1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh trung học cơ sở tỉnh yên bái - nguyên nhân và cách chữa

109 581 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 506 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc chuẩn hóa ngôn ngữ chohọc sinh nói chung, học sinh Trung học cơ sở ở tỉnh Yên Bái nói riêng, tác giảluận văn chọn đề tài: "Lỗi về câu trong bài là

Trang 1

Chính vì lẽ đó, từ nhiều năm nay, khi dạy học môn tiếng Việt ở trườngphổ thông người ta đã rất chú trọng dạy phần ngữ pháp - câu cho học sinh.Câu tiếng Việt được đưa vào chương trình dạy học môn tiếng Việt ở cả tiểuhọc, trung học cơ sở lẫn bậc phổ thông trung học Câu (tiếng Việt) được chútrọng nh vậy là do hiệu quả sử dụng của nó trong giao tiếp Nếu một ngườikhông có kỹ năng tạo câu tốt thì hoạt động tư duy, hoạt động giao tiếp củangười đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Ý thức được điều này, các thầy cô giáo giảng dạy ngữ văn ở phổ thông

đã cố gắng cung cấp những kiến thức về câu và rèn luyện kỹ năng đặt câuđúng, đặt câu hay cho học sinh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạtđược, việc dạy và học về câu tiếng Việt ở nhà trường phổ thông vẫn còn nhiềuhạn chế Điều này được biểu hiện trực tiếp qua kết quả học tập của học sinh.Các em được học rất nhiều về tiếng Việt, được rèn luyện các kỹ năng sử dụngtiếng Việt nhưng các em vẫn mắc nhiều lỗi khi sử dụng tiếng Việt Các em

Trang 2

học nhiều về đơn vị câu nhưng khi đặt câu, các em vẫn mắc nhiều lỗi về câu.Vậy nguyên nhân nào dẫn đến hiện trạng đó? Giải pháp nào hạn chế và khắcphục được việc mắc lỗi đó của học sinh? Đây là những câu hỏi lâu nay cácnhà nghiên cứu, các thầy cô giáo giảng dạy môn Ngữ văn đã đặt ra và đi tìmlời giải đáp Là một giáo viên dạy ngữ văn ở một tỉnh miền núi, đứng trướcthực trạng học sinh của mình học tiếng Việt nhưng vẫn mắc nhiều lỗi khi sửdụng tiếng Việt trong đó có lỗi về câu, chúng tôi cũng rất băn khoăn và mongmuốn tìm ra lời giải cho vấn đề này.

Nh trên đã trình bày, học sinh nói chung, học sinh tỉnh Yên Bái nóiriêng, khi sử dụng tiếng Việt thường hay mắc lỗi Đó là lỗi chính tả, lỗi dùng

từ, lỗi ngữ pháp v.v Trong các loại lỗi đó chúng tôi tìm hiểu riêng lỗi về câutrong các bài làm văn của học sinh THCS tỉnh Yên Bái Tác giả luận văn chọntìm hiểu lỗi về câu bởi lẽ, câu có một vai trò quan trọng trong giao tiếp Nếucoi giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ là một quá trình thì việc lập câu, diễn ý làmột mắt xích cơ bản trong quá trình đó Vì vậy, nếu mắc lỗi về câu thì dễ mắclỗi ở cấp độ trên câu Do đó, việc giúp học sinh cách nhận diện lỗi, tìmnguyên nhân mắc lỗi và chỉ ra cách chữa phù hợp cho những câu sai là mộtviệc làm hết sức quan trọng và cần được tiến hành ngay

Đối với học sinh THCS, tư duy của các em đã phát triển và các em đã cómột trình độ ngôn ngữ nhất định Do đó, bên cạnh việc tiếp nhận những trithức mới, các em đã có khả năng nhận biết được câu đúng, nhận diện đượcnhững câu sai, đã có khả năng phân tích những câu sai để tìm nguyên nhân vàđưa cách chữa phù hợp

Hơn nữa, nh chóng ta đã biết giáo dục THCS là cấp cơ sở của bậc trunghọc tạo tiền đề cho phân luồng và liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáodục chuyên nghiệp Học sinh học xong THCS sẽ có một bộ phận các em rađời học nghề và một bộ phận các em sẽ tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn.Chính vì những lẽ trên, việc giúp học sinh THCS biết phát hiện lỗi, hiểu

Trang 3

nguyên nhân mắc lỗi, biết cách chữa và tránh được lỗi về câu là một việcquan trọng và cần thiết Việc làm này giúp cho học sinh "dần dần có ý thức,

có trình độ, có thói quen nói và viết đúng tiếng Việt" (Phạm Văn Đồng - Giữgìn sự trong sáng của tiếng Việt) Từ đó năng lực ngôn ngữ của học sinh ngàycàng hoàn thiện và nâng cao

Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc chuẩn hóa ngôn ngữ chohọc sinh nói chung, học sinh Trung học cơ sở ở tỉnh Yên Bái nói riêng, tác giảluận văn chọn đề tài: "Lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh Trung học cơ

sở tỉnh Yên Bái - nguyên nhân và cách chữa"

II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, câu có vai trò rất quan trọng Câugiúp cho việc hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng, tình cảm từ người nàysang người khác Vì vậy, để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả, người tham gia giaotiếp phải đặt được câu đúng, câu hay Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi tạo câungười nói, người viết thường hay mắc lỗi Việc đặt câu sai dễ gây ra sự hiểu lầmlàm cản trở đến việc bày tỏ tình cảm, thái độ, nhận định, đánh giá… của mọingười với nhau Vì vậy, vấn đề này nếu không được tìm hiểu, nghiên cứu để tìm

ra biện pháp khắc phục thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp, tư duy nói chung,ảnh hưởng đến kết quả dạy và học môn tiếng Việt ở nhà trường phổ thông nóiriêng

Chính vì thế, vấn đề “lỗi về câu - nguyên nhân và cách chữa”luôn là mộtvấn đề "nóng" thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, của các thầy côgiáo giảng dạy môn Tiếng Việt

Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Tưởng Nguyễn Thu - Lê Xuân Khoa đã cho ra đời cuốn sách "Sai, đúng, hay trong việcdùng từ, đặt câu, chấm câu" (Sách dùng cho học sinh cấp 2) Trong cuốn sáchnày, các tác giả đã trình bày, giới thiệu cho học sinh cách đặt câu thế nào là đúng

-và bước đầu chỉ ra hai loại lỗi học sinh thường mắc phải khi đặt câu là: câu viết

Trang 4

sai cú pháp và câu sai logic.

Tiếp theo, trên tạp chí Ngôn ngữ, số 1 năm 1969, tác giả Trần Phô đăngbài: "Có thể tìm con đường ngắn nhất để dạy viết đúng câu" Trong năm bàidạy về câu mà Trần Phô đưa ra có một bài dạy về lỗi câu và cách chữa Trongbài viết của mình, Trần Phô bước đầu chỉ ra ba trường hợp câu sai là: thiếuhẳn hạt nhân, thiếu một vế của hạt nhân và cấu trúc hạt nhân bị phá vỡ rối nát.Theo tác giả Trần Phô, nguyên nhân dẫn đến câu sai là vì không xác lậpđược hạt nhân của câu Ông đưa ra cách chữa là phải lập nên hạt nhân của câurồi thêm phụ ngữ để bổ sung ý nghĩa

Chịu ảnh hưởng quan điểm ngôn ngữ học truyền thống, một số tác giả đãdựa vào cấu trúc câu để tìm hiểu lỗi câu, phân loại lỗi của câu và đề raphương pháp chữa Tiêu biểu cho nhóm tác giả này là Nguyễn Minh Thuyết,Nguyễn Xuân Khoa

Trong bài viết: "Mấy gợi ý về việc phân tích lỗi và sửa lỗi ngữ pháp chohọc sinh" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 3 năm 1974, tác giả Nguyễn MinhThuyết đề cập đến hai loại lỗi về câu : lỗi vi phạm quy tắc về cấu tạo câu vàlỗi vi phạm quy tắc về cấu tạo tổ

Còn Nguyễn Xuân Khoa, trong bài "Lỗi ngữ pháp của học sinh, nguyênnhân và cách chữa" đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, sè 1 năm 1975 đã trình bàytương đối cụ thể về phân loại lỗi ngữ pháp, cách xác định các loại lỗi về câu,nguyên nhân mắc lỗi về câu đồng thời chỉ ra nguyên tắc và phương pháp chữalỗi Theo Nguyễn Xuân Khoa, lỗi ngữ pháp thường gặp trong bài viết của họcsinh là lỗi về cấu trúc câu và ông đã quy những lỗi ngữ pháp đó vào năm loạilỗi: câu thiếu thành phần hạt nhân; câu có các thành phần không có quan hệ ýnghĩa chặt chẽ, chính xác; câu có kết cấu rối nát; lỗi về dùng quan hệ từ; lỗi

về dùng dấu chấm câu

Dựa vào cấu trúc câu để xác định, phân loại lỗi về câu và đề ra cách chữa

là những đóng góp quan trọng của các tác giả trên trong việc chữa câu sai cho

Trang 5

học sinh Việc giải quyết lỗi về câu dựa vào cấu trúc câu giúp cho học sinhviết được những câu độc lập đầy đủ các thành phần, tức là đúng về mặt ngữpháp Tuy nhiên, phương pháp chữa lỗi này chỉ tìm và chữa được những câusai vì thừa thành phần câu, thiếu thành phần câu hoặc lẫn lộn một số thànhphần câu mà cấu trúc đầy đủ của câu có thể chứa mà không giải thích đượcnhững câu sai ở phương diện chức năng.

Đứng trước thực tế này, một số tác giả đã có những đề nghị cải tiến cáchxác định lỗi về câu và cách chữa lỗi câu Tác giả Nguyễn Mai Hồng trong bàiviết: "Mối quan hệ giữa ý và lời trong quá trình hình thành một số kiểu câusai của học sinh" đưa ra ý kiến: "Việc phân tích cấu trúc nội bộ của từng câusai riêng lẻ là việc làm đầu tiên không thể thiếu được Song nếu chỉ chú ý câusai trong khuôn khổ một câu riêng lẻ, chúng ta sẽ bị hạn chế tầm nhìn và đitới việc phân tích nguyên nhân không đầy đủ, đề ra cách chữa không sát hợp"[25,42] Để chữa lỗi về câu, tác giả Nguyễn Mai Hồng đề xuất: "Việc chữacâu sai có thể được tiến hành ở một khâu sâu hơn cấu trúc bề mặt của nó:chữa ở quá trình tạo câu, ở nơi sẽ sản sinh ra hàng loạt câu sai" [25,42]

Nh vậy, trong bài viết này, Nguyễn Mai Hồng đã đề cập đến hướng giảiquyết lỗi về câu của học sinh từ góc độ tư duy của các em Đây là một đề xuấtđúng, tích cực nhưng rất khó thực hiện để giáo viên có thể chữa lỗi cho học sinh.Cũng bàn về vấn đề dựa vào cấu trúc câu để chữa câu sai, trong bài viết:

"Tìm cách giúp thêm cho học sinh viết đúng câu tiếng Việt", tác giả DiệpQuang Ban khẳng định: "Việc nghiên cứu câu sai của học sinh dựa vào cấutrúc là một việc cần thiết, bổ Ých nhưng chưa đủ Đã đến lúc phải áp dụngvào việc dạy viết văn, cái bậc nổi hơn bậc cấu trúc thực sự thường dùng hiệnnay nhằm trang bị thêm cho học sinh một số kiến thức nữa giúp họ tránh lỗi.Nói cách khác, cần đề cập đến một số nhân tố trong việc chuyển từ ngôn ngữsang lời nói chứ không dừng lại ở một số mô hình tiềm tàng của ngôn ngữthuần túy"[9,63]

Trang 6

Đề xuất của hai tác giả Nguyễn Mai Hồng và Diệp Quang Ban bước đầu

đã tiếp cận với những yêu cầu của việc chữa câu sai ở bình diện chức năng.Tiếc rằng, những đề nghị này lại chưa được hai tác giả tiếp tục triển khai mộtcách cụ thể mà mới chỉ dừng lại ở bước đặt vấn đề

Cùng nghiên cứu về câu sai của học sinh, tác giả Nguyễn Đức Dân lạixem xét ở một góc độ khác: góc độ tâm lí và ông đã chỉ ra hiện tượng: "Chậpcấu trúc - một quá trình tâm lí trong những câu sai của học sinh" (NCGD, sè 7năm 1982) Có thể nói, đề xuất của Nguyễn Đức Dân là những gợi ý lí thútrong việc xem xét và chữa câu sai cho học sinh

Vào cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, dưới ánh sáng củaquan điểm ngôn ngữ học hiện đại, lí thuyết ngôn ngữ học văn bản, líthuyết hoạt động giao tiếp dần dần được phổ biến rộng rãi ở nước ta, việcnghiên cứu lỗi về câu có nhiều chuyển biến Lỗi về câu được nhìn nhận vàxem xét ở diện rộng hơn, toàn diện hơn, phương pháp chữa lỗi về câuđược trình bày cụ thể hơn

Trong bài: "Về các phương pháp chữa câu sai cho học sinh" đăng trêntạp chí NCGD, sè 6 năm 1985, bên cạnh việc nêu lên những mặt mạnh, nhữngđiểm hạn chế của phương pháp chữa câu sai dùa theo cấu trúc câu, tác giảTrần Thanh Bình đề xuất phương pháp chữa câu sai dựa vào cấu trúc củanhững đơn vị lớn hơn câu

Từ năm 1980, do yêu cầu cải cách giáo dục, môn Tiếng Việt có vị trítương xứng ngang tầm với các môn học khác Môn tiếng Việt có nhiệm vụdạy và nâng cao trình độ tiếng Việt cho người Việt Nam, nhất là cho đốitượng học sinh Vì vậy, ngoài việc nghiên cứu lí thuyết về câu, có một sốcông trình nghiên cứu dạy tiếng Việt theo hướng thực hành Trong các cuốngiáo trình viết theo hướng thực hành, các tác giả của sách đã chú ý đến dạyhọc câu, xây dựng các bài tập câu trong đó có bài tập chữa lỗi câu nhằm rènluyện kỹ năng sử dụng câu cho học sinh, sinh viên

Trang 7

Cuốn giáo trình đầu tiên ta phải kể đến là cuốn giáo trình "Làm văn" củahai tác giả Đình Cao - Lê A Đây là cuốn giáo trình đã được Hội đồng thẩmđịnh sách của Bộ Giáo dục giới thiệu làm sách dùng chung cho các trườngĐại học và Cao đẳng sư phạm Ở tập I của cuốn giáo trình này, hai tác giảĐình Cao - Lê A đã dành một phần của sách trình bày lý thuyết chung về câu,việc rèn luyện kĩ năng viết câu, cách nhận diện câu đúng Đồng thời, ở phầnnày các tác giả đã nêu ra một số câu sai phổ biến cần phải chú trọng khắcphục: câu sai cấu trúc nòng cốt; câu thiếu vế; câu sai quan hệ logic; câu có kếtcấu rối nát; câu không đảm bảo sự phát triển liên tục của ý trong đoạn văn Sau mỗi loại câu sai, các tác giả trình bày nguyên nhân sai và phươnghướng sửa chữa lỗi.

Tiếp theo ta phải kể đến cuốn "Tiếng Việt (thực hành)" của Nguyễn ĐứcDân (Tủ sách Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 1995) Trong cuốnsách này, Nguyễn Đức Dân dành cả chương II của phần: "Một số vấn đề củacâu" để trình bày về câu sai, những loại câu sai Trong sách, Nguyễn Đức Dânđưa ra 6 loại lỗi về câu là: câu sai do sai chính tả, những câu sai về từ ngữ,những câu sai về ngữ pháp, sai logic,sai phong cách và sai trong liên kết câu

Ở mỗi loại lỗi, tác giả đưa ra ví dụ cụ thể, phân tích nguyên nhân dẫn đến

vi phạm lỗi và đề ra cách sửa cho mỗi loại câu sai

Trong cuốn: "Tiếng Việt thực hành" của Nguyễn Minh Thuyết (chủbiên) và Nguyễn Văn Hiệp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, các tác giảdành chương II để trình bày về câu, trong đó có viết về lỗi câu Ở phần này,hai tác giả quy lỗi về câu về ba loại: các lỗi về cấu tạo câu, các lỗi về dấu câu

và các lỗi về liên kết câu

Đồng thời với việc phân loại lỗi, các tác giả của sách còn đưa ra một hệthống bài tập thực hành chữa lỗi về câu khá phong phó

Năm 1997, nhóm tác giả Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hùng cũngxuất bản cuốn giáo trình mang tên: "Tiếng Việt thực hành" (NXB Giáo dục,

Trang 8

1997) Trong cuốn sách, phần chữa các lỗi về câu, các tác giả phân loại câumắc lỗi thành 5 loại: lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu, lỗi về quan hệ ngữnghĩa trong câu, lỗi về câu thiếu thông tin, lỗi về dấu câu và lỗi về phongcách.

Trong sách, các tác giả đưa ra hệ thống bài tập đa dạng, tiêu biểu chotừng loại lỗi nhằm rèn luyện kỹ năng nhận diện, phân tích và nắm được cáchchữa câu sai cho sinh viên Cuốn giáo trình biên soạn bám sát chương trìnhthực hành do Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành nên đáp ứng phần nào nhu cầudạy học môn tiếng Việt, nhu cầu dạy - học câu, chữa lỗi về câu tiếng Việt chosinh viên cũng như cho học sinh trong nhà trường phổ thông

Cùng năm 1997, tác giả Trần Chí Dõi cũng cho ra mắt độc giả cuốn sách

"Tiếng Việt thực hành" (NXB Giáo dục, 1997) Trong sách, Trần Chí Dõi đãxây dựng các bài tập về câu khá công phu, đưa ra các lỗi về câu rất đa dạng vàphức tạp khiến người học muốn sửa được các lỗi đó phải có kiến thức kháchắc về lí thuyết câu

Gần đây nhất phải kể đến cuốn giáo trình "Tiếng Việt thực hành” do haitác giả Bùi Minh Toán và Nguyễn Quanh Ninh biên soạn Giáo trình nàyđược biên soạn nhằm phục vụ cho việc dạy và học học phần tiếng Việt thựchành thuộc chương trình Cao đẳng Sư phạm ngành ngữ văn đào tạo giáo viênTrung học cơ sở Giáo trình được biên soạn hướng tới mục tiêu rèn luyện vànâng cao các kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong đó có kỹ năng đặt câu Tronggiáo trình, sau phần trình bày những yêu cầu chung về câu trong văn bản, cáctác giả đưa ra bốn loại câu sai: câu sai về cấu tạo ngữ pháp, câu sai về quan hệngữ nghĩa giữa các bộ phận, câu sai về dấu câu, câu sai về mạch lạc và liênkết câu trong văn bản Ngoài việc phân loại câu sai, chỉ ra nguyên nhân vàcách chữa từng loại câu sai, trong giáo trình, các tác giả còn đưa ra một hệthống bài tập thực hành chữa lỗi về câu Có thể nói, đây là cuốn giáo trình cónội dung gần gũi và gắn với việc dạy và học tiếng Việt ở bậc Trung học cơ sở

Trang 9

Ngoài những bài viết, những cuốn sách giới thiệu ở trên còn có nhữngbài viết của một số tác giả khác cũng đề cập đến vấn đề lỗi về câu Chẳng hạnnhư bài viết của Nguyễn Thị Ban "Nhận diện các dạng lỗi về câu từ góc độ vănbản" đăng trên tạp chí NCGD, số chuyên đề quý I, năm 1999; bài "Một số biệnpháp hạn chế tình trạng viết câu sai của học sinh cuối bậc Tiểu học" của ĐinhThị Oanh (tạp chí NCGD, sè 11 năm 1999); cuốn sách "Lỗi ngữ pháp và cáchkhắc phục" của nhóm tác giả Cao Xuân Hạo - Lí Tùng Hiếu - Nguyễn KiênTrường - Trần Thị Tuyết Mai (NXB Khoa học Giáo dục, năm 2002) v.v Nhưng do khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ có thể điểm quađược một số bài viết, một số cuốn sách của một số tác giả tiêu biểu Có thểnói, trong các công trình nghiên cứu được giới thiệu ở trên, các tác giả đã rất

cố gắng trong việc nghiên cứu, phân loại và đề xuất các phương pháp chữa lỗi

về câu Một số tác giả đã xây dựng được một số dạng bài tập rèn luyện kĩnăng tạo lập câu, kĩ năng nhận diện và chữa lỗi câu cho học sinh, sinh viên.Tuy nhiên, do xuất phát từ cách tiếp cận, cách nhìn nhận câu sai dựa trênnhững quan điểm khác nhau mà giữa các tác giả chưa có sự thống nhất trongcách phân loại lỗi về câu cũng như phương pháp chữa cho từng loại lỗi Chínhđiều này đã gây trở ngại cho người dạy, người học Họ lúng túng trong việclựa chọn cách nhận diện và chữa lỗi câu

Hơn nữa, hầu hết các công trình nghiên cứu nêu trên, khi khảo sát lỗi vềcâu, các tác giả chủ yếu khảo sát các lỗi trên sách, báo hoặc trên bài viết củahọc sinh Trung học phổ thông, sinh viên ở một số trường đại học mà chưa cócông trình nào đi sâu vào nghiên cứu lỗi về câu trong bài làm văn của họcsinh THCS để đưa ra phương hướng chữa câu cho phù hợp với các em Vìvậy, vấn đề "lỗi về câu - nguyên nhân và cách chữa" vẫn là một vấn đề ngỏ,tiếp tục thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo giảngdạy tiếng Việt

III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Trang 10

1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là tìm hiểu lỗi về câu trong bài làm văn của họcsinh THCS tỉnh Yên Bái, tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi và đưa ra cách chữaphù hợp nhằm rèn luyện cho học sinh biết phát hiện lỗi, biết cách chữa lỗitrong bài văn của mình cũng như của người khác Đồng thời giúp các emtránh được các lỗi về câu khi tạo lập văn bản Lỗi về câu là lỗi thường gặptrong bài làm của học sinh Để chữa được lỗi, học sinh phải có kiến thức vềngữ pháp, về câu tiếng Việt Việc cung cấp kiến thức đó không phải là nhiệm

vụ của đề tài Song, khi tìm hiểu lỗi về câu, những kiến thức về ngữ pháp câu và ngữ pháp văn bản… sẽ là cơ sở giúp nhận diện ra lỗi và chữa lỗi Vìvậy, chúng tôi đã xây dựng một hệ thống lý thuyết đáng tin cậy nhằm hệthống lại những kiến thức tiếng Việt có liên quan phục vụ cho việc chữa lỗi

-về câu

Yên Bái là một tỉnh miền nói xa xôi, đời sống của học sinh và của giáoviên còn nghèo, các tài liệu phục vụ cho giảng dạy thiếu, tài liệu tham khảodùng để chữa lỗi về câu cho học sinh THCS của tỉnh hầu như không có, vìvậy chúng tôi hi vọng rằng luận văn này giúp giáo viên THCS Yên Bái cóthêm tài liệu tham khảo để chữa lỗi về câu cho học sinh đạt hiệu quả cao hơn

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã trình bày ở trên, luận văn phải thực hiện cácnhiệm vụ sau:

- Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc xác định, phân loại lỗi vàchữa lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh THCS tỉnh Yên Bái

- Xác định, phân loại các loại lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh;tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi và đưa ra quy trình chữa lỗi, cách chữa từngloại lỗi về câu; xây dựng các bài tập rèn luyện kĩ năng chữa lỗi về câu cho họcsinh

Trang 11

- Tiến hành thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi của các vấn đề đượcđưa ra trong luận văn.

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trong khi sử dụng ngôn ngữ, học sinh có thể mắc nhiều loại lỗi nh : lỗichính tả, lỗi dùng từ, lỗi về câu, lỗi dựng đoạn văn.v.v Mắc lỗi nào cũnglàm cho lời nói không rõ ràng, thiếu trong sáng, do đó đều phải khắc phục,sửa chữa Trong nhiều loại lỗi mà học sinh vi phạm, tác giả luận văn chỉ đisâu tìm hiểu, nghiên cứu riêng lỗi về câu trong bài làm văn của học sinhTHCS tỉnh Yên Bái Lỗi về câu là một trong những loại lỗi mà học sinhTHCS Yên Bái mắc nhiều trong khi viết văn Đây là loại lỗi nếu giáo viênkhông có biện pháp khắc phục kịp thời sẽ có ảnh hưởng lớn đến khả năng tạolập văn bản của các em học sinh

Khảo sát một số bài văn viết của học sinh THCS tỉnh Yên Bái, chúng tôinhận thấy các em mắc khá nhiều lỗi về câu Lỗi về câu các em mắc phải rất đadạng và trong một câu có thể có nhiều lỗi chồng chéo nhau Vì vậy, trongkhuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ có thể đưa ra một số loại lỗi về câuphổ biến mà các em thường mắc và chỉ ra nguyên nhân, cách khắc phục cácloại lỗi đó

Những lỗi về câu mà học sinh THCS Yên Bái thường vi phạm là:

- Lỗi về cấu tạo ngữ pháp

- Lỗi về nội dung logic - ngữ nghĩa

- Lỗi về dấu câu

- Lỗi về liên kết câu trong văn bản

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thực tiễn mắc lỗi vàchữa lỗi về câu trong nhà trường THCS tỉnh Yên Bái Để tìm ra các loại lỗi về

Trang 12

câu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số bài làm văn của học sinh THCS

để tìm hiểu những lỗi về câu mà các em đã mắc phải Đồng thời, tác giả luậnvăn còn dự giờ, khảo sát các tiết dạy, phỏng vấn giáo viên, soạn phiếu điều tradành cho giáo viên giảng dạy môn ngữ văn ở các trường THCS trong tỉnhYên Bái về các vấn đề có liên quan đến đề tài

2 Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê nhằm xác định, phân loại các loại lỗi về câu cótrong bài làm văn của học sinh làm cơ sở để có thể chữa lỗi câu cho các em.Bên cạnh đó, phương pháp thống kê còn được sử dụng để xử lí các kết quảthu được sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm

3 Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Phương pháp phân tích ngôn ngữ được sử dụng trong việc phân tích câunhằm xác định câu đúng, phát hiện câu sai phân tích tìm nguyên nhân dẫn đếnviệc viết câu sai của học sinh THCS tỉnh Yên Bái để từ đó đưa ra cách chữaphù hợp

4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp thực nghiệm sư phạm được dùng để xem xét, xác nhận tínhđúng đắn,tính hợp lí và tính khả thi của vấn đề mà luận văn đưa ra Đó là tổchức kiểm tra (có sự đánh giá) khả năng làm các bài tập nhận diện, sửa chữalỗi về câu của học sinh ở một số trường THCS tỉnh Yên Bái, từ đó có kết luận

về quy trình chữa lỗi, các dạng bài tập luyện kỹ năng chữa lỗi về câu mà tácgiả luận văn đã đề xuất

VI: ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Tác giả luận văn thực hiện đề tài với mong muốn:

- Xây dùng cơ sở lí luận và thực tiễn cho vấn đề chữa lỗi về câu cho HSTHCS Yên Bái

- Khảo sát, thống kê và đưa ra những đánh giá có ý nghĩa khoa học vềthực trạng mắc lỗi và nguyên nhân mắc lỗi về câu của HS ở các trường THCS

Trang 13

Yên Bái

- Xây dùng quy trình chữa lỗi về câu, các dạng bài tập chữa lỗi câu nhằmrèn luyện kĩ năng chữa lỗi về câu cho HS, từ đó giúp học sinh tránh được cáclỗi về câu khi tạo lập văn bản

VII CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm

ba chương :

Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương II: Các loại lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh THCS Yên Bái

- nguyên nhân và cách chữa

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

về câu nh Giáo dục học, Tâm lí học, Tâm lí ngôn ngữ học v.v nhưng dokhuôn khổ của luận văn, tác giả luận văn chỉ trình bày những vấn đề lí thuyếtcần yếu có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết nhiệm vụ của đề tài Đó là

về câu tiếng Việt; về văn bản và những yêu cầu chung của việc đặt câu trongvăn bản

I CÂU TIẾNG VIỆT

Khi nghiên cứu ngôn ngữ, câu là một trong những đối tượng được cácnhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm Trong các tài liệu ngôn ngữ học ở nước

ta cũng như trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về câu nhưng do nghiêncứu từ những góc độ khác nhau, phương diện khác nhau mà các định nghĩa vềcâu của các nhà nghiên cứu có những điểm khác nhau Hiện nay, khi nghiêncứu về câu các nhà nghiên cứu thường xem xét câu ở ba bình diện: kết học,nghĩa học, dụng học Khi tìm hiểu câu trên ba bình diện Êy ta thấy câu cónhững nét chung như:

- Về chức năng, câu có chức năng thông báo và là đơn vị thông báo nhỏnhất

- Về nội dung, câu thông tin cho người ta biết một tin nào đấy và kèmtheo tin đó câu còn cho ta biết thái độ, tình cảm cách đánh giá của người nói(hoặc người viết) với nội dung “tin” được nói tới và đối với người nghe (hoặcngười đọc)

- VÒ hình thức, câu được cấu tạo theo các quy tắc nhất định của một

Trang 15

ngôn ngữ, có tính tự lập và mang ngữ điệu kết thúc.

Nh vậy, với cách hiểu nh trên câu được xem xét toàn diện hơn Ở đây,câu được xem xét không chỉ bó hẹp trong cấu trúc cú pháp của nó mà cònđược xem xét ở phương diện nghĩa và phương diện chức năng Trong luậnvăn này, chúng tôi cũng vận dụng cách hiểu như trên để tìm hiểu về câu trongcác bài tập làm văn của học sinh THCS Yên Bái và đó cũng là cơ sở để tácgiả luận văn xác định câu đúng/ câu sai trong các bài văn do các em tạo lập

II.VĂN BẢN

2.1 Khái niệm về văn bản

Văn bản là sản phẩm ngôn ngữ do con người tạo ra trong quá trình giaotiếp.Nó vừa là sản phẩm vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp Văn bản

là một đơn vị ngôn ngữ được tổ chức từ các câu, thường bao gồm nhiều câu(cũng có trường hợp chỉ có một câu).Văn bản bao gồm nhiều câu, nhưngnhững câu đó phải liên hệ, gắn bó với nhau để tạo thành một thể thống nhất.Tuy là sự tập hợp của các câu nhưng văn bản luôn luôn là một chỉnh thể Tínhchỉnh thể của văn bản được biểu lộ ở tính chất trọn vẹn về nội dung và tínhchất hoàn chỉnh về hình thức Mỗi văn bản có một tổ chức kết cấu bên trongchặt chẽ và mỗi văn bản hướng tới một mục tiêu nhất định Từ trên, ta có thểhiểu: “Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ ở dạngviết,thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung,tính hoànchỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục tiêu giaotiếp nhất định” [45, 27]

2.2 Liên kết liên câu trong văn bản

Văn bản thường bao gồm nhiều câu nhưng văn bản không phải là sựghép nối, không phải là một phép cộng đơn giản của các câu rời rạc, lẻ tẻ mà

là một thể thống nhất hữu cơ "Trong văn bản các câu móc nối với nhau tạothành một mạng lưới dày đặc của những mối quan hệ trong đó từng câu phảinằm trong mạng lưới và gắn bó không thể tách rời với các câu khác Những

Trang 16

mối quan hệ đó giữa các câu được ngôn ngữ học văn bản gọi là liên kết liêncâu”[11,15] Sự liên kết của các câu trong đoạn văn, văn bản thể hiện ở haiphương diện: nội dung và hình thức Giữa hai phương diện này có mối quan

hệ biện chứng chặt chẽ với nhau Liên kết về nội dung được thể hiện bằngmột hệ thống các phương tiện liên kết về hình thức, và liên kết về hình thứcchủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết về nội dung Sự liên kết về nội dung củacác câu được biểu hiện ở việc tất cả các câu trong văn bản phối hợp với nhaumột cách hài hoà và bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung của vănbản Liên kết hìnhthức chính là sự sử dụng phối hợp hài hoà các yếu tố ngôn ngữ để vật chấthoá sự liên kết nội dung

Có thể nói, chính sự liên kết của các câu là nhân tố khiến cho một tậphợp các câu trở thành một văn bản thống nhất, đồng thời cũng chính sự liênkết này là điều kiện cho sự tồn tại và “đứng vững” của mỗi câu trong đoạnvăn và văn bản Tìm hiểu lỗi về câu trong các bài tập làm văn là xem xétnhững văn bản mà học sinh tạo ra Vì vậy, những vấn đề lí luận về văn bản,

về liên kết liên câu trong văn bản là cơ sở để tác giả luận văn xem xét mộtcách thoả đáng những trường hợp câu không đầy đủ cấu trúc có trong các bàivăn, là cơ sở để xem xét những trường hợp nào câu được coi là đúng, nhữngtrường hợp nào câu bị coi là sai Đồng thời, những hiểu biết về văn bản vàliên kết câu trong văn bản còn là cơ sở chúng tôi dựa vào đó để xác địnhnhững lỗi về liên kết câu có trong bài làm văn của học sinh, từ đó đưa ra cáchchữa phù hợp

III NHỮNG YÊU CẦU CHUNG CỦA VIỆC ĐẶT CÂU TRONG VĂN BẢN

Muốn giao tiếp với nhau chóng ta không những phải huy động, lựa chọn

từ ngữ mà còn phải biết tạo câu, đơn vị ngôn ngữ có chức năng thông báo.Khi đặt câu, nhất là đặt câu trong văn bản, người viết cần đáp ứng những yêucầu chung về câu như sau:

Trang 17

3.1 Đặt câu phải đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người trong

xã hội Để thực hiện chức năng giao tiếp, trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ tồntại những quy tắc tạo câu đặc trưng cho ngôn ngữ của cộng đồng đó Vì vậy,trong quá trình sử dụng, người tham gia giao tiếp không thể tùy tiện muốn tạocâu thế nào cũng được.Muốn giao tiếp được và giao tiếp có hiệu quả, mỗi cánhân trong cộng đồng ngôn ngữ đó phải đặt câu đúng các quy tắc ngữ pháp.Câu không đặt đúng quy tắc ngữ pháp là những câu sai Khi đặt câu tiếngViệt, chóng ta cần lưu ý một số quy tắc ngữ pháp cơ bản sau:

3.1.1 CÊu tạo đúng các cụm từ

Muốn cấu tạo đúng câu, trước hết cần cấu tạo đúng các cụm từ Cụm từ

là sự tổ hợp của các từ theo các quan hệ ý nghĩa và ngữ pháp để tạo nên mộtđơn vị thống nhất, đảm nhiệm một thành phần ngữ pháp trong câu

Căn cứ vào quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong cụm từ, ta có một

3.1.2 CÊu tạo đúng các kiểu câu theo cấu tạo ngữ pháp

3.1.2.1 Cấu tạo đúng kiểu câu đơn

3.1.2.1.1 Câu đơn bình thường, các thành phần câu

a Câu đơn bình thường là câu được cấu tạo gồm hai thành phần : chủngữ và vị ngữ Hai thành phần này tạo nên nòng cốt của câu đơn

b Các thành phần câu:

* Các thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ

Trang 18

- Chủ ngữ

“Chủ ngữ là thành phần câu có quan hệ qua lại và quy định lẫn nhau vớithành phần vị ngữ,chủ ngữ nêu ra vật,hiện tượng nằm trong mối quan hệnghĩa chặt chẽ và trực tiếp với đặc trưng và quan hệ sẽ được nói đến trong vịngữ.” [6, 39]

- Vị ngữ

“Vị ngữ là thành phần câu có quan hệ qua lại và quy định lẫn nhau vớichủ ngữ,vị ngữ nêu lên đặc trưng hoặc quan hệ vốn có ở vật nói ở chủ ngữhoặc có thể áp đặt chúng một cách có lÝ do cho vật đó" [6, 43]

Ví dô: Lũ chúng tôi, bọn người tứ xứ

- Thành phần tình thái

Thành phần tình thái là thành phần phụ biểu thị quan hệ giữa nội dungcâu nói với hiện thực, giữa người nói với nội dung sự việc được nói tới, giữangười nói và người nghe

Ví dô: Vâng, cháu cũng đã nghĩ nh cô.

- Thành phần phụ chú

Thành phần phụ chú là thành phần có tác dụng ghi chú các chi tiết vềthái độ, tình cảm, về nguồn gốc làm cho người ta hiểu câu nói đúng hơn, rõhơn

Trang 19

Ví dụ: Nguyễn Du, tác giả truyện Kiều, là đại thi hào của dân tộc Việt Nam.

- Thành phần liên kết (chuyển tiếp)

Thành phần liên kết thường đứng ở đầu câu, thực hiện chức năng chuyểntiếp từ câu nọ sang câu kia hoặc liên kết các câu với nhau

Ví dô: Tóm lại, nhiệm vụ nghiên cứu mặt trăng rất quan trọng.

(Tạ Quang Bửu)

Nh vậy, việc cấu tạo câu đơn nói chung, việc cấu tạo các thành phần câunói riêng đều có các quy tắc riêng nên khi đặt câu nếu không tuân thủ các quytắc đó câu sẽ sai

3.1.2.1.2 Câu đơn đặc biệt và câu rút gọn

- Câu đơn đặc biệt:

Bình thường, câu đơn được cấu tạo bằng một nòng cốt gồm hai thànhphần chính: CN và VN và có thể có thành phần phụ Nhưng trong những hoàncảnh giao tiếp nhất định, câu có thể có cấu tạo đặc biệt chỉ có một từ hoặc mộtcụm từ chính phụ hay đẳng lập Từ hay cụm từ đó không thể phân tách thànhhai thành phần chủ ngữ và vị ngữ tuy chúng vẫn thực hiện được chức năngthông báo nh một câu đơn bình thường Những câu đó được gọi là câu đơnđặc biệt Để hiểu được câu đơn đặc biệt, ta không cần hoặc không thể thêmvào câu một thành phần nào khác Tự bản thân mình, câu đơn đặc biệt là mộtđơn vị thông báo

Ví dô: Trường đại học Sư phạm Hà Nội.

(biển đề trước cổng trường)

Ngoài từ hay cụm từ làm nòng cốt câu, câu đơn đặc biệt cũng có thể cóthành phần phụ nh câu đơn bình thường

- Câu rút gọn (câu bị tỉnh lược thành phần) là câu chỉ tồn tại được trongmột ngữ cảnh nhất định Dựa vào ngữ cảnh, người ta có thể tỉnh lược thànhphần câu khi nó đã rõ Cũng dựa vào ngữ cảnh, người ta có thể khôi phụcđược một cách chính xác thành phần câu đã bị tỉnh lược

Trang 20

Ví dô : (1) Bạn làm bài tập toán chưa?

Những hiểu biết về câu đơn bình thường, câu đặc biệt, câu rút gọn là cơ

sở để chúng ta phân biệt, xác định được đâu là câu đúng, đâu là câu sai dothiếu thành phần

3.1.2.2 CÊu tạo đúng kiểu câu phức thành phần câu

Câu phức thành phần câu là câu có chứa thêm cụm chủ vị khác trongnòng cốt

- Câu có chủ ngữ là một cụm chủ vị

Ví dô: Cách mạng tháng Tám thành công đã tạo bước tiến nhảy vọt cho

Việt Nam

- Câu có vị ngữ là một cụm chủ vị

Ví dụ: Giếng làng em nước rất trong.

- Câu có cụm chủ vị làm thành tố phô cho danh từ hoặc động từ

Ví dô: (1) Cái áo tôi mới mua rất đẹp.

(2) Tôi thấy anh Êy ở nhà.

3.1.2.3 CÊu tạo đúng kiểu câu ghép

Câu ghép là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên (hai nòng cốt câu đơn) đồngthời các cụm chủ vị có tính độc lập tương đối so với nhau, không có cụm chủ

vị nào làm thành phần cho một cụm chủ vị nào Mỗi cụm chủ vị nh thế làmthành một vế và chúng ghép lại để tạo thành một đơn vị mới

Trong câu ghép, về mặt ngữ pháp, các vế câu có thể có quan hệ đẳng lậphay quan hệ chính phụ với nhau, về mặt ý nghĩa, có nhiều quan hệ khác nhau

Trang 21

- Câu ghép đẳng lập biểu hiện quan hệ ý nghĩa liệt kê

Ví dụ: Mặt trời lên và sương mù tan dần

- Câu ghép đẳng lập có quan hệ lựa chọn

Ví dụ: Ngày mai, hoặc là anh đi hoặc là tôi đi

- Câu ghép đẳng lập có quan hệ đối nghịch, tương phản

Ví dụ: Tôi đến chơi nhưng anh Êy đi vắng

- Câu ghép đẳng lập có quan hệ hô ứng

Ví dụ: Mưa càng to, gió càng mạnh

- Câu ghép chính phụ có quan hệ giả thuyết (điều kiện) - hệ quả

Ví dụ: Nếu tôi được về Hà Nội thì tôi sẽ đi thăm lăng Bác

- Câu ghép chính phụ có quan hệ nhân quả

Ví dụ: Vì nó lười học nên nó bị điểm kém

- Câu ghép chính phụ có quan hệ mục đích - sự kiện

Ví dô: Anh Êy chơi đàn cho tôi nghe

- Câu ghép chính phụ cã quan hệ nhượng bộ - tăng tiến

Ví dụ: Không những cây không có hoa, mà lá cũng khô héo dần

Khi đặt câu trong văn bản, tùy theo nhu cầu biểu hiện nội dung và phụthuộc vào phong cách văn bản, vào thể loại văn bản mà người viết cần lựachọn và đặt câu theo đúng quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt Nếu nói và viếtmột cách tùy tiện, không đáp ứng chuẩn ngữ pháp chung thì câu sẽ bị sai

3.2 Câu cần đúng về nội dung ý nghĩa

Trong quá trình đặt câu, ngoài yêu cầu viết đúng cấu tạo ngữ pháp,người viết còn phải chú ý đến nội dung ý nghĩa của câu "Nghĩa của câu baogồm toàn bộ nội dung mà người phát ngôn thông báo bằng chỉnh thể câu (tức

là toàn bộ cấu trúc cú đoạn và siêu cú đoạn của câu) đặt trong mối quan hệvới ngữ cảnh, ngữ huống, với hiện thực được phản ánh và cả với tâm lí củachính người phát ngôn" [29, 1] Nói đến nội dung ý nghĩa của câu là nói đếnhai thành phần nghĩa cơ bản: nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái

Trang 22

- Nghĩa miêu tả trong câu là thành tố nghĩa phản ánh vật,việc, hiện tượngcần được nói đến vào trong câu qua nhận thức của con người.

- Nghĩa tình thái trong câu là thành tố chỉ ý định (ý chí, ý muốn),thái độ,tình cảm của người nói đối với điều được nói ra

Vì vậy, khi tạo lập văn bản, để đặt câu đúng về nội dung ý nghĩa, ta cầnchó ý đến các mặt sau:

- Nội dung mà câu biểu hiện cần phản ánh đúng hiện thực (hiện thựcngoài ngôn ngữ) Những câu phản ánh không đúng hiện thực khách quan lànhững câu sai

- Quan hệ ý nghĩa trong câu phải có tính lôgic; có nghĩa là ý nghĩa trongcâu phải phù hợp với những quan hệ trong thực tế, phù hợp với các quan hệ

và quy luật của nhận thức, tư duy chung của con người

- Quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận trong câu phải phù hợp với các

phương tiện hình thức thể hiện quan hệ, nếu không có sự phù hợp đó, câucũng sai

- Nội dung của các thành phần câu, các bộ phận trong câu phải có sựtương hợp, không được mâu thuẫn nhau

- Về mặt nghĩa, câu trong văn bản còn yêu cầu phải có thông tin mới.

Mỗi câu vừa duy trì, vừa phát triển nội dung chung của văn bản, của câu đitrước Nếu câu không có thông tin thì vô bổ và không góp phần vào sự pháttriển nội dung của văn bản

3.3 Câu phải được đánh dấu câu thích hợp

Chóng ta đều biết, ngôn ngữ viết không giống với ngôn ngữ nói Mộttrong những điểm quan trọng để phân biệt sự khác nhau Êy là ngôn ngữ viếtkhông có những điều kiện phụ trợ để diễn tả (nh ngữ điệu, cử chỉ ) bên cạnhnhững tín hiệu của nó là chữ viết Thay cho những điều kiện Êy, chữ viết cần

có các dấu ngắt câu Dấu ngắt câu là những kí hiệu dùng trong chữ viết giúpcho sự diễn đạt ngôn ngữ được minh bạch Nó có tác dụng làm cho cấu tạo

Trang 23

câu văn và quan hệ ngữ pháp giữa các từ trong câu được rõ ràng, giúp choviệc diễn đạt nội dung được chính xác Nếu không dùng dấu câu hoặc dùngdấu câu không thích hợp thì nghĩa của câu có thể bị hiểu sai hoặc được hiểutheo nhiều cách khác nhau, gây khó khăn cho việc lĩnh hội văn bản.

Chữ viết của tiếng Việt hiện nay có 10 dấu câu:

- Dấu chấm đánh dấu kết thúc câu trần thuật

- Dấu hỏi đánh dấu kết thúc câu hỏi

- Dấu chấm than đánh dấu kết thúc câu cầu khiến và câu cảm thán

- Dấu hai chấm là dấu dùng ở trong câu báo hiệu phần đi sau có tính chấtgiải thích, cụ thể hóa, nêu dẫn chứng hay liệt kê các phương diện khác nhaucủa nội dung mà bộ phận câu đi trước biểu hiện

- Dấu ba chấm biểu thị sự liệt kê chưa hết, biểu thị lời nói bị ngắt quãnghoặc lời nói kéo dài hoặc phần câu bị tỉnh lược (lúc đó dấu ba chấm đặt trongngoặc đơn)

- Dấu chấm phẩy là dấu dùng trong câu Nó được dùng để ngăn cách các

bộ phận của câu khi các bộ phận này về mặt ngữ pháp có thể tồn tại độc lậpnhư một câu, nhưng về mặt ý nghĩa thì vẫn có quan hệ rõ rệt với bộ phận đitrước

- Dấu phẩy là dấu dùng trong câu Nó dùng để ngăn cách các thành phầncùng loại, ngăn cách các vế trong câu ghép hoặc ngăn cách các thành phầnphụ, thành phần biệt lập với các thành phần chính của câu

- Dấu gạch ngang là dấu dùng để phân cách thành phần chú thích ở trongcâu hoặc đặt ở đầu dòng trước các ý liệt kê hoặc đặt trước các lời đối thoại

- Dấu ngoặc đơn là dấu dùng để tách biệt các thành phần biệt lập hay bổsung hoặc các phần chỉ nguồn gốc, xuất xứ

- Dấu ngoặc kép là dấu dùng để đánh dấu các từ, cụm từ, câu hoặc cảmột đoạn trích dẫn nguyên văn của người khác; đánh dấu lời nói trực tiếp củanhân vật, đánh dấu từ ngữ với ý mỉa mai hoặc dùng để ghi tên tác phẩm, tên

Trang 24

sách trong một câu văn đề cập đến chúng

Trên đây là một số chức năng, công dụng cơ bản của các dấu câu tiếngViệt Trong thực tế sử dụng, các dấu câu còn có thể có những công dụngkhác Những vấn đề về dấu câu vừa trình bày ở trên là cơ sở lí thuyết đểchúng tôi dựa vào đó nhận diện và lí giải những lỗi dùng dấu câu có trong bàilàm văn của học sinh

3.4 Các câu cần liên kết chặt chẽ trong văn bản

Văn bản là một đơn vị ngôn ngữ được tổ chức từ các câu,thường baogồm nhiều câu Để văn bản là một thể thống nhất, các câu phải có sự liênkết chặt chẽ với nhau Sự liên kết của các câu trong văn bản thể hiện ở haiphương diện:

3.4.1 Liên kết nội dung

Các câu khi đi vào văn bản đã mất đi phần nào tính độc lập so với khiđứng biệt lập Chúng chịu sự chi phối của một hạt nhân nghĩa Hạt nhân nghĩachính là nội dung cô đúc và khái quát của văn bản Muốn thể hiện được hạtnhân nghĩa của văn bản các câu cần phải liên kết với nhau Đó là sự liên kếtnội dung Liên kết nội dung trong văn bản được thể hiện cụ thể ở sự thốngnhất về đề tài, ở sự nhất quán về chủ đề và sự chặt chẽ về lôgic

- "Đề tài được hiểu là mảng hiện thực được tác giả nhận thức và thể hiệntrong văn bản Khi tất cả các câu trong văn bản cùng tập trung nói về một đềtài,một phạm vi hiện thực.v.v , thì văn bản đó được xác nhận đã có sự thốngnhất về đề tài" [32]

- "Chủ đề trong văn bản là quan điểm, là thái độ hoặc điều mà tác giảmuốn dắt dẫn người đọc đến thông qua đề tài của văn bản.Khi tất cả các câutrong mét văn bản đều được viết theo mét quan điểm, một chính kiến , vănbản đó sẽ có sự thống nhất chủ đề" [32]

Trang 25

- "Lôgíc là những quy luật tồn tại, vận động và phát triển của hiện thựckhách quan, đồng thời cũng còn là những quy luật của nhận thức về hiện thựckhách quan Vì thế, muốn văn bản bảo đảm được sự thống nhất lôgíc, câu cầnphải phản ánh đúng quy luật Êy" [32].

Nh vậy, trong văn bản liên kết chủ đề thể hiện ở việc duy trì chủ đề vàtriển khai chủ đề Hơn nữa, sự triển khai chủ đề giữa các câu phải có tínhlogic Nghĩa là, quan hệ về nội dung của các câu phải có sự phù hợp với cácquan hệ và quy luật trong thực tế khách quan còng nh phù hợp với quy luậtnhận thức, tư duy của con người

- Phương thức nối: dùng các từ ngữ chuyên thực hiện chức năng nối kếtcác câu với nhau

- Phương thức tỉnh lược: tỉnh lược từ ngữ ở câu đi sau khi nó đã được thểhiện ở câu đi trước, nhờ đó hai câu liên kết với nhau

- Phương thức trật tự: để đảm bảo cho liên kết chủ đề và liên kết logic,

Trang 26

các câu phải được sắp xếp theo một trật tự nhất định Chính trật tự sắp xếp cáccâu là một nhân tố thể hiện sự liên kết của chúng.

3.5 Câu viết phải phù hợp với phong cách văn bản

Việc phân chia văn bản thành các phong cách khác nhau là do hoàn cảnhgiao tiếp, phạm vi giao tiếp chi phối Mỗi loại văn bản có những đặc điểm sửdụng khác nhau Vì thế, các câu đặt ra phải thỏa mãn những đặc điểm củatừng loại văn bản Nếu những câu đặt ra không phù hợp với đặc điểm phongcách văn bản thì đó là những câu sai

Chữa lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh chính là hiệu đính lạinhững chỗ học sinh đã vi phạm các quy tắc chung về câu tiếng Việt Nhữngkiến thức cơ bản về câu, về văn bản và những yêu cầu chung của việc đặt câutrong văn bản vừa trình bày ở trên là cơ sở lý luận tin cậy mà chúng ta có thểdựa vào đó để xem xét, nhận diện câu sai, tìm ra nguyên nhân dẫn đến câu sai

Tỉnh Yên Bái có 7 huyện, một thị xã và thành phố Yên Bái Do có nhiềunói cao, nhiều sông suối nên việc đi lại giữa các vùng, miền của nhân dân YênBái rất khó khăn Phần đông dân cư sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp, lâmnghiệp ; nền kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp ; mặt bằng dân trí còn thấp, nhucầu học tập để nâng cao trình độ văn hóa trong nhân dân chưa cao

Trang 27

Về giáo dục phổ thông, trong những năm qua ngành Giáo dục và Đào tạocủa tỉnh đã có nhiều cố gắng trong công tác phát triển giáo dục Ngành đã tổchức huy động nhân lực, vật lực, kinh phí để xây dựng trường sở, xóa cáclớp học 3 ca, kiên cố hóa trường học, động viên, huy động con em nhân dântrong tỉnh đến trường.

Theo số liệu báo cáo thống kê năm học 2003 2004 của sở Giáo dục Đào tạoYên Bái, tổng số trường, lớp, số lượng học sinh và giáo viên phổthông trong toàn tỉnh và của bậc THCS nh sau:

Tổng sè THCS Tổng sè THCS Tổng sè THCS Tổng sè THCS

Các đơn vị nhà trường phổ thông trong tỉnh thực hiện nghiêm túc kếhoạch giảng dạy, phấn đấu dạy đủ số môn, số tiết, tăng cường chấn chỉnh kỉcương, nền nếp trong trường học.Trong những năm qua, chất lượng giáo dục

có nhiều chuyển biến, tiến bộ Tuy nhiên, giống nh các tỉnh miền núi khác,giáo dục và đào tạo Yên Bái còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế Việc phát triểnquy mô giáo dục phổ thông chưa đồng đều giữa các vùng miền trong tỉnh.Giáo dục phổ thông ở các huyện xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa tuy có khởisắc song chưa duy trì và phát triển đi vào chiều sâu Chất lượng giáo dục cónhiều tiến bộ nhưng kiến thức được học và khả năng vận dụng gắn với đờisống thực tiễn của học sinh phổ thông trong tỉnh còn một khoảng cách xa sovới yêu cầu chung Giáo viên ở các cấp còn thiếu và một bộ phận không nhỏcòn yếu về chuyên môn Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và họccòn thiếu

II TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG VIỆT TRONG BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THCS YÊN BÁI

Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi vùng trong tỉnh Yên

Trang 28

Bái khác nhau nên việc thực hiện chương trình dạy- học và kết quả học tậpmôn ngữ văn nói chung, phần tiếng Việt nói riêng ở mỗi vùng Ýt nhiềucũngcó sự khác nhau Nhiều năm gắn bó với Yên Bái, bản thân tôi đã cónhiều chuyến đi thực tế phổ thông nên phần nào cũng nắm bắt được nhữngthuận lợi, khó khăn trong công tác giáo dục nói chung và thực tế giảng dạymôn ngữ văn nói riêng Để đạt được sự khách quan trong đánh giá, chúng tôitiến hành phỏng vấn cán bộ quản lí (cán bộ quản lí ở một số trường THCS,phòng Giáo dục - Đào tạo) và giáo viên trực tiếp giảng dạy Số lượng ngườiđược phỏng vấn là 36 người (5 cán bộ quản lí và 31 giáo viên) ở 4 huyện thịtrong tỉnh Cách thức tiến hành: phỏng vấn bằng phiếu đối với giáo viên vàtrao đổi trực tiếp đối với những cán bộ quản lí Nội dung phiếu phỏng vấngiáo viên nh sau: - Xin đồng chí vui lòng đánhdấu (+) vào các ô tương ứng với các nội dung mà đồng chí khẳng định làđúng:

1 Giảng dạy môn tiếng Việt

2 Không thuận lợi do:

- Điều kiện kinh tế - xã hội 

- Trình độ tiếng Việt của học sinh 

3 Khả năng tiếp thu môn học của học sinh:

4 Ý thức học tập của học sinh

Trang 29

* Đối với vùng cao, việc dạy và học môn tiếng Việt gặp nhiều khó khăn.

Ở những vùng này, có nhiều học sinh dân tộc thiểu số theo học, khả năng họctập của các em còn nhiều hạn chế; nhiều em không thích học tiếng Việt Họcsinh thường nhút nhát, vốn sống,vốn văn học, vốn tiếng Việt rất hạn chế.Các

em thiếu môi trường học tập và rèn luyện

Tình hình trên có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy- học mônTiếng Việt nói chung và việc dạy- học phần ngữ pháp -câu nói riêng ở cáctrường THCS trong tỉnh

III LỖI VỀ CÂU TRONG BÀI LÀM VĂN CỦA HỌC SINH VÀ THỰC TẾ CHỮA LỖI VỀ CÂU CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS YÊN BÁI.

3.1 Vấn đề chữa lỗi về câu cho học sinh trong chương trình, sách giáo khoa bộ môn Ngữ vănTHCS.

Ở bậc tiểu học, học sinh được làm quen và học về câu tiếng Việt LênTHCS, học sinh tiếp tục được học về câu Chương trình dạy học môn tiếngViệt dành thời gian để dạy phần ngữ pháp - câu cho học sinh tương đối nhiều,điều đó nói lên sự cần thiết và tầm quan trọng của dạy -học câu trong nhàtrường phổ thông Tuy nhiên, khi tìm hiểu chương trình môn tiếng Việt THCS(trước đây), chúng tôi thấy không có một tiết học nào dạy cho học sinh nắmđược những yêu cầu chung của việc đặt câu trong văn bản, không có tiết họcriêng cho việc chữa lỗi về câu Chữa lỗi về câu chỉ được đưa ra dưới dạng các

Trang 30

bài tập nhỏ trong các bài tập thực hành về câu Thấy được điều bất cập này,chương trình THCS mới (ban hành ngày 24/1/ 2002) đã dành một số tiết học

để chữa lỗi về câu cho học sinh, nhưng do thời gian học có hạn nên nhữngdạng lỗi về câu được đưa ra chữa còn Ýt, số lượng bài tập còn hạn chế chưađáp ứng được yêu cầu chữa lỗi về câu cho học sinh

3.2 Lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh

Nhiều năm nay, nhà trường phổ thông đã rất coi trọng việc nâng caonăng lực sử dụng tiếng Việt, trình độ viết văn cho học sinh Cố gắng thì nhiềunhưng hình như hiệu quả vẫn chưa đạt được như mong muốn Điều này ta cóthể thấy rõ trong bài làm văn của học sinh Chỉ xem xét riêng về kĩ năng sửdụng tiếng Việt ở trong bài văn, chúng ta thấy các em mắc rất nhiều lỗi: lỗichính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu, lỗi dựng đoạn văn v.v

Để tìm hiểu lỗi về câu của học sinh THCS Yên Bái, chúng tôi đã tiếnhành khảo sát 202 bài tập làm văn viết của học sinh líp 6, líp 7 và lớp 9 ở nămtrường THCS trong tỉnh Yên Bái Kết quả khảo sát ban đầu, chúng tôi tập hợpđược 358 câu mắc lỗi, loại lỗi về câu mà các em mắc phải rất đa dạng, cónhiều lỗi chồng chéo lên nhau trong một câu văn, đoạn văn

Sau đây là ví dụ lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh THCS YênBái

Ví dô 1: (1) Thanh Hải tên thật là Phạm Bá Ngoãn (2) Ông là một nhànho và có nhiều tác phẩm hay trong đó có bài "Mùa xuân nho nhá"

(trích trong bài làm văn của học sinh líp 9)Trong ví dô trên, câu (2) là câu sai về nội dung ý nghĩa Cụ thể là câuphản ánh không đúng hiện thực khách quan Bởi vì, Thanh Hải không phải lànhà nho

Ví dô 2: (1)Với bút pháp lãng mạn, từ ngữ giàu hình ảnh và gợi cảm đãkhắc họa vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên đất nước mỗi khi mùa xuân về và

Trang 31

ước nguyện giản dị của nhă thơ (2) Mở đầu băi thơ, Thanh Hải viết :

"Mọc giữa dòng sông xanh Hót chi mă vang lõng"

Ở cđu (1) trong ví dụ năy, người viết đê tạo lập cđu thiếu thănh phần chủngữ, nhầm tưởng thănh phần trạng ngữ đứng đầu cđu lă thănh phần chủ ngữcủa cđu

Ví dô 3: Băi thơ "Mùa xuđn nho nhỏ" của tâc giả Thanh Hải ông lă mộtnhă thơ vă cũng lă một cđy bút không ngừng sâng tạo của những băi thơ văn

đê được nổi tiếng một thời băi thơ năy cũng lă băi thơ cuối cùng của ông vẵng cũng lă một cđy bút có công xđy dựng nền văn học câch mạng Việt Namngay từ những ngăy đầu chống Mĩ

(trích trong băi lăm văn của học sinh líp 9)Trong ví dụ năy, người viết vi phạm nhiều lỗi nh lỗi không sử dụng dấucđu, lỗi về nội dung ý nghĩa, cđu không xâc định được thănh phần cđu…Trín đđy lă một số cđu sai được trích từ một số băi lăm văn của học sinhTHCS Yín Bâi minh họa cho vấn đề mắc lỗi về cđu của học sinh ; còn việcphđn loại lỗi, nguyín nhđn mắc lỗi vă câch chữa lỗi sẽ được chúng tôi trìnhbăy ở chương sau

Qua điều tra, khảo sât thực tiễn sử dụng cđu trong băi văn của họcsinh THCS Yín Bâi, tâc giả luận văn nhận thấy hầu hết câc em còn yếu trong

kĩ năng diễn đạt, viết cđu Kết quả năy giúp chúng tôi có câi nhìn tổng thể, sâtthực về tình trạng mắc lỗi về cđu của học sinh từ đó đề ra biện phâp chữa lỗithích hợp

3.3 Lỗi về cđu vă thực tế chữa lỗi về cđu cho học sinh ở câc trường THCS Yín Bâi

Để thực sự khâch quan trong đânh giâ về thực trạng mắc lỗi về cđu củahọc sinh vă việc chữa lỗi về cđu của giâo viín dạy ngữ văn ở câc trường

Trang 32

THCS Yên Bái, chúng tôi đã tiến hành trao đổi trực tiếp và dùng phiếu khảosát đối với 52 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn ở 18 trường THCStrong tỉnh Yên Bái Nội dung phiếu phỏng vấn như sau:

A Đồng chí vui lòng đánh dấu cộng (+) vào các ô tương ứng với các nộidung mà đồng chí khẳng định là đúng

1 Theo đ/c, học sinh thường mắc lỗi gì nhiều trong bài làm văn ?

- Sai quan hệ logic - ngữ nghĩa 

- Không dùng/ dùng không phù hợp với dấu câu 

- Giữa các câu trong bài văn không liên kết với nhau 

3 Đ/c thường chữa lỗi về câu cho học sinh vào những giờ học nào

4 Ở nơi đ/c công tác có tài liệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn cách chữalỗi về câu cho học sinh không?

B Ý kiến của đ/c về vấn đề chữa lỗi về câu cho học sinh THCS?

Kết quả khảo sát qua phiếu thu được nh sau:

1

Trang 33

- Sai về nội dung logic - ngữ nghĩa 29/52 56%

- Không dùng/ dùng dấu câu không

phù hợp

- Giữa các câu không có sự liên kết 17/52 36,7%3

- Giờ trả bài tập làm văn 52/52 100%

- Cần dành thời gian thực hành về câu,chữa lỗi câu chohọcsinh nhiềuhơn

- Cần có tài liệu hướng dẫn chữa lỗi câu cho giáo viên

Qua trao đổi trực tiếp và từ kết quả khảo sát bằng phiếu, chúng tôi nhậnthấy phần lớn giáo viên giảng dạy bộ môn ngữ văn đều có tâm huyết với nghề

và mong muốn học sinh của mình học tập tốt Phần lớn giáo viên đã chú ýchữa lỗi nói chung, chữa lỗi về câu nói riêng cho học sinh Hầu hết các giáoviên đều cho rằng chữa lỗi về câu cho học sinh là một việc quan trọng, cầnthiết và cần thực hiện một cách nghiêm túc Khi chấm bài tập làm văn viết,một số giáo viên đã cố gắng chỉ ra những câu mắc lỗi và có những chỉ dẫn đểhọc sinh tự sửa lỗi

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, những cố gắng vừa nêu ở trên,việc chữa lỗi về câu cho học sinh của giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn ởtrường THCS vẫn còn nhiều hạn chế, còn nhiều bất cập cần phải khắc phục

Trang 34

Chóng ta đã biết, trước đây trong chương trình môn Ngữ văn THCSkhông có tiết chữa lỗi về câu Vì thế việc chữa lỗi về câu cho học sinh chỉđược thực hiện trong tiết trả bài tập làm văn Hơn nữa trong một tiết trả bài,giáo viên phải thực hiện nhiều công việc như hướng dẫn học sinh xác định nộidung, yêu cầu của đề bài; lập dàn ý sơ lược bài văn; nhận xét, đánh giá kếtquả làm bài Thời gian dành cho chữa lỗi trong đó chữa lỗi về câu cho họcsinh là rất Ýt Vì vậy, nếu giáo viên có hướng dẫn chữa lỗi về câu cho họcsinh cũng chỉ đưa ra chữa được một vài lỗi Số lỗi về câu được đưa ra chữachỉ là một phần rất nhỏ so với số lượng lỗi về câu mà học sinh mắc phải trongbài văn.

Ngoài tiết trả bài tập làm văn, chỉ có một số Ýt giáo viên chữa lỗi về câucho học sinh trong giê học khác

Khảo sát việc chấm và chữa bài tập làm văn cho học sinh của giáo viêndạy ngữ văn THCS Yên Bái, chúng tôi nhận thấy, khi chấm bài, có một sốgiáo viên đã chỉ ra một số lỗi về câu trong bài văn của học sinh như: câu chưatrọn vẹn, câu dài, dấu câu, diễn đạt câu chưa xuôi, câu què nhưng đó thường

là những nhận xét chung chung, chỉ có một sè Ýt giáo viên hướng dẫn chữanhững lỗi đó một cách cụ thể cho học sinh Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhậnthấy một bộ phận không nhỏ giáo viên khi chấm bài chỉ cho điểm mà không

có một lời nhận xét nào về bài làm và không có một chỉ dẫn nào về lỗi củahọc sinh trong bài văn Qua trao đổi, chúng tôi thấy hầu như các giáo viênkhông có sổ theo dõi quá trình học tập môn Ngữ văn nói chung, theo dõi khảnăng sử dụng câu và tình hình mắc lỗi về câu của từng học sinh nói riêng.Khảo sát nguồn tài liệu giáo viên dựa vào để chữa lỗi về câu cho họcsinh, chúng tôi thấy chỉ có 2/ 52 giáo viên được hỏi có cuốn: "Tiếng Việt thựchành" của nhóm tác giả Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hùng Để chữa lỗi

về câu, giáo viên chỉ dựa trên một số thông tin Ýt ỏi có trong sách giáo khoa

Trang 35

Ngữ văn 6 (chương trình mới) và dựa vào vốn hiểu biết, vào kinh nghiệm củabản thân từng giáo viên Chính điều này dẫn đến tình trạng có một số giáoviên do trình độ, năng lực chuyên môn yếu đã rất lúng túng trong việc phântích, nhận diện lỗi nên ngại hướng dẫn học sinh chữa lỗi về câu Vì vậy, khiđược hỏi ý kiến, hầu hết các giáo viên đều đề nghị có sách tham khảo để chữalỗi nói chung và chữa lỗi về câu cho học sinh nói riêng.

Tóm lại, chữa lỗi về câu cho học sinh đã được giáo viên giảng dạy bộmôn ngữ văn dạy ở các trường THCS chó ý đến Tuy nhiên, việc chữa lỗi củagiáo viên thường mới chỉ dừng lại ở mức độ kinh nghiệm Giáo viên chưanắm chắc các loại lỗi, cách chữa lỗi về câu cho học sinh

Lỗi về câu là một trong những loại lỗi học sinh THCS Yên Bái thườnghay mắc phải trong khi viết văn Trước hiện tượng này, chúng ta, nhữngngười giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, không thể thờ ơ, coi nhẹ mà phảitìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi và tìm biện pháp khắc phục lỗi về câu cho họcsinh

Chữa lỗi về câu là một công việc khó, phức tạp và không thể giải quyếttrong ngày một, ngày hai Vì vậy, để chữa lỗi về câu cho học sinh, giáo viêncần phải tiến hành chữa lỗi một cách thường xuyên, kiên trì, cần hướng dẫncho học sinh nắm được quy trình chữa lỗi về câu

Như vậy, ở chương I, tác giả luận văn trình bày những vấn đề lí luận cơbản có liên quan trực tiếp đến việc chữa lỗi về câu, thực tiễn mắc lỗi của họcsinh và việc chữa lỗi về câu của giáo viên giảng dạy bộ môn ngữ văn ở cáctrường THCS Yên Bái Những vấn đề lí luận và thực tiễn ở trên giúp chúngtôi nhận diện, phân loại được các loại lỗi, dạng lỗi về câu của học sinh Đồngthời cũng trên cơ sở đó chúng tôi xây dựng một quy trình chữa lỗi về câu cho

Trang 36

các em.

Trang 37

CHƯƠNG II

CÁC LOẠI LỖI VỀ CÂU TRONG BÀI LÀM VĂN CỦA HỌC SINH

THCS YÊN BÁI- NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH CHỮA

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỮA LỖI CÂU CHO HỌC SINH

1.1 Lỗi viết câu

Như đã trình bày ở phần I, vấn đề lỗi về câu từ lâu đã được nhiều nhànghiên cứu, các thầy cô giáo giảng dạy môn tiếng Việt quan tâm nghiên cứu.Trước đây, do ảnh hưởng của ngôn ngữ học truyền thống, khi xem xét lỗi viếtcâu, nhiều người thường quy lỗi viết câu về lỗi cấu trúc Sau này, dưới ánhsáng của ngôn ngữ học hiện đại, người ta xem xét lỗi câu ở diện rộng hơn Lỗi

về câu không chỉ được xem xét trong mối quan hệ nội tại của câu mà còn xemxét ở ngoài bậc cấu trúc Êy, nghĩa là lỗi viết câu còn được xem xét trong mốiquan hệ giữa câu với câu, giữa câu với toàn văn bản

Để giản tiện, chúng ta có thể hiểu lỗi viết câu nh sau: Lỗi viết câu là lỗi

vi phạm các nguyên tắc, quy tắc tạo câu tiếng Việt Xét trong mối quan hệ nộitại, câu mắc lỗi là câu vi phạm quy tắc về lôgic ngữ nghĩa và cấu tạo ngữpháp Xét trong mối quan hệ giữa câu với câu, giữa câu với toàn văn bản, câumắc lỗi là câu không có sự liên kết, gắn bó với các câu khác về nội dung cũngnhư hình thức

Dựa vào cách hiểu lỗi viết câu nêu trên, tác giả luận văn tiến hành xem xét,thống kê và phân loại lỗi về câu trong các bài làm văn của học sinh THCS Yên Bái

1.2 Một số vấn đề chung có tính chất định hướng cho việc chữa lỗi

về câu cho học sinh

1.2.1 Yêu cầu chung về chữa lỗi câu cho học sinh

Để đảm bảo cho việc chữa lỗi về câu có tính hệ thống, khoa học và đạthiệu quả, người chữa lỗi cần tuân theo một số yêu cầu sau:

- Phải đảm bảo giữ đúng ý định của người viết

Để chữa được lỗi về câu, người chữa lỗi có thể lược bỏ một số bộ phận,

Trang 38

một số thành phần câu không phù hợp hoặc có thể thêm một vài bộ phận, mộtvài thành phần câu cho câu Tuy nhiên, dù có biến hóa linh hoạt như thế nàothì người chữa câu cũng cần phải đảm bảo và tôn trọng ở mức cao nhất nộidung diễn đạt của câu cũng như kết cấu cơ bản của câu theo ý đồ của ngườiviết Có làm được nh vậy việc chữa lỗi mới thực sự có Ých, mới có tác dụnguốn nắn những lệch lạc trong khi tạo câu của học sinh mà không phải là việcviết thay, viết lại.

- Chữa lỗi về câu phải đặt câu mắc lỗi vào trong văn bản chứa câu đó.Chúng ta đã biết, văn bản thường gồm nhiều câu và những câu trong văn bảnphải liên kết chặt chẽ với nhau để văn bản là một thể thống nhất Chỉ có ởtrong văn bản, câu mới bộc lộ rõ những đặc điểm của nó Vì vậy, khi chữacâu, nếu tách câu ra khỏi văn bản ta sẽ không hoặc khó phát hiện chính xácloại lỗi về câu, từ đó không thể đưa ra được cách chữa phù hợp

Ngoài những yêu cầu trên, khi chữa lỗi về câu cho học sinh, người giáoviên cần lưu ý thêm một số điểm sau:

- Phải chỉ ra được nguyên nhân mắc lỗi Việc phát hiện ra các loại lỗi vềcâu của học sinh là quan trọng nhưng quan trọng hơn là phải chỉ ra đượcnguyên nhân dẫn đến việc mắc các loại lỗi đó Bởi vì, có hiểu rõ nguồn gốccâu sai mới có thể tìm được cách chữa câu sai Khi hiểu rõ nguyên nhân mắclỗi, học sinh sẽ rót ra được bài học kinh nghiệm để tránh mắc lỗi, từ đó dầndần tạo cho mình thói quen viết đúng câu.v.v…

- Khi đặt câu, học sinh có thể mắc nhiều loại lỗi cùng lúc Vì vậy, khichữa lỗi cần chú ý đến tất cả các phương diện hợp thành của câu nh: cấu tạongữ pháp câu, nội dung ý nghĩa của câu

Có thể nói, chữa lỗi nói chung và chữa lỗi về câu nói riêng là một việc làm

bị động, sửa chữa những lỗi mà học sinh đã mắc phải Vì vậy, để học sinh tránhđược lỗi về câu, giáo viên cần giúp học sinh có được một hệ thống tri thức đầy

đủ, chính xác về tiếng Việt nói chung, về câu nói riêng.Giáo viên cần bồi dưỡng,

Trang 39

nâng cao những hiểu biết về các mặt của đời sống xã hội, những hiểu biết về vănhọc, lịch sử, địa lí.v.v ; tăng cường việc học đi đôi với hành; chú trọng rènluyện tư duy, rèn luyện kĩ năng diễn đạt, viết câu cho các em; thường xuyên chohọc sinh làm các bài tập về câu trong đó có các bài tập chữa lỗi về câu.

1.2.2 Quy trình chữa lỗi về câu

Để chữa lỗi về câu người giáo viên cần nắm được quy trình chữa lỗi vềcâu Thông thường, quy trình chữa lỗi về câu được tiến hành như sau:

* Bước 1: Phát hiện và nhận diện lỗi về câu

Trong bước này, có thể thực hiện các thao tác sau:

- Xác định vị trí, chức năng của câu ở trong đoạn văn, văn bản

- Tìm hiểu ý đồ mà người viết định diễn đạt và cấu trúc câu mà ngườiviết đã sử dụng

- Xác định loại lỗi câu mà người viết đã vi phạm Nếu câu sai về cấu tạongữ pháp thì ta phải đối chiếu sơ đồ cấu trúc câu sai với sơ đồ cấu trúc câuđúng để phát hiện ra chỗ lệch chuẩn Để làm việc này, người chữa lỗi có thểthực hiện hai thao tác cơ bản sau:

+ Rút gọn các thành phần thứ yếu của câu để đưa nó về dạng thức đơngiản nhất

+ Đối chiếu câu sai vừa rút gọn với câu đúng ở dạng đơn giản nhất đểtìm ra chỗ sai

* Bước 2: Phân tích chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc viết câu sai

* Bước 3: Sửa chữa, thay thế câu sai bằng câu đúng

Trong bước này cần thực hiện các thao tác sau:

- Đối chiếu với yêu cầu xác định câu sai (ở bước 1) về nội dung và hìnhthức để chữa câu sai, xây dựng câu đúng

- Lựa chọn, thay thế câu đúng vào vị trí câu sai và kiểm tra lại

* Bước 4: Luyện tập

Đây là bước cuối cùng của việc chữa lỗi về câu Bước này có vai trò

Trang 40

quan trọng nhằm luyện tập, củng cố thêm kiến thức về câu, kĩ năng đặt câu,chữa lỗi câu Mục đích cuối cùng của việc chữa lỗi về câu không chỉ giúp họcsinh biết cách nhận diện, phát hiện lỗi, nắm được loại lỗi, tìm ra nguyên nhânmắc lỗi và cách chữa lỗi mà quan trọng hơn là giúp các em biết tránh lỗi,không vi phạm lỗi, từ đó có thói quen viết câu đúng, câu hay

II CÁC LOẠI LỖI VỀ CÂU TRONG BÀI LÀM VĂN CỦA HỌC SINH THCS YÊN BÁI - NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH CHỮA

Ở chương I, chúng tôi đã trình bày những yêu cầu chung của việc đặt câutrong văn bản Có thể nói, những yêu cầu chung đó vừa là cơ sở rèn luyện kỹnăng tạo câu cho HS vừa là cơ sở để tác giả luận văn xem xét, đánh giá tínhchất đúng/ sai của câu trong bài làm văn của học sinh THCS Yên Bái Quaquá trình khảo sát, tìm hiểu các bài viết của học sinh THCS Yên Bái, chúngtôi nhận thấy các em mắc rất nhiều lỗi về câu, các loại lỗi về câu các em mắcphải cũng rất đa dạng, phức tạp Có câu chỉ mắc một lỗi, có câu mắc nhiềuloại lỗi và các lỗi đó chồng chéo nhau Điều này gây khó khăn cho việc nhậndiện, phân loại lỗi và chữa lỗi Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôiquy các loại lỗi về câu của học sinh THCS Yên Bái thành bốn loại lớn Trongmỗi loại lớn đó tiếp tục phân thành những dạng lỗi nhỏ hơn (xem mô hìnhchúng tôi trình bày ở trang 39)

Để khắc phục lỗi về câu cho học sinh, bên cạnh hướng dẫn cách nhậndiện, tìm nguyên nhân mắc lỗi và nắm được cách chữa lỗi, giáo viên cần chohọc sinh luyện tập, thực hành cách chữa lỗi về câu Vì vậy, trong luận văn,chóng tôi xây dựng một số dạng bài tập nhằm rèn luyện kỹ năng chữa lỗi vềcâu cho học sinh Các bài tập chữa lỗi về câu được xây dựng đảm bảo tínhkhoa học, tính chính xác, tính vừa sức và phát triển, phù hợp với đối tượnghọc sinh THCS Yên Bái

Các bài tập được xây dựng theo các mức độ từ dễ đến khó Bước đầu lànhận diện câu đúng, câu sai; tiếp đó là nêu tên lỗi, yêu cầu học sinh phát hiệnlỗi và đưa ra cách chữa; không nêu tên lỗi, yêu cầu học sinh tự nhận diện,phát hiện lỗi và đưa ra cách chữa.v.v

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(1) Hình ảnh Thánh Gióng (...) đã để  lại trong em niềm kính phục - lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh trung học cơ sở tỉnh yên bái - nguyên nhân và cách chữa
1 Hình ảnh Thánh Gióng (...) đã để lại trong em niềm kính phục (Trang 91)
Bảng tổng kết kết quả điểm hai bài thực nghiệm - lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh trung học cơ sở tỉnh yên bái - nguyên nhân và cách chữa
Bảng t ổng kết kết quả điểm hai bài thực nghiệm (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w