1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi

174 861 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM --- LÊ THỊ TUYẾT NHUNG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ BỌ PHẤN ALEYRODIDAE HOMOPTERA VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

LÊ THỊ TUYẾT NHUNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ BỌ PHẤN

ALEYRODIDAE (HOMOPTERA) VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC, BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỌ PHẤN

THUỐC LÁ BEMISIA TABACI (GENNADIUS) HẠI CÂY HỌ

CÀ Ở VÙNG HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Hà Nội, 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

LÊ THỊ TUYẾT NHUNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI HỌ BỌ PHẤN ALEYRODIDAE (HOMOPTERA) VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI HỌC, BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỌ PHẤN

THUỐC LÁ BEMISIA TABACI (GENNADIUS) HẠI CÂY HỌ

CÀ Ở VÙNG HÀ NỘI

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật

Mã số: 62.62.01.12

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học GS.TS Phạm Văn Lầm

TS Quách Thị Ngọ

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đã được cám ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận án

Lê Thị Tuyết Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể thày hướng dẫn: GS.TS Phạm Văn Lầm, TS Quách Thị Ngọ, thày và cô đã luôn sát cánh bên tôi, động viên, thúc đẩy, dìu dắt tôi những bước đầu tiên trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô và các cán bộ của Ban Đào tạo Sau đại học thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Ban Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Viện Bảo vệ thực vật, lãnh đạo và cán bộ của Bộ môn Chẩn đoán Giám định Dịch hại và thiên địch (của Viện Bảo vệ thực vật), nhóm nghiên cứu của tôi đã ủng hộ, tạo điều kiện về mọi mặt trong suốt thời gian tôi thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cám ơn TS Jon H Martin và TS Willian Watson đã cung cấp tư liệu quý báu về phân loại, thẩm định các mẫu vật bọ phấn cũng như cho tôi các lời khuyên quý giá

Lời cám ơn cuối cùng tôi xin gởi tới người thân trong gia đình, bạn bè thân thích luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận án

Lê Thị Tuyết Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

1.2.1 Thành phần loài bọ phấn, phân bố và tác hại của bọ phấn 6

Trang 6

1.2.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của BPTL 11

1.3.1 Thành phần loài bọ phấn, phân bố và tác hại của bọ phấn 22

CHƯƠNG 2

VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

30

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu mẫu và xác định thành phần loài và ý

nghĩa kinh tế của bọ phấn họ Aleyrodoidae

31

2.4.2 Phương pháp xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của

BPTL

34

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu tình hình phát sinh, diễn biến mật độ và

các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng của BPTL trên cây họ cà ở vùng ngoại

thành Hà Nội

38

2.4.4 Phương pháp tìm hiểu một số biện pháp phòng chống theo hướng 39

Trang 7

tổng hợp đối với BPTL hại cây trồng họ cà ở ngoại thành Hà Nội theo

hướng thân thiện với môi trường

3.3 Tình hình phát sinh, diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến số

lượng BPTL trên cây cà chua ở ngoại thành Hà Nội

91

3.3.2 Diễn biến mật độ BPTL trên cây cà chua trong năm 2010-2011 94 3.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến mật độ BPTL trên cây cà chua 99

3.4 Tìm hiểu một số biện pháp phòng chống theo hướng tổng hợp đối với

BPTL hại cây trồng họ cà ở ngoại thành Hà Nội

104

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Cs

DoAF

Cộng sự Department of Agriculture and Food

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Thành phần loài bọ phấn (Aleyrodidae) đã phát hiện trên một số

cây trồng ở Hà Nội và vùng phụ cận năm 2007-2012

48

3.2 Mật độ BPTL và sự xuất hiện của nấm muội đen

Cladosporium sp trêncây cà chua tại Mê Linh-Hà Nội

2010-2013

66

3.3 Thời gian phát dục các tuổi ấu trùng của BPTL nuôi trên cây cà

chua (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2010-2011)

69

3.4 Thời gian phát dục các pha của BPTL nuôi trên cây cà chua (tại

Viện Bảo vệ thực vật, 2010-2011)

69

3.5 Tỷ lệ giới tính theo dõi trong phòng của bọ phấn thuốc lá sống

trên cây họ Cà (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2011-2013)

71

3.6 Tỷ lệ giới tính ở ngoài đồng ruộng của BPTL trên cây họ Cà tại

Mê Linh, Hà Nội (2011-2013)

3.9 Tỷ lệ chết của BPTL trên cây cà chua ở các mức nhiệt độ khác

nhau (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2010-2011)

84

3.10 Tỷ lệ chết của BPTL trên cây su hào ở các mức nhiệt độ khác

nhau (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2010-2011)

85

3.11 Kích thước các pha phát dục của bọ phấn thuốc lá trên các cây

ký chủ khác nhau (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2011)

87

3.12 Thời gian phát dục các pha của bọ phấn Bemisia tabaci Genn 88

Trang 11

trên cây cà chua và su hào (tại Viện Bảo vệ thực vật,

2010-2011)

3.13 Tỷ lệ chết của BPTL nuôi trên cây thức ăn khác nhau (tại Viện

Bảo vệ thực vật, 2010-2011)

89

3.14 Sự phân bố của ấu trùng bọ phấn thuốc lá trên các lá chét trong

cùng một cành cà chua (Mê Linh, Hà Nội, 2012)

94

3.15 Ảnh hưởng của lượng mưa đến sự sống sót của trưởng thành

BPTL trên cây họ cà (Hà Nội, 2012)

100

3.16 Mật độ ấu trùng, nhộng giả và trưởng thành BPTL trên các

giống cà chua ở Mê Linh, Hà Nội (2010-2012)

102

3.17 Sự hiện diện của thiên địch của BPTL trên cây cà chua (ngoại

thành Hà Nội, 2010-2012)

103

3.18 Số lượng trưởng thành BPTL vào bẫy dính màu vàng và mật độ

BPTL trên cà pháo (Mê Linh, Hà Nội, tháng 2012)

106

3.19 Số lượng trưởng thành BPTL vào bẫy dính màu vàng và mật

độ BPTL trên cây cà chua vụ thu đông năm 2012 tại Mê Linh

(Hà Nội)

107

3.20 Thành phần thiên địch của BPTL trên cây cà chua

tại Mê Linh (Hà Nội) năm 2011-2012

111

3.21 Sức ăn ấu trùng bọ phấn thuốc lá của trưởng thành cái bọ xít

mù thuốc lá Nesidiocoris tenuis (tại Viện Bảo vệ thực vật,

2012)

113

3.22 Mối liên hệ giữa mật độ BPTL với tác hại của bọ xít mù thuốc

lá N tenuis trên cây cà chua trong nhà lưới (tại Viện Bảo vệ

Trang 12

3.24 Hiệu lực của một số thuốc BVTV đối với ấu trùng tuổi 1, tuổi 2

bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua trong nhà lưới (tại Viện Bảo

vệ thực vật, 2012)

118

3.25 Hiệu lực của một số thuốc BVTV đối với ấu trùng tuổi 1, tuổi 2

bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua trong nhà lưới (tại Viện Bảo

vệ thực vật, 2012)

119

3.26 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với ấu trùng bọ phấn

thuốc lá trên cây cà chua (Mê Linh, Hà Nội, 2011)

120

3.27 Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với trưởng thành

BPTL trên cây cà pháo (Mê Linh, Hà Nội, 2012)

121

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.11 Một số loài bọ phấn phổ biến trên các cây trồng nông nghiệp 64

3.13 Diễn biến mật độ BPTL tổng số trên các cành lá khác nhau

của cây cà chua vụ thu đông

91

3.14 Diễn biến mật độ BPTL tổng số trên các cành lá khác nhau

của cây cà chua vụ xuân hè

Trang 14

3.18 Diễn biến mật độ ấu trùng BPTL trên đồng và trưởng thành

BPTL vào bẫy dính màu vàng trong vụ cà chua thu đông năm

2012 (Mê Linh, Hà Nội, 2012)

109

3.19 Diễn biến mật độ trưởng thành BPTL trên đồng và trưởng

thành BPTL vào bẫy dính màu vàng trong vụ cà chua thu đông năm 2012 (Mê Linh, Hà Nội, 2012)

109

3.20 Bọ xít non và trưởng thành bọ xít mù thuốc lá N tenuis 112

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điểm nổi bật của họ bọ phấn (Aleyrodidae) là cơ thể nhỏ bé, rất khó phát hiện bằng mắt thường Tất cả các giai đoạn phát dục, dinh dưỡng của bọ phấn đều diễn ra ở mặt dưới lá cây nên bọ phấn chỉ bị phát hiện khi cây trồng đã bị hại nặng, với các triệu chứng như cây bị vàng lá, còi cọc, chậm lớn hoặc có những biểu hiện của các bệnh siêu

vi trùng như lá xoăn, nhăn nhúm, biến vàng, bạc hoặc khảm lá,… (Alegbejo, 2001;

Brown, 2007; Chu et al., 2010; Jones, 2003; Mansoor et al., 1999; Mound, 1983; Varma et al., 1992) [25, 39, 46, 79, 92, 102, 136] Các loài trong họ bọ phấn đã và

đang được nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ chú ý trong giao thương buôn bán, xuất nhập khẩu nông sản phẩm cũng như các vật liệu giống cây nông nghiệp, cây cảnh… Sự mắn

đẻ, thích ứng tốt với các điều kiện ngoại cảnh khác nhau, phổ ký chủ rộng cùng với sự vận chuyển giao thương, thương mại của con người ngày càng lớn là những yếu tố quan trọng giúp cho các loài bọ phấn dễ dàng trở thành dịch hại ngoại lai và bùng phát

số lượng thành dịch (Šimala et al., 2009; Srinivasan, 2000) [124, 129]

Cùng với quá trình hình thành các vùng canh tác tập trung, thâm canh cao, đã tạo điều kiện thuận lợi cho bọ phấn gia tăng mật độ cũng như mức độ gây hại Để chống lại sự bùng phát số lượng của những dịch hại này, biện pháp chủ yếu được sử dụng là thuốc hóa học Việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học nhiều và liên tục đã làm cho

bọ phấn dần hình thành tính kháng thuốc hay các biotype sinh học khác nhau để thích

ứng và tồn tại (Chu et al., 2010; Luo et al., 2010; Roditakis et al., 2005) [46, 88, 120] Thí dụ, một số nghiên cứu về bọ phấn thuốc lá Bemisia tabaci đã chỉ ra rằng biotype B

và biotype Q của loài bọ phấn này là các biotype truyền virus hiệu quả nhất và khó

phòng trừ bằng các nhóm thuốc hóa học (Fujiie et al., 2009; Hodges, 2009; Luo et al.,

2010) [57, 73, 88]

Ở Việt Nam, tại nhiều nơi hiện nay có những loài bọ phấn đã và đang gia tăng mức độ gây hại (bọ phấn trên lúa, trên cây vải, cây rau màu,…) Trong khi đó, những hiểu biết về thành phần loài họ bọ phấn ở nước ta còn ít Các kết quả điều tra về

Trang 16

bọ phấn thường được lồng ghép chung với điều tra côn trùng hại cây trồng Gần đây,

có một vài kết quả nghiên cứu về thành phần họ bọ phấn trên cây trồng trong phạm vi hẹp được công bố (Đàm Ngọc Hân, 2012; Lê Quang Khải và cs., 2008; Lê Lân, 2013) [6, 9, 10]

Bọ phấn thuốc lá Bemisia tabaci (BPTL) là một loài sâu hại quan trọng trên

nhiều loại cây trồng Trên cây cà chua, ngoài tác hại trực tiếp, BPTL còn là môi giới truyền virus gây ra hiện tượng xoăn vàng ngọn lá cà chua Cây cà chua có thể bị giảm 20-90% năng suất mà nguyên nhân gây ra chính do BPTL (Ngô Thị Xuyên và Nguyễn Văn Đĩnh 2003; Nguyễn Thơ, 1984) [15, 16] Những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài bọ phấn hại trên cây trồng nói chung và BPTL nói riêng ở nước ta còn rất hạn chế Gần đây, đã có một số nghiên cứu về BPTL trên cây cà chua và cây đậu tương được công bố (Đàm Ngọc Hân, 2012; Hà Quang Hùng

và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2007; Lê Thị Liễu và Trần Đình Chiến, 2004; Trần Đình Phả và cs., 2008) [6, 7, 12, 14] Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đã có chưa đáp ứng được yêu cầu phòng chống loài côn trùng hại này trên cây cà chua và các cây trồng khác

Để góp thêm tài liệu làm cơ sở xây dựng chiến lược phòng chống hiệu quả các loài bọ phấn hại cây trồng nói chung và BPTL hại cây cà chua nói riêng và đáp ứng yêu cầu cấp bách trong sản xuất nông sản an toàn, chúng tôi thực hiện đề tài luận án

“Nghiên cứu thành phần loài họ bọ phấn Aleyrodidae (Homoptera) và đặc điểm

sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá Bemisia tabaci

(Gennadius) hại cây họ cà ở vùng Hà Nội”

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Trên cơ sở xác định thành phần loài họ bọ phấn ở Hà Nội và vùng phụ cận chỉ

ra những loài bọ phấn có mật độ cao, có nguy cơ trở thành dịch hại chính trên các cây trồng

Đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua nhằm góp tài liệu làm cơ sở khoa học để đề xuất và áp dụng các biện pháp

Trang 17

phòng chống loài côn trùng hại này, đạt hiệu quả kinh tế cao đáp ứng yêu cầu sản xuất

cà chua an toàn ở Hà Nội và vùng phụ cận

2.2.Yêu cầu

- Xác định được thành phần loài bọ phấn họ Aleyrodidae hại cây trồng, chỉ ra những loài bọ phấn có nguy cơ trở thành dịch hại chính trên các cây trồng được nghiên cứu ở Hà Nội và phụ cận

- Nghiên cứu được các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ phấn thuốc lá

Bemisia tabaci (BPTL) trên cây họ Cà (Solanaceae)

- Nghiên cứu đề xuất được các biện pháp khả thi phòng chống bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua theo hướng thân thiện với môi trường

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của luận án cung cấp, bổ sung các dẫn liệu khoa học mới về thành phần loài thuộc họ bọ phấn trên cây trồng ở vùng Hà Nội và phụ cận

Kết quả của luận án đã đồng thời cung cấp và bổ sung những dẫn liệu mới về

đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua, cũng

như hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua ở vùng

Hà Nội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về thành phần loài họ bọ phấn đã chỉ ra những loài bọ phấn đang gia tăng quần thể và ý nghĩa kinh tế trên những cây trồng được nghiên cứu Kết quả này làm căn cứ xây dựng kế hoạch nghiên cứu để chủ động đối phó khi chúng bùng phát số lượng Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của BPTL và hiệu quả của các biện pháp BVTV đối với BPTL được trình bày trong luận

án góp thêm tài liệu làm cơ sở để đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả BPTL trên cây cà chua

Kết quả của luận án bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho nghiên cứu khoa học, giảng dạy về côn trùng nông nghiệp trong các trường đại học/cao đẳng nông nghiệp và tập huấn cho nông dân trong phòng chống BPTL

Trang 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Họ bọ phấn Aleyrodidae trên các cây trồng

- Loài bọ phấn thuốc lá Bemisia tabaci

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu thành phần loài họ bọ phấn Aleyrodidae trên các cây lương thực, rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp… ở vùng Hà Nội và phụ cận

Đề tài đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ phấn thuốc

lá Tìm hiểu biến động mật độ và các yếu tố ảnh hưởng đến quần thể bọ phấn thuốc lá trên cây họ Cà Đồng thời nghiên cứu hiệu quả của các biện pháp BVTV trong hạn chế quần thể của bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua

5 Những đóng góp mới của đề tài

- Đã thu thập, xác định được 33 loài bọ phấn hại cây trồng ở vùng Hà Nội và phụ cận, trong đó bổ sung 6 loài bọ phấn cho khu hệ bọ phấn ở Việt Nam Đó là các

loài Aleurocanthus citriperdus, Aleurolobus subrotundus, Crenidorsum micheliae,

Crenidorsum caerulescens, Pealius machili, Tretraleurodes acaciae

- Cung cấp và bổ sung dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ phấn thuốc lá trên cây cà chua, đặc biệt các dẫn liệu mới về khởi điểm phát dục và số thế hệ trong năm của BPTL, bổ sung 23 loài cây ký chủ của bọ phấn thuốc lá

và sự thay đổi đặc điểm hình thái nhộng giả do ảnh hưởng của cây thức ăn đối với bọ phấn thuốc lá

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Họ bọ phấn (Homoptera: Aleyrodidae) là một họ nhỏ so với các họ khác trong bộ cánh đều, nhưng những tác hại mà chúng gây ra đối với sản xuất nông nghiệp trên thế giới lại không hề nhỏ Họ bọ phấn đã được khá nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu (Charles, 1979; Evans, 2008; Hodges and Evans, 2005;

Lee et al., 2005; Martin, 1987, 1999, 2005; Martin et al., 2000; Watson, 2007 [42,

54, 72, 82, 93, 94, 95, 96, 141]

Thành phần loài bọ phấn tương đối đa dạng, ở các vùng địa lý khác nhau có

số lượng loài và số loài gây hại quan trọng không giống nhau Trong đó, loài bọ

phấn mang tính thời sự hơn cả là bọ phấn thuốc lá (BPTL) Loài này đã “phủ sóng”

khắp toàn cầu và trở thành một trong 100 loài dịch hại ngoại lai nguy hiểm và là đối

tượng kiểm dịch thực vật của một số quốc gia (EPPO/CABI, 2004; Lowe et al.,

2004; Stansly and McKenzie, 2008) [56, 87, 125]

Việt Nam nằm trong vùng địa động vật Phương Đông, một khu vực có sự đa dạng bậc nhất về thành phần loài bọ phấn (Evans, 2008) [54] Tại nhiều nơi ở nước

ta hiện nay có một số loài bọ phấn đã và đang gia tăng mức độ gây hại Trong khi

đó, những hiểu biết về thành phần loài bọ phấn trên các cây trồng ở Việt Nam đến nay còn rất hạn chế Muốn hạn chế được tổn thất mùa màng do bọ phấn gây ra cần phải nắm biết được từng loại cây trồng, ở từng nơi, trong từng thời gian có những loài bọ phấn nào gây hại

Bọ phấn thuốc lá Bemisia tabaci là sâu hại quan trọng trên cây cà chua Nó

vừa gây hại trực tiếp vừa là môi giới truyền bệnh virus xoăn vàng ngọn lá cà chua Bệnh virus này thường có tỷ lệ nhiễm cao vào cuối vụ, có khi đạt tới 99,05% và có thể làm giảm 20-90% năng suất cà chua (Ngô Bích Hảo, Hà Viết Cường, 2010; Ngô Thị Xuyên, Nguyễn Văn Đĩnh, 2006; Nguyễn Thơ, 1984) [5, 15, 16]

Quần thể BPTL trên cây cà chua chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường

và sự tác động mạnh mẽ từ các hoạt động canh tác của con người Sự tác động của

Trang 20

các yếu tố này lên quần thể BPTL rất đa dạng và phức tạp, không giống nhau trên cây

cà chua trồng ở các hệ sinh thái khác nhau và ngay tại cùng một nơi nhưng ở các thời điểm khác nhau trong năm Những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của BPTL, hiệu quả hạn chế BPTL của các biện pháp bảo vệ thực vật trên cây cà chua rất cần thiết và là cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng chống BPTL trên cây cà chua một cách hiệu quả theo hướng sản xuất nông sản an toàn

Những nghiên cứu bổ sung một cách đầy đủ hơn nữa về thành phần loài họ bọ phấn hại cây trồng và nghiên cứu một cách hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sự phát sinh, diễn biến số lượng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của BPTLtrên cây cà chua sẽ vừa có ý nghĩa khoa học vừa làm cơ sở cho việc xây dựng biện pháp phòng chống hiệu quả loài sâu hại này phục vụ sản xuất cà chua an toàn ở vùng Hà Nội 1.2 Những nghiên cứu ở ngoài nước

1.2.1 Thành phần loài bọ phấn, phân bố và tác hại của bọ phấn

1.2.1.1 Thành phần loài bọ phấn và phân bố của chúng ở trên thế giới

Số lượng loài bọ phấn đã phát hiện được trên thế giới

Theo Mound và Halsey (1978), trên thế giới có khoảng 1.156 loài bọ phấn thuộc 126 giống đã được định danh (dẫn theo Evans, 2008) [54] Từ năm 1978 đến nay, có nhiều loài mới, giống mới được phát hiện mô tả đặt tên cũng như có nhiều loài đã được giám định và tu chỉnh lại Theo số liệu thống kê gần đây nhất, tổng số loài bọ phấn đã được đặt tên là 1.556 loài Chúng thuộc 161 giống của 3 phân họ Aleurodicinae, Aleyrodinae, Udamoselinae (Evans, 2008) [54]

Sự phân bố của bọ phấn trên thế giới

Sự đa dạng về giống, loài của mỗi phân họ của họ bọ phấn rất khác nhau giữa các vùng địa lý Phân họ Aleyrodinae chiếm số lượng loài lớn với tổng số 1.435 loài thuộc 148 giống trên toàn thế giới Phân họ này ở vùng địa động vật Đông Phương có số lượng loài phong phú nhất với 542 loài thuộc 73 giống Phân

họ này ở vùng Châu Phi có số loài bằng một nửa số loài ở vùng địa động vật Đông Phương (chỉ với 285 loài) Đối với vùng Trung Mỹ và Nam Mỹ, phân họ Aleyrodinae có số lượng giống, loài chỉ gần bằng một nửa số lượng giống, loài của

Trang 21

vùng địa động vật Đông Phương, chỉ với 211 loài thuộc42 giống (Evans, 2008; Watson, 2007) [54, 141]

Giống Aleuroclava của phân họ Aleyrodinae có số lượng loài nhiều hơn cả, với

118 loài Tại vùng địa động vật Đông Phương giống này chiếm vị trí đứng đầu về sự đa dạng loài (với 86 loài) và vùng Đông Âu chỉ có 33 loài Ở các vùng Trung Mỹ, Nam

Mỹ và Tây Âu có nhiều loài là dịch hại ngoại lai thuộc giống Aleuroclava như

Aleuroclava similis, Aleuroclava jasmini Hai giống Aleuroplatus và Trialeurodes

của phân họ này có số loài gây hại ở trong nhà kính nhiều nhất Loài Trialeurodes

vaporariorum có mặt trong nhà kính ở tất cả các vùng địa lý trên thế giới, các loài

khác còn lại của hai giống này có phân bố ở 1-3 vùng địa lý (Evans, 2008) [54]

Phân họ Aleurodicinae gồm 118 loài thuộc 18 giống, phân bố rộng khắp ở tất

cả các vùng trên thế giới Vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ có sự đa dạng về loài của phân

họ này vượt xa rất nhiều so với các vùng còn lại, với 102 loài thuộc 15 giống (chiếm tới 85% tổng số loài của phân họ Aleurodicinae trên toàn thế giới) Ở vùng địa động vật Đông Phương, phân họ Aleurodicinae có số lượng giống, loài rất ít (chỉ

với 18 loài thuộc 5 giống) Giống Aleurodicus của phân họ này ở vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ có số lượng loài nhiều nhất (với 35 loài), tiếp theo là giống Paraleyrodes (với 17 loài) Vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ không có giống Palaealeurodicus, giống

này lại được phát hiện có nhiều loài nhất ở vùng địa động vật Đông Phương với 6 loài trong tổng số 18 loài (Evans, 2008) [54]

Số loài bọ phấn ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ

Ở phía Đông Nam Hoa Kỳ có 76 loài bọ phấn gây hại trên cây trồng Trong

số chúng, có 33 loài là dịch hại quan trọng vừa gây hại trực tiếp cho cây trồng vừa

là vectơ truyền nhiều bệnh virus nguy hiểm Điển hình là các loài Trialeurodes

vaporariorum, Bemisia tabaci,… (Hodges and Evans, 2005) [72]

Khu hệ bọ phấn ở châu Âu không phong phú như ở vùng nhiệt đới, chỉ có khoảng 56 loài thuộc 25 giống bản địa đã được ghi nhận Nhiều loài trong số chúng là những sâu hại rất quan trọng trên các cây trồng nông nghiệp Những loài bọ phấn phổ

Trang 22

biến ở châu Âu gồm bọ phấn nhà kính Trialeurodes vaporariorum, bọ phấn cải bắp

Aleyrodes proletella… (Malumphy and Mifdud, 2012; Martin et al., 2000) [90, 96]

Ấn Độ có thành phần bọ phấn khá phong phú với 290 loài thuộc 57 giống của 2 phân họ Aleyrodinae và Aleyrodicinae Phân họ Aleyrodinae có 286 loài (chiếm tới gần 99% số loài), 16 loài trong số chúng gây hại có ý nghĩa kinh tế Một

số loài đó là Aeurocanthus arecae, Acaudaleyrodes rachipora, Aleurocanthus

rugosa, Shinghiella pallida, Aleurolobus barodensis (Sundararaj, 1992) [128]

Trung Quốc đã phát hiện được 200 loài bọ phấn, nhưng không có nhiều loài

bọ phấn gây hại trên cây trồng nông nghiệp, cây cảnh Các loài bọ phấn

Aleurocanthus spiniferus, Bemisia tabaci, Dialeurodes citri, Trialeurodes vaporariorum được ghi nhận là khá phổ biến và gây hại có ý nghĩa kinh tế trên cây

ăn quả có múi (CAQCM) và một số cây trồng khác (Ko, 1999) [81] Đài Loan đã nghiên cứu thành phần loài họ bọ phấn từ những năm 1930-1940 và đã ghi nhận được khoảng 100 loài bọ phấn, nhưng gần đây đã ghi nhận được 125 loài (Charles, 1979) [42] Những nghiên cứu về thành phần loài họ bọ phấn ở Hàn Quốc không liên tục Đến năm 1994, tại Hàn Quốc mới chỉ ghi nhận được 7 loài bọ phấn Gần đây, đã bổ sung thêm được 15 loài, nâng tổng số các loài bọ phấn ở nước này lên 22

loài Trong đó, loài bọ phấn nhà kính Trialeurodes vaporariorum và BPTL Bemisia

tabaci là những đối tượng gây hại quan trọng nhất trên cây rau màu ở Hàn Quốc

(Lee et al., 2005; Suh and Hodges., 2005, 2008) [82, 126, 127] Ở Australia số loài

bọ phấn cũng khá phong phú, đến năm 1999 đã xác định được 101 loài thuộc 40

giống Trong các loài bọ phấn đã xác định được thì bọ phấn nhà kính Trialeurodes

vaporariorum được ghi nhận là loài gây hại phổ biến, có ý nghĩa kinh tế trên nhiều

loại cây rau màu Ngoài ra, bọ phấn Orchamoplatus citri cũng là loài gây hại kinh tế trên các cây ăn quả có múi (Martin, 1999) [94]

Số lượng loài bọ phấn đã phát hiện được theo cây trồng

Trên cây lúa chỉ có 1 loài bọ phấn gây hại, đó là loài Vasdavidius indicus

Trên cây sắn có 12 loài bọ phấn gây hại và tùy theo từng vùng địa lý mà sự gây hại của những loài bọ phấn này ở các mức độ khác nhau Tại vùng Trung và Nam Mỹ

Trang 23

có tới 11 loài bọ phấn sử dụng cây sắn làm thức ăn Các loài bọ phấn

Aleurotrachelus socialis, Trialeurodes variabilis, Aleurothrixus aepim, Bemisia tuberculata và Bemisia tabaci được xem là các loài dịch hại có ý nghĩa kinh tế trên

cây sắn ở Bắc và Nam Mỹ (Bellotti, 2008) [34] Trên CAQCM đã ghi nhận được 22 loài bọ phấn gây hại (Watson, 2007) [141] Tại bang Florida (Hoa Kỳ) đã có 16 loài

bọ phấn dinh dưỡng trên CAQCM Trong đó, các loài Dialeurodes citri,

Dialeurodes (Singhiella) citrifolii, Aleurothrixus floccosus là những dịch hại thường

xuyên, gây hại có ý nghĩa kinh tế (Hodges and Evans, 2005) [72]

Có 3 loài bọ phấn được ghi nhận ở các vùng trồng bông của Australia Đó là

bọ phấn nhà kính Trialeurodes vaporariorum, BPTL biotype B và BPTL bản địa

Chỉ có BPTL biotype B thường xuyên có mật độ cao trên đồng ruộng và có thể gia tăng quần thể nhanh chóng, 2 loài bọ phấn còn lại sự hiện diện và gây hại của chúng

thấp hơn nhiều so với BPTL biotype B (Martin, 1999) [94]

Sự lan truyền của các loài bọ phấn

Quá trình toàn cầu hoá, giao thương buôn bán và du lịch quốc tế ngày một gia tăng đã làm gia tăng sự xâm nhập và lây lan của những loài sinh vật tới các vùng cách rất xa so với nơi bản xứ của chúng (Fishpool and Burban, 1994; Martin, 1999;

Muniappan, 2009; Šimala, 2009) [59, 94, 106, 124] Ví dụ, bọ phấn Aleurodicus

dispersus Russell có nguồn gốc ở vùng Caribbean Sau đó, Aleurodicus disperses

lần lượt được ghi nhận ở bang Florida (1957), Hawaii (1978), Guan (1981) Tại châu Á, loài bọ phấn này được phát hiện ở Philippine (1981), Indonesia (1991), Ấn

Độ năm (1993), Bangladesh năm (1997) và ở Trung Quốc (2006) (Aiswariaya et al.,

2007; Mani, 2010; Muniappan, 2009; Srinivasa, 2000) [24, 91, 105, 129]

1.2.1.2 Tác hại của bọ phấn đối với cây trồng ở trên thế giới

Tùy từng cây trồng, mùa vụ và điệu kiện thời tiết mà thiệt hại do bọ phấn gây

ra có thể đạt 20-100% Ở vùng ôn đới, khi mật độ bọ phấn nhà kính T

vaporariorum đạt cao, thiệt hại năng suất có thể tới 20-25% (Gregory et al., 2007)

[69] Đối với vùng nhiệt đới, bọ phấn Aeurotrachelus socialis gây tổn thất sản lượng sắn từ 5,42% đến 79% Loài Trialeurodes variabilis gây thiệt hại tới 58% sản

Trang 24

lượng sắn ở vùng Andean phía Bắc của Nam Mỹ (Bellotti, 2008; Morales and

Anderson, 2001; Qudri et al., 2010; Watson, 2007) [34, 104, 118, 141]

Ngoài sự gây tác hại trực tiếp, BPTL còn là môi giới truyền hơn 110 loài

virus gây bệnh cho thực vật Tùy từng vùng địa lý mà BPTL có thể truyền những

loài virus khác nhau cho cây trồng (D’ Almeida et al., 1998; Gold et al., 1991) [49,

65] Các bệnh virus do BPTL lan truyền có thể gây thiệt hại 20-100% sản lượng cây trồng tùy thuộc vào loại cây trồng, mùa vụ và vùng địa lý BPTL truyền virus gây bệnh khảm lá và sọc đen trên cây sắn ở châu Phi, Ấn Độ Các bệnh này có thể gây

ra thiệt hại tới 90-95% năng suất BPTL truyền bệnh khảm lá sắn làm sản lượng sắn năm 2003 ở Châu Phi giảm tới 30-40%, tương đương 1,9-2,7 triệu USD Năm 1981-1982 ở California (Hoa Kỳ), một số diện tích dưa bị nhiễm BPTL đã gần như không cho thu hoạch Năng suất cà chua ở Florida năm 1990-1991 đã giảm tới 20%

do BPTL đã truyền virus đốm lá cà chua (Alegbejo, 2001; Bedford et al., 1994; Brown and Bird, 1992; Brown, 2007; Chu et al., 2008; Chu et al., 2010; Cohen and Nizany, 1960; Harison et al., 1997; Johnson et al., 1982; Jones, 2003; Legg et al.,

1999; Legg and Fauguet, 2004;Varma et al., 1992; Watson, 2007) [25, 33, 38, 39,

45, 46, 47, 70, 78, 79, 84, 85, 136, 141]

1.2.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của BPTL

Đặc điểm sinh vật học của BPTL

Thời gian phát dục các pha và thời gian vòng đời của BPTL được nhiều tác giả

ở trên thế giới nghiên cứu (Drost et al.,1998; Fekrat and Shishehbor, 2007; Gerling et

al., 1986; Gerling and Mayer1995; Horowitz anGerling, 1992; Saraf et al., 1985;

Watson, 2007) [51, 58, 60, 61, 76, 123, 141] Thời gian phát dục các pha của BPTL được nghiên cứu với cây thức ăn là cây bông, cà chua, cà pháo, dưa chuột, bí ngô và đậu ở nhiệt độ nằm trong khoảng 7,8 - 30oC Trong đó, mức nhiệt độ được nghiên cứu nhiều hơn cả là 25oC, khoảng nhiệt độ thích hợp cho bọ phấn phát triển là 25-30oC

(Bosco and Caciagli, 1998; Drost et al., 1998; Yang and Chi, 2006) [36, 51, 144]

Tập tính hoạt động sống: Trưởng thành BPTL thường vũ hoá vào buổi sáng,

trưởng thành đực mất một đến vài giờ ve vãn và kết đôi với trưởng thành cái

Trang 25

Trưởng thành cái thường đẻ trứng trên những lá non và bị hấp dẫn bởi màu vàng, chúng không phản ứng với những hợp chất nặng mùi Trưởng thành bay với khoảng cách ngắn tức là bay từ những lá già phía thấp nơi bọ phấn vũ hóa lên những lá non trên cao, từ lá này sang lá khác, từ cây này sang cây khác trong ruộng tìm nơi thích hợp để chích hút dịch cây và đẻ trứng Trưởng thành thường xuyên bay như vậy theo đường vòng xoắn với khoảng cách dưới 4 m vào thời gian từ sáng tới giữa trưa Trưởng thành bay với khoảng cách dài khi chúng bay lên cao khỏi mặt tán cây trồng

và bị gió cuốn đi, gió có thể cuốn chúng lên cao hàng chục mét và đi xa vài km Hướng bay của bọ phấn được quyết định bởi gió và sau khi chúng đậu ngẫu nhiên trên các cây trồng và đi tìm những cây ký chủ phù hợp để gây hại Ấu trùng tuổi 1

có thể bò một khoảng cách rất ngắn đi tìm vị trí thích hợp để định vị vị trí gây hại

Ấu trùng tuổi 2 và tuổi 3 hầu như không di chuyển, chúng dính sát vào mặt sau của

lá cây nhờ tuyến sáp xung quanh cơ thể (Berlinger, 1986; Watson, 2007) [35, 141]

Thời gian phát dục các pha và vòng đời: Thời gian phát dục của trứng 6 - 7

ngày Ấu trùng có 3 tuổi, tuổi mỗi tuổi kéo dài 2-3 ngày Pha nhộng giả kéo dài 6 - 7 ngày ở điều kiện nhiệt độ 25oC Ở nhiệt độ 36oC trứng không thể nở được Nhiệt độ tối đa cho BPTL phát triển là 52oC, nhiệt độ tối thích cho sự phát triển là 25-28oC

(Berlinger, 1986; Gerling and Mayer1995; Sharaf et al., 1985; Wagner, 1995) [35,

61, 123, 137] Các tác giả Fekrat và Shishehbor (2007), Sharaf et al (1985) [58, 123]

đã nghiên cứu thời gian phát dục của BPTL trên cây cà chua ở nhiệt độ 22-23oC và

30oC Với 2 mức nhiệt độ nghiên cứu này đã cho thấy thời gian phát dục các pha của BPTL khác nhau Ở nhiệt độ 22-23oC thời gian phát dục của trứng BPTL là 7,5 ngày, khi nhiệt độ tăng lên 7oC (tức là ở 30oC) thời gian phát dục của trứng (7,17 ngày) Giai đoạn phát dục của 3 tuổi ấu trùng ở nhiệt độ 22-23oC là 9,1 ngày lại ngắn hơn so với ở mức 30oC (11,42 ngày) Giai đoạn nhộng giả có thời gian phát dục là 5 ngày ở nhiệt độ 22-23oC, nhưng rút ngắn chỉ còn 2,48 ngày ở nhiệt độ 30oC

Sinh sản của BPTL: nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy những trứng

được đẻ trong giai đoạn đầu, khi trưởng thành cái BPTL mới vũ hóa sẽ phát triển

Trang 26

thành cá thể cái nhiều hơn so với những trứng được đẻ ở giai đoạn trưởng thành cái

đã già Khi trưởng thành cái được giao phối trong suốt quá trình sống của chúng thì thế hệ sau cũng sẽ có nhiều cá thể cái hơn so với trưởng thành cái chỉ giao phối với trưởng thành đực duy nhất 1 lần sau khi chúng vũ hóa Đối với BPTL, trưởng thành cái có thể đẻ trứng mà không cần giao phối Khi trưởng thành cái không giao phối sẽ

đẻ trứng không được thụ tinh và những trứng này phát triển thành cá thể đực Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái dao động rất lớn, trung bình một trưởng thành cái

có thể đẻ từ 28 đến 300 trứng Trên cây bông, ở điều kiện nhiệt độ 28,5oC trưởng thành cái đẻ trung bình 252 trứng, ở nhiệt độ 22,7oC là 204 trứng, ở nhiệt độ 14,3oC

là 61 trứng BPTL không đẻ trứng ở nhiệt độ 14,9oC và ở 32,2oC đẻ 72 trứng (Azab et

al., 1971; Fekrat and Shishehbor, 2007; Horowitz and Gerling, 1992) [30, 58, 76]

Phổ ký chủ của BPTL: BPTL là sâu hại chính trên các cây sắn, bông, khoai

lang, thuốc lá và cà chua ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới BPTL không chỉ hại cây trồng ở ngoài đồng mà còn gây hại trên cả những cây trồng trong nhà kính như

ớt, bí ngồi, dưa chuột, rau diếp, trạng nguyên, cà chua ở tất cả các vùng trên thế giới Ở phạm vi địa lý nhỏ, Mound và Halsey (1978) ghi nhận được BPTL gây hại trên 300 cây trồng thuộc 63 họ thực vật (dẫn theo Evans, 2008) Vào năm 1993 đã ghi nhận BPTL gây hại trên khoảng 600 loại cây trồng Cho đến năm 2007, số loài

ký chủ của BPTL được bổ sung lên đến 900 loài thực vật thuộc nhiều họ thực vật khác nhau (DoAF, 2008; Greathead, 1986; Jones, 2003; Li et al., 2011; Ma et al.,

2007; Morales and Anderson, 2001) [50, 68, 79, 86, 89, 104]

* Đặc điểm sinh thái học của BPTL

Ảnh hưởng của yếu tố thời tiết

Thời gian phát dục các pha và vòng đời của BPTL phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ Thời gian vòng đời của BPTL thường kéo dài 25-50 ngày ở điều kiện đồng ruộng Ở mức nhiệt độ 25 và 27,5oC vòng đời của BPTL lần lượt là 23,6 và 17,8 ngày Một thí nghiệm khác theo dõi sự phát dục của BPTL ở nhiệt độ 30oC, ẩm độ 55% cho thấy vòng đời của BPTL được rút ngắn lại chỉ còn 14,9; 20,0 và 14,2 ngày

Trang 27

khi nuôi ở điều kiện nhiệt độ với các ký chủ tương ứng là cà tím, cà chua và khoai tây (Fekrat and Shishehbor, 2007) [58]

Yếu tố nhiệt độ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng đẻ trứng và tuổi thọ của trưởng thành BPTL Nuôi trên cây bông, ở nhiệt độ 25,5oC một trưởng thành cái đẻ trung bình được 171,6 trứng và ở nhiệt độ 30oC một trưởng thành cái chỉ đẻ được 95,5 trứng Tuổi thọ trung bình của trưởng thành giảm từ 22,8 ngày ở 25,5oC xuống còn 9,5 ngày ở 30oC (Gerling and Mayer, 1995) [61]

Ảnh hưởng của thức ăn: tuỳ từng cây thức ăn, hình thái của lá cây (lá dính, lá

có lông, lá nhẵn), độ pH của dịch lá cây mà một số đặc điểm hình thái các pha trước trưởng thành của bọ phấn có thể khác nhau Ở loài BPTL, hình dạng lông, lông cứng, vị trí mọc của lông cứng của ấu trùng và nhộng giả thay đổi phụ thuộc vào lá cây ký chủ có lông hay không lông (Watson, 2007) [141]

Trong cùng một điều kiện nhiệt, ẩm độ (30ºC, 60% ẩm độ) với các cây thức

ăn là cà tím, cà chua và khoai tây, thời gian phát dục của trứng khác xa nhau Trên cây cà tím, cà chua, khoai tây thời gian phát dục của trứng tương ứng là 4,28 ngày, 7,17 ngày và 4,25 ngày Tương tự, thời gian phát dục của 3 tuổi ấu trùng trên 3 ký chủ nói trên tương ứng là 8,01; 11,42 và 7,61 ngày Đến giai đoạn nhộng giả thời gian phát dục của BPTL trên cây khoai tây đạt ngắn nhất (1,96 ngày) còn trên cây

cà tím và cà chua thời gian này là 2,59 và 2,48 ngày Như vậy, thời gian phát dục từ trứng đến nhộng giả của BPTL trên 3 cây ký chủ nói trên tuần tự là 14,95; 20,07 và 14,25 ngày (Fekrat and Shishehbor, 2007) [58]

Tỷ lệ giới tính của BPTL biến động khá lớn phụ thuộc nhiều yếu tố Theo

Sharaf et al (1985), tỷ lệ cái:đực đạt cao nhất trên cây cà pháo (1,63:1), trên bí ngô,

đậu xanh, dưa chuột tỷ lệ này tương ứng là 1,55:1; 1,46:1; 1,13:1 và đạt thấp nhất trên cây cà chua (1,07:1) Khi theo dõi 9.963 ấu trùng và trưởng thành bọ phấn thuốc lá được thu thập trên cây cà chua, cà pháo, dưa chuột, rau họ thập tự, bí ngô, cây bông, lạc, đậu xanh, đậu Hà Lan ở 13 địa điểm khác nhau ở Florida (Hoa Kỳ),

số lượng trưởng thành cái luôn nhiều hơn trưởng thành đực, tỷ lệ giới tính cái:đực

Trang 28

không khác nhau giữa các ký chủ và giao động từ 1:0,63 trên đậu đến 1:0,91 trên

cây dưa chuột (Mckenzie et al., 2004) [99]

Các cây ký chủ khác nhau cũng có tác động nhất định đến sự sống sót của ấu trùng BPTL Tỷ lệ chết của ấu trùng trên cây bí đạt cao nhất (27,35%) và trên cây cà

pháo đạt thấp nhất (12,08%) (Sharaf et al., 1985) [123]

Ảnh hưởng của thiên địch: tập hợp thiên địch của BPTL khá phong phú, bao bồm 19

loài bắt mồi, 28 loài ký sinh và 4 loài nấm gây bệnh Ở vùng Địa Trung Hải, những

loài thiên địch phổ biến của BPTL thuộc hai giống Eretmocerus và Encarsia Những

loài ong ký sinh này thường có tỷ lệ ký sinh khá cao (gần 60%) khi mật độ BPTL thấp Ngược lại, khi BPTL bùng phát số lượng thì tỷ lệ ký sinh của các ong này lại

thấp (chỉ vài phần trăm) Các loài bắt mồi của BPTL (bọ rùa Serangium

parcesetosum, Clitostethus arcuatus, bọ mắt vàng Chrysoperla carnea, bọ xít bắt mồi Orius spp.) có tần suất bắt gặp khá cao trên đồng ruộng, nhưng tập hợp các loài bắt

mồi này lại rất hiếm khi có đỉnh cao quần thể trong năm Điều đó có nghĩa là tập hợp thiên địch kể trên không thể kìm hãm sự phát triển của quần thể BPTL trên đồng

ruộng (Gerling et al., 1986; Gerling, 1996) [63, 62] Trong nhà lưới, ong Encarsia

formosa có thể kìm hãm quần thể BPTL gây hại trên cây cà chua (Matsui, 1992) [97]

Trên cây sắn trồng trong mùa khô ở Uganda, mật độ loài bọ rùa Serangium sp tăng

dần từ đầu vụ đến cuối vụ và đạt cao nhất vào 7 tháng sau trồng Đỉnh cao mật độ của loài bọ rùa này trùng khớp với cao điểm mật độ của BPTL trên đồng ruộng Thời gian phát dục của bọ rùa này cũng tương đồng với thời gian phát dục của BPTL Do đó,

loài bọ rùa Serangium sp được đánh giá là loài có khả năng khống chế mật độ BPTL trên đồng ruộng (Asiimwe et al., 2007) [29]

1.2.3 Các biện pháp phòng trừ bọ phấn

1.2.3.1 Biện pháp canh tác

Nghiên cứu về biện pháp canh tác trong phòng chống bọ phấn còn hạn chế Hầu hết các nghiên cứu đều khuyến cáo nên bố trí thời vụ tránh với thời điểm thuận lợi cho bọ phấn phát triển, không nên bón quá nhiều phân đạm, thường xuyên kiểm tra hàm lượng magiê, lân, để giảm thiểu sự hấp dẫn bọ phấn đến gây hại Bố trí thời

Trang 29

vụ hoặc trồng xen đều làm giảm tác hại của bọ phấn Trên cùng cánh đồng, cây dưa chuột được trồng trước cây cà chua 30 ngày đã có hiệu quả hạn chế bệnh xoăn vàng

lá cà chua do BPTL lan truyền (Cohen and Melamed-Madjar, 1978) [48] Trồng xen

cây sắn với đậu đũa làm giảm số lượng trứng của 2 loài bọ phấn Aleurotrachelus

socialis và Trialeurodes variabilis xuống 70% so vùng độc canh cây sắn Hay khi

trồng độc canh cây sắn sản lượng giảm tới 60% trong khi cây sắn được trồng xen với cây đậu đũa sản lượng chỉ giảm 12% so với đối chứng Cánh đồng sắn trồng có hàng rào bằng cây bông, cây Jatropa làm giảm số lượng trứng, ấu trùng cũng như

trưởng thành BPTL trên cây sắn (Ewusie et al., 2010; Gold et al., 1989) [55, 64]

đã tác động đến sự ưa thích ký chủ của BPTL Giống cải bắp lá bóng có lượng phấn

lá ít là đặc điểm mà BPTL ít ưa thích hơn so với giống cải bắp lá không bóng và cải

bắp lai hai giống cải bắp trên (Jackson et al., 2000) [77] Mật độ trưởng thành và ấu

trùng của BPTL có mối tương quan thuận khá chặt với mật độ và chiều dài lông trên phần phiến lá, gân lá và gân chính của lá bông Những giống bông lá có nhiều lông, mật độ BPTL thường cao hơn những giống bông lá nhẵn (Aslam and Misbah, 2003;

Bashir et al., 2001; Ellsworth et al., 1993; Norman and Sparks, 1996, 1997; Raza et

al., 2000) [28, 32, 52, 111, 112, 119] Tại Nigeria, khi khảo sát tập đoàn sắn trên

Trang 30

đồng ruộng, đã phát hiện ra hai dòng sắn 96/1089A và TMS 30572 bị nhiễm BPTL ở mức thấp nhất trong các dòng giống sắn được khảo nghiệm ở các vùng khác nhau

(Ariyo et al., 2005) [27]

Một số tác giả khác tiến hành lai tạo cây dại có gen kháng BPTL với cây trồng để tạo ra những giống cây trồng có khả năng kháng hay chống chịu với BPTL Các dòng bí ngô khác nhau được thụ phấn với hai loài bí hoang dại để tạo giống có khả năng kháng BPTL Thông qua triệu chứng bạc lá bầu bí đã không tìm được mối quan hệ giữa mật độ BPTL gây hại và triệu chứng bạc lá trên các giống bí lai khảo

nghiệm (McAuslane et al., 1996) [98]

Một vài nguồn gen kháng bọ phấn thuốc lá đã được tìm thấy và giải mã cơ

chế hoạt động của chúng trong cây bí Curcubita moschata và cây C maxima

Những nguồn gen này đang được nghiên cứu trong điều kiện nhà kính và được so

sánh với giống bí ngô Braxin đang được trồng đại trà trong sản xuất (Alves et al.,

2005; Gonzalez-Roman and Beaver, 2002; Beaver, 1997; Beaver and Paris, 2000) [26, 66, 142, 143]

Wessel-1.2.3.3 Biện pháp thủ công và cơ giới vật lý

Bẫy dính màu vàng là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để thu bắt

trưởng thành BPTL Melamed-Madjar et al (1982) [101] đã dùng bẫy dính màu

vàng để thu bắt trưởng thành BPTL Tác giả này đã xác định được số lượng trưởng thành BPTL vào bẫy dính màu vàng và số lượng ấu trùng tìm thấy trên lá cây bông

có mối tương quan tuyến tính (r = 0,91; p = 0,01) Kết quả nghiên cứu về biến động

số lượng trưởng thành bọ phấn thuốc lá vào bẫy và số lượng ấu trùng trên lá cà chua trong nhà kính của Matsui (1992) [97] cũng cho thấy giữa chúng có một mối tương quan thuận với hệ số r = 0,88 ở độ tin cậy 95%

Nombela et al.(2003) [108] đã thử nghiệm ba loại bẫy dính màu vàng đối với BPTL gây hại cà chua trong nhà kính Loại bẫy dính màu vàng thứ nhất có kích

thước 12,5 x 7,5 cm được gắn với 2 bóng điện có bước sóng 530 nm 10 lumen, mỗi bóng điện gắn vào một mặt của bẫy dính Loại bẫy dính màu vàng thứ hai là giấy bóng kính cứng màu vàng uốn thành hình cốc, chất dính được quét trên bề mặt bên

Trang 31

trong của bẫy với một bóng điện màu xanh có bước sóng 530 nm Loại bẫy dính màu vàng thứ 3 có kích thước 12,5 x 7,5 cm không thắp ánh sáng Kết quả cho thấy

số lượng trưởng thành BPTL vào bẫy dính màu vàng có ánh sáng (loại bẫy thứ nhất) nhiều hơn so với bẫy dính màu vàng thứ ba (không thắp sáng), nhưng sự khác nhau này không có ý nghĩa so sánh ở các ngày thí nghiệm Một thí nghiệm khác với bẫy dính màu vàng hình cốc có ánh sáng xanh và bẫy dính màu vàng loại thứ ba không

thắp sáng được treo trên cùng một địa điểm Số lượng trưởng thành BPTL, ong ký sinh Eretmocerus mundus và Diglyphus sp vào bẫy dính vàng loại thứ ba nhiều hơn

so với bẫy dính màu vàng hình cốc có ánh sáng xanh Do vậy, tác giả đã khuyến cáo

sử dụng bẫy dính màu vàng hình cốc có ánh sáng xanh để bẫy trưởng thành BPTL đồng thời bảo vệ được ong ký sinh trong nhà kính

Gerling et al (1986) [60] đã dùng máy hút bụi để hút trưởng thành bọ phấn

thuốc lá Biện pháp này đã phát huy hiệu quả Theo các tác giả này, số lượng trưởng thành BPTL thu bắt được bằng máy hút bụi và số lượng ấu trùng quan sát trực tiếp bằng mắt trên đồng ruộng có mối tương quan thuận khá chặt (r=0,99; p<0,001) Do

đó, có thể dùng máy hút bụi để thu bắt trưởng thành BPTL trong nhà lưới

1.2.3.4 Biện pháp sinh học

Sử dụng côn trùng và nhện bắt mồi

Từ những năm 1980, biện pháp hóa học dần bộc lộ những yếu điểm trong phòng trừ BPTL Từ đó, các biện pháp phi hóa học khác được chú trọng và được xem như là một biện pháp hữu hiệu, an toàn, có tác động lâu dài trong phòng trừ BPTL Tập hợp kẻ thù tự nhiên của BPTL khá phong phú, chúng gồm 115 loài chân khớp thuộc 31 họ của 9 bộ Nhiều loài côn trùng bắt mồi được nghiên cứu, đánh giá khả năng tiêu thụ con mồi, nhân nuôi và thương mại hóa để hạn chế sự phát triển

của quần thể BPTL Một trong số chúng là các loài Delphastus catalinae và

Serangium parcesetosum (Coccinellidae), Macrolophus caliginosus (Miridae), Chrysoperla carnea và C rufilabris (Chrysopidae) (Abboud and Ahmad, 1998;

Asiimwe et al., 2007; Breene et al., 1992; Gerling et al., 2001; Kapadia and Puri, 1992; Legaspi et al., 1996; Muhlberger and Maignet, 1999; Obrycki and Kring,

Trang 32

1998; Patel et al., 1996; Timofeyeva and Nhuan, 1979; Uygun et al., 1997; Zaki et

al., 1999) [23, 29, 37, 63, 80, 83, 103, 114, 115, 131, 135, 145]

Bọ xít mù thuốc lá Nesidiocoris tenuis vừa là loài loài ăn thực vật (sâu hại) vừa là thiên địch của nhiều loài bọ phấn và một số sâu hại khác (Perdikis et al.,

2009; Sanchez and Lacasa 2008; Sanchez 2009; Urbaneja, 2005) [116, 121, 122,

134] Thí nghiệm của Calvo et al (2009) [41] đã cho thấy loài bọ xít N tenuis ở mật độ 0,1 con/cây hoặc 4 con/cây trong lô thí nghiệm 8 m2 có khả năng làm giảm quần thể BPTL đến 90% Các tác giả này đã tính được mối tương quan giữa mật độ

BPTL, mật độ N tenuis và ngưỡng gây hại kinh tế, cũng như lập được phương trình

tương quan giữa mật độ ấu trùng bọ xít với những vết thâm đen trên cây cà chua do

bọ xít gây ra là y= 15,086x – 0,6359

Vùng Trung Đông và Ấn Độ có 11 loài nhện nhỏ bắt mồi là kẻ thù tự nhiên

của BPTL Các loài Neoseiulus barkeri Hughes, Typhlodromus athiasae (Poarth and Swirski), Typhlodromips swirskii (Athias-Henriot), Euseius scutalis (Athias- Henriot), Phytoseius finitimus Ribaga được đánh giá tỷ lệ gia tăng quần thể tự nhiên trong quần thể BPTL Bước đầu nhận thấy hai loài bắt mồi T swirskii và E scutalis

có thể được sử dụng như các tác nhân sinh học trong phòng chống BPTL hại cây

trồng (Nomikou et al., 2001, 2002) [109, 110]

Sử dụng ong ký sinh

Đã ghi nhận được ong Encarsia lutea (Masi) và Eretmocerus mundus là ký sinh chính của BPTL Các loài ong khác thuộc giống Encarsia như E inarn, E

formosa inarn, E Formosa, E partenopea được ghi nhận có ký sinh trên BPTL ở

Israel, Kirk và Crete, nhưng rất không thường xuyên Tập hợp ong ký sinh thường có

phản ứng chậm trễ đối với sự gia tăng số lượng của BPTL Khi BPTL đạt mật độ rất

cao thì tỷ lệ ký sinh chỉ đạt vài phần trăm Ngược lại, khi BPTL ở mật độ thấp thì tỷ

lệ ký sinh của tập hợp ong ký sinh lại đạt cao và có thể tới 60% (Gerling, 1996) [62]

BPTL là dịch hại ngoại lai đối với vùng Địa Trung Hải và nhiều vùng khác trên thế giới Do đó, ở các vùng này, thành phần kẻ thù tự nhiên của BPTL khá nghèo nàn, vai trò khống chế số lượng BPTL của chúng rất không đáng kể Các loài ong ký

Trang 33

sinh BPTL ở Israel và vùng Địa Trung Hải chủ yếu thuộc giống Eretmocerus và

Encarsia, nhưng không phải là những loài ký sinh chuyên tính Trước thực trạng đó

đã nhập nội các loài ong ký sinh Eretmocerus mundus, Encarsia lutea,… Sau 3 năm

nhập nội, những loài ong ký sinh này đã thích nghi và đã tạo lập được quần thể và góp phần hạn chế sự bùng phát số lượng của BPTL

Quá trình nhập nội, thuần hóa một số loài ong ký sinh Eretmocerus mundus,

E hayati và E Emiratus nr emiratus… ký sinh BPTL ở Hoa Kỳ, Tây Ban Nha,

Ethiopia,… đã thu được thành công hơn so với vùng Địa Trung Hải Sau 4 năm thử

nghiệm nhân thả, quần thể các loài ong ký sinh Eretmocerus spp., đã tăng lên đáng

kể Kết quả điều tra năm 1999 trên đồng bông ở vùng Imperial cho thấy các loài ong

ký sinh nhập nội hiện diện đến 74% tổng số các cánh đồng được khảo sát và chiếm 25% tổng số ong ký sinh thu được Sự hiện diện này đã gấp 2 lần so với năm 1998

Sau một số năm, các loài ong ký sinh Eretmocerus emiratus, E emiratus nr

emiratus, E mundus, và Encarsia sophia đã thiết lập được quần thể trong vùng và

hạn chế được sự gây hại của BPTL (Gould et al., 2008; Hoelmer and Goolsby, 2002; Zaki et al., 1999) [67, 74, 145]

Sử dụng nấm ký sinh

Ba tác nhân gây bệnh cho côn trùng là Verticillium lecanii, Entomophthora

virulenta và Beauveria basiana đã được đưa vào thử nghiệm trong phòng trừ BPTL

Trong 10 ngày đầu của lần phòng trừ thứ nhất đã không quan sát thấy sự thay đổi nào hay dấu hiệu chết của ấu trùng và nhộng giả BPTL Chỉ đến ngày thứ 21 sau lần sử

dụng thứ 2 ở công thức dùng nấm Beauveria basiana mới thấy triệu chứng ấu trùng

chết khô và tỷ lệ ấu trùng chết đạt 69% Tuy nhiên, trên những cá thể ấu trùng chết này cũng không thể tìm thấy bào tử nấm gây bệnh (Cisneros and Mujica, 1998) [43]

1.2.3.5 Biện pháp hóa học

Thuốc trừ sâu hoá học đã và đang đóng vai trò chính trong việc hạn chế mật

độ của một số loài bọ phấn mỗi khi chúng bùng phát thành dịch ở một số nơi trên thế giới, trong đó có loài BPTL Trong các thập niên qua, nhiều loại thuốc trừ sâu thuộc các nhóm cacbarmat, lân hữu cơ, pyrethroids, neonicotinoids, pyriproxyphen

Trang 34

đã được sử dụng một cách rộng rãi, thường xuyên và liên tục để phòng trừ BPTL hại cây trồng ở điều kiện đồng ruộng cũng như trong nhà kính (Barro, 1995;

Houndété et al., 2010; Luo et al., 2010; Nichols et al., 2009; Roditakis et al., 2005)

[31, 75, 88, 107, 120]

Các thí nghiệm trong phòng đã xác định được hoạt chất spiromesifen (thuốc trừ sâu axít tetronic) có tính độc cao đối với BPTL trên cây dưa hấu và cây cải bắp Hoạt chất spiromesifen có hiệu lực rất cao không chỉ đối với ấu trùng tuổi nhỏ mà

cả với ấu trùng tuổi 3 và nhộng giả BPTL Tỷ lệ chết của ấu trùng đạt gần 100% Hoạt chất spiromesifen độc nhẹ đối với trưởng thành BPTL, tỷ lệ chết của trưởng thành biến động 4,5-15,1% trên cây dưa hấu và 25,1-37% trên cây cải bắp Chất spiromesifen không độc với trứng của BPTL, chỉ gây tỷ lệ chết cho trứng là 2,8-6,3% trên cây dưa hấu và 2,9-6,4% trên cây cải bắp Nhưng, những trứng BPTL đã

bị xử lý chất spiromesifen nở ra ấu trùng tuổi 1 thì hầu hết những ấu trùng này bị chết rất nhanh Thí nghiệm ngoài đồng đối với spiromesifen ở 4 liều lượng khác nhau (96, 112, 114 và 149 g ai/ha) được tiến hành trên cây dưa hấu và cây cải bắp Hai hoạt chất thiamethoxam và buproferin được dùng để so sánh Kết quả đã cho thấy trên cây dưa hấu, chất spiromesifen thích hợp với việc phun lên lá ở liều lượng

112 và 149 g ai/ha Chất spiromesifen có hiệu quả phòng trừ BPTL tương đương với các hoạt chất thiamethoxam và buproferin Trên cây cải bắp, chất spiromesifen

ở ba liều lượng 96, 114 và 149 g ai/ha cho hiệu quả phòng trừ tương tự như chất buproferin (Tong, 2003) [132]

Từ năm 1993, imidacloprid được sử dụng phòng trừ BPTL trên cây dưa, cây rau và các cây trồng trong nhà kính bằng cả hai phương pháp phun lên lá và bón vào đất Trên cây dưa, imidacloprid được sử dụng theo phương pháp bón vào đất tại thời điểm trồng, phương pháp này đã có hiệu quả phòng trừ kéo dài đến 45-60 ngày Sự

sử dụng imidacloprid trong phòng trừ bọ phấn thuốc lá liên tục, kéo dài trong nhiều năm liền trên địa bàn rộng lớn đã làm cho quần thể BPTL có những phản ứng rất

khác nhau với loại thuốc hóa học này (Nichols et al., 2009) [107]

Trang 35

Chất chống lột xác có hiệu quả tương đối cao trừ BPTL Thí nghiệm đối với

ấu trùng BPTL trên cây khoai lang tại thung lũng Cañete (Peru) năm 1998 cho thấy

buproferin có hiệu lực khá dài, khả năng diệt trừ ấu trùng BPTL đạt đến 98% vào ngày thứ 14 sau khi phun (mật độ ấu trùng bọ phấn giảm từ 32,1 con/cm2 lá xuống còn 0,9 con/cm2) Hiệu lực trừ ấu trùng BPTL vẫn đạt 76-88,5% vào ngày thứ 21 sau phun Chất buproferin được kết hợp với rotenone hay pyrethrin đã không làm tăng tỷ lệ chết của ấu trùng BPTL Với hỗn hợp các hoạt chất nói trên, hiệu quả phòng trừ BPTL sau 7 ngày của lần phun thứ hai đạt hơn 90%: mật độ ấu trùng BPTL ở công thức xử lý là 0,6-0,8 con/cm2, ở đối chứng là 13,3 con/cm2 (Cisneros and Mujica, 1998) [43] Trên cây bông, thuốc trừ sâu acetamiprid có hiệu quả phòng trừ BPTL cao hơn nhóm thuốc điều hòa sinh trưởng pyriproxyphen và buprofezin đối với tất cả các giai đoạn phát dục của BPTL Tuy nhiên, dưới tác động của acetamiprid, 6 trong 14 quần thể của các loài thiên địch phổ biến như

Geocoris punctipes, Orius tristicolor, Chrysoperla carnea, Collops vittatus, Hippodamia convergens và Drapetis nr divergens bị suy giảm Ngược lại, khi sử

dụng nhóm thuốc điều hòa sinh trưởng chỉ có 1 loài thiên địch bị suy giảm quần thể

so với đối chứng Trong công thức phòng trừ bằng acetamiprid tỷ lệ loài bắt mồi/con mồi bị suy giảm so với công thức sử dụng thuốc điều hòa sinh trưởng và công thức đối chứng Các loài ong ký sinh hầu như không bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng các thuốc hóa học kể trên Đã khuyến cáo nên sử dụng nhóm thuốc điều hòa sinh trưởng trong phòng trừ BPTL, nhưng cần có chiến lược trong sử dụng thuốc

phòng trừ loài sâu hại này, chỉ nên sử dụng thuốc 1 lần trong 1 năm (Naranjo et al., 2004; Nichols et al., 2009) [106, 107].

Bọ phấn thuốc lá có khả năng hình thành tính kháng thuốc cao Sử dụng liên tục trong thời gian dài một loại thuốc hay một nhóm thuốc hóa học dẫn đến sự hình thành tính kháng thuốc ở BPTL Đã ghi nhận BPTL có tính kháng thuốc đối với các hoạt chất acetamiprid, α-cypermrthrin, bifenthrin, chlorpyrifos, deltamethrin, dimethoate, endosulfan, imidacloprid, pirimiphos-methrin, pymetrozine, thiamethoxam Tính kháng thuốc của BPTL đã hình thành đối với cả nhóm thuốc

Trang 36

điều hòa sinh trưởng (buproferin, pyriproxyphen) hay các hoạt chất thế hệ mới (abamectin) tại những nơi sử dụng liên tục các loại hóa chất này Bọ phấn thuốc lá không chỉ kháng với một loại thuốc trừ sâu mà còn kháng thuốc chéo với nhiều loại

thuốc hóa học đang được sử dụng trong sản xuất (Cahill et al., 1996; Houndété et

al., 2010; Luo et al., 2010; Nichols et al., 2009; Roditakis et al., 2005; Wang and

Wu, 2007; Wang et al., 2010) [40, 75, 88, 107, 120, 139, 140]

1.2.3.6 Biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM

Để phòng chống loài sâu hại nguy hiểm này, không thể chỉ áp dụng một biện pháp riêng lẻ mà cần phải có sự kết hợp hài hòa các biện pháp Theo Ellsworth và Jose (2001) [53], chiến lược phòng trừ tổng hợp bọ phấn thuốc lá trên cây bông cần kết hợp linh hoạt và mềm dẻo 3 yếu tố cơ bản: lấy mẫu để phát hiện BPTL, sử dụng thuốc hóa học một cách hiệu quả và những vấn đề cần quan tâm

Việc lấy mẫu xác định chính xác mật độ BPTL có trên đồng ruộng đóng vai trò rất quan trọng đối với quyết định thời điểm phòng trừ Sử dụng thuốc hóa học hiệu quả bao gồm cả việc lựa chọn thuốc hợp lý, xác thời điểm phòng trừ dựa trên ngưỡng gây hại kinh tế và quản lý tính kháng ở BPTL Những vấn đề cần quan tâm bao gồm chế độ tưới nước, dinh dưỡng, thời vụ, giống cây trồng, hiểu biết sinh học, sinh thái học của sâu hại (Morales and Cermeli, 2001) [146] Thực tế cho thấy có mối quan hệ khá chặt chẽ giữa nước - cây trồng - BPTL, khi cây trồng bị hạn nặng

thì gia tăng quần thể BPTL nhưng khi cây trồng được tưới tiêu hợp lý thì quần thể BPTL giảm mạnh (Nuessly et al., 1994) [113].

1.3 Những nghiên cứu ở trong nước

1.3.1 Thành phần loài bọ phấn, phân bố và tác hại của bọ phấn

1.3.1.1.Thành phần loài bọ phấn đã phát hiện được ở Việt Nam

Số lượng loài của họ bọ phấn đã phát hiện được

Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào chuyên điều tra về thành phần loài bọ phấn (Aleyrodidae) trên quy mô cả nước hay theo những vùng sinh thái riêng biệt

mà chỉ có những nghiên cứu theo cây trồng hay trong phạm vi một vài tỉnh của miền Bắc Trong các cuộc điều tra cơ bản 1967 - 1968, 1977 - 1978, 1997 - 1998

Trang 37

của Viện Bảo vệ thực vật [17, 19, 20] đã ghi nhận được 7 loài bọ phấn Những nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), Lê Quang Khải và cs (2008) [2, 9] đã

ghi nhận thêm được 2 loài Aleurodicus dispersus và Ochamoplatus citri Đàm Ngọc

Hân (2012) [6] đã ghi nhận được 33 loài bọ phấn ở vùng Hà Nội Nghiên cứu trên cây ăn quả có múi, Lê Lân (2013) [10] đã ghi nhận được 9 loài bọ phấn Tổng hợp kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy ở Việt Nam đã phát hiện được 39 loài

bọ phấn, trong đó có 11 loài có tần suất bắt gặp cao Đó là các loài Aleurocanthus

spiniferus, Aleuroclava jasmini, Aleuroclava subindica, Aleurolobus marlatii, Aleurotrachelus sp., Bemisia breyniae, Bemisia tabaci, Dialeurodes citri, Dialeuropora decempuncta, Parabemisia myricae và D citrifolii

Số lượng loài bọ phấn đã phát hiện được theo cây trồng

Theo nhiều kết quả nghiên cứu, chỉ có 3 loài bọ phấn (B tabaci, B

formosana và Aleurocybotus indicus) phát hiện được trên nhóm cây lương thực,

trên cây thực phẩm phát hiện được 3 loài thuộc giống Bemisia, trên công nghiệp

phát hiện được 13 loài, trên cây ăn quả phát hiện được 28 loài và cây cảnh phát hiện được 12 loài (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000; Đàm Ngọc Hân, 2012; Lê Quang Khải và cs., 2008; Viện Bảo vệ thực vật, 1976, 1999a,

1999b) [1, 2, 6, 9, 17, 19, 20] Các loài B tabaci, B breyniae, Pealiu mori,

Aleurocanthus spiniferus, Dialeurodes citri, Aleuroclava jasmini và D citrifolii là

những loài bọ phấn gây hại phổ biến trên các cây trồng ở vùng Hà Nội Loài BPTL

có phổ ký chủ rất rộng, đã ghi nhận sự hiện diện của nó ở trên 41 loại cây trồng

thuộc cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp và cây cảnh

1.3.1.2 Sự gây hại của bọ phấn đối với cây trồng

Sự gây hại và tổn thất mùa màng do các loài bọ phấn

Những thiệt hại kinh tế, năng suất hay sản lượng cây trồng do bọ phấn gây ra

ở nước ta chưa được nghiên cứu Bọ phấn chích hút chất dinh dưỡng, đồng thời thải dịch tiết lên trên bề mặt lá, quả của cây, tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển Điều này làm giảm khả năng quang hợp của cây cũng như giá trị thương phẩm của

sản phẩm Một số loài như A disperses và B tabaci còn là môi giới truyền bệnh

Trang 38

virus cho cây trồng Tháng 9 năm 2010, trên các cánh đồng mía tại tỉnh Phú Yên có

bùng phát sự gây hại của loài bọ phấn Aleurolobus barodensis Maskell, bọ phấn gây

hại ở mặt dưới của lá làm cho lá trở nên vàng, mất diệp lục dẫn đến khô héo và chết Cây mía sinh trưởng còi cọc, hàm lượng đường giảm mạnh, năng suất mía ước tính

có thể giảm đến 65% [22] Loài bọ phấn lúa Aleurocybotus sp gây ra các triệu

chứng trên lúa như lá lúa mất diệp lục chuyển sang màu vàng, cây phát triển kém, lá non bị xoắn lại, giai đoạn lúa làm đòng, lá đòng bị xoắn làm bông không thể trỗ thoát, nếu bông trỗ thoát hạt lại bị lép hoàn toàn (Cục Bảo vệ thực vật, 2013) [4]

Sự gây hại và tổn thất mùa màng do BPTL

Cho đến nay những ghi nhận về thiệt hại do BPTL gây ra ở Việt Nam còn rất

ít và tản mạn Ngoài tác hại trực tiếp, BPTL còn là môi giới truyền rất nhiều loại virus cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là bệnh xoăn vàng ngọn cà chua Bệnh xoăn vàng ngọn cà chua gây thiệt hại năng suất 80-90%, bệnh này chỉ lan truyền qua môi giới truyền bệnh là BPTL (Nguyễn Thơ, 1984) [16] Kết quả lây bệnh nhân tạo qua môi giới truyền bệnh là BPTL trên 5 giống cà chua cho thấy tỷ lệ biểu hiện bệnh từ

40 đến 100% đối với các giống BM199, Grandeeva 3963, DV 2962 (Ngô Bích Hảo,

Hà Viết Cường, 2010) [5] Theo Ngô Thị Xuyên và Nguyễn Văn Đĩnh (2006) [15], bệnh virus xoăn vàng lá cà chua có liên quan mật thiết với mật độ BPTL và tỷ lệ bệnh vào cuối vụ đạt 99,05% Ở Việt Nam, BPTL phổ biến trên cây sắn Tuy nhiên bệnh khảm lá và sọc đen trên cây sắn vẫn chưa được nghi nhận trên tất cả các vùng trồng sắn ở nước ta (Trịnh Xuân Hoạt, 2012; Viện BVTV, 1999a) [133, 19]

1.3.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ phấn

Đặc điểm sinh vật học của các loài bọ phấn

Ở trong nước có 4 loài bọ phấn (bọ phấn trắng Aleurocybotus sp., bọ phấn gai đen diềm trắng Aleurocanthus spiniferus, bọ phấn gai đen A woglumi và BPTL

B tabaci) đã được nghiên cứu đặc điểm sinh vật học trên một số cây trồng ở các

mức nhiệt độ, độ ẩm khác nhau (Cục Bảo vệ thực vật, 2013; Lê Quang Khải và cs., 2008; Lê Lân, 2013; Nguyễn Văn Liêm, Nguyễn Thị Kim Hoa, 2007) [4, 9, 10, 11] Các loài này đều trải qua 4 pha phát dục (trứng, ấu trùng, nhộng giả và trưởng

Trang 39

thành) Ấu trùng có 3 tuổi Tùy từng loài và điều kiện nhiệt độ mà thời gian phát dục của các giai đoạn của bọ phấn dài hoặc ngắn khác nhau

Đối với loài bọ phấn trắng Aleurocybotus sp và BPTL B tabaci, trứng được đẻ rải rác hoặc thành từng cụm, còn 2 loài thuộc giống Aleurocanthus trứng lại được đẻ

thành vòng xoáy ốc, thời gian phát dục của trứng kéo dài 6-18 ngày tùy từng loài

Bọ phấn trắng Aleurocybotus sp gây hại trên lúa có vòng đời kéo dài 17-24 ngày, bọ phấn gai đen diềm trắng Aleurocanthus spiniferus nuôi trên cây cam có vòng đời là 57-84 ngày và vòng đời của bọ phấn gai đen A woglumi là 53-64 ngày

(Cục BVTV, 2013; Lê Quang Khải và cs., 2008; Nguyễn Văn Liêm, Nguyễn Thị Kim Hoa, 2007) [4, 9, 11]

Khả năng đẻ trứng của trưởng thành rất biến động giữa các cá thể trong loài

và cá thể các loài khác nhau Ví dụ, loài bọ phấn trắng Aleurocybotus sp có thể đẻ được 7-100 trứng, loài A spiniferus có thể đẻ được 10-108 trứng Tuổi thọ của

trưởng thành thường khá ngắn (2-8 ngày) trong điều kiện nhiệt độ mùa hè 27-30oC (Cục Bảo vệ thực vật, 2013; Lê Quang Khải và cs., 2008; Nguyễn Văn Liêm, Nguyễn Thị Kim Hoa, 2007) [4, 9, 11]

Đặc điểm sinh thái học của các loài bọ phấn

Phần lớn các nghiên cứu về bọ phấn ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của một số loài mà chưa quan tâm nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học Các loài bọ phấn được nghiên cứu ở Việt Nam đều là các loài đa thực, gây hại trên nhiều loại cây ăn quả và cây cảnh Riêng loài bọ phấn

trắng Aleurocybotus sp mới chỉ được phát hiện gây hại trên cây lúa Điều kiện nhiệt

độ 24oC rất thích hợp cho bọ phấn giống Aleurocanthus phát triển và gia tăng tuổi

thọ của pha trưởng thành Ở điều kiện nhiệt độ này, tỷ lệ nở của trứng cũng cao hơn

so với điều kiện nhiệt độ 30oC Kết quả điều tra về diễn biến mật độ của bọ phấn gai

đen diềm trắng A spiniferus trên cây cam canh và bưởi diễn tại Hà Nội cho thấy

loài bọ phấn này gây hại quanh năm và có 4 cao điểm về mật độ, nhưng từ cuối mùa xuân và mùa hè là thời gian thuận lợi cho loài này phát triển (Lê Quang Khải và cs., 2008; Nguyễn Văn Liêm, Nguyễn Thị Kim Hoa., 2007) [9, 11]

Trang 40

Đặc điểm sinh vật học của BPTL

Ở nước ta, đặc điểm sinh vật học của BPTL đã được một số các tác giả nghiên cứu (Đàm Ngọc Hân, 2012; Hà Quang Hùng và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2007; Lê Thị Liễu và Trần Đình Chiến, 2004; Trần Đình Phả và cs., 2008) [6, 7, 12, 14] Lê Thị Liễu và Trần Đình Chiến (2004) [12] đã thực hiện thí nghiệm xác định thời gian phát dục các pha của BPTL ở nhiệt độ 25oC với ẩm độ 85% và 27,09oC

ẩm độ 74,42% Trong điều kiện như vậy, thời gian phát dục các pha trứng, ấu trùng, nhộng giả, tương ứng là 5-6 ngày, 8 ngày và 5 ngày Vòng đời của BPTL kéo dài khoảng 20-32 ngày (trung bình 25,87 ngày) Trưởng thành có thể sống 5-20 ngày với ký chủ là cây cà chua Cũng trên cây cà chua, kết quả nghiên cứu của Trần Đình Phả và cs (2008) [14] chỉ mới xác định được thời gian phát dục của BPTL từ giai đoạn trứng cho đến khi vũ hóa trưởng thành là 19,75 ngày mà chưa xác định được thời gian phát dục cho mỗi pha phát dục cũng như tuổi ấu trùng

Khả năng đẻ trứng của BPTL được ghi nhận khá giống nhau giữa các tác giả, trung bình một cá thể trưởng thành cái đẻ được 72-90 trứng Hầu hết các nghiên cứu

về sinh học của BPTL được thực hiện trên cây cà chua và dưa chuột ở điều kiện ôn

ẩm độ không ổn định (Hà Quang Hùng và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2007; Lê Thị Liễu, Trần Đình Chiến, 2004; Trần Đình Phả và cs., 2008) [7, 12, 14]

BPTL đã được nuôi trên cây đậu tương ở 5 mức nhiệt độ khác nhau là 17, 21,

25, 29 và 33oC với độ ẩm 80-85% Kết quả thí nghiệm đã đưa ra được những chỉ tiêu về thời gian phát dục các pha, vòng đời và khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái, hệ số nhân của 1 thế hệ (Ro), thời gian của 1 thế hệ tính theo tuổi mẹ (Tc), tỷ lệ tăng tự nhiên (rm)… (Đàm Ngọc Hân, 2012) [6] Tuy nhiên, các chỉ số tỷ lệ sống (lx), sức sinh sản (mx) và giá trị lx x mx liên quan đến bảng sống không được trình bày Điều này làm cho các chỉ tiêu sinh học nói trên thiếu tính thuyết phục

Đặc điểm sinh thái học của BPTL

BPTL là loài đa thực, chúng gây hại trên rất nhiều loại cây thực phẩm Tuy nhiên tùy từng loại ký chủ khác nhau mà mật độ BPTL cao thấp khác nhau Trên cùng cánh đồng trồng dưa chuột và cây rau họ hoa thập tự, mật độ BPTL trên cây dưa chuột

Ngày đăng: 17/12/2014, 23:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Đặc điểm phân loại nhộng giả bọ phấn - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 2.1. Đặc điểm phân loại nhộng giả bọ phấn (Trang 47)
Hình 3.2. Aleurocanthus citriperdus Quaintance and Baker 1916 - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.2. Aleurocanthus citriperdus Quaintance and Baker 1916 (Trang 71)
Hình 3.3. Aleurolobus subrotundus Silvestri 1927 - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.3. Aleurolobus subrotundus Silvestri 1927 (Trang 71)
Hình 3.4. Crenidorsum caerulescens (Singh) 1931 - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.4. Crenidorsum caerulescens (Singh) 1931 (Trang 72)
Hình 3.5. Crenidorsum micheliae (Takahashi) 1932 - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.5. Crenidorsum micheliae (Takahashi) 1932 (Trang 72)
Hình 3.6. Dialeurodes sens stricto sp. - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.6. Dialeurodes sens stricto sp (Trang 73)
Hình 3.10. Loài Tretraleurodes acaciae (Quaintance) 1900 - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.10. Loài Tretraleurodes acaciae (Quaintance) 1900 (Trang 74)
Bảng 3.6 Tỷ lệ giới tính ở ngoài đồng ruộng của BPTL trên cây họ Cà tại Mê - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Bảng 3.6 Tỷ lệ giới tính ở ngoài đồng ruộng của BPTL trên cây họ Cà tại Mê (Trang 86)
Bảng 3.13. Tỷ lệ chết của BPTL nuôi trên cây thức ăn khác nhau - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Bảng 3.13. Tỷ lệ chết của BPTL nuôi trên cây thức ăn khác nhau (Trang 103)
Hình 3.13. Diễn biến mật độ BPTL tổng số (ấu trùng, nhộng giả và trưởng thành) - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.13. Diễn biến mật độ BPTL tổng số (ấu trùng, nhộng giả và trưởng thành) (Trang 105)
Hình 3.14. Diễn biến mật độ BPTL tổng số trên các cành lá khác nhau - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.14. Diễn biến mật độ BPTL tổng số trên các cành lá khác nhau (Trang 106)
Hình 3.15. Diễn biến mật độ BPTL trên cà chua xuân hè tại Mê Linh - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.15. Diễn biến mật độ BPTL trên cà chua xuân hè tại Mê Linh (Trang 109)
Bảng 3.16. Mật độ ấu trùng, nhộng giả và trưởng thành BPTL trên các giống cà - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Bảng 3.16. Mật độ ấu trùng, nhộng giả và trưởng thành BPTL trên các giống cà (Trang 116)
Bảng 3.20. Thành phần thiên địch của BPTL trên cây cà chua - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Bảng 3.20. Thành phần thiên địch của BPTL trên cây cà chua (Trang 125)
Hình 3.3. Vòng đời của bọ phấn thuốc lá B. tabaci - tiến sỹ nghiên cứu thành phần loài bọ phấn aleyrodidae (homoptera) và đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ bọ phấn thuốc lá bemisia tabaci (gennadius) hại cây họ cà ở vùng hà nôi
Hình 3.3. Vòng đời của bọ phấn thuốc lá B. tabaci (Trang 157)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w