Đối với một doanh nghiệp, con người được xem là một yếu tố của quá trình sản xuất, đặc biệt là một yếu tố quan trọng, yếu tố trung tâm trong việc nâng cao năng suất lao động, từ đó hạ gi
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU Trong điều kiện hiện nay, quá trình đổi mới kinh tế đang diễn ra mau chóng và trên nhiều mặt Bất kỳ một quốc gia hay một doanh nghiệp muốn nâng vị thế của mình trên trường quốc tế đều phải đưa ra cho mình một chiến lược phát triển riêng Trong đó chiến lược phát triển con người và khai thác con người đang được các quốc gia hay các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm
Vì con người là trung tâm của quá trình sản xuất, là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững Đối với một doanh nghiệp, con người được xem
là một yếu tố của quá trình sản xuất, đặc biệt là một yếu tố quan trọng, yếu tố trung tâm trong việc nâng cao năng suất lao động, từ đó hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Xuất phát từ vai trò quan trọng của yếu tố con người trong nâng cao năng suất lao động và thực tế hoạt động sản xuất của trung tâm đồ chơi- thiết
bị mầm non em đã chọn đề tài: “Khai thác yếu tố con người nâng cao năng suất lao động ở trung tâm đồ chơi thiết bị mầm non thuộc công ty thiết bị giáo dục I” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
Đề tài được chia ra làm 3 phần:
I: Con người và yếu tố con người trong quá trình lao động
II: Phân tích thực trạng khai thác yếu tố con người nâng cao năng suất lao động ở trung tâm
III: Một số giải pháp khai thác yếu tố con người nâng cao năng suất lao động
ở trung tâm
Em xin chân thành cảm ơn thầy Mai Quốc Chánh đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này
Trang 2I: CON NGƯỜI VÀ YẾU TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH LAO
ĐỘNG.
1 Khái niệm con người.
Con người là một thực thể rất phức tạp Tuỳ theo từng khía cạnh nghiên cứu khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về con người
+ Theo quan niệm của sinh vật học: “ Con người là động vật cao cấp
có ý thức, tự điều chỉnh hành vi của mình”
Theo quan điểm này, con người giống như các động vật khác cũng chịu ảnh hưởng của các quy luật tự nhiên như: quy luật sự phù hợp của cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, quy luật về di truyền, biến dị, tiến hoá…Con người cũng phải trải qua các giai đoạn mang tinh sinh học đó là sinh thành, phát triển và mất đi Chính các quy luật này đã quy định phương diện sinh học của con người Do mang tính sinh học nên trong con người cũng tồn tại bản năng Gọi là bản năng, vì chúng hình thành một cách tự nhiên trong quá trình tiến hoá lâu dài của con người, nằm trong vô thức Bản năng sinh tồn buộc con người phải ăn, uống và tự vệ… Bản năng duy trì giống nòi dẫn đến nhu cầu gắn bó với người khác giới… Nếu một người nào đó mất lí trí, hoặc không được chỉ đạo bởi lí trí thì chỉ còn hành động theo bản năng
Tuy nhiên, quan điểm này cũng chỉ ra điểm khác biệt giữa con người
và các sinh vật khác Các sinh vật khác hành động theo bản năng, hành vi của chúng là hành vi vô thức, còn con người có ý thức, có tư duy Sự phát triển của
tư duy của con người nhận thức được thế giới xung quanh, từ đó tự điều chỉnh hành vi của mình Vì thế hành động của con người là hành động có ý thức chứ không phải là bản năng giống con vật Hành vi của con người là hành vi có suy nghĩ Chính vì thế, sinh vật học quan niệm con người là động vật cao cấp có ý thức
+ Theo quan điểm xã hội học: “ Con người là tổng hoà các mối quan
hệ xã hội”
Trang 3Con người luôn luôn tồn tại trong một xã hội nhất định với tư cách là chủ thể của xã hội, sáng tạo ra xã hội Mặt khác, con người tồn tại trong xã hội nào thì phải chịu sự tác động, ảnh hưởng của các quy luật xã hội, quan hệ xã hội của xã hội đó như quan hệ giai cấp, dân tộc, quan hệ chính trị, kinh tế, quan hệ cá nhân, gia đình… Chính các mối quan hệ này đã hình thành nên bản chất xã hội của con người, đồng thời nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Vì thế, có thể nói rằng: con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
+ Theo quan điểm kinh tế chính trị thì con người là nhân tố trung tâm
và là mục đích của nền sản xuất xã hội
Đời sống nhân loại hàm chứa nhiều mặt hoạt động như kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật… xã hội càng phát triển, các hoạt động nói trên càng phong phú, đa dạng và phát triển ở trình độ cao hơn Và không thể có các hoạt động xã hội nói trên nếu con người không tồn tại Để tồn tại, con người phải có thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện đi lại và các thứ cần thiết khác Muốn vậy, con người phải tạo ra chúng, nghĩa là phải sản xuất và không ngừng sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng Xã hội sẽ không thể tồn tại nếu ngừng hoạt động sản xuất Bởi vậy, sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người Nhưng suy đến cùng, mục đích của sản xuất là tiêu dùng
và không có tiêu dùng thì không có sản xuất Qua đó ta thấy rằng, sự hình thành và mục đích của nền sản xuất xã hội đều xuất phát từ yếu tố con người
Do đó, con người vừa là nhân tố trung tâm vừa là mục đích của nền sản xuất
xã hội
2 Vai trò của yếu tố con người trong quá trình phát triển kinh tế.
+ Con người là một trong các yếu tố của quá trình sản xuất
Bất kỳ một nền kinh tế xã hội nào cũng không thể tồn tại nếu thiếu hoạt động sản xuất kinh doanh Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình sử dụng
Trang 4sức lao động tức là toàn bộ thể lực, trí lực nằm trong con người, có khả năng sản ra công năng để vận hành máy móc tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra sản phẩm Trong quá trình sản xuất, các yếu tố đầu vào để tiến hành sản xuất bao gồm có lao động (hay chính xác hơn là sức lao động), công nghệ, vốn, nguyên vật liệu và năng lượng Quá trình sản xuất sẽ không được tiến hành nếu thiếu bất kỳ môt trong các yếu tố trên trong đó có yếu tố con người
Do đó, con người chính là môt trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và duy trì hoạt động sản xuất
Trong những năm sau thế giới thứ II, những thành tựu nổi bật của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm nảy sinh ảo vọng rằng lực lượng sản xuất
sẽ phát triển mạnh mẽ, tổ chức sản xuất sẽ nhanh chóng được hoàn thiện Vào thời kỳ này, ở các nước phát triển, công nghệ là nhân tố trung tâm Còn yếu tố con người không được coi trọng, chủ yếu được coi như một yếu tố của quá trình sản xuất, như một nhân tố bất định và bất ổn, mà ảnh hưởng của nó, nếu
có thể, phải hạn chế ở mức tối thiểu Chính các chiến lược này dẫn đến những thất bại trong hoạt động sản xuất ở những nhà máy tự động hoá với trình độ cao Nhiều tổ hợp sản xuất được tự động hoá đã tỏ ra kém hiệu quả so với các
xí nghiệp thì đơn thuần cơ giới hoá Các công xưởng của tương lai được quảng cáo khắp nơi đã vấp phải sự thờ ơ, lạnh nhạt và rơi vào tình trạng giảm năng suất lao động, lãng phí nhân lực
Trước những thất bại này, các doanh nghiệp đã xem xét lại quan điểm cũng như chiến lược của mình và nhận thấy răng con người mới là tiền đề quyết định cho khả năng cạnh tranh và là một yếu tố thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển
+ Con người là nguồn lực thúc đẩy quá trình sản xuất, thúc đẩy nền kinh
tế phát triển
Ngày nay, quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế của bất kỳ xã hội nào cũng chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, kể cả nhân tố
Trang 5bên ngoài và nhân tố bên trong, chi phối kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất Tuy nhiên, trong toàn bộ các nhân tố đó thì nhân tố bên trong – năng lực nội sinh có vai trò quan trọng hơn cả, bởi nó là nhân tố quyết định để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Nguồn lực nội sinh là tổng hợp các nguồn lực trong nước, không chỉ biểu hiện ở vốn, tài nguyên cơ sở vật chất- kỹ thuật đã tích luỹ được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, lợi thế về địa lý kinh
tế, chính trị, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hoá của dân tộc Qua đó
ta thấy rằng nhân tố con người vô cùng quan trọng, là nguồn lực thúc đẩy quá trình sản xuất Điều này được thể hiện:
- Con người là mục tiêu của quá trình sản xuất: Hoạt động sản xuất kinh doanh suy đến cùng cũng là để phục vụ cho tiêu dùng, nếu không có tiêu dùng thì cũng không có hoạt động sản xuất kinh doanh Con người chính là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội Và nó thể hiện rõ nhất trong mối quan hệ giữa và tiêu dùng Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết định tiêu dùng, song tiêu dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường Nếu trên thị trường nhu cầu một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại
Nhu cầu của con người vô cùng phong phú, đa dạng và không ngừng tăng lên , nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng và chủng loại hàng hoá Do đó, để đáp ứng nhu cầu đó, quá trình sản xuất cũng sản xuất ra nhiều hàng hoá hơn với số lượng và chủng loại ngày càng phong phú và đa dạng
- Con người là động lực của sự phát triển: Bất cứ một sự phát triển nào cũng đòi hỏi phải có một động lực thúc đẩy Phát triển kinh tế xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực như: nhân lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất, công cụ lao động, đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên,…), tài
Trang 6lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ,…), v.v… Song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người Từ thời xa xưa, con người băng công cụ lao động thủ công và nguồn lực do chính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của bản thân, sản xuất ngày càng phát triển công lao động ngày càng chi tiết, hợp tác ngày càng chắt chẽ tạo cơ hội để chuyển dài hoạt động của con người cho máy móc thiết bị thực hiện, làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động
cơ khí và lao động trí tuệ Nhưng ngay cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiên đại như hiện nay thì cũng khó thể tách rời nguồn lực con người, bởi lẽ:
Chính con người đã tạo ra những máy móc thiết bị hiện đại đó Điều đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người
Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người ( tức là tác động của con người) thì chún chỉ là vật chất, chỉ
có tác động của con người mới phát động chúng và đưa chúng vào hoạt động
Vì vậy, nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực của con người
để huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực của con người trong phạm vi xã hội, đó là một trong những nguồn nội lực quan trọng cho sự phát triển
- Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội: Con người không chỉ là mục đích, động lực của sự phát triển, thể hiện mức độ chế ngự, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người, mà còn tạo ra những điều kiện để hoàn thiên chính bản thân con người
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng: Trải qua quá trình lao động triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó, mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự tự nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội
Trang 7Như vậy, động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người Điều
đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố quan trọng nhất của sự phát triển
- Vì con người có vai trò quan trọng như vậy nên ta cần khai thác yếu tố con người trong quá trình sản xuất Khai thác yếu tố con người ở đây được hiểu là khai thác các tiềm năng của con người trong quá trình lao động bao gồm thể lực và trí lực
Yếu tố chi phối hành vi con người trong quá trình lao động chính là thể lực và trí lực của bản thân người đó Thể lực của con người ở đây chính là tình trạng sức khoẻ như sức chịu đựng về mặt thần kinh, sức chịu đựng về mặt cơ bắp Còn trí lực đó là trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất của người lao động Các yếu tố này tác động trực tiếp đến khả năng lao động của con người Do đó khai thác yếu tố con người chính là thể lực và trí lực của con người trong quá trình lao động, đặc biệt là mặt trí lực Vì xã hội càng phát triển, vấn đề trí tuệ, trình độ chuyên môn, trình độ văn hoá càng được quan tâm, do đó cần chú ý đến khai thác về mặt trí tuệ của con người
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác yếu tố con người trong quá trình lao động.
+ Các yếu tố gắn liền với bản thân người lao động:
-Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn:
Trình độ văn hoá của người lao động là sự hiểu biết của người lao động với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và về xã hội
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định
Trang 8Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đối với năng suất của người lao động Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Còn sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ sảo nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút ngắn từ
đó góp phần nâng cao năng suất Trình độ văn hoá và chuyên môn của người lao động không chỉ giúp cho người lao động thực hiện công việc nhanh mà còn góp phần nâng cao chất lượng thực hiện công việc
Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khoa học ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, sự sáng tạo và đưa vào sản xuất các loại công cụ ngày càng hiện đại, đòi hỏi những người lao động có trình độ chuyên môn tương ứng Nếu thiếu trình độ chuyên môn người lao động sẽ không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm bắt được các công nghệ hiện đại Từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động của doanh nghiệp và của bản thân người lao động
-Tình trạng sức khoẻ: Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần
Tình trạng sức khoẻ cũng có ảnh hưởng lớn tới năng suất của người lao động, nếu một người nào đó có tình trạng sức khoẻ không tốt sẽ dẫn tới sự mất tập trung trong quá trình lao động, làm cho độ chính xác của các thao tác trong công việc giảm dần, các sản phẩm sản xuất ra với chất lượng không cao, số lượng sản phẩm cũng giảm.Vì thế, sức khoẻ ảnh hưởng tới hướng sản xuất của người lao động
- Thái độ lao động: Tinh thần trách nhiệm của người lao động cũng ảnh hưởng tới năng suất lao động Một người có thái độ tốt, tinh thần trách nhiệm trong công việc cao sẽ luôn thực hiện tốt quy định lao động như không gây lãng phí thời gian lại tiết kiệm nguyên vật liệu, không lãng phí ngày công lao
Trang 9động, nghỉ việc không lí do, sẽ cố gắng hoàn thành tốt công việc với chất lượng cao Và ngược lại, nếu người lao động có thái độ lao động không tốt, không có tinh thần trách nhiệm cao thì họ sẽ không nghiêm túc trong quá trình lao động, thường xuyên vi phạm kỷ luật lao động gây lãng phí thời gian trong
ca làm việc, không cố gắng làm việc để tăng năng suất lao động
- Cường độ lao động: là mức độ khẩn trương của người lao động, là khối lượng lao động bị ép vào trong một đơn vị thời gian nhất định và được tính bằng Kcalo Trong cùng một đơn vị thời gian, mức hao phí về năng lượng, bắp thịt, thần kinh của con người càng nhiều thì cường độ lao động càng cao
Cường độ lao động ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người lao động Nếu cường độ lao động càng cao thì sự hao phí về năng lượng và sự căng thẳng thần kinh càng lớn Điều đó làm cho người lao động cảm thấy mệt mỏi, đến một lúc nào đó họ muốn nghỉ ngơi, không muốn làm việc Do họ cảm thấy mệt mỏi về thể chất nên số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian giảm dần, và chất lượng của sản phẩm sản xuất ra cũng giảm Và đối với những công việc đòi hỏi phải làm việc với cường độ cao thì thường phải có thời gian nghỉ ngơi cho người lao động để họ giảm bớt sự mệt nhọc, nâng cao hiệu suất sản xuất
+ Các yếu tố gắn với tổ chức lao động:
- Phân công lao động là quá trình tách biệt, cô lập những hoạt động lao động chung thành những lao động riêng lẻ được thực hiện một cách độc lập để gắn với một người hoặc một nhóm người phù hợp với khả năng của họ
Hiệp tác lao động trong xí nghiệp được hiểu là quá trình phối hợp những hoạt động lao động riêng rẽ, những chức năng nhiệm vụ cụ thể để mỗi người hoặc một nhóm người đảm nhận nhằm đảm bảo cho hoạt động chung của xí nghiệp được nhịp nhàng, liên tục để đạt được mục tiêu kinh doanh sản xuất.Phân công lao động hợp lí và hiệp tác lao động có tác dụng to lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng năng suất lao động bởi:
Trang 10Trong quá trình phân công lao động có sẽ bố trí lao động theo những yêu cầu của công việc sao cho phù hợp với khả năng của họ, từ đó phát huy tối đa khả năng của người lao động.
Mặt khác, sự phân công lao động đã thu hẹp phạm vi hoạt động giúp cho người lao động nhanh chóng thành thạo công việc từ đó tiết kiệm thời gian thực hiện công việc
- Tiền lương, tiền thưởng: Đây là một yếu tố quan trọng góp phần tạo động lực thúc đẩy người lao động làm việc nâng cao năng suất lao động Tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của con người và đây là phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội Do đó, tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của hết thảy mọi người lao động Mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình
- Tổ chức, phục vụ nơi làm việc là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lao động của con người Nếu nơi làm việc được tổ chức một cách hợp lý và phục
vụ tốt nó góp phần đảm bảo cho người lao động có thể thực hiện các thao tác trong tư thế thoải mái và người lao động có thể áp dụng những phương pháp thao tác tiên tiến, tạo hứng thú cho người lao động trong quá trình lao động…
từ đó nâng cao năng suất lao động
- Điều kiện làm việc: Là tập hợp các yếu tố của môi trường làm việc tác động tới sức khoẻ và khả năng thực hiện công việc của người lao động Như vậy, điều kiện làm việc có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng lao động của con người Cụ thể hơn là các yếu tố của điều kiện lao động như ánh sáng, độ ẩm, tiếng ồn, độ rung, bụi, các chất độc hại ảnh hưởng tới con người Nếu nơi làm việc có điều kiện lao động không tốt như quá sáng hoặc quá tối sẽ ảnh hưởng tới thị lực của người lao động, giảm khả năng lao động Hoặc nơi làm việc có môi trường bị ô nhiễm, mức độ an toàn không cao, ảnh hưởng đến sức khoẻ
Trang 11của người lao động Mặt khác, làm cho người lao động có cảm giác không yên tâm nên không chuyên tâm vào công việc, làm giảm năng suất lao động.
Ngoài các yếu tố kể trên thì thái độ cư xử của người chỉ huy, bầu không khí của tập thể cũng ảnh hưởng tới thái độ lao động của người lao động, từ
đó ảnh hưởng đến năng suất lao động và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Yếu tố thuộc về khoa học và kỹ thuật Một xí nghiệp sẽ không thể tiến hành sản xuất nếu thiếu công cụ lao động Công cụ lao động ở đây chính là các máy móc thiết bị được dùng cho quá trình sản xuất Sự phù hợp của máy móc thiết bị với trình độ của người lao động có ảnh hưởng rất lớn trong việc khai thác khả năng làm việc của người lao động Ví dụ: Với trình độ của người lao động trong doanh nghiệp, thì họ có khă năng thực hiện công việc tốt hơn, năng suất lao động cao hơn nếu họ được làm việc trên những máy mới, hiện đại, công suất cao, nhưng thực tế máy móc của doanh nghiệp lại quá lạc hậu, thô sơ và cũ kỹ, công suất thấp dẫn đến không khai thác hết được khả năng của người lao động, gây lãng phí và làm giảm hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
Và ngược lại, máy móc của xí nghiệp quá hiện đại trong khi trình độ lao động thấp, vượt quá khả năng của họ cũng dẫn đến sự không hiệu quả trong khai thác nhân tố con người trong doanh nghiệp
+ Yếu tố gắn liền với điều kiện tự nhiên Thời tiết và khí hậu của vùng, nơi mà doanh nghiệp đặt cơ sở sản xuất, cũng ảnh hưởng tới quá trình lao động của con người Ví dụ: Một nơi, khí hậu khắc nghiệt, thất thường Chính sự thất thường này nó tác động trực tiếp đến trạng thái tâm lý của người lao động,
họ cảm thấy bực bội, khó chịu hoặc mệt mỏi từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả công việc mà người lao động thực hiện
4 Sự cần thiết phải khai thác yếu tố con người trong nâng cao năng suất lao động.
Trang 12Sự cần thiết phải khai thác yếu tố con người trong nâng cao năng suất lao động xuất phát từ vai trò của con người trong quá trình sản xuất Trong ba nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động là yếu tố tiến bộ khoa học, yếu tố con người và yếu tố tự nhiên thì con người là nhân tố trung tâm Bởi vì:
+ Khoa học kỹ thuật, công nghệ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, đây là yếu tố làm tăng năng suất lao động Trình độ kỹ thuật của sản xuất được biểu hiện thông qua tính năng của công cụ sản xuất, trình độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động, các quá trình công nghệ sản xuất Tính năng công cụ sản xuất là mực thước quan trọng nhất để đo trình
độ kỹ thuật Ngày nay, ai cũng thừa nhận máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ nhất làm tăng năng suất lao động Thật vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội thường bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản xuất, lấy máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho máy cũ
Tính năng nâng cao trình độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động của khoa học, kỹ thuật, công nghệ được biểu hiện ở chỗ: nó ứng dụng rộng rãi các nguyên vật liệu mới, có những tính năng cao hơn, giá rẻ hơn thay cho các nguyên vật liệu cũ, tiết kiệm được vật tư, tiết kiệm được lao động, trong một đơn vị thời gian sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn Nó không chịu các giới hạn tâm sinh lý như của con người, cho nên khả năng tăng năng suất lao động lớn.Tuy nhiên, khoa học, công nghệ, kỹ thuật chỉ là công cụ lao động Nếu chúng không có sự điều khiển của con người thì chúng chỉ là vật chất, không
có giá trị Máy móc thiết bị chỉ có thể hoạt động, là một nhân tố của quá trình sản xuất, là yếu tố mạnh nhất làm tăng năng suất lao động khi có sự điều khiển của con người Hay nói cách khác, máy móc chỉ có thể phát huy vai trò của mình khi có con người tác động Mặt khác, máy móc không thể tự nhiên mà có
mà nó do con người tạo ra Sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật
Trang 13và các tính năng của nó là do con người sáng tạo ra Vì thế, khả năng tăng năng suất lao động của máy móc, công nghệ cũng từ con người mà có.
Con người cung là một trong các yếu tố năng cao năng suất lao động Vai trò trong năng cao năng suất lao động của con người được thể hiện thông qua khả năng lao động của bản thân Khả năng lao động của con người lại chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như kỹ năng, kỹ xảo nghệ, sức khoẻ của người lao động, trình độ tổ chức lao động, điều kiện lao động, thái độ lao động… Nếu như người lao động có hiểu biết chuyên môn sâu, kỹ năng, kỹ xảo nghề thành thạo, sức khoẻ tốt, tổ chức lao động hợp lý, điều kiện lao động phù hợp sẽ góp phần tăng klhả năng lao động của con người tức là tăng năng suất lao động
Việc tăng năng suất lao động còn phụ thuộc vào chính bản thân con người
có muốn làm việc, có cố gắng hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra, cố gắng cải tiến phương thức làm việc cho hợp lý hơn để sản xuất có hiệu quả hơn, việc tận dụng thời gian ca làm việc tránh lãng phí….Tất cả đều phụ thuộc vào thái độ của họ Do đó, thái độ của người lao động cũng ảnh hưởng đến năng suất lao động
Qua đó ta thấy rằng, con người có vai trò vô cùng quan trọng trong nâng cao năng suất lao động Tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động đều xoay quanh con người, xuất phát từ con người Vời tầm quan trọng đó của yếu
tố con người, để có thể nâng cao năng xuất lao động thì cần thiết phải khai thác, phát huy yếu tố con người
Trang 14II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KHAI THÁC YẾU TỐ CON NGƯỜI
NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở TRUNG TÂM.
1 Đặc điểm của trung tâm.
a) Quá trình hình thành và phát triển, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Quá trình hình thành
Trong thời kỳ bị thực dân Pháp đô hộ, đất nước ta đã phải chịu nhiều chính sách phản động của chúng như chính sách ngu dân Chính những chính sách này đã để lại nhiều hậu quả to lớn, 95% dân số không biết chữ Vì vậy, sau thắng lợi cách mạng tháng 8- 1945, chính quyền về tay nhân dân, hội đồng chính phủ đã tiến hành cải cách giáo dục lần I nhằm xoá mù chữ và nâng cao trình độ văn hoá cho nhân dân lao động Do trong thời gian này, đất nước ta vừa giành chính quyền còn nhiều khó khăn , và nhiệm vụ chủ yếu của cuộc cải cách giáo dục lần I này là xoá mù chữ nên hệ thống trường lớp cũng như thiết bị trường học chưa được quan tâm
Tuy nhiên, đến thập kỷ 60, về căn bản đã xoá xong nạn mù chữ ở miển xuôi cho những người dưới 50 tuồi Yêu cầu thực tiễn là phải xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông trong toàn quốc để phục vụ cho quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc Do đó, 1958- 1959, nước ta tiến hành công cuộc cải cách giáo dục lần II với nguyên lý: “lý luận gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành” Với nguyên lý này, hệ thống trường lớp cũng như chương trình giảng dạy và thiết bị giáo dục bắt đầu được chú trọng và phát triển Đến 7/ 3/
1963, Cơ quan thiết bị trường học mới chính thức được thành lập ở Bộ giáo dục và đào tạo Trong quá trình phát triển của đất nước, các chương trình giáo dục thường xuyên thay đổi để phù hợp với yêu cầu của đất nước Do đó, Cơ quan thiết bị trường học cũng trải qua nhiều giai đoạn phát triển, thay đổi về
tổ chức và cơ chế hoạt động
Trang 15Từ năm 1966- 1971: Cơ quan thiết bị trường học đổi thành Vụ thiết bị trường học.
Năm 1971- 1985 đổi thành Công ty thiết bị trường học
Từ 12/ 1988- 8/ 1996 trở thành Tổng công ty cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục Sau sát nhập thuộc Bộ giáo dục và đào tạo
Từ năm 1996 đến nay đổi thành Công ty thiết bị giáo dục I
Công ty thiết bị giáo dục I là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập và hoạt động kinh tế độc lập theo quyết định số 3411/ GD- ĐT ngày 19/8/
1996 và số 4197/ GD- ĐT ngày 5/ 10/ 1996 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ( trên cơ sở sát nhập tổng công ty cơ sở vật chất và thiết bị với liên hiệp hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ)
Công ty là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân đầy đủ, hạch toán kinh tế độc lập Trụ sở chính đặt tại 49B Đại Cồ Việt- Hà Nội Tên giao dịch đối ngoại EDUCATIONAL EQUIPMENT COMPANY N01 (viết tắt là EEC01)
Sau khi chuyển thành công ty thiết bị giáo dục I thì tổ chức của công ty cũng có sự thay đổi Một số đơn vị được thành lập và tổ chức lại để phù hợp với chức năng nhiệm vụ của công ty Trung tâm đồ chơi- thiết bị mầm non là một đơn vị trực thuộc công ty Trung tâm được thành lập theo quyết định số 74/ QD ngày 15/ 11 1996 dựa trên sự sát nhập của 2 cơ sở là tổ làm đồ chơi thuộc liên hiệp các xí nghiệp chuyển giao công nghệ với trung tâm thiết bị dịch vụ nhà trẻ mẫu giáo thuộc vụ giáo dục mầm non thuộc Bộ giáo dục và đào tạo
Từ khi thành lập, trung tâm được phép hoạt động như một đơn vị hạch toán độc lập tức là phải tự sản xuất, tự tiêu thụ và tự trả lương cho công nhân Tuy nhiên, về mặt đối ngoại mọi hoạt động của trung tâm đều phụ thuộc và công ty Trung tâm chưa có tư cách pháp nhân, chưa có tài khoản riêng ở ngân hàng, chưa có con dấu riêng, chưa tự ký hợp đồng Trung tâm phải
Trang 16thông qua công ty mới ký được hợp đồng và vay vốn ngân hàng nhưng trách nhiệm trả vốn và lãi cho ngân hàng là do trung tâm trả.
Chức năng nhiệm vụ trung tâm là nghiên cứu duyệt mẫu sản xuất và cung ứng các thiết bị giáo dục mầm non, tổ chức tư vấn thiết kế lắp đặt bảo hành các cụm thiết bị đồ chơi cho các trường mầm non trọng điểm, tư thục, dân lập theo mục tiêu chương trình được bộ giáo dục và đào tạo phê duyệt
Cơ sở sản xuất của trung tâm đặt tại 62 Phan Đình Giót- Phương Liệt- Thanh Xuân
+ Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Do mới thành lập cách đây không lâu nên trung tâm cũng còn nhiều bỡ ngỡ và khó khăn để có thể tồn tại và phát triển, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay Tuy nhiên, trung tâm cũng đã dần định hướng cho mình một hướng đi và bước đầu cũng đạt được một số kết quả đáng khích lệ Điều
đó được thể hiện ở kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trung tâm.(Bảng 1)
Bảng 1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trung tâm.
so với năm 2000 và năm 2001) Mặc dù tổng doanh thu của trung tâm hàng năm đều tăng về mặt giá trị tuyệt đối, nhưng tốc độ tăng doanh thu hàng năm của trung tâm lại có xu hướng giảm Tốc độ tăng doanh thu năm 2002 là
Trang 179,24%, tốc độ tăng doanh thu năm 2001 là 21,46% Như vậy, tốc độ tăng doanh thu năm 2002 giảm 12,22% so với năm 2001 Qua đó ta thấy, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có xu hướng tăng nhưng không ổn định.
Một chỉ tiêu nữa cũng phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là lợi nhuận Mặc dù doanh thu tăng nhưng lợi nhuận hàng năm của trung tâm lại giảm đi Lợi nhuận năm 2000 là 278,217 triệu đồng và năm
2001 là 234,356 triệu đồng, giảm 43,861 triệu so với năm 2000 và lợi nhuận năm 2002 là 115,496 triệu, giảm 162,721 triệu so với năm 2000
Tổng doanh thu trong khi lợi nhuận giảm điều đó cho thấy doanh nghiệp mới chỉ chú trọng đến tăng doanh thu, chưa chú ý đến lợi nhuận nên doanh thu tăng nhưng chi phí cũng tăng làm lợi nhuận giảm Vì vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của trung tâm chưa ổn định và hiệu quả
b) Một số đặc điểm của trung tâm.
b1) Đặc điểm về sản phẩm.
Sản phẩm của trung tâm đồ chơi- thiết bị mầm non là đồ chơi và các thiết bị mầm non phục vụ cho việc dạy và học trong các trường mầm non trong toàn quốc Đồ chơi và thiết bị mầm non nói chung là khó sản xuất hàng loạt do yêu cầu phải đảm bảo tính sư phạm
Sản phẩm của trung tâm rất đa dạng, nó thay đổi tuỳ thuộc và chương trình giáo dục của ngành mầm non Sản phẩm chính của trung tâm trong những năm vừa qua là bàn ghế tiểu học và mẫu giáo, các dụng cụ đồ chơi ngoài trời, bộ xếp hình, đất nặn nhiều màu, tranh ảnh, kệ, bục Các sản phẩm này tương đối ổn định, hàng năm chỉ có một chút thay đổi như cải tiến về hình dáng và chất lượng sản phẩm Còn số lượng thay đổi theo yêu cầu tuỳ thuộc vào chủ đề hàng năm của bộ giáo dục và nhu cầu từng trường
Việc cung cấp các sản phẩm này thường mang tính thời vụ chủ yếu là
từ tháng 6 đến tháng 12 hàng năm
b2) Đặc điểm sản xuất và quy trình công nghệ.
Trang 18+ Đặc điểm về sản xuất.
Như đã trình bày ở trên, sản phẩm của trung tâm phục vụ cho trường học nên nó mang tính đặc thù Chỉ sản xuất đơn chiếc và theo hợp đồng chứ không sản xuất hàng loạt như các ngành khác
Trung tâm không tiến hành sản xuất hàng loạt là vì mặt hàng của trung tâm thường là đồ chơi và dụng cụ phục vụ cho việc dạy và học Đối tượng phục vụ là các trường mầm non, hẹp hơn nhiều so với các sản phẩm khác Nếu tiến hành sản xuất hàng loạt những sản phẩm này mà các trường học lại không có nhu cầu sẽ dẫn tới tình trạng tồn kho và ứ đọng vốn Điều này có hại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của trung tâm Vì vậy, sản phẩm của trung tâm không thể sản xuất theo kế hoạch và chỉ tiêu mà chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng
Do sản xuất theo đơn đặt hàng tức là sản xuất đơn lẻ, vì vậy máy móc ở đây rất thô sơ Đa phầm là sản xuất theo thủ công Vì sản xuất thủ công nên ở trung tâm không có sự chuyên môn hoá
+ Đặc điểm về quy trình công nghệ
Việc sản xuất của trung tâm được phân theo nghề: nghề mộc, cơ khí, nhựa, đất nặn Mỗi một nghề lại có quy trình sản xuất riêng và quy trình sản xuất của các nghề được biểu hiện như sau:
- Quy trình công nghệ của xưởng cơ khí
Sơ đồ 1: Quy trình sản xuất xưởng cơ khí.
Công đoạn khoan và cắt: Nhận kế hoạch sản xuất, nhận các nguyên vật liệu cần thiết, sau đó cắt theo kích cỡ yêu cầu
Công đoạn uốn, nắn: Các tấm thép sau khi đã cắt xong được uốn thành các hình cơ bản theo yêu cầu đường cong của sản phẩm
Khoan
cắt
Ho n àthiện
Uốn, nắn
H n, àgắn
M i, à
vệ sinh Sơn
Trang 19Công đoạn mài và vệ sinh: Tiến hành mài những chỗ ráp và rửa sản phẩm.
Công đoạn sơn hoàn thiện: Sau khi ghép các bộ phận xong tiến hành sơn các sản phẩm theo yêu cầu về màu sắc
Công đoạn hoàn thiện: Thành phẩm sản xuất xong được đóng gói và nhập kho
- Quy trình công nghệ xưởng Mộc
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất xưởng Mộc.
Công đoạn cưa: Sau khi nhận nguyên vật liệu cho sản xuất, cưa nguyên vật liệu thành các khối theo kích thước yêu cầu
Công đoạn đẽo gọt: Sau khi cưa gỗ thành các khối, tiến hành đẽo gọt các khối đó thành hình cơ bản của sản phẩm
Công đoạn lắp ghép, mài máy: Sau khi sản xuất xong các bộ phận của sản phẩm thì tiến hành lắp ráp các bộ phận đó thành sản phẩm hoàn chỉnh Sau đó sản phẩm được mài cho phẳng
Công đoạn chàtay: Sau khi chà máy xong, sản phẩm vẫn chưa mịn nên tiến hành chàtay để chà nhám bề mặt sản phẩm
Công đoạn sơn: Sản phẩm sản xuất xong được sơn theo yêu cầu về màu sắc
Công đoạn hoàn thiện: Thành phẩm được đóng gói và nhập kho
- Quy trình sản xuất xưởng nhựa
Sơ đồ 3: Quy trình sản xuất xưởng nhựa.
Ho n thi à ện
Trang 20Công đoạn trộn màu: Sau khi chọn mẫu sản xuất tiến hành chọn hột màu để pha màu nhựa sao cho phù hợp yêu cầu màu sắc của sản phẩm.
Công đoạn ép, thổi nhựa: Nếu là sản phẩm ép thì tiến hành ép nhựa, nếu là sản phẩm thổi thì thổi nhựa
Công đoạn đổ khuôn: Nhựa đã được ép và thổi xong đưa vào khuôn định dạng theo yêu cầu về hình dáng của sản phẩm
Công đoạn hoàn thiện: Sản phẩm đã sản xuất xong được cắt gọt những chỗ dư để hoàn thiện sản phẩm Sau đó đem đóng gói và nhập kho
- Quy trình công nghệ xưởng đất nặn và bút sáp
Sơ đồ 4: Quy trình sản xuất xưởng đất nặn, bút sáp.
Khâu pha chế và nấu nguyên liệu: Sau khi nhận kế hoạch sản xuất, xưởng tiến nhập các phụ gia cần thiết và đem pha chế chúng theo yêu cầu tiêu chuẩn và nấu
Khâu định dạng sản phẩm: Các phụ gia đã đun nóng xong được đổ vào khuôn để định dạng sản phẩm
Khâu hoàn thiện: Sản phẩm sản xuất xong được cắt gọt những chỗ thừa
để hoàn thiện sản phẩm Sau đó đem đóng gói và nhập kho
b3) Đặc điểm về nguyên vật liệu và năng lượng.
+ Nguyên vật liệu: Do sản phẩm của trung tâm rất đa dạng về chủng loại nên nguyên vật liệu để sản xuất ra các mặt hàng này cũng rất phong phú
và đa dạng bao gồm: Các loại thép đủ kích cỡ và chủng loại, các loại gỗ như
gỗ thông, cao su, ván ép Các loại nhựa như nhựa PP, HD, LD, PE ngoài ra còn có bột đá, phụ gia, sơn các màu và các bán thành phẩm của các cơ sở sản xuất khác
Pha chế, nấu
định dạng sản phẩm
Ho n à thiện
Trang 21Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì quá trình sản xuất, vì vậy việc đảm bảo nguyên vật liệu đầy đủ và kịp thời là rất quan trọng Ở trung tâm không có nguyên vật liệu dự trữ cho quá trình sản xuất Khi nào có hợp đồng thì mới lên kế hoạch sản xuất và định mức nguyên vật liệu cần thiết sau đó mới đi mua, chứ không nhập ồ ạt nguyên vật liệu vào kho vì như vậy sẽ dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn, tăng chi phí bảo quản Khối lượng nguyên vật liệu dùng cho mỗi hợp đồng không nhiều, trung tâm thường mua hàng trước, thanh toán sau Vì thế nhiều khi các nơi cung cấp không muốn bán hoặc trì hoãn việc giao hàng làm chậm tiến độ sản xuất, ảnh hưởng đến năng suất lao động Tuy nhiên, trung tâm tiến hành thu mua ở nhiều nơi cung cấp khác nhau nên nguyên vật liệu vẫn đảm bảo cung cấp kịp thời cho quá trình sản xuất.
+ Về năng lượng: Năng lượng chủ yếu dùng trong sản xuất ở trung tâm
là điện Trung tâm chỉ có một nguồn điện là nguồn điện cao thế, ngoài ra không còn nguồn điện nào khác để dự trữ Vì thế, nếu mất điện trung tâm phải ngừng sản xuất Tuy nhiên, điện lưới ở đây rất ổn định, khi nào sửa chữa đường dây bên điện lực sẽ báo trước để trung tâm có thể chuẩn bị và khắc phục Vì vậy, điện vẫn đảm bảo cho quá trình sản xuất
b4) Đặc điểm về máy móc thiết bị.
Đặc điểm sản xuất của trung tâm là sản xuất đơn lẻ nên số lượng máy móc của quá trình sản xuất ít Trung tâm có khoảng 25 chủng loại máy móc khác nhau Mỗi loại máy chỉ có 1 đến 2 cái Các loại máy móc trung tâm sử dụng thể hiện ở bảng 2
Trang 24Nói chung, phần lớn máy móc thiết bị của đơn vị đã lỗi thời, quá cũ và không đồng bộ Máy móc đơn giản, thô sơ, đòi hỏi phải có người trực tiếp điều khiển hoạt động Do máy móc thiết bị của trung tâm thô sơ và cũ nên năng suất lao động không cao Hàng năm chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu của các trường.
Tuy nhiên, gần đây trung tâm cũng đã nhận thấy cần phải cải tiến về công nghệ để nâng cao năng suất lao động và bước đầu đã thay một số máy móc quá cũ bằng những máy mới và hiện đại hơn như máy rôtơ của mộc, ép nhựa tự động, máy mài của cơ khí
b4) Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Trung tâm đồ chơi- thiết bị mầm non được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng, thực hiện chế độ một thủ trưởng Giám đốc trung tâm là người điều hành cao nhất Dưới giám đốc là 2 phó giám đốc và tiếp theo là các phòng chức năng và các xưởng sản xuất Đứng đầu các tổ là tổ trưởng, đứng đầu các xưởng là xưởng trưởng Việc phân công trách nhiệm, quyền hạn và quy định mối quan hệ của các cá nhân với các bộ phận trong bộ máy quản lý của trung tâm là do giám đốc quy định Mô hình tổ chức bộ máy được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 5: Mô hình tổ chức bộ máy của trung tâm
24
Giám đốc
Tổ cung
Phó giảm đóc
t i chính v à à
tổ chức
Phó giám đốc cung ứng
Tổ quản lý sản xuất
Tổ kế toán
Xưởng
nhựa
Xưởng đất
Tổ kế hoạch cung ứng
Xuởng mộc
Xưởng
cơ khí
Cửa
h ng à
Trang 252 Biến động năng suất lao động của trung tâm.
a) Biến động năng suất lao động theo giá trị tổng sản lượng.
Tính năng suất lao động theo giá trị tổng sản lượng cho ta biết được năng lực sản xuất của trung tâm Năng suất lao động của trung tâm được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Năng suất lao động theo giá trị tổng sản lượng.
Tuyệt đối
xu hướng tăng nhưng không ổn định Thể hiện:
TW2002/2001= (W2002- W2001)×100/ W2001= -5,12 %
Tính tương tự ta có:
TW2003/2002= 88,81 %
TW2003/2001= 79,15 %
Trang 26Ta thấy rằng tốc độ tăng năng suất lao động của trung tâm năm 2002 -5,12%, năm 2003 là 88,81% tăng 93,93% so với năm 2002, và so với năm
2001 thì năm 2003 năng suất lao động tăng 79,15% Điều này cho thấy, mặc
dù năng suất lao động của trung tâm tăng nhưng không ổn định Mặt khác, ta thấy rằng năng suất lao động bình quân 1 lao động của trung tâm còn tương đối thấp, điều này chứng tỏ rằng năng suất lao động của trung tâm còn thấp
Trang 27b) Biến động năng suất lao động theo nghề.
Thông qua năng suất lao động theo từng nghề cho ta thấy sự biến động năng suất lao động của các nghề ảnh hưởng tới năng suất lao động chung
Bảng 4: Biến động năng suất lao động theo nghề.
Tuyệt đối
Qua bảng 4 ta thấy, năng suất lao động giữa các xưởng là không đều
Xưởng cơ khí mặc dù năng suất lao động cao hơn so với các xưởng khác nhưng lại có xu hướng giảm xuống qua các năm năm 2001, năng suất lao động xưởng cơ khí là115712,95 nghìn đồng, trong khi đó năng suất lao động của xưởng nhựa là 18798,67 nghìn đồng, bằng 1/6 xưởng cơ khí, năng suất lao động xưởng đất nặn bút sáp bằng 1/5 xưởng cơ khí Nhưng năm
Trang 282002, năng suất lao động xưởng cơ khí là113034,67 nghìn đồng, giảm 2678,28 nghìn đồng so với năm 2001 Năm 2003, năng suất lao động là 93779,14 nghìn đồng, giảm 19255,53 nghìn so với năm 2002 Năng suất lao động của trung tâm trong những năm gần đây có xu hướng giảm là do: Máy móc đã quá cũ, nhiều máy móc bị hỏng nên không đáp ứng được yêu cầu sản xuất
Xưởng đất nặn, năng suất lao động không ổn định nhưng có xu hướng tăng lên Thể hiện, năm 2001 năng suất lao động của xưởng là 23148,48 nghìn đồng, năm 2002 năng suất lao động của xưởng là 22720,78 nghìn đồng, giảm so với năm 2001 là 1,85% Nhưng năm 2003 năng suất lao động của xưởng lại tăng vọt lên là 130791,43 nghìn đồng, gấp 5,65 lần so với năm 2001 Sở dĩ năm 2003, năng suất lao động của xưởng lại tăng vọt lên là do năm 2003 xưởng đất nặn thành lập thêm tổ hoàn thiện, chuyên gia công hàng bán thành phẩm của các cơ sở sản xuất khác, vì thế doanh thu của xưởng tăng lên làm năng suất lao động tăng
Trong khi năng suất lao động xưởng đất nặn và cơ khí không ổn định, thì năng suất lao động xưởng nhựa và xưởng mộc mặc dù không cao nhưng
có xu hướng tăng và ổn định Nếu năm 2002, năng suất lao động xưởng mộc
và xưởng nhựa là 25885,20 nghìn và 18798,67 nghìn tăng so với năm 2001 là 2,41% và 38,56% thì năm 2003 năng suất lao động của 2 xưởng này lần lượt
là 50649,51 nghìn và 75746,86 nghìn, tăng gấp 2 và 3 lần so với năm 2002 Nguyên nhân khiến năng suất lao động 2 xưởng này tăng và ổn định là do trong những năm vừa qua trung tâm đã đầu tư, trang bị mơi một số máy móc thiết bị hiện đại cho 2 xưởng này, vì thế làm năng suất lao động tăng
Tóm lại, qua biến động năng suất lao động của các nghề này ta lý giải được tại sao năng suất lao động của trung tâm không ổn định, khâu nào đã dẫn đến sự không ổn định đó
Trang 293 Những biện pháp của trung tâm nhằm khai thác yếu tố con người nâng cao năng suất lao động.
a) Biện pháp sử dụng số lượng lao động.
Đặc điểm sản xuất kinh doanh của trung tâm mang tính thời vụ Vì vậy
nó cũng ảnh hưởng đến số lượng lao động của trung tâm Lao động dài hạn và biên chế của trung tâm hàng năm chỉ chiếm khoảng 35% tổng lao động, còn lại là lao động thời vụ và hợp đồng ngắn hạn Do chủ yếu là lao động hợp đồng ngắn hạn và lao động thời vụ nên lao động của trung tâm biến động thường xuyên qua các năm tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh Khi nào nhiều việc, để đảm bảo tiến độ, trung tâm sẽ thuê thêm lao động và khi nào ít việc trung tâm sẽ giảm bớt lao động Tình hình lao động của trung tâm trong những năm vừa qua như sau:
Bảng 5: Kết cấu lao động của trung tâm.
Đơn vị: người
Tuyệt đối
Năm 2001, tổng số lao động của trung tâm là 113 người, năm 2002 là
116 người, tăng 3 người so với năm 2001 Và năm 2003 tổng lao động của trung tâm là 124 người, tăng 8 người so với năm 2002 Như vậy, tổng lao động của trung tâm có xu hướng tăng lên Việc tăng số lượng lao động đã góp ảnh hưởng tới năng suất lao động
Không chỉ có trung tổng số lao động mà sự thay đổi kết cấu lao động cũng ảnh hưởng đến năng suất lao động Kết cấu lao động của trung tâm trong
Trang 30những năm vừa qua cũng có sự thay đổi Nhưng sự thay đổi này là không hợp
lý Thể hiện, số lao động quản lý chiếm tỉ trong ngày càng cao trong tổng số lao động, còn tỉ trọng lao động sản xuất lại có xu hướng giảm Điều này trái với quy luật sản xuất, muốn tăng năng suất lao động phải giảm tỉ trọng lao động quản lý và tăng tỉ trọng lao động sản xuất Chính sự không hợp lý này
đã ảnh hưởng đến năng suất lao động và làm cho năng suất lao động của trung tâm trong những năm vừa qua không ổn định, tốc độ tăng năng suất lao động
có xu hướng giảm
Trang 31b) Biện pháp sử dụng thời gian lao động.
Số giờ làm việc trong ngày, số ngày làm việc trong tháng và trong năm cũng ảnh hưởng lớn tới người lao động, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động Tình hình sử dụng thời gian làm việc ở trung tâm thể hiện như sau: (bảng 6)
Bảng 6: Bảng sử dụng thời gian lao động của công nhân năm 2003.
Tổng số ngày làm việc trong quý Ngày 5002 5752 5978 5869
Tổng số giờ làm việc trong quý Giờ 4623,8
9
5931,95
7157,46
Quý I, số ngày làm việc bình quân trong tháng là 20 ngày ít hơn so với quy định là 2 đến 4 ngày, số giờ làm việc bình quân trong ngày là 7,4 giờ thấp hơn so với quy định là 0,6 giờ Qua đó ta thấy có sự lãng phí trong việc sử dụng thời gian lao động trong quý I
Trong khi đó, tình trạng phải làm thêm giờ và thêm ngày thường xuyên diễn
ra trong quý III và quý IV Số giờ làm việc bình quân 1 ngày của quý III là 9,58 giờ
và của quý IV là 9, 15 giờ Số ngày làm việc bình quân một ngày của quý III và quý
IV là 24 ngày Trên thực tế, số ngày người công nhân phải làm việc quá 26 ngày một tháng, có tháng họ phải làm việc từ 28 đến 29 ngày, và phải làm việc liên tục từ 10
Trang 32giờ đến 12 giờ một ngày trong tháng Tình trạng làm thêm giờ và thêm ngày liên tục như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của người lao động Với cường độ lao động như vậy nó sẽ làm kiệt quệ dần sức khoẻ của người lao động, họ sẽ cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng và từ đó giảm khả năng làm việc, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp ở hiện tại cũng như trong tương lai Tuy nhiên số ngày làm việc bình quân và số giờ làm việc bình quân chỉ là 24 ngày và 9,5 giờ là do có một số công nhân không làm đủ số ngày trong tháng, có tháng họ chỉ làm nửa tháng, thậm chí dưới mười ngày, và số giờ làm việc trong ngày chưa đủ 8 tiếng, hoặc chỉ làm nửa ngày (đây chủ yếu là công nhân phụ, hợp đồng thời vụ).
Việc bố trí công nhân làm thêm giờ nhưng trung tâm vẫn đảm bảo thực hiện theo quy định về thời giờ làm việc, tức là người lao động không làm thêm quá 4 giờ một ngày Số giờ làm việc tối đa ở trung tâm là 12 tiếng Đối với những công nhân làm thêm giờ ngoài tiền lương được trả theo quy định của pháp luật, họ còn được trung tâm trả thêm 8000 đồng đối với 1 ngày làm thêm giờ
Qua phân tích trên ta thấy rằng ở có sự không hợp lý trong việc khai thác thời gian lao động của công nhân trong trung tâm Lý do dẫn đến sự bất hợp lý này là:
- Đặc điểm sản phẩm của trung tâm mang tính thời vụ, việc tiêu thụ hàng hoá và các đơn đặt hàng chủ yếu tập trung vào 6 tháng cuối năm Vì vậy, trong quý III và quý IV công việc nhiều để đảm bảo tiến độ giao hàng, công nhân phải làm thêm giờ Trong khi đó 6 tháng đầu năm, công việc ít, trung tâm tiến hành sản xuất cầm chừng, vì vậy nhiều khi không sử dụng hết
số thời gian lao động trong ngày và trong tháng
- Mặt khác, lý do công nhân phải làm thêm giờ là do công việc quá nhiều trong khi đó với khả năng sản xuất hiện tại của trung tâm lại không đảm bảo kịp tiến độ để giao hàng do máy móc thiết bị cũ, tốn nhiều hao phí lao động, chưa khai thác hiệu quả số ngày làm việc trong tháng của công nhân