Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên với số lượng, quy mô, loại hình và công nghệ phù hợp với đặc điểm thị trường sẽ mang lại lợi ích kinh tế về phía các n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG THỊ THẮM
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đình Thao
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa
bàn thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc” là kết quả của quá trình học tập, nghiên
cứu khoa học độc lập, nghiêm túc của bản thân tôi Luận văn này chưa từng được công bố trên bất kể phương tiện truyền thông nào
Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được xử lý khách quan, trung thực Trong quá trình nghiên cứu tôi có tham khảo một số tài liệu
đã được liệt kê ở phần sau
Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Học viên
Hoàng Thị Thắm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh
Yên tỉnh Vĩnh Phúc” là một đề tài mang tính thực tế cao, đòi hỏi nhiều thời gian,
công sức và đặc biệt là sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, giáo viên hướng dẫn, các cơ quan tổ chức
Lời đầu tiên tôi muốn nói, đó là lời cảm ơn những người giúp đỡ tôi tận tình
để đưa đến thành công hoàn thành bài luận văn này
Tôi xin được chân thành cảm ơn đến PGS.TS Trần Đình Thao, người đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin được cảm ơn tới các cơ quan tổ chức, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ theo phương thức hiện đại, các tạp chí, báo chuyên ngành…
đã cung cấp cho tôi các bài viết, tư liệu và các thông tin cần thiết khác phục vụ cho nghiên cứu
Do thời gian và trình độ nghiên cứu có hạn, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2014
Học viên
Hoàng Thị Thắm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 4
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI 5
1.1 Các vấn đề chung về hoạt động bán lẻ 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bán lẻ hàng hóa 5
1.1.2 Vai trò và chức năng của hoạt động bán lẻ 6
1.1.3 Các yếu tố cấu thành quá trình bán lẻ 7
1.1.4 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 8
1.2 Các công nghệ và mô hình bán lẻ hiện đại 11
1.2.1 Công nghệ bán lẻ hiện đại 11
1.2.2 Một số mô hình bán lẻ hiện đại 18
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 24
1.3.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô 24
1.3.2 Các nhân tố môi trường vi mô 30
1.3.3 Sự hỗ trợ của địa phương để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 34
1.4 Kinh nghiệm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của một số nước trên thế giới và một số địa phương 34
1.4.1 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ở Trung Quốc 35
Trang 61.4.2 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ở Thái Lan 39
1.4.3 Một số bài học có thể vận dụng cho Việt Nam, trong đó có thành phố Vĩnh Yên 41
1.4.4 Kinh nghiệm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Hồ Chí Minh 46
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 48
2.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 48
2.1.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 49
2.1.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 49
2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại 50
2.3.1 Số lượng điểm bán lẻ hiện đại 50
2.3.2 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu của hệ thống bán lẻ hiện đại 50
2.3.3 Tỷ trọng giá trị hàng hóa bán lẻ qua hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi ) trong tổng doanh thu bán lẻ 51
2.3.4 Lợi nhuận của hệ thống bán lẻ hiện đại 51
2.3.5 Khả năng phục vụ của nhân viên 51
2.3.6 Cách thức trưng bày hàng hóa 52
2.3.7 Thủ tục thanh toán nhanh gọn 52
2.3.8 Số lượng, quy mô phát triển các dịch vụ gia tăng cho khách hàng 52
Chương 3: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN 53
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 53
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 53
3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 55
3.2 Thực trạng phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên 57
3.2.1 Sự phát triển về số lượng của hệ thống bán lẻ hiện đại 57
3.2.2 Sự phát triển các nguồn lực của hệ thống bán lẻ hiện đại 59
3.2.3 Tổ chức kinh doanh của hệ thống bán lẻ hiện đại 62
3.2.4 Tình hình kinh doanh của hệ thống bán lẻ hiện đại 70
Trang 73.3 Những thành tựu và hạn chế trong phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên
địa bàn thành phố Vĩnh Yên 74
3.3.1 Kết quả đạt được của hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên 74
3.3.2 Xu hướng mua sắm của dân cư trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên 75
3.3.3 Những hạn chế 76
3.3.4 Nguyên nhân của những hạn chế 78
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HIỆN ĐẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN 79
4.1 Dự báo thị trường và định hướng chiến lược phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên 79
4.1.1 Dự báo thị trường bán lẻ thành phố Vĩnh Yên đến năm 2020 79
4.1.2 Định hướng chiến lược phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên đến năm 2020 81
4.2 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên 85
4.2.1 Một số giải pháp đối với các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 85
4.2.2 Một số kiến nghị đối với các cơ quan chức năng 91
4.3 Những hạn chế nghiên cứu và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 98
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân hạng siêu thị theo quy chế siêu thị hiện hành 22
Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn TP Vĩnh yên (%) 56
Bảng 3.2: Tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội TP Vĩnh Yên 56
Bảng 3.3 Biến động số lƣợng siêu thị; CHTL năm 2009 - 2013 58
Bảng 3.4 Diện tích, vốn đầu tƣ, số lƣợng tên hàng của siêu thị; CHTL trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên 60
Bảng 3.5 Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở siêu thị; CHTL trên địa bàn TP.Vĩnh Yên 62
Bảng 3.6 Các sản phẩm tiêu thụ chủ đạo tại siêu thị, CHTL trên địa bàn TP Vĩnh Yên 64
Bảng 3.7 Đánh giá tiêu chí chất lƣợng hàng hóa tại siêu thị; CHTL trên địa bàn TP Vĩnh Yên 65
Bảng 3.8: Bảng so sánh giá một số mặt hàng thời điểm tháng 12/2013 66
Bảng 3.9 Đánh giá tiêu chí giá cả hàng hóa tại hệ thống bán lẻ hiện đại TP Vĩnh Yên 67
Bảng 3.10 Đánh giá một số tiêu chí tại siêu thị; CHTL trên địa bàn TP Vĩnh Yên 68
Bảng 3.11 Mức độ nảy sinh nhu cầu ngẫu hứng trong khi mua hàng tại siêu thị 68
Bảng 3.12 Khách hàng đã từng đến siêu thị, CHTL tại Vĩnh Yên 70
Bảng 3.13 Khách hàng lựa chọn địa điểm đi mua hàng 70
Bảng 3.14 Vấn đề quan tâm nhất khi đi mua hàng 71
Bảng 3.15: Doanh thu của hệ thống bán lẻ hiện đại TP Vĩnh Yên 72
Bảng 3.16: Tỷ trọng doanh thu của hệ thống bán lẻ hiện đại trên tổng mức bán lẻ, lợi nhuận và nộp ngân sách của hệ thống bán lẻ hiện đại TP Vĩnh Yên 73
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống bán lẻ trong hệ thống kênh phân phối hàng tiêu dùng 10
Sơ đồ 1.2: Hệ thống công nghệ bán lẻ kín - truyền thống 12
Sơ đồ 1.3: Hệ thống công nghệ bán lẻ mở - tiến bộ 13
Sơ đồ 1.4: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự phục vụ 14
Sơ đồ 1.5: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự chọn 16
Sơ đồ 1.6: Quy trình công nghệ bán hàng theo mẫu 17
Sơ đồ 1.7: Quy trình bán hàng theo đơn đặt hàng 18
Sơ đồ 1.8: Hệ thống bán lẻ hiện đại của Thái Lan 40
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam liên tục đạt được ở mức cao Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, đến năm 2020, tổng doanh số bán lẻ nước ta có thể lên tới 135,1 tỷ USD Ngành thương mại bán lẻ đã đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong tổng GDP hàng năm (trên 15%) và thu hút một lượng lao động khá lớn (khoảng hơn 5,7 triệu lao động mỗi năm) Dân số Việt Nam thuộc loại dân số trẻ vào bậc nhất khu vực châu Á, tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh, mức chi tiêu cho tiêu dùng ngày càng tăng; do đó thị trường bán lẻ Việt Nam đang được đánh giá là điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn kinh doanh bán lẻ nước ngoài
Cùng với xu thế phát triển chung của ngành thương mại thế giới, thị trường kinh doanh bán lẻ của Việt Nam đang có bước biến chuyển sâu sắc, các kênh bán lẻ hiện đại đang dần thay thế các kênh bán lẻ truyền thống Hiện tại, kênh bán lẻ hiện đại chiếm tỷ trọng khoảng 20 % trong tổng mức bán lẻ và đang tiếp tục tăng trưởng nhanh, đây là kênh phân phối ngày càng quan trọng, ngày càng hấp dẫn đối với người tiêu dùng đặc biệt là ở các vùng đô thị
Thành phố Vĩnh Yên là đô thị tỉnh lị của tỉnh Vĩnh Phúc, nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cách Hà Nội 55km Đây là một thành phố trẻ, khá năng động với ngành công nghiệp, thương mại và du lịch phát triển nhanh Hệ thống bán
lẻ trên địa bàn đa dạng, tốc độ phát triển mạng lưới bán lẻ khá nhanh nhưng chưa đồng bộ, còn mang nặng tính tự phát, đa số vẫn là bán lẻ theo phương thức truyền thống Thói quen kinh doanh nhỏ chưa thực sự chuyển biến kịp thời trong một bộ phận thương nhân trên địa bàn, phần lớn các cơ sở bán lẻ hiện nay đều hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, thiếu tính chuyên nghiệp Hệ thống bán lẻ hiện đại của thành phố Vĩnh Yên tuy đã bước đầu phát triển song vẫn chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng mức bán lẻ trên địa bàn
Vĩnh Yên là thành phố có mật độ dân số đông, cơ cấu dân số trẻ do tập trung một lượng lớn lực lượng lao động về các khu công nghiệp và các khu đô thị mới Thu nhập bình quân đầu người cao hơn so với thu nhập bình quân chung cả nước
Trang 12(đạt 4.060 USD vào năm 2013) Mức tiêu thụ hàng hoá trên địa bàn ngày càng lớn, tốc độ tăng trưởng bán lẻ hàng năm bình quân trên 18% Đây là thị trường tiềm năng cho ngành bán lẻ, nhất là đối với hàng tiêu dùng
Trước sự phát triển nhanh về kinh tế và tốc độ đô thị hoá, người tiêu dùng thành phố Vĩnh Yên đang bước đầu thay đổi thói quen mua sắm từ các kênh mua sắm truyền thống sang các kênh mua sắm hiện đại, đặc biệt là tập khách hàng trẻ tuổi, có thu nhập ổn định Trong khi đó số lượng các cơ sở bán lẻ hiện đại trên địa bàn hiện nay không nhiều, chất lượng phục vụ chưa cao, hoạt động thiếu tính liên kết, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu mua sắm của dân cư
Việc nghiên cứu để có nhứng giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên theo hướng văn minh, hiện đại trong xu thế phát triển chung của ngành thương mại bán lẻ trong nước và trên thế giới là rất cần thiết Phát triển
hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên với số lượng, quy mô, loại hình và công nghệ phù hợp với đặc điểm thị trường sẽ mang lại lợi ích kinh tế về phía các nhà kinh doanh, đáp ứng nhu cầu mua sắm ngày càng cao của dân cư, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước trước các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng ngành thương mại - dịch vụ đồng thời góp phần hiện đại hoá ngành thương mại bán lẻ trên địa bàn, thể hiện là
“bộ mặt” của một thành phố trẻ năng động và văn minh
Ngoài ra, việc đẩy nhanh phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh yên còn có ý nghĩa là giữ lấy “sân nhà” đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, trong vùng trước khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài tìm đến vùng thị trường này khi mà họ đã gặp khó khăn trong việc đầu tư ở các vùng thị
Với các lý do trên, trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ ngành quản trị
kinh doanh, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc” Đề tài chỉ ra thực trạng phát
triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, dự báo thị trường và
xu hướng mua sắm của dân cư, từ đó đề xuất các giải pháp đối với các nhà kinh doanh bán lẻ, đề xuất các kiến nghị đối với các cơ quan chức năng trên địa bàn
Trang 13nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thương mại, hiện đại hóa công nghệ bán lẻ trên địa bàn nơi tác giả đang sinh sống
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung: Trên cơ sở đánh giá hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn, đề xuất
các giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài hướng tới các mục tiêu sau:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống bán lẻ và phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
- Đánh giá thực trạng hệ thống bán lẻ hiện đại ở thành phố Vĩnh Yên
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống bản lẻ hiện đại ở thành phố Vĩnh Yên;
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh
Yên, Vĩnh Phúc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian thực hiện đề tài không nhiều nên tác giả xin được giới hạn phạm
vi nghiên cứu cho đề tài như sau:
- Về không gian: Thành phố Vĩnh Yên thuộc Tỉnh Vĩnh Phúc
- Về thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 12 năm 2013, sử dụng số liệu về tình hình chung của thành phố Vĩnh Yên tại niên giám thống kê Vĩnh Phúc năm 2011, 2012 và các số liệu thứ cấp về doanh số, lượng khách hàng năm 2012, so sánh với năm 2013 tại các địa điểm nghiên cứu cụ thể
- Về nội dung: Hệ thống bán lẻ hiện đại bao gồm nhiều mô hình kinh doanh bán lẻ, song luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề tổ chức kinh doanh tại các siêu thị tổng hợp, cửa hàng tiện lợi thuộc hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn nghiên cứu, gồm:
Trang 144 Ý nghĩa khoa học của luận văn
4.1 Ý nghĩa khoa học: Đề tài xác lập một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động
kinh doanh bán lẻ, đặc điểm của bán lẻ, các công nghệ bán lẻ hiện đại, các hệ thống
bán lẻ hiện đại, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
4.2 Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất các giải pháp thiết thực để tư vấn các doanh nghiệp
bán lẻ trong nước hoạt động trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên có định hướng kinh doanh tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả kinh doanh và góp phần nâng cao tính văn minh trong ngành bán lẻ; tạo khả năng cạnh tranh lành mạnh đối với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài; đồng thời
đề xuất một số kiến nghị với các cơ quan chức năng hỗ trợ phát triển hệ thống bán
lẻ hiện đại trên địa bàn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Quản trị kinh doanh trong quá trình học tập và cho các đề tài nghiên cứu khoa học khác có liên quan về sau
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm 4 chương:
- Chương 1: Một số lý luận cơ bản về phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng hệ thống bán lẻ hiện đại trên địa bàn thành phố Vĩnh
Yên tỉnh Vĩnh Phúc
- Chương 4: Một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên
địa bàn thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 15Cơ sở bán lẻ là một địa điểm thuần túy hoặc riêng rẽ của doanh nghiệp để thực hiện một cách cơ bản các chức năng của marketing trong đó việc bán hàng được tiến hành chủ yếu là bán cho người tiêu dùng cuối cùng
1.1.1.2 Đặc điểm của bán lẻ hàng hóa
Đặc điểm lớn nhất của bán lẻ hàng hoá là sau quá trình bán, hàng hóa đi vào lĩnh vực tiêu dùng bởi bán lẻ là bán cho người tiêu dùng cuối cùng, có vai trò kết thúc một vòng chu chuyển hàng hóa Nhu cầu mua hàng của người tiêu dùng thường đa dạng, phức tạp và thường xuyên biến động; qui mô giao dịch không lớn, nhưng với tần số cao
Hàng hóa bán ra với khối lượng nhỏ, lẻ, thường phong phú đa dạng cả về chủng loại và mẫu mã
Phạm vi không gian thị trường của các điểm bán lẻ không rộng, song số lượng các mối quan hệ giao dịch (số lượng khách hàng) lại lớn và tính ổn định không cao
Tỷ lệ lao động sống tham gia vào hoạt động bán lẻ rất cao, trong đó có lao động của lực lượng bán hàng và lao động của khách hàng khi mua hàng
Trong quá trình bán lẻ hàng hóa, đòi hỏi phải giải quyết tối ưu các mối quan hệ kinh tế, quan hệ giữa con người với con người, quan hệ vật chất trên cơ sở các quy luật tự nhiên và công nghệ
Trang 16Từ những đặc điểm trên có thể thấy, bán lẻ có những ưu điểm sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp thực hiện bán lẻ sẽ không sợ khủng hoảng thừa vì sau khi bán được hàng hóa tức là xã hội đã thừa nhận thì doanh nghiệp mới bắt đầu chu
kỳ kinh doanh mới
Thứ hai, thông qua bán lẻ, doanh nghiệp bán lẻ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng nên nắm bắt nhanh nhạy sự thay đổi về nhu cầu, thị hiếu của khách hàng từ đó có có những giải pháp kịp thời, hữu hiệu cho hoạt động kinh doanh của mình
Thứ ba, về phía người tiêu dùng, bán lẻ sẽ khiến cho họ dễ dàng mua được hàng hóa với số lượng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng Hơn nữa, hiện nay việc đi mua sắm ngoài mục đích mua hàng còn là một thú tiêu khiển của người dân và cũng
từ đó nhu cầu đối với một số mặt hàng có thể xuất hiện tức thời theo cảm hứng của
họ, nhờ vậy mà các nhà bán lẻ có thể bán được nhiều hàng hơn so với nhu cầu thực
tế đã được xác định trước
Tuy nhiên, do bán với khối lượng nhỏ lẻ nên thời gian thu hồi vốn thường chậm chạp Đối với một số mặt hàng có quy định thời gian sử dụng và các mặt hàng mang tính thời vụ thì nếu không được lập kế hoạch kinh doanh một cách chính xác
sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng hàng quá hạn sử dụng hay lỗi mốt, gây thiệt hại cho doanh nghiệp
Hoạt động bán lẻ có thể thực hiện ở khắp mọi nơi có dân cư sinh sống Nơi nào càng đông dân, thu nhập của dân cư càng cao thì hoạt động bán lẻ càng phát triển Việc lựa chọn địa điểm bán lẻ của mỗi loại mặt hàng đặc trưng là rất quan trọng, hình thành nên các “phố mua sắm” hay trung tâm mua sắm sầm uất có nơi là tổng hợp, có nơi là dành riêng cho một số chủng loại hàng nhất định
Để việc kinh doanh bán lẻ đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các nhà bán lẻ phải nghiên cứu rất kỹ về địa điểm đặt cửa hàng, vị trí đặt cửa hàng cũng như tìm hiểu về đặc điểm của vùng thị trường như số dân, thu nhập, tập quán, thị hiếu… của dân cư trong vùng
1.1.2 Vai trò và chức năng của hoạt động bán lẻ
Hoạt động bán lẻ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi vùng, mỗi quốc gia Mặc dù hoạt động này không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền
Trang 17kinh tế nhưng nó giúp cho hàng hóa đã được sản xuất ra lưu thông thuận lợi hơn Hoạt động bán lẻ có phát triển thì mới kích thích tiêu dùng, làm tăng tổng cầu cho nền kinh tế từ đó dẫn tới tăng tổng cung, đây là một trong những nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế.Sự phát triển của hoạt động bán lẻ thể hiện là việc mua sắm diễn
ra thuận tiện hơn, người tiêu dùng dễ dàng mua được những thứ họ cần với giá rẻ nhất, với các dịch vụ tốt nhất
Bán lẻ là cầu nối hữu hiệu giữa các nhà kinh doanh với nhau, giữa các nhà kinh doanh với người tiêu dùng, khiến cho các nhà sản xuất hiểu được sự thay đổi thường xuyên về nhu cầu của người tiêu dùng từ đó có phương án điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của họ nhằm phục vụ thị trường tốt hơn, mang lại cho các nhà kinh doanh nhiều giá trị gia tăng hơn
Bán lẻ có những đóng góp đáng kể trong GDP, thu hút được một lượng lao động lớn Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương), hiện ngành bán lẻ Việt Nam đã đóng góp trên 15% vào GDP hàng năm và giải quyết việc làm cho hơn 5,7 triệu lao động
Để phát huy vai trò của mình, hoạt động bán lẻ thực hiện các chức năng sau:
- Hình thành danh mục mặt hàng phù hợp với đặc tính của tập khách hàng trọng điểm trên thị trường mục tiêu
- Hình thành danh mục các dịch vụ bổ sung cung cấp cho khách hàng (dịch vụ trước, trong và sau quá trình mua hàng)
- Phân chia hàng hoá thành các lô nhỏ phù hợp với qui cách mua và tiêu dùng của khách hàng, đảm bảo trạng thái sẵn sàng của lô hàng cho việc mua và sử dụng của khách hàng
- Tổ chức dự trữ hàng hoá nhằm đảm bảo tính liên tục và ổn định của hoạt động bán hàng, đảm bảo hàng hoá có đủ ở các vị trí không gian phù hợp với tập quán mua hàng của khách hàng
1.1.3 Các yếu tố cấu thành quá trình bán lẻ
Quá trình bán lẻ hàng hóa là quá trình mà các nhân viên của cửa hàng bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua các thiết bị, công nghệ bán Cấu thành của quá trình bán lẻ bao gồm các yếu tố sau:
Trang 18- Khách hàng, là những người tiêu dùng cuối cùng trực tiếp mua hàng tại các
cơ sở bán lẻ Có khách hàng thì hoạt động mua bán mới được diễn ra
- Lực lượng bán hàng: Bao gồm nhân viên phụ trách gian hàng trực tiếp bán hàng, nhân viên tính tiền và thu tiền, các nhân viên phục vụ khác Tuỳ theo từng phương thức bán hàng mà lực lượng bán hàng có thể cần đến số lượng khác nhau
- Hàng hóa và dịch vụ: Tạo thành mặt hàng kinh doanh là tiền đề vật chất của quá trình mua và bán, không có hàng hóa cũng đồng nghĩa với việc không tồn tại hành vi mua bán Trong kinh doanh bán lẻ thì mặt hàng kinh doanh cần rất phong phú
và đa dạng với nhiều cấp chất lượng khác nhau để bán cho khách hàng
- Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho bán hàng: Bao gồm diện tích nơi trưng bày hàng hoá, dự trữ hàng, diện tích nơi giao dịch và các diện tích khác; thiết bị trưng bày, quảng cáo, bảo quản hàng, thiết bị đo lường, thiết bị thu tính tiền…
- Phương thức bán hàng: là cách thức mà người mua có thể xem hàng, chọn và mua được loại hàng mà họ cần mua (phương thức bán hàng qua quầy, phương thức bán hàng tự chọn, phương thức bán hàng tự phục vụ, bán hàng theo mẫu, bán hàng theo đơn đặt hàng)
1.1.4 Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại hai kênh phân phối bán lẻ đó là bán lẻ hiện đại và bán lẻ truyền thống Phương thức bán lẻ hiện đại đang thay thế dần phương thức bán lẻ truyền thống bởi nó hấp dẫn người tiêu dùng hơn nhờ tính tiện dụng và các lợi ích thiết thực, đặc biệt là tại các vùng đô thị Theo các chuyên gia thuộc Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, phương thức bán lẻ hiện đại hiện chiếm tỷ trọng khoảng 20% ngành thương mại bán lẻ và đang tiếp tục tăng trưởng
Vậy “bán lẻ hiện đại” là gì? Một cơ sở được coi là bán lẻ hiện đại cần thoả mãn các tiêu chí gì?
* Khái niệm bán lẻ hiện đại
Có thể hiểu, bán lẻ hiện đại là việc áp dụng các công nghệ bán lẻ tiến bộ kết hợp với các yếu tố về hàng hoá và dịch vụ làm thoả mãn toàn diện nhu cầu của khách hàng, lấy khách hàng làm trung tâm
Trang 19* Tiêu chí đánh giá một cơ sở được coi là bán lẻ hiện đại
Một cơ sở bán lẻ được coi là bán lẻ hiện đại phải thoả mãn các tiêu chí sau:
- Áp dụng công nghệ bán lẻ hiện đại, điển hình của công nghệ bán lẻ hiện đại hiện nay là công nghệ bán hàng tự chọn, bán hàng tự phục vụ, thương mại điện tử
- Sử dụng trang thiết bị hiện đại trong bảo quản, trưng bày hàng và tính tiền
- Hàng hoá phải đa dạng, phong phú, đảm bảo chất lượng, có nguồn gốc xuất
sứ rõ ràng, ưu tiên hàng có thương hiệu Mọi mặt hàng được gắn mã vạch, mã số và
có niêm yết giá
- Giá bán hợp lý trong quan hệ với chất lượng hàng hoá và giá bán so sánh
- Trưng bày hàng một cách khoa học, vừa có tính “tự quảng cáo”, vừa thuận tiện trong quá trình chọn hàng của khách
- Khu vực đi lại, chọn hàng của khách phải được bố trí hợp lý tạo sự thoải mái cho khách hàng, có bãi đỗ xe thuận tiện
- Nhân viên phục vụ phải am hiểu sâu về hàng hoá để có thể tư vấn và giúp khách chọn hàng, thái độ phục vụ nhiệt tình, cởi mở
- Quá trình tính tiền và thanh toán tiền hàng nhanh, chính xác
- Tiến tới thanh toán không dùng tiền mặt
- Có nhiều dịch vụ đi kèm trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho khách khi đến mua hàng
Hiện nay các trung tâm thương mại, siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng tiện dụng ở Việt Nam được coi là cơ sở bán lẻ hiện đại vì các cơ sở này về cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu trên
* Khái niệm hệ thống bán lẻ hiện đại và phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
Hệ thống bán lẻ hiện đại trên một vùng thị trường dùng để chỉ mạng lưới cửa hàng bán lẻ văn minh, hiện đại áp dụng phương thức bán hàng tự phục vụ hay phương thức bán hàng tự chọn bán các loại hàng tiêu dùng phổ biến cho người dân trên vùng thị trường đó Xét ở phạm vi hẹp, hệ thống bán lẻ hiện đại được cấu thành
bởi các siêu thị, cửa hàng tiện dụng, trung tâm thương mại, cửa hàng bách hoá, có
Trang 20áp dụng phương thức bán hàng tự chọn hoặc tự phục vụ, bán các mặt hàng tiêu dùng phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng
Sơ đồ 1.1 Hệ thống bán lẻ trong hệ thống kênh phân phối hàng tiêu dùng
Nguồn: Nguyễn Thị Nhiễu (2006)“Thực trạng và giải pháp phát triển
hệ thống siêu thị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”
Phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên một vùng thị trường là phát triển về loại hình, quy mô, số lượng của từng loại, quy hoạch về địa lý một cách hợp lý và công tác tổ chức hoạt động kinh doanh của các loại hình như thế nào để vừa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, vừa đảm bảo phù hợp các điều kiện kinh tế - xã hội, thói quen mua sắm, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trên vùng thị trường đó
Việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại trên một vùng thị trường cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
Có sự phối hợp giữa các loại hình bán lẻ hiện đại trong toàn hệ thống, sự phân
bố của hệ thống cần đồng đều trên toàn vùng thị trường, tránh chồng chéo hoặc bỏ trống thị trường;
Người sản xuất
Đại lý, môi giới
CH bách hoá
Loại hình khác
Người tiêu dùng
Trang 21Số lượng, quy mô của từng loại hình phù hợp với dân số, sức mua và thói quen mua sắm của dân cư;
Địa điểm xây dựng các cơ sở bán lẻ hiện đại được đặt ở các vị trí thuận lợi về giao thông, về khoảng cách địa lý đối với từng khu vực khách hàng;
Từng cơ sở kinh doanh bán lẻ trong hệ thống cần tổ chức quản lý và hoạt động thoả mãn các yêu cầu của kinh doanh bán lẻ hiện đại;
Hoạt động của hệ thống cần đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp bán lẻ, đồng thời đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường
Tỷ trọng doanh thu bán lẻ hiện đại liên tục tăng trưởng, tiến tới thay thế dần bán lẻ truyền thống
1.2 Các công nghệ và mô hình bán lẻ hiện đại
1.2.1 Công nghệ bán lẻ hiện đại
1.2.1.1 Hệ thống công nghệ bán lẻ
Hệ thống công nghệ bán lẻ là tổng hợp các yếu tố về quá trình bán hàng, phương pháp bán hàng, máy móc thiết bị và tổ chức lao động nhằm tạo ra môi trường tương tác thuận lợi để cung ứng dịch vụ khách hàng tốt nhất
Các yếu tố cấu thành hệ thống công nghệ bán lẻ gồm có quy trình công nghệ bán lẻ, phương pháp bán lẻ, tổ chức lao động bán lẻ và điều kiện cơ sở vật chất phục
vụ cho bán lẻ
Sự tương tác theo các phương thức khác nhau giữa các yếu tố trên tạo ra các dạng hệ thống công nghệ bán lẻ khác nhau, gồm có hệ thống công nghệ kín và hệ thống công nghệ mở
- Hệ thống công nghệ kín - truyền thống: có đặc điểm là các yếu tố thuộc về
phía người bán có sự tách biệt tương đối với khách hàng (sơ đồ 1.2) Sự tương tác
chủ yếu trong quá trình mua bán là giữa nhân viên bán hàng với khách hàng Việc
tổ chức hàng hóa, không gian, trang thiết bị chủ yếu hướng về yêu cầu quản lý và
Trang 22đáp ứng yêu cầu của người bán chứ chưa có sự chú ý đến các nhu cầu toàn diện trong quá trình mua hàng của khách hàng
Sơ đồ 1.2: Hệ thống công nghệ bán lẻ kín - truyền thống
Nguồn: An Thị Thanh Nhàn - “Quản trị bán lẻ”
- Hệ thống công nghệ mở với những thay đổi trong kết cấu các yếu tố tham gia quá trình bán lẻ và sự tương tác của khách hàng với các yếu tố này đã đánh giá đúng vai trò của khách hàng, lấy khách hàng làm trung tâm, tạo những điều kiện thuận
tiện nhất cho quá trình mua hàng của khách hàng (sơ đồ 1.3) Đặc điểm của hệ
thống này là khách hàng được tiếp cận trực tiếp với các yếu tố cấu thành hệ thống công nghệ, tạo được sự chủ động, thuận tiện cho quá trình mua của họ.Việc tổ chức các yếu tố cấu thành hệ thống công nghệ mở hướng đến thoả mãn không chỉ nhu cầu về hàng hoá, mà là nhu cầu toàn diện khi khách hàng đi mua hàng, khách hàng
sẽ có cảm giác được thư giãn khi mua hàng theo phương thức này Nhu cầu mua
Sức lao động của NVBH
Trang thiết bị
bán hàng
Hàng hoá
Cường độ + chi phí Không gian
Khách hàng
Quan hệ tương tác trực tiếp
tiếp Quan hệ tương tác gián tiếp
Trang 23thêm hàng của khách có thể được nảy sinh ngay trong quá trình xem và chọn hàng, ngoài dự định ban đầu, làm gia tăng doanh thu cho cửa hàng
Sơ đồ 1.3: Hệ thống công nghệ bán lẻ mở - tiến bộ
Nguồn: An Thị Thanh Nhàn - “Quản trị bán lẻ”
Hệ thống công nghệ mở được xem là hệ thống công nghệ tiến bộ và đang dần được phát triển rộng rãi nhằm tạo ra các mô hình bán lẻ hiện đại, thu hút được ngày càng nhiều khách hàng như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện dụng bởi các tiện ích thiết thực mà các loại hình bán lẻ này mang đến cho khách hàng
1.2.1.2 Một số công nghệ bán lẻ hiện đại
* Công nghệ bán hàng tự phục vụ
Là công nghệ bán hàng trong đó, người mua tự do tiếp cận hàng hoá để ngỏ trong gian hàng, tự mình xem xét và lựa chọn hàng hoá mà không cần sự giúp đỡ của người bán, trả tiền mua hàng ở nơi thu tiền đặt ở lối ra của gian hàng còn người
Sức lao động của NVBH
Trang thiết bị bán hàng
Khách hàng
Quan hệ tương tác trực tiếp
Hàng hoá
Trang 24bán chỉ thực hiện chức năng là tư vấn cho khách hàng, bày hàng, và kiểm tra sự an toàn của hàng hoá trong gian hàng
Sơ đồ 1.4: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự phục vụ
Điểm khác biệt cơ bản của công nghệ bán hàng tự phục vụ với công nghệ bán hàng truyền thống (bán hàng qua quầy) là tạo ra không gian mở của gian bán hàng, không còn sự ngăn cách giữa khu vực hoạt động của người bán với khu vực hoạt động của khách hàng (trừ khu vực thanh toán - giao hàng); qua đó tạo được sự tự do, thuận tiện tối đa trong việc tiếp cận với hàng hoá để tìm hiểu về hàng hoá, lựa chọn
và quyết định mua ở khách hàng
Ngoài ra do việc thanh toán - giao hàng được tiến hành tập trung nên được thực hiện bởi các máy thu tính tiền hiện đại (máy tính, máy đọc thẻ tín dụng )
Tính tiên tiến của công nghệ này là ở chỗ:
- Phân định hợp lý nhất chức năng giữa các nhân viên gian hàng và khách hàng khi thực hiện các thao tác phục vụ
- Sử dụng tối đa khả năng độc lập của khách hàng khi xem xét và lựa chọn hàng hoá, trên cơ sở đó tăng nhanh quá trình bán hàng, nâng cao trình độ văn minh
và hiệu quả thương mại
- Tiết kiệm thời gian mua hàng của khách hàng do tăng diện tích trưng bày, giới thiệu hàng Khách hàng không bị hạn chế về xem xét và lựa chọn hàng hoá
Tiếp và hướng dẫn khách vào cửa hàng
Tư vấn cho khách hàng
Thanh toán tiền, giao hàng cho khách hàng
Kết thúc lần bán
Trang 25- Tăng diện tích trưng bày hàng hoá, cho phép mở rộng mặt hàng kinh doanh, tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu mua hàng đồng bộ của khách hàng Do đó giảm tổng quĩ thời gian mua hàng, giảm tần số mua hàng của khách hàng
- Công nghệ bán hàng này đem lại hiệu quả kinh tế: tạo tiền đề khách quan phát triển lưu chuyển hàng hoá, tận dụng diện tích doanh nghiệp, giảm lực lượng lao động, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí lưu thông, nâng cao lợi nhuận
Từ những hiệu quả dịch vụ và kinh tế kể trên, phương pháp bán hàng tự phục vụ làm tăng cường hiệu lực marketing, tạo lợi thế cạnh tranh
Trong công nghệ bán hàng tự phục vụ cần chuẩn bị tốt hàng hoá để khách hàng lựa chọn và thanh toán tiền hàng, hàng hoá cần có mã số-mã vạch để tạo điều kiện cho việc cơ giới hoá, tự động hoá quá trình công nghệ trong cửa hàng, nâng cao năng suất lao động, công suất thiết bị; đồng thời, tăng dự trữ trong gian hàng và giảm dự trữ ở phòng bảo quản
* Công nghệ bán hàng tự chọn
Đây là công nghệ bán hàng mà trong đó khách hàng tự do tiếp cận và tìm hiểu hàng hoá tại các nơi công tác bán hàng Người bán hướng dẫn khách, chuẩn bị hàng hoá mà khách hàng lựa chọn, thanh toán tiền hàng trực tiếp ở nơi bán (đối với cửa hàng thực phẩm), ở bàn bao gói (đối với cửa hàng công nghệ), hoặc ở nơi thu tiền tập trung trong gian hàng
Công nghệ này có ưu điểm:
- Khách hàng được trực tiếp tìm hiểu hàng hoá tại nơi trưng bày;
- Người bán hàng vẫn phải thực hiện một số thao tác như giới thiệu hàng hoá
và cung cấp các thông tin cho khách hàng về hàng hoá, giúp đỡ khách hàng trong việc bao gói, vận chuyển;
- Giảm thời gian khách hàng tìm hiểu về hàng hoá, do đó tăng tốc độ chu chuyển và lưu chuyển hàng hoá, nâng cao hiệu quả lao động, giảm chi phí lưu thông
Trang 26Phương pháp này kết hợp một số yếu tố của phương pháp bán hàng truyền thống và phương pháp tự phục vụ
Sơ đồ 1.5: Quy trình bán hàng theo công nghệ tự chọn
* Công nghệ bán hàng theo mẫu
Theo công nghệ này, khách hàng có khả năng tự mình hoặc nhờ có sự giúp đỡ của người bán chọn hàng theo mẫu được trưng bày ở gian hàng, trả tiền mua hàng ở nơi thu tiền và nhận hàng theo mẫu trực tiếp trong cửa hàng hoặc theo hình thức giao tận nhà, khách hàng phải trả thêm tiền phục vụ
Đặc điểm khác biệt của công nghệ này là: Trong gian hàng chỉ trưng bày các mẫu hàng bán, còn công tác dự trữ được tách riêng Do đó với diện tích nhỏ, có thể trưng bày nhiều mặt hàng, đồng thời khách hàng tự mình và nhanh chóng hiểu biết
về hàng hoá
Đón tiếp khách
Tư vấn, giúp đỡ khách chọn hàng và lấy hàng
Thanh toán tiền, giao hàng cho khách hàng
Tiễn khách, tạo ấn tượng sau bán
Kết thúc lần bán
Trang 27Yêu cầu về chuẩn bị hàng hoá: Việc bao gói phải chỉ rõ tên sản phẩm, loại và
ký hiệu người sản xuất, giá và một số thông tin khác Ngoài ra tuỳ theo mẫu hàng
mà người bán cố vấn thêm cho khách hàng
Sơ đồ 1.6: Quy trình công nghệ bán hàng theo mẫu
Tác dụng của phương pháp bán hàng này là: Sử dụng hợp lý diện tích kinh doanh, giảm chi phí nhân viên bán hàng và giảm thời gian mua hàng của khách Công nghệ này thường áp dụng trong bán hàng điện tử-điện lạnh, phương tiện đi lại (ô tô, xe máy ), hàng có kích thước lớn (giường tủ, bàn ghế )
* Bán hàng theo đơn đặt hàng - thương mại điện tử
Đây là công nghệ bán hàng trong đó, cửa hàng nhận đơn hàng qua điện thoại, qua mạng internet hoặc ở những điểm tiếp nhận, tiến hành chuẩn bị hàng hoá theo đơn và giao hàng cho khách hàng tại những vị trí yêu cầu trong đơn hàng
Theo công nghệ này, khách hàng có thể mua được trọn bộ hàng hoá mà không cần đến cửa hàng, giảm đến mức thấp nhất thời gian mua hàng Cửa hàng tăng thêm lực lượng hàng hoá bổ sung, sử dụng hợp lý lao động do biến đổi cường độ dòng khách
Đón tiếp, tìm hiểu nhu cầu khách hàng
Hướng dẫn khách chọn hàng theo mẫu
Thanh toán tiền hàng
Chuẩn bị hàng để giao cho khách
Giao hàng và kết thúc lần bán
Trang 28Các điểm đặc biệt của thương mại điện tử so với các kênh phân phối truyền thống là tính linh hoạt cao độ về mặt cung ứng và giảm thiểu phí tổn vận tải với các đối tác kinh doanh Các phí tổn khác thí dụ như phí tổn điện thoại và đi lại để thu thập khách hàng hay phí tổn trình bày giới thiệu cũng được giảm xuống Mặc dầu vậy, tại các điểm dịch vụ vật chất cụ thể, khoảng cách không gian vẫn còn phải được khắc phục và vì thế đòi hỏi một khả năng tiếp cận phù hợp nhất định
Sơ đồ 1.7: Quy trình bán hàng theo đơn đặt hàng
Yêu cầu khi triển khai công nghệ bán này là: Phải tổ chức hệ thống tiếp nhận đơn hàng thật thuận tiện, công tác chuẩn bị đơn hàng phải khẩn trương, và thông thường, phương pháp này áp dụng đối với những hàng hoá đồng nhất về tiêu chuẩn,
ít phải lựa chọn
1.2.2 Một số mô hình bán lẻ hiện đại
1.2.2.1 Siêu thị
Trên thế giới, hiện có nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị
Theo Phillips Kotler, siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa"
Tiếp nhận đơn đặt hàng
Tập hợp và phân loại đơn đặt hàng
Chuẩn bị hàng theo đơn
Giao hàng cho khách hàng
Tính và thu tiền hàng
Trang 29Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ có diện tích kinh doanh từ 400m2
đến 2500m2, chủ yếu bán hàng thực phẩm"
Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z: "Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác" Theo từ điển thương mại của Nhà xuất bản Long Man (Vương quốc Anh):
“Siêu thị là loại hình kinh doanh hàng ngày theo phương pháp tự phục vụ, diện mặt hàng phong phú, đa dạng trong đó chủ yếu là hàng thực phẩm, đồ gia dụng phổ thông nhằm đáp ứng trực tiếp nhu cầu nhật dụng của người tiêu dùng”
Theo GS.TS Nguyễn Bách Khoa, “Siêu thị là một sơ sở bán lẻ có phổ mặt hàng tương đối rộng và tương đối sâu, chủ yếu là các hàng hiệu của mặt hàng thực phẩm, tạp phẩm và một số mặt hàng công nghệ phẩm”
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt Nam
(nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004: Siêu thị
là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng
Tổng hợp từ các khái niệm trên, có thể hiểu siêu thị là cơ sở bán lẻ theo công nghệ tự phục vụ với giá bán thấp, mặt hàng đa dạng, phong phú, chủ yếu là hàng thực phẩm, đồ gia dụng, chất tẩy rửa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng
Theo Viện nghiên cứu Thương mại Việt Nam, siêu thị có các đặc trưng sau:
- Đóng vai trò cửa hàng bán lẻ: Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ - bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bán lại Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, được quy hoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng quy mô, có trang thiết bị và cơ sở vật
Trang 30chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt động
- Áp dụng phương thức tự phục vụ: Đây là phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loại cửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh
- Phương thức thanh toán thuận tiện: Hàng hóa gắn mã vạch, mã số được đem
ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét để đọc giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn Đây chính là tính chất ưu việt của siêu thị, đem lại sự thỏa mãn cho người mua sắm Đặc điểm này được đánh giá là cuộc đại "cách mạng" trong lĩnh vực thương mại bán lẻ
- Sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá: qua nghiên cứu cách thức vận động của người mua hàng khi vào cửa hàng, người điều hành siêu thị có cách bố trí hàng hóa thích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hoá hiệu quả của không gian bán hàng Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng
"tự quảng cáo", lôi cuốn người mua Siêu thị làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; những hàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng khuyến mại phải thu hút khách hàng bằng những kiểu trưng bày gây ấn tượng; hàng có trọng lượng lớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng
dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn để tạo cho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó được bán rất chạy
- Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như: thực phẩm, quần áo,
bột giặt, đồ gia dụng, điện tử với chủng loại rất phong phú, đa dạng Siêu thị thuộc
hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa hàng chuyên doanh chỉ chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định Theo quan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấy mọi thứ họ cần và với một mức giá "ngày nào cũng thấp" (everyday-low-price) Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn loại hàng Thông thường,
Trang 31một siêu thị có thể đáp ứng được 70-80% nhu cầu hàng hóa của người tiêu dùng về
ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làm bếp, chất tẩy rửa
Trong các đặc trưng trên, phương thức bán hàng tự phục vụ và nghệ thuật trưng bày hàng hoá của siêu thị là 2 đặc trưng đã mở ra kỷ nguyên thương mại bán
lẻ văn minh hiện đại
Trong hệ thống các cửa hàng bán lẻ hiện đại, siêu thị được xếp ở vị trí cao hơn các cửa hàng tự phục vụ nhỏ, cửa hàng tiện dụng và thấp hơn so với đại siêu thị, cửa hàng bách hoá, trung tâm thương mại xét về mặt quy mô, diện tích và phương thức kinh doanh Loại hình cửa hàng bán lẻ này đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, có suy thoái và có diệt vong tùy theo từng thời kỳ
Kinh doanh siêu thị là một trong những loại hình kinh doanh hiện đại, ra đời và phát triển trong quan hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá ngày càng cao ở quy mô thế giới Loại hình kinh doanh này ra đời vào năm 1930 ở Mỹ sau đó mở rộng sang châu Âu, được coi là một trong những cuộc “cách mạng” hữu ích nhất đối với người tiêu dùng trong lĩnh vực phân phối hàng hoá
Siêu thị thực sự ở Việt nam được hình thành đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự ra đời của siêu thị Minimart do công ty Vũng Tàu Sinhanco khai trương tháng 10 năm 1993 với một quy mô khiêm tốn và đối tượng phục vụ chủ yếu
là khách nước ngoài Tiếp theo đó một số siêu thị ở Thành phố Hồ Chí Minh lần lượt ra đời
Đến nay ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP , Hải Phòng, nhiều nhà phân phối đã xây dựng các chuỗi siêu thị như chuỗi siêu thị Co.op Mart của liên hiệp hợp tác xã thương mại thành phố Hồ Chí Minh Chuỗi siêu thị Hapro Mart của tổng công ty thương mại Hà Nội, chuỗi siêu thị Intimex của công ty xuất nhập khẩu Intimex… Ngoài ra còn có sự góp mặt của các siêu thị nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài như Big C, Lotte Mart…
Để có thể kinh doanh dưới hình thức siêu thị, đòi hỏi nhà kinh doanh cần có một số vốn đủ lớn để đáp ứng được yêu cầu về mặt bằng, không gian và chủng loại hàng hóa Với quy mô lớn, hàng hóa nhiều, khách hàng đông đòi hỏi đội ngũ nhân viên bán hàng phải chuyên nghiệp, đội ngũ quản lý giàu kinh nghiệm Siêu thị
Trang 32thường được bố trí tại nơi đông dân cư, nơi có nhu cầu mua sắm lớn và giao thông thuận lợi
Siêu thị thường là các cơ sở kinh doanh tổng hợp với nhiều ngành hàng khác nhau, tuy nhiên hiện nay từ “siêu thị” còn được chỉ những cơ sở chuyên doanh một mặt hàng (siêu thị chuyên doanh) như “siêu thị máy tính”, “siêu thị thời trang”,
“siêu thị điện thoại”…
Về tiêu chuẩn siêu thị, theo Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Công thương Việt Nam, siêu thị được chia là 3 hạng (siêu thị hạng I, hạng II và hạng III) mà căn cứ chủ yếu để phân loại siêu thị là dựa vào diện tích và số lượng danh mục hàng hóa kinh doanh (bảng 1.1)
Bảng 1.1: Bảng phân hạng siêu thị theo quy chế siêu thị hiện hành
1.2.2.2 Cửa hàng tiện lợi (CHTL)
Giống như quan niệm về “siêu thị”, trên thế giới, cũng có nhiều cách hiểu về cửa hàng tiện lợi (hay còn được gọi là cửa hàng tiện dụng), như:
Quan niệm của Pháp: CHTL là cửa hàng bán lẻ có diện tích nhỏ hơn 120m2, có thể áp dụng phương thức bán hàng truyền thống hoặc cũng có thể theo phương thức
tự phục vụ
Quan niệm của Mỹ: CHTL là cửa hàng bán lẻ có diện tích nhỏ, bố trí ở rất gần người tiêu dùng, bán những mặt hàng rẻ tiền tiêu dùng hàng ngày hay thường xuyên
Trang 33Quan niệm của Nhật: CHTL là cửa hàng cung cấp tính thuận tiện cho người tiêu dùng với chủ yếu là các hàng hoá gần gũi, thiết yếu nhất cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân
Từ các quan điểm trên, có thể hiểu, CHTL là cửa hàng cung cấp sự tiện lợi cho khách hàng Tính tiện lợi thể hiện là tiện lợi về khoảng cách, tiện lợi về thời gian, tiện lợi về hàng hoá, tiện lợi về dịch vụ
Căn cứ đặc điểm của CHTL ở một số nước trên thế giới như Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan cho thấy CHTL có các đặc điểm là:
- Địa điểm thuận tiện cho người mua (khu dân cư, bến tàu xe, ngã tư…)
- Mở cửa liên tục, 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần
- Mặt hàng phục vụ nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng
- Có nhiều dịch vụ kèm theo (báo chí, bưu điện, ăn nhanh…)
- Giá bán thường cao hơn những nơi khác
- So với các siêu thị thì số lượng mặt hàng trong các cửa hàng tiện lợi vẫn hạn chế hơn nhiều, trong một số cửa hàng chỉ có 1 đến 2 sự lựa chọn Giá trong các cửa hàng tiện lợi tuy không phải lúc nào cũng vậy, song thường cao hơn ở siêu thị như
là một đặc trưng
Cửa hàng tiện lợi là một hình thức bán lẻ của kênh bán lẻ hiện đại Với quy
mô nhỏ, đầu tư không lớn nhưng mô hình cửa hàng tiện lợi có lợi thế là phục vụ nhanh và chu đáo hơn so với các siêu thị hay đại siêu thị vì nhiều doanh nghiệp áp dụng những “chiêu” hút khách khác nhau như: giao hàng tận nhà, mở cửa liên tục trong ngày, chuyên môn hóa sản phẩm được bày bán Hầu hết những cửa hàng này hướng tới thị trường phân phối nhỏ lẻ nhằm làm thay đổi dần thói quen mua sắm của những người có thu nhập trung bình trở lên
Hình thức cửa hàng tiện lợi rất phổ biến ở Mỹ, Canada, Nhật Bản và một số nước châu Á khác như Singapo, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc…, trong đó Đài Loan là nơi có nhiều cửa hàng tiện lợi nhất tính theo đầu người (hơn 9.100 cửa hàng cho 23 triệu dân) Phổ biến nhấtở vùng thị trường nàylà chuỗi cửa hàng 7- Eleven
và Family Mart của Nhật
Trang 34Người Việt Nam đã biết đến hình thức cửa hàng tiện lợi qua các thương hiệu như G7 - Mart hay Shop & Go Tuy nhiên, do đặc trưng riêng của thị trường bán lẻ Việt Nam, phương thức hoạt động của các chuỗi cửa hàng mang các thương hiệu trên chưa thể hiện đầy đủ các đặc điểm của mô hình cửa hàng tiện lợi điển hình trên thế giới mà chủ yếu được nâng cấp lên từ các cửa hàng tạp hoá truyền thống trước đây, có mang phong cách của công nghệ bán lẻ hiện đại, áp dụng phương thức bán hàng tự chọn hoặc tự phục vụ, bán kính phục vụ hẹp Tính tiện lợi của các cửa hàng này chủ yếu thể hiện ở khoảng cách địa lý, thời gian mua sắm, chủng loại và chất lượng hàng hoá
Tháng 6/2009, cửa hàng tiện lợi mang thương hiệu Cricle K đã có mặt tại TP
Hồ Chí Minh với kế hoạch dài hạn phát triển thương hiệu thông qua hàng trăm cửa hàng tại nước ta Đến đầu năm 2010, Family - Mart của Nhật cũng đã khai trương cửa hàng đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh Các cửa hàng này mở cửa 24/24 giờ các ngày trong tuần, phục vụ đa dạng nhu cầu của người tiêu dùng với các sản phẩm thiết yếu Đây là bước đánh dấu cho sự phát triển của loại hình cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam với sự góp mặt của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
1.3.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động thương mại bán
lẻ nói chung và việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại nói riêng bao gồm có 5 nhóm nhân tố sau:
- Nhân tố kinh tế
- Nhân tố văn hóa - xã hội
- Nhân tố hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 35Thứ nhất, tình trạng của nền kinh tế: Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ bao gồm 3 giai đoạn: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh Ở giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, tăng trưởng GDP đạt được ở mức thấp, thu nhập của dân cư giảm làm cho chi tiêu giảm Người tiêu dùng sẽ giảm dần cường độ mua sắm tại các siêu thị
và cắt giảm chi tiêu cho một số mặt hàng Thời kỳ này, hoạt động kinh doanh bán lẻ nhất là bán lẻ hiện đại sẽ gặp nhiều khó khăn do sức mua giảm dẫn tới doanh số thấp Bản thân các nhà kinh doanh bán lẻ cũng gặp khó khăn về vốn trong quá trình đầu tư, nên việc xây dựng mới các siêu thị hay trung tâm thương mại có thể bị ngưng trệ
Khi nền kinh tế ở vào giai đoạn hưng thịnh, tăng trưởng kinh tế ở mức cao làm cho tiêu dùng tăng mạnh, đây là thời điểm thích hợp để các nhà kinh doanh trong ngành bán lẻ theo hình thức hiện đại tăng cường hoạt động đầu tư bởi hai lý do cơ bản: một là nguồn vốn đầu tư dễ huy động, hai là khả năng gia tăng doanh thu cao
do mức chi tiêu của dân cư tăng lên dẫn tới việc lựa chọn địa điểm mua sắm của người tiêu dùng cũng sẽ thiên về các cơ sở bán lẻ hiện đại Tuy nhiên, khi xem xét tình trạng của nền kinh tế chỉ là xét trong ngắn hạn bởi các giai đoạn này có thể nhanh chóng bị thay thế bởi giai đoạn kế tiếp Vì thế, có thể ngay trong giai đoạn suy thoái hoặc giai đoạn phục hồi của nền kinh tế, các nhà kinh doanh bán lẻ vẫn có thể duy trì và phát triển hệ thống phân phối của họ chứ họ không rút lui khỏi thị trường hoặc thu hẹp quy mô
Thứ hai, yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống bán lẻ Nếu lạm phát quá cao và thời gian kéo dài sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sức mua của thị trường, đặc biệt là đối với nhóm người tiêu dùng có thu nhập thấp và trung bình Nhóm dân cư này sẽ thay đổi cách mua sắm, mặt hàng và thói quen trong mua sắm Trước hết là hạn chế số lượng và chủng loại hàng mua Thứ hai là thay vì mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại với các mặt hàng có phẩm cấp cao, họ sẽ chuyển sang mua hàng ở các chợ, nơi hàng hóa thường có phẩm cấp thấp hơn khiến cho giá cả cũng rẻ hơn nhằm giảm bớt lượng chi tiêu của họ Do đó, trong thời điểm lạm phát cao và kéo dài, việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại sẽ gặp trở ngại hơn
so với thời điểm giá cả hàng hóa ổn định
Trang 36Thứ ba, mức thu nhập trung bình của dân cư và vấn đề phân phối trong thu nhập có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại Ở một thời điểm nào đó, một vùng thị trường nào đó nếu mức thu nhập trung bình của dân cư ở mức cao và có tốc độ tăng nhanh thì hệ thống bán lẻ hiện đại sẽ phát triển tốt tại vùng thì trường đó Việt Nam là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người không cao nhưng tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người lại rất cao (cuối năm 2010 GDP bình quân đầu người là 1.160 USD, đến cuối năm 2013 con số này là khoảng 1.960 USD, gần gấp hai lần trong vòng 3 năm), người dân sử dụng trung bình đến 70% thu nhập của họ cho chi tiêu nên thương mại bán lẻ Việt Nam được coi là lĩnh vực đầu tư rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đồng thời thị trường bán lẻ Việt Nam được xếp vào nhóm các thị trường bán lẻ tiềm năng và hấp dẫn bậc nhất thế giới Một thực tế dễ nhận thấy là đối với tập khách hàng có thu nhập khá hoặc cao thì họ thường chọn địa điểm mua sắm tại các siêu thị hay trung tâm thương mại nhiều hơn là đối với tập khách hàng có thu nhập thấp Như vậy, nếu thu nhập trung bình của dân cư cao và ngày càng tăng thì cơ hội cho các cơ sở bán lẻ hiện đại phát triển cũng cao
Ngoài ra, triển vọng kinh tế trong tương lai như tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức tăng GDP, tỷ suất GDP trên vốn đầu tư… cũng là các vấn đề đáng quan tâm trong việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
1.3.1.2 Nhóm các nhân tố văn hóa - xã hội
Do bán lẻ là bán hàng hoá cho người tiêu dùng cuối cùng, đó là các cá nhân và
hộ gia đình, vì thế những tác động từ phía dân cư (quy mô, mật độ, cơ cấu dân số), thu nhập bình quân đầu người, mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối với triển vọng của nền kinh tế, tập quán dân cư có ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng của ngành thương mại bán lẻ trong đó có bán lẻ hiện đại
Trước hết, quy mô dân số, mật độ dân số và cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn đến ngành bán lẻ Tại một vùng thị trường có mật độ dân số đông, cơ cấu dân số trẻ (số người trong độ tuổi lao động chiếm đa số - đây là lực lượng khách hàng chủ yếu của ngành bán lẻ) thì lĩnh vực bán lẻ tại vùng thị trường này có tiềm năng phát triển cao Hơn thế nữa, nhóm đối tượng khách hàng trong độ tuổi lao động lại thường có
Trang 37lối sống năng động, hiện đại, tiếp thu nhanh văn hoá tiêu dùng, ưa thích các tiện ích
mà thương mại hiện đại mang lại, họ có xu hướng mua sắm nhiều hơn tại các siêu thị, cửa hàng tiện lợi hoặc các trung tâm thương mại thay vì mua sắm tại chợ hay các cửa hàng tạp hoá truyền thống
Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (chỉ số đo lường mức độ lạc quan hay bi quan của người tiêu dùng đối với bối cảnh nền kinh tế hiện tại và triển vọng kinh tế trong tương lai của quốc gia họ đang sống, hoặc xa hơn nữa là nền kinh tế toàn cầu) cũng là vấn đề đáng quan tâm đối với các nhà kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ Chi tiêu của người tiêu dùng chiếm hơn 2/3 chi tiêu của nền kinh tế chính vì thế thái độ
và phản ứng của người tiêu dùng đối với các biến động của nền kinh tế tác động trực tiếp lên giá cả, hàng hoá, nó có ảnh hưởng rất lớn đối với thị trường đặc biệt là thị trường bán lẻ Chi tiêu tiêu dùng được phản ánh lên niềm tin tiêu dùng Nếu như người tiêu dùng tỏ ra lạc quan hơn đối với thực trạng nền kinh tế và thu nhập cá nhân, thì họ sẽ mạnh dạn chi tiêu nhiều hơn
Bên cạnh đó, việc người tiêu dùng lựa chọn hình thức mua sắm nào, địa điểm mua sắm ở đâu là do tập quán hay thói quen mua sắm của dân cư các vùng thị trường khác nhau Tại các vùng đô thị lớn hiện nay, người tiêu dùng đã chú ý nhiều hơn đến các kênh phân phối hiện đại vì các tiện ích thiết thực của các loại hình cửa hàng này như chất lượng và nguồn gốc xuất xứ của hàng, sự thoải mái trong lựa chọn hàng, sự đa dạng của hàng hóa hoặc các dịch vụ kèm theo…Về cơ bản, người tiêu dùng ở khu vực nông thôn vẫn quen mua sắm tại các chợ truyền thống với các
lý do như: gần nhà, giá rẻ, được sự tư vấn trực tiếp của người bán…Một số khác thì lại thích mua sắm theo kiểu “vỉa hè” nhất là đối với hàng thực phẩm vì sự thuận tiện
đi lại, thời gian, giá rẻ; mặc dù họ không xác định được chất lượng, nguồn gốc và sự
an toàn của các sản phẩm họ đã mua Do vậy, việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại cũng chịu ảnh hưởng bởi thói quen mua sắm của dân cư trên từng vùng thị trường khác nhau Tuy nhiên, thói quen mua sắm cũng có thể thay đổi, người tiêu dùng có thể chuyển dần từ mua sắm tại các chợ truyền thống sang các siêu thị hoặc trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện lợi khi họ nhận thấy việc mua sắm tại các địa điểm này thực sự mang lại lợi ích cho họ Đương nhiên, các nhà kinh doanh bán
Trang 38lẻ cũng luôn phải đặt hoạt động kinh doanh của mình trong môi trường cạnh tranh nhằm mang lại cho khách hàng những lợi ích ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là sự thuận tiện và giá cả để thu hút khách hàng, tác động vào thói quen mua sắm của họ Hình thức bán lẻ hiện đại mới chỉ phát triển tại Việt Nam từ hơn chục năm trở lại đây, nhưng đến nay phần lớn người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh đã lựa chọn kênh mua sắm này, không phải thói quen đó có từ lâu đời
mà họ cũng đều chuyển từ kênh mua sắm truyền thống sang
1.3.1.3 Nhân tố hội nhập kinh tế quốc tế
Tác động của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại điển hình là công nghệ thông tin với mạng Internet toàn cầu, mạng liên lạc viễn thông là công cụ hữu hiệu nhất để kết nối tất cả các nền kinh tế, tạo tiền đề cho phát triển các liên kết thương mại, phát triển các hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại rộng khắp tại mọi quốc gia trên thế giới
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế gắn với tự do hoá thương mại, kéo theo xu thế tập trung hoá dẫn đến sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia và xuyên quốc gia trong lĩnh vực bán lẻ Thị trường bán lẻ Việt nam được coi là hấp dẫn hàng đầu thế giới nên sẽ có sức hút mạnh mẽ đối với nhiều tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới Sự xuất hiện của các tập đoàn này tại Việt Nam, trước hết là các thành phố lớn sau đó đến các đô thị nhỏ và vùng nông thôn (trong đó có TP Vĩnh Yên) không chỉ tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà kinh doanh bán lẻ trong
và ngoài nước mà còn làm cho các hình thức bán lẻ ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng
Xu hướng phát triển của ngành phân phối bán lẻ thế giới có đặc trưng là nhất thể hoá sản xuất - bán buôn - bán lẻ để tạo ra mạng lưới phân phối rộng rãi Các cửa hàng nhỏ, truyền thống được thay bằng những cửa hàng bách hoá lớn hơn, quy mô
cả về doanh thu và lao động đều tăng lên, mật độ phân bố của cửa hàng bán lẻ giảm xuống, hình thành hệ thống kinh doanh chuỗi hoặc nhượng quyền thương mại, tạo nên hệ thống siêu thị, đại siêu thị, trung tâm mua sắm, trung tâm thương mại
Đứng trước thách thức bị áp lực cạnh tranh bởi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, các doanh nghiệp bán lẻ trong nước nói chung, địa bàn thành phố Vĩnh Yên nói
Trang 39riêng phải điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình từ nhỏ lẻ, truyền thống sang chuyên nghiệp và hiện đại hơn
Việc quốc tế hoá ngành thương mại bán lẻ của các quốc gia và sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ trên thế giới bên cạnh tạo ra những thách thức
to lớn cho hệ thống bán lẻ trong nước thì những cơ hội mà hội nhập kinh tế mang đến là không nhỏ Đó là những bài học kinh nghiệm về quản lý kinh doanh bán lẻ hiện đại cho các nhà kinh doanh Việt Nam; đó là sự cọ sát để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo cho doanh nghiệp thương mại sự tự chủ và sáng tạo, đạt được trình
độ chuyên môn hoá cao để phát triển lâu dài; đó cũng là những cơ hội để giảm chi phí, tiếp thu công nghệ, thông tin và tri thức về các công nghệ bán lẻ trên thế giới Nền kinh tế đất nước tăng trưởng, thu nhập của người dân được nâng cao là cơ
sở kinh tế để phát triển ngành thương mại bán lẻ cả về quy mô và chất lượng
Hội nhập kinh tế của Việt nam vào khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, một mặt tạo sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, mặt khác tạo khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển các loại hình thương mại bán
lẻ tạo ra một thị trường bán lẻ chuyên nghiệp, hiện đại
Thể chế thị trường đang được xây dựng và hoàn thiện tạo thuận lợi cho sự phát triển các hệ thống phân phối hàng hoá hiện đại
1.3.1.4 Nhân tố thể chế - luật pháp
Đây là nhân tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ Các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào dù ít hay nhiều Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực
đó Bởi vậy, việc phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại cũng chịu một phần ảnh hưởng bởi nhóm nhân tố này
Chính sách thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp Nếu các loại thuế liên quan đến ngành dịch vụ bán lẻ có các mức thuế suất thấp sẽ tạo điều kiện khuyến khích đầu tư trong ngành này Các đạo luật liên quan như luật đầu tư, luật doanh nghiệp,
Trang 40các chính sách ưu đãi của chính phủ và của từng địa phương đối với việc phát triển ngành thương mại, vấn đề quy hoạch đất đai, cho thuê đất, cơ sở hạ tầng đối với lĩnh vực thương mại bán lẻ có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực thương mại bán lẻ, đặc biệt là đối với các dự án cần có mặt bằng rộng và địa điểm kinh doanh thuận lợi để hình thành hệ thống bán lẻ hiện đại như các dự án thành lập siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm Một thực tế là, ngành bán lẻ nước ta hiện nay đang thiếu mặt bằng kinh doanh, giá thuê mặt bằng kinh doanh khá cao đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.1.5 Nhân tố công nghệ
Khoa học - công nghệ phát triển, nhiều công nghệ mới ra đời góp phần hỗ trợ
hệ thống bán lẻ hiện đại hoạt động được tốt hơn
Công nghệ thông tin và các ứng dụng mới đang được áp dụng trong môi trường bán lẻ để cải thiện kinh nghiệm mua hàng, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, gia tăng hiệu quả của sự điều hành Những tiến bộ này đang định hình một môi trường bán lẻ mới và nâng cao tính cạnh tranh của các nhà bán lẻ hơn bất cứ lúc nào trước đây Mạng internet đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lĩnh vực thương mại bán lẻ đó là thương mại điện tử - đây là một hình thức thương mại hiện đại đang phát triển khá nhanh trên phạm vi toàn cầu Công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông giúp các nhà kinh doanh quảng bá thương hiệu được dễ dàng và hiệu quả
Hệ thống đảm bảo an ninh trong các siêu thị, trung tâm thương mại đã hỗ trợ các cơ sở này quản lý tốt hơn; công nghệ mã số, mã vạch rất hữu ích cho các cơ sở bán lẻ trong việc tính và thanh toán tiền hàng; sự liên kết giữa các tổ chức tín dụng
và các cơ sở kinh doanh bán lẻ cho phép hướng tới thanh toán không dùng tiền mặt; các phần mềm quản lý hàng hoá và điều hành nhân viên từng bước được nâng cấp
để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao tại các siêu thị… Đây là những điều kiện thuận lợi
để phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại ngày càng hiện đại, văn minh hơn
1.3.2 Các nhân tố môi trường vi mô