1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

những biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng song, mây, tre của công ty tnhh duy nhất

45 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 184 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động xuất khẩu hàng song mây tre của Công ty TNHH Duy NhấtM C L CỤC LỤC ỤC LỤC Trang Phần 1 Những vấn đề cơ bản về kinh doanh xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp thương mại trong nề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI : NHỮNG BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT

KHẨU HÀNG SONG, MÂY, TRE CỦA CÔNG TY TNHH DUY NHẤT

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Mão

Sinh viên: Nguyễn Ngọc Phương

Lớp: K36-E4

HÀ NỘI - 2004

Trang 2

Hoạt động xuất khẩu hàng song mây tre của Công ty TNHH Duy Nhất

M C L CỤC LỤC ỤC LỤC

Trang

Phần 1

Những vấn đề cơ bản về kinh doanh xuất khẩu hàng hoá của doanh

nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường

5

1.1 Xuất khẩu và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường 51.1.1 Thị trường và bản chất của thị trường 51.1.2 Sự cần thiết và vai trò cuả hoạt động kinh doanh xuất khẩu 91.2 Hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp thương mại

trong nền kinh tế thị trường

Phần 2 Tình hình xuất khẩu hàng song, mây, tre trong những năm

qua ở công ty TNHH Duy Nhất

20

2.1 1 Quá trình hình thành và phát triển 202.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty và chức năng nhiệm vụ của

từng bộ phận

222.2 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và chế biến hàng 23

Trang 3

song, mây, tre trong những năm qua

2.2.2 Tiềm năng nguyên liệu và tình hình sản xuất hàng song, mây,

tre

25

2.3 Thực tế xuất khẩu hàng song, mây, tre của Duy Nhất 272.3.1 Thị trường xuất khẩu của Duy Nhất 272.3 2 Hiệu quả xuất khẩu hàng song, mây, tre của Duy Nhất 28Phần 3 Phương hướng và biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng song,

mây, tre của công ty TNHH Duy Nhất

32

3.1 Phương hướng và biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng song, mây,

tre của công ty TNHH Duy Nhất

32

3.1.1 Phân loại thị trường xuất khẩu để có biện pháp ứng xử cho phù

hợp

33

3.1.2 Chỉ tiêu về mặt hàng và phương thức kinh doanh 35

3.1.4 Cải tiến tổ chức bộ máy và đào tạo cán bộ kinh doanh xuất

khẩu

37

3.2 Các tiền đề để thực hiện việc đẩy mạnh xuất khẩu của công ty

trong thời gian tới

37

LỜI NÓI ĐẦU

Trong nghị quyết lần thứ 7 của Trung Ương Đảng ( tháng 7 năm 1994)

có đặt vấn đề “ xây dựng một nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu ”

Trang 4

Quan điểm xây dựng một nền kinh tế mở của Đảng đã phù hợp với qui luậthình thành một nền kinh tế thị trường ở nước ta, là động lực tác động tíchcực đến hoạt động của các ngành, các thành phần kinh tế, đặc biệt là các tổchức kinh doanh, xuất nhập khẩu.

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang nỗ lực cố gắng hoà nhập vàonền kinh tế thế giới, thông qua chính sách kinh tế mở cửa nhằm đẩy mạnhhơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần làm giảm tỉ lệ lạm phát, nângcao đời sống nhân dân Trong một vài năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởngkinh tế của nước ta đã đạt được ở mức khá cao so với khu vực và thế giới.Đạt được kết quả đó, có một phần đóng góp của các tổ chức đơn vị kinhdoanh thương mại quốc tế (kinh doanh xuất nhập khẩu) góp phần đưa nềnkinh tế Việt Nam hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới

Công ty xuất khẩu mây tre Duy Nhất ra đời từ năm 2000 Tuy mớihình thành và phát triển, công ty đã đóng góp tích cực vào hoạt động xuấtnhập khẩu chung của cả nước Từ khi ra đời cho đến nay công ty khôngngừng củng cố và phát triển về cả mặt chất và mặt lượngNhững đặc điểmkinh tế, chính trị trong và ngoài nước những năm gần đây, đã ảnh hưởnglớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng song mây tre xuất khẩu Vớihàng loạt các sự kiện diễn ra liên tiếp trong thời gian gần đây: Mỹ bỏ cấmvận với Việt Nam, và lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ, Việt Nam ranhập khối ASEAN v.v và nhất là với chủ trương lớn của Đảng và nhànước ta Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, đã giúp cho ngànhkinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và ngành xuất khẩu mây tre nói riêng

có điều kiện xâm nhập vào thị trường mới, mở ra tiềm năng mới trong lĩnhvực sản xuất kinh doanh ngành song mây tre xuất khẩu ở Việt Nam

Trang 5

Để thấy rõ được tình hình xuất khẩu hàng song mây tre của Việt Nam

từ trước đến nay, đặc biệt là trong những năm gần đây, được sự hướng dẫn

của cô giáo TS Nguyễn Thị Mão, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Hoạt

động xuất khẩu hàng song mây tre của Công ty TNHH Duy Nhất”

Đề tài gồm 3 phần:

Phần 1: Những vấn đề cơ bản về kinh doanh xuất nhập khẩu hàng

hoá của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường.

Phần 2: Phân tích tình hình xuất khẩu hàng song may tre trong

những năm gần đây ở Công ty TNHH Duy Nhất

Phần 3: Phương hướng và biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng

song mây tre của công ty TNHH Duy Nhất

PHẦN 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH XUẤT

KHẨU HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1.1 Xuất khẩu và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường

1.1.1 Thị trường và bản chất của thị trường

1.1.1.1 Khái niệm thị trường

Thị trường hiểu theo nghĩa rộng và chung nhất là quá trình người mua,người bán tác động qua lại để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, thờigian giao hàng và phương thức thanh toán thị trường còn là nơi gặp nhaugiữa một bên là cung, một bên là cầu

Các yếu tố quan trọng để hình thành thị trường là cung cầu hàng hoá

và giá cả thị trường

Trang 6

 Cầu về hàng hoá là số lượng hàng hoá mà người tiêu thụ sẽ mua hay

có khả năng mua, ở các mức giá khác nhau có thể có (khi các yếu tố khácgiữ nguyên hoặc cân bằng) trong một khoảng thời gian nhất định

Tổng khối lượng cầu (tính bằng giá trị) hay tổng sức mua gọi là dunglượng thị trường

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cầu hàng hoá trên thị trường như: giá

cả của chính hàng hoá đó trong hiện tại và trong tương lai, giá cả của hànghoá và dịch vụ liên quan, thu nhập và thị hiếu của người tiêu dùng Cácnhân tố này tác động ở các mức khác nhau đến cầu trên thị trường, chỉ cầnmột nhân tố thay đổi cũng làm cho lượng cầu thay đổi

*0 Cung hàng hoá là lượng hàng hoá có mặt trên thị trường hoặc cóthể cung ứng trên thị trường trong một thời kỳ nhất định (bao gồm hànghoá hiện có và số hàng hoá sẽ sản xuất được, kể cả hàng hoá được nhậpkhẩu) Cung trên thị trường bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:

 Giá của chính hàng hoá đó trong hiện tại và trong tương lai, giá cảcủa hàng hoá và dịch vụ có liên quan, giá cả các yếu tố đầu vào, trình độcông nghệ sản xuất

*1 Giá cả của hàng hoá trên thị trường là biểu hiện bằng tiền của giátrị hàng hoá, đồng thời là biểu hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xãhội, trên thị trường cung, cầu hàng hoá đối với từng loại hàng cũng như đốivới từng nhóm hàng thường không cân bằng nhau Chính vì vậy nó tạo nên

sự sống động của thị trường, khi xảy ra sự thừa hoặc thiếu hụt hàng hoá lậptức giá cả thị trường thực hiện chức năng điều tiết cung cầu (theo hướngcân đối) trên thị trường Nó đóng vai trò là bàn tay vô hình điều khiển nềnkinh tế, là phương tiện phát tín hiệu cho các doanh nghiệp trả lời các vấn đề

Trang 7

cho ai? Khi tiến hành hoạt động kinh doanh, tăng cường hiệu quả kinh tế,nâng cao lợi nhuận.

1.1.1.2 Vai trò của thị trường

Thị trường là khâu tất yếu của quá trình tái sản xuất hàng hoá, ở đâu

có sản xuất hàng hoá, thì ở đó có thị trường Do đó thị trường có vai trò rấtquan trọng, thể hiện ở các mặt

Thị trường là sống còn đối với sản xuất kinh doanh hàng hoá, mụcđích của người sản xuất hàng hoá là sản xuất ra để bán, nhằm thoả mãn nhucầu của người khác Bán hàng khó hơn mua, vì mua là hành vi đơn giản,còn bán là bước nhảy nguy hiểm chết người Bởi vậy, còn thị trường thìcòn sản xuất kinh doanh, mất thị trường thì sản xuất kinh doanh sẽ bị đìnhtrệ

Thị trường là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm nghiệm chứng minhtính đúng đắn của chủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế của các cơquan nhà nước, của các nhà sản xuất kinh doanh

Đặc trưng của hoạt động thị trường là tất cả các hoạt động kinh tế diễn

ra không có sự bắt buộc hoặc điều khiển tập trung

Tham gia thị trường có hàng triệu người sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ

và hàng triệu người tiêu dùng một cách tự nguyện Nói như thế không cónghiã là thị trường là một hệ thống hỗn độn vô phương, mà là rất có trật tự

Cơ chế thị trường là một hình thức kinh tế, trong đó cá nhân ngườitiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động qua lại lẫn nhau để xác định 3vấn đề trung tâm của hoạt động kinh doanh là: Sản xuất cái gì? Sản xuấtnhư thế nào? và Sản xuất cho ai? Nó hoạt động thông qua giá cả thị trường

để quyết định các vấn đề cơ bản nêu trên Chính thị trường vận hành theo

Trang 8

những qui luật vốn có đã tạo nên trật tự kinh tế thị trường Nó được coi như

“bàn tay vô hình” điều khiển nền kinh tế Ở đây, lợi ích riêng của từngngười chỉ đạt được thông qua thực hiện lợi ích chung của xã hội, được thịtrường chấp nhận Sản xuất như thế nào do cạnh tranh giữa những ngườisản xuất quyết định

Phương pháp duy nhất có thể cạnh tranh về tối đa hoá lợi nhuận và giá

cả là giảm chi phí đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng những phươngpháp sản xuất hiệu quả nhất

Sản xuất hàng hoá cho ai, một mặt thể hiện phương thức phân phối thunhập theo số lượng và chất lượng lao động, mặt khác sản phẩm được phânphối cho những ai chấp nhận giá cả thị trường, cơ chế thị trường ở nước tathực hiện chưa lâu, kinh nghiệm thực tế còn thiếu, nên mặc dù có nhữngthuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn

1.1.1.3 Bản chất của kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà các quan hệkinh tế, phân phối sản phẩm, phân chia lợi ích do các qui luật của thịtrường có điều tiết chi phối

Đặc trưng của kinh tế thị trường :

Kinh tế thị trường dựa trên cơ sở một nền sản xuất hàng hoá pháttriển; Kinh tế thị trường không ra đời và phát triển trên nền tảng của mộtnền sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp Phát triển sản xuất hàng hoá,thực hiện tự do lưu thông vừa là tiền đề, vừa là động lực cho sự phát triểncủa kinh tế thị trường

Trong kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, mỗi đơn vị kinh tế được tự do

tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật, trên thị

Trang 9

trường, mỗi người, mỗi tổ chức là một chủ thể độc lập và tự chủ hoàn toàn.

Về phương diện xã hội, tính tự do của mỗi cá nhân được nâng cao, nhâncách và cá tính được tôn trọng Khách hàng giữ vị trí trọng tâm trong kinh

tế thị trường, họ là “thượng đế” của người bán, người bán phải chiềuchuộng, lôi kéo người mua, khơi dậy và thoả mãn nhu cầu tiêu dùng.Khách hàng được quan tâm hàng đầu, là điều kiện sống còn của người sảnxuất kinh doanh

Lợi nhuận trở thành thước đo và hiệu quả kinh tế của hoạt động sảnxuất kinh doanh - thường được tính bằng tiền Quan hệ hàng hoá tiền tệ trởthành quan hệ thống trị tuyệt đối trong nền kinh tế thị trường

1.1.2 Sự cần thiết và vai trò của hoạt động kinh doanh xuất khẩu

1.1.2.1 Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu

Hoạt động xuất nhập khẩu là việc mua bán trao đổi hàng hoá, dịch vụcủa một nước đối với một nước khác và thường dùng ngoại tệ làm phươngtiện trao đổi

Sự trao đổi này là một hình thức của mối quan hệ xã hội, và phản ánh

sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêngbiệt của các quốc gia

Hoạt động xuất nhập khẩu là cần thiết vì những lý do cơ bản là:

Nó khai thác được lợi thế so sánh của nước xuất khẩu và mở rộng khảnăng tiêu dùng của nước nhập khẩu

Thực tế cho thấy, mỗi quốc gia cũng như mỗi cá nhân không thể sốngriêng rẽ, biệt lập với bên ngoài mà vẫn đầy đủ được Thương mại quốc tếcho phép đa dạng hoá các mặt hàng tiêu dùng với số lượng nhiều hơn, chấtlượng cao hơn mức có thể tiêu dùng với danh giới khả năng sản xuất trong

Trang 10

nước (nếu thực hiện chế độ tự cung tự cấp không buôn bán với nướcngoài).

Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì phạm vi chuyên mônhoá ngày càng tăng, số sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của conngười ngày một dồi dào, đồng thời sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nướccũng tăng lên Nói cách khác, chuyên môn hoá thúc đẩy nhu cầu sản xuấthàng hoá, dịch vụ và ngược lại, một quốc gia không thể chuyên môn hoásản xuất nếu không có hoạt động trao đổi mua bán với nước khác Chínhchuyên môn hoá quốc tế là biểu hiện sinh động của qui luật lợi thế so sánh,qui luật này nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất coi đó là chìakhoá của các phương thức thương mại

Qui luật cũng khẳng định rằng nếu mỗi nước chuyên môn hoá vào sảnxuất sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, thì thương mại quốc tế có lợicho cả hai bên

Hoạt động xuất nhập khẩu đối với nước ta là vấn đề được quan tâmhàng đầu do tầm quan trọng của nó Do vậy Đảng và Nhà nước chủ trương

mở rộng quan hệ đối ngoại và kinh tế đối ngoại, trong đó có một lĩnh vựcquan trọng là vật tư thương mại hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài Đó làchủ trương hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thời đại, phù hợp với xu thếphát triển của nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây Một đấtnước không thể xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh trong điều kiện tựcung, tự cấp, ngay cả với một quốc gia hùng mạnh, vì nó đòi hỏi rất tốnkém cả về vật chất và thời gian

Chính vì lẽ đó, cần phải “nâng cao hiệu quả xuất khẩu, mở rộng ngoạithương trên cơ sở hợp tác bình đẳng, không phân biệt chế độ chính trị vàđôi bên cùng có lợi” như nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 7 đã khẳng định

Trang 11

1.1.2.2 Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế

 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ côngnghiệp hoá đất nước

Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đườngtất yếu để khắc phục đói nghèo, chậm phát triển ở nước ta

Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi số vốnrất lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến

Nguồn vốn nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau:

*2 Đầu tư của nước ngoài

*3 Vay nợ, viện trợ

*4 Xuất khẩu lao động …

Các nguồn như đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ tuy quan trọngnhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở những thời kỳ sau.Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, thực hiện công nghiệp hoá hiệnđại hoá đất nước và xuất khẩu

Xuất khẩu góp phần vào việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sảnxuất phát triển Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thayđổi vô cùng mạnh mẽ, đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹthuật và công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trìnhcông nghiệp hoá phù hợp với xu thế phát triển của thế giới là tất yếu đốivới nước ta, có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sảnxuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;

Trang 12

*5 Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ sản phẩm thừa do sản xuất quá nhucầu ở trong nước, trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm pháttriển như ở nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, do đó nếuchỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ rất nhỏ bé vàchậm chạp.

*6 Coi trọng thoả mãn mọi nhu cầu của thị trường (đặc biệt là thịtrường thế giới) là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu.Điều đó tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩysản xuất phát triển Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở những điểmsau:

 Xuất khẩu tạo điều kiện cho những ngành khác phát triển thuận lợichẳng hạn phát triển ngành dệt, xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho việcphát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốc nhuộm,

sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu(gạo, dầu thực vật, chè, ) có thể kéo theo sự phát triển của ngànhcông nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó

 Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phầncho sản xuất được ổn định và phát triển

 Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào chosản xuất, nâng cao năng lực cho sản xuất trong nước

 Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật, nhằm cải tạo nănglực sản xuất trong nước Tức là xuất khẩu trở thành một phươngtiện quan trọng để tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ các nướckhác vào Việt Nam, nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ramột năng lực sản xuất mới

Trang 13

 Thông qua xu t kh u, h ng hoá c a Vi t Nam s tham gia v oất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào ẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào àng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào ủa Việt Nam sẽ tham gia vào ệt Nam sẽ tham gia vào ẽ tham gia vào àng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào

cu c c nh tranh trên th gi i c v giá c v ch t lộc cạnh tranh trên thế giới cả về giá cả và chất lượng Cuộc ạnh tranh trên thế giới cả về giá cả và chất lượng Cuộc ế giới cả về giá cả và chất lượng Cuộc ới cả về giá cả và chất lượng Cuộc ả về giá cả và chất lượng Cuộc ề giá cả và chất lượng Cuộc ả về giá cả và chất lượng Cuộc àng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào ất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào ượng Cuộcng Cu cộc cạnh tranh trên thế giới cả về giá cả và chất lượng Cuộc

c nh tranh n y òi h i chúng ta ph i t ch c s n xu t, hìnhạnh tranh trên thế giới cả về giá cả và chất lượng Cuộc àng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào đòi hỏi chúng ta phải tổ chức sản xuất, hình ỏi chúng ta phải tổ chức sản xuất, hình ả về giá cả và chất lượng Cuộc ổ chức sản xuất, hình ức sản xuất, hình ả về giá cả và chất lượng Cuộc ất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào

th nh c c u s n xu t luôn thích nghi v i th tràng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào ơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường ất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào ả về giá cả và chất lượng Cuộc ất khẩu, hàng hoá của Việt Nam sẽ tham gia vào ới cả về giá cả và chất lượng Cuộc ị trường ường.ng

1.2 Hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp thương

mại trong nền kinh tế thị trường

1.2.1 Các loại hình kinh doanh xuất khẩu

Hiện nay các doanh nghiêp thương mại áp dụng rất nhiều các loại hìnhxuất khẩu khác nhau Sau đây ta xem xét một số loại hình xuất khẩu chủyếu:

1.2.1.1 Xuất khẩu trực tiếp

Đây là hình thức doanh nghiệp thương mại đặt mua sản phẩm của cácđơn vị, cá nhân sản xuất trong nước (với hình thức mua đứt bán đoạn) sau

đó xuất khẩu những sản phẩm này ra nước ngoài với danh nghĩa là hàngcủa doanh nghiệp mình và hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hàng hoá

đó với khách hàng nước ngoài

Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận mà các đơn vị kinh doanh xuấtkhẩu thu được thường cao hơn các hình thức khác Doanh nghiệp thươngmại đứng ra với vai trò là người bán trực tiếp, do đó nếu khách hàng có quicách phẩm chất tốt sẽ nâng cao được uy tín của doanh nghiệp, tuy nhiênhình thức này đòi hỏi doanh nghiệp thương mại phải có nhiều vốn, vì trongđiều kiện hiện nay thường các doanh nghiệp thương mại phải ứng trướctiền hàng cho các đơn vị và cá nhân sản xuất trong nước, số tiền nàythường khá lớn, nhất là với những hợp đồng có giá trị lớn

1.2.1 2 Xuất khẩu uỷ thác

Trang 14

Trong hình thức xuất khẩu uỷ thác, doanh nghiệp thương mại với chứcnăng được nhà nước cho phép đứng ra với vai trò trung gian xuất khẩu, làm

Trang 15

thay cho đơn vị, cá nhân sản xuất (những người có hàng hoá để xuất khẩu)những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hoá và hưởng phần trăm phí uỷthác theo giá trị hàng hoá xuất khẩu

Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, trách nhiệm ít,người đứng tên xuất khẩu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùngtrước khách hàng nước ngoài Đặc biệt là không cần phải huy động vốn đểthu mua hàng, vì số tiền vốn bỏ ra mua hàng này là do các đơn vị (cá nhân)thuê uỷ thác phải bỏ ra và họ tự chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá,thời hạn giao hàng Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp thương mại thìhình thức này hiệu quả kinh tế không cao, nếu đơn vị thuê uỷ thác làmhàng không tốt, giao hàng không đúng thời hạn thì doanh nghiệp thươngmại nhận làm uỷ thác rất dễ bị mất khách hàng uy tín thương trường

1.2.1 3 Xuất khẩu gia công uỷ thác

Doanh nghiệp thương mại đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thànhphẩm về rồi giao cho đơn vị gia công sản xuất hàng hoá, sau đó thuhồi sản phẩm xuất khẩu trả lại cho khách hàng nước ngoài Doanhnghiệp được nhận phần trăm phí uỷ thác gia công, phí này được thoảthuận với các đơn vị sản xuất trong nước

1.2.1.4 Buôn bán đối lưu (hàng đổi hàng)

Đây là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽvới nhập khẩu Người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi cógiá trị tương đương với nhau Ở đây mục đích xuất khẩu không nhằm thu

về một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trịtương đương với giá trị lô hàng mà doanh nghiệp xuất khẩu

Trang 16

Có nhiều loại hình buôn bán đối lưu: hàng đổi hàng (được áp dụngphổ biến) trao đổi bù trừ, mua đối lưu

1.2.1.5 Xuất khẩu theo nghị định thư

Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là hàng trả nợ) được kýtheo nghị định thư giữa chính phủ của hai nước Xuất khẩu theo hình thứcnày có nhiều ưu điểm như: khả năng thanh toán chắc chắn (vì số tiền xuấtkhẩu hàng này được chính phủ trả ngay cho doanh nghiệp sau khi xuấthàng) Số lượng hàng hoá thường lớn, giá cả hàng hoá nhìn chung có lợicho doanh nghiệp xuất khẩu

Với các hình thức xuất khẩu như trên, việc áp dụng hình thức nào cònphụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp (như khả năng tàichính, hiệu quả kinh tế của từng hình thức, định hướng kinh doanh ) vàđiều quan trọng là phải đáp ứng yêu cầu của các bên sản xuất, gia côngtrong nước cũng như nước ngoài

1.2.2 Những điểm chủ yếu về hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước

Khi chuyển sang cơ chế mới, chế độ nhà nước độc quyền ngoạithương bị xoá bỏ, nhưng không có nghĩa là từ bỏ chức năng kinh tế đốingoại của nhà nước mà nhà nước vẫn thống nhất quản lý các hoạt độngkinh tế đối ngoại theo cơ chế thị trường, trong đó mỗi doanh nghiệp đềunằm trong mối quan hệ: Nhà nước - thị trường - doanh nghiệp

Qua những năm đổi mới, nhất là từ năm1991 đến nay, thực tiễn đãchứng tỏ doanh nghiệp thương mại nào kịp thời đổi mới quản lý, giải quyếttốt mối quan hệ nói trên, thích ứng với cơ chế thị trường thì chẳng những

Trang 17

sớm vượt qua khó khăn, đứng vững trong cuộc cạnh tranh gay gắt trongthương trường ở trong và ngoài nước, mà còn tăng thu lợi nhuận, tăng nộpngân sách nhà nước, và cải thiện đời sống cán bộ nhân viên

Phương hướng chung của việc đổi mới quản lý và hoạt động của cácdoanh nghiệp thương mại là tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa các doanh nghiệp đó, từng bước xoá bỏ chế độ bao cấp, thực sự chuyểnsang hạch toán kinh tế độc lập Chế độ nhà nước độc quyền ngoại thương

đã được xoá bỏ, chức năng quản lý nhà nước được hướng vào việc tạo môitrường và hành lang pháp lý trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, thuộcmọi thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch vĩ mô, sửdụng các công cụ kinh tế để điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp, kiểmtra và giám sát hoạt động của chúng theo luật định, phân định rõ chức năngquản lý nhà nước về kinh tế và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2.1 Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước

Nhà nước không trực tiếp quyết định chủ thể kinh doanh ngoạithương, không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

mà chỉ qui định những điều kiện để doanh nghiệp được cấp giấy phép kinhdoanh xuất nhập khẩu Những điều kiện đó là:

 Doanh nghiệp được thành lập theo đúng pháp luật Đối với doanhnghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thì không kể mức vốn lưu động, không kểkim ngạch nhiều hay ít, không phân biệt thành phần kinh tế đều có thểđược xuất khẩu hàng hoá do mình sản xuất ra, nhập khẩu vật tư, nguyênliệu cần thiết cho sản xuất của mình

 Nhà nước rút dần chỉ tiêu pháp lệnh, tiến tới chỉ còn một chỉ tiêupháp lệnh duy nhất là nộp ngân sách thông qua hệ thống thuế Trừ một sốmặt hàng còn giao theo nghị định thư hay trả nợ, nhà nước vẫn còn qui

Trang 18

định chỉ tiêu nhưng giá mua hàng hoá xuất theo nghị định thư phải thật sự

là giá thoả thuận giữa các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu với các cơ sởsản xuất hàng hoá xuất khẩu Việc thanh toán phải sòng phẳng, kịp thời.Nếu việc thanh toán quá thời hạn qui định thì các cơ sở sản xuất và các tổchức kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ được trả một khoản lãi theo tỷ lệ lãisuất vay ngân hàng trên toàn bộ số vốn và thời hạn chậm thanh toán.Những năm gần đây việc xuất khẩu hàng trả nợ được thực hiện theophương thức đấu thầu

 Mọi hàng hoá được tự do xuất nhập khẩu và chịu điều tiết bằng thuếtheo luật thuế xuất nhập khẩu, trừ một số mặt hàng cấm xuất, cấm nhậpkhẩu (hoặc chỉ có những đơn vị có giấy phép đặc biệt mới được phép xuấtnhập khẩu) như vũ khí, đồ cổ những mặt hàng được quản lý bằng hạnngạch (như gạo, nguyên liệu phụ liệu sản xuất thuốc lá ) và những mặthàng chuyên dùng (như văn hoá phẩm, thuốc chữa bệnh)

 Bãi bỏ chế độ kết hối ngoại tệ, thực hiện chế độ mua bán ngoại tệtheo tỷ giá kinh doanh Lúc đầu còn qui định các tổ chức kinh doanh xuấtnhập khẩu có nghĩa vụ bán cho nhà nước theo thời giá một tỷ lệ ngoại tệthu được có phân biệt đối với từng loại ngành hàng nhưng dần dần đã hìnhthành thị trường ngoại hối và các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu được

tự do mua bán ngoại tệ theo giá thị trường

 Các đơn vị kinh tế cơ sở được mở rộng quyền tự chủ về mọi mặttrong khuôn khổ pháp luật Các đơn vị được quyền quyết định mua bán trên

cơ sở nghiên cứu tình hình thị trường, được quyền định giá (trừ một số mặthàng còn phải theo khung giá do nhà nước qui định) Các đơn vị tự chịutrách nhiệm về bảo toàn vốn, về lỗ lãi

Trang 19

 Nhà nước kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp thông qua những qui chế quản lý qui định quyền hạn, tráchnhiệm của doanh nghiệp, của cán bộ quản lý và điều tiết hoạt động của cácdoanh nghiệp bằng cách sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô như kế hoạchđịnh hướng, tỷ giá hối đoái, thuế, tỷ xuất lợi tức, trợ cấp xuất khẩu, hạnngạch v.v

1.2.2.2 Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường

Trong cơ chế thị trường, hầu hết các doanh nghiệp đều gặp phải sựcạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Doanh nghiệp không chỉtiếp xúc với thị trường hàng hoá mà cả thị trường vốn và thị trường laođộng

Doanh nghiệp phải thường xuyên nâng cao trình độ marketing, nắmvững thông tin về khách hàng, diễn biến quan hệ cung cầu, giá cả củanhững mặt hàng mà mình kinh doanh, dự báo và đón trước nhu cầu củangười tiêu dùng, kịp thời thay đổi mẫu mã và qui cách phẩm chất hàng hoá

để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng Từ đó quyết định số lượng,thời điểm mua bán, lựa chọn phương thức kinh doanh, duy trì và mở rộngquan hệ với bạn hàng trong và ngoài nước Doanh nghiệp phải gắn lưuthông với sản xuất, tự tổ chức sản xuất hàng hoá và dịch vụ, giúp đỡ các cơ

sở sản xuất tạo ra nguồn hàng xuất khẩu phong phú, đáp ứng được yêu cầungười mua Ngoài ra doanh nghiệp còn phải tìm hiểu tập quán kinh doanhcủa các nước hữu quan, nắm bắt kịp thời những thay đổi về pháp luật trong

và ngoài nước có liên quan đến những mặt hàng mà mình kinh doanh

Trang 20

Các doanh nghiệp thường phải tự mình huy động vốn từ nhiều nguồntrong và ngoài nước như: vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tíndụng thương mại v.v Việc quay vòng vốn nhanh, nâng cao hiệu quả sửdụng đồng vốn trở thành điều kiện sống còn của các doanh nghiệp.

Doanh nghiệp trực tiếp tuyển dụng cán bộ, công nhân viên, lựa chọnnhững người có năng lực phù hợp với từng cương vị công tác và trả lươngtheo kết quả và hiệu quả kinh doanh Mở rộng tuyển dụng lao động theohình thức hợp đồng (ngắn hạn, dài hạn, theo thời vụ ) tuỳ theo yêu cầu củasản xuất kinh doanh

1.2.2.3 Quan hệ nội bộ doanh nghiệp

Cơ chế thị trường đòi hỏi công việc kinh doanh phải năng động vàlinh hoạt Do đó việc sắp xếp tổ chức phải bố trí cán bộ công nhân viêncũng phải thích ứng với những yêu cầu đó sao cho bộ máy gọn nhẹ, tinhgiản mà vẫn đạt hiệu quả kinh doanh cao Muốn vậy trong nội bộ doanhnghiệp phải có những qui chế cụ thể xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn,lợi ích của từng người nhằm phát huy tính sáng tạo, ý thức tự giác hoànthành tốt nhiệm vụ được giao của mỗi người trong công ty Phải thực hiệnhạch toán kinh tế, áp dụng các hình thức khoán trả lương và thưởng theohiệu quả kinh doanh Ký kết và chấp hành nghiêm chỉnh thoả ước lao độngtập thể giữa giám đốc - công đoàn - và tập thể cán bộ công nhân trong đơn

vị, đồng thời nâng cao tinh thần làm chủ doanh nghiệp trong mỗi cán bộcông nhân

Trang 21

PHẦN 2: TÌNH HÌNH XUẤT KHẤU HÀNG SONG,MÂY,TRE TRONG NHỮNG NĂM QUA Ở CÔNG TY TNHH DUY NHẤT

2.1.1 Lịch sử và quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Duy Nhất.

Công ty TNHH Duy Nhất trước đây là một cơ sở sản xuất hàng thủcông mỹ nghệ với các sản phẩm làm từ mây tre lá gỗ

Cơ sở sản xuất nhỏ này có tên là cơ sở sản xuất Duy Tiến được thành lậpnăm 1991 Cơ sở sản xuất Duy Tiến được thành lập nhằm phục vụ nhu cầutiêu dùng hàng hoá sản phẩm thủ công, mĩ nghệ trong nước và tận dụngmột số nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước và nguồn lao động có tay nghềtruyền thống Mới đầu thành lập Duy Tiến làm ăn nhỏ và lẻ với mục đích làtận dụng lợi thế sẵn có, truyền thống Khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi

cơ chế bước sang thời kì phát triển hội nhập thì Duy Tiến cũng có nhữngbước thay đổi, phát triển để phù hợp với nền kinh tế thị trường Nhận đượcnhững chính sách khuyến khích ủng hộ của Đảng và Chính phủ trong thời

kì mới giúp đỡ các doanh nghiệp các cơ sở sản xuất tham gia vào hoạtđộng XNK cộng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của mình Duy Tiến

đã đổi tên và phát triển thành Công ty TNHH Duy Nhất vào năm 2002.Trên đà phát triển Công ty đã tham gia xuất khẩu các mặt hàng mà mìnhsản xuất ra trong lĩnh vực hàng hoá thủ công mĩ nghệ mây tre lá gỗ

Trang 22

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty TNHH Duy Nhất.

2.1.2.1 Nhiệm vụ.

Hiện nay Công ty TNHH Duy Nhất là một Công ty tư nhân Công ty có

nhiệm vụ như sau:

- Sản xuất các sản phẩm hàng hoá thủ công mĩ nghệ mây tre lá gỗ như gỗnhư giường tư, bàn ghế, các sản phẩm trang trí làm bằng thủ công…

- Kinh doanh các mặt hàng mà Công ty sản xuất ra

- Xuất khẩu các mặt hàng của Công ty ra nước ngoài

Công ty có mới quan hệ buôn bán trực tiếp với nhiều bạn hàng trên thế giớinhưng chủ yếu là xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Đông Âu và Tây Âu

2.1.2.2 Bộ máy chức năng của Công ty.

Duy Nhất thực hiện cơ chế quản lý theo chế độ 1 thủ trưởng, cơ cấugồm:

Văn phòng Công ty

Ngày đăng: 05/12/2014, 08:14

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w