1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta

96 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 701 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta, khu vựckinh tế ngoài quốc doanh bao gồm nhiều hì

Trang 1

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA 1.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta, khu vựckinh tế ngoài quốc doanh bao gồm nhiều hình thức sở hữu đan xen đang đóngvai trò quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.Kinh tế ngoài quốc doanh rất đa dạng cả về hình thức sở hữu và các loại hìnhkinh doanh của các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh tế

Theo pháp luật hiện hành, các cơ sở kinh doanh ngoài quốc doanh ở nước

ta thường hoạt động theo một trong các hình thức được dưới đây:

Bảng 1.1: Các hình thức kinh doanh ngoài quốc doanh phổ biến Hình thức kinh doanh Cơ sở pháp lý hiện hành

Hộ kinh doanh cá thể

(Trước đây gọi là cá nhân

và nhóm kinh doanh theo

NĐ số 66/HĐBT)

Điều 17-21 Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ban hànhngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh (Các quyđịnh thay thế Nghị định số 66/HĐBT ban hành ngày2/3/1992 trước đây)

Doanh nghiệp tư nhân

Điều 99-104, Luật doanh nghiệp1999 ban hành ngày20/06/1999 (thay thế các quy định của Luật DNTNban hành ngày 21/12/1990 trước đây)

2/3/1992, hiện nay chưa có quy định thay thế

Trang 2

hình doanh nghiệp này)

đây của Luật công ty ban hành ngày 21/12/1990)Doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài

Luật ĐTNN tại Việt Nam ban hành ngày 29/12/1990

đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung ban hành ngày30/06/1990; 23/12/1992; 12/11/1996 và 06/06/ 2000Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài cũng là loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) Tuynhiên theo khái niệm chính trị - pháp luật đã thông dụng ở Việt Nam, đặc biệt làtheo Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), hai nhómdoanh nghiệp(DN) này được xếp vào thành phần kinh tế tập thể và thành phầnkinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Quy ước này chỉ có tính tương đối, vì theo cácquy định mới của pháp luật về hợp tác xã, hình thức này cũng là một loại hìnhkinh doanh do tư nhân thành lập, hoạt động theo các nguyên tắc về cơ bản có thể

so sánh với các doanh nghiệp tư nhân và công ty khác

Loại hình DNNQD hiện nay trong một số tài liệu còn gọi là doanh nghiệpdân doanh (DNDD) bao gồm: doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty tráchnhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CTCP) Đây là những loại hình DNphổ biến nhất ở nước ta hiện nay

Thực tế hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh mới màkhông nhất thiết phải thành lập các DN như chung vốn kinh doanh theo các hợpđồng; liên kết kinh doanh; hoặc các tập thể, cá nhân nhận thuê, khoán một bộ

Trang 3

phận hay toàn bộ cơ sở kinh doanh của một DN; nhận gia công đại lý theo vụviệc Những mô hình liên kết như vậy có thể đan xen về vốn giữa các cơ sởquốc doanh, các cơ sở kinh doanh của các tổ chức chính trị- xã hội và vốn của tưnhân Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào hoạt động của cácDNNQD mà chủ yếu là DNTN, công ty TNHH, CTCP.

Quan niệm về DN, theo Luật doanh nghiệp, là một tổ chức kinh tế có tên,

có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh Trong đó, “kinh doanh”phải được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng hàng hoá, dịch vụtrên thị trường nhằm mục đích sinh lời

Doanh nghiệp tư nhân: Điều 99- Luật doanh nghiệp1999 quy

định: doanh nghiệp tư nhân là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN DNTN có đặcđiểm như sau:

 DN thuộc sở hữu tư nhân, chủ DN là người tổ chức, quản lý sản xuấtkinh doanh, có trường hợp chủ DN cũng có thể thuê người quản lý, điều hànhhoạt động kinh doanh

 Là DN mà chủ DN phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình đối với kết quả kinh doanh của DN

 Chủ DN có toàn quyền quyết định qui mô, phương thức hoạt động,quản lý kinh doanh cũng như sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiệnđầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình DN trong đó các

thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu rủi ro tương ứngvới phần vốn góp, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản

khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào DN Công ty TNHH có hai

Trang 4

thành viên trở lên là DN trong đó phần góp của tất cả các thành viên phải đượcđóng góp đầy đủ ngay khi thành lập công ty Các phần vốn góp được ghi rõtrong điều lệ công ty Công ty không được phép phát hành cổ phiếu [26].

Công ty TNHH thuộc loại công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn, đặcđiểm của loại hình DN này là:

 Công ty TNHH là một pháp nhân kinh doanh, không được phép pháthành chứng khoán

 Vốn của công ty (vốn điều lệ) được chia ra từng phần không nhấtthiết phải bằng nhau Mức góp tùy khả năng tài chính của từng thành viên Cácthành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản kháccủa DN trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN

 Các thành viên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốngóp của mình cho người khác nhưng phải chào bán phần vốn đó cho các thànhviên còn lại theo tỷ lệ vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện Điềunày có nghĩa là các thành viên cũng có thể chuyển nhượng cho người ngoàitrong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết

 Quyền quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty thuộc vềhội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên và giám đốc (tổng giám đốc)

 Phân phối lợi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp củacác thành viên,nhưng công ty chỉ được chia lợi nhuận khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoànthành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của phápluật

 Số lượng thành viên không lớn (không quá 50) nên tổ chức và quản

lý tương đối đơn giản

Công ty TNHH có một thành viên là DN do một tổ chức làm chủ sở hữu,chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trongphạm vi số vốn điều lệ của DN Giống như công ty TNHH có hai thành viên trở

Trang 5

lên, công ty TNHH một thành viên cũng không được phép phát hành cổ phiếu.

Công ty cổ phần: là công ty trong đó số thành viên gọi là cổ

đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là 3, không hạnchế số lượng tối đa Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổphần Chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhậnquyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó gọi là cổ phiếu Công ty

cổ phần có quyền phát hành trái phiếu [26]

Đây cũng là loại hình công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn Trong đócác thành viên (cổ đông) có cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn góp vào DN Đây là mộttrong những loại hình DN đang chiếm nhiều ưu thế và hoạt động có hiệu quả,đồng thời mang tính xã hội hoá rất cao Đặc điểm của loại công ty này là:

 Công ty được phép phát hành chứng khoán ra công chúng theo đúngquy định của pháp luật Như vậy, nếu công ty có uy tín, làm ăn phát đạt, cần mởrộng quy mô sản xuất thì việc mở rộng vốn trong mọi tầng lớp dân cư rất thuận lợi

 Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau Mệnh giá cổ phiếu

là do công ty quyết định phù hợp với hoạt động kinh doanh, đồng thời thu hútđược sự tham gia rộng rãi của công chúng

 Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ hai trườnghợp sau, thứ nhất: cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyểnnhượng cổ phần đó cho người khác; thứ hai: trong thời gian ba năm đầu hoạtđộng kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổđông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông đượcquyền chào bán Cổ phần phổ thông cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng chongười không phải là cổ đông nếu được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông

 Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý và điều hành hoạt động kinhdoanh, quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ

Trang 6

những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông.

 Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho các cổ đông khi công tykinh doanh có lãi, hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính Mức

cổ tức cho từng cổ phần do hội đồng quản trị quyết định căn cứ vào kết quả kinhdoanh cùng nhiều yếu tố khác liên quan

 Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế tối đa

Trên đây là ba loại hình DNNQD phổ biến ở nước ta hiện nay, Luật doanhnghiệp ra đời đã mở thêm loại hình công ty hợp danh, song mô hình công ty này

ít thấy xuất hiện trên thực tế

1.2 Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trong nền kinh tế thị trường, các DNNQD đã ngày càng phát triển mạnh

mẽ và trở thành một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, đóngmột vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước Tuỳ theotrình độ phát triển kinh tế của mỗi nước mà vai trò đó cũng được thể hiện khácnhau Đối với các nước công nghiệp phát triển, các DNNQD là một nguồn lựcđảm bảo cho sức sống của nền kinh tế, là một bộ phận hợp thành quan trọngtrong cơ cấu đa dạng của các loại hình doanh nghiệp Đối với các nước đangphát triển và chậm phát triển thì ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của nền kinh

tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, các DNNQDcòn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành côngnghiệp hoá đất nước, xoá đói giảm nghèo, giải quyết những vấn đề xã hội ỞViệt nam từ khi đổi mới, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung vàDNNQD nói riêng đã ngày càng phát triển mạnh mẽ Sự lớn mạnh của nó gắnvới sự lớn mạnh của đất nước Hiện nay, các DNNQD đang đóng một vai tròquan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thể hiện qua tỷ lệphần trăm trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), số công ăn việc làm dokhu vực này mang lại và những đóng góp vào quá trình phân phối thu nhập,

Trang 7

giảm bớt sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn Sự phát triểncủa các DNNQD đã thực sự góp phần quan trọng trong giải quyết những mụctiêu kinh tế - xã hội, vai trò của các DN này được cụ thể hoá ở những khía cạnhchủ yếu sau đây:

doanh, khai thác các nguồn vốn trong nước

Sự ra đời và phát triển của các loại hình DNNQD, đặc biệt là mô hìnhCTCP sẽ tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân có thể tham gia đầu tư Trong quátrình hoạt động, các loại hình DNNQD có thể dễ dàng huy động vốn vay thôngqua các quan hệ gia đình, bạn bè… Vì vậy, việc phát triển các loại hìnhDNNQD được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụngcác khoản tiền đang phân tán, nhàn rỗi trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư

Ở nước ta hiện nay, do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, các hình thức sởhữu nhà nước và sở hữu tập thể chưa khai thác hết tiềm năng kinh tế to lớn củađất nước thì việc khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sảnxuất và tạo khả năng khai thác tối đa các tiềm năng kinh tế của đất nước

Sự phát triển nhanh chóng của DNNQD đã tạo ra một kênh đầu tư mới đểkhai thác và phát huy có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt độngsản xuất kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực phù hợp với chính sáchkhuyến khích đầu tư trong nước, đồng thời khắc phục khuynh hướng chỉ dựa vàođầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) Trên thực tế, có nhiều DNNQD đã

có bước phát triển mới về đầu tư mở rộng quy mô, áp dụng công nghệ tiên tiến,nâng cao trình độ quản lý, đã tham gia xuất khẩu có hiệu quả cao, nhất là ngànhdệt may, sản xuất đồ gỗ cao cấp, chế biến lương thực, thực phẩm, đồ dùng giađình… mạnh dạn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, số công ty có vốn đầu tư hàngchục tỷ đồng đã xuất hiện ngày càng nhiều ở các thành phố lớn như thành phố Hồ

Trang 8

Chí Minh, Hà Nội…

Như vậy, nhờ đa dạng hoá các loại hình sản xuất kinh doanh, hàng năm cácDNNQD đã thu hút được một lượng vốn đáng kể của dân cư góp phần khắcphục được một nghịch lý trong nhiều năm, các DN thiếu vốn đầu tư trong khi đólượng vốn trong dân còn nhiều khả năng tiềm ẩn chưa khai thác Tuy lượng vốnthu hút vào từng DN không lớn, nhưng do số lượng DNNQD phát triển nhiềunên toàn bộ vốn thu hút vào sản xuất kinh doanh ngày càng tăng

Trong điều kiện hiện nay, khi mà Luật doanh nghiệp ra đời cho phép mọingười đều có thể thành lập DN, kinh doanh các mặt hàng mà pháp luật không cấm,cần khuyến khích nhân dân đưa nguồn vốn nhàn rỗi của mình vào hoạt động kinhdoanh để làm lợi cho đất nước

Thực tế cho thấy, các DNNQD là khu vực có khả năng khai thác và thu hútvốn trong dân cư do tính hiệu quả và quy mô sản xuất chủ yếu là vừa và nhỏ, đòihỏi vốn không nhiều, thời gian thu hồi vốn nhanh

đẩy sự tăng trưởng kinh tế

Với ưu thế của DNNQD: vốn đầu tư không lớn và dễ thay đổi phương hướngđầu tư cho phù hợp với nhu cầu thị trường, chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ phù hợpvới năng lực quản lý của tư nhân nên đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhândân tham gia vào khu vực này làm cho số lượng các DN tăng lên rất nhanh, làmtăng tính cạnh tranh, giảm bớt mức độ rủi ro, đồng thời còn làm tăng số lượng,chủng loại hàng hoá, dịch vụ, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, phù hợp vớithị hiếu và tập quán tiêu dùng của từng địa phương Như vậy, sự phát triển của cácDNNQD sẽ cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn về nhucầu đời sống xã hội Chính việc tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn,phong phú hơn và có chất lượng tốt sẽ thay thế được nhiều mặt hàng nhập khẩu,góp phần cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và sự gia tăng xuất khẩu

Trang 9

của khu vực DNNQD là yếu tố góp phần tạo cho nền kinh tăng trưởng và ổn định.Xét trên giác độ tổng cầu, nhìn chung ở nước ta, theo tính toán của các nhàthống kê, để tăng trưởng 1% GDP cần tăng trưởng tiêu dùng 2,1 đến 2,2% (kể cảtiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho đời sống) [25] Khi khu vực kinh tế tưnhân nói chung và các DNNQD nói riêng phát triển sẽ làm tăng tổng cầu, bởi vì:

 Do mở rộng sản xuất làm cho nhu cầu các yếu tố đầu vào gia tăng

 Thu nhập của người lao động tăng do sản xuất phát triển và do số laođộng được huy động vào làm việc tăng thêm

Bên cạnh đó, một điều được thừa nhận chung là đầu tư là động lực cho tăngtrưởng kinh tế ở tất cả mọi nước Việt Nam đã đạt được tăng trưởng cao trongthập kỷ qua với vòng tăng trưởng đầu tiên vào đầu những năm 90 được kíchthích do sự “cởi trói” năng lực sản xuất ở giai đoạn đầu đổi mới, sự tăng trưởng

đó có phần đóng góp rất quan trọng của các loại hình DNNQD - loại hình DNlần đầu tiên được thừa nhận sau ba thập kỷ bị cấm đoán Xét về cơ cấu ngànhcủa các DNNQD cho thấy, nếu có môi trường kinh doanh thuận lợi, khu vựckinh tế này có tiềm năng to lớn thúc đẩy một sự tăng trưởng theo định hướngxuất khẩu của nền kinh tế Thực tế các DNNQD sử dụng nhiều lao động (maymặc, chế biến thực phẩm, đồ da), là loại DN có định hướng xuất khẩu mạnh, đặcbiệt là vào thị trường châu Âu và Đông Á Hiện tại, đầu tư và tăng trưởng củakhu vực này còn bị hạn chế do môi trường kinh doanh có không ít rủi ro, do cácquy định của Nhà nước và bị chèn ép bởi các DNNN trong cuộc cạnh tranhkhông bình đẳng

Khác với khu vực DNNN, khu vực DNNQD năng động, tăng trưởng nhanhgóp phần vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế Những gì khu vực nàycần chỉ là môi trường thông thoáng và tín hiệu rõ ràng từ phía Nhà nước

1.2.3 Giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế di dân vào đô thị

Một trong những vấn đề nổi cộm của nền kinh tế chuyển đổi nói chung đó

Trang 10

là giải quyết việc làm cho người lao động Giải quyết việc làm cho người laođộng không chỉ đảm bảo đời sống cho nguời lao động mà còn là điều kiện rấtquan trọng đảm bảo duy trì tốt an ninh xã hội Song với số lượng các DNNQDkhông ngừng tăng lên , mặc dù chủ yếu với các DNNQD mới được thành lậpphần lớn có quy mô nhỏ, số lao động làm việc trong mỗi DN không nhiều nhưngvới số lượng lớn các DNNQD trong nền kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm mới,giải quyết có hiệu quả vấn đề thất nghiệp và góp phần giảm bớt các tệ nạn xãhội, tạo ra sự phát triển hài hoà cho nền kinh tế Đây cũng là đóng góp quantrọng trọng nhất của khu vực DN này

Phát triển các DNNQD cũng sẽ tạo ra nhiều khả năng thuận lợi để huyđộng được nhiều hơn nguồn nhân lực do các DNNQD chủ yếu sử dụng lao độngtại chỗ Đồng thời, điều kiện để đào tạo tay nghề cho người lao động thuận lợihơn so với các khu vực kinh tế khác, do đó chi phí đào tạo sẽ không quá lớnđồng thời qua việc truyền nghề ở các doanh nghiệp góp phần duy trì những làngnghề truyền thống

Thực tế, ở Việt nam trong thời gian qua, hệ thống DNNN được xắp xếp lại,các DNNN bằng các giải pháp cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê và giải thể cácDNNN làm ăn thua lỗ thì việc dôi ra một số lượng lao động lớn là điều khôngthể tránh khỏi, bên cạnh đó khu vực hành chính Nhà nước cũng thực hiện giảmbiên chế và tuyển dụng mới không nhiều Như vậy, nếu xét về mặt tạo công ăn,việc làm, thì khu vực nhà nước nói chung và khu vực DNNN nói riêng khôngtạo thêm nhiều việc làm, thậm chí còn giảm xuống cả về tuyệt đối và tương đốitrong khi nạn thất nghiệp là một trong những khó khăn lớn nhất của quá trìnhchuyển đổi kinh tế ở nước ta trong thời gian qua Do vậy, với sự ra đời và pháttriển của các DNNQD, áp lực thất nghiệp đã được giảm mạnh

Như vậy, một mặt các DNNQD đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho ngườilao động, mặt khác đã góp phần giải tỏa tâm lý tập trung lao động về khu vực

Trang 11

Nhà nước hay khu vực có vốn ĐTNN Đồng thời, phát triển các DNNQD đãtừng bước làm thay đổi quan niệm của người lao động về vấn đề việc làm, mộtmặt, mở ra khả năng giải quyết việc làm và thu nhập của người lao động Do đó,việc thay đổi quan niệm này đã làm giảm bớt gánh nặng xã hội cho Nhà nướctrong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp và những vấn đề xã hội khác.

Các DNNQD có tác động thúc đẩy quá trình đô thị hoá phi tập trung.DNNQD phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đãtạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản

và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suấtthấp, thu nhập chưa cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực DN côngnghiệp, dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn Trên thực tế, số lượngviệc làm mới được tạo thêm từ khu vực DNNQD đã góp phần tích cực trongmục tiêu thực hiện chuyển dịch lao động nông nghiệp

Sự phát triển của các DNNQD ở nông thôn không chỉ tạo ra việc làm chomột bộ phận dân cư mà còn thu hút số lượng lớn lao động thời vụ trong thờigian nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lực lượng lao độngnông nghiệp sang làm công nghiệp và dịch vụ tại địa phương, giảm bớt được tốc

độ di dân vào thành phố

Với việc tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động nên phát triểnkhu vực kinh tế tư nhân nói chung và DNNQD nói riêng đã tạo thu nhập chongười lao động, đồng thời góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung củatoàn xã hội

Về đóng góp với Ngân sách Nhà nước (NSNN), DN là khu vực tạo ra nguồnthu chủ yếu cho NSNN Việc phát triển các DNNQD sẽ làm tăng số luợng DN vàlàm tăng khả năng cung ứng các dịch vụ cho xã hội, nhà nước có thể thu thêmđược tiền thuế trên số sản phẩm và dịch vụ gia tăng cũng như thu thêm thuế thu

Trang 12

nhập từ người chủ DN và người lao động Mặt khác, tuy số đóng góp của mộtDNNQD là không lớn do các DN này chủ yếu là có quy mô nhỏ, song với sốlượng đông đảo các DN cũng có đóng góp một phần đáng kể vào NSNN.

Hiện nay ở nước ta mức đóng góp vào NSNN của các loại hình DNNQDtăng nhanh trong những năm qua là điều kiện góp phần để đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng, phát triển các hoạt động xã hội công cộng như y tế, giáo dục, xoá đóigiảm nghèo và Nhà nước không phải trợ cấp trở lại cho các DN này nhưDNNN

1.2.5 Phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Xét về quy mô sản xuất, các DNNQD đa phần là các doanh nghiệp vừa vànhỏ (DNV&N) Số lượng DN tăng khá nhanh, mặc dù một số DN hiện nay cũngđạt mức quy mô khá hơn nhưng nhìn chung chủ yếu là các DNV&N Do đó cónhững hạn chế trong trang bị kỹ thuật Công nghệ sản xuất của loại hình DN nàyhầu hết ở trình độ thấp và trung bình, thậm chí nhiều DN và hộ kinh doanh cá thể

sử dụng kỹ thuật lạc hậu, chắp vá, lao động thủ công là chủ yếu

Tuy nhiên hiện nay các DNNQD đã phát triển hơn bất kỳ thời kỳ nào trướcđây, sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Đốivới DN có quy mô tương đối lớn đã có nhiều DN đầu tư thiết bị khá hiện đại,công nghệ tiên tiến với những sản phẩm có uy tín trên thị trường, các DNNQD

sẽ góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước

theo hướng kinh tế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh

Sự phát triển của các DNNQD đã góp phần quan trọng trong việc tạo lập sựphát triển cân đối giữa các vùng, khắc phục tình trạng mất cân đối nghiêm trọng

về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữacác vùng trong một quốc gia từ việc xây dựng các cụm, khu công nghiệp- dịch

Trang 13

vụ tổng hợp ở nơi có cơ sở hạ tầng phát triển Đồng thời, chính việc phát triểnrộng khắp các DNNQD ở các vùng sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùngnông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triểnnhanh các ngành sản xuất, dịch vụ tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, rút ngắnkhoảng cách chênh lệch về mọi mặt giữa các vùng.

Sự phát triển của các DNNQD cũng tạo điều kiện trong việc chuyển dịch

cơ cấu ngành Đến nay, hoạt động của loại hình DNNQD tuy còn nhỏ nhưngphát triển nhanh, rộng khắp ở các địa phương trong cả nước, do đó trừ một số ítcác lĩnh vực, ngành nghề Nhà nước giữ vai trò độc quyền, còn lại hầu hết cáclĩnh vực sản xuất, kinh doanh thì các DNNQD đều tham gia với mức độ ngàycàng lớn Trong đó ở một số ngành nghề, DNNQD đã chiếm tỷ trọng khá caonhư sản xuất lương thực, thực phẩm, bán lẻ hàng hoá, hàng tiêu dùng, nuôi trồngthuỷ sản Nếu như trước đây, các DNNQD chỉ hoạt động trong các lĩnh vựcthương mại, dịch vụ là chủ yếu thì vài năm trở lại đây, số DN sản xuất trực tiếp

đã tăng lên đáng kể, kể cả những ngành đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật cao như cánthép, dây cáp điện, xi măng, xe gắn máy, máy tính, thiết bị điện tử và đồ điệngia dụng chất lượng cao Nhiều DN đã bước đầu khẳng định được vị thế củamình trên thương trường, góp phần tích cực vào quá trình phát triển chung của

cả nước, đồng thời tạo cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp vàthúc đẩy cho các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển

Với sự tham gia của DNNQD cùng với các thành phần kinh tế khác sẽ tạo

ra động lực cạnh tranh, làm cho nền kinh tế hàng hoá phát triển đa dạng, phongphú, sôi động và có tốc độ tăng trưởng nhanh Chính sự phát triển phong phú, đadạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hìnhthức kinh doanh của các DN này đã tác động mạnh mẽ đến các DNNN, buộc cácDNNN này phải sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức sản

Trang 14

xuất kinh doanh để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường Nói cách khác,

sự phát triển của các DNNQD đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các DN trong nềnkinh tế, làm cho nền kinh tế năng động hơn, đồng thời cũng tạo nên sức ép lớnbuộc công tác quản lý hành chính của Nhà nước phải thay đổi nhanh nhạy, đápứng yêu cầu đòi hỏi của các DN trong nền kinh tế thị trường

Hiện nay, nhiều DNNN, đặc biệt là các tổng công ty lớn thường đòi hỏi sựđộc quyền và bảo hộ của Chính phủ; còn các DNNQD hầu hết là các DNV&N

có tính tự chủ cao, chấp nhận tự do cạnh tranh, nâng cao tính năng động, linhhoạt của nền kinh tế nhờ quy mô nhỏ, tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, kếthợp chuyên môn hoá với đa dạng hoá, hoà nhập kịp thời với những đòi hỏi củanền kinh tế thị trường góp phần làm năng động nền kinh tế

Như vậy, sự phát triển của DNNQD đã góp phần quan trọng hình thành vàxác lập vai trò, vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơchế thị trường, đẩy nhanh việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúcđẩy cải cách DNNN, cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợptác với bên ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh

Bên cạnh đó, các DNNQD còn có vai trò tích cực trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ ngành, thúc đẩycông nghiệp dịch vụ phát triển mạnh, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong

cơ cấu kinh tế Từ năm 1986 đến nay, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự chuyểnbiến tích cực theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp, tăng

tỷ trọng giá trị sản lượng công nghiệp và dịch vụ Đồng thời DNNQD pháttriển ở vùng nông thôn sẽ thu hút lao động nông nghiệp nông thôn sang hoạthoạt động công nghiệp,trong đó có phát triển công nghiệp chế biến sảnphẩm nông nghiệp tại địa phương

trình độ chuyên môn, tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của mọi người, từng bước thực hiện công bằng xã hội

Trang 15

Việc ra đời và phát triển của các DNNQD, đã từng bước hình thành đội ngũcác nhà DN hoạt động trên các lĩnh vực, các ngành nghề của nền kinh tế quốcdân Trong nền kinh tế thị trường, các chủ DNNQD đã tỏ rõ bản lĩnh và khảnăng thích ứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế Họ đã vươn lên tự khẳng địnhmình, tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tạo việc làm vàthu nhập cho người lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội và được xãhội tôn vinh Đây cũng là một cơ hội tự khẳng định sự nghiệp của các doanhnhân trong thời kỳ đổi mới kinh tế DNNQD cũng chính là nơi đào tạo và sànglọc các nhà quản lý DN qua thực tiễn kinh doanh, góp phần vào việc đào tạo lựclượng cán bộ quản lý DN có chất lượng cao cho đất nước Mặc dù không tránhkhỏi những bất cập và hạn chế, sự phát triển của các DNNQD đã tạo ra được độingũ doanh nhân tiếp cận với kinh tế thị trường

Sự phát triển DNNQD với các loại hình khác nhau đã góp phần làm choquan hệ sản xuất chuyển biến phù hợp với lực lượng sản xuất trong giai đoạnchuyển đổi của nền kinh tế Thị trường lao động được hình thành và phát triển,các DN chủ động ký kết các hợp đồng lao động theo yêu cầu sản xuất kinh doanh,tạo cơ hội trong việc tìm kiếm việc làm cho người lao động thay cho việc phân bổlao động vào các DNNN theo chỉ tiêu trong thời cơ chế bao cấp trước đây Quan

hệ phân phối cũng trở nên đa dạng, linh hoạt, ngoài phân phối chủ yếu dựa theolao động, còn sử dụng các hình thức phân phối theo vốn góp, theo tài sản, theo cổphần và nhiều hình thức khác

Sự chuyển biến trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối đã làm choquan hệ sản xuất trở nên mềm dẻo, đa dạng, linh hoạt, phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh nền kinh tế và tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay Nhờ vậy đã khơi dậy

và phát huy tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt

là nguồn lao động dồi dào và khả năng sáng tạo của hàng triệu người lao động.Thông qua đó, mọi người dân đều tham gia phát triển kinh tế và hưởng thụ thành

Trang 16

qủa lao động của mình, công bằng xã hội từng bước được thực hiện

1.3 Những ưu thế và hạn chế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trong nền kinh tế, mỗi loại hình DN đều có những ưu thế và hạn chế riêng.Các DNNQD với đặc trưng thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động gắn liền với lợi ích

và động lực cá nhân, tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh , do đó cũng thểhiện những mặt ưu thế và hạn chế của nó:

1.3.1 Ưu thế của loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Các DNNQD với đặc trưng thuộc sở hữu tư nhân và phần lớn có quy môvừa và nhỏ nên có khá nhiều ưu thế:

Năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường

Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, trong hoạt động sản xuất kinh doanh,các DNNQD luôn tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu trong nền kinh tế thịtrường Do các DN này thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và ngườitiêu dùng nên phản ứng của nó với thị trường nhanh nhạy hơn và do tính tự chủcao trong kinh doanh, các DN có khả năng đổi mới linh hoạt các loại sản phẩmphù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và nhu cầu thị trường Ngay khi gặp phảigiới hạn của nhu cầu thị trường về không gian sẽ chuyển sang đầu tư theo chiềusâu nhằm nâng cao khả năng sinh lời và sức cạnh tranh thông qua cải tiến côngnghệ, giảm chi phí và cuối cùng thường đi theo hướng mở rộng danh mục sảnphẩm của mình để đưa ra thị trường Mặt khác, các DN này khi gặp những bấtlợi cũng dễ dàng thay đổi tình thế, có thể chuyển đổi sản xuất hay thu hẹp quy

mô mà không gây ra hậu quả lớn cho xã hội

Tạo lập dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với chi phí thấp

Thông thường, việc thành lập mới các DNNQD không nhất thiết đòi hỏivốn đầu tư, mặt bằng sản xuất và quy mô nhà xưởng lớn đã giúp cho DN tiếtkiệm được chi phí cố định DN có thể tận dụng lao động thay thế cho vốn vớigiá lao động thấp, từ đó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn

Trang 17

Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh

Các DNNQD với số lượng đông đảo, phần nhiều có quy mô không lớn, dovậy thường khó có khả năng độc quyền trên thị trường Các DN này dễ dàng vàsẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh, có thể sản xuất sản phẩm chất lượng tốtngay cả khi điều kiện kinh doanh còn nhiều hạn chế, nhất là với những sản phẩm

có hàm lượng lao động thủ công cao Nó làm cho nền kinh tế sống động và thúcđẩy việc sử dụng tối đa các tiềm năng của mọi thành phần kinh tế

Các DNNQD sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức

độ rủi ro cao.

Do khó có thể cạnh tranh trên thị trường truyền thống của các DN lớn cũng nhưcác công ty, tổng công ty thuộc sở hữu nhà nước, các DNNQD thường tìm cách pháttriển những lĩnh vực mới, chấp nhận rủi ro cao để thu lợi nhuận

1.3.2 Những hạn chế của loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Bên cạnh những ưu thế mà các DNNQD có được, trong thực tiễn hoạtđộng sản xuất kinh doanh, các DNNQD có những hạn chế nhất định Từ khảosát các DNNQD có những hạn chế sau:

Phát triển tự phát và thể hiện tính kém bền vững.

Các DNNQD với đặc trưng thuộc sở hữu tư nhân, hoạt động gắn liền vớilợi ích và động lực cá nhân, mục tiêu cao nhất là tối đa hoá lợi nhuận do đó dễdàng bỏ qua hoặc không coi trọng các mục tiêu kinh tế, xã hội khác Bên cạnh

đó, do tính tự phát cùng với khả năng tài chính hạn chế, không có được sự bảo

hộ của Nhà nước nên khi có những biến động lớn về thị trường, các DN này dễ

đi đến tình trạng phá sản và dễ dẫn đến tình trạng đổ vỡ gây khủng hoảng kinh

tế nếu Nhà nước buông lỏng quản lý

Hạn chế về quy mô

Trừ một số nước công nghiệp phát triển cao như CHLB Đức, Nhật Bản,Mỹ… cùng với quá trình tư nhân hoá và làn sóng sáp nhập các công ty đã tạo ra

Trang 18

các công ty tư nhân có quy mô rất lớn, còn lại phần lớn loại hình DNTN ở cácnước có quy mô vừa và nhỏ Do hạn chế về quy mô, các DNTN này gặp không

ít khó khăn, trở ngại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và trong quản lý củaNhà nước, cụ thể:

Khả năng tài chính hạn chế

Các DNNQD phần lớn vốn tự có ít, khả năng vay vốn của các DN thấp.Mặt khác các DN này thường thiếu tài sản để thế chấp, hoặc tài sản thế chấp cógiá trị thấp nên khó vay vốn của ngân hàng và cũng ít có khả năng huy động vốnngoài thị trường Do vậy hạn chế phát triển, mở rộng kinh doanh, chuyển đổicông nghệ, hạn chế sức cạnh tranh trên thị trường

Trình độ kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu

Phần lớn máy móc thiết bị trong các DNNQD có quy mô vừa và nhỏ đều đãlạc hậu trong khi hiện nay, công nghệ được coi là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trongviệc đo lượng chất lượng sản phẩm Việc sử dụng công nghệ kỹ thuật lạc hậu sẽkhông cải tiến được chất lượng, mẫu mã và giá thành sản phẩm, tù đó làm giảmkhả năng cạnh tranh của DN Sức cạnh tranh của hàng hoá thấp, khó tiêu thụ, độrủi ro cao

Ít có khả năng thu hút được các nhà quản lý và công nhân giỏi.

Do còn tồn tại tâm lý của người lao động muốn được làm việc trong cácDNNN để đảm bảo sự ổn định và có mức thu nhập cao hơn Do đó, cácDNNQD khi cần tuyển chọn lao động có tay nghề cao thường gặp nhiều khókhăn Đối với các DN này, việc đào tạo công nhân và chủ DN, đầu tư chonghiên cứu cũng có nhiều hạn chế

Hoạt động phân tán, rải rác khắp cả nước nên khó quản lý và hỗ trợ.

Khác với các DNNN được thành lập và hoạt động theo quy hoạch cụ thể,gắn với phân vùng lãnh thổ, các DNNQD phân bố rải rác khắp cả nước, hoạtđộng phân tán theo nhiều lĩnh vực kinh doanh đa dạng nên gây nhiều khó khăn

Trang 19

cho việc quản lý cũng như hỗ trợ phát triển đối với loại hình doanh nghiệp này.

1.4 Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Qua các kỳ đại hội Đảng, sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh nói chung và các DNNQD nói riêng đang ngày càng được quan tâm đúngmức và được khẳng định tồn tại lâu dài dưới sự đảm bảo của Nhà nước Do vậy,các chính sách, pháp luật đã được ban hành và điều chỉnh, bổ sung nhằm phá bỏmọi rào cản, tạo môi trường cho các DNNQD phát triển

ngoài quốc doanh

Tháng 12.1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu bước ngoặt quantrọng trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khẳng định sự tồn tạilâu dài của các thành phần kinh tế Từ những đổi mới trong tư duy lý luận, cơchế chính sách, Đảng và Nhà nước đã đổi mới cách nhìn nhận về sự tồn tại củacác loại hình DN Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi trong sảnxuất kinh doanh của các DN trong nước và cả các DN liên doanh, liên kết vớicác DN nước ngoài, khuyến khích mọi người tham gia kinh doanh, phát triểnsản xuất, mọi cá nhân có khả năng về vốn, kỹ thuật, công nghệ đều được phépthành lập DN, hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật

Tháng 03/1989, Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) khẳng định sự nhấtquán trong chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần để giải phóng mọi nănglực sản xuất và coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lượclâu dài , có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH Nghị quyết đã nhấnmạnh các hình thức kinh tế ngoài quốc doanh như cá thể, tiểu chủ, tư bản tưnhân là cần thiết cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần ở nước ta

Trang 20

Chủ trương đổi mới tiếp tục được khẳng định trong kỳ Đại hội lần thứVII của Đảng năm 1991 Tháng 04/1991, Luật công ty và Luật doanh nghiệp tưnhân ra đời và có hiệu lực đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các DNNQDquy mô lớn hoạt động Luật doanh nghiệp tư nhân đã công nhận sự tồn tại vàphát triển lâu dài của DNTN, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật củaDNTN với các DNNN Trong khuôn khổ pháp luật, DNTN có quyền tự dokinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh Trên cơ sở tổng kếtthực tiễn công cuộc đổi mới, Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 2 (khoá VII)năm 1992 đã đưa ra một số chủ trương để phát huy tiềm năng của các DNNQDnhư bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm đảm bảo cho DNNQD được phát huy khônghạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luậtkhông cấm.

Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 khẳng định, kinh tế tư bản tư nhân

có vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước, vì vậy đòi hỏi nhà nước cầnphải có biện pháp khuyến khích phát triển, tạo điều kiện đi đôi với việc tăngcường quản lý hướng dẫn làm ăn hợp pháp Hội nghị Ban chấp hành TW Đảnglần thứ tư (khoá VIII) tháng 12/1997 tiếp tục cụ thể hoá chủ trương xây dựngnền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng XHCN, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân,đồng thời chủ trương phát triển các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết giữacác thành phần kinh tế Tháng 06/1999, Luật doanh nghiệp đã được thông quathay thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Sự ra đời của Luậtdoanh nghiệp đã có những đổi mới mạnh mẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho cácDNNQD thành lập và phát triển Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã ban hành một

số luật có liên quan như: Luật thương mại (1997), Luật các tổ chức tín dụng(1997), Luật thuế giá trị gia tăng (1997), Luật thuế thu nhập (1997)… nhằm tiến

Trang 21

tới hoàn thiện môi trường pháp lý cho các DN.

Đại hội lần thứ IX của Đảng 04/2001 chỉ rõ cần đổi mới và hoàn thiệnkhung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế chính sách, thủ tục hành chínhnhằm huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất,kinh doanh của mọi thành phần kinh tế Tiếp đó, Nghị định 90/2001/NĐ-CP vềkhuyến khích và hỗ trợ phát triển DN được ban hành Theo đó, Nhà nước sẽthành lập các tổ chức tư vấn, điều phối và hỗ trợ DN như quỹ bảo lãnh tíndụng, Cục phát triển DN của Bộ Kế hoạch và đầu tư, đồng thời xây dựng cáckhu công nghiệp tập trung, hỗ trợ cung cấp thông tin, đào tạo, xúc tiến xuấtkhẩu

Như vậy, các chủ trương và quan điểm của Đảng đã có những đổi mới quantrọng mang tính đột phá, từ chỗ nhận thức và hành động không thừa nhận nềnkinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế tư nhân là lực lượng phải cải tạo, đến xácđịnh mỗi thành phần kinh tế đều có vị trí quan trọng trong cơ cấu của nền kinh

tế, đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùngphát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Từ chỗ coi kinh tế quốcdoanh là chủ đạo theo nghĩa các DNNN phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọingành nghề, lĩnh vực, độc quyền, chi phối thị trường, đã chuyển sang coi khuvực ngoài quốc doanh trong đó có các DNNQD là một bộ phận trong cơ cấu nềnkinh tế quốc dân, có khả năng góp phần xây dựng đất nước và được phát triểnkhông hạn chế trong các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được kinhdoanh, xuất nhập khẩu và đầu tư ra nước ngoài theo quy định chung, thực hiệnhợp tác với DNNN Những nỗ lực trên đã tạo hành lang pháp lý để các DNNQD

có thể phát triển nhanh chóng và vững chắc, đóng góp cho sự phát triển kinh tếcủa đất nước

quốc doanh

Trang 22

Những chủ trương của Đảng trong các kỳ đại hội đã được cụ thể hoá bằngcác chính sách và pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho khu vực kinh tế

tư nhân nói chung và các DNNQD nói riêng phát triển nhanh chóng cả về sốlượng và quy mô hoạt động

Chính sách đất đai

Luật đất đai được ban hành năm 1993 đã thay thế cho Luật đất đai năm

1988 là một cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo cho các DNNQD sử dụng đấtmột cách hiệu quả, ổn định, lâu dài Theo đó, Nhà nước không thừa nhận cácyêu cầu đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng Quy định này đã đảm bảochắc chắn quyền lợi sử dụng đất của các doanh nghiệp trong thời gian thuê đấtcủa nhà nước một cách hợp pháp Tiếp đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điềuluật của Luật đất đai ban hành ngày 02/12/1998 đã tăng cường vị trí pháp lý chocác tổ chức thuê đất kinh doanh Nghị định 17/1999/NĐ- CP(có hiệu lực thihành từ ngày12/04/1999) cụ thể hoá thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, chothuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trịquyền sử dụng đất Đây là những quy định mới góp phần ổn định các quan hệ sửdụng đất, làm rõ các quyền của người sử dụng đất và cải cách cơ bản các thủ tụchành chính liên quan đến việc thực hiện các quyền này[41]

Như vậy, về phía các doanh nghiệp, Luật đất đai sửa đổi đã có những ưuđiểm sau:

 Luật Đất đai sửa đổi tăng cường phạm vi quyền sử dụng đất của các

DN như tài sản thế chấp vay vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, góp vốnbằng giá trị quyền sử dụng đất, có quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất…

 Giảm bớt các thủ tục phiền hà có liên quan đến việc thuê đất, quyền

sử dụng đất, chuyển nhượng đất…Làm rõ các quyền của người sử dụng đất vàcác thủ tục hành chính liên quan đến việc thực hiện các quyền này

Luật đất đai ngày càng có những quy định rõ ràng hơn trong việc tạo điều

Trang 23

kiện cho các DN thuê đất của nhà nước hoặc thuê lại quyền sử dụng đất trongcác khu công nghiệp tập trung Trong quá trình thực hiện, Chính phủ đã banhành nhiều nghị định bổ sung và điều chỉnh Luật đất đai cho phù hợp với tìnhhình thực tế.

Chính sách thuế, tín dụng, đầu tư

Các chính sách về thuế, tín dụng, đầu tư là những chính sách có ảnh hưởngtrực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN.Trong những năm qua, nhiều văn bản, pháp luật thuế, tín dụng và đầu tư đã đượcban hành theo hướng phù hợp hơn đối với các yêu cầu của nền kinh tế thị trường Năm 1994 Quốc hội đã ban hành ban hành Luật khuyến khích đầu tưtrong nước Các chính sách về đầu tư đã góp phần tạo môi trường thuận lợicho các các DNNQD như được thuê mặt bằng trong các khu công nghiệp tậptrung; lập các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay trung và dài hạn; có các chế độ

ưu tiên, ưu đãi trong đầu tư vào một số ngành nghề, vùng lãnh thổ; bảo đảm

an toàn cho hoạt động đầu tư, đảm bảo tài sản và lợi ích hợp pháp của nhàđầu tư.v.v

Bên cạnh những chính sách về đầu tư, nhiều sắc thuế đã được ban hành và bổsung sửa đổi cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế như thuế giá trị gia tăng;thuế thu nhập DN, thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế chuyển quyền sử dụng đất,thuế nhà đất; thuế xuất nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế thu nhập với nhữngngười có thu nhập cao… Các chính sách thuế đã có nhiều mặt tích cực hỗ trợ chocác DNNQD trong hoạt động sản xuất kinh doanh như hệ thống thuế ngày cànghoàn chỉnh hơn, đối tượng chịu thuế được mở rộng và không phân biệt các thànhphần kinh tế; thuế suất áp dụng thống nhất cho các đối tượng và giản đơn hoá; cónhiều ưu đãi thuế cho các cơ sở kinh tế trong đó có DNNQD

Về tín dụng, tháng 12/1997 Luật các tổ chức tín dụng đã được ban hành.Nhà nước đã có những biện pháp cụ thể hỗ trợ về tín dụng đối với các DNNQD

Trang 24

trong đầu tư phát triển thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, hỗ trợ trong các dự ánphát triển nông nghiệp nông thôn, trong các chính sách cho vay vốn tạo việclàm Thông qua Quỹ hỗ trợ phát triển, các DNNQD có thể được vay với lãi suất

ưu đã thấp hơn lãi suất cho vay từ các Ngân hàng thương mại

Nhìn chung, từ nhiều năm nay, Nhà nước ta đã coi trọng việc khai thác vàphát huy tiềm năng đầu tư của kinh tế ngoài quốc doanh; một bước tiến kháquan trọng từ thể chế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang thể chế kinh tế thịtrường, thể hiện rõ quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực mà pháp luật khôngcấm

Chính sách thương mại

Tháng 04/1997, Luật thương mại đã được thông qua tạo có sở pháp lý chocác hoạt động thương mại của các DN Chính sách thương mại được đổi mớitrên các mặt: tự do hoá thương mại, đổi mới chính sách xuất nhập khẩu, đổimới hệ thống thuế quan, giảm bớt các quy định về hạn ngạch

 Tự do hoá thương mại bao gồm tự do hoá giá cả, tự do kinh doanhđảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy hình thành hệ thốngthị trường đồng bộ thống nhất

 Đổi mới chính sách xuất nhập khẩu: các thành phần kinh tế đều đượcquyền tham gia hoạt động ngoại thương, xoá bỏ quy định mức vốn tối thiểu đểđược hoạt động xuất nhập khẩu Các DN có giấy phép kinh doanh đều đượcphép tham gia xuất nhập khẩu

 Đổi mới hệ thống thuế quan, giảm mức thuế và hợp lý hoá thuế xuấtnhập khẩu Đổi mới thủ tục hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu, thayđổi cơ chế quản lý xuất nhập khẩu từ phương pháp hành chính sang phươngpháp kinh tế thông qua hệ thống thuế quan

Chính sách khoa học công nghệ

Trang 25

Hiện nay, khoa học công nghệ trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ và đang

có ảnh hưởng lớn đến các nước đang phát triển Để đảm bảo khả năng cạnhtranh của các DN khi bước vào hội nhập kinh tế, Nhà nước đã có những chínhsách tạo điều kiện cho các DN có khả năng tiếp cận với thành quả khoa họccông nghệ tiên tiến Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động đào tạo kỹnăng và xây dựng kết cấu hạ tầng khoa học công nghệ, tạo thị trường và thông tinkhoa học công nghệ cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Nhà nước cũng đã vàđang triển khai nghiên cứu các chương trình khoa học công nghệ Nhờ đó bướcđầu đã tạo điều kiện cho các DN nói chung và DNNQD nói riêng tiếp cận với cáccông nghệ mới, nhận chuyển giao công nghệ, đầu tư phát triển công nghệ

Luật Khoa học và công nghệ được Quốc hội thông qua ngày 9/6/2000 xác

định rõ Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững đất nước 3.

Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc đổi mới chính sách khoa học côngnghệ với các nội dung:

- Xác định cách thức tiếp nhận công nghệ hợp lý thông qua đầu tư nướcngoài, mua bằng phát minh, sáng chế Khuyến khích đầu tư nước ngoài cócông nghệ tiên tiến

- Khuyến khích các hoạt động đào tạo kỹ năng và xây dựng kết cấu hạ tầngkhoa học công nghệ, tạo thị trường và thông tin khoa học công nghệ cho khuvực kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động

- Nhà nước cũng đã và đang triển khai nghiên cứu các chương trình khoahọc công nghệ Nhờ đó, bước đầu đã tạo môi trường cho các chủ thể kinh doanh,trong đó có các DNNQD tiếp cận với công nghệ, tiếp thu công nghệ mới, nhậnchuyển giao công nghệ, đầu tư phát triển công nghệ

Trang 26

Trong những năm gần đây, hoạt động khoa học công nghệ đã có nhữngchuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế- xãhội Trình độ công nghệ trong nhiều ngành sản xuất được nâng lên nhanh chóng.Khoa học công nghệ bước đầu đã trở thành nhân tố quyết định giúp cácDNNQD vượt qua khó khăn, kinh doanh có hiệu quả và sản phẩm có sức cạnhtranh trên thị trường, góp phần phát triển và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Kết luận chương 1

- Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận chung về phát triển các loại hìnhDNNQD trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, trong đó bao gồmcác loại hình DNTN, CTTNHH và CTCP Đồng thời đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chếcủa loại hình DNNQD, khẳng định những đóng góp quan trọng của các DNNQD đối vớinền kinh tế Đó là, có thể thu hút lượng vốn đầu tư của nhân dân vào sản xuất kinh doanh,khai thác các nguồn vốn trong nước; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu chongân sách; góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, giải quyết việclàm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế di dân vào đô thị; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý, hình thành và phát triển các nhà doanh nghiệp cótrình độ, tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của mọi người, nâng cao khả năng cạnhtranh của nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, đất nước

- Luận văn đã đề cập và phân tích những chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước nhằm tạo môi trường thuân lợi cho các DNNQD được mở mang,phát triển và có khả năng đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới kinh tế củađất nước

Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (1986-2002)

Trang 27

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Hà Nội

Hà Nội- Thủ đô nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là “Trung tâm đầu nãochính trị- hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá khoa học, giáo dục kinh tế

và giao dịch quốc tế của cả nước” [6] Hà Nội là thành phố cổ đã được hình thành

và phát triển gần 1000 năm, nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, tiếp giápvới 5 tỉnh: Bắc Ninh,Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Tây và Hưng Yên Thành phố

Hà Nội có tổng diện tích 920,97 km2, chiếm 0,28% diện tích tự nhiên cả nước.Tính đến 31/12/2002, dân số Hà Nội là 2.931.400 người, chiếm 3,67% dân

số cả nước Trong đó dân số đô thị 1.721.400 người chiếm 58,7%, nông thôn1.210.000 người, chiếm 41,3% Tỷ suất sinh năm 2002 của Hà Nội là 1,465%giảm 0,41% so với năm 1995 [4] Tuy nhiên do tác động của quá trình đô thịhoá, hiện nay tốc độ tăng dân số cơ học của Hà Nội khá cao đã tạo một sức éplớn về mọi mặt cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội thủ đô

Số lượng lao động ở Hà Nội cũng tăng nhanh qua các năm Năm 2002 toànthành phố đã giải quyết việc làm cho 62.500 người tăng 4,1% so với năm 2001.Tuy nhiên theo kết quả điều tra lao động việc làm trên phạm vi thành phố, tỷ lệthất nghiệp khu vực thành thị của Hà Nội năm 2002 là 7,08%, cao nhất trong cảnước Bên cạnh đó, sự gia tăng nhanh chóng nguồn lao động ngoại tỉnh vào HàNội làm việc cũng đã gây áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm của tronggiai đoạn hiện nay

Cơ cấu phân bố lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế có sự thayđổi cơ bản kể từ khi thực hiện đổi mới kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng laođộng trong khu vực kinh tế quốc doanh, tỷ trọng lao động khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh tăng nhanh, đặc biệt từ khi thực hiện chỉ thi 20/1998/CT-TTg ngày21/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh, sắp xếp và đổi mới DNNN đãgóp phần thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực quốcdoanh sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Trang 28

Về thuận lợi:

- Hà Nội có chính sách kinh tế đối ngoại mở cửa linh hoạt, an ninh chínhtrị và trật tự xã hội được giữ vững Đây là điều kiện quan trọng đảm bảo choviệc phát triển ổn định lâu dài, bền vững để các DN yên tâm đầu tư vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh

- Là thủ đô của nước CHXHCN Việt Nam, trung tâm lớn về văn hoá, khoahọc, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế cả nước, Hà Nội nhận được sự quantâm đầu tư và được sự chỉ đạo về mọi mặt của Trung ương trong quá trình xâydựng và phát triển của thủ đô Nhờ đó, các DNNQD trên địa bàn tận dụng đượclợi thế về vị trí của thủ đô trong việc tiếp cận nhanh chóng các thông tin trong vàngoài nước, có được sự hỗ trợ kịp thời từ các cơ quan chuyên trách cũng như từcác tổ chức hiệp hội hỗ trợ phát triển DNNQD Bên cạnh đó, các DNNQD trênđịa bàn có điều kiện tuyển dụng được những nhà quản lý, đội ngũ lao động cókinh nghiệm và được đào tạo có chất lượng

- Hà nội với vị trí là trung tâm thông tin và giao lưu kinh tế, văn hoá xã hộitrong nước và quốc tế cũng đã tạo cơ hội cho các DN có điều kiện tiếp xúc và nắmbắt kịp thời những thông tin và động thái mới của thị trường trong nước và quốc tếcũng như có nhiều thuận lợi trong việc tiếp cận những thành tựu khoa học côngnghệ và tinh hoa văn hoá thế giới, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanhnghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá

- Các DNNQD ở Hà Nội có ưu thế so với các doanh nghiệp khác ở phíaBắc trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh, dễ dàng hơn trong việc tổ chứctiêu thụ những sản phẩm hàng hoá trên địa bàn có mật độ dân cư tập trung cao

và mở rộng thị trường tiêu thụ ra các địa phương khác, cũng như có nhiều lợi thếhơn trong việc tiếp cận các nguồn nguyên liệu đầu vào, các dịch vụ công nghệcao, dịch vụ tài chính, ngân hàng…

Về khó khăn:

Trang 29

- Các DNNQD trên địa bàn luôn luôn phải đứng trước những áp lực về cạnhtranh gay gắt trên thị trường để tồn tại, không chỉ giữa các DN thuộc khu vựckinh tế ngoài quốc doanh, mà cả với các DNNN hiện vẫn đang còn tồn tại tìnhtrạng độc quyền dưới hình thức độc quyền của một công ty hay độc quyền nhóm

và đặc biệt là vói các DN có vốn ĐTNN có trình độ khoa học công nghệ cao, sảnxuất những sản phẩm có uy tín trên thị trường thế giới

- Thủ đô cũng là địa bàn rất nhạy cảm, do đó các DNNQD cũng gặp phảinhững rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh khi có nhữngbiến động về thị trường

Tóm lại, với vị thế là thủ đô, Hà Nội vừa có những tiềm năng, lợi thế sosánh; vừa có những thách thức không thuận lợi trong quá trình phát triển của thủ

đô nói chung và qua đó cũng có những tác động nhất định đối với việc phát triểncác DNNQD nói riêng

2.2 Thực trạng doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm khuyến khích mọi thànhphần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh, thành phố Hà Nội đã thực hiện đồng bộnhiều chính sách và biện pháp nhằm tạo điều kiện cho các DNNQD đầu tư sảnxuất Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ VIII đã khẳng địnhchủ trương “phát triển mạnh các các thành phần, loại hình kinh tế”, “tạo điều kiệnthuận lợi để các DNNQD phát triển” Chương trình công tác lớn của Thành ủy HàNội đã đề cập đến mục tiêu và nhiệm vụ đổi mới quan hệ sản xuất, trong đó khẳngđịnh: “Kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể… được khuyến khích phát triển và đóng gópngày càng lớn đối với phát triển kinh tế xã hội”… Do vậy, các chính sách cụ thể đểthúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các DNV&N

đã được thể hiện qua đề án số 18- ĐA/TW với nội dung “Tiếp tục đổi mới cơ chế,chính sách khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” [8]

Để hướng dẫn thực hiện Luật doanh nghiệp, UBND thành phố Hà Nội đã

Trang 30

ban hành quy chế quản lý DN hoạt động theo Luật doanh nghiệp trên địa bànthành phố Hà Nội Quyết định số 135/2002/QĐ- UB, phân rõ trách nhiệm cáccấp, các ngành trong quản lý, hỗ trợ các DNNQD Vì vậy, việc chỉ đạo triểnkhai Luật doanh nghiệp đã được thực hiện một cách nhất quán, thống nhất từThành uỷ, HĐND, UBND thành phố đến các sở, ngành, quận, huyện.

Các cơ quan Nhà nước ở Hà Nội trong phạm vi thẩm quyền đã thực hiệntốt các quy định của Luật doanh nghiệp Cụ thể: không ban hành, hay phục hồicác giấy phép không cần thiết; không đòi hỏi thêm hồ sơ, giấy tờ và các thủ tụctrái luật; không can thiệp hành chính trái thẩm quyền vào công việc kinh doanh,quản lý nội bộ của các DN Bên cạnh đó, Hà Nội còn đã tổ chức nhiều đợt tậphuấn về Luật doanh nghiệp cho cán bộ các DN trên địa bàn thành phố

Hà Nội còn là địa phương đầu tiên ban hành Quy chế về phối hợp quản lý DNsau đăng ký, trong đó xác định rõ UBND thành phố tổ chức quản lý DN, quy định cụthể trách nhiệm và cơ chế phối hợp của các sở ngành, quận, huyện, của các phường,

xã trong quản lý DN sau đăng ký (Công tác cấp đăng ký kinh doanh cho các DNhoạt động theo Luật doanh nghiệp được giao cho phòng đăng ký kinh doanh- Sở kếhoạch và đầu tư; công tác quản lý được giao cho UBND các quận, huyện; đăng ký

hộ kinh doanh cá thể được giao cho UBND các phường, xã phối hợp thực hiện)

Hà Nội cũng đã đẩy nhanh công tác cải cách hành chính ở các lĩnh vực, ởcác cấp, các ngành của thành phố nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính, cảithiện môi trường đầu tư Quy định về quy trình và thời hạn giải quyết một số thủtục hành chính theo quyết định số 100/2002/QĐ-UB đã giúp giảm thời gian xử

lý các hồ sơ, đơn giản thủ tục tại các cơ quan quản lý Nhà nước của thành phốtránh gây phiền hà cho các DN

Các chính sách ưu đãi phát triển DN nói chung và DNNQD nói riêng đãđược nghiên cứu và xây dựng Để cụ thể hoá các chính sách ưu đãi thuế theoLuật Khuyến khích đầu tư, ngày 18-11-1999, UBND thành phố Hà Nội đã có

Trang 31

Chỉ thị số 20/1999/CT- UB về cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư

Như vậy cùng với các chủ trương, chính sách của Trung ương, thành phố

Hà Nội đã có những chính sách và giải pháp cụ thể để tạo môi trường thuận lợicho khu vực KTNQD phát triển Việc phát triển loại hình DNNQD được xácđịnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thành phố để đẩy nhanh pháttriển kinh tế thủ đô

2.2.1 Số lượng và cơ cấu các loại hình doanh nghiệp

Trước khi thực hiện đường lối đổi mới (1986), cũng như các địa phươngkhác trên cả nước, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là đối tượng trong thựchiện cải tạo XHCN và không được pháp luật bảo vệ Từ sau Đại hội VI (tháng12/1986) và nhất là từ khi ban hành Luật DNTN và Luật Công ty (thông quangày 21/12/1990 và có hiệu lực từ 15/4/1991) cùng nhiều Nghị quyết, chỉ thị vàchính sách khuyến khích khác, kinh tế tư nhân đã được hồi sinh và phát triển trởlại cùng với sự phát triển của loại hình DNNQD

Theo Luật doanh nghiệp, các chủ DN của KTNQD có thể lựa chọn mộttrong ba loại hình DN như DNTN, công ty TNHH, CTCP Trên địa bàn Hà Nội

số DNNQD đã được thành lập và hoạt động ở 12 quận huyện với số lượng ngàycàng tăng Trong giai đoạn 1992- 2002 đã có 14.404 DNNQD được đăng kýhoạt động Từ năm 2000 đến nay, số DNNQD thành lập mới liên tục tăngnhanh, năm sau cao hơn năm trước Số DN này chiếm tới 75% trong tổng số DNtrên địa bàn và tăng 224% so với giai đoạn 1992 –1999

Bảng 2.1: S l ố lượng DNNQD đăng ký kinh doanh ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002 ượng DNNQD đăng ký kinh doanh ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002 ng DNNQD đăng ký kinh doanh ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002 ng ký kinh doanh H N i giai o n 1992-2002 ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002 à Nội giai đoạn 1992-2002 ội giai đoạn 1992-2002 đ ạn 1992-2002

Trang 32

Tổng cộng 14 404

Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội

Như vậy, thực hiện Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty, giai đoạn

1992 –1999 bình quân mỗi năm có 556 DN được thành lập (trung bình khoảng

46 DN/ tháng), giai đoạn 2000 – 2002, thực hiện Luật doanh nghiệp, bình quânmỗi năm có 3.320 DN được thành lập mới (trung bình khoảng 276 DN/ tháng),gấp 6 lần so với bình quân năm giai đoạn 1992 – 2002 Qua số liệu ở trên, sốlượng DN được thành lập mới giai đoạn 2000- 2002 gấp hơn 2 lần số lượngcác DN được thành lập giai đoạn 1992- 1999, và cao nhất vào năm 2002 với4.262 DN mới được thành lập (tăng cả về số tương đối và tuyện đối), chiếmtới 19,8% tổng số DN trong cả nước Đây là kết quả của 3 năm thi hành Luậtdoanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội Như vậy, Hà Nội là thành phố

có số lượng DNNQD đứng thứ hai trong cả nước, chỉ sau thành phố Hồ ChíMinh Tuy nhiên, mức tăng về số lượng của mỗi loại hình DNTN, công tyTNHH và CTCP cũng khác nhau

B ng 2.2: S l ảng 2.2: Số lượng các DNNQD ở Hà Nội ( Năm1996 – 2002) ố lượng DNNQD đăng ký kinh doanh ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002 ượng DNNQD đăng ký kinh doanh ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002 ng các DNNQD H N i ( N m1996 – 2002) ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002 à Nội giai đoạn 1992-2002 ội giai đoạn 1992-2002 ăng ký kinh doanh ở Hà Nội giai đoạn 1992-2002

Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội.

Loại hình doanh nghiệp tư nhân: Theo số liệu của Sở kế hoạch đầu tư

Hà Nội, đến năm 1993, trên địa bàn thành phố chỉ mới có 83 DN thì đến năm

2002 có 1.613 DN, tăng gần 20 lần, trong đó, năm 1994 tăng lên 394 DN (tăng374%), năm 1995 là 484 DN (tăng 22%) Tuy nhiên, từ năm 1996 và nhất lànăm 1997, tốc độ phát triển về số lượng đã chậm lại so với trước và tăng lại vào

Trang 33

năm 2000 Điều đó, có thể lý giải mức tăng đó là do tác động tích cực của LuậtDNTN (năm 1992) và Luật doanh nghiệp (năm 1999).

Loại hình công ty TNHH: Năm 1993 có 601 công ty, năm 1995 tăng

lên 1.569 công ty Đến năm 2000, khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực, số lượngcông ty đăng ký lên tới 5.319 công ty bằng 151,8% tổng số công ty TNHH đượcthành lập trước đó và số lượng các công ty này tiếp tục tăng với tốc độ cao trongnhững năm tiếp theo và đạt con số 10.914 công ty TNHH tính đến hết ngày31/12/2002 Đây là một bước tiến đáng kể của Luật doanh nghiệp trong việchiện thực hoá quyền tự do kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệpđược tổ chức theo loại hình hiện đại với địa vị pháp lý rõ ràng

Công ty cổ phần: Bên cạnh sự phát triển của các công ty TNHH, CTCP

là loại hình DN có sự phát triển mạnh nhất Giai đoạn 1992- 1999, số CTCP đượcthành lập là 148 công ty thì trong 3 năm 2000, 2001, 2002 đâ có tới 1.857 DN tăng1.255% Như vậy, số lượng các DN thành lập theo loại hình này trên địa bàn cònchiếm tỷ lệ nhỏ song tốc độ tăng khá cao

Như vậy, trong tổng số 14.404 DNNQD được thành lập trên địa bàn Thànhphố Hà Nội đến năm 2002, cơ cấu được phân bổ như sau: trong đó loại hìnhcông ty TNHH chiếm 75,9%, công ty cổ phần chiếm 12,89%; DNTN chiếm11,19 % tổng số DN đã được đăng ký kinh doanh, thể hiện sự nổi trội của loạihình công ty TNHH, tỷ trọng công ty cổ phần tuy còn thấp nhưng chiếm ưu thếhơn so với mức bình quân chung của cả nước

Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình đăng ký kinh doanh các loại hình DNNQD ở

Hà Nội( Năm 1991- 2002) Năm

Loại hình DN

1995

1991- 1999

1996- 2002

Trang 34

Tổng số 2.100 2.349 9.955 14.404 100

Nguồn: Sở kế hoach và đầu tư Hà Nội.

Tuy nhiên, trên thực tế theo số lượng DN đã được cấp mã số thuế của cụcthuế Hà Nội, đến năm 2002, loại hình DNTN chiếm 7,86%, công ty TNHH chiếm80,04% và CTCP chiếm 12,1% tổng số DNNQD được cấp mã số thuế [14] Nhưvậy, so sánh cơ cấu theo loại hình DN giữa số đăng ký ban đầu với số liệu ở Cụcthuế, có thể thấy rằng, tỷ lệ “rơi rụng” ngay ở chặng đường đầu của quá trìnhkinh doanh ở các DNTN là cao nhất, tiếp đến là loại hình CTCP và thấp nhất vớiloại hình công ty TNHH Điều đó bước đầu cho thấy sự “ổn định” của loại hìnhDNTN và CTCP không cao bằng loại hình công ty TNHH

B ng 2.4: C c u lo i hình DNNQD th c t ho t ơ cấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà ấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà ại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà ực tế hoạt động trên địa bàn Hà ế hoạt động trên địa bàn Hà ại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà động trên địa bàn Hà ng trên địa bàn Hà a b n H àn Hà àn Hà

N i(2000- 2002) ộng trên địa bàn Hà

Nguồn: Phòng nghiệp vụ Cục thuế Hà Nội- theo số lượng đã được cấp mã

số thuế của Hà Nội

Trên địa bàn cả nước, trong các loại hình DNNQD, DNTN chiếm tỷ trọnglớn trong khi đó tại Hà Nội, công ty TNHH lại là hình thức phổ biến, được nhiều

DN lựa chọn hơn cả, tỷ trọng CTCP tuy có chiếm ưu thế hơn so với mức bìnhquân chung của cả nước song vẫn còn rất thấp so với số lượng các công tyTNHH Sở dĩ có sự lựa chọn này là do trong điều kiện nước ta hiện nay, mớichuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, donhững khía cạnh tâm lý xã hội nên đa phần dân cư chưa mấy tin tưởng vào các

Trang 35

loại hình mang tính “tập thể”, và chưa có thói quen đầu tư qua việc mua bán cổphiếu Đa phần các chủ DN trong các DNNQD cũng bị tâm lý này chi phối, vìvậy đa phần các công ty TNHH về thực chất cũng là DNTN với các thành viêncủa công ty trong gia đình Loại hình DN này khá phù hợp với tâm lý chung củangười dân Việt nam hiện nay, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà nội, các chủ

DN luôn xác định sự mở rộng về quy mô hoạt động cũng như ngành nghề kinhdoanh trong tương lai, đồng thời tính chất “tư nhân” theo cách hiểu của người dânViệt Nam, của các chủ doanh nghiệp vẫn là động lực cơ bản thúc đẩy các chủdoanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh Động lực này chi phối tất cả cáchoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có vấn đề quản lý trong DN Dovậy, hiện nay ở Hà Nội, loại hình công ty TNHH vẫn đang là loại hình phổ biến

và phù hợp Tuy nhiên theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, cácchuyên gia kinh tế cho rằng, trong các loại hình DN, loại hình công ty cổ phần

có nhiều ưu điểm hơn, là loại hình công ty sẽ ngày càng phổ biến trong nền kinh

tế hiện đại Uu điểm nổi bật của loại hình công ty này là khả năng phân tán rủi

ro cho nhiều cổ đông cùng chịu, cũng như khả năng huy động vốn từ nhiềunguồn khác nhau, từ đó để tập trung nguồn lực tài chính cho đầu tư Mặc dù vậy,loại hình này chỉ có thể hoạt động với hiệu quả cao khi được quản lý chặt chẽtrong nền kinh tế hoạt động theo luật pháp

Xem xét diễn biến cho thấy trong cơ cấu loại hình DNNQD ở Hà Nội đangbiến động theo chiều hướng tích cực: Tỷ trọng DNTN đang giảm dần, tỷ trọngcông ty TNHH cũng đang có chiều hướng giảm, ngược lại tỷ trọng công ty cổ phầnđang có xu hướng tăng rất nhanh

Như vậy, về mặt pháp lý, Nhà nước đã tạo cho khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh những sự lựa chọn khác nhau về loại hình DN, còn trên thực tiễn, chính

ưu thế và hiệu quả của mỗi loại hình sẽ sẽ quyết định xu thế lựa chọn của khuvực KTNQD trong khuôn khổ của hệ thống pháp luật hiện hành Hiện tại khi

Trang 36

xem xét cơ cấu của DNNQD trên địa bàn Hà Nội theo loại hình DN thì cho đếnhết năm 2002, loại hình công ty TNHH đang giữ vị trí phổ biến và có vai tròquan trọng nhất trong khối DNNQD.

thành phố Hà Nội

Điều 21 Hiến pháp 1992 quy định “Kinh tế cá thể, tư bản tư nhân được chọnhình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập DN không bị hạn chế vềquy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh” Vớiquyền được tự do kinh doanh trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luậtkhông cấm đã phát huy khả năng của các DNNQD, góp phần làm phong phú, đadạng và phát triển nhiều ngành nghề mới, trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội(đặc biệt là các ngành nghề được bãi bỏ giấy phép hành nghề, giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh) và ngày càng có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, cácDNNQD vào việc cung ứng các sản phẩm thiết yếu cho thị trường nội địa và xuấtkhẩu, giải quyết việc làm và đời sống cho nhiều người lao động trên địa bàn thủ đô.Thực tế, đến nay trên địa bàn Thành phố đã có trên 10 ngàn DNNQD hoạtđộng trong các lĩnh vực ngành nghề tương đối đa dạng Các DN này tập trungtrong các lĩnh vực thương mại - dịch vụ, lĩnh vực vận tải hàng hoá và hành khách,xây dựng, du lịch… Một số DNNQD trên địa bàn thực hiện kinh doanh tổng hợp(kết hợp giữa sản xuất, thương mại và tư vấn) trong lĩnh vực dịch vụ đòi hỏi cóhàm lượng chất xám cao như ngành công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới,lĩnh vực tài chính- ngân hàng (Ngân hàng thương mại cổ phần hoặc công ty đầu tư,công ty thuê mua tài chính)

Cơ cấu ngành nghề đăng ký kinh doanh của các DNNQD trên địa bàn thànhphố hiện nay đã có sự thay đổi Nếu như trước đây, các DNNQD với quy mô vốnnhỏ bé, tập trung hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đến nay

đã có nhiều DN mạnh dạn đầu tư vào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp với những ngành nghề phong phú, đa dạng, tập trung vào sản xuất các sản

Trang 37

phẩm thiết yếu phục vụ tiêu dùng trong nước và cả cho xuất khẩu hay trong cácngành công nghiệp chủ lực của Hà Nội như điện tử và công nghệ thông tin, dệt –may, da – giày, cơ - kim khí, chế biến thực phẩm đã thể hiện được sự đầu tư cóchiều sâu trong sản xuất và đầu tư cho phát triển công nghệ cao theo hướng CNH– HĐH nền kinh tế Tỷ trọng các DNNQD đầu tư vào các ngành công nghiệp, xâydựng, giao thông cũng đã có sự tăng lên rất nhiều so với trước.

Bảng 2.5: C c u ng nh ơ cấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà ấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà àn Hà đăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002 ng ký ho t ại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà động trên địa bàn Hà ng c a các DNNQD n m 2002 ủa các DNNQD năm 2002 ăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002

Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội

Tuy nhiên, dù có những cải thiện đáng kể trong cơ cấu ngành nghề sản xuấtkinh doanh của các DNNQD trên địa bàn Thủ đô, song trên thực tế, xu hướng sảnxuất kinh doanh của các DN vẫn tập trung đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực thương mại,dịch vụ thể hiện qua cơ cấu vốn đầu tư và số lượng lao động sử dụng cũng nhưdoanh thu nộp thuế

Theo đánh giá của phòng quản lý công nghiệp ngoài quốc doanh, Sở côngnghiệp Hà Nội, có khoảng 3000 DN có đăng ký kinh doanh sản xuất công nghiệp,trong đó có khoảng gần 1000 DN hoạt động hoạt động sản xuất công nghiệp đượccoi là hoạt động chính Đánh giá này tương đối sát với số liệu của Cục thuế Hà Nội

B ng 2.6: C c u các DNNQD th c t ho t ơ cấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà ấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà ực tế hoạt động trên địa bàn Hà ế hoạt động trên địa bàn Hà ại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà động trên địa bàn Hà ng phân theo ng nh kinh àn Hà

t th nh ph H n i (N m 2000- 2002) ế hoạt động trên địa bàn Hà ở thành phố Hà nội (Năm 2000- 2002) àn Hà ố Hà nội (Năm 2000- 2002) àn Hà ộng trên địa bàn Hà ăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002

Trang 38

% trong tổng số 92,45 93,83 94,80

Nguồn: Phòng nghiệp vụ, Cục thuế Hà Nội- năm 2003

Theo số liệu trên, số DNNQD thực tế hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp

đã ngày càng tăng về số lượng Năm 2000 có 395 DN, năm 2001 là 486 DN vànăm 2002 là 632 DN Cơ cấu theo loại hình DN của các DNNQD trong ngànhcông nghiệp được phân bố như sau:

B ng 2.7: S l ố Hà nội (Năm 2000- 2002) ượng các DNNQD hoạt động trong ngành công nghiệp ở ng các DNNQD ho t ại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà động trên địa bàn Hà ng trong ng nh công nghi p àn Hà ệp ở ở thành phố Hà nội (Năm 2000- 2002)

th nh ph H n i(N m 2000- 2002) àn Hà ố Hà nội (Năm 2000- 2002) àn Hà ộng trên địa bàn Hà ăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002

Nguồn: Sở công nghiệp Hà Nội, năm 2003

Sự tăng mạnh về số lượng DN làm cho ngành nghề và lĩnh vực hoạt độngcủa các DN công nghiệp ngoài quốc doanh mở rộng rất nhanh, sản phẩm hànghoá ngày càng nhiều hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của thị trường

Tuy nhiên, tỷ trọng các DN có hoạt động sản xuất kinh doanh công nghiệp

là chính lại giảm dần qua các năm, từ 7,55% năm 2000 xuống còn 5,20% vàonăm 2002 Trong khi đó số lượng các DNNQD hoạt động trong lĩnh vực thươngmại, dịch vụ hoạt động trên địa bàn không ngừng tăng cao trong các thời kỳ,năm 2000 số DN hoạt động trong lĩnh vực này là 4.837 DN, đến năm 2002 lêntới 11.525 DN, chiếm tỷ trọng 94,80% trong tổng số các DN thực tế hoạt độngtrên địa bàn Hà Nội Sự gia tăng về số lượng DN đã giải quyết được việc làmcho người lao động, các cơ sở này tập trung chủ yếu ở các quận nội thành, đặcbiệt là quận Hai Bà Trưng và quận Hoàn Kiếm Nhiều DN đã vươn lên trongkinh doanh bán buôn và xuất nhập khẩu, đã góp phần làm cho thị trường Hà Nộikhởi sắc, tích cực phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân, đóng góp một

Trang 39

phần quan trọng vào nguồn thu Ngân sách thành phố Các DNNQD trong lĩnhvực thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng tăng 2,8 lần trong giai đoạn 1996-

2002, từ 1.285 DN lên 3.576 DN, nâng tỷ trọng trong tổng số DN hoạt độngtrong lĩnh vực này của Hà Nội từ 78, 9% năm 1996 lên 94,08% năm 2002, đónggóp một phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế thủ đô trong thời gian qua

B ng 2.8: S DNNQD ho t ố Hà nội (Năm 2000- 2002) ại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà động trên địa bàn Hà ng trong m t s ng nh d ch v th nh ộng trên địa bàn Hà ố Hà nội (Năm 2000- 2002) àn Hà ịa bàn Hà ụ ở thành ở thành phố Hà nội (Năm 2000- 2002) àn Hà

ph H n i(N m 1996- 2002) ố Hà nội (Năm 2000- 2002) àn Hà ộng trên địa bàn Hà ăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002

Nguồn: Tính toán trên cơ sở số liệu Niên giám thống kê Hà Nội , năm 2002

Tuy nhiên, các ngành dịch vụ chất lượng cao như dịch vụ tài chính,tín dụng, bảo hiểm… chủ yếu hiện nay vẫn do các DNNN hoặc DN cóvốn đầu tư nước ngoài nắm giữ

Trong các loại hình DNNQD tham gia kinh doanh dịch vụ thì các DNTNlại chiếm tỷ trọng lớn nhất, kế đó mới đến các công ty TNHH và CTCP Nhìnchung ở Hà Nội cũng như trong cả nước, các DNNQD thường tập trung trongnhững ngành, lĩnh vực không đòi hỏi quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài,

dễ dàng thu hồi vốn và có lợi nhuận cao Như vậy, các DN thương mại dịch vụ vẫnchiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh

Bảng 2.9: Số lượng DNNQD phân theo loại hình DN hoạt động trong ngành dịch vụ

Năm

Trang 40

DNTN 144 519 1.392

Nguồn: Phòng nghiệp vụ, cục thuế Hà Nội.

Trong lĩnh vực sản xuất, khu vực DNNQD chiếm tỷ trọng thấp khoảng 26,5%tổng số DNNQD Các DN đang hoạt động hầu hết đều đang sản xuất các sản phẩm

dễ xin phép hoạt động, nhưng mức lợi nhuận thấp và tiêu thụ thông qua các đại lýthương mại DNTN là bộ phận có quy mô nhỏ nhất và sức cạnh tranh thấp nhất trongkhối DNNQD, chưa có khả năng hợp tác và vươn ra thị trường quốc tế

Nguyên nhân chủ yếu của xu hướng này là do các DNNQD trên địa bàn:

 Thiếu vốn đầu tư cho các dự án kinh doanh về công nghiệp nặng

 Tâm lý muồn thu hồi vốn đầu tư nhanh qua ngành thương mại, dịch

vụ, công nghiệp nhẹ, hoặc công nghiệp chế biến thực phẩm quy mô nhỏ.Thực

tế, tuy tỷ lệ các DNNQD ở Hà Nội bị phá sản thấp hơn so với một số địaphương khác, nhưng do vẫn mang nặng tâm lý do dự, ít dám mạo hiểm, nên

dễ mất cơ hội kinh doanh hoặc khó mở rộng khả năng sản xuất kinh doanhtrong những ngành nghề này

 Hạn chế về công nghệ và khả năng kỹ thuật của các DNNQD

Bên cạnh đó, hành lang pháp lý và các chính sách cụ thể còn phức tạp hoặcchưa tạo đủ sức thu hút các doanh nhân bỏ vốn đầu tư vào các lĩnh vực côngnghiệp nặng, công nghệ cao, lĩnh vực hạ tầng và dịch vụ công cộng Để điềuchỉnh cơ cấu đầu tư trong khu vực này với việc hình thành một cơ cấu hợp lý, đadạng và cân đối cần phải có tác động mạnh mẽ với sự thay đổi trong chính sáchkinh tế vĩ mô từ trung ương đến địa phương

Trong giai đoạn hiện nay, để giải phóng lực lượng sản xuất, đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc , phát huy nội lực cần đặc biệt coitrọng phát huy khả năng của các DNNQD Dự báo trong những năm tới, trong

Ngày đăng: 05/12/2014, 08:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số lượng các DNNQD ở Hà Nội ( Năm1996 – 2002) - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.2 Số lượng các DNNQD ở Hà Nội ( Năm1996 – 2002) (Trang 32)
Bảng 2.4: Cơ cấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.4 Cơ cấu loại hình DNNQD thực tế hoạt động trên địa bàn Hà (Trang 34)
Bảng 2.5:  Cơ cấu ngành đăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002 - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.5 Cơ cấu ngành đăng ký hoạt động của các DNNQD năm 2002 (Trang 37)
Bảng 2.8: Số DNNQD hoạt động trong một số ngành dịch vụ ở thành - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.8 Số DNNQD hoạt động trong một số ngành dịch vụ ở thành (Trang 39)
Bảng 2.10: Số lượng các DNNQD phân theo địa bàn tính đến 31/12/2002 - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.10 Số lượng các DNNQD phân theo địa bàn tính đến 31/12/2002 (Trang 42)
Bảng 2.12: Các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.12 Các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Hà Nội (Trang 45)
Bảng 2.15: Cơ cấu qui mô vốn đăng ký của các loại hình DN năm 2000-2002 - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.15 Cơ cấu qui mô vốn đăng ký của các loại hình DN năm 2000-2002 (Trang 49)
Bảng 2.16: Cơ cấu DNNQD theo qui mô vốn thực tế và theo loại hình - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.16 Cơ cấu DNNQD theo qui mô vốn thực tế và theo loại hình (Trang 50)
Bảng 2.20: Cơ cấu doanh thu theo thành phần kinh tế ở thành phố - cơ sở lý luận về phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta
Bảng 2.20 Cơ cấu doanh thu theo thành phần kinh tế ở thành phố (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w