1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàngthương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín- Hà Nội

95 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 503,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp nhà nhập khẩu không có thiện chí hoặc không thanhtoán thì rủi ro thuộc về nhà xuất khẩuVì những đặc điểm trên, phương thức này thường được áp dụng trongnhững trường hợp

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Thời gian thực tập tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín

- chi nhánh Hà Nội tuy không dài nhưng đã giúp tôi được nhiều kiến thức thực

tế, bổ sung thêm những lý thuyết đã học trong nhà trường Điều này giúp tôi rấtnhiều trong việc làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp này và quá trình công tácsau này Tôi xin chân thành cảm ơn

 PGS, TS Vũ Duy Hào đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề thựctập tốt nghiệp này

 Đồng thời tôi xin cảm ơn các anh chị tại ngân hàng Sài Gòn Thương tín - chinhánh Hà Nội đã hết sức tận tình chỉ dẫn và cung cấp tài liệu cho tôi trong quátrình thực tập tại đây

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta mới bắt đầu chuyển sang nền kinh tế mở được mười tám năm,

đó cũng chính là tuổi trưởng thành thực sự của hoạt động kinh tế đối ngoại ViệtNam Mười tám năm, một quãng thời gian dài trong một đời người nhưng chỉ làmột bước đi nhỏ so với sự phát triển về thương mại quốc tế của những nướcphát triển trên thế giới Những khó khăn thử thách đang chờ đợi chúng ta ở phíatrước trên con đường hội nhập kinh tế, quốc tế hoá, toàn cầu hoá và những rủi

ro trong lĩnh vực thương mại quốc tế đã và đang nẩy sinh khó lường

Với tỷ lệ lên tới 90% các giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu, phươngthức tín dụng chứng từ đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các ngânhàng trong các phương thức thanh toán quốc tế không chỉ bởi thu nhập mà nóđem lại mà cả những rủi ro có thể gặp khi áp dụng phương thức này (dù nóđược coi là phương thức ưu việt hơn cả) Nếu xét trong toàn bộ nền kinh tế,hàng năm những thiệt hại do những rủi ro trong phương thức này gây ra khiếnchúng ta không khỏi lo ngại, những thiệt hại này có thể lên đến hàng triệu đôla,

đe doạ đến sự an toàn của cả hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu

Không nằm ngoài sự phát triển đó của nền kinh tế, ngân hàng thương mại

cổ phần Sài Gòn thương tín chi nhánh Hà Nội cũng không tránh khỏi những rủi

ro trong khi áp dụng phương thức tín dụng chứng từ Do vậy, việc hoàn thiện vàphát triển công tác thanh toán quốc tế, cụ thể là nghiên cứu và phòng tránh cácrủi ro trong thanh toán quốc tế nói chung, trong phương thức tín dụng chứng từnói riêng là một trong những mối quan tâm cấp bách và thường xuyên của mỗingân hàng thương mại Việt Nam

Xuất phát từ thực tế trên, sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã

mạnh dạn chọn đề tài thực tập tốt nghiệp là " Giải pháp hạn chế rủi ro trong

Trang 3

thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín- Hà Nội" chỉ với mục đích làm sáng

tỏ vai trò, vị trí của phương thức tín dụng chứng từ trong nên kinh tế thị trường,luận giải có tính hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn các rủi ro và nguyên nhângây ra rủi ro trong phương thức này Từ đó, đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi

ro khi áp dụng phương thức tín dụng chứng từ để hoàn thiện dần hoạt độngthanh toán quốc tế đạt hiệu quả cao

Với phạm vi của một chuyên đề thực tập tốt nghiệp, tôi cũng chỉ xin tậptrung nghiên cứu và trình bày các cơ sở lý luận theo thông lệ quốc tế liên quanđến hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ, thực tiễn về hoạt động này tại ngânhàng Sacombank Hà Nội trong những năm gần đây (từ 2001 đến 2003)

Kết cấu của chuyên đề gồm ba chương:

Chương I_Cơ sở lý luận về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín

dụng chứng từ

Chương II_Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín

dụng chứng từ tại ngân hàng Sài Gòn thương tín Hà Nội

Chương III_Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương

thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Sài Gòn thương tín Hà Nội

Trang 4

CHƯƠNG I_CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

1.1_Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:

1.1.1_Những vấn đề chung về thanh toán quốc tế:

1.1.1.1 _ Khái niệm thanh toán quốc tế:

Ngày nay, các nước không thể hoạt động trong một nền kinh tế đóng mànhất thiết phải có những hoạt động trao đổi hàng hoá với các nước bên ngoài

Do đó, tất yếu phải nảy sinh nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữa các chủ thể

ở các quốc gia khác nhau, đó chính là nhu cầu thực hiện hoạt động thanh toánquốc tế

Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thường được thực hiện thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước có liên quan.

Như vậy, thanh toán quốc tế bao gồm cách thức trả tiền trong giao dịch,buôn bán ngoại thương hay các hoạt động phi kinh tế giữa các chủ thể tại cácquốc gia khác nhau, ở đây là người bán và người mua, người xuất khẩu và nhậpkhẩu Nó cho thấy người bán dùng cách nào để thu được tiền sau khi bán hàngcòn người mua dùng cách nào để trả tiền cho người bán sau khi nhận hàng mìnhmuốn Và như vậy, họ đều đạt được đến đích cuối cùng là người bán nhận đủtiền, người mua nhận đủ hàng theo đúng hợp đồng

1.1.1.2_ Vai trò của thanh toán quốc tế:

*Ở tầm vĩ mô:

Thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng, nó như một chất xúctác giúp cho guồng máy kinh tế đối ngoại và thương mại giữa các nước được

Trang 5

diễn ra trôi chảy, ngoại thương thực hiện tốt chức năng của mình là mở rộng lưuthông hàng hóa ra nước ngoài và đem ngoại tệ về cho đất nước.

Thanh toán quốc tế diễn ra nhanh, chính xác, đúng luật sẽ giảm được thờigian chu chuyển vốn, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá giữa các nước.Ngoài ra, với cơ sở "đôi bên cùng có lợi", thanh toán quốc tế ko chỉ quan tâmđến lợi ích của mình mà còn của bạn hàng, góp phần xây dựng mối quan hệ đốitác hợp tác, lâu dài giữa các nước

Nhờ việc nghiên cứu tình hình thanh toán quốc tế, Nhà nước có thể quản

lý được cán cân mậu dịch, xem ngoại thương đang xuất siêu hay nhập siêu, nênkhuyến khích hay hạn chế những mặt hàng xuất nhập khẩu nào Từ đó, nhànước đề ra những chính sách ngoại thương thích hợp, điều chỉnh những điều bấthợp lý trong hệ thống pháp luật hay chính sách liên quan đến thanh toán quốc tếtạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương và nền kinh tế phát triển

*Ở tầm vi mô:

Xét trên góc độ doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế đảmbảo an toàn cho các hợp đồng xuất nhập khẩu, thu hồi đầy đủ, đúng hạn tiềnhàng để tiếp tục guồng máy sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu làm ăn hiệu quả và có lợi nhuận

Ngoài ra, thông qua số liệu mà hoạt động thanh toán quốc tế cung cấp,doanh nghiệp xuất nhập khẩu có điều kiện nắm bắt các thông tin về thị trườngtrong và ngoài nước, hiểu thêm về các đối tác của mình để đưa ra hướng giảiquyết tốt hơn, đề phòng rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả giao dịch xuất nhậpkhẩu

1.1.1.3_ Các phương thức trong thanh toán quốc tế:

*Phương thức ghi sổ:

Đây là phương thức thanh toán trong đó nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành giao hàng thì ghi Nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ theo dõi; việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường theo định

Trang 6

kỳ như đã thoả thuận Như vậy, về thực chất đây là phương thức thanh toán nợ còn khất lại.

Từ khái niệm trên ta thấy được các đặc điểm của phương thức này:

- Hai bên mua bán phải thực sự tin tưởng lẫn nhau

- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là nhà xuất khẩu và nhập khẩu màkhông có sự tham gia của ngân hàng

- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên Nếu ngườinhập khẩu mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo dõi, không

có hiệu lực thanh quyết toán

- Dùng chủ yếu trong mua bán hàng đổi hàng hay khi có một loạt cácchuyến hàng thường xuyên, định kỳ trong một thời gian nhất định

Ta thấy phương thức này có lợi cho người mua nhiều hơn vì họ có thểmua chịu hàng, giảm được áp lực thanh toán, thậm chí còn được lợi khi ngoại tệgiảm giá nếu đơn thanh toán bằng ngoại tệ

*Phương thức chuyển tiền:

Chuyển tiền là phương thức trong đó khách hàng (người yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.

Ta có thể thấy được đặc điểm của phương thức này:

- Chỉ được áp dụng trong các trường hợp các bên mua bán có uy tín và tincậy lẫn nhau vì trong phương thức này, việc có trả tiền hay không phụ thuộcnhiều vào thiện chí của nhà nhập khẩu Người nhập khẩu sau khi nhận hàng cóthể không tiến hành chuyển tiền hoặc cố tình kéo dài thời hạn chuyển tiền nhằmchiếm dụng vốn của người xuất khẩu, điều này làm quyền lợi của nhà xuất khẩukhông được đảm bảo

- Ngân hàng khi thực hiện chuyển tiền đóng vai trò trung gian thanh toántheo uỷ nhiệm của khách hàng để hưởng phí, không bị ràng buộc bất cứ điều gìvới các bên

- Là phương tiện thanh toán đơn giản, thuận tiện, chi phí thấp

Có hai hình thức chuyển tiền là:

Trang 7

- Chuyển tiền bằng thư

- Chuyển tiền bằng điện

*Phương thức nhờ thu:

Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó bên bán (nhà xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ cho bên mua (nhà nhập khẩu) để thanh toán hay chấp nhận thanh toán trên cơ sở hối phiếu do nhà xuất khẩu lập ra

Có hai loại nhờ thu:

*Nhờ thu phiếu trơn:

Là phương thức thanh toán trong đó nhà xuất khẩu uỷ nhiệm cho ngânhàng phục vụ mình thu hộ tiền người nhập khẩu, chỉ căn cứ vào hối phiếu donhà xuất khẩu lập ra Các chứng từ thương mại được bên xuất khẩu chuyển giaotrực tiếp cho bên nhập khẩu, không qua ngân hàng

Nhìn chung phương thức thanh toán nhờ thu phiếu trơn không đảm bảoquyền lợi cho nhà xuất khẩu, vì giữa việc nhận hàng và thanh toán của ngườinhập khẩu không có sự ràng buộc lẫn nhau Ngược lại, người nhập khẩu cũng

có thể gặp rủi ro khi đã thanh toán cho hối phiếu đến trước mà hàng hoá đến saukhông đúng số lượng và chất lượng như hợp đồng đã ký Vì vậy, nhờ thu phiếutrơn chỉ áp dụng trong những trường hợp nhà xuất khẩu và nhập khẩu thực sựtin tưởng lẫn nhau, như là công ty mẹ, công ty con hay chi nhánh của nhau

*Nhờ thu kèm chứng từ:

Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ởngười mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từhàng hoá gửi kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhậntrả tiền hối phiếu thì ngân hàng trao bộ chứng từ cho người mua để nhận hàng

-Với phương thức này, trách nhiệm của ngân hàng đã được nâng cao,ngân hàng đã khống chế được bộ chứng từ hàng hoá về mặt pháp lý do ngườibán buộc người mua phải thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán theo tiền hàngtrước khi nhận hàng, do vậy quyền lợi của người bán đã được đảm bảo hơnnhưng nó lại chỉ có tác dụng khi người mua muốn nhận hàng hoá

Trang 8

- Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò người trung gianthu hộ tiền, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua Việc trảtiền hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của ngườimua Trong trường hợp nhà nhập khẩu không có thiện chí hoặc không thanhtoán thì rủi ro thuộc về nhà xuất khẩu

Vì những đặc điểm trên, phương thức này thường được áp dụng trongnhững trường hợp sau:

-Hàng nhập khẩu là hàng mẫu hoặc là những lô hàng có giá trị nhỏ, khótiêu thụ

- Hai bên mua bán hàng hoá có quan hệ bạn hàng tin cậy, khi đó, thanhtoán tiền hàng theo hình thức này sữ tiết kiệm phí dịch vụ ngân hàng

- Người xuất khẩu không thực hiện đúng các điều kiện của thư tín dụng,phải chuyển sang nhờ thu

Có hai loại nhờ thu kèm chứng từ:

- Phương thức nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (Documents against payment

- D/P)

Phương thức này được sử dụng trong buôn bán hàng hoá trả tiền ngay.Người bán sau khi giao hàng sẽ lập bộ chứng từ cần thiết (theo thoả thuận hợpđồng) mang đến nhờ ngân hàng thu hộ Ngân hàng đại lý báo cho người muabiết và chỉ giao chứng từ đi nhận hàng cho người này trong trường hợp ngườimua thanh toán ngay số tiên ghi trên hối phiếu

- Phương thức nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documents AgainstAcceptance- D/A)

Phương thức này thường sử dụng rộng rãi trong trường hợp người bánhàng với điều kiện cấp tín dụng cho người mua Trình tự tiến hành và nội dungcũng giống như D/P nhưng khác ở chỗ người mua chỉ cần chấp nhận trả tiền hốiphiếu có kỳ hạn do người bán lập ra thì sẽ được ngân hàng trao toàn bộ chứng

từ đi nhận hàng Hối phiếu đã được người mua ký chấp nhận được ngân hànggửi trả lại cho người bán hoặc giữ lại và điện thông báo cho ngân hàng bên bán

Trang 9

Đến khi tới hạn hối phiếu, người mua trả tiền cho người hưởng lợi theo hốiphiếu.

*Tín dụng chứng từ:

Trong hoạt động kinh doanh, người bán bao giờ cũng muốn thu được tiềnhàng càng sớm càng tốt, tránh tồn đọng vốn trong lưu thông Còn người muabao giờ cũng không muốn trả tiền ngay, càng không muốn trả tiền trước khikhông biết mình có nhận được hàng đúng số lượng và chất lượng hay không Vìvậy, người mua và người bán có quyền lợi ngược nhau trong thanh toán tiềnhàng

Hơn nữa, việc mua bán hàng hoá, dịch vụ được tiến hành giữa các thươngnhân ở các nước khác nhau, trong bối cảnh bất đồng về ngôn ngữ, luật pháp, tậpquán thương mại thương nhân muốn có bên thứ ba độc lập, có uy tín, có tiềmlực tài chính đứng ra làm trung gian cho việc thanh toán, trung gian đó chính làngân hàng

Để ràng buộc trách nhiệm cũng như sự tương xứng với quyền lợi giữa cácbên trong quá trình thanh toán tiền hàng trong xuất nhập khẩu, tín dụng chứng

từ ra đời Tín dụng chứng từ thể hiện mức độ tin cậy thấp giữa các bên Mặc dùcòn nhiều hạn chế và khó khăn cho cả hai bên nhưng tín dụng chứng từ ngàycàng trở nên phổ biến và đã trở thành phương thức thanh toán quốc tế chủ yếuhiện nay

1.1.2_ Phương thức tín dụng chứng từ:

1.1.2.1_ Khái niệm:

Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng - Letter of Credit) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này

ký phát khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng

Trang 10

Như vậy, thực chất tín dụng chứng từ là sự cam kết trả tiền của ngân hàngphát hành sẽ trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình cho ngân hàng đầy

đủ chứng từ thể hiện việc hoàn thành nghĩa vụ đúng yêu cầu Thuật ngữ "tíndụng" ở đây được dùng theo nghĩa rộng là "tín nhiệm" chứ không phải để chỉ

"một khoản cho vay" theo nghĩa thông thường Điều này được thể hiện rõ trongtrường hợp khi người nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chấtngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào Ngay trong trường hợpnhà nhập khẩu không hề ký quỹ thì một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khingân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ nhànhập khẩu Như vậy, thuật ngữ "tín dụng" trong phương thức tín dụng chứng từthể hiện khoản "tín dụng trừu tượng" bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thaycho kời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà nhậpkhẩu

1.1.2.2_ Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ:

* Các bên tham gia:

- Người xin mở thư tín dụng: (Applicant): là người mua, người nhập khẩuhàng hoá hay một người được người này uỷ thác

- Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank): là ngân hàng đại diện chongười nhập khẩu

- Người hưởng lợi thư tín dụng (Beneficiary): là người xuất khẩu hay bất

cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định

- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising Bank): thường là ngânhàng ở nước người hưởng lợi, ngân hàng này sẽ thông báo về L/C cho ngườihưởng lợi

Ngoài ra còn một số ngân hàng khác tham gia vào phương thức thanhtoán này như:

- Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank) (Nếu có): Trong trường hợpngười bán không tín nhiệm ngân hàng phát hành, họ yêu cầu L/C phải được xácnhận bởi một ngân hàng khác gọi là ngân hàng xác nhận Ngân hàng này thường

là một ngân hàng lớn có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế

Trang 11

Ngân hàng xác nhận thường là ngân hàng thông báo nhưng cũng có thể là mộtngân hàng khác theo yêu cầu của người xuất khẩu

- Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngânhàng phát hành chỉ định để thưc hiện việc thương lượng, chiết khấu hay thanhtoán L/C

- Ngân hàng chiết khấu (Negotiating Bank): là một ngân hàng khác dongân hàng mở L/C uỷ nhiệm đứng ra mua hối phiếu hay thương lượng chứng từ

do người bán ký phát cho ngân hàng Tuỳ theo quy định của L/C mà ngân hàngthứ ba nào đó do ngân hàng mở L/C quy định

- Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank): là ngân hàng được uỷ quyềncủa ngân hàng mở chuyển tiền cho ngân hàng đòi tiền

- Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering Bank): Nếu L/C cho phép đượcchuyển nhượng, ngân hàng này sẽ đứng ra chuyển nhượng L/C từ người nàysang người khác theo yêu cầu của người hưởng đầu tiên

*Quy trình nghiệp vụ:

Bước 1_Hai bên mua, bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoảnthanh toán theo phương thức L/C

(3)(6)Ngân hàng phát

(1)

(5)

Trang 12

Bước 2_ Tên cơ sở các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoạithương, nhà nhập khẩu làm đơn gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu pháthành một L/C cho người xuất khẩu hưởng

Bước 3_ Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý, ngân hàng phát hànhlập một L/C và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước xuất khẩu để thôngbáo về việc phát hành L/C và chuyển L/C đến người xuất khẩu

Bước 4_ Khi nhận được thông báo L/C, ngân hàng thông báo sẽ thôngbáo cho nhà xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc phát hành L/C, vàkhi nhận được bản gốc của L/C thì chuyển ngay và nguyên vẹn cho nhà xuấtkhẩu

Bước 5_ Nhà xuất khẩu nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng cònnếu không thì đề nghị người nhập khẩu thông qua ngân hàng phát hành sửa đổi,

bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương

Bước 6_ Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bợchns từ theo yêu cầu củaL/C và xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng phát hành L/C

để thanh toán

Bước 7_Ngân hàng phát hành L/C sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấyphù hợp với L/C do mình phát hành thì tiến hành thanh toán cho nhà xuất khẩu,nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từcho người nhập khẩu sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán

Bước 8_ Ngân hàng phát hành L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộchứn từ cho người nhập khẩu sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanhtoán

Bước 9_Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/Cthì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chốitrả tiền

*Nội dung của thư tín dụng:

Thư tín dụng bao gồm những điều khoản chủ yếu sau:

- Số hiệu (Credit number)

- Địa điểm mở thư tín dụng

- Ngày mở của thư tín dụng (Date of issue)

Trang 13

- Số tiền của thư tín dụng

- Thời hạn hiệu lực

- Thời hạn trả tiền (Date of payment)

- Thời hạn giao hàng (Date of shipment)

- Các nội dung về hàng hóa như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả,quy cách phẩm chất, bao bì, ký, mã hiệu

- Các nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá như điều kiện cơ sở giaohàng (FOB, CIF, CFR), nơi gửi, nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giaohàng

- Những chứng từ mà người xuất khẩu trình: Đây là nội dung then chốtcủa thư tín dụng, là bằng chứng để chứng minh rằng người xuất khẩu hoànthành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều kiện ghi trong thư tín dụng.Những chứng từ này thường gồm có:

+ Hóa đơn thương mại (Commercial invoice)+ Vận đơn đường biển (Bill of lading)

+ Bảo hiểm đơn (Insurance Policy)+ Hối phiếu (Bill of exchange(

+ Phiếu đóng gói/phân loại (Packing list/Specification)+ Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate of Origin)+ Giấy chứng nhận trọng lượng

+ Chứng nhận giám định

- Các điều khoản đặc biệt

- Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở thư tín dụng

- Chữ ký của ngân hàng mở thư tín dụng

1.1.2.3_Đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ:

Trang 14

Đặc trưng này cũng thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng không thay đổi Khihợp đồng thương mại thay đổi mà không sửa đổi thư tín dụng thì ngân hàng vẫncăn cứ vào thư tín dụng để thanh toán mà không cần biết đến sự thay đổi củahợp đồng Ngược lại, khi thư tín dụng đã được sửa đổi mà không sửa đổi hợpđồng thì khi xuất trình bộ chứng từ thanh toán, tuy phù hợp với hợp đồng màtrái với thư tín dụng thì ngân hàng phát hành có quyền từ chối thanh toán.

*Tính tuân thủ:

Trong phương thức tín dụng chứng từ, các bên liên quan chỉ giao dịchcăn cứ vào chứng từ, không căn cứ vào hàng hoá Vì các bên chỉ mua bán theochứng từ về quyền sở hữu hàng hoá nên bộ chứng từ hàng hoá là căn cứ duynhất quyết định các giao dịch có được thực hiện hay không Chính bộ chứng từnày mới là cơ sở để người bán có thể đòi diền ngân hàng mở thư tín dụng, ngânhàng mở thư tín dụng trả tiền hay từ chối thanh toán, và đây cũng là căn cứ duynhất để người mua hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng mở thư tín dụng.Như vậy, trong phương thức này, chứng từ đóng vai trò hết sức to lớn vì nótượng trưng cho giá trị hàng hoá mà người bán đã giao và cho phép người mua

sử dụng Có quan điểm cho rằng ngân hàng không nên bắt lỗi các khác biệt

Trang 15

không nghiêm trọng và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ không có nghĩa là phải tìm

ra các lỗi chính tả do in ấn hay các lỗi kỹ thuật tong chứng từ Tuy nhiên, cách

an toàn nhất cho các ngân hàng vẫn là tiến hành tuân thủ chặt chẽ, ngân hàngphải kiểm tra hết sức cẩn thận bộ chứng từ mà người bán xuất trình để bảo vệcho người mua và cũng cho chính bản thân ngân hàng

Dù được thực hiện dưới hình thức nào, có chủ thể nào tham gia hay bảnchất của nó là gì thì một yếu tố không thể không nhắc đến trong phương thức tíndụng chứng từ là thư tín dụng Đây chính là xương sống cho việc xác lập cũngnhư thực hiện thanh toán theo phương thức này

1.1.2.4_Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ:

*Ưu điểm:

*Đối với người nhập khẩu:

- Tận dụng được tín dụng của ngân hàng, đây là điểm thiết yếu trong kinhdoanh quốc tế vì khoảng thời gian từ lúc mở L/C cho đến khi thu được tiền hàng

là khá dài, do đó, nếu được ngân hàng cho phép miễn ký quỹ một phần hay toàn

bộ trị giá L/C thì không khác gì ngân hàng đã cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu

- Được đảm bảo rằng sẽ chỉ bị ghi nợ tài khoản số tiền L/C khi tất cả cácđiều khoản đưa ra trong L/C được thực hiện đúng

- Được đảm bảo hàng hoá phù hợp với bộ chứng từ theo các điều kiện vàđiều khoản đã ký kết trong hợp đồng ngoại thương như số lượng, chất lượng,thời gian giao hàng

- Vì có sự đảm bảo về thanh toán, người nhập khẩu có thể thương lượng

để đạt được giá cả tốt hơn và mở rộng được quan hệ khách hàng cũng như quy

mô kinh doanh

*Đối với nhà xuất khẩu:

- Được đảm bảo rằng khi xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thì sẽ nhận đượctiền thanh toán mà không phải chờ đến khi người nhập khẩu chấp nhận hànghóa hay chấp nhận bộ chứng từ, hay có tình trạng tài chính không khả quan

Trang 16

- Để có ưu thế trong việc ký kết hợp đồng ngoại thương, nhà xuất khẩu cóthể đồng ý để nhà nhập khẩu trả chậm trên cơ sở ngân hàng phát hành chấpnhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn Nhà xuất khẩu có thể bán hối phiếu đượcchấp nhận thanh toán trên thị trường hoặc chiết khấu tại ngân hàng để nhận tiềnngay Do đó, nhà xuất khẩu nhanh chóng thu hồi vốn và đầu tư tái sản xuất.

*Đối với ngân hàng:

-Khi tiến hành nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng có thểthu phí dịch vụ của khách hàng như phí phát hành L/C, phí tu chỉnh, các phíkhác có liên quan Và ngoài ra còn có các khoản thu nhập liên quan đếnchuyển đổi tiền tệ

- Thông qua việc cung cấp dịch vụ thanh toán, các hoạt động khác củangân hàng cũng phát triển như tăng được tài khoản ký quỹ, tín dụng xuất nhậpkhẩu, bảo lãnh

- Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năngkinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau

Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất mà tín dụng chứng từ đem lại là tìm được sựnhất trí tương đối giữa những lợi ích trái ngược nhau giữa người bán và ngườimua trong vấn đề thanh toán làm cho thời gian trả tiền phù hợp với thời giangiao hàng Chính vì vậy mà tín dụng chứng từ đã và đang được sử dụng phổbiến nhất trong thanh toán quốc tế

*Nhược điểm:

-Tín dụng chứng từ là phương thức đòi hỏi một quy trình thanh toán quốc

tế rất tỷ mỉ, đôi khi là máy móc, đòi hỏi các bên hết sức cẩn thận trong khâu lập

và kiểm tra chứng từ, bất cứ một sơ xuất nhỏ nào cũng có thể là nguyên nhânkhiến ngân hàng từ chối thanh toán

- Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộchứng từ xuất trình Ngân hàng chỉ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của chứng

từ mà không chịu trách nhiệm về tính chất bên trong của chứng từ Người mua

có thể giả mạo chứng từ, không giao hàng hoặc giao hàng không đúng như

Trang 17

trong chứng từ nhằm mục đích thu tiền hàng Trong trường hợp này, nhà nhậpkhẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân hàng phát hành

- Nếu người mua thiếu thiện chí trong kinh doanh có thể tìm ra những lỗirất nhỏ, không quan trọng để từ chối thanh toán trong khi người bán đã giaohàng đầy đủ, đúng hạn như trong hợp đồng

- Người bán rất khó khăn trong việc đáp ứng những đòi hỏi chặt chẽ vàkhắt khe của bộ chứng từ

Tóm lại, ta thấy tín dụng chứng từ là một phương thức đòi hỏi sự chínhxác và chặt chẽ tuyệt đối Tuy nhiên, nó vẫn là phương thức được sử dụng phổbiến nhất trong thanh toán quốc tế ngày nay

1.1.2.5_Các loại thư tín dụng trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ:

*Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C):

Là một loại L/C mà ngân hàng và người nhập khẩu có thể sửa đổi hoặchuỷ bỏ tuỳ ý mà không cần báo cho người bán (hay người hưởng lợi L/C) biếttrước Cho đến nay loại L/C này chỉ tồn tại trên lý thuyết

*Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C):

Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở và người xuất khẩu thừa nhận thìngân hàng mở L/C không được sửa đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời hạn hiệulực của L/C, trừ khi có sự thoả thuận của các bên tham gia Hiện nay loại thư tíndụng không thể huỷ ngang được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế vàđược coi là loại L/C cơ bản nhất

*Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable L/C):

Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được một ngân hàng khác xácnhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C Trong hầu hết cáctrường hợp, trách nhiệm của ngân hàng xác nhận giống như của ngân hàng mở,

do đó ngân hàng mở phải trả phí xác nhận, và có thể phải ký quỹ 100% giá trị

Trang 18

L/C Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền nên loại L/C này là chắc chắnnhất cho người xuất khẩu

*Thư tín dụng không thể huỷ ngang miễn truy đòi (Irrevocable ưithout recourse L/C):

Là loại thư tín dụng mà sau khi mở người xuất khẩu đã được trả tiền thìngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền ở người xuất khẩu trong bất cứtrường hợp nào

*Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C):

Thư tín dụng tuần hoàn là thư tín dụng không thể huỷ ngang khi đượcthanh toán hết giá trị L/C hoặc hết thời hạn hiệu lực thì nó tự động có giá trị nhưban đầu Và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồngđược thực hiện xong

*Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang trong đó quy định quyền của ngânhàng trả tiền (ngân hàng chuyển nhượng) được chuyển nhượng một phần haytoàn bộ giá trị L/C cho người thứ ba (có thể là một hay nhiều người) theo lệnhcủa người hưởng lợi đầu tiên L/C này chỉ được chuyển nhượng một lần

*Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C):

Là thư tín dụng được mở dựa vào một L/C khác, nghĩa là sau khi nhậnđược L/C do người nhập khẩu mở, người xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp

mở L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống với L/C banđầu L/C mở sau được gọi là L/C giáp lưng

*Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C):

Là loại thư tín dụng trong đó ngân hàng mở L/C cam kết với người nhậpkhẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoànthành nghĩa vụ giao hàng theo quy định của L/C, đồng thời sẽ bồi thường cáckhoản thiệt hại do mình gây ra cho nhà nhập khẩu

Trang 19

*Thư tín dụng đối ứng (Recipocal L/C):

Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy định rằng nó chỉ có giá trịkhi L/C khác đối ứng với nó được mở Tuy vậy thư tín dụng này không đượcICC (International Chamber of Commerce) đưa vào danh sách các loại thư tíndụng

*Thư tín dụng thanh toán dần dần (Deferred payment L/C):

Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang trong đó ngân hàng mở (vàngân hàng xác nhận nếu có) cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dầntoàn bộ giá trị L/C trong những thời hạn đã quy định rõ trong L/C đó

*Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C):

Là sự uỷ quyền của ngân hàng mở L/C cho ngân hàng chiết khấu ứngtrước một khoản tiền cho người hưởng lợi L/C (người xuất khẩu) để người này

có vốn thực hiện mua hàng theo nội dung L/C mở Theo thư tín dụng người xuấtkhẩu có quyền đòi một số tiền ứng trước vào khoản thanh toán sau này màngười xuất khẩu được hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ thanh toán

Như vậy, có rất nhiều loại L/C, mỗi loại đều được sử dụng trong nhữngđiều kiện cụ thể khác nhau sao cho phù hợp nhất với nhà xuất khẩu, nhập khẩu

và các ngân hàng tham gia

1.2_Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ:

1.2.1_Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về rủi ro như: rủi ro trong hoạt

động kinh tế là những tổn thất mà các doanh nghiệp phải gánh chịu trong hoạt động kinh doanh của mình hay rủi ro là những bất trắc gây ra mất mát

Trang 20

thiệt hại Tóm lại, rủi ro là những điều nằm ngoài ý muốn của con người và gây ra những tổn thất cho con người

Trong hoạt động của mình, ngân hàng thương mại cũng phải gánh chịunhững rủi ro Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặcbiệt, đó là tiền tệ, vì vậy ngân hàng là một ngành kinh tế nhậy cảm, hoạt độngcủa ngân hàng với bản chất của nó chịu ảnh hưởng rất nhiều loại rủi ro, phứctạp, luôn đi cùng với các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng Sở dĩ ta nói nhưvậy là do cùng với quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, nguồn tiền củacác ngân hàng thương mại có nhiều thay đổi, dễ dàng di chuyển hơn, nhạy cảmvới lãi suất, tỷ giá hơn Điều này tạo thuận lợi cho ngân hàng trong việc tìmkiếm nguồn tiền song làm tăng tính kém ổn định của cả hệ thống Không nhữngvậy, ngân hàng là một tổ chức tài chính có quan hệ mật thiết với tất cả các thànhphần trong nền kinh tế, vì vậy bất kỳ một sự thay đổi nào của các thành phần đócũng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Thực tiễn đã chứng minh rằnghoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu nhiều rủi ro nhất

Rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng thương mại là khả năng xảy

ra tổn thất ngoài dự kiến của ngân hàng.

Cũng có ý kiến cho rằng rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra ngoài dựkiến gắn liền với giảm sút thu nhập ngoài dự kiến Tuy nhiên bản chất chungcủa rủi ro là luôn gây tổn thất cho ngân hàng

Ngân hàng phải chịu rất nhiều rủi ro, nhưng nhìn chung có các loại rủi ronhư sau:

- Rủi ro tín dụng

- Rủi ro lãi suất

- Rủi ro thanh khoản

- Rủi ro hối đoái

- Rủi ro do môi trường

Hoạt động thanh toán quốc tế tuy chỉ đóng góp một phần nhỏ trong tổngthu nhập của ngân hàng nhưng lại chứa đựng rất nhiều rủi ro và cũng gây tổnthất rất lớn cho hoạt động của ngân hàng Do phạm vi hoạt động lớn, có nhiềuđối tượng tham gia nên rủi ro trong hoạt đông thanh toán quốc tế xuất hiện tạinhiều thời điểm, gây thiệt hại cho các bên

Trang 21

1.2.2_Rủi ro trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ:

Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán ưu việt và sử dụng rộng rãinhất hiện nay nhưng điều đó không có nghĩa phương thức này không chứa rủi

ro Để điều chỉnh việc thanh toán tín dụng chứng từ, Phòng thương mại quốc tế(ICC) đã đưa ra một bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ(UCP) nhưng đây không phải là một điều luật hay điều ước quốc tế mà chỉ làtập quán nên việc vận hành phương thức tín dụng chứng từ còn ẩn chứa nhiềunguy cơ rủi ro cho các bên tham gia

Với phương thức tín dụng chứng từ, rủi ro xảy ra khi quyền lợi của mộthoặc một số bên bị vi phạm, rủi ro không được hiểu theo nghĩa hẹp là việcchứng từ không được thanh toán mà còn phải hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ mộtkhúc mắc, chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán Rủi ro có thểxảy ra cho tất cả các bên tham gia:

- Người xuất khẩu: rủi ro xảy ra khi không thu được tiền hàng hay thuđược không đúng thời hạn

- Người nhập khẩu: rủi ro xảy ra khi không nhận được hàng theo đúngquy định L/C nhưng trên bề mặt chứng từ lại phù hợp, hay không nhận đượchàng làm tồn đọng lượng vốn kỹ quỹ tại ngân hàng

- Ngân hàng: rủi ro xảy ra khi việc thanh toán qua ngân hàng không suôn

sẻ, hay do người mua mất khả năng thanh toán làm uy tín của ngân hàng bịảnh hưởng xấu

Có nhiều cách phân loại rủi ro nhưng thường tín dụng chứng từ có nhữngloại như sau:

1.2.2.1_Rủi ro kỹ thuật:

Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanh toán thư tín dụng gây ra, như sự sai khác giữa bộ chứng từ thanh toán với thư tín dụng hay việc các bên tham gia thực hiện không đúng một khâu nào đó trong quy trình nghiệp vụ dẫn đến sự từ chối thanh

Trang 22

toán hay từ chối nhận hàng của phía bên kia Rủi ro kỹ thuật là loại rủi ro

thường gặp nhất trong thanh toán thư tín dụng, nó không gây ra những thiệt hạilớn về vật chất nhưng lại làm giảm uy tín của ngân hàng trong việc cung cấpdịch vụ cho khách hàng

Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng mở thư tín dụng camkết thanh toán cho nhà xuất khẩu khi người này xuất trình bộ chứng từ phù hợpvới các điều khoản trong thư tín dụng Điều này có nghĩa là ngân hàng chỉ làmviệc với các chứng từ Vì thế, chứng từ xuất trình đòi hỏi phải trùng khớp vớithư tín dụng, một sự sai khác dù rất nhỏ cũng có thể bị ngân hàng phát hành bắtlỗi và từ chối thanh toán Bộ chứng từ phải tuân thủ theo quy thắc và thực hànhthống nhất về tín dụng chứng từ UCP, ấn phẩm mới nhất có hiệu lực ngày01/01/1994

Một bộ chứng từ phải đáp ứng được các yêu cầu:

-Phải lập đúng số lượng và số loại của mỗi loại chứng từ mà thư tín dụngyêu cầu

- Phải lập đúng với yêu cầu về nội dung đối với từng loại chứng từ màthư tín dụng yêu cầu

- Các chứng từ phải phù hợp với luật lệ và tập quán thương mại mà hainước mua và bán đang áp dụng và được dẫn chiếu trong thư tín dụng

- Phải được xuất trình tại địa điểm trả tiền quy định trong thư tín dụngtrong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng

Với những yêu cầu rất chặt chẽ như vậy về chứng từ, phương thức nàyđòi hỏi sự chuẩn bị chứng từ cẩn thận và tỉ mỉ ở tất cả các bên tham gia

*Với nhà nhập khẩu: Rủi ro thương xảy ra trong quá trình ký kết hợp

động thương mại như sự không chắc chắn trong các điều khoản thanh toán (nhưthiếu các chứng nhận về nguồn gốc xuất xứ, chứng nhận chất lượng ) hoặc cácđiều khoản phí mở L/C, phí xác nhận các điều khoản về giá cả, thời gian giaohàng khiến nhà nhập khẩu phải nhận hàng kém chất lượng, không đúng thờihạn, các điều khoản về phí bất lợi

*Với nhà xuất khẩu: Nhà xuất khẩu phải lập bộ chứng từ xuất trình cho

ngân hàng mở L/C để thanh toán, vì vậy bộ chứng từ của họ phải đòi hỏi tuyệtđối phù hợp với L/C Rủi ro về mặt kỹ thuật xảy ra khi nhà xuất khẩu gặp sai sót

Trang 23

như không đủ số bản của chứng từ, thiếu hay thừa các loại chứng từ Các saisót trên bề mặt chứng từ mà các nhà xuất khẩu hay gặp phải là các sai sót vềngày giao hàng, ngày ký vận đơn, về số tiền trên chứng từ khác với số tiền trênL/C, không ghi số thư tín dụng, không đánh dấu bản gốc chứng từ, không trùngkhớp về mô tả hàng hoá với thư tín dụng

Ngoài ra, sai sót về phía người xuất khẩu còn xảy ra khi họ giao hàng vàxuất trình bộ chứng từ để thanh toán Các L/C bao giờ cũng quy định thời hạngiao hàng, thời hạn nộp chứng từ sau ngày giao hàng và ngày hết hạn hiệu lựccho việc xuất trình giấy tờ để trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu Việcgiao hàng không chỉ được thực hiện trong thời gian quy định, việc xuất trìnhchứng từ phải được thực hiện theo thời gian xuất trình ghi trong L/C và trongthời hạn hiệu lực của L/C Sau ngày hết hạn hiệu lực L/C, ngân hàng mở khôngcòn trách nhiệm trả tiền cho bộ chứng từ thanh toán theo L/C đó nữa Vì vậy,nếu việc xuất trình chứng từ và thực hiện hợp đồng mà vi phạm một trong cácthời hạn trên sẽ bị từ chối thanh toán

*Với ngân hàng phát hành L/C: Thông thường, sau khi khách hàng nộp

đơn xin mở L/C để thanh toán hàng nhập khẩu, công việc của ngân hàng mở L/

C gồm có mở tín dụng chứng từ, tu chỉnh thư tín dụng (nếu có) và thanh toánthư tín dụng

Ngay khâu đầu tiên là tiếp nhận yêu cầu xin mở L/C của khách hàng, cán

bộ ngân hàng phải kiểm tra đầy đủ giấy tờ trong hồ sơ xin mở L/C của ngườinhập khẩu một cách kỹ lưỡng Sau đó phải kiểm tra tính hợp lệ của bộ hồ sơcũng như nội dung của đơn xin mở L/C Sau khi kiểm tra các yếu tố này, thanhtoán viên phải thông qua ý kiến của cán bộ tín dụng hoặc xem số ký quỹ củakhách hàng để đảm bảo người mua có đủ khả năng thanh toán Nếu làm tốtđược những việc trên sẽ hạn chế được rủi ro trong các công đoạn tiếp theo Chú

ý khi lập thư tín dụng, thanh toán viên phải hoàn toàn dựa vào đơn xin mở thưtín dụng, tất cả những khúc mắc đều phải được khách hàng giải đáp và đồng ý,tránh trường hợp người nhập khẩu từ chối thanh toán khi L/C do ngân hàng mởkhông phù hợp với đơn xin mở L/C

Trang 24

Trong khâu tu chỉnh thư tín dụng, rủi ro cũng rất dễ xảy ra Việc tu chỉnhnày có thể do nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu đề nghị, và ai để nghị thì người

đó phải trả phí Khi nhà nhập khẩu yêu cầu sửa đổi những điều khoản trong L/C

đã mở, ngân hàng gặp rủi ro khi chấp nhận tu chỉnh L/C mà không xem xét kỹxem việc tu chỉnh có nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C và sau thời gian giaohàng không, việc tu chỉnh có làm kéo dài thời gian giao hàng, làm tăng giá trịcủa L/C hay không, việc làm tăng giá trị như vậy có được phòng tín dụng thôngqua hay không, các tu chỉnh khác mà chưa có đơn yêu cầu chi ngoại tệ

Khâu thanh toán: Trong khâu này, cán bộ ngân hàng phải kiểm tra bộchứng từ hàng hoá xem có phù hợp với L/C không để quyết định thanh toán.Đây là khâu quan trọng nhất nên cán bộ thanh toán phải làm việc cẩn thận, tỉ mỉ

và chính xác Ngân hàng dễ gặp rủi ro trên bộ chứng từ có sai sót Nếu có sai sótthì chỉ được phép thông báo sai sót và từ chối thanh toán một lần cho ngân hànggửi chứng từ trong vòng 7 ngày làm việc kể từ khi nhận được bộ chứng từ sai.Trong trường hợp quá số ngày quy định mới tìm ra lỗi hoặc mới thông báo thìngân hàng phát hành hoàn toàn mất quyền từ chối thanh toán Hơn nữa, khithông báo từ chối thanh toán mà ngân hàng mở không nói rõ sự bất hợp lệ củachứng từ, hoặc những bất hợp lệ này bị ngân hàng chiết khấu phủ nhận hoặc trởnên không có giá trị, ngân hàng cũng phải chịu rủi ro theo như quy định củađiều 13 UCP500 (Điều về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ)

*Ngân hàng của nhà xuất khẩu:

Sau khi nhận được L/C của ngân hàng mở, công việc của ngân hàngthông báo gồm kiểm tra L/C, thông báo L/C, kiểm tra bộ chứng từ gửi hàng củanhà xuất khẩu và giải quyết bộ chứng từ gửi hàng sau khi đã kiểm tra

Việc thông báo L/C của ngân hàng thông báo được quy định trong điều 7UCP500 Rủi ro có thể xảy ra khi ngân hàng nhận được một L/C không rõ ràng(do nhiễu đường truyền, sự lắt léo trong các điều khoản ) thì theo UCP500,ngân hàng thông báo phải thông báo sơ qua cho người hưởng với ghi chú là nókhông chịu trách nhiêm về sơ báo này, đồng thời yêu cầu ngân hàng mở gửi lạibức điện trên để đạt được sự rõ ràng và có tính khả thi Nếu không thực hiệnđúng các điều này thì khi có tranh chấp xảy ra, ngân hàng phải gánh chịu rủi ro

Trang 25

Hoặc trong trường hợp khác khi nhận được bức điện có ghi "các chi tiết đầy đủgửi sau" thì điện chuyển sẽ không được xem như văn bản có hiệu lực Vì vậy,khi thông báo cho khách hàng, ngân hàng phải ghi rõ "thông báo sơ bộ chưa cóhiệu lực thi hành" Nếu không làm đúng điều này, khách hàng hiểu lầm là L/C

có hiệu lực và thực hiện giao hàng thì mọi rủi ro ngân hàng phải gánh chịu

Với bộ chứng từ của nhà xuất khẩu, ngân hàng phải đảm bảo được tínhđầy đủ, sự hoàn chỉnh về hình thức, sự phù hợp giữa các chứng từ Nếu pháthiện sai sót, ngân hàng phải thông báo kịp thời cho người xuất khẩu để sửachữa Nếu sai sót nghiêm trọng như không thể thực hiện đúng yêu cầu của L/Cthì ngân hàng phải yêu cầu người xuất khẩu gửi thư bảo đảm sai sót đó, đồngthời điện đề nghị ngân hàng mở L/C chấp nhận điều khoản thanh toán ở bảolưu Bộ chứng từ gửi tới ngân hàng mở bị từ chối thanh toán do ngân hàngkhông phát hiện ra sai sót thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn rủi ro

1.2.2.2_Rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng là đặc trưng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong mọi hoạt

động ngân hàng Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay

không có khả năng hoàn trả được, không trả đúng hạn hoặc không trả đầy

đủ gốc và lãi vay cho ngân hàng Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng

được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứrủi ro tín dụng nào Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồigốc và lãi tín dụng là không chắc chắn, do đó ngân hàng thường xuyên gặp rủi

ro rín dụng

*Đối với ngân hàng phát hành:

Thư tín dụng là một bản cam kết thanh toán của ngân hàng mở L/C đốivới người bán và khi mở thư tín dụng này, ngân hàng đã cung cấp một khoản tíndụng cho người nhập khẩu, nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có

đủ số dư trên tài khoản làm vật bảo đảm cho thư tín dụng Nếu người nhập khẩu

bị vỡ nợ, phá sản hay mất khả năng thanh toán thì sẽ gây rủi ro cho ngân hàngphát hành vì khi đó ngân hàng vẫn phải thanh toán cho người bán mà không thu

Trang 26

được tiền từ người mua Đây là loại rủi ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngânhàng mở L/C Nếu L/C được ký quỹ 100% thì rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra,song trên thực tế phần lớn các nhà nhập khẩu đều đề nghị ngân hàng tài trợ chomình dưới hình thức kỹ quỹ một phần hoặc cho vay nhập khẩu Để giảm thiểurủi ro loại này, ngân hàng thường yêu cầu vận đơn phải được ký phát cho ngânhàng, hoặc đề ra các biện pháp về ký quỹ, thế chấp tài sản.

Việc ký quỹ nhằm khẳng định khách hàng có năng lực nhất định về vốn

và ràng buộc khách hàng làm tròn nghĩa vụ của bên được bảo lãnh Tuỳ thuộcvào uy tín, khả năng thanh toán của khách hàng mà mức kỹ quỹ cao hay thấp.Đối với trường hợp ký quỹ dưới 100%, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơkhách hàng mất khả năng thanh toán cao

Trong việc cho vay tài trợ nhập khẩu, ngân hàng đòi hỏi phải có tài sảnthế chấp Nhiều khi, tài sản thế chấp chính là lô hàng nhập Nếu khách hàngkhông thể thanh toán, ngân hàng phải gặp rủi ro khi xử lý lô hàng này Điều này

là rất khó đối với ngân hàng vì ngân hàng không phải nhà nhập khẩu, không cókiến thức về lô hàng nhập, không có khả năng tiêu thụ, đặc biệt với những loạihàng hoá đặc chủng Vì vậy, ngân hàng gặp khó khăn khi nghiên cứu thị trường,định giá sản phẩm

Rủi ro tín dụng còn xảy ra rất nhiều khi ngân hàng bảo lãnh L/C nhậphàng trả chậm L/C trả chậm có thể được coi là một cam kết bảo lãnh thanh toáncủa ngân hàng phát hành cho một giao dịch thương mại khi hối phiếu đòi nợđến hạn thanh toán Trong giao dịch này, người mua không phải trả tiền ngay

mà được người bán cung cấp cho một khoản tín dụng bằng hàng trong một thờigian Hiện nay các ngân hàng đã bảo lãnh cho doanh nghiệp mở L/C trả chậmquá nhiều, thẩm định hồ sơ chưa tốt, chưa có chất lượng gây nên rủi ro tín dụng

to lớn và thực tế cho thấy các khoản bảo lãnh còn tồn đọng hiện nay chưa xử lýđược chủ yếu là L/C trả chậm

*Đối với ngân hàng của nhà xuất khẩu:

Rủi ro tín dụng với ngân hàng thông báo có thể là do khi chiết khấuchứng từ hàng hoá Có hai loại chiết khấu chứng từ hàng hoá xuất khẩu là chiếtkhấu miễn truy đòi và chiết khấu bảo lưu quyền truy đòi Để giảm thiểu rủi ro,

Trang 27

các ngân hàng thường chiết khấu truy đòi Tuy nhiên, nếu sau khi đã chiết khấu

mà ngân hàng bị ngân hàng phát hành từ chối thanh toán thì rủi ro đối với ngânhàng là rất lớn vì việc đòi lại tiền nhà xuất khẩu rất khó khăn, đòi hỏi thời gian,nếu nhà xuất khẩu phá sản, mất khả năng thanh toán thì việc đòi được tiền làgần như không thể

Ngoài ra, khi cho vay tài trợ xuất khẩu, ngân hàng cũng xó khả năng gặprủi ro Các ngân hàng thường cho vay tài trợ vốn lưu động để mua, sản xuấthàng xuất khẩu theo hợp đồng ngoại thương đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng.Tuy nhiên, do một lý do nào đó mà người xuất khẩu không thể xuất được lôhàng đó, hoặc đã dùng tiền vay vào một mục đích khác hay lô hàng gặp rủi rotrong giao nhận hoặc thanh toán thì ngân hàng đã gặp phải rủi ro tín dụng Điềunày chỉ được khắc phục khi ngân hàng thẩm định và giám sát kỹ lưỡng quá trình

sử dụng vốn vay của khách hàng

*Đối với ngân hàng xác nhận:

Ta đều biết ngân hàng xác nhận thường là ngân hàng lớn, có uy tín hoặcngân hàng có quan hệ tiền gửi, tiền vay với ngân hàng mở, được ngân hàng mởyêu cầu xác nhận và cam kết trả tiền cho người bán nếu ngân hàng mở khôngthực hiện được nghĩa vụ của mình Rủi ro xảy ra khi ngân hàng xác nhận khôngnắm được năng lực tài chính của ngân hàng mở đã vội xác nhận theo yêu cầucủa họ để rồi lãnh trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở khi họ mấtkhả nănh thanh toán Nếu bộ chứng từ được trình đến ngân hàng xác nhận làhoàn hảo, ngân hàng này phải trả tiền cho người xuất khẩu bất luận có truy hoànđược tiền từ ngân hàng phát hành hay không, điều này dĩ nhiên mang đến rủi rolớn cho ngân hàng xác nhận

1.2.2.3 _Rủi ro đạo đức:

Rủi ro đạo đức là những rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi người khác Đây là loại rủi ro ít xảy ra song một khi đã xảy ra thì gây ra thiệt hại lớn

Trang 28

cho ngân hàng và các đối tác khác Nguyên nhân cơ bản của rủi ro loại này là dohành vi lừa đảo của một trong hai bên mua bán, thậm chí có những trường hợphai bên cấu kết với nhau lừa ngân hàng Đây là vấn đề cảnh báo các ngân hàng

vì mua bán ở đây là ở những nước khác nhau nên rất phức tạp và khó phát hiện.Rủi ro đạo đức thường xảy ra trong các trường hợp:

*Người nhập khẩu:

Khi nhận được chứng từ để đi nhận hàng, lẽ ra người nhập khẩu phải trảtiền hàng nhưng vì một lý do nào đó anh ta trì hoãn hoặc từ chối thanh toánbằng những nghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ nhằm ép giá người bán để thu lợi.Đối với người bán, hàng đã chuyển đi rồi nên thà chịu lỗ còn hơn thuê tàu chởlại Đặc biệt, khi vay ngân hàng để nhập khẩu, người nhập khẩu trong nhiềutrường hợp đã sử dụng tiền vay vào mục đích khác mà không trả ngân hàng Khiđược ngân hàng bảo lãnh mở L/C trả chậm, có khi đã thu được tiền hàng rồi màngười nhập khẩu cố tình không nộp tiền thanh toán cho ngân hàng Những việc

từ chối thanh toán bằng những lý do cố ý như như cố tình không trả tiền, khôngnhận hàng, bắt lỗi chứng từ rất nhỏ gây cho ngân hàng rất nhiều khó khăn

*Người xuất khẩu:

Người xuất khẩu phải có nghĩa vụ giao hàng cho người mua đầy đủ về sốlượng, chất lượng, chủng loại, thời gian và địa điểm Nhưng vì một lý do nhưgiá hàng hoá tăng lên, hàng khan hiếm, các điều khoản trong hợp đồng trở nênbất lợi cho họ, người xuất khẩu sẽ cố tình giao hàng chậm, không đúng quycách phẩm chất làm ảnh hưởng đến nhà nhập khẩu và cả ngân hàng Ngoài ra,rủi ro đạo đức còn xảy ra khi người xuất khẩu thực hiện các hoạt động mua bánlòng vòng qua môi giới để lừa đảo người mua trả tiền nhưng không có hàng đểtiêu thụ hoặc giao hàng không phù hợp với hợp động và lợi dụng tính độc lậpgiữa phương thức thanh toán L/C với việc thực hiện hợp đồng, vẫn xuất trìnhđược bộ chứng từ hoàn hảo Khi đó, vì có bộ chứng từ phù hợp nên ngân hàngvẫn phải thanh toán, mọi rủi ro đều do ngân hàng và người mua gánh chịu

*Nhiều khi, người mua và bán câu kết lập bộ chứng từ giả mạo, để đượcthanh toán theo L/C, phần lớn là phục vụ mục đích rửa tiền

Trang 29

* Ngân hàng:

Nhiều trường hợp ngân hàng đứng về phía khách hàng thân tín của mình

là nhà nhập khẩu để cố tình tìm ra những lỗi rất nhỏ trong bộ chứng từ để trìhoãn hoặc từ chối thanh toán Đặc biệt, có nhiều cán bộ ngân hàng đã thôngđồng với khách hàng để chiếm dụng vốn của ngân hàng và bạn hàng

1.2.2.4_Rủi ro chính trị, quốc gia:

Rủi ro quốc gia là những rủi ro về sự thay đổi chính trị, chính sách của một quốc gia khiến cho người xuất khẩu không nhận được tiền hàng và người nhập khẩu không nhận được hàng hoá, qua đó ảnh hưởng không tốt tới ngân hàng.

Những biến động về chính trị như chiến tranh, nổi loạn, đảo chính và cácbiến cố chính trị khác, thay đổi về thể chế chính tri, chính phủ thay đổi các camkết trong thanh toán quốc tế hoặc nổ ra bạo động, đình công đều cản trở việcgiao nhận hàng giữa các bên đối tác, từ đó ảnh hưởng đến việc sản xuất kinhdoanh của cả hai bên xuất nhập khẩu Những vấn đề về kinh tế như dự trữ ngoạihối quá ít làm thâm hụt cán cân thanh toán, chính phủ nước nhập khẩu phảidừng thanh toán với nước ngoài, sự cấm vận kinh tế, nợ nước ngoài chồng chấtkhiến quốc gia tuyên bố vỡ nợ, sự thay đổi trong chính sách thương mại, tất cảđều ảnh hưởng rất lớn đến thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán thư tíndụng nói riêng Tóm lại, ta có thể thấy rằng biến động chính trị - kinh tế - xã hội

dù trực tiếp hay gián tiếp, tức thì hay lâu dài đều gây ra những ảnh hưởng khôngnhỏ tới hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng

Về mặt pháp lý, rủi ro pháp lý xảy ra khi không có sự đồng nhất cácnguồn luật điều chỉnh L/C Thanh toán L/C được điều chỉnh bởi nguyên tắcmang tính chất pháp lý cao của UCP500 nhưng ở mỗi quốc gia, giao dịch nàylại bị chi phối bởi hệ thống luật pháp quốc gia Trong hầu hết các trường hợp,luật pháp quốc gia không mâu thuẫn với UCP nhưng không thể loại trừ trườnghợp hai hệ thống đó có sự khác biệt, thậm chí đối nghịch nhau Ví dụ như bộluật dân sự của Nga quy định nếu ngân hàng không nói rõ thư tín dụng khônghuỷ ngang thì nó được hiểu là huỷ ngang, điều này ngược với UCP cho làkhông huỷ ngang Khi có rủi ro pháp lý phát sinh, luật pháp quốc gia đòi hỏi

Trang 30

phải được tuân thủ Quan điểm của ICC là UCP không thể thay đổi được luậtquốc gia.

1.2.2.5_ Rủi ro hối đoái:

Rủi ro hối đoái là sự giảm sút giá trị của tài sản hay sự tăng thêm các khoản nợ phải trả do biến động tỷ giá ngoại tệ ảnh hưởng xấu đến hoạt động của ngân hàng Rủi ro ngoại hối xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng

đồng tiền nước ngoài Rủi ro ngoại hối phát sinh hoàn toàn do nguyên nhân biếnđộng tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái lại là một yếu tố nhạy cảm và sự biến độngcủa nó không thể lường trước được, nó ảnh hưởng đến quyết định của cả doanhnghiệp và ngân hàng

*Nhà nhập khẩu: Khi ngoại tệ lên giá, nhà nhập khẩu sẽ bị thiệt hại do

họ mua ngoại tệ thanh toán cho hàng hoá nhập khẩu của mình với giá caonhưng tiêu thụ hàng hoá đó trên thị trường lại không bù đắp nổi biến động tỷ giádẫn đến rủi ro Ngoài ra những tín dụng do ngân hàng cung cấp sẽ đến hạn trongtương lai cũng gây khó khăn cho nhà nhập khẩu do cộng thêm tỷ giá hối đoáităng

*Nhà xuất khẩu: Ngược lại với nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu sẽ bị thiệt

hại khi ngoại tệ mất giá Khi đó, tiền bán hàng thu về bằng ngoài tệ sẽ đổi được

ít đồng nội tệ hơn và vì thể ảnh hưởng xấu đến kế hoạch kinh doanh tương laicủa họ

*Ngân hàng: Khi doanh nghiệp nhập khẩu ký quỹ để mở L/C và yêu cầu

ngân hàng bán ngoại tệ để thanh toán Nếu ngân hàng không thực hiện việc traođổi lấy ngoại tệ tại thời điểm đó mà lùi lại một thời gian, nếu khi đó đồng nội tệgiảm giá và ngân hàng không lường trước được điều này, ngân hàng sẽ phải mấtthêm một khoản tiền để bù vào mức giảm đó khi mua ngoại tệ

Ngoài ra, nếu không có dự trữ ngoại tệ tốt, một ngân hàng sẽ không đápứng được nhu cầu mua ngoại tệ của khách hàng và bản thân ngân hàng đó cũnggặp khó khăn trong quá trình thanh toán Thiệt hại có thể xảy ra khi ngân hàng

Trang 31

phải đi vay ngoại tệ của ngân hàng khác và đặc biệt là ảnh hưởng đến uy tínthanh toán của ngân hàng.

1.3_Nguyên nhân và biểu hiện của rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ:

1.3.1_Nguyên nhân:

1.3.1.1_Nguyên nhân do trình độ và năng lực:

*Từ phía doanh nghiệp:

Nền kinh tế nước ta mới chuyển sang hệ thống mở, hội nhập với kinh tếtoàn cầu mới chỉ gần 20 năm trở lại đây Đi lên từ nền kinh tế nhỏ bé, lạc hậu,quan hệ ngoại thương chủ yếu là với các nước xã hội chủ nghĩa, khi hội nhậptrong quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ như ngày nay, các doanh nghiệpViệt Nam không khỏi bỡ ngỡ, hụt hẫng Trong khi đối thủ là những nhà buôn tưbản chuyên nghiệp có quá nhiều kinh nghiệm và sự khôn ngoan trong buôn bánngoại thương Còn các doanh nghiệp của ta còn hiểu biết hạn chế trong cácthông lệ, tập quán thương quốc tế, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của cácnước đối tác Điều này dẫn đến rất nhiều thiệt thòi cho doanh nghiệp ta khi tiếnhành xuất nhập khẩu với phía đối tác

Không những vậy ta còn thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi trong lĩnh vựcpháp luật, kỹ thuật thanh toán quốc tế nên không thể tư vấn cho doanh nghiệptrong thanh toán

Các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia nghiệp vụ ngoại thương phầnlớn chưa qua đào tạo chính quy về nghiệp vụ ngoại thương Nhiều doanh nghiệpchưa chuẩn bị kỹ càng về nghiệp vụ, về kiến thức đã vội vã tham gia hoạt độngngoại thương khiến họ gặp phải rất nhiều khó khăn sau này Như họ không hiểuhết về quy trình nghiệp vụ, không biết phải tiến hành như thế nào, mở L/C nhưthế nào, nhận hàng ra sao, đặc biệt là không chuẩn bị được bộ chứng từ phù hợp

Trang 32

với L/C nên không được thanh toán Hoặc họ không hiểu rõ về các điều khoảntrong hợp động ngoại thương, trong thư tín dụng nên dễ bị đối tác lừa đảo

Ngoài ra, cũng có một nguyên nhân khác dẫn đến rủi ro tín dụng là doanhnghiệp không có đủ khả năng tài chính khi tham gia vào hoạt động ngoạithương, hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng, nên do khi kinhdoanh thua lỗ, bị lừa đảo thì sẽ gây tác hại trực tiếp đến ngân hàng Vì vậy, cácdoanh nghiệp của chúng ta cần được đào tạo kỹ càng hơn về ngoại thương vàcần được các ngân hàng tư vấn khi tham gia thanh toán quốc tế, có như vậy mới

có thể hạn chế được những rủi ro do thiếu năng lực và trình độ gây ra

*Đối với ngân hàng:

Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng chỉ là trung gian đứng ra thu hộ vàchi hộ khách hàng và thu phí dịch vụ, dường như không gặp phải một rủi ronào Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, hoạt động thanh toán L/C gặprất nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro chủ quan từ phía năng lực và trình độ của cán

bộ ngân hàng, gây cho ngân hàng nhiều thiệt hại, ảnh hưởng đến uy tín củangân hàng

Do khả năng áp dụng quy chế và năng lực của cán bộ tín dụng trong quátrình thẩm định khách hàng trước khi mở L/C mà gây ra rủi ro tín dụng chongân hàng Khi tiến hành việc ký quỹ, cho vay thanh toán hàng nhập, ngân hàngphải xem xét kỹ tình hình tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũngnhư uy tín và mối quan hệ đối với ngân hàng Nếu không nắm chắc được nhữngvấn đề trên, không am hiểu và kiểm tra được các thông số kỹ thuật và hiệu quảkinh tế của dự án mình tài trợ thì khả năng rủi ro là rất lớn Ngoài ra, cán bộ cònphải biết phân tích tình hình kinh tế, tình hình doanh nghiệp để đưa ra quyếtđịnh cho vay hay không Nguyên nhân sâu xa là do thông tin tín dụng khôngđầy đủ, nó dẫn đến hậu quả là sự lựa chọn đối nghịch, nghĩa là những người bị

từ chối lại chính là những người có khả năng thanh toán, còn những người đượcchọn lại có khi không trả được nợ Vì vậy, cán bộ tín dụng phải được nâng caonăng lực thẩm định cũng như khả năng phân tích tài chính, khả năng hoàn trảcủa khách hàng

Trang 33

Cũng do năng lực hạn chế của cán bộ ngân hàng, cụ thể là cán bộ thanhtoán quốc tế mà ngân hàng nhiều khi phải chịu rủi ro kỹ thuật Do trình độnghiệp vụ ngoại thương và thanh toán xuất khẩu của cán bộ ngân hàng còn yếunên chưa nắm bắt được yêu cầu của L/C, dẫn đến sai sót trong quá trình lậpchứng từ thanh toán như sự không phù hợp giữa hợp đồng và thư tín dụng,không phát hiện được sai sót của chứng từ Hơn nữa, rủi ro kỹ thuật còn bắtnguồn từ tính tắc trách, cẩu thả của cán bộ thanh toán, gây nhiều thiệt hại khôngđáng có cho ngân hàng Ta thấy, những rủi ro từ phía cán bộ ngân hàng đều chỉđược khắc phục khi nâng cao trình độ nghiệp vụ, nêu cao tinh thần trách nhiệmcho tất cả cán bộ ngân hàng.

1.3.1.2_Nguyên nhân đạo đức:

Rủi ro đạo đưc được gây ra do cả phía nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu vàthậm chí cả cán bộ ngân hàng khi những người này chủ ý lường gạt ngân hàng

để chiếm dụng số tiền trong L/C Nhà nhập khẩu cố tình không thanh toán, nhàxuất khẩu trình bộ chứng từ giả để được thanh toán, nhà xuất khẩu và nhập khẩucâu kết với nhau thanh toán L/C để rửa tiền, cán bộ ngân hàng cố tình che đậy,câu kết với khách hàng để lừa ngân hàng Nói chung, nguyên nhân sâu xa dẫnđến rủi ro đạo đức là thông tin không cân xứng, một bên không có những thôngtin chính xác về khả năng tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, uy tín vàtính trung thực của bên kia nên khi họ cố tình che giấu, lừa gạt thì rất khó pháthiện ra Như vậy, tín dụng chứng từ vẫn chưa phải là phương thức thanh toánquốc tể hoàn hảo, nó chỉ căn cứ trên giấy tờ mà tách biệt hoàn toàn với việcgiao nhận hàng hoá nên đã tạo ra nhiều khe hở cho kẻ xấu lợi dụng Vì vậy, cácbên tham gia phải tiến hành thu thập thông tin, sàng lọc để có đối tác truyềnthống, đạo đức tốt

1.3.1.3_Nguyên nhân kinh tế, chính trị, pháp lý:

Trang 34

Nguyên nhân về kinh tế chính trị như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảngtài chính - tiền tệ, cấm vận kinh tế, chính sách ngoại thương thay đổi hay vềchính trị như đình công, chiến tranh, đảo chính là những yếu tố ảnh hưởng rấtlớn đến việc thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán L/C nói riêng, nhưng lànhững nguyên nhân rất khó tránh khỏi và khắc phục Đối với những nguyênnhân này, ngân hàng chỉ có thể dự đoán để tránh trường hợp gặp phải, nhưngkhi đã gặp thì rất khó có thể khắc phục.

Nguyên nhân về pháp lý khi luật pháp quốc gia mâu thuẫn với quy tắcthực hành thống nhất vê tín dụng chứng từ UCP bắt nguồn do trên thế giới, mỗinước có một lịch sử phát triển riêng, không nước nào giống nước nào Do đó,phong tục tập quán cũng như hệ thống luật pháp mỗi nước đều có đặc điểmriêng biệt Rủi ro pháp lỹ xảy ra do sự thiếu hiểu biết của các bên đối với luậtpháp các nước, cũng như luật pháp quốc tế như UCP, URR dẫn đến sự vận dụngsai các quy định của các nước khác Vì vậy, để hạn chế loại rủi ro này, doanhnghiệp xuất nhập khẩu cũng như các ngân hàng cần có những tư vấn pháp luậtgiỏi, cộng tác với công ty luật, trung tâm trọng tài quốc tế xin ý kiến pháp lý,ngăn chặn rủi ro ngay từ đầu, tránh trường hợp xảy ra tranh chấp rồi mới đưanhau ra toà, mất rất nhiều thời gian và tiền bạc

1.3.2_Biều hiện của rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ:

Rủi ro là điều không tránh khỏi trong hoạt động của ngân hàng, với hoạtđộng thanh toán tín dụng chứng từ cũng vậy Vấn đề ta đi tìm những biểu hiệncủa rủi ro đó để có biện pháp hạn chế, với những trường hợp nào thì biêr hiệnrủi ro, có khả năng xảy ra rủi ro cao nhất Các biểu hiện nhận biết rủi ro nàyđược tìm thấy ở cả trước, trong và sau khi thực hiện thanh toán L/C, tuy nhiênkhông phải bao giờ cũng dễ dàng phát hiện được vì có những biểu hiện dễ thấy,

có những biểu hiện đòi hỏi phải có chuyên môn sâu, kinh nghiêm dày dặn mới

có thể phát hiện được

Trong việc thanh toán hàng nhập khẩu, ngân hàng sẽ tiến hành mở L/C đểcam kết thanh toán cho nhà xuất khẩu Trước khi mở L/C cho khách hàng, ngânhàng phải thẩm định kỹ khả năng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh, khả

Trang 35

năng thanh toán của doanh nghiệp để ra quyết định có cho vay hay không, chovay thì tỷ lệ là bao nhiêu Nếu một doanh nghiệp có tình hình tài chính, tìnhhình sản xuất kinh doanh không sáng sủa thì doanh nghiệp đó biểu hiện rủi rotín dụng rất cao Ngược lại, với tình hình tài chính khả quan, mặt hàng kinhdoanh đang phát triển mạnh, nhu cầu thị trường lớn, thị phần rộng thì khả năngthanh toán là cao, như vậy, với ngân hàng thì doanh nghiệp này có rủi ro thấp.Ngoài ra, với chính lô hàng nhập, nếu nó có khả năng tiêu thụ, doanh nghiệp cókhả năng sinh lời thì chứa đựng ít rủi ro Mặt khác, một biểu hiện nữa cũng dễnhận thấy, đó là quan hệ và uy tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng Nếu làkhách hàng truyền thống, tính trung thực cao thì ít có rủi ro, còn với nhữngdoanh nghiệp mới tham gia lần đầu thì rủi ro là cao Khi nhà nhập khẩu đã tiếnhành nhận hàng nhưng tìm cách từ chối hay trì hoãn thanh toán, cố tình bắtnhững lỗi kỹ thuật nhỏ để thanh toán chậm, đó cũng là một biểu hiện của rủi ro.

Trong thanh toán hàng xuất khẩu, với những L/C được mở bởi ngân hàngkhông có uy tín, chưa có quan hệ thanh toán tín nhiệm, tình hình tài chínhkhông khả quan mà không được xác nhận bởi một ngân hàng có uy tín thì khảnăng xảy ra rủi ro là cao Một biểu hiện nữa là ngân hàng nhận được từ ngânhàng phát hành một L/C trả chậm với những điều khoản thanh toán rất phức tạp,kéo dài thì đó là dấu hiệu của rủi ro thanh toán L/C

1.3.3_Chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ:

Để xem một ngân hàng có tình hình thanh toán tín dụng chứng từ như thếnào, ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh toán L/C:

* Chỉ tiêu về tỉ lệ cho vay bắt buộc:

Tỷ lệ cho vay bắt buộc/ Tổng giá trị thanh toán

Khi nhà nhập khẩu không thanh toán tiền hàng cho ngân hàng, ngân hàngbuộc phải ghi nợ tài khoản của khách hàng tại ngân hàng Nhưng nếu tài khoảnnày không đủ số dư để thanh toán, ngân hàng buộc phải cho doanh nghiệp vayvới lãi suất quá hạn Số tiền cho vay đó là cho vay bắt buộc, ngân hàng không

hể muốn cho vay nhưng chỉ có cách đó mới có thể đòi được tiền doanh nghiệptrong thời gian tới Chỉ tiêu trên phản ánh trong tất cả giá trị thanh toán thư tín

Trang 36

dụng, số cho vay bắt buộc, nghĩa là giá trị thư tín dụng không được doanhnghiệp thanh toán mà ngân hàng không thể thu hồi được ngay chiếm tỷ lệ baonhiêu.

*Chỉ tiêu về nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng giá trị cho vay bắt buộc (Tổng giá trị thanh toán)

Khi ngân hàng đã cho vay bắt buộc, nếu sau một thời gian, doanh nghiệp

có khả năng thanh toán cả gốc và lãi, ta coi như ngân hàng đã đòi được số tiềnthanh toán trước đây Còn nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản, không cókhả năng thanh toán thì số cho vay đó sẽ được kết chuyển nợ quá hạn Chỉ tiêutrên phản ánh tỷ lệ giá trị ngân hàng không thể thu hồi trên tổng cho vay hoặctổng giá trị thanh toán đã bỏ ra

Từ những chỉ tiêu trên, ta có thể có cái nhìn khái quát về tình hình rủi rotrong thanh toán tín dụng chứng từ tại một ngân hàng, việc này là vô cùng quantrọng trong công tác quản lý rủi ro của ngân hàng

1.4_Sự cần thiết hạn chế rủi ro tín dụng chứng từ:

Bất cứ một thực thể nào khi tham gia hoạt động kinh tế cũng phải gánhchịu rủi ro Ngân hàng thương mại với nguyên liệu chính tạo ra sản phẩm làtiền, chịu tác động của rất nhiều nhân tố và vì vậy cũng phải chịu rủi ro rất lớn.Trong hoạt động thanh toán quốc tế của mình, nếu gặp rủi ro, nó không chỉ gâythiệt hại cho ngân hàng, cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà nhiều khi còn

Trang 37

tác động đến cả nền kinh tế Nhất là ngày nay, càng ngày các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu càng có xu hướng thanh toán bằng tín dụng chứng từ vì những ưuđiểm vượt trội của phương thức này so với nhiều phương thức khác, và cũng do

họ nghĩ đây là phương thức an toàn, đáng tin cậy cho cả nhà xuất khẩu và nhậpkhẩu Nhưng thực tế đã chứng minh đã có những rủi ro xảy ra, gây tổn thất chocác bên tham gia thanh toán Quản lý rủi ro nói chung quyết định sự tồn tại vàphát triển của ngân hàng thương mại

Vì vậy việc quản lý và hạn chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ

là hết sức cần thiết, nó đem lại lợi ích không những cho ngân hàng mà còn chokhách hàng và đối tác của họ Nếu quản lý và hạn chế rủi ro tốt thì sẽ giảm đượcnhững tổn thất không đáng có trong thanh toán tín dụng chứng từ một cách đáng

kể, mặt khác còn nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của ngân hàng

Không những vậy, thực hiện tốt việc quản lý rủi ro nói chung và rủi rothanh toán tín dụng chứng từ nói riêng trong ngân hàng thương mại có tác dụngrất tốt đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Hạn chế được rủi ro trong thanh toán

sẽ tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam tránh đượcnhững thua lỗ, những thiệt hại không đáng có Vì vậy, giúp mở rộng hoạt độngsản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho nền kinh tế Đồng thời kinhdoanh có hiệu quả giúp ích rất lớn cho Chính phủ sử dụng các công cụ kinh tế

vĩ mô như công cụ lãi suất, dự trữ bắt buộc để điều hành nền kinh tế vận độngmột cách nhịp nhàng, ổn định, kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế

Vì những lý do và lợi ích như vậy, quản lý và hạn chế rủi ro thanh toántín dụng chứng từ là hết sức cần thiết đối với hoạt động của ngân hàng thươngmại

Trang 38

CHƯƠNG II_THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC

TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG SÀI GÒN THƯƠNG TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.1_Một số nét khái quát về ngân hàng Sài Gòn Thương tín (Sacombank)

2.1.1_Quá trình hình thành và phát triển:

Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (Sacombank) được thành lập ngày

21/12/1991 trên cơ sở hợp nhất 4 tổ chức tín dụng là Ngân hàng Phát triển kinh

tế Gò Vấp, HTX tín dụng Lữ Gia, Tân Bình và Thành Công với các nhiệm vụchính là huy động vốn, cấp tín dụng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng Mứcvốn điều lệ ban đầu của Sacombank chỉ là 3 tỷ đồng, đến cuối năm 2003,Sacombank đã tăng vốn điều lệ lên 505 tỷ đồng và trở thành ngân hàng thươngmại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam Hiện nay, cả hệ thốngSacombank có 70 điểm giao dịch gồm chi nhánh cấp 1, chi nhánh cấp 2, phònggiao dịch được phân bố ở khắp các tỉnh thành ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam vàhai công ty là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, Công ty Liên doanh quản

lý ký quỹ ĐTCK Việt Nam

Sacombank chi nhánh Hà Nội được thành lập năm 1993 với trụ sở chínhtại 65 Ngô Thì Nhậm, Hà Nội và có các chi nhánh và phòng giao dịch tạiĐường Thành, Đồng Xuân và Hàng Bạc Sacombank Hà Nội có đặc trưng củamột Ngân hàng bán lẻ nên đối tượng chủ yếu mà ngân hàng đang tập trungnghiên cứu phát triển và cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là các doanhnghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân và một số doanhnghiệp nhà nước Vì vậy, khối lượng giao dịch tại ngân hàng khá lớn và ngànhnghề hết sức đa dạng

Cũng như các chi nhánh khác của Sacombank, Sacombank Hà Nội cungcấp các sản phẩm dịch vụ sau:

- Huy động tiền gửi tiết kiệm ngắn, trung, dài hạn đối với VNĐ, Đôla

Mỹ, vàng bạc và các ngoại tệ khác

Trang 39

- Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VNĐ, Đôla Mỹ, vàng và các ngoại

tệ khác đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân

- Tài khoản tiền gửi thanh toán

- Chuyển tiền trong và ngoài nước

- Tài trợ xuất nhập khẩu

- Mua bán vàng và ngoại tệ

- Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng

- Dịch vụ ngân quỹ

- Tư vấn đầu tư

- Nhận uỷ thác đầu tư và quản lý tài sản

- Chiết khấu các chứng từ có giá

- Cho thuê ngăn tủ sắt

- Dịch vụ bất động sản

- Dịch vụ thẻ Sacombank

Với những dịch vụ như vậy, ngân hàng thường xuyên đáp ứng được nhucầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Hiện nay, ngân hàng làmột trong những ngân hàng cổ phần có uy tín lớn nhất tại Việt Nam Trong 10năm hoạt động, Sacombank Hà Nội luôn hoạt động có hiệu quả và không ngừngphát triển, thường xuyên được Sacombank bầu chọn là chi nhánh xuất sắc trongtoàn hệ thống

2.1.2_Cơ cấu tổ chức:

Hiện nay, Sacombank Hà Nội có khoảng hơn 170 cán bộ ngân hàng vàphần lớn có trình độ đại học và trên đại học(85%) hoạt động trong 4 phòngchính là phòng Dịch vụ cá nhân, Dịch vụ doanh nghiệp, Kế toán kho quỹ vàHành chính quản trị Có thể hình dung rõ nét hơn qua sơ đồ:

Trang 40

Chi nhánh Đường Thành

Chi­nh¸nh­

§ång­Xu©n

Tæ­tÝn­dông­Hµ­T©y

Ngày đăng: 05/12/2014, 08:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính -Fredric S.Minskin, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội - 1994 Khác
2. Giáo trình ngân hàng thương mại ĐH KTQD - Nguyễn Thị Thu Thảo, Phan Thu Hà Khác
3. Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương - Đinh Xuân Trình Khác
4. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng - Nguyễn Văn Tíên- NXB Thống kê, 1999 Khác
5. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu trong thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ - Lê Văn Tư- NXB Thống kê, 1998 Khác
6. Hướng dẫn thực hành hoạt động xuất nhập khẩu- Vũ Thị Nga - NXB Thống kê Khác
7. Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương - Vũ Hữu Tửu - NXB Giáo dục, 1996 8. UCP 500- Phòng thương mại quốc tế ICC9. Incoterms 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình hình hoạt động tín dụng của Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 - giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàngthương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín- Hà Nội
Bảng 2 Tình hình hoạt động tín dụng của Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 (Trang 42)
Bảng 3: Tình hình thanh toán quốc tế tại Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 - giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàngthương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín- Hà Nội
Bảng 3 Tình hình thanh toán quốc tế tại Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 (Trang 45)
Bảng 5: Kết quả kinh doanh của Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 - giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàngthương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín- Hà Nội
Bảng 5 Kết quả kinh doanh của Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 (Trang 46)
Bảng 6: Tình hình thanh toán tín dụng chứng từ của Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 - giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàngthương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín- Hà Nội
Bảng 6 Tình hình thanh toán tín dụng chứng từ của Sacombank Hà Nội năm 2001, 2002, 2003 (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w