1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020

140 509 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Công tác phát triển đội ngũ GV của tỉnh Quảng Ninh nếu được tiến hành dự báo dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng thì giai đoạn 2016 - 2020 đội ngũ GV THPT

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ VĂN TUẤN

DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH

GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ VĂN TUẤN

DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH

GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Văn Tuấn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ii

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo

trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy, cô giáo đã tham gia

giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu viết bản

luận văn này

Đặc biệt tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền – Người hướng

dẫn khoa học đã chỉ bảo và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,

nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn:

- Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh và các phòng ban

chức năng của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh

- Lãnh đạo, cán bộ Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh

- Gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong

suốt thời gian qua

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song do điều

kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh

khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ

dẫn của các thầy, cô giáo, các đồng nghiệp

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014

Tác giả

Lê Văn Tuấn

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Khách thể nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN THPT 7

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Ở các nước trên thế giới 7

1.1.2 Việt Nam 8

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 11

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/iv

1.2.1 Dự báo 11

1.2.2 Dự báo giáo dục 12

1.2.3 Nhu cầu 14

1.2.4 Nhu cầu giáo viên THPT 15

1.3 Một số vấn đề cơ bản về dự báo nhu cầu giáo viên THPT 15

1.3.1 Vị trí, vai trò của người giáo viên THPT trong phát triển giáo dục THPT 15

1.3.2 Những vấn đề cơ bản về dự báo nhu cầu giáo viên 18

1.3.3 Những nhân tố tác động đến nhu cầu giáo viên THPT 31

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THPT VÀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THPT TỈNH QUẢNG NINH 35

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 35

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 35

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 36

2.2 Tình hình chung về Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh 37

2.3 Thực trạng giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh 40

2.3.1 Về mạng lưới trường lớp và quy mô học sinh 40

2.3.2 Chất lượng giáo dục THPT 46

2.4 Thực trạng đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh 51

2.4.1 Thực trạng về số lượng giáo viên THPT 51

2.4.2 Thực trạng về cơ cấu đội ngũ giáo viên THPT 53

2.4.3 Thực trạng về chất lượng đội ngũ giáo viên THPT 55

Chương 3: DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN THPT TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 63

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/v

3.1 Những vấn đề có tính chất định hướng dự báo nhu cầu giáo viên THPT

tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 63

3.1.1 Định hướng chiến lược GD-ĐT 63

3.1.2 Định hướng phát triển giáo dục đào tạo tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 65

3.2 Dự báo nhu cầu giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2020 70

3.2.1 Dự báo quy mô học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 70

3.2.2 Dự báo nhu cầu giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 theo phương pháp định mức GV/lớp 87

3.2.3 Dự báo nhu cầu giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 theo phương pháp định mức tải trọng 88

3.3 Một số biện pháp đảm bảo nhu cầu giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng học sinh/dân số độ tuổi qua một số năm học 40Bảng 2.2 Hệ thống trường THPT tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 - 2014 43Bảng 2.3 Quy mô phát triển giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn

2004-2014 45Bảng 2.4 Chất lượng giáo dục học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn

2004 - 2014 47Bảng 2.5 Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT và thi đỗ các trường ĐH, CĐ

của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2004-2014 48Bảng 2.6 Số học sinh THPT của tỉnh Quảng Ninh đạt giải tại các kì thi

chọn học sinh giỏi quốc gia giai đoạn 2004-2014 50Bảng 2.7 Số lượng giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh qua các năm học giai

đoạn 2004-2014 51Bảng 2.8 Cơ cấu giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh về giới tính, dân tộc,độ

tuổi và đảng viên 53Bảng 2.9 Số liệu giáo viên THPT chia theo trình độ đào tạo, bồi dưỡng 56Bảng 2.10 Kết quả đánh giá GV THPT của tỉnh Quảng Ninh theo Chuẩn

nghề nghiệp giai đoạn 2009-2014 60Bảng 3.1 Dự báo số học sinh lớp 10 của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 71Bảng 3.2 Dự báo quy mô phát triển số lượng học sinh THPT tỉnh Quảng

Ninh giai đoạn 2016-2020 71Bảng 3.3 Dự báo số lớp THPT của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020

theo phương pháp sơ đồ luồng 72Bảng 3.4 Dự báo số học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh theo định hướng

chiến lược phát triển giáo dụccủa tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 73Bảng 3.5 Dự báo số lớp THPT tỉnh Quảng Ninh theo định hướng chiến

lược phát triển giáo dục của tỉnh 75

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/vi

Bảng 3.6 Dự báo số học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh theo từng khối lớp

giai đoạn 2016-2020theo phương pháp chuyên gia 78Bảng 3.7 Dự báo số lớp THPT của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020

theo phương pháp chuyên gia 78Bảng 3.8 Kết quả dự báo số học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn

2016 - 2020 theo 3 phương án 79Bảng 3.9 Kết quả dự báo số lớp THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 -

2020 theo 3 phương án 82Bảng 3.10 Dự báo nhu cầu GV THPT của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn

2016-2020 87Bảng 3.11 Nhu cầu GV THPT tỉnh Quảng Ninh cần bổ sung giai đoạn

2016 - 2020 87Bảng 3.12 Dự báo khối lượng giảng dạy các môn học cấp THPT của tỉnh

Quảng Ninh trong năm 88Bảng 3.13 Dự báo khối lượng công tác của GV trên từng môn học cấp

THPT của tỉnh Quảng Ninh năm học 2015-2016 89Bảng 3.14 Dự báo khối lượng công tác của GV trên từng môn học cấp

THPT của tỉnh Quảng Ninh năm học 2016-2017 91Bảng 3.15 Dự báo khối lượng công tác của GV trên từng môn học cấp

THPT của tỉnh Quảng Ninh năm học 2017-2018 92Bảng 3.16 Dự báo khối lượng công tác của GV trên từng môn học cấp

THPT của tỉnh Quảng Ninh năm học 2018-2019 92Bảng 3.17 Dự báo khối lượng công tác của GV trên từng môn học cấp

THPT của tỉnh Quảng Ninh năm học 2019-2020 93Bảng 3.18 Nhu cầu GV THPT từng bộ môn của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn

2016-2020theo phương pháp định mức tải trọng 94

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/1

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

Biểu đồ:

Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ học sinh trong độ tuổi qua một số năm học 41

Biểu đồ 2.2 Hệ thống trường, lớp THPT tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 - 2014 43

Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT và thi đỗ các trường ĐH, CĐ của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2004-2014 49

Biểu đồ 2.4 Số lượng giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh qua các năm học giai đoạn 2004-2014 52

Biểu đồ 2.5 Kết quả đánh giá GV THPT của tỉnh Quảng Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp giai đoạn 2009-2014 61

Biểu đồ 3.1 Kết quả dự báo số học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2020 theo 3 phương án 81

Biểu đồ 3.2 Kết quả dự báo số lớp THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2020 theo 3 phương án 84

Biểu đồ 3.3 Kết quả dự báo số học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2020 theo phương án 2 86

Biểu đồ 3.4 Kết quả dự báo số lớp THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2020 theo phương án 2 87

Sơ đồ: Sơ đồ 1.1 Phác họa quá trình dự báo giáo dục và đào tạo 13

Sơ đồ 1.2 Mô tả quá trình dự báo giáo dục bằng mô hình toán học 13

Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa dự báo và công tác lập kế hoạch 22

Sơ đồ 1.4 Biểu diễn sơ đồ luồng 25

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định mục tiêu và phương

hướng tổng quát 5 năm 2011-2015 là “phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản

trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; và đến giữa thế kỷ XXI trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [20]

đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với mọi ngành, mọi cấp Ngành GD&ĐT có trách nhiệm to lớn trong việc từng bước xây dựng con người XHCN Con người XHCN chính là nhân tố cơ bản quyết định toàn bộ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc Chính vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi đất nước đều đánh giá cao vai trò của GD&ĐT

và quan tâm đến việc hoạch định chiến lược phát triển KT-XH nói chung và GD&ĐT nói riêng

Việt Nam đang trên đà đổi mới, xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, vai trò của GD KH-CN lại càng quan trọng GD phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển KT-XH GD&ĐT phải có đủ khả năng chuẩn bị hành trang tri thức cho thế hệ trẻ làm chủ xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước Vị trí, vai trò của GD&ĐT được Đảng, Nhà nước ta

khẳng định “quốc sách hàng đầu” [17], là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và

của toàn dân Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã tập trung đầu tư cho

sự nghiệp GD&ĐT, khẳng định ở các nghị quyết của hội nghị TƯ4 (khóa VII), hội nghị TƯ2 (khóa VIII), kết luận hội nghị TƯ6 (khóa IX), nghị quyết hội nghị TƯ8 (khóa XI), chiến lược phát triển KT-XH các thời kỳ 2001-2005; 2006-2010; 2011-2020, chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020

Để đảm bảo chất lượng của GD&ĐT phải giải quyết tốt vấn đề đội ngũ nhà giáo, bởi đội ngũ nhà giáo là lực lượng cốt cán biến các mục tiêu giáo

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/3

dục thành hiện thực và đóng vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả giáo dục Thực trạng đội ngũ GV (số lượng, chất lượng, cơ cấu ) và mối quan hệ với hiện trạng giáo dục là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm

Dự báo quy mô phát triển GD&ĐT nói chung và dự báo nhu cầu giáo viên nói riêng là một căn cứ quan trọng trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển

giáo dục và là bộ phận hữu cơ của dự báo phát triển KT - XH Bởi “nền giáo dục của một nước, một địa phương nhất thiết phải lấy công tác dự báo làm tiền

đề ”[32]. Do vậy, yêu cầu đầu tiên đặt ra đối với công tác quản lý GD là cần phải làm tốt công tác dự báo quy mô phát triển Đồng thời để dự báo có tính khả thi thì

nó phải được xây dựng trên cơ sở những căn cứ có tính khoa học và thực tiễn Hiện nay, các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác dự báo đã giúp cho các cán bộ quản lí giáo dục có tư duy và cách nhìn nhận vấn đề một cách đầy đủ trên

cơ sở khoa học Nhưng ở mỗi địa phương tùy theo điều kiện KT - XH và đặc điểm địa lí khác nhau nên công tác dự báo cũng mang sắc thái khác nhau

Tỉnh Quảng Ninh đang từng ngày phát triển đi lên theo hướng CNH-HDH, song sự chênh lệch về nhiều mặt trong dân cư giữa các vùng là không tránh khỏi, trong đó phải kể đến mặt bằng dân trí

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII đã xác định mục tiêu đến năm 2015 “xây dựng tỉnh Quảng Ninh về cơ bản là tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại” [22] Thực hiện mục tiêu này đòi hỏi sự phát triển đồng bộ của nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó sự nghiệp GD&ĐT có vai trò rất quan trọng - có ý nghĩa quyết định trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH ở địa phương Lực lượng cơ bản quyết định chất lượng giáo dục là đội ngũ GV, đặc biệt là đội ngũ GV THPT nhưng hiện nay đội ngũ này đang trong tình trạng vừa thiếu lại vừa yếu; thiếu về cơ cấu bộ môn

và yếu về chất lượng Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là công tác dự báo giáo dục - mà cụ thể là dự báo nhu cầu đội ngũ GV ở bậc học này

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/4

chưa được quan tâm đúng mức, làm cho việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ GV còn bị động, thiếu cơ sở thực tế và khoa học

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi đã lựa chọn

và nghiên cứu đề tài “Dự báo nhu cầu giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh giai

đoạn 2016-2020”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh, tiến hành dự báo nhu cầu GV THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016 - 2020 nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân địa phương, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục THPT của tỉnh

3 Đối tượng nghiên cứu

Nhu cầu GV THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020

4 Khách thể nghiên cứu

Đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về dự báo

nhu cầu đào tạo GV THPT

5.2 Khảo sát đánh giá thực trạng giáo dục THPT, đội ngũ GV THPT

tỉnh Quảng Ninh

5.3 Dự báo nhu cầu GV THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020

6 Giả thuyết khoa học

Công tác phát triển đội ngũ GV của tỉnh Quảng Ninh nếu được tiến hành

dự báo dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng thì giai đoạn 2016 - 2020 đội ngũ GV THPT của tỉnh Quảng Ninh sẽ được đảm bảo đủ về số lượng, nâng lên về chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân địa phương, hoàn thành Đề án phát triển giáo dục đào tạo của tỉnh Quảng Ninh, góp

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/5

phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của địa phương

7 Phương pháp nghiên cứu

7 1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu khoa học và các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của Ngành và của địa phương có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp: Điều tra, khảo sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia… và từ các dữ liệu thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để

từ đó phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu

7.3 Các phương pháp dự báo quy mô GD&ĐT và phương pháp xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục

Phương pháp sơ đồ luồng

Phương pháp dựa vào tiêu chí phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Phương pháp chuyên gia

Phương pháp định mức

Ngoài ra, áp dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn còn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về dự báo nhu cầu GV THPT

Chương 2: Thực trạng giáo đội ngũ GV THPT tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Nhu cầu GV THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/6

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN THPT

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở các nước trên thế giới

Những yếu tố dự báo giáo dục đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử giáo dục học Thời Phục hưng những yếu tố dự báo sư phạm, dự báo giáo dục đã được xác định trong nhiều tài liệu của các tác giả như Campnella, Thoms Moro, rồi đến thời cận – hiện đại cũng được các nhà sư phạm đề cập đến như Komensky, Usinsky, Disteveg và các nhà xã hội học không tưởng Đó là những quan niệm về nền giáo dục và nhà trường trong tương lai gắn liền với những mong muốn về một xã hội tốt đẹp

Các công trình nghiên cứu đề cập đến những dự báo giáo dục đã có từ khá sớm ở các nước tư bản Âu Mỹ và tại tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa Liên họp quốc (UNESCO) Đặc biệt với lý luận và phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, khoa học giáo dục đã tiến hành nghiên cứu các dự báo về nền giáo dục và nhà trường tương lai Từ giữa những năm 70, các nghiên cứu

đó được đẩy mạnh với sự phối hợp của nhiều nước xã hội chủ nghĩa và đã có những kết quả đáng chú ý như:

- Iu Banski: Nhà trường trong điều kiện bùng nổ thông tin - 1983

- B.Genashunsky: Các phương pháp dự báo trong giáo dục học 1974;

Dự báo nội dung dạy học trong các trường trung cấp kĩ thuật (1980); Dự báo sư phạm phương pháp luận, lý luận thực tiễn - 1986; Dự báo phát triển giáo dục: Vấn đề và triển vọng - 1986; Dự báo diadic - 1979 (Đồng tác giả với A Prukha)

- E Kostiaskin: Mô hình của một phương án tương lai nhà trường phổ thông trong những năm 1990 - 2000 (1980)

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/8

- Avadiabavleve và O Abbasova: Hệ thống đào tạo liên tục - hiện thực và triển vọng - 1983

Những công trình nghiên cứu đề cập đến dự báo về giáo dục xuất hiện khá sớm ở các nước tư bản Âu Mỹ, đó là:

- J.W Bokin, M.Edmanijra và M.Malitza: Không có giới hạn cho việc dạy học – 1979

- T Hussen: Giáo dục năm 2000, Những xu hướng hiện nay phát triển giáo dục - 1983

Tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) có công trình nghiên cứu dự báo giáo dục và nhà trường tương lai như:

- Hội thảo “Tương lai của giáo dục và giáo dục của tương lai” năm 1978

- Hội thảo “ Phát triển những nội dung của giáo dục trong hai thập kỷ tới“ năm 1980

- Công trình nghiên cứu “Suy nghĩ về sự phát triển tương lai của giáo

dục” năm 1984.

- Hội thảo “Những chất lượng mà nền giáo dục hôm nay đòi hỏi nhằm đáp ứng những yêu cầu tiên đoán của thế kỉ XXI”

Tác phẩm “Cú sốc tương lai” của Alvil Toffler và “ Nền giáo dục cho thế

kỉ XXI - Những triển vọng của Châu Á - Thái Bình Dương ” của Raja.RoySingh

đã phác họa ra viễn cảnh của nền giáo dục và xã hội tương lai tập trung vào các vấn đề hệ thống nhà trường, xu hướng phát triển giáo dục, phương pháp giáo dục và mô hình nhân cách, trong đó nhấn mạnh con người là trung tâm của giáo dục [30]

1.1.2 Việt Nam

Ở nước ta, việc nghiên cứu dự báo giáo dục, trong đó có dự báo quy mô phát triển giáo dục được tiến hành từ năm 1982, một bộ phận trong nhóm nghiên cứu chiến lược giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp tổ chức

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/9

nghiên cứu dự báo nhu cầu cán bộ chuyên môn Trong công trình này, các tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp dự báo số lượng học sinh như phương pháp ngoại suy, phương pháp định biên, định mức, phương pháp so sánh quốc tế

Năm 1986 - 1987, công trình “Nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp” do Viện nghiên cứu Đại học và Trung

học chuyên nghiệp - sau là Viện khoa học GD thực hiện do giáo sư Lê Thạc Cán làm chủ nhiệm

Trong công trình này, các tác giả đã giải quyết nhiều vấn đề cơ bản, đặt nền tảng cơ sở phương pháp luận cho việc xây dựng chiến lược giáo dục như quan niệm mới về chức năng của giáo dục, vị trí vai trò của giáo dục trong thời

kì mới và những kiến nghị về biện pháp chiến lược của giáo dục Đại học và Trung học chuyên nghiệp Công trình này đã sử dụng (có điều chỉnh) những kết quả dự báo nhu cầu số lượng cán bộ chuyên môn đến năm 2000 của nhóm nghiên cứu dự báo [38]

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu năm 1986 - 1987, tổ chức nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành một loạt các nghiên cứu về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta Các nghiên cứu đó là:

- Một số định hướng phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta từ nay đến đầu thế kỉ XXI Thực hiện vào tháng 12/1993

- Các định hướng phát triển giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2010

Thực hiện vào tháng 01/1995

- Các định hướng phát triển giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2000

Thực hiện vào tháng 7/1995

Trong các định hướng chiến lược trên đều đưa ra những số lượng về

dự báo quy mô phát triển giáo dục và đào tạo trong các thời kì khác nhau của chiến lược

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/10

- Đề tài “Dự báo phát triển giáo dục phổ thông” năm 1988 - 1990 do tác

giả Hà Thế Ngữ làm chủ biên Những kết quả cơ bản của công trình này được trình bày trong tập sách “Dự báo giáo dục, vấn đề và xu hướng” đề cập đến các vấn đề cơ bản: Phương pháp luận, phương pháp dự báo giáo dục, xu thế phát triển khoa học giáo dục trong và ngoài nước, các quan niệm mới về nhà trường XHCN…[28]

- Năm 1994, Tổng cục thống kê đã cho xuất bản cuốn chuyên khảo “Dự báo

dân số, số học sinh đến trường và lực lượng lao động Việt Nam 1990 - 2005” để

làm cơ sở cho các ngành xây dựng các chiến lược và kế hoạch phát triển

- Tác phẩm “Dự báo thế kỉ XXI” của Tổng cục Thống kê năm 1998 đã

kết tụ những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nhiều nước trên các lĩnh vực trong đó có giáo dục, đã mô tả viễn cảnh toàn cầu trong tương lai, với những quan niệm mới về con người hiện đại, trí tuệ hiện đại, năng lực hiện đại,

để sáng tạo nên một thế kỉ XXI kì diệu [34]

Năm 2012, “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020” đã

đánh giá thực trạng, phân tích bối cảnh và xác định mục tiêu phát triển của các ngành học và các giải pháp để đạt mục tiêu trong tương lai sau 10 năm, đáp ứng nghiên cứu về con người và nguồn nhân lực cho sự phát triển đất nước đến năm 2020 [11]

Nhìn chung lịch sử dự báo đã có từ lâu, được các nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm: Dự báo về vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục và đào tạo, về nội dung, phương pháp giáo dục, phương pháp học tập trong nhà trường hiện đại, các loại hình nhà trường, cơ sở vật chất kĩ thuật của nhà trường, dự báo quy mô phát triển giáo dục và đào tạo công tác dự báo có vai trò quan trọng, làm

cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch về kinh tế xã hội; giáo dục và đào tạo

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/11

Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những công trình dự báo về đội ngũ giáo viên THPT ở những địa phương, vùng cụ thể, đặc biệt là với những tỉnh miền núi - biên giới - hải đảo như Quảng Ninh Vì thế, để góp một phần quan trọng trong định hướng phát triển giáo dục THPT của tỉnh Quảng Ninh trong những thập niên

đầu của thế kỉ XXI, tác giả tiến hành nghiên cứu “Dự báo nhu cầu giáo viên

THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020”

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài

mà trong đó hiện tượng có thể diễn ra những biến đổi” [25].

Dự báo dựa trên sơ sở nhận thức những quy luật vận động, phát triển của

tự nhiên, xã hội và tư duy Dự báo là khâu quan trọng nối liền giữa lý luận và thực tiễn Dự báo gắn liền với một khái niệm quan trọng là sự tiên đoán

Căn cứ vào mức độ cụ thể và đặc điểm tác động của dự báo đến sự phát triển của hiện tượng hoặc quá trình được nghiên cứu, ta có thể chia làm ba cấp

độ tiên đoán sau:

Giả thuyết: Là sự tiên đoán khoa học ở cấp độ lý luận chung Là những

sáng kiến, hệ thống những tri thức mới được đề xuất mà không có thì không thể giải quyết được vấn đề nghiên cứu

Dự báo: So với giả thuyết, dự báo có tính xác định cao hơn Dự báo là sự

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/12

tiên đoán ở cấp độ ứng dụng cụ thể Dự báo có tính chất xác suất cao hơn giả thuyết Dự báo vừa có tính chất định tính vừa có tính chất định lượng

Kế hoạch: Là sự tiên đoán những sự kiện cụ thể hơn của tương lai bằng

việc xác định các mục tiêu cụ thể và chính xác Đó chính là hệ thống nhiệm vụ cần thực hiện để đạt được những mục đích nhất định Kế hoạch chỉ rõ con đường, phương tiện, phương pháp phát triển phù hợp với những nhiệm vụ đề ra Khác với dự báo, kế hoạch là sự tổ chức sắp xếp theo một mô hình nhất định Còn dự báo là phải đưa ra được những tiên đoán về khả năng vận động

và phát triển trong tương lai của cả sự vật hiện tượng, trên cơ sở khoa học và thực tiễn

Như vậy, dự báo thiết lập được các phương án xác định xu thế phát triển, các mục tiêu có thể đạt được, làm cơ sở công cụ hiệu quả cho việc hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch, quy hoạch và các chương trình, các dự án trong tất cả các lĩnh vực đời sống KT - XH ở các cấp độ khác nhau và làm hạn chế các hoạt động tùy tiện sai lầm của các cấp quản lí

1.2.2 Dự báo giáo dục

Theo tác giả Hà Thế Ngữ, dự báo giáo dục là “Xây dựng phán đoán có thể

về tình trạng của nền giáo dục trong tương lai, nghiên cứu những triển vọng phát triển của nền giáo dục, chỉ ra những thời hạn ít nhiều xác định của những biến đổi sẽ xảy ra - đó là dự báo giáo dục - một dạng của tiên đoán khoa học trong lĩnh vực xã hội”[28] Như vậy dự báo giáo dục là xây dựng những phán

đoán về quá trình vận động và phát triển của cả hệ thống giáo dục cũng như những bộ phận của hệ thống sẽ diễn ra trong tương lai

Dự báo giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì công tác dự báo giáo dục chủ yếu là cung cấp quan niệm hiện thực về tương lai của nền giáo dục, tìm kiếm những mục tiêu mới và những giải pháp mới, nhằm đem lại những tiềm năng tương lai cho nền giáo dục Hoạt động dự báo giáo dục đôi khi cũng dự

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/13

báo trước những tình trạng xấu đi, những mối đe dọa, những nguy hiểm mà nền giáo dục có thể gặp phải trong thời kì nhất định, song đó không phải là mặt chính Nhìn trước được tương lai là cốt để hành động đúng đắn, để có thể đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện định hướng chiến lược

Dự báo giáo dục và đào tạo là xác định trạng thái tương lai của hệ thống giáo dục và đào tạo với một xác suất nào đó Có thể phác họa quá trình dự báo theo sơ

đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Phác họa quá trình dự báo giáo dục và đào tạo

Sơ đồ 1.2 Mô tả quá trình dự báo giáo dục bằng mô hình toán học

Thời điểm

dự báo

x i: nhân tố ảnh hưởng thứ i

Trạng thái tương lai với xác suất P2

Các nhân tố ảnh hưởng Trạng thái tương lai với xác suất P1

Các nhân tố ảnh hưởng

Trạng thái tương lai với xác suất P3

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/14

Trên quan điểm hệ thống, chúng ta biết rằng giáo dục và đào tạo là một hệ thống con trong hệ thống lớn KT-XH của một đất nước, một địa phương Hệ thống giáo dục và đào tạo được xem xét dưới góc độ khác nhau như theo số lượng, chất lượng bậc học, mạng lưới phân bổ, sở hữu, ngành nghề đào tạo Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo là xác định các mục tiêu định lượng về quy mô GD-ĐT theo từng cấp, bậc, ngành học cho đến thời điểm dự báo Dựa vào các mục tiêu định lượng này, ta mới có cơ sở tính toán các điều kiện đảm

bảo về nguồn lực (đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, nguồn tài chính) mới

nghiên cứu đề xuất các giải pháp có tính chiến lược và khả thi để thực hiện các mục tiêu đó

1.2.3 Nhu cầu

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nhu cầu, như:

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nhu cầu là những gì cần dùng và bắt buộc phải có” [43]

Theo từ điển Tâm lý học: “Nhu cầu là điều cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức”[27]

Theo giáo trình Tâm lý học đại cương do tác giả Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên): “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thỏa mãn để tồn tại

và phát triển” [36]

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu về vật chất và tinh thần mà con người thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển Nó định hướng và quyết định cho mọi hoạt động của con người Nhu cầu được hiểu như những đòi hỏi, những mong muốn của một cá nhân hay một tổ chức nhằm thoả mãn mục đích, mục tiêu của cá nhân hay tổ chức trong một giai đoạn nhất định Nhu cầu của tổ chức: là những đòi hỏi tất yếu của tổ chức để tổ

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/15

chức tồn tại và phát triển

1.2.4 Nhu cầu giáo viên THPT

Có thể phân loại nhu cầu giáo viên THPT như sau: Nhu cầu tổng thể, nhu cầu phát triển, nhu cầu thay thế, nhu cầu bổ sung

- Nhu cầu tổng thể về giáo viên THPT là số lượng giáo viên THPT cần có thể đáp ứng yêu cầu giáo dục ở một thời điểm cụ thể nào đó

- Nhu cầu thay thế là số lượng giáo viên THPT cần có thể thay thế giáo viên THPT về hưu, thuyên chuyển, nghỉ việc, chết

- Nhu cầu phát triển là số lượng giáo viên cần để đáp ứng số quy mô học sinh tăng thêm

- Nhu cầu bổ sung là tổng của nhu cầu phát triển và nhu cầu thay thế

Có thể xác định nhu cầu giáo viên THPT căn cứ vào quy mô phát triển học sinh THPT và kế hoạch chương trình giáo dục THPT Cũng có thể xác định nhu cầu giáo viên như một bộ phận lao động xã hội trên phạm vi tỉnh, hoặc nhu cầu phát triển giáo dục chuyên nghiệp của từng địa phương

Căn cứ vào định mức số giáo viên bình quân cho một lớp học của từng lớp, nhu cầu về giáo viên THPT được tính toán trên cơ sở định mức giáo viên giai đoạn 2016 – 2020

1.3 Một số vấn đề cơ bản về dự báo nhu cầu giáo viên THPT

1.3.1 Vị trí, vai trò của người giáo viên THPT trong phát triển giáo dục THPT

1.3.1.1 Vị trí của bậc giáo dục THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục trung học phổ thông thuộc giáo dục phổ thông tiếp sau giáo dục trung học cơ sở Luật Giáo dục (2005) quy định: “Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi”[29] “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/16

thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”[29]

“Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh”[29]

Cấp trung học phổ thông bao gồm tất cả các trường THPT (ở mọi loại hình) tổ chức giảng và giáo dục theo nội dung, chương trình qui định, bao gồm các lớp: từ lớp 10 đến lớp 12

Trường trung học phổ thông có những nhiệm vụ và quyền hạn được ghi trong điều 3 Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) như sau:

- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục

- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật

- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản

lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/17

- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước

- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội

- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục

- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [6]

1.3.1.2 Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên THPT

Đội ngũ giáo viên THPT bao gồm toàn bộ giáo viên đang dạy tại các trường THPT, có trình độ đào tạo chuẩn theo quy định là có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp

vụ sư phạm

Đội ngũ giáo viên THPT là lực lượng cốt cán để biến mục tiêu giáo dục THPT thành hiện thực Thông qua các hoạt động giảng dạy – giáo dục và các hoạt động khác trong và ngoài nhà trường, đội ngũ giáo viên THPT hàng ngày trực tiếp thực hiện các mục tiêu cơ bản của GD-ĐT nhằm xây dựng con người

và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Điều 31, Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp quy định nhiệm vụ của giáo viên THPT như sau:

+ Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục

do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;

+ Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;

+ Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/18

pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh;

+ Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;

+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh;

+ Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh;

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật [6]

1.3.2 Những vấn đề cơ bản về dự báo nhu cầu giáo viên

1.3.2.1 Những cách tiếp cận khi lập dự báo

* Tiếp cận lịch sử

Là cách tiếp cận khảo sát một hiện tượng trong mối quan hệ qua lại với

các hình thức tồn tại lịch sử của nó Lê-nin nói: “Trong bất cứ một hiện tượng

xã hội nào nếu xem xét trong quá trình phát triển của nó chúng ta đều thấy có tàn dư của quá khứ, cơ sở của hiện tại và mầm mống của tương lai”

Như vậy, từ mối quan hệ của quá khứ, hiện tại và tương lai, đòi hỏi chúng

ta phải xem xét đối tượng của dự báo cũng như khả năng tồn tại tiếp diễn của hiện tại và quá khứ của đối tượng đó Có nghĩa là khi lập dự báo chúng ta phải chuyển dịch quy luật, xu thế vận động và phát triển của đối tượng dự báo ra khỏi cái ngưỡng của hiện tại Điều cần lưu ý là sự chuyển dịch phải mang tính biện chứng chứ không phải là sự chuyển dịch máy móc cơ học

* Tiếp cận phức hợp

Cơ sở triết học của sự ra đời cách tiếp cận này là nguyên lý nổi tiếng của phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/19

Cách tiếp cận phức hợp đòi hỏi phải xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau của chúng bằng cách sử dụng thành tựu, các phương pháp của nhiều khoa học khác nhau để cùng nghiên cứu sự vật, hiện tượng đó nhằm làm bộc lộ một cách đầy đủ các khía cạnh bản chất sự vật, hiện tượng được nghiên cứu

Cách tiếp cận phức hợp được thể hiện đặc biệt rõ rệt trong dự báo giáo dục

vì trong dự báo giáo dục đòi hỏi phải sử dụng nhiều thành tựu khoa học như: Toán học, Thống kê học, Triết học, Tâm lí học, Giáo dục học, Kinh tế học, Dân

Nếu dựa trên cơ sở lí thuyết hệ thống thì KT - XH là một hệ thống lớn, GD&ĐT là một hệ thống con nằm trong hệ thống lớn Tính phụ thuộc được thể hiện ở chỗ: Trong quá trình vận động và phát triển, mỗi hệ thống con luôn chịu định hướng của hệ thống lớn và chịu sự tác động qua lại của các hệ con khác trong toàn bộ hệ thống lớn

Cách tiếp cận cấu trúc hệ thống được vận dụng khá rộng rãi trong dự báo giáo dục

1.3.2.2 Tính chất của dự báo

- Dự báo mang tính xác suất: Vì mỗi đối tượng dự báo đều vận động vả

phát triển theo một quy luật nhất định, một xu thế nhất định, Mỗi đối tượng dự báo trong quá trình vận động và phát triển đều chịu tác động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài khác nhau như: quy mô, dân số, môi trường, kinh tế

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/20

bản thân các nhân tố này cũng biến động và phát triển không ngừng Mặt khác những thông tin và hiểu biết của đối tượng dự báo ở tương lai bao giờ cũng nghèo nàn hơn ở hiện tại, cho nên dự báo có hoàn thiện đến đâu thì kết quả dự báo không bao giờ đảm bảo hoàn toàn chính xác Chính vì vậy dự báo mang tính xác suất

- Dự báo đáng tin cậy: Dự báo mang tính xác suất nhưng đáng tin cậy vì

dự báo dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học, đó là phép biện chứng duy vật và lịch sử, là hệ thống các lý luận khoa học về kinh tế và xã hội, đồng thời các phương pháp và phương tiện dùng để xử lý thông tin ngày càng hiện hiện đại hơn Xét về mặt bản chất thì dự báo là sự phản ánh vượt trước, là những giả thiết về sự phát triển của đối tượng dự báo trong tương lai, nó được đưa ra trên cơ sở nhận thức các quy luật phát triển, những điều kiện ban đầu với

tư cách là những giả thiết với sự phát triển của khoa học kĩ thuật thì trình độ nhận thức quy luật và điều kiện ban đầu ngày càng hoàn thiện, nên độ tin cậy của kết quả dự báo không ngừng nâng cao

- Dự báo mang tính chất đa phương án: Mỗi dự báo được thực hiện trên những tập hợp các giả thiết nhất định (dự báo có điều kiện) gọi là phông của dự

báo Các dự báo được tiến hành trên các phông dự báo khác nhau do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Tính đa phương án một mặt

là thuộc tính khách quan của dự báo, nhưng mặt khác nó lại phù hợp với yêu cầu của công tác quản lí, nó làm cho việc ra quyết định cũng như chỉ đạo thực hiện quyết định trở nên linh hoạt hơn trước những sự biến đổi vô cùng phức tạp của thực tế

1.3.2.3 Chức năng và vai trò của dự báo

* Chức năng của dự báo

- Chức năng tham mưu: trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, phân tích

xu hướng vận động và phát triển trong quá khứ, hiện tại, tương lai của đối tượng dự báo, dự báo sẽ cung cấp những thông tin cần thiết, khách quan làm

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/21

căn cứ cho việc ra quyết định quản lí và xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án,… Người quản lí và hoạch định chiến lược, người lập kế hoạch có nhiệm vụ lựa chọn trong số các phương án đó để tìm ra phương án có tính khả thi cao nhất, có hiệu quả nhất Muốn vậy, người làm dự báo phải có tính độc lập tương đối với cơ quan quản lí, trung thực khách quan trong quá trình làm dự báo

- Chức năng khuyến nghị hay điều chỉnh: Mục đích của dự báo là cung

cấp thông tin để xây dựng chiến lược, dự án… Song những thông tin của dự báo luôn cần phải bổ sung ngay cả khi kế hoạch đã lập, vì đối tượng dự báo luôn có sự biến động do sự tác động của môi trường bên ngoài, nên cần phải điều chỉnh cho phù hợp

Với hai chức năng trên, nếu xét trong quan hệ với kế hoạch thì dự báo bao gồm hai loại: Dự báo trước kế hoạch và dự báo sau kế hoạch

* Vai trò của dự báo

Dự báo có vai trò quan trọng trong quá trình ra các quyết định quản lí Hiểu theo nghĩa chung: Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có chủ đích vào đối tượng quản lí bằng hệ thống các biện pháp kinh tế, xã hội, hành chính… nhằm đạt được mục tiêu xác định Cơ chế ra quyết định quản lí gồm 3 bước:

- Thu thập thông tin về đối tượng quản lí

- Xây dựng các mô hình thực nghiệm thống kê…

- So sánh cân nhắc để đưa ra các quyết định quản lí

Trong đó bước xây dựng mô hình là khâu cơ bản nhất, vì nhờ có mô hình hóa cho phép người quản lí liên hệ từ quá khứ, hiện tại sang tương lai và xét về mặt thời gian thì các mô hình đó đều mang ý nghĩa dự báo

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, dự báo không chỉ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin nhằm xây dựng chiến lược, hoạch định các

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/22

chính sách, xây dựng quy hoạch tổng thể mà nó còn cho phép người quản lí xem xét khả năng thực hiện kế hoạch và hiệu chỉnh kế hoạch

Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa dự báo và công tác lập kế hoạch

1.3.2.4 Các nguyên tắc dự báo

* Nguyên tắc thống nhất chính trị, kinh tế và khoa học

Khi lập dự báo cần xuất phát từ mục tiêu và lợi ích toàn cục của quốc gia, cộng đồng trên cơ sở tính toán khoa học sự phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ của khoa học công nghệ Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng trong quá trình soạn thảo các dự báo giáo dục vì giáo dục có liên quan chặt chẽ đến định hướng phát triển của toàn xã hội, đến thể chế chính trị, đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển kinh tế, đến những khả năng và đòi hỏi của khoa học - công nghệ

* Nguyên tắc tính hệ thống của dự báo

Các dự báo phải được xây dựng trên cơ sở một hệ thống hoàn chỉnh các

mô hình và phương pháp có liên quan hữu cơ với nhau, làm nền tảng cho nhau Tính hệ thống của dự báo đòi hỏi phải xây dựng một trật tự chặt chẽ việc hình thành và sử dụng các mô hình dự báo có tính phức hợp của đối tượng

Xác định mục tiêu

Mục tiêu kế hoạch cụ thể

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/23

* Nguyên tắc tính khoa học của dự báo

Các dự báo được xây dựng trên cơ sở những tính toán, luận chứng khoa học có tính đến những quy luật vận động, phát triển của đối tượng dự báo, những quan sát và dữ liệu khách quan và đủ độ tin cậy

* Nguyên tắc tính thích hợp của dự báo

Đòi hỏi những dự báo được lập ra phải tương thích với quy luật, với xu thế phát triển khách quan của đối tượng dự báo Hơn nữa, các dự báo đó phải phù hợp với khả năng thể hiện thực tế chúng trong tương lai

* Nguyên tắc đa phương án của dự báo

Dự báo phải gắn liền với khả năng phát triển của đối tượng theo những quỹ đạo, những con đường khác nhau Tính đa phương án một mặt là thể hiện sức mạnh của những tiên đoán cơ sở khoa học, cho phép người sử dụng

dự báo, cơ quan quản lí có khả năng lựa chọn các đối tượng dự báo theo mục tiêu đã định

1.3.2.5 Các phương pháp dự báo nhu cầu giáo viên

Phương pháp dự báo là cách thức, là những con đường dẫn tới mục tiêu đã

đề ra trong một nhiệm vụ dự báo cụ thể Phương pháp dự báo tập hợp các thao tác và thủ pháp tư duy khoa học, các kinh nghiệm thực tiễn cho phép đưa ra những phán đoán có độ tin cậy nhất định về trạng thái khả dĩ trong tương lai của đối tượng dự báo

Hiện nay có nhiều phương pháp dự báo khác nhau Để dự báo nhu cầu giáo viên thường hay sử dụng các phương pháp dự báo như sau:

* Phương pháp ngoại suy xu thế (Ngoại suy theo dãy thời gian)

Nội dung của phương pháp này là thiết lập mối quan hệ giữa sự phát triển của đối tượng dự báo theo thời gian, các kết quả khảo sát về đối tượng dự báo được sắp xếp theo trình tự, thời gian tương ứng và để phản ánh đúng xu hướng phát triển khách quan của đối tượng dự báo, đòi hỏi thời gian phải là đại lượng đồng nhất Sau đó chọn và xác định một mô hình toán học tương thích với quy

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/24

luật được phác ra theo dãy thời gian của đối tượng dự báo và mối quan hệ đó được biểu thị bởi: Hàm xu thế Y = f (t) Trong đó: Y là đại lượng đặc trưng cho đối tượng dự báo, t là đại lượng đặc trưng cho thời gian

Trình tự tiến hành phương pháp ngoại suy xu thế:

- Thu thập và xử lí các số liệu quan sát về đối tượng dự báo trong khoảng thời gian nhất định

- Định hướng hàm xu thế dựa trên quy luật phân bố của các đối tượng dự báo trong khoảng thời gian quan sát

- Tính toán các thông số của hàm xu thế và tính toán giá trị ngoại suy Một trong các phương pháp ngoại suy theo dãy thời gian thường dùng là phương pháp ngoại suy theo quan hệ tỉ lệ Nội dung của phương pháp này là: Nếu: Gọi Y là đại lượng đặc trưng cho đối tượng dự báo

Gọi X là nhân tố ảnh hưởng đến đối tượng dự báo Y

Ta thiết lập được quan hệ tỉ lệ sau: Ki = i

i

Y X

Trong đó: i là số lần quan sát, với i = 1, 2,…n

Dựa vào công thức trên, người ta xác định các Ki trong quá khứ và xem xét các quy luật phát triển của nó theo thời gian

Phương pháp tỉ lệ học sinh đến trường là một trong trường hợp cụ thể của phương pháp quan hệ tỉ lệ nêu trên Để dự báo số lượng học sinh đến trường, người ta sử dụng phương pháp này như sau:

Để áp dụng phương pháp trên cần có các số liệu sau:

- Dự báo số người trong độ tuổi đi học

- Tỉ lệ học sinh của từng cấp theo dự báo cho từng thời kì 5 năm

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/25

Như vậy, để có được số liệu dân số trong độ tuổi đi học thì cần phải dựa vào dự báo dân số của cả nước, từng địa phương và để có được số liệu tỉ lệ học sinh đi học thì sử dụng phương pháp ngoại suy theo dãy thời gian

* Phương pháp sơ đồ luồng

Phương pháp sơ đồ luồng giúp ta tính được quy mô học sinh trong suốt hệ thống giáo dục, để thực hiện cần xác định các thông số sau đây:

- Tỷ lệ nhập học cấp (lớp 10) mới, ước tính được số lượng học sinh nhập học đầu cấp

- Các chỉ số, tỷ lệ lên lớp (P), bỏ học (R), lưu ban (L)

Sơ đồ 1.4 Biểu diễn sơ đồ luồng

Trong đó N2 là số học sinh tuyển vào lớp 10

L1.1 là số học sinh lưu ban lớp 10 của năm T1

Số học sinh lớp 11của năm T2 là:

A2.2 = PA1.1 + LA2.1

Trong đó: PA1.1 là số học sinh lớp 10 lên lớp

LA2.1 là số học sinh lưu ban lớp 11 năm T1

Tương tự ta có thể xác định được số học sinh cho lớp 12 ở năm T2 và số học sinh các lớp 10,11,12 của các năm tiếp theo

* Phương pháp chuyên gia

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/26

Phương pháp chuyên gia được xem là một trong những công cụ hữu hiệu

để dự báo vấn đề có tầm bao quát phức tạp nhất định, nhiều chỉ tiêu và những yếu tố ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau chưa có hoặc chưa có cơ sở để xác định

Phương pháp chuyên gia là phương pháp sử dụng sự hiểu biết của các chuyên gia để dự báo sự phát triển của đối tượng nghiên cứu và qua một số vòng hỏi và xử lý ý kiến của các chuyên gia, nó sẽ hướng chúng ta tới những kết quả dự báo đang nghiên cứu

- Các trường hợp thường sử dụng phương pháp chuyên gia:

+ Khi đối tượng dự báo có tầm bao quát nhất định, phụ thuộc nhiều yếu tố chưa có hoặc còn thiếu cơ sở lý luận chắc chắn để xác định

+ Trong điều kiện thiếu thông tin, nhưng số liệu thống kê đầy đủ và đáng tin cậy về đối tượng đáng dự báo

+ Trong điều kiện thiếu thời gian hoặc do thời gian cấp bách của công tác

dự báo

- Những vấn đề cần lưu ý và tiến hành khi sử dụng các phương pháp chuyên gia:

+ Chọn các chuyên gia để hỏi ý kiến

+ Xây dựng các phiếu hỏi và bản ghi kết quả xử lý các ý kiến

+ Làm việc với một số chuyên gia

+ Phân tích và xử lý kết quả dự báo thu được ở vòng một

+ Tổng hợp và lựa chọn kết quả dự báo sau một vòng hỏi cần thiết

- Các nguyên tắc khi sử dụng phương pháp chuyên gia:

+ Các đánh giá phải do các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực cần dự báo được đưa ra theo một quy trình có tính hệ thống để có thể tổng hợp được

+ Để có được ý kiến đánh giá của chuyên gia một cách có hệ thống cần giúp họ hiểu rõ ràng mục đích và nhiệm vụ phải làm

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/27

+ Nhóm điều hành dự báo cần phải thống nhất và nắm vững hệ thống các phương pháp tiến hành cụ thể từ khâu đầu đến khâu cuối của công tác dự báo, tùy theo hình thức thu thập và xử lý ý kiến chuyên gia

Phương pháp chuyên gia được thông qua hai hình thức: Hội đồng (Lấy ý kiến tập thể các chuyên gia) và phương pháp DELPHI (Lấy ý kiến của các chuyên gia rồi tổng hợp lại)

* Phương pháp định mức

Người ta sử dụng rộng rãi phương pháp định mức trong công tác xác định nhu cầu giáo viên Thực chất các phương pháp này là sử dụng các định mức đã được nghiên cứu một cách khoa học và hợp lý

Trong công tác xác định nhu cầu giáo viên thường sử dụng các định mức lao động như sau:

a) Theo định mức học sinh/giáo viên

Nhu cầu giáo viên được tính theo công thức:

K =

Y

; (1)

D Trong đó: - K là nhu cầu giáo viên cần dự báo;

- Y là số lượng học sinh đến trường trong từng thời kỳ;

- Q là khối lượng công tác hàng năm của một trường (hoặc giờ)

- P là định mức số giờ dạy trong một năm của GV c) Theo định mức giáo viên trên lớp

Nhu cầu giáo viên được tính theo công thức

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/28

K = G x D (3) Trong đó: - K là nhu cầu giáo viên cần dự báo

- G là số lớp

- D = 2 (Định mức giáo viên trên lớp);

Như vậy chúng ta thấy rằng các định mức giữ vai trò hết sức quan trọng

sự chính xác khi xác định nhu cầu giáo viên phụ thuộc chủ yếu vào tính đúng đắn của các định mức

Khi lập các định mức, điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định công thức biểu hiện sự phụ thuộc định mức lao động vào các nhân tố ảnh hưởng đến nó

Khi đã xác định được các định mức thì việc tính toán nhu cầu về giáo viên trở nên đơn giản

Bên cạnh tính toán nhu cầu về giáo viên, người ta còn tính nhu cầu cán bộ phục vụ giảng dạy, cán bộ quản lý bằng cách dựa vào định mức giáo viên trên cán bộ phục vụ giảng dạy, giáo viên/cán bộ quản lý

Trước khi xác định nhu cầu về giáo viên cần biết thông tin về dân số Thông tin đó đạt được bằng cách dựa vào các cơ quan chuyên môn về dự báo dân số Cần chú ý thêm rằng các định mức trên không phải là cố định, mà nó thay đổi theo thời gian, theo vùng lãnh thổ Cho nên trước khi sử dụng các định mức cần phân tích tình hình cụ thể và xu hướng phát triển trong phạm vi

dự báo để có những điều chỉnh các định mức cho phù hợp

Ưu điểm của phương pháp định mức là tính toán đơn giản, có thể tính được nhu cầu dài hạn

* Phương pháp dựa vào các chỉ số phát triển trong chương trình phát triển KT - XH địa phương của thời kì dự báo

Cơ sở khoa học của phương pháp này là dựa vào các chỉ số dự báo được tính toán trên cơ sở thực tế có xem xét đến các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của địa phương

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/29

Phương pháp này thường cho kết quả tương đối phù hợp, bởi nó được đảm bảo bằng các nghị quyết, chương trình, mục tiêu và hệ thống kế hoạch thực hiện Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi có một sự tính toán chính xác khi đưa ra các chỉ số dự báo để vừa đảm bảo đúng thực tế, có tính khả thi cao, song cũng là mục tiêu để quyết tâm phấn đấu

* Phương pháp sử dụng chương trình phần mềm của Bộ GD&ĐT

Đây là một phương pháp thông dụng để dự báo số lượng học sinh, là một phần mềm đã lập trình sẵn, nó có thể cho phép tính toán luồng học sinh trong suốt cả hệ thống Giáo dục và Đào tạo Một học sinh chỉ có thể lên lớp, hoặc bỏ học, hoặc lưu ban Do vậy, phương pháp này dựa vào các chỉ số tỉ lệ quan trọng: Tỉ lệ học sinh vào lớp đầu cấp; tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ lưu ban, tỉ lệ bỏ học và

tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT Trên cơ sở các số liệu về: Số trẻ 15 tuổi vào lớp

10, dân số độ tuổi học sinh THPT

Dựa vào chỉ tiêu cơ bản theo định hướng chiến lược phát triển GD & ĐT đến năm 2020 có:

- Tỉ lệ học sinh THPT/dân số độ tuổi (15 đến 17 tuổi)

- Tỉ lệ học sinh chuyển cấp từ THCS lên THPT

- Tỉ lệ lớp/ phòng học của cấp THPT

- Định mức giáo viên/lớp của cấp THPT…

Căn cứ vào các chỉ số trên, sử dụng chương trình phần mềm của Bộ Giáo dục và Đào tạo với nguyên tắc lấy số liệu của năm 2014 làm gốc để xác định dự báo các chỉ số tương ứng của từng năm giai đoạn 2016-2020 Trong đó có học sinh

T + 1 năm học n + 1, được xác định căn cứ vào số học sinh lớp T và T + 1 ở năm

học n với các tỉ lệ lên lớp, lưu ban đã được xác định của năm học n theo:

x

Tỉ lệ lên lớp Lớp T năm n

+

Số học sinh Lớp T + 1 năm n

x

Tỉ lệ lưu ban Lớp T + 1 năm n

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/30

Như vậy ta có thể tính được số lượng học sinh cho các lớp 10,11,12 ở các năm học tiếp theo trong thời kì dự báo Trên cơ sở đó, chúng ta có các chỉ

số nhu cầu về lớp, số phòng học, số chỗ ngồi và giáo viên cần thiết cho từng năm, cũng như các điều kiện đảm bảo khác phục vụ việc dạy và học

1.2.3.6 Vấn đề lựa chọn phương pháp dự báo

Có nhiều phương pháp dự báo để dự báo nhu cầu giáo viên Tuy nhiên, việc quyết định lựa chọn phương án tối ưu là rất quan trọng vì nó đảm bảo độ tin cậy cao của kết quả dự báo Để lựa chọn phương pháp phù hợp với nhiệm

vụ của dự báo thì phải đảm bảo các nguyên tắc chung như sau:

- Căn cứ hệ thống số liệu, tự liệu để quyết định lựa chọn phương pháp nào Nếu hệ thống số liệu thống kê không đầy đủ thì có thể áp dụng phương pháp chuyên gia hoặc phương pháp ngoại suy đơn giản

- Phương pháp phản ánh tốt nhất là phương pháp phản ánh mối liên hệ cơ bản khách quan của các nhân tố ảnh hưởng đến đối tượng dự báo Khi lựa chọn phương pháp dự báo trước hết phải đánh giá tình hình, số liệu thống kê, xem xét sự đáp ứng và mức độ tin cậy của số liệu thống kê đó

- Chọn phương pháp phù hợp với khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ để tính toán như sự trợ giúp của máy tính, chương trình phần mềm

để làm cho việc tính toán các bài toán dự báo phức tạp trở nên nhẹ nhàng và nhanh chóng hơn

Tóm lại, để dự báo nhu cầu giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp dự báo khác nhau, mỗi phương pháp có một ưu điểm riêng, với các kết quả dự báo khác nhau Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài này chúng tôi chọn phương pháp chính là: Phương pháp ngoại suy theo dãy thời gian; Phương pháp căn cứ vào chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội, giáo dục và đào tạo của địa phương; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp sử dụng chương trình phần mềm của Bộ GD&ĐT; phương pháp định mức

Ngày đăng: 18/12/2014, 00:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thƣ TW Đảng, Chỉ thị số 40 - CT/TW “Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục
2. Bộ GD&ĐT (2000), Toàn cảnh GD&ĐT Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh GD&ĐT Việt Nam
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
3. Bộ GD&ĐT (2002), Ngành Giáo dục - Đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 - khóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ I X, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành Giáo dục - Đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 - khóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ I X
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
4. Bộ GD&ĐT – Bộ Nội vụ (2006), Thông tƣ Liên tịch số 35/2006/TTLT- BGDĐT-BNV “Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập
Tác giả: Bộ GD&ĐT – Bộ Nội vụ
Năm: 2006
5. Bộ GD&ĐT (2009), Thông tƣ số 30/2009/TT- BGDĐT ban hành “Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2009
6. Bộ GD&ĐT (2011), Thông tƣ số 12/2011/TT-BGDĐT ban hành “Điều lệ trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2011
7. Bộ GD&ĐT (2011), Công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 1/9/2011 v/v “Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GDPT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GDPT
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2011
8. Đỗ Văn Chấn (1998) Dự báo, quy hoạch và kế hoạch phát triển giáo dục (Bài giảng cho các lớp học quản lí giáo dục), Trường cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo, quy hoạch và kế hoạch phát triển giáo dục
9. Đỗ Văn Chấn (1999), Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo
Tác giả: Đỗ Văn Chấn
Năm: 1999
14. Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh (2013), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2012, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2012
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2013
15. D.Gvisianhi, V.Linishkin (1996), Khoa học dự báo (Người dịch: Xuân Trung), NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học dự báo (Người dịch: Xuân Trung)
Tác giả: D.Gvisianhi, V.Linishkin
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
16. Vũ Cao Đàm (1995), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 1995
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng khóa IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
23. Nguyễn Công Giáp (1996), Một số vấn đề về lý luận và phương pháp dự báo quy mô phát triển giáo dục - đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lý luận và phương pháp dự báo quy mô phát triển giáo dục - đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Công Giáp
Năm: 1996
24. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1999
25. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
26. Đặng Bá Lãm (Chủ biên, 2005), Quản lí Nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí Nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Phác họa quá trình dự báo giáo dục và đào tạo - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Sơ đồ 1.1. Phác họa quá trình dự báo giáo dục và đào tạo (Trang 23)
Sơ đồ 1.2. Mô tả quá trình dự báo giáo dục bằng mô hình toán học - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Sơ đồ 1.2. Mô tả quá trình dự báo giáo dục bằng mô hình toán học (Trang 23)
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa dự báo và công tác lập kế hoạch - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa dự báo và công tác lập kế hoạch (Trang 32)
Sơ đồ 1.4.  Biểu diễn sơ đồ luồng - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Sơ đồ 1.4. Biểu diễn sơ đồ luồng (Trang 35)
Bảng 2.1. Số lƣợng học sinh/dân số độ tuổi qua một số năm học - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.1. Số lƣợng học sinh/dân số độ tuổi qua một số năm học (Trang 50)
Bảng  2.1.  cho  thấy  dân  số  trong  độ  tuổi  15-17  có  xu  hướng  giảm  dần  (trong 10 năm 2004-2014 đã giảm  13.872 người = 0,2%) - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
ng 2.1. cho thấy dân số trong độ tuổi 15-17 có xu hướng giảm dần (trong 10 năm 2004-2014 đã giảm 13.872 người = 0,2%) (Trang 51)
Bảng 2.2. Hệ thống trường THPT tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 - 2014 - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.2. Hệ thống trường THPT tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 - 2014 (Trang 53)
Bảng 2.3. Quy mô phát triển giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2004-2014 - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.3. Quy mô phát triển giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2004-2014 (Trang 55)
Bảng 2.5. Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT và thi đỗ các trường ĐH, CĐ - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.5. Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT và thi đỗ các trường ĐH, CĐ (Trang 58)
Bảng  2.5  cho  thấy:  Tỉ  lệ  học  sinh  đỗ  tốt  nghiệp  THPT  của  tỉnh  Quảng  Ninh đạt trung bình hàng năm là 94,29%, tỉ lệ đỗ hàng năm đều cao hơn tỷ lệ  chung  của  cả  nước,  tỉ  lệ  tốt  nghiệp  THPT  loại  giỏi  trung  bình  hàng  năm  đạt  1,8% - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
ng 2.5 cho thấy: Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT của tỉnh Quảng Ninh đạt trung bình hàng năm là 94,29%, tỉ lệ đỗ hàng năm đều cao hơn tỷ lệ chung của cả nước, tỉ lệ tốt nghiệp THPT loại giỏi trung bình hàng năm đạt 1,8% (Trang 59)
Bảng 2.6. Số học sinh THPT của tỉnh Quảng Ninh đạt giải tại các kì thi - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.6. Số học sinh THPT của tỉnh Quảng Ninh đạt giải tại các kì thi (Trang 60)
Bảng 2.7. Số lƣợng giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh qua các năm học - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.7. Số lƣợng giáo viên THPT tỉnh Quảng Ninh qua các năm học (Trang 61)
Bảng 2.9. Số liệu giáo viên THPT chia theo trình độ đào tạo, bồi dƣỡng - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.9. Số liệu giáo viên THPT chia theo trình độ đào tạo, bồi dƣỡng (Trang 66)
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá GV THPT của tỉnh Quảng Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp giai đoạn 2009-2014 - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá GV THPT của tỉnh Quảng Ninh theo Chuẩn nghề nghiệp giai đoạn 2009-2014 (Trang 70)
Bảng 3.2.  Dự báo quy mô phát triển số lƣợng học sinh THPT - dự báo nhu cầu giáo viên trung học phổ thông tỉnh quảng ninh giai đoạn 2016-2020
Bảng 3.2. Dự báo quy mô phát triển số lƣợng học sinh THPT (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w