đầy đủ và vị trí văn học sử của ông là ở truyện ngắn trào phúng” (31; 3)
Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thường ngắn gọn, chủ đề rõ ràng nhưng cũng đã thể hiện được những nét cơ bản của nghệ thuật điển hình hoá trong việc xây dựng nhân vật điển hình và những tình huống điển hình Trong đó bút pháp cường điệu là một nét tiêu biểu
2.2.2 Bút pháp cường điệu
Tiếp thu truyền thống văn học dân gian, văn xuôi hiện thực phê phán
đã sử dụng yếu tố trào lộng như một phương tiện nghệ thuật “tính cách, tình huống và hành động được thể hiện dưới dạng buồn cười hoặc Èn chứa cái hài, nhằm giễu cợt, phê phán cái xấu, cái lỗ bịch, cái lỗi thời” (43; 92) Đó là thứ vũ khí sắc bén và lợi hại có một giá trị nghệ thuật rất cao
Xuất phát từ nguyên tắc thẩm mĩ của chủ nghĩa hiện thực phê phán là bằng nghệ thuật trào lộng làm mất thiêng đối thủ chính trị Mặt khác, do bản chất đối tượng khai thác của văn học hiện thực là phát hiện mặt trái của đời sống hay những mặt nghịch chiều của xã hội cho nên bút pháp trào phúng chiến đấu trực diện vào kẻ thù Hơn nữa, chịu ảnh hưởng của hội nhập văn hoá phương Tây, các nhà văn Việt Nam đã có ý thức dùng ngòi bút chiến đấu và có ý thức thực sự khi sử dụng trào lộng cho mục đích viết văn của mình Văn học Việt Nam vốn giàu yếu tố hài hước với truyện tiếu lâm, truyện Trạng Lợn, Trạng Quỳnh, với tiếng cười dân gian trong chèo, tuồng
và rất nhiều tác giả văn học trung đại như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…
Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đều mang một nét chung đó là nhằm “lật tẩy mặt trái đời”, thế giới trong truyện Nguyễn Công Hoan là thế giới bị “lộn trái”, mà ở đó tất cả bản chất của những hiện tượng xã hội đều
bị phanh phui, bị bóc trần Nhà văn đã phơi bày những đê tiện, bỉ ổi của tầng lớp thống trị từ địa chủ cường hào ở thôn quê đến những ông chủ bà chủ,
Trang 39những “gái mới” ở thành thị và đủ loại quan “quan lớn quan bé, quan ông quan bà, quan trên công đường và quan trong tư thất, quan ban ngày và quan ban đêm” (31; 4)
Từ những mâu thuẫn trào phúng khi trở thành những tình huống trào phúng đều phải trải qua bàn tay sáng tạo của người nghệ sĩ Nguyễn Công Hoan luôn có xu hướng phóng đại các tình huống trào phúng khi tổ chức mâu thuẫn thành tình huống Thủ pháp phóng đại làm cường điệu thêm tình huống, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc, gây cho người đọc một hiệu ứng mạnh mẽ hơn trước những cảnh đời nghịch lí, phi lÝ, những mặt trái đời, mặt trái người “viết lối văn hài hước và trào phúng, tôi muốn độc giả đọc mỗi truyện của tôi đều có tiếng cười chua chát để khinh, để ghét, để thù những kẻ đáng khinh, đáng ghét, đáng thù” (22; 368)
Đứng trước mỗi vấn đề xã hội, với mỗi người, mỗi cảnh, mỗi hiện tượng, từng nhà văn có cách nhìn, cách nghĩ khác nhau, nhất là cách khai thác và thể hiện thành truyện thì thật thiên hình vạn trạng Thường trong nhiều hiện tượng của xã hội cũ vừa có cái bi, vừa có cái hài Nhiều khi cái bi
và cái hài đan xen, trộn lẫn với nhau Nguyễn Công Hoan luôn biết thể hiện linh hoạt, tài tình những tình huống bi hài lẫn lộn nên đằng sau tiếng cười thường Èn chứa những giọt nước mắt đắng cay Cũng có những hiện tượng trong cuộc sống dường như không thấy lộ rõ cái hài, nhưng với con mắt tinh nhạy biết nắm bắt, sàng lọc của người nghệ sĩ có sở trường trào phúng như Nguyễn Công Hoan, thì lại dễ dàng nhìn ra những nét lấp lánh của cái hài và
có ngay một góc độ để lia ống kính chiếu thẳng vào những cái đáng cười, đáng giễu, đáng đả kích Đằng sau tiếng cười giòn giã sảng khoái Êy Èn chứa niềm phẫn uất cao độ trước sự hoành hành của cái ác độc, cái đểu giả, xấu xa Bởi vậy, khi va chạm với thực tế cuộc sống, một cuộc sống mà Nguyễn Công Hoan thấy “Cái gì cũng là giả dối, đáng khôi hài Thế mà thằng làm trò khôi hài là thằng thực dân, lại làm ra mặt nghiêm chỉnh Thật
Trang 40là buồn cười” (22; 367) Thế nên ông rất thích chế giễu, mỉa mai để “khôi hài tác giả việc khôi hài” Từ đó, Nguyễn Công Hoan càng nhanh nhạy tìm
ra những cốt truyện mang đậm chất hài, giàu kịch tính Nhiều truyện của ông đúng là những vở bi hài kịch ngắn Ở đấy như đang có gì xảy ra, đang diễn biến và thường giản dị, tự nhiên, có vẻ như được nảy sinh dễ dàng, một cái gì tự thân, vốn có Bút pháp cường điệu của ông đa dạng, phong phó thể hiện ở cả truyện ngắn và truyện dài Nhà văn phóng đại khi tô đậm những nét tính cách, cường điệu khi miêu tả ngoại hình và nói quá khi diễn đạt hành động nhân vật trào phúng
Năm 1939, Nguyễn Công Hoan viết truyện Cái thủ lợn phản ánh thói
tranh nhau vị thứ ở nông thôn giữa Lí Trung và Kí Liễu và rút cục hai bên cùng khánh kiệt gia tài bởi lũ quan lại đục nước béo cò Chỉ bằng gần hai mươi dòng chữ mang tính chất kể đầy khách quan của nhà văn, nhân vật Lí Trung hiện lên như một bức tranh biếm hoạ về cả ngoại hình, tính cách và hành động “Ông năm nay ngót năm mươi Ông để tóc dài nhưng cao ở đỉnh đầu, có búi tóc to bằng ngón tay cái mà sự hiểu biết của ông chưa to bằng búi tóc Êy Mặt ông bì bì, lắm thịt nên thoạt trông khó ai bảo được là thông minh Đôi mắt ông không mấy khi trông thẳng ra ánh sáng vì nếu sáng quá ông nhìn không rõ Nó thuộc về thứ mắt bẩy lẻ
Thuở bé ông cũng đi học nhưng cắp sách được ba tháng tròn là ông trốn biệt Đến khi ra làm lí trưởng, ông mới hối hận và cuống cuồng học viết có mỗi một chữ kí…Công việc về chữ nghĩa, ông đã có nho bên huyện làm hộ Vậy mà chả vấp váp tí nào Việc làng ông cứ hứa bừa Cốt tốt với quan là ông chẳng cần ai Mấy lần bị dân kiện song ông thu xếp chỗ quan nha xong ngay Cho nên làm việc làng ông chỉ bới móc mà ông bới móc thực tài Bất
cứ việc gì, từ việc vợ chồng người ta đánh nhau trong nhà cho đến ai văng tục, văng rác mà ông nghe tiếng ông đều ăn uống được cả Ông bảo trong thời kì làm việc, ông phải làm tiền cho ba việc: Một là thu lại cái vốn đã bỏ