Tuy nhiên, những năm gần đây, do tình hình kinh tế thế giới còn suy yếu, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, mặt khác thị trường bảo hiểm ngày càng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ VĂN THÀNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI PHÒNG KINH DOANH KHU VỰC VĨNH PHÚC CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM
BIDV TÂY BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ VĂN THÀNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI PHÒNG KINH DOANH KHU VỰC VĨNH PHÚC CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM
BIDV TÂY BẮC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN VĂN CÔNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ kinh tế “Nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Học viên
Lê Văn Thành
Trang 4Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ động viên tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn còn nhiều thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Học viên
Lê Văn Thành
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Đóng góp mới của luận văn 2
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 4
1.1 Bảo hiểm phi nhân thọ 4
1.1.1 Bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ 4
1.1.2 Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ 10
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ 14
1.2 Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm PNT 16
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả kinh doanh 16
1.2.2 Nội dung và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 21
1.2.3 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh 26
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh BH PNT 27
ƯƠNG 1 30
Chương 2: CÂU HỎI, PHƯƠNG PHÁP VÀ CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 31
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 31
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 31
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 31
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 32
ƯƠNG 2 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI PHÒNG KINH DOANH KHU VỰC VĨNH PHÚC CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM BIDV TÂY BẮC 33
3.1 Tổng quan về Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc 33
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 33
3.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy hoạt động 34
3.1.3 Đặc điểm về thị trường kinh doanh 36
3.1.4 Đặc điểm hoạt động kinh doanh 40
3.2 Thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc 42
3.2.1 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng doanh thu 42
3.2.2 Thực trạng khả năng sinh lợi 49
3.2.3 Thực trạng năng lực hoạt động 53
3.3 Đánh giá hiệu quả kinh doanh tại PKD khu vực tỉnh Vĩnh Phúc 56
3.3.1 Thành tựu đạt được 56
3.3.2 Những điểm còn hạn chế 57
3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 57
ƯƠNG 3 59
Chương 4: MỤC TIÊU KINH DOANH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI PHÒNG KINH DOANH KHU VỰC VĨNH PHÚC TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BIDV TÂY BẮC 60
Trang 74.1 Mục tiêu kinh doanh 60
4.1.1 Về công tác khai thác 60
4.1.2 Về công tác nghiệp vụ và giám định bồi thường 60
4.1.3 Về công tác đào tạo 61
4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại phòng kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc - Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc 62
4.2.1 Tăng cường công tác quản trị 62
4.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 65
4.2.3 Tăng cường công tác về marketing 67
4.2.4 Tăng cường về đầu tư trang thiết bị 72
4.2.5 Tăng cường quản trị tài chính 74
4.2.6 Tăng cường quản trị công tác đề phòng và hạn chế tổn thất đối với dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới 80
4.2.7 Phát triển mạnh kênh phân phối Bancassurance 83
ƯƠNG 4 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số liệu thị trường bảo hiểm tại Vĩnh Phúc 37
Bảng 3.2: Chỉ số giá tiêu dùng CPI tại Vĩnh Phúc 39
Bảng 3.3: Kết quả chung các chỉ tiêu hoạt động 43
Bảng 3.4: Kết quả doanh thu các PKD 46
Bảng 3.5: Số liệu giám định bồi thường của PKDKVVP 48
, l doanh thu của PKD KV Vĩnh Phúc 49
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1: Cơ cấu tổ chức PKD khu vực Vĩnh Phúc 34
3.2: Mạng lưới di động 35
3.3 Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc 2000 - 2010 36
3.4: Kênh phân phối 42
năm 2013 tại Vĩnh Phúc 44
3.6: Tỷ lệ doanh thu PKD khu vực Vĩnh Phúc 47
3.7: Tỷ trọng doanh thu theo nghiệp vụ của PKDVP 2013 47
3.8: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu 50
3.9: Tỷ suất sinh lời của tài sản 50
3.10: Doanh lợi vốn chủ sở hữu 51
3.11: Lãi suất tiết kiệm qua các năm 51
3.12: Tỷ suất lợi của chi phí 52
53
3.14: Số vòng quay của tài sản 54
3.15: Số vòng quay của VCSH 54
55
3.17: Tỷ suất tự tài trợ 56
4.1 Mô hình tổ chức theo khu vực của Phòng KDKV Vĩnh Phúc 63
4.2 Mô hình theo chức năng nhiệm vụ 64
4.3: Q ơ gi i 82
Hình 4.4: Quy trình bồi thường bảo hiểm vật chất xe cơ giới 83
ư 84
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã có sự phát triển vượt bậc với tốc độ thần kỳ và sự phát triển về nhiều mặt Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đang giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia: kinh doanh bảo hiểm được coi là một tấm lá chắn kinh tế bảo vệ cho các tổ chức, cá nhân, đồng thời huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm cũng trở nên cạnh tranh gay gắt Trong bối cảnh đó, để tồn tại và phát triển tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, các công ty bảo hiểm cần phải có những hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh, chiến lược thị trường và chiến lược cạnh tranh một cách đúng đắn và sáng tạo sao cho phù hợp với khả năng của doanh nghiệp, với thực tế của thị trường nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
Là một trong bảy phòng kinh doanh của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc, thuộc Tổng Công ty Cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc được đánh giá là một đơn vị kinh doanh có hiệu quả cao Tuy nhiên, những năm gần đây, do tình hình kinh
tế thế giới còn suy yếu, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, mặt khác thị trường bảo hiểm ngày càng cạnh tranh gay gắt, các công ty bảo hiểm ra đời ngày một nhiều nên tốc độ tăng trưởng của Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc cũng bị ảnh hưởng Do đó, làm thế nào
để nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề luôn được đặt ra với Phòng
Chính vì vậy, sau một thời gian nghiên cứu hiệu quả kinh doanh tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc,
tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đề tài là tìm ra giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc
Từ mục tiêu cơ bản đó, các mục tiêu nghiên cứu chính đƣợc xác định là:
- Làm rõ bản chất và vai trò của kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ;
- thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc;
cao nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của
Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc tại Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc
4 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ
và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
- Phân tích và đánh giá thực trạng về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc - Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc
Trang 13- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Kết quả nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là phần giải pháp sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc
5 Kết cấu của luận văn
Với tên gọi “Nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc của Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc”,
ngoài phần mở đầu và kết luận cùng với danh mục tài liệu tham khảo, bảng biểu, sơ đồ, phụ lục, luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm kinh doanh và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm
Chương 2: Câu hỏi, phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo
hiểm tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc - Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc
Chương 4: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ tại Phòng Kinh doanh khu vực Vĩnh Phúc - Công ty bảo hiểm BIDV Tây Bắc
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1.1 Bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.1 Bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người tham gia bảo hiểm cam kết bồi thường (theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho người thứ ba
Theo TS.Nguyễn Văn Định: Bảo hiểm là một sự thỏa thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (Người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (Phí bảo hiểm) cho tổ chức khác (Người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra [5]
Trong cuộc sống hàng ngày, luôn có những rủi ro nhất định Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lại càng ẩn chứa những rủi ro Những rủi ro này có nhiều nguyên nhân
- Các rủi ro do thiên nhiên gây ra như bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, sét, lốc, sương muối, dịch bệnh…làm ảnh hưởng đến kinh tế, sản xuất, đến đời sống và đến sức khỏe của con người
- Các rủi ro do biến động của khoa học và công nghệ Khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy nền kinh
tế và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người; nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tại nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tai nạn giao thông…và làm tăng nguy cơ mất việc của người lao động
- Các rủi ro do môi trường xã hội Những rủi ro này chịu tác động của nhiều yếu tố và ảnh hưởng trực tiếp đến mọi thành viên trong xã hội như ốm đau, dịch bệnh, mất việc làm, trộm cắp, hỏa hoạn…
Trang 15Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi
ro và hậu quả do rủi ro gây ra - đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro
- Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro Các biện pháp này thường được sử dụng để ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro
+ Tránh né rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất Chẳng hạn, để tránh các tai nạn giao thông người ta hạn chế đi lại,…để tránh các tai nạn giao thông người ta chọn những nghề không nguy hiểm…Tránh né rủi ro chỉ với những rủi ro có thể né tránh được Nhưng cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ không thể né tránh được
+ Ngăn ngừa tổn thất - các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hành động nhằm làm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra
+ Giảm thiểu tổn thất - người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã xảy ra
Mặc dù biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết được hậu quả
- Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và Bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có
+ Chấp nhận rủi ro - đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản tổn thất đó Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro
là tự bảo hiểm Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận
Trang 16rủi ro, tuy nhiên có thể phân chia làm hai nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động
+ Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất Như vậy, Bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh
Trên góc độ tài chính, bảo hiểm kinh doanh là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những tổn thất khi rủi ro xảy ra Trên góc độ pháp lý, bảo hiểm kinh doanh thực chất là một bản cam kết mà một bên đồng ý bồi thường cho bên kia khi gặp rủi ro nếu bên kia đóng phí bảo hiểm Do đó, bảo hiểm kinh doanh là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm
Bảo hiểm kinh doanh có các đặc điểm sau:
- Người tham gia bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm
- Là một biện pháp hiệu quả nhất cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và an toàn với đời sống cộng đồng
Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm kinh doanh:
- Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm cũng như doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm
- Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh
- Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tuân theo luật pháp quy định cho doanh nghiệp nói chung, và cho doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng
- Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít
- Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc an toàn tài chính
Từ các phân tích trên đây, chúng ta có thể đưa ra khái nhiệm Bảo hiểm nhân thọ và PNT như sau:
Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa Công ty bảo hiểm V với người tham gia bảo hiểm nhân thọ (người được bảo hiểm) trong đó Công ty bảo hiểm
Trang 17nhân thọ có trách nhiệm trả cho người tham gia bảo hiểm nhân thọ (người được bảo hiểm) một khoản tiền nhất định khi có những sự kiện định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng) Còn người tham gia bảo hiểm nhân thọ
Có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm nhân thọ đầy đủ và đúng hạn
Bảo hiểm phi nhân thọ là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là bảo hiểm nhân thọ, là loại hình bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ chi trả bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến tổn thất về vật chất và tai nạn con người, trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm [6]
Bảo hiểm có những đặc điểm sau:
- Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình: Sản phẩm bảo hiểm, về
bản chất là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai
Khác với sản phẩm vật chất mà người mua có thể cảm nhận được qua cac giác quan, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể chỉ ra mầu sắc, hình dáng, kích thước hay mùi vị của sản phẩm Họ cũng không thể cảm nhận được bằng các giác quan như cầm nắm, sờ mó, ngủi hoặc nếm thử…
Để khắc phục những khó khăn đó, cũng là để củng cố lòng tin của khách hàng, các doanh nghiệp bảohiểm tìm cách tăng tính hữu hình của sản phẩm: chú ý những lợi ích có liên quan đến dịch vụ: sử dụng những người nổi tiếng, có uy tín tuyên truyền dịch vụ; phát triển hệ thống đại lý chuyên nghiệp; xây dựng uy tín của công ty bảo hiểm; tăng cường vai trò quan trọng của hoạt động marketing Như vậy, lòng tin và chất lượng dịch vụ khách hàng chính là chìa khóa để bán sản phẩm bảo hiểm
- Bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược:
Khác với chu trình sản xuất hàng hóa thông thường, khi giá cả được quyết định sau khi đã biết được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó Như vậy, các
Trang 18doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hữu hình phải bỏ vốn ra trước, mua các máy móc, nguyên vật liêu, thuê nhân công thì mới sản xuất ra sản phẩm và thực hiện quy trình đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, khi sản phẩm đó bán được doanh nghiệp mới thu tiền về, trong khoản tiền này bao gồm cả vốn doanh nghiệp bỏ ra và lãi doanh nghiệp nhận được Còn doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trước, họ nhận phí bảo hiểm trước của người tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo hiểm khi xảy ra sự
cố bảo hiểm Do vậy, không thể tính được chính xác hiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm
Thông thường, hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực ngay sau khi
có sự chấp nhận của Người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo hợp đồng Phí bảo hiểm mà khách hàng đóng khi ký hợp đồng chính là giá bán một hợp đồng bảo hiểm
Ví dụ, công ty bảo hiểm B bán bảo hiểm tai nạn con người Người tham gia bảo hiểm đóng phí để mua dịch vụ bảo hiểm vào ngày đầu năm Công ty bảohiểm B có ngay doanh thu từ đầu năm Các hợp đồng bảo hiểm này sẽ kết thức vào ngày cuối năm, khi đó trách nhiệm của các công ty bảo hiểm B trước các tổn thất - theo như thỏa thuận trong hợp đồng - sẽ chấm dứt Đến ngày cuối năm, công ty bảo hiểm B mới có thể tính được chi phí triển khai dịch vụ bảo hiểm này Tương tự như vậy là chi phí hoạt động của công ty Chu trình kinh doanh của bảo hiểm có đặc điểm là công ty bảo hiểm định giá bán dịch
vụ của mình trước khi tính toán được chi phí mình bỏ ra
Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đưa loại sản phẩm nào
ra thị trường Nếu một sản phẩm đưa ra được đông đảo người mua chấp nhận, công ty bảo hiểm sẽ thu về một khoản tổng phí bảo hiểm rất lớn Khi rủi ro xảy ra cho một số khách hàng nào đó, công ty bảo hiểm có đủ khả năng chi trả mà không bị bội chi Ngược lại, nếu chỉ có một số ít khách hàng chấp nhận, tổng phí thu được nhỏ bé Công ty bảo hiểm sẽ dễ rơi vào tình trạng thu
Trang 19không đủ chi nếu như nhóm khách hàng đó có tỷ lệ rủi ro quá cao trong khoảng thời gian các hợp đồng bảo hiểm còn có hiệu lực
Mặt khác, chu trình kinh doanh ngược còn có tác dụng chi phối trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất của người được bảo hiểm khi họ đã được một hợp đồng bảo hiểm bảo vệ Bởi lẽ nếu tổn thất xảy ra ít, giá bán của các hợp đồng bảo hiểm năm sau đó sẽ được giảm đi (hay nói cách khác, khách hàng sẽ được giảm phí), ngược lại, nếu tỷ lệ tổn thất lớn, khách hàng sẽ phải trả phí cao hơn vào những năm sau
- Tâm lý người mua hàng không mưốn tiêu dùng dịch vụ này:
Người mua bảo hiểm không mong muốn có sự kiện rủi ro xảy ra để được nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấp bội lần so với số phí phải đóng
Quá trình mua sản phẩm bảo hiểm chịu sự chi phối của các yếu tố tâm
lý Do chi phối bởi những tập tục, quan niệm có thể mang nặng yếu tố tâm linh, nên nói chung người mua không muốn nói đến rủi ro, không muốn thấy
cụ thể những hậu quả của rủi ro có thể được bảo hiểm, điểm hình nhất trong bảo hiểm tử vong hay thương tật
Nhưng ngược lại, người mua coi việc mua một sản phẩm bảo hiểm như một chiếc bùa hộ mệnh, giúp họ yên tâm hơn về mặt tinh thần đồng thời có sự đảm bảo về mặt vật chất khi điều không may xảy ra Người bán cũng dễ bị ý nghĩ chiều lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mà thiếu sự cân nhắc cần thiết cho việc lực chọn và đánh giá những rủi ro có thế đảm nhận
Trong khi tiến hành giao dịch chào bán dịch vụ, cán bộ bảo hiểm phải chú ý tới đặc điểm này để thuyết phục khách hàng khi họ nói không quan tâm đến rủi ro và không mong muốn rủi ro xảy ra đối với họ Bởi lẽ, tất cả đều không mong muốn những tai nạn, tổn thất xảy ra Mặt khác, bảo hiểm là tấm
lá chắn cho những điều không mong muốn này Thông qua thực tế tình hình thiên tai, tai nạn, cũng như giải quyết bồi thường tổn thất tại địa phương, để minh chứng về lợi ích của bảo hiểm và sự cần thiết tham gia bảo hiểm
Trang 20Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm đã đề cập ở trên, bảo hiểm phi nhân thọ còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau:
- Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng có thời hạn bảohiểm thường là một năm hoặc ngắn hơn (như bảo hiểm cho một chuyến hoạt động từ A đến B hoặc một chuyến du lịch ngắn ngày…)
- Thứ hai: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực
- Thứ ba: Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thời hạn bảo hiểm, thông thường phí tính cho từng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến Phí bảo hiểm cho những năm tiếp theo sẽ có sự thay đổi Phí bảo hiểm phi nhân thọ còn phụ thuộc mức độ rủi ro Ví dụ với điều khoản bảo hiểm nếu Người tham gia bảo hiểm giới hạn phạm vi bảo hiểm một vài rủi ro không tham gia thì phí bảo hiểm được xem xét giảm đi, ngược lại nếu mở rộng bảo hiểm thêm một
số rủi ro phụ khác thì phí bảo hiểm sẽ tăng lên Hoặc cùng một thời gian đi du lịch là 2 ngày nhưng nếu tới khu du lịch có mức độ rủi ro lớn hơn, như vùng núi rừng nguy hiểm thì phí bảo hiểm cao hơn
- Thứ tư: Trừ các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ, còn các nghiệp vụ khác như tài sản, trách nhiệm dân sự giữa Người bảo hiểm, Người được bảo hiểm và Người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm đều có mối quan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.1.2 Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ
Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm ý nghĩa mà các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ được phân chia thành các nhóm như sau:
* Căn cứ theo hình thức tham gia:
Nếu căn cứ theo hình thức tham gia bảo hiểm phi nhân thọ có 2 loại: Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện
phụ thuộc vào nhận thức và nhu cầu của người tham gia bảo hiểm Các
Trang 21DNBH đáp ứng được hay không cũng tùy thuộc vào khả năng tài chính, trình
độ kỹ thuật nghiệp vụ của doanh nghiệp đó
ảo hiểm bắt buộc gồm các sản phẩm BH mà pháp luật quy định các tổ chức cá nhân phải tham gia BH và các DNBH phải phục vụ theo một số điều khoản, mức phí và mức trách nhiệm
BH theo quy định của nhà nước Hiện nay tại Việt Nam có một số loại BH bắt buộc như: BH bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 và hành khách trên xe, BH trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động
tư vấn pháp luật, BH trách nhiệm nghề nghiệp của DN môi giới BH, một số loại BH cháy nổ
* Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm:
Nếu căn cứ theo đối tượng BH thì BH PNT có 3 loại: BH tài sản, BH trách nhiệm dân sự và BH con người PNT
Bảo hiểm tài sản là thể loại bao gồm những nghiệp vụ có đối tượng là
tài sản có thể tính được giá trị bằng tiền Có nhiều loại tài sản: những tài sản hữu hình, tồn tại dưới hình thể vật chất (như nhà cửa, phương tiện vận chuyển, hàng hóa…) và tài sản vô hình (như phát minh, sáng chế, bản quyền, giọng hát…) Bảo hiểm thiệt hại do hậu quả tài sản được bảo hiểm bị tổn thất Thực tế, khi tài sản bảo hiểm bị tổn thất thì hậu quả để lại không chỉ thiệt hại đối với chính tài sản đó mà còn làm ngưng trệ, dẫn tới thiệt hại kinh doanh sản xuất và thiệt hại tài chính do phải giải quyết hậu quả tổn thất
:
- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
- Bảo hiểm thân tàu thủy
- Bảo hiểm xây dựng lắp đặt
- Bảo hiểm hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí
- Bảo hiểm cháy
- Bảo hiểm tiền gửi tiền cất trữ trong kho và trong quá trình vận chuyển
Trang 22- Bảo hiểm vật chất các phương tiện
- Bảo hiểm trong nông nghiệp
Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, nó phát sinh do vi
phạm nghĩa vụ dân sự TNDS được coi là biện pháp cưỡng chế, nó được áp dụng đối với người thực hiện hành vi trái pháp luật Tại điều 3.10 Bộ Luật dân sự của Việt Nam chỉ rõ: “Trách nhiệm bồi thường về thiệt hại vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất về vật chất thực tế, tính được thành tiền cho người
bị hại” [10]
Nghĩa vụ trách nhiệm dân sự thường có 2 loại:
- Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng: Đây là trách nhiệm nghĩa vụ mà các bên đã cam kết thỏa thuận trong một hợp đồng
Ví dụ: Hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ cảng A đến cảng B Hợp đồng vận chuyển hành khách (vé là hợp đồng) Hợp đồng thuê thuyền viên làm việc trên tàu
- Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng: Đây là trách nhiệm phát sinh do pháp luật quy định mà người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường
Ví dụ: lái xe ô tô đâm vào nhà dân, đâm phải người đang đi trên hè phố Do đóng cọc móng nhà làm rung nứt đổ nhà bên cạnh
Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, do đó nó mang đặc tính chung của trách nhiệm pháp lý
+ Thứ nhất, được coi là biện pháp cưỡng chế bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm đã thỏa thuận (trong hợp đồng)
+ Thứ hai, có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm theo quy định của luật pháp vì đã có những hành vi vi phạm pháp luật
Thông thường thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm này bằng 2 hình thức tự nguyện tham gia thương lượng thỏa thuận và hình thức cưỡng chế của luật pháp tòa án Các nghiệp vụ của bảo hiểm trách nhiệm:
- Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
Trang 23- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển trong ngành hàng không dân dụng
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ doanh nghiệp
- Bảo hiểm trách nhiệm công cộng và trách nhiệm sản phẩm
Mặc dù cùng là loại hình bảo hiểm con người, nhưng bảo hiểm con người phi nhân thọ trong bảo hiểm thương mại có những đặc điểm chủ yếu
sau đây:
+ Hậu quả của những rủi ro mang tính chất thiệt hại vì rủi ro bảo hiểm
ở đây là tai nạn, bệnh tật, ốm đau thai sản liên quan đến thân thể và sức khỏe của con người Những rủi ro ở đây khác với 2 sự kiện “ sống”, “chết” trong bảo hiểm nhân thọ và vì thế tính chất rủi ro được bộc lộ khá rõ còn tính chất tiết kiệm không được thể hiện
+ Người được bảo hiểm thường được quy định trong một khoảng tuổi nào đó, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những người có
độ tuổi quá thấp hoặc quá cao Bởi vì ở độ tuổi quá thấp hoặc quá cao tình trạng rủi ro diễn biến phức tạp, xác suất rủi ro cao, việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó thực hiện Chẳng hạn ở nước ta, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những em bé dưới 12 tháng tuổi và những người trên 65 tuổi Nhưng ở nước Anh lại quy định khác, những đứa trẻ dưới 3 tuổi và những người trên 65 tuổi không được các công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm
So với bảo hiểm nhân thọ, thời hạn bảo hiểm con người phi nhân thọ ngắn hơn và thường là 1 năm như: bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật…Thậm chí có nghiệp vụ bảo hiểm thời hạn chỉ trong vài ngày, vài giờ đồng hồ như: bảo hiểm tai nạn hành khách Do đó, phí bảo hiểm thường nộp một lần khi ký kết hợp đồng bảo hiểm
Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ thường được triển khai kết hợp với các nghiệp vụ bảo hiểm khác trong cùng một hợp đồng bảo hiểm
Trang 24Chẳng hạn: bảo hiểm tai nạn được lồng ghép trong bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp…Việc triển khai kết hợp này làm cho chi phí khai thác, chi phí quản lý… của công ty bảo hiểm giảm đi từ đó có điều kiện giảm phí bảo hiểm
Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong giai đoạn đầu của sự phát triển ngành bảo hiểm, bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai sớm hơn bảo hiểm nhân thọ, họ vừa triển khai vừa rút kinh nghiệm, đến khi điều kiện kinh tế đã chín muồi mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ Chính vì vậy, bảo hiểm con người phi nhân thọ được coi là loại hình bảo hiểm bổ sung hữu hiệu nhất cho các loại hình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Ở Việt Nam, hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ đều ra đời trong những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, mãi đến năm 1996 mới tổ chức triển khai bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm con người phi nhân thọ được triển khai rất đa dạng và linh hoạt tùy theo tình hình cụ thể ở từng nước và ngay trong phạm vi một nước, cũng có sự khác nhau giữa các thời kỳ, giữa các công ty bảo hiểm về một số nội dung cơ bản như: phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, thủ tục trả tiền bảo hiểm… Điều này cũng thật dễ hiểu vì bảo hiểm thương mại là hoạt động mang tính kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên trong quá trình ký kết hợp đồng hoặc triển khai một sản phẩm mới đều phải tuân thủ khung pháp lý của mỗi nước
- Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
- Bảo hiểm tai nạn hành khách
- Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật
- Bảo hiểm học sinh
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là sự cam kết giữa người tham gia bảo hiểm với người bảo hiểm mà trong đó, người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm một số tiền nhất định khi có các sự kiện
Trang 25đã định trước xảy ra, còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn Vai trò của BH PNT được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- BH PNT góp phần đảm bảo ổn định đời sống, ổn định tài chính, từ đó
ổn định về tinh thần cho người tham gia BH và mang lại sự an toàn cho xã hội Khi gặp rủi ro thiên tai hay tai nạn bất ngờ, các cá nhân, DN sẽ bị tổn thất
về kinh tế hoặc thiệt hại về người Tổn thất đó sẽ được BH bồi thường hoặc trợ cấp về tài chính, để người tham gia BH nhanh chóng khắc phục hậu quả,
ổn định đời sống, khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh Từ việc hỗ trợ tài chính, BH còn đáp ứng nhu cầu về đảm bảo an toàn cho người tham gia
BH, đưa đến cho họ sự tin cậy về sự an toàn và một chỗ dựa tinh thần
- Tạo điều kiện ổn định giá cả và cấu trúc giá: BH PNT là tấm lá chắn
hữu hiệu cho các DN, thong qua việc ổn định giá thành sản phẩm Khi DN không may gặp các rủi ro bất ngờ, DN sẽ bị thiệt hại về tài chính và chắc chắn
sẽ đẩy chi phí của DN tăng lên Khi đó nếu giữ nguyên giá để cạnh tranh, thì
DN sẽ bị giảm lợi nhuận hoặc có thể lỗ Ngược lại, nếu tăng giá thì sẽ mất lợi thế cạnh tranh về giá Nếu DN tham gia BH PNT trong lĩnh vực này thì sẽ khắc phục được rủi ro này nếu xảy ra đối với DN
- BH PNT góp phần ổn định chi tiêu ngân sách nhà nước Các tổ chức hoạt động bằng nguồn ngân sách nhà nước có thể tham gia BH PNT Thay vì
bỏ ra một số tiền tương đối nhỏ để tham gia BH mà ngân sách nhà nước không phải chi ra số tiền có thể rất lớn để trợ cấp cho cách tổ chức / đơn vị khi gặp rủi ro Mặt khác, BH PNT cũng góp phần đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế
- BH PNT cung cấp một nguồn vốn đáng kể cho nền kinh tế: Với đặc điểm trong kinh doanh BH là phí nộp trước, việc bồi thường, trả tiền thực hiện sau đó một thời gian Vì vậy, lượng vốn phần lớn có thời gian tạm nhàn rỗi sẽ được đem đầu tư vào nền kinh tế Thực tế ở nhiều quốc gia phát triển, các tổ chức bảo hiểm hoạt động rất mạnh trên thị trường bất động sản, thị
Trang 26trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường vốn Đóng vai trò là một trung gian tài chính, các tổ chức BH thu hút vốn, cung ứng vốn và thúc đẩy nhanh sự luân chuyển về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế
- Góp phần tránh và giảm thiểu rủi ro cho xã hội: Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động kinh doanh BH PNT là tạo lập, quản lý quỹ tài chính đủ lớn, nhằm chủ động đối phó với rủi ro và góp phần làm giảm tổng rủi ro của xã hội Trong cuộc sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cá nhân hay tổ chức, DN khó mà xác định được những rủi ro gì
mà họ sẽ gặp phải và mức độ thiệt hại như thế nào, bời vì rủi ro luôn ngẫu nhiên và bất ngờ Vì vậy, họ có thể định trước được kế hoạch tài chính để đối phó với những thiệt hại đó Đối với các DN BH, họ có thể tính xác suất rủi ro trên cơ sở quy luật số lớn, từ đó có kế hoạch tài chính tương đối phù hợp với những hậu quả của các rủi ro có thể gây ra
- Cuối cùng, tạo công ăn việc làm tăng cường thu nhập: hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhất định, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội (theo thống kê, bảo hiểm các nước thu hút 1% lực lượng lao động xã hội)
1.2 Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm PNT
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là hoạt động mà mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều nhắm tới Việc làm thế nào, làm cách nào để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là bài toán đặt ra đối với các nhà quản trị
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về hiệu quả kinh doanh Nhưng tựu chung lại có một vài định nghĩa sau:
Theo Adam Smith: Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh
tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá, ở đây hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh vì cho rằng doanh thu có thể tăng do chi phí, mở rộng
sử dụng các nguồn sản xuất nếu có kết quả, có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan niệm này cũng có hiệu quả [4]
Trang 27Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ
ra để đạt được chi phí đó
Theo tác giả Nguyễn Văn Công thì: Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp dùng để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong thực tiễn của con người ở mọi lĩnh v Bất kỳ một quyết định nào cũng cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép là giải pháp hiện thực có cân nhắc tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể nhất” [3]
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Công thì: Hiệu quả kinh doanh là tỉ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí [3]
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của họ [9]
Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh.[8]
Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định [7]
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh Nó là thước đo càng trở nên quan trọng của tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Từ những quan điểm khác nhau như trên của các nhà kinh tế, có thể đưa ra một khái niệm thống nhất chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh như
sau: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và
sử dụng các nguồn lực của DN như vốn, lao động, máy móc, thiết bị…nhằm đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất; phù hợp với mục tiêu mà DN
đã đề ra trong một quá trình kinh doanh nhất định”
Trang 28C [1.1]
Trong đó: H là hiệu quả
K là kết quả ban dầu
C là nguồn lực đầu vào gắn với kết quả đó Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguồn lực đầu vào đem lại mấy đồng kết quả đầu ra, hệ số này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi của chi phí đầu vào càng cao và hiệu quả càng lớn và ngược lại
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế, gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng xuất lao động xã hội và quy luật tiết kiệm thời gian
Chính việc khan hiếm nguồn lực và sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực
Để đạt được mục tiêu kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu quả các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí Chính vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ gắn bó với nhau, là hai mặt của một vấn đề, do đó khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải xem xét hai mặt này một cách đồng bộ Hai mặt này phản ánh những khía cạnh khác nhau của quá trình kinh doanh nhưng không tách rời nhau
- Đối với doanh nghiệp:
Nền kinh tế thị trường ngày càng mở cửa như hiện nay, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt thì điều kiện đầu tiên với mỗi doanh nghiệp về hoạt động là cần phải quan tâm tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, hiệu quả càng cao thì doanh nghiệp càng đứng vững và phát triển
Trang 29Hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh là điều kiện quan trọng nhất đảm bảo tái sản xuất nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng của hàng hoá giúp cho doanh nhgiệp củng cố vị trí và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, xây dựng cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị đầu tư công nghệ mới góp phần vào lợi ích xã hội nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, không bù đắp đuợc lượng chi phí bỏ ra thì doanh nghiệp không những không phát triển mà còn khó đứng vững và tất yếu dẫn đến phá sản
- Đối với nền kinh tế quốc dân:
Doanh nghiệp kinh doanh tốt, làm ăn có hiệu quả thì điều đầu tiên doanh nghiệp làm cho nền kinh tế xã hội là tăng sản phẩm trong xã hội, tạo ra việc làm, nâng cao đời sống dân cư, thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại
Các khoản thu của ngân sách chủ yếu từ tiền thuế Nếu doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì số tiền thuế được bổ sung vào ngân sách hàng năm sẽ cao hơn
- Đối với người lao động:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có tác động tương ứng với người lao động Hiệu quả sản xuất kinh doanh là động lực thúc đẩy, kích thích người lao động hăng say làm việc, luôn quan tâm đến kết quả lao động của mình và như vậy sẽ đạt được kết quả kinh tế cao hơn Nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống của người lao động trong doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp chi phối rất nhiều đến thu nhập của người lao động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất tinh thần của người lao động Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cao mới đảm bảo cho người lao động có việc làm ổn định, đời sống vật chất tinh thần cao, thu nhập cao Ngược lại hiệu quả kinh doanh thấp
sẽ dẫn đến người lao động có cuộc sống không ổn định thu nhập thấp và luôn đứng trước nguy cơ thất nghiệp
Trang 30Phân tích hiệu quả kinh doanh dựa vào các tiêu thức khác nhau giúp nhà phân tích hình dung một cách tổng quát về hiệu quả kinh doanh, do vậy ta
có thể phân loại hiệu quả kinh doanh thành một số loại sau:
* Căn cứ theo yêu cầu của tổ chức xã hội và tổ chức quản lý kinh tế :
- Hiệu quả kinh tế cá biệt: Là hiệu quả kinh tế thu hút được từ hoạt động của từng doanh nghiệp kinh doanh Biểu hiện trực tiếp của hiệu quả này
là lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp thu được và chất lượng thực hiện những yêu cầu do xã hội đặt cho nó
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế tính toán cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân về cơ bản nó là sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hoặc tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong từng thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí
Giữa hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Trong việc thực hiện cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, không những cần tính toán và đạt được hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà còn phải đạt dược hiêụ quả của nền kinh tế quốc dân Mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào mức hiệu quả kinh tế cá biệt Nghĩa là phụ thuộc vào sự cố gắng của người lao động, của mỗi doanh nghiệp, đồng thời qua hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước cũng có tác động trực tiếp đến hiệu quả cá biệt, ngược lại một chính sách sai lầm cũng dẫn tới kìm hãm việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
* Căn cứ theo mục đích so sánh:
Trong công tác quản lý hiệu quả sản xuất kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm hai mục đích: Thứ nhất, phân tích đánh giá trình độ quản
lý và sử dụng các loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh Thứ hai
là phân tích luận chứng về kinh tế xã hội của các phương án khác nhau trong nhiệm vụ cụ thể nào đó khi chọn lấy một phương án có lợi nhất
Trang 31- Hiệu quả tuyệt đối: Là hiệu quả được tính toán cho từng hoạt động, phản ánh bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra
- Hiệu quả tương đối: Là hiệu quả được xác định bằng cách so sánh tương quan các đại lượng thể hiện chi phí hoặc kết quả ở các phương án với nhau, các chỉ tiêu so sánh được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả của các phương án, để chọn phương án có lợi nhất về kinh tế
* Căn cứ theo đối tượng đánh giá:
- Hiệu quả cuối cùng: thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được
và tổng hợp chi phí đã bỏ ra để thực hiện nhiêm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Hiệu quả trung gian: Thể hiện mối tương quan giữa kết qủa thu được với chi phí của từng yếu tố cần thiết đã được sử dụng như: Lao động, máy móc, nguyên vật liệu…
Việc tính toán hiệu quả cuối cùng cho thấy hiệu qủa chung của doanh nghiệp hay của cả nền kinh tế quốc dân Việc tính toán và phân tích hiệu quả trung gian cho thấy sự tác động của nền kinh tế quốc dân Về nguyên tắc việc giảm những chi phí trung gian sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí cuối cùng, tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp phải quan tâm, xác định các biện pháp đồng bộ để thu được hiệu quả toàn bộ trên cơ sở các bộ phận
1.2.2 Nội dung và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Để đánh giá tổng quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh, người ta thường sử dụng chỉ tiêu khả năng sinh lợi Các chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận của doanh nghiệp Ngoài ra còn sử dụng nhiều chỉ tiêu khác để phản ánh năng lực hoạt động của doanh nghiệp
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi:
Tỷ suất doanh lợi doanh thu:
Tỷ suất sinh lợi theo doanh thu = Lợi nhuận ròng x 100 [1.2]
Doanh thu
Trang 32Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng thu phí BH tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu giảm chi phí Nhưng để có hiệu quả thì tốc độ tăng doanh thu phải nhỏ hơn tốc độ tăng lợi nhuận
Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE):
Chỉ tiêu ROE phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn c Chỉ tiêu này được các nhà đầu tư cũng như các cổ đông đặc biệt quan tâm
có thể sinh lời trong tương lai ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để
so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào
Thông thường, ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA):
ROA = Lợi nhuận ròng
x 100 [1.4] Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết 100đ tài sản bình quân mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Chỉ tiêu này càng cao thể hiện công ty tạo ra lợi nhuận tốt hơn với số tài sản ít hơn
Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
Tỷ suất sinh lợi của vốn đầu tư = Lợi nhuận ròng x 100 [1.5]
Vốn đầu tư
Trang 33Chỉ tiêu này cho biết 100đ vốn đầu tư đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng
Tỷ suất sinh lợi của chi phí:
Tỷ suất sinh lời của chi phí = Lợi nhuận ròng x 100 [1.6]
Tổng chi phí Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận chi phí cho biết 100 đồng chi phí bỏ ra trong
kì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu quả
ánh giá năng lực hoạt động:
Để đánh giá năng lực hoạt động trong hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố được xem xét đánh giá như: lao động, vốn, tài sản, … các chỉ tiêu chủ yếu cụ thể như sau:
- Chỉ tiêu sử dụng lao động:
Lao động là nhân tố quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả lao động trong doanh nghiệp là hết sức cần thiết Để đánh giá về tình hình lao động, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
Sức sản xuất của lao động = Doanh thu [1.7]
Tổng lao động bình quân
Sức sinh lợi của lao động = Lợi nhuận ròng
[1.8] Tổng lao động bình quân
Đây là cặp chỉ tiêu phản ánh tương đối đầy đủ về hiệu quả sử dụng lao động trong kỳ của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên,
để có thể đánh giá toàn diện về hiệu quả sử dụng lao động, người ta còn sử dụng các chỉ tiêu khác như hiệu suất sử dụng thời gian lao động Các chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả sử dụng lao động và sử dụng số lượng
Trang 34thời gian lao động hiện có, giảm lượng lao động dư thừa, nâng cao hiệu suất sử dụng lao động trong doanh nghiệp
- Khả năng tạo doanh thu của tài sản:
Số vòng quay của tài sản = Doanh thu [1.9]
Tổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh trong mỗi kỳ nhất định tài sản luân chuyển được bao nhiêu hay mỗi đồng tài sản tham gia vào quá trình kinh doanh sẽ tạo được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này có thể sử dụng để so sánh giữa các kỳ của một đơn vị hoặc giữa các đơn vị cùng quy mô trong một thời kỳ
- Khả năng tạo doanh thu của vốn chủ sở hữu:
Vốn CSH Chỉ tiêu này phản ánh 1đ vốn chủ sở hữu thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
- Số vòng quay khoản phải thu:
Số vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần [1.11]
Số vòng quay khoản phải thu (hay Hệ số quay vòng các khoản phải thu) là một trong những tỷ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nó cho biết các khoản phải thu phải quay bao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó
- Số vòng quay khoản phải trả:
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp Công thức tính chỉ số vòng quay các khoản phải trả như sau:
Vòng quay các khoản phải trả = Doanh số mua hàng thường niên [1.12]
Bình quân các khoản phải trả
Trang 35Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng
tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước Ngược lại, nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước
Nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng
- Hiệu quả trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm:
Hiệu quả trích lập dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểu =
Quĩ dự phòng nghiệp vụ
[1.15] Doanh thu phí bảo hiểm
Chỉ số này phản ánh trong chu kỳ kinh doanh công ty trích lập được bao nhiêu đồng quỹ nghiệp vụ trên đồng doanh thu
- Hiệu quả đầu tư trở lại nền kinh tế:
Tái đầu tư = Giá trị đầu tư trở lại nền kinh tế [1.16]
Doanh thu phí bảo hiểm Chỉ số này phản ánh 1đ doanh thu phí bảo hiểm thì có bao nhiêu đồng được đầu tư trở lại nền kinh tế
- Hiệu quả thu nộp ngân sách
Hiệu quả nộp ngân sách = Thuế thu nhập [1.17]
Doanh thu phí bảo hiểm
Trang 36Chỉ tiêu này phản ánh 1đ doanh thu phí bảo hiểm thì có bao nhiêu đồng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Phản ánh mức độ đóng góp vào ngân sách nhà nước của doanh nghiệp
- Hiệu quả khắc phục hậu quả cho khách hàng bị tổn thất
Hiệu quả khắc phục
hậu quả cho KH =
Số lượng KH bị tổn thất được bồi thường
[1.18] Doanh thu phí bảo hiểm
Chỉ tiêu này phản ánh 1đ doanh thu phí bảo hiểm thì có bao nhiêu đồng bồi thường tổn thất cho khách hang Chỉ tiêu này là một yếu tố rất quan trọng quyết định lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh BH PNT
1.2.3 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh
Phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, quá trình và các kết quả này thành nhiều bộ phận Nhờ việc này, nhà nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau để xác định các nhân tố ảnh hưởng và xu thế ảnh hưởng của từng nhân tố đến quá trình kinh tế Từ đó, đề xuất các biện pháp để phát huy sức mạnh để khai thác các điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu, khai thác tiềm năng, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Phương pháp so sánh: là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Tiêu chuẩn để so sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng
Trang 37- Phương pháp phân tích chi tiết: Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu; Chi tiết theo thời gian; Chi tiết theo địa điểm
- Các phương pháp nhằm xác định ảnh hưởng, vai trò, tầm quan trọng của từng thành phần bộ phận đối với chỉ tiêu phân tích:
o Phương pháp chỉ số: Phân tích thống kê nghiên cứu sự biến động của những hiện tượng kinh tế phức tạp bao gồm nhiều đơn vị, nhiều phần tử mà các đại lượng không cộng trực tiếp được với nhau
o Phương pháp số chênh lệch: Phân tích chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của từng nhân tố để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó tới chỉ tiêu phân tích
- Phương pháp liên hệ: Liên hệ trực tiếp giữa các chỉ tiêu như: Lợi nhuận với chi phí, lợi nhuận với doanh thu, l ợi nhuận với vốn CSH, …; Liên
hệ gián tiếp: Là quan hệ giữa các chỉ tiêu, trong đó mức độ phụ thuộc giữa chúng được xác định bằng một hệ số riêng
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh BH PNT
Nhân tố bên trong:
Các cơ hội, chiến lược kinh doanh và hiệu quả kinh doanh luôn phụ thuộc vào các yếu tố phản ánh tiềm lực của một doanh nghiệp Tiềm lực của doanh nghiệp không phải là bất biến có thể phát triển mạnh lên hay yếu đi, có thể thay đổi toàn bộ hay bộ phận Chính vì vậy trong quá trình kinh doanh luôn phải chú ý tới nhân tố này nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn nữa
- Công tác quản trị:
Nhân tố này đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong một môi trường kinh doanh ngày càng biến động Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp
Đội ngũ các nhà quản lý mà đặc biệt là các nhà quản trị doanh nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng có tính chất quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp
Trang 38Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng nhƣ cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó
- Vốn kinh doanh:
Đây là một nhân tố tổng hợp sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lƣợng, nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối, đầu tƣ có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô và
cơ hội có thể khai thác Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là cơ
sở đánh giá về hiệu quả kinh doanh của doanh
cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh doanh Lực lƣợng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, trình độ sử dụng các nguồn lực khác tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Các nhân tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài này luôn nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp Bởi đó, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lƣỡng nhằm hạn chế sự tác động điệu cực, nắm bắt lấy cơ hội kinh doanh cho mình
Trang 39- Môi trường văn hoá xã hội:
Mỗi yếu tố văn hoá xã hội đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Các yếu tố về văn hoá như: Điều kiện xã hội, trình độ giáo dục, phong cách lối sống, tôn giáo, tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng, đều ảnh hưởng rất lớn Yếu tố trình độ giáo dục sẽ ảnh hưởng tới doanh nghiệp đào tạo đội ngũ lao động chuyên môn cao và khả năng tiếp thu các kiến thức KH-
KT, tác động tới việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại
- Môi trường kinh tế:
Đây là nhân tố tác động rất lớn tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nó bao gồm các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách vĩ mô… tác động tích cực hay tiêu cực tới sự phát triển của từng ngành, lĩnh vực hay khu vực kinh tế từ đó tác động đến doanh nghiệp thuộc vùng, ngành kinh tế đó Môi trường kinh tế tốt sẽ tạo ra sự dự báo tốt để doanh nghiệp ra quyết định đúng đắn các hoạt động đầu tư của mình
- Môi trường chính trị, pháp luật:
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển của nhóm doanh nghiệp khác và ngược lại Hệ thống pháp luật hoàn thiện không thiên vị
là một trong những tiên đề ngoài kinh tế của kinh doanh
- Nhân tố môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên bao gồm nhân tố như thời tiết, khí hậu, mùa vụ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, các nhân tố này tác động đến hiệu quả kinh doanh thông qua sự tác động lên các chi phí tương ứng, mức độ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 40- Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng:
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông,
hệ thống thông tin liên lạc, điện nước đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghi ệp kinh doanh ở khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi, điện nước đầy đủ, dân cư đông đúc và
có trình độ dân trí cao sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng tốc
độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
3 Đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh BH PNT Các nội dung này làm tiền đề cho việc phân tích tại các chương tiếp theo