Tình hình thâm hụt ngân sách nước ta hiện nay ở mức cao và có nhiều biến động. Thâm hụt ngân sách có mối quan hệ hai chiều với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam được thể hiện bởi hệ số tương quan giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế song hệ số này thường mang giá trị âm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ-LUẬT
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2014
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò quản lý và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế - xã hội của nhà nước được đề cao hơn bao giờ hết Để đảm trách vai trò này, nhà nước phải nắm bắt các công cụ tài chính - tiền tệ, trong đó cân đối ngân sách nhà nước được xem là một trong những công cụ sắc bén để nhà nước canthiệp toàn diện vào nến kinh tế Nói đến ngân sách nhà nước thì không thể không nói đến tình trạng thâm hụt ngân sách_căn bệnh kinh niên của mọi nhà nước Ngay
cả khi Hoa Kỳ- một trong những cường quốc có nền kinh tế đứng đầu thế giới hiện nay cũng phải đối mặt với vấn đề này và tất nhiên Việt Nam là một nước không ngoại lệ
Mức độ thâm hụt ngân sách ở nước ta đang có xu hướng gia tăng và ngày càng tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân cũng như toàn bộ nền kinh tế Hay nói cách khác đay chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sach tài khóa và tiền tệ
Nghiên cứu về thâm hụt ngân sách , mối quan hệ thâm hụt ngân sách cũng như chỉ số kinh tế vĩ mô tăng trưởng kinh tế được nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế trong và ngoài nước
Vậy thâm hụt ngân sách nhà nước là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách diễn ra ở Việt Nam trong 5 năm trở lại đây như thế nào? Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh tế ra sao? Giải pháp nào để xử lý thâm hụtngân sách nhà nước, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? Bài thảo luận này với đề tài "Thâm hụt ngân sách Việt Nam giai đoạn gần đây ( 5 năm qua) và mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh
tế ” là quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu hỏi trên
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN A- Khái niệm sách nhà nước :
+ là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được các cơ quan thẩm quyền của nhà nước quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
-NSNN bao gồm:
+ NSNN trung ương
+ NSNN địa phương
B- Các trạng thái quan ngân sách chính phủ :
- Mối tương giữa thu và chi NSNN trong một năm tài khóa được biểu hiện qua 3 trạng thái sau :
+ NSNN cân bằng : nhà nước huy động nguồn thu vừa đủ để trạng thái
chi tiêu
+ NSNN thặng dư: thu ngân sách lớn hơn chi ngân sách Nhà nước đã
huy động nguồn lực quá mức cần thiết hoặc không xây dựng được chương trình chitiêu hợp lí tương ứng với số thu hoặc kinh tế phát triển thịnh vượng làm tăng thu ngân sách ngoài dự toán và nhà nước có thể chủ động phân bố thặng dư cho nhữngnăm tiếp theo
+ NSNN thâm hụt: tức là chi NSNN lớn hơn thu NSNN, trong trường
hợp này, thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi Nguyên nhân có thể do nhà nước được nhu cầu chi cho phù hợp với khả năng, cơ cấu chi tiêu dùng và đầu tư không hợp lí gây lãng phí Có thể do nền kinh tế suy thoái theo chu kì hoặc ảnh hưởng bởi thiên tai hay chiến tranh, thu NSNN giảm sút tương đối so với nhu cầu chi để phục hồi nền kinh tế
C- Phân loại thâm hụt ngân sách :
+ Thâm hụt ngân sách thực tế: đó là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số thu thực tế trong thời kì nhất định
+ Thâm hụt ngân sách cơ cấu: đó là thâm hụt tính tóan trog trường hợp nền kinh tế họat động ở mức SLTN khi cơ cấu thu chi không cân đối
Trang 4+ Thâm hụt ngân sách chu kì: đó là thâm hụt ngân sách bị động do tình trạng của chu kì kinh doanh
D- Tăng trưởng kinh tế :
+ Tăng trưởng kinh tế: Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ,
mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng
+ Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về mặt số lượng; đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, mặc dù nó cũng giúp cho xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của công dân, của xã hội
+ Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kì sau so với thời kì trước:
Yo: Tổng sản lượng thời kì trước
Y1: Tổng sản lượng thời kì sau
Mức tăng trưởng tuyệt đổi : delta = Y1 - Yo
Mức Tăng trưởng tương đối: = Y1/ Yo
Trang 5CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH CỦA
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
1 Thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam trong những năm gần đây
và hàng nhập lậu (đối với mặt hàng thuốc lá)
Do thâm hụt ngân sách B=T-G, trong đó T là nguồn thu thuế, G là chi tiêu công của Chính phủ, nên khi G tăng nhanh hơn T dẫn đến B giảm Nói cách khác, thu không đủ chi là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thâm hụt ngân sách cơ cấu
Trang 6(-6.9%) Tuy nhiên, tình trạng thâm hụt này không đáng lo ngại bởi đây là sự đầu
tư lâu dài cho sự phát triển kinh tế xã hội, nhằm nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài của ngân sách nhà nước
Năm 2010, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước đã được cải thiện đáng
kể Tỷ lệ thâm hụt ngân sách đã giảm xuống -5.6%, thấp hơn năm trước 1,3% song con số này vẫn khá cao so với các nước châu Á
-Năm 2011, tình trạng thâm hụt ngân sách cũng có những chuyển biến tích cực, tỷ lệ thâm hụt chỉ còn 4.9%, thấp hơn năm 2010 0.7% Con số đó đã phản ánh
sự nỗ lực của Chính phủ trong việc tăng các nguồn thu từ xuất-nhập khẩu, thu từ dầu thô và thu nội địa, tăng từ 456.500 tỷ đồng lên 590.000 tỷ đồng
Lúc này, T tăng nhanh nên hiệu số B=T-G đã được cải thiện (Theo số liệu của Tổng TTĐT Bộ Tài chính-
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungsolieungansachnhanuoc?categoryId=10000500&articleId=10002558)
-Năm 2012, tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước đã giảm nhẹ 0.1% xuống còn 4.8% Đó là do tuy tổng thu ngân sách nhà nước tăng nhanh (từ 595 tỷ đồng năm
2011 lên 740.5 tỷ đồng) song tổng chi cũng theo đó tăng mạnh (từ 725.6 tỷ đồng năm 2011 lên 903.1 tỷ đồng)
Trong trường hợp này, T tăng song G cũng tăng nên hiệu số B không có nhiều chuyển biến
-Năm 2013, tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước có dấu hiệu tăng trở lại, ước tính 5.3%, tăng 0.5% so với 2012 Mặc dù tổng thu tăng cao (lên mức 816.000 tỷ đồng) song con số này chỉ phản ánh sự tăng lên của nguồn thu thuế (Nguyên nhân của hiện tượng này là do tác động của sự tăng lên của mức giá chung của các loại hàng hóa dịch vụ Nói cách khác, bản chất của nguồn thu tăng là do ảnh hưởng của
Trang 7Trong khi đó, tổng chi năm 2013 là 978.000 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với tổng thu Tổng thu tăng chậm hơn tổng chi (tức T tăng chậm hơn G) chính là
nguyên nhân khiến tỉ lệ thâm hụt ngân sách năm 2013 tăng trở lại
2.Nguyên nhân tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước
Nguyên nhân chung
+ Tác động khách quan của kinh tế thế giới:
Sự suy giảm nguồn vốn FDI
Suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn diễn ra
Thị trường tài chính vẫn tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế đang phát triển do các nền kinh tế phát triển sẽ rút bỏ dần các biện pháp nới lỏng định lượng
-Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản hoạt động trì trệ
Mặt khác, yếu tố thiên nhiên như bão lũ, dịch bệnh là một trong những nguyên nhân không hề nhỏ dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước (Vd bão số 1 đổ bộ vào BàRịa- Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh, Bão Sơn tinh đổ bộ ngày 25/10…)
Năm 2011
-Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu khiến tình hình kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, đà phát triển chậm lại, từ đó khiến tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn
Trang 8-Tuy nhiên, nhờ nỗ lực của Chính phủ trong việc tăng các nguồn thu từ nhập khẩu, thu từ dầu thô và thu nội địa mà tình trạng thâm hụt ngân sách đã được cải thiện.
xuất-3.Giải pháp cho vấn đề thâm hụt ngân sách:
a) Phát hành tiền
Khi ngân sách nhà nước thâm hụt,Chính phủ có thể tài trợ số thâm hụt của mình bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở,đặc biệt là trong trường hợp nền kinh tế đất nước suy thoái.Khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năngthì việc tài trợ số thâm hụt của chính phủ bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ
sở sẽ góp phần thực hiện những mục đích của chính sách ổn định hoá kinh tế thông qua việc đưa nền kinh tế tiến đến gần mức sản lượng tiềm năng mà không gây lạm phát Ngược lại,khi nhu cầu của nền kinh tế quá mạnh (sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng) thì chính phủ không nên tài trợ số thâm hụt của mình bằng cách tăng nhanh lượng tiền cơ sở ,vì như vậy sẽ càng kích tổng cầu lên cao vàđẩy sản lượng thực tế vượt xa mức sản lượng tiềm năng,hậu quả là làm tăng lạm phát
Ưu điểm của biện pháp này là nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần Nhưng, nhược điểm của biện pháp này lại lớn hơn rất nhiều lần Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi Trong những năm 80 của thế kỷ
20, nước ta đã bù đắp bội chi ngân sách nhà nước bằng cách in thêm tiền đưa vào lưu thông Việc này đã đẩy tỷ lệ lạm phát đỉnh điểm lên tới hơn 600%, nền kinh tế
bị trì trệ Chính vì những hậu quả đó, biện pháp này rất ít khi được sử dụng Và từ năm 1992, nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước
b) Vay nợ
Vay trong nước và vay nước ngoài: Trong nỗ lực bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước, giải pháp thường được sử dụng là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài Nó được phản ánh bằng việc pháthành tín dụng nhà nước Tín dụng nhà nước là một họat động thuộc lĩnh vực tài chính tiền tê, gắn liền với hoạt động ngân sách Nhà nước, nó phản ánh mọi quan hệtín dụng, giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế xã hội, với dân cư và nước ngoài, bao gồm cả tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
*Vay nợ trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái.
Công trái phiếu là chứng chỉ nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán
hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội vàngân hàng Ở Việt Nam chính phủ thường ủy nhiệm cho Kho Bạc nhà nước phát hành trái phiếu chính phủ dưới các hình thức:
Trang 9- Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dưới một năm, được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm tài chính
- Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách nhà nước xuất phát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế
- Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm và được phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định đã được ghi trong kế hoạch đầu tư của nhà nước Đối với Việt Nam, công trái là hình thức huy động vốn có hiệu quả, qua các đợt phát hành với chính sách lãi suất và thời hạn hoàn trả hợp lý đã huy động được nguồn vốn to lớn vào ngân sách nhà nước đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nước góp phần chống lạm phát và
ổn định nền kinh tế xã hội
*Viện trợ và vay nợ nước ngoài:
- Viện trợ nước ngoài: bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại với lãi suất thấp và thời hạn trả nợ dài hơn so với các khoản vay trên thị trường quốc tế Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chứcliên chính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốnviện trợ phát triển chính thức (ODA) Nguồn viện trợ này được các tổ chức quốc tế chủ động phân bổ theo những tiêu chuẩn do Liên Hợp Quốc qui định đối với các loại quỹ chung hoặc do các tổ chức quốc tế chuyên ngành cấp đối với các loại quỹ
ủy thác trên cơ sở các dự án xây dựng trước của nước nhận viện trợ Nhìn chung, viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đang thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vấn đề quan trọng ở đây là các nước nhận viện trợ cần có phương án sử dụng vốn viện trợ có hiệu quả
-Vay nợ nước ngoài: là những khoản cho vay của nước ngoài theo điều kiện thương mại và lãi suất thị trường Vay nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng xuất khẩu (khi nhà nước mua hàng của nước ngoài nhưng được hoãn trả
nợ trong một thời gian nhưng phải chịu lãi suất trên khoản nợ đó) và vay từ các ngân hàng thương mại nước ngoài Cũng giống như nguồn vốn viện trợ, vay nợ nước ngoài là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điểm khác nhau là do vay theo điều kiện thương mại phải chịu lãi suất tương đối cao, vì vậy việc tính toán sử dụng nguồn vốn này cho có hiệu quả là hết sức cần thiết, khoản vay nợ này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách
c) Tăng thuế
Trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không dễ áp dụng và rất tốn kém Tăng thuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng của nền kinh tế, phụ thuộc vào hiệu quả làm việc của hệ thống thu,phụ thuộc vào hiệu suất của từng sắc thuế Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì tăng thuế
Trang 10không những không khả thi mà còn cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh,trực tiếp làm tăng số lượng nợ đọng thuế của các doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng tài chính không lành mạnh và làm giảm nguồn thu ngân sách.
d) Cắt giảm chi tiêu
Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự
án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết
e) Dự trữ ngoại tệ
Quỹ dự trữ ngọai tệ là lượng ngoại tệ mà ngân hàng trung ương hoặc cơ quanhữu trách tiền tệ của một quốc gia hoặc một lãnh thổ nắm giữ dưới dạng ngoại tệ nhằm thanh toán quốc tế hoặc hỗ trợ đồng tiền quốc gia Chính phủ có thể sử dụng việc giảm dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách Ưu điểm của việc này là dựtrữ hợp lý có thể giúp quốc gia tránh được khủng hoảng Tuy nhiên, việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ để tài trợ thâm hụt ngân sách lại tiềm ẩn nhiều rủi ro và phải hếtsức hạn chế sử dụng Vì nếu khu vực tư nhân cho rằng nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia hết sức mỏng mảnh, thì sự mất niềm tin vào khả năng mà chính phủ có thểcan thiệp vào thị trường ngoại hối có thể dãn đến một dòng vốn ồ ạt chảy ra thế giới bên ngoài, làm cho đồng nội tệ giảm mạnh giá và làm tăng sức ép lạm phát Kết hợp với việc vay nợ nước ngoài ở trên, việc giảm quỹ dự trữ ngoại tệ cũng sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm suy yếu sức cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong nước
Trang 11CHƯƠNG III TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA NƯỚC TA TRONG GIAI
ĐOẠN 2009 ĐẾN NAY
1.Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2009.
1.1.Phân tích:
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước:
Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây;nhưng quý II, quý III và quý IV của năm 2009, tốc độ tăng tổngsản phẩm trong nước đã nâng dần lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9% Tính
chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%, bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%
Bảng số liệu tổng sản phẩm trong nước năm 2009 theo giá so sánh 1994 (đơn vị: %)
Phân theo khu vực kinh tế Phân theo quý trong năm TổngNông lâm
và thủy sản
Công nghiệp
và xây dựng
Dịch vụ
Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý
Trang 121.2.Nguyên nhân
Bước sang năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn và thách thức Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã đẩy kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác của nước ta.Tuy nhiên nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhạy bén, kịp thời, tập trung và quyết liệt của Đảng, Chính phủ; sự nỗ lực và chủ động khắc phục khó khăn, sự sáng tạo của các Bộ, Ngành, địa phương, các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và của toàn dân nên nước ta đã ngăn chặn được suy giảm kinh tế, càng về cuối năm càng nâng cao được tốc độ tăng trưởng Trên cơ sở số liệu 11 tháng và ước tính tháng 12, Tổng cục Thống kê khái quát kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009 của cả nước trên ba mặt:
(1) Ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững;
(2) Giữ ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại;
(3) Bảo đảm an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác
2.Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2010
2.1.Phân tích.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước cao hơn năm 2009
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so với năm
2009, trong đó quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IVtăng 7,34% Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm 2008 và caohơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu đề ra 6,5%
Trang 13Bảng số liệu tổng sản phẩm trong nước năm 2010 theo giá so sánh năm 1994 (đơn vị: %)
Phân theo khu vực kinh tế Phân theo quý trong năm TổngNông,
lâmnghiệp
và thủy
sản
Côngnghiệp
và xâydựng
Dịch vụ Quý
1
Quý2
Quý3
Quý4
Trang 14Biểu đồ thể hiện tăng trưởng kinh tế các quý trong năm 2009-2010
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm 2010
là cơ sở và đặt nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2011, năm đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-
2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020
Chính trong bối cảnh như vậy nên từ đầu năm, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách cùng các giải pháp vànhiệm vụ cụ thể, trong đó trọng tâm và trực tiếp là Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày
15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của