1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn

110 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp phần phát triển và nâng cao chất lượng tín dụng tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn Mục tiêu cụ thể Phân tích, đánh giá được thực trạng hoạt động tín dụng và những rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn; chỉ rõ những mặt làm được và chưa làm được Đề xuất được một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Học viên

Nguyễn Diệp Anh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Trường Đại học Lâm nghiệp,

đặc biệt xin cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Văn Hà đã chỉ dạy và hướng dẫn cho

tôi rất nhiệt tình, chu đáo; thầy là nguồn động lực giúp tôi hoàn tất được luận văn này Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn các bạn cùng lớp, bạn đồng nghiệp và ban lãnh đạo Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam – CN Bắc Sài Gòn đã giúp

đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu, hoàn tất bài viết./

Học viên

Nguyễn Diệp Anh

Trang 3

MỤC LỤC

TrangPhân theo thành phần kinh tế 87

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Các từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

1 AGRIBANK Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Việt Nam

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG Phân theo thành phần kinh tế 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊPhân theo thành phần kinh tế 87

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của nội dung nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đăng tin bài về những vụ vi phạm nghiêm trong trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh

tế nước nhà nói chung Những vụ việc này xảy ra rộng gắp trên các ngân hàng như Techcombank, Vietcombank, BIDV, Incombank, Agribank vv Những vụ việc này đã làm rúng động toàn hệ thống tài chính ngân hàng vốn còn nhiều non trẻ ở nước ta, gây ra hoang mang cho người dân, khiến nền kinh tế trở nên bất ổn

và nguy cơ “bong bóng ngân hàng”, “bóng ma nợ xấu” ngày càng lộ rõ Có thể điểm mặt một số vụ việc cộm cán như sau: Với Ngân hàng TMCP Công Thương xảy ra vụ làm giả chữ ký, con dấu của giám đốc chi nhánh để lừa đảo chiếm đoạt 3.600 tỷ đồng của các nạn nhân là 2 ngân hàng và 33 doanh nghiệp “sân sau” của ngân hàng; tại NHMTCP Đông Á-CN Quận 5 tp HCM xảy ra vụ làm giả 700 bộ

hồ sơ vay vốn của 430 hộ tiểu thương Hòa Bình để vay 160 tỷ đồng, trong đó số tiền tiểu thương thực vay chỉ có 5,9 tỷ đồng Sai phạm đặc biệt nổi cộm tại hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam với các vụ như sau: việc sai phạm thua lỗ gần 3.000 tỷ đồng (gần 8.5 lần vốn điều lệ) tại Công

ty cho thuê tài chính II thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam (theo kết quả kiểm toán nhà nước báo cáo tài chinh năm 2009 của Công ty cho thuê tài chính 2 (ALC2), hay vụ lập hồ sơ khống của khách hàng để vay vốn tại Agribank chi nhánh 8, làm giả chứng từ có giá, cổ phiếu vay 60 tỷ đồng tại Agribank chi nhánh Tân Bình, vụ lập hồ sơ khống xây dựng dự án cụm công nghiệp sạch tại xã Đông Thạnh thế chấp cho Agribank Chợ Lớn vay 42 tỷ đồng,

và còn nhiều vụ việc nữa mà báo chí chưa đăng tin nhưng công an đang điều tra

và theo thông tin nội bộ chưa được tiết lộ công khai

Trang 8

Đặc biệt trong phiên trả lời chấp vấn đại biểu quốc hội ngày 13/6/2012 vừa qua, Thông đốc NHNN Việt Nam thừa nhận nợ xấu ở nước ta hiện nay đã lên đến con số 10%, tương đương với số dư nợ khoàng 270.000tỷ đồng; chính phủ cũng đã chỉ đạo cho NHNN nhanh chóng lập và trình lên chính phủ đề án thành lập công ty xử lý nợ xấu nhà nước với vốn điều lệ dự kiến lên tới 100.000

tỷ đồng Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng phần lớn do các hành vi tham ô, tham nhũng và yếu kém trong quản trị nội bộ Ngoài ra đại diện thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ ra, những sai phạm trong hoạt động tín dụng ngân hàng xuất phát từ nhiều nguyên nhân như, một số đơn vị ngân hàng vì sức ép lợi nhuận, sức ép thành tích nên đã nới lỏng tín dụng, bỏ qua một số trình tự, thủ tục, quy định để cho vay; không chuyển nhóm nợ theo quy chế; cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo không đủ thủ tục….Hơn nữa, tại nhiều ngân hàng, một số thành viên Hội đồng quản trị đồng thời là những cổ đông lớn đã chi phối việc cho vay, đầu tư tài chính phù hợp với lợi ích của mình nhưng lại gây rủi ro cho ngân hàng Bên cạnh đó công tác quản trị ngân hàng thiếu chuyên nghiệp, công tác quản lý cán bộ buông lỏng, chưa tận tâm với công việc Trong

đó phải nhấn mạnh nguyên nhân dẫn đến những sai phạm trong hoạt động ngân hàng là do đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ, nhân viên ngân hàng xuống cấp, xuất phát từ công tác tuyển dụng và đào tạo Công tác quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro tác nghiệp, rủi ro hoạt động nói riêng của các ngân hàng chưa đảm bảo phòng ngừa các hành vi sai phạm, hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa xứng với quy mô

Tại ngân hàng lớn nhất Việt Nam - Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, tính đến thời điểm 30/9/2011, tỷ lệ nợ xấu đã lên tới con số 6,67% của tổng dư nợ, đây là cao nhất trong số các ngân hàng thương mại nhà nước Tuy nhiên, chưa đầy 2 tháng sau đó, theo công văn số 8408/NHNo-KHTH ngày 17/11/2011 của Ngân hàng Nông nghiệp VN, tính đến 31/10/2011 nợ xấu của ngân hàng này chiếm 7,26% tổng dư nợ, tăng 3,5% so với cuối năm 2010; cụ thể

nợ xấu lên tới 30.905 tỷ đồng (tăng 15.330 tỷ đồng so với cuối năm 2010) trong

Trang 9

tổng dư nợ 468.724 tỷ đồng (tăng 13.117 tỷ đồng (+2,9%) so với cuối năm 2010) Tính đến ngày 12/6/2012 thì tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thông Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam đã lên tới con số gần 8%, mặc dù toàn hệ thống

đã làm mọi biện pháp nhằm kiềm chế và xử lý nợ xấu kể cả phải cơ cấu lại nợ theo Quyết định 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về việc “Phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả, gia hạn nợ”, hay nói cách khác là cơ cấu lại nợ, điều chỉnh lại kỳ hạn trả nợ mà không làm tăng nhóm nợ

Tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT VN – CN Bắc Sài Gòn, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ năm 2012 ngày 05/01/2012 thì tỷ lệ nợ xấu tại chi nhánh là 1.06% tương đương 5.8 tỷ đồng trong tổng dư nợ 549.7 tỷ đồng Nợ xấu tuy có giảm 0.8 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ giảm là 12% so với cuối năm 2010 Tuy nhiên những con số trên đây (của cả NHNo VN và CN Bắc Sài Gòn) chưa phải là con số thực sự bởi đa phần những món nợ xấu và nợ có nguy cơ trở thành nợ xấu đã được NHNo VN nói chung và

CN BSG nói riêng đã được xử lý được bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ khác nhau nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu (đây cũng chính là thực trạng chất lượng nợ tại các

tổ chức tín dụng hiện nay, khi mà tỷ lệ nợ xấu theo đánh giá và báo cáo của các

tổ chức tín dụng luôn luôn thấp hơn nhiều so với đánh giá của các tổ chức quốc tế: Standard & Poor, Moody vv) Chính bởi vậy mà tại một hội nghị gần đây, ông Nguyễn Ngọc Bảo – Chủ tịch hội đồng quản trị của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (nhận chức thay cho ông Nguyễn Thế Bình sau khi ông Nguyễn Thế Bình

và ông Phan Thanh Tân lần lượt bị cho thôi chức Chủ tịch HĐQT và TGĐ của Agribank bởi hàng loạt sai phạm tại các chi nhánh NH này, mà đặc biệt là sai phạm tại Cty cho thuê tài chính II đã nêu) và điều chuyển về công tác tại VP Miền Nam NHNN) thừa nhận các tỷ lệ an toàn, chỉ số tài chính của của Agribank

là “chưa thật ổn định”.

Điều này đang dấy lên một hồi chuông cảnh tỉnh về chất lượng tín dụng

và đặt ra vấn đề nóng bỏng trong công tác tăng cường quản lý, nâng cao chất

Trang 10

lượng, tính hiệu quả, khắc phục những yếu kém trong công tác tín dụng nhằm hạn chế những rủi ro tín dụng có thể xảy ra trong tương lai, đánh giá chính xác về

tỷ lệ nợ xấu và chất lượng dư nợ Trong bối cảnh trên, là một cán bộ hiện đang làm công tác tín dụng, là thành viên tổ hậu kiểm trong Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam – CN Bắc Sài Gòn (Agribank Bắc Sài Gòn), với sự động viên, khích lệ của anh - chị - em đồng nghiệp và được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của GVHD: TS Nguyễn Văn Hà, học viên mạnh dạn chọn đề tài

“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn” làm

đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất được một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Do thời gian có hạn, luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu rủi ro về quản trị tín dụng, quản lý nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT VN – CN Bắc Sài Gòn, những yếu tố khác không có điều kiện

để nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tại Ngân hàng Nông nghiệp

và PTNT Việt Nam – CN Bắc Sài Gòn – Đ/c 101 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc, Quận 12, Tp HCM

Trang 11

- Về thời gian: Các số liệu nghiên cứu đề tài được thu thập từ năm 2009 đến năm 2011

4 Nội dung nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại.

- Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT VN – CN Bắc Sài Gòn trong những năm qua

- Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT VN – CN Bắc Sài Gòn.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các học thuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp

Thu thập số liệu: các báo cáo, tài liệu của Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam (nói chung), Chi nhánh Bắc Sài Gòn (nói riêng), thông tin trên báo chí và internet

6 Kết cấu luận văn tốt nghiệp

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương,

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Tổng quan về RRTD trong hoạt động của NHTM

1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng của ngân hàng

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là giao dịch về tài sản giữa người cho vay và người đi vay, trong đó người cho vay chuyển giao tài sản cho người đi vay, sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả nợ cả gốc và lãi một cách vô điều kiện khi đến hạn thanh toán Tín dụng ngân hàng không những là phương tiện để tạo vốn mà còn là phương tiện để tạo tiền góp phần tăng tổng phương tiện thanh toán toàn xã hội

Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả giữa một bên là ngân hàng với một bên là tất cả các tổ chức và cá nhân trong

xã hội, được thực hiện trên cơ sở ngân hàng huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng nhu cầu vốn phát sinh trong hoạt động kinh doanh và tiêu dùng

Tín dụng ngân hàng là sản phẩm đặc thù của ngân hàng thương mại trong

đó hoạt động tín dụng là hoạt động thường mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường thông qua việc thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đáp ứng nhu cầu về vốn ngày càng phát triển trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, điều hoà vốn trong nền kinh tế do đó tín dụng ngân hàng được xem như là đòn bẩy trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước

Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh là Credo, trong tiếng Anh là Credit (tin tưởng – tín nhiệm) Nhưng trong quan hệ tài chính hoặc cuộc sống,

Trang 13

tuỳ theo góc độ nhìn nhận của mỗi người mà tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.

Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ, tín dụng là sự chuyển dịch quỹ cho vay

từ người cho vay sang người đi vay

Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả

Tín dụng ở nghĩa hẹp được hiểu như một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng

Tuy nhiên, xét ở góc độ tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:

Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay

có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên

cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:

Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức

là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản)

Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải dựa trên cơ sở lòng tin và phải tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng

Bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay sau khi hết thời hạn

sử dụng thỏa thuận - Thông thường giá trị được hoàn trả lớn hơn giá trị lúc cho vay - phần lớn hơn này là lợi tức

Ngân hàng tham gia quan hệ tín dụng với 2 tư cách: Vừa là người đi vay vừa là người cho vay

Trang 14

1.1.1.2 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng của ngân hàng

Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định

Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của các ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn Các ngân hàng sẽ không bị đe doạ bởi rủi ro tín dụng nếu luôn luôn nhận lại được cả gốc và lãi của các khoản vay đúng thời hạn, ngược lại nếu người vay gặp khó khăn tài chính, thì cả gốc và lãi khoản vay bị đặt trong tình trạng rủi ro không thu hồi được Trong điều kiện bình thường, phần lớn các tài sản tài chính do các doanh nghiệp phát hành và được đầu tư bởi các ngân hàng đều được đảm bảo với mức xác suất cao, lãi thu được thường dưới dạng lãi suất

cố định Nhưng khi có rủi ro, mặc dù xảy ra với xác suất thấp, mức vốn có thể mất lại không có giới hạn Có thể lấy các trái phiếu có phiếu lĩnh lãi cố định do các doanh nghiệp phát hành và các khoản cho vay của ngân hàng để minh chứng cho mâu thuẫn giữa thu nhập và rủi ro tín dụng Trong cả hai trường hợp, nếu không có rủi ro, nguồn thu nhập của ngân hàng là có giới hạn dưới dạng lãi suất các khoản cho vay hoặc lãi suất trái phiếu, ngược lại ngân hàng thường mất toàn

bộ phần lãi suất và có thể một phần hay toàn bộ vốn gốc, điều này còn phụ thuộc vào khả năng bồi hoàn của tài sản thế chấp và kết quả của việc thanh lý tài sản trong trường hợp người đi vay phá sản

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch

Trang 15

trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có

xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ ½ đến 2/3 thu nhập ngân hàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại) Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng P Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh” Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:

Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn

Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá vốn có xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Bank management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995, page 107)

Còn theo Henie Van Greuning… Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (The World Bank)

Trang 16

Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.

Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn (defaut) trong thực hiện nghĩa vụ trả

nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi Sự sai hẹn có thể là trễ hạn (delayed payment) hoặc không thanh toán (non-payment)

Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản

Đối với các nước đang phát triển (như ở Việt Nam), các ngân hàng thiếu

đa dạng trong kinh doanh cá dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp

sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn)

Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra

Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm

ẩn nhiều rủi ro Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng

Trang 17

được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.

1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây:

* Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh

là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch bao gồm:

- Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng

- Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…

- Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật

Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi

ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan

+ Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác l

Trang 18

àm thất thoát vốn vay trong khi n gười vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách

+ Rủi ro chủ quan do n guyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác

Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng

Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay…

1.1.3 Đặc điểm của rủi ro tín dụng

Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau:

- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi

Rủi rogiao dịch

Rủi ro tín dụng

Rủi rodanh mục

Rủi ro

lựa chọn

Rủi robảo đảm

Rủi ronghiệp vụ

Rủi ro nội tại

Rủi ro tập trung

Trang 19

khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.

- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện

ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng

do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát

từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp

- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng

1.1.4 Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng

Thông thường để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn (NQH) và kết quả phân loại nợ

Trang 20

1.1.4.2 Phân loại nợ

* Phân loại theo Điều 6, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày

22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm như sau:

- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm

+ Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ

cả gốc và lãi đúng hạn;

+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh gái là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 1 theo quy định

- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý ) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày

+ Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn lần đầu

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định

- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

+ Các khoản nợ gia hạn tời hạn trả nợ lần đầu

+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng thanh toán lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

+ Các khoản nợ cơ cấu thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo quy định

- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

Trang 21

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

+ Các khoản nợ cơ cấu lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ hai

+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên

+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý

+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm năm theo quy định

Bên cạnh đó, quy định này cũng nêu rõ, thời gian thử thách để thăng hạng

nợ (ví dụ từ nhóm 2 lên nhóm 1…) là 6 tháng đối với khoản nợ trung dài hạn và

3 tháng đối với khoản nợ ngắn hạn kể từ ngày khách hàng trả đầy đủ gốc và lãi của khoản vay bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ Và toàn

bộ dư nợ của khách hàng tại các TCTD được phân vào cùng một nhóm nợ Ví dụ: Khách hàng có hai khoản nợ trở lên tại các TCTD mà có bất cứ một khoản nợ nào được phân vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ còn lại thì toàn bộ các khoản nợ còn lại của khách hàng phải được TCTD phân vào nhóm nợ có độ rủi

Trang 22

1.1.5 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động ngân hàng luôn phải đối diện với rủi ro Vì vậy, nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây:

1.1.5.1 Nguyên nhân khách quan

- Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…

- Tình hình an ninh, trong nước, trong khu vực bất ổn

- Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường

- Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô

1.1.5.2 Nguyên nhân chủ quan

* Về phía khách hàng (KH)

- Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý

- Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả

- Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được

- Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản

- Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo

- Do mất đoàn kết trong nội bộ Hội đồng quản trị, ban điều hành

* Về phía ngân hàng (NH)

- Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó

- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý

- Do cạnh tranh của các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao hơn các ngân hàng khác

Trang 23

- Cán bộ tín dụng (CBTD) không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay CBTD yếu kém về trình độ nghiệp vụ; cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh.

- Định giá tài sản không chính xác; không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ

Tóm lại, các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng Những nguyên nhân chủ quan, do các chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và ngân hàng có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp thích hợp

1.1.6 Hậu quả của rủi ro rín dụng

Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu

- Đối với ngân hàng bị rủi ro:

Do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại phí) làm cho nguồn vốn ngân hàng bị thất thoát, trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút, thậm chí nếu trầm trọng hơn thì có thể bị phá sản

- Đối với hệ thống ngân hàng:

Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế Do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền

và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán

Trang 24

- Đối với nền kinh tế:

Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…

- Trong quan hệ kinh tế đối ngoại:

Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó

Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau: Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và

có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay

1.2 Phương pháp đo lường và hạn chế rủi ro tín dụng

1.2.1 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng

Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành:

- Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế

- Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

- Phòng chống rủi ro được thực hiện bởi các nhân viên, cán bộ lãnh đạo ngân hàng Trong ngân hàng, nhân viên có suy nghĩ và hành động khác,

Trang 25

có thể trái ngược hoặc cản trở nhau Vì vậy, cần phải có quản trị để mọi người hành động một cách thống nhất.

- Quản trị đề ra những mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng Phải có kế hoạch hành động cụ thể và hiệu quả phù hợp với mục tiêu đề ra

1.2.2 Nhiệm vụ của công tác quản trị rủi ro tín dụng

- Hoạch định phương hướng và kế hoạch phòng chống rủi ro Phương hướng nhằm vào dự đoán xác định rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao,…Phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể chấp nhận được

- Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc

- Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hi ện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, đánh giá hiệu quả của công tác phòng chống rủi ro trên cơ

sở đó đề nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro

1.2.3 Các mô hình phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng

Các nhà kinh tế, các nhà phân tích đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá rủi ro tín dụng Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình định lượng và mô hình định tính Các mô hình này không loại trừ lẫn nhau nên các ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình để phân tích, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng

1.2.3.1 Mô hình định tính về rủi ro tín dụng

- Khi có được thông tin về khách hàng vay vốn, CBTD cần phân tích những vấn đề thiết yếu để có thể ra quyết định cho vay hợp lý như sau:

Trang 26

Mô hình phân tích tín dụng ở trang kế tiếp sẽ giải thích chi tiết hơn về các yếu tố, quy trình và cách thức phân tích định tính về rủi ro tín dụng trong quá trình thẩm định hồ sơ, xét duyệt cho vay của cán bộ tín dụng.

Các yếu tố định tính: CBTD cần phân tích 5 yếu tố sau:

- Năng lực pháp lý: CBTD phải đánh giá tình trạng pháp lý khách hàng Dựa trên các bộ giấy tờ khác nhau (Quyết định thành lập công ty, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc và kế toán trưởng, giám đốc phải có tư cách như một cá nhân bình thường….)

Sơ đồ 2.1: Mô hình phân tích tín dụng

Tài sản đảm bảo

Trang 27

- Uy tín: Là thái độ, là phẩm chất của người vay Thông thường uy tín thể thiện ở ba cấp bậc: Sẵn lòng trả nợ, mong muốn trả nợ, kiên quyết trả nợ Uy tín

là cái bên trong, để đánh giá uy tín của người vay, CBTD cần thông qua các biểu hiện bên ngoài rồi dựa vào quan hệ biện chứng với cái bên trong để kết luận cái bên trong Cụ thể là lịch sử vay nợ của khách hàng, danh tiếng/dư luận, kết quả phỏng vấn trực tiếp (đây là căn cứ chính xác nhất)

- Mục đích vay: CBTD cần xem xét mục đích vay của người vay có thỏa mãn hai yếu tố hợp lệ và hợp pháp hay không Tính hợp lệ là phù hợp với giấy phép kinh doanh Tính hợp pháp là ngành nghề kinh doanh không bị pháp luật nghiêm cấm

- Năng lực tạo lợi nhuận: Người vay phải có kiến thức về kinh tế, phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh, phải đáp ứng các chỉ số tạo lợi nhuận (tần số tạo lợi nhuận cao hay thấp, tỉ suất lợi nhuận và vòng quay vốn lớn hơn hoặc bằng trung bình ngành)

- Môi trường kinh doanh: CBTD cần nắm rõ các thông tin sau: Mức dự báo lạm phát; các biến động kinh tế, chính trị, xã hội; xu hướng tăng trưởng của ngành…

Các yếu tố định lượng:

- Nguồn trả nợ của khách hàng: CBTD cần xem xét tính cần thiết, tính hiệu quả, tính khả thi, phương án kỹ thuật, tiến dộ thực hiện của phương án vay Bên cạnh đó CBTD còn phải đánh giá nguồn trả nợ thông qua năng lực tài chính ngoài phương án của khách hàng

- Tài sản đảm bảo: CBTD cần xem xét các tiêu chuẩn về tài sản như: Tài sản phải của người vay, có giá trị, có thị trường trong tương lai, phải có văn thư chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản đó cho ngân hàng trong thời gian vay…

Ngoài ra, CBTD còn có thể phân tích tín dụng căn cứ theo tiêu chuẩn 6C:

- Tư cách người vay (Character): CBTD phải chắc chắn rằng người vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn

Trang 28

- Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp

lý và năng lực hành vi dân sự dể ký kết hợp đồng tín dụng

- Thu nhập của người vay (Cashflow): Xác định nguồn trả nợ của khách hàng vay, người vay có đủ khả năng trả nợ hay không

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả

nợ vay cho ngân hàng

- Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ

- Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng

Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD

1.2.3.2 Các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại hơn, đó là lượng hóa rủi ro tín dụng Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất:

Mô hình điểm số Z

Mô hình này phụ thuộc vào:

+ Chỉ số các yếu tố tài chính của người vay – X;

+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau:

Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5

Trong đó: X1: Tỷ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”

X2: Tỷ số “lợi nhuận tích lũy/tổng tài sản”

X3: Tỷ số “lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản”

X4: Tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”

X5: Tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”

Trang 29

Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.

Z < 1,8 : Khách hàng có khả năng rủi ro cao

1,8 < Z < 3: Không xác định được

Z > 3 : Khách hàng không có khả năng vỡ nợ

Bất kỳ công ty nào có điểm số Z < 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy

cơ rủi ro tín dụng cao

Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến Tương tự như vậy, bản thân các chỉ số cũng được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục

Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay (danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng hay các yếu tố vĩ

mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế)

Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:

Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho điểm để xử lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: Mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản…Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc

Trang 30

Mô hình này thường sử dụng 7 – 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 – 10.

Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor

Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay, trong đó Moody và Standard & Poor là những công ty cung cấp dịch vụ này tốt nhất Moody và Standard & Poor xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay theo 9 hạng theo chất lượng giảm dần, trong đó 4 hạng đầu ngân hàng nên cho vay, còn các hạng sau thì không nên đầu tư, cho vay

Tóm lại, việc một ngân hàng đánh giá xác suất rủi ro của người vay,

trên cơ sở đó định giá các khoản vay hoặc khoản nợ chính xác đến đâu phụ thuộc vào quy mô của khoản đầu tư và chi phí thu thập thông tin Các yếu tố liên quan đến quyết định đầu tư gồm:

- Nhóm các yếu tố liên quan đến người vay vốn:

Uy tín của khách hàng được thể hiện qua lịch sử vay trả của khách hàng Nếu trong suốt quá trình đi vay khách hàng luôn trả nợ gốc lãi đúng hạn thì sẽ tạo được lòng tin đối với ngân hàng

Cơ cấu vốn của khách hàng; thể hiện thông qua tỷ số giữa vốn huy động/ vốn tự có Nếu tỷ lệ càng cao thì xác suất rủi ro càng lớn

Mức độ biến động của thu nhập: Với bất kỳ cơ cấu vốn nào, sự thu nhập cũng sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của người vay Chính vì vây, thường các công ty có lịch sử thu nhập ổn định thường xuyên lâu dài sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn

Trang 31

Tài sản đảm bảo: Là điều kiện chủ yếu trong bất kỳ một quyết định cho vay nào nhằm khuyến khích vi ệc sử dụng vốn có hiệu quả đồng thời nâng cao trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ ngân hàng.

- Nhóm các yếu tố liên quan đến thị trường:

Chu kỳ kinh tế: Chu kỳ kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, ngân hàng cần phân tích chu kỳ kinh tế nhằm lựa chọn quyết định đúng vào thời điểm và nên đầu tư vào ngành nào có mức độ rủi ro thấp

Mức lãi suất: Một mức lãi suất cao biểu hiện kết qủa của chính sách thất chặt tiền tệ, thường gắn với mức độ rủi ro cao Lý do là do giá vốn quá đắt nên nhà đầu tư thường bị hấp dẫn bởi những dự án đem lại nhiều lợi nhuận, mà lợi nhuận càng cao thì độ rủi ro càng lớn

Nguyên tắc của Basel về quản lý rủi ro tín dụng

Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng là một ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1975 b ởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức,

Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Mỹ) Ủy ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thụy Sĩ)

Quan điểm của Ủy ban Basel: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe dọa đến sự

ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó Vì vậy nâng cao sức mạnh của

hệ thống tài chính là điều mà ủy ban Basel quan tâm Ủy ban Basel không chỉ bó hẹp hoạt động trong các nước thành viên mà mở rộng mối lien hệ với các chuyên gia toàn cầu

1.4 Áp dụng các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam

Vì mỗi mô hình quản trị rủi ro tín dụng đều có những ưu và nhược điểm, mặt khác các mô hình nay không loại trừ lẫn nhau, nên thông thường các ngân hàng thường kết hợp sử dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức độ rủi ro

Trang 32

tín dụng Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, các ngân hàng thường sử dụng mô hình định tính để đánh giá khoản vay từ khâu thẩm định đến việc quản lý, theo dõi, kiểm tra và giám sát các khoản nợ vay.

- Yếu tố 1: Thẩm định cho vay: Nhìn chung các ngân hàng đều có quy định về quy trình thẩm định khoản vay bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:

+ Thẩm định tính pháp lý: Kiểm tra tư cách pháp nhân, năng lực pháp luật của khách hàng vay, hồ sơ vay vốn, kiểm tra mục đích vay vốn của khách hàng

có hợp pháp không

+ Thẩm tra uy tín của khách hàng vay vốn, năng lực quản lý điều hành của khách hàng hay là ban quản lý doanh nghiệp: về phẩm chất đạo đức, thiện chí, uy tín trong giao dịch, năng lực quản lý điều hành, hệ thống kiểm tra – kiểm soát nội bộ…

+ Thẩm tra về khả năng tài chính, năng lực hoạt động: thông qua các chỉ

số như khả năng thanh toán, tỷ trọng vốn tự có, vòng quay hàng tồn kho, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ suất lợi nhuận…

+ Thẩm tra về tính hiệu quả của phương án vay vốn: về khả năng thực hiện phương án kinh doanh, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ,

về nguồn vốn tài trợ cho phương án, về vốn vay từ ngân hàng có hợp lý không…

+ Thẩm tra về nguồn trả nợ: khách hàng dự kiến dùng những nguồn thu nào để thanh toán nợ gốc và lãi, các nguồn thu này có ổn định không…

+ Thẩm tra về tài sản thế chấp khoản vay: tài sản thế chấp có thuộc sở hữu hợp pháp của người vay không, có dễ chuyển nhượng, dễ bán không, có bị hao mòn vô hình không…

- Yếu tố 2: Kiểm tra tín dụng: các ngân hàng hầu hết đều có quy trình tín dụng riêng để kiểm tra tín dụng, tuy nhiên những nguyên lý chung nhất đang được áp dụng tại hầu hết các ngân hàng là:

Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định

Trang 33

Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng và chi tiết, đảm bảo rằng những khía cạnh quan trọng của mỗi khoản tín dụng đều được kiểm tra, bao gồm:

+ Kế hoạch trả nợ của khách hàng nhằm đảm bảo trả nợ đúng hạn

+ Chất lượng và điều kiện của tài sản đảm bảo

+ Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, đảm bảo tính hợp pháp để

sở hữu các tài sản khi người vay không trả được nợ

+ Đánh giá điều kiện tài chính và những kế hoạch kinh doanh của người vay, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng

+ Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của ngân hàng

+ Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn Vì chúng có ảnh hưởng rất lớn tình trạng tài chính của ngân hàng

+ Quản lý thường xuyên, chặt chẽ các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường kiểm tra, giám sát khi phát hiện những dấu hiệu xấu liên quan đến khoản vay

+ Tăng cường công tác kiểm tra khoản tín dụng khi nền kinh tế có nhiều hướng đi xuống, hoặc những ngành nghề cho vay có biểu hiện nghiêm trọng trong phát triển

Tóm lại, để có thể kiểm soát được rủi ro tín dụng, thì chức năng cho vay

của ngân hàng phải được thực hiện một cách chặt chẽ nhằm tuân thủ chính sách

và thực hành tín dụng của ngân hàng Ngoài ra, để kiểm soát rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường xây dựng một “chính sách tín dụng” và “quy trình nghiệp vụ cấp tín dụng”

- Yếu tố 3: Xử lý tín dụng: Khi một khoản tín dụng trở nên có vấn đề, thì cần đến sự xử lý nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng Cán bộ ngân hàng phải tìm ra được nguyên nhân của tín dụng có vấn đề và hợp tác cùng khách hàng để tìm ra giải pháp để ngân hàng thu hồi vốn

Trang 34

Các chuyên gia đưa ra các giải pháp thu hồi những khoản tín dụng có vấn

đề như sau:

+ Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi nợ

+ Khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời vấn đề thực chất liên quan đến tín dụng

+ Tách chức năng cho vay và xử lý tín dụng ra riêng biệt nhằm tránh xung đột có thể xảy ra với quan điểm của CBTD trực tiếp cho vay

+ Dự tính những nguồn có thể dùng để thu hồi nợ có vấn đề

+ Cần xem trọng chất lượng, năng lực và sự nhất quán trong quản lý, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạt động và các tài sản của doanh nghiệp

+ Phải cân nhắc mọi phương án có thể hoàn thành việc thu hồi nợ có vấn

đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn tạm thời nếu khách hàng chỉ gặp khó khăn trước mắt Các khả năng khác là có thể bổ sung tài sản đảm bảo, yêu cầu có bảo lãnh của bên thứ ba…

Trang 35

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm địa bàn Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn Quận 12

Quận 12 được công bố thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1997 theo Nghị định 03/CP, ngày 6 tháng 1 năm 1997 của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhất, một phần xã Tân Chánh Hiệp; một phần xã Trung Mỹ Tây thuộc huyện Hóc Môn trước đây Tổng diện tích đất tự nhiên 5.274,89 ha, dân số hiện nay 395.790 người (theo kết quả điều tra dân số tính đến 6/2011)

Quận 12 nằm phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh với vị trí địa lý như sau: Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn; phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Quận Thủ Đức; phía Nam giáp quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh; phía Tây giáp huyện Bình Tân; xã Bà Điểm Có 11 phường trực thuộc là:

- Thạnh Xuân: diện tích 968,58 ha, gồm 25.732 nhân khẩu

- Hiệp Thành: diện tích 542,36 ha, gồm 63.857 nhân khẩu

- Thới An: diện tích 518,45 ha, gồm 26.020 nhân khẩu

- Thạnh Lộc: diện tích 583,29 ha, gồm 28.567 nhân khẩu

- Tân Chánh Hiệp: diện tích 421,37 ha, gồm 43.415 nhân khẩu

- Tân Thới Hiệp: diện tích 261,97 ha, gồm 37.474 nhân khẩu

- An Phú Đông: diện tích 881,96 ha, gồm 25.526 nhân khẩu

- Trung Mỹ Tây: diện tích 270,63 ha, gồm 36.171 nhân khẩu

- Tân Thới Nhất: diện tích 389,97 ha, gồm 44.894 nhân khẩu

- Đông Hưng Thuận: diện tích 255,20 ha, gồm 36.261 nhân khẩu

- Tân Hưng Thuận: diện tích 181,08 ha, gồm 27.873 nhân khẩu; được tách

ra từ phường Đông Hưng Thuận (bao gồm khu phố 6, khu phố 7 và một phần khu phố 4, khu phố 5) theo nghị định 143/2006/ NĐ-CP ngày 23/11/2006 của Chính phủ

Trang 36

Trong lịch sử mở cõi của người Việt, Hóc Môn – Bà Điểm được khai phá

từ rất sớm Theo tư liệu lịch sử ít ỏi còn lưu lại thì ngay từ đầu thế kỷ XVII từ năm 1623 – khi chúa Nguyễn lập đồn thu thuế tại Sài Gòn thì cư dân sinh sống tại vùng này đã khá đông Dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, Hóc Môn thuộc huyện Tân Bình vào năm 1698 Huyện Tân Bình lúc ấy rộng hơn 11.000

km2, tức hơn 1/5 diện tích toàn Nam bộ (63.058 km2) trải từ hữu ngạn sông Sài Gòn đến tả ngạn sông Vàm cỏ Khi huyện Tân Bình đổi tên thành Phủ (năm 1808) gồm 4 huyện thì Hóc Môn thuộc huyện Bình Dương Năm 1841, nhà Nguyễn lập huyện Bình Long thì Hóc Môn thuộc huyện mới này Sau khi chiếm Nam bộ làm thuộc địa, người Pháp đặt ra các đơn vị hành chính mới trên vùng đất chúng cai trị gọi là Hạt, rồi Hạt tham biện, Hóc Môn thuộc Hạt tham biện Sài Gòn

Dù là vùng đất trong hạt Sài Gòn nhưng Hóc Môn không là vùng đô thị hóa, vẫn là vùng nông thôn Chính quyền thuộc địa xây dựng quốc lộ 22 chạy qua Hóc Môn lên Tây Ninh, sang Phnom Pênh phục vụ chính sách bóc lột thuộc địa Đến thời Mỹ can thiệp vào miền nam, xâm lược nước ta bằng chính sách thực dân mới, chúng xây dựng xa lộ Đại Hàn (ngày nay là xa lộ vành đai ngoài) chạy ngang qua huyện Hóc Môn từ đông sang tây Nhiều liên tỉnh lộ nối Sài Gòn với các tỉnh miền đông được xây dựng … tất cả các công trình giao thông này nhằm phục vụ các mục tiêu chiến lược của Mỹ và Ngụy quyền chứ không phải

để đô thi hóa và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc Sài Gòn Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mưu đồ biến Hóc Môn thành vành đai, lá chắn bảo vệ phía Tây Bắc Sài Gòn Lịch sử của vùng đất này trong hơn 100 năm kể từ khi tên thực dân Pháp đầu tiên đặt chân lên Sài Gòn năm 1859 và tên đế quốc Mỹ cuối cùng chạy tháo chân trên chiếc trực thăng rạng sáng ngày 30.4.1975, khẳng định vai trò của Mười tám Thôn vườn trầu là vành đai đỏ của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với những địa danh đã đi vào lịch sử như Bà Điểm – An Phú Đông – Vườn cau Đỏ

Trang 37

Quận 12 có hệ thống đường bộ với quốc lộ 22 (nay là đường Trường Chinh), xa lộ vành đai ngoài (nay là quốc lộ 1A), các tỉnh lộ 9, 12, 14, 15, 16, hệ thống các hương lộ này khá dày, Quận 12 có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội Quận 12 còn có sông Sài Gòn bao bọc phía đông, là đường giao thông thủy quan trọng Trong tương lai, nơi đây sẽ có đường sắt chạy qua

Vị trí này, cảnh quan này tạo cho Quận 12 không gian thuận lợi để bố trí các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại – dịch vụ – du lịch để đẩy nhanh quá trình

đô thị hóa, phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.1.1.2 Giới thiệu mạng lưới NHTM trên địa bàn Quận 12

Theo thống kê của ngân hàng nhà nước, trong số 48 tổ chức tài chính đang hoạt động trên toàn bộ địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay thì có tới 13 đơn

vị có thành lập chi nhánh và phòng giao dịch hoạt động trên địa bàn Quận 12 Một số chức tài chính thành lập nhiều hơn một chi nhánh cấp một, các chi nhánh này cũng cạnh tranh lẫn nhau Chính vì vậy, dù là một quận mới thành lập, đang trong quá trình phát triển, nhưng hoạt động tín dụng, thanh toán quốc tế, dịch vụ ngân hàng tiện ích khác đang ngày càng cạnh tranh gay gắt Trên địa bàn quận hiện tại có rất nhiều Ngân hàng đặt chi nhánh và phòng Giao dịch hoạt động

- Agribank Bắc Sài Gòn: 101 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc, Quận 12

- Agribank Tây Sài Gòn: 131A Lê Văn Khương, P.Hiệp Thành, Quận 12

- Agribank Xuyên Á:

- ACB chi nhánh An Sương: 1/6 Trường Chinh, P.Tân Thới Nhất, Q.12

- Vietcombank Phòng Giao dịch An Sương 330 Trường Chinh, P Đông Hưng Thuận, Q.12

- Vietbank An Sương địa chỉ: 514 Trường Chinh, P.Tân Hưng Thuận, Quận 12,

- Sacombank PGD Chợ Cầu, PGD Thạnh Lộc, Phòng Giao dịch Thới An, Phòng Giao dịch Hiệp Thành, Phòng giao dịch An Sương và Chi nhánh Hóc Môn

- Techcombank Tân Hưng Thuận, Techcombank Tô Ký

Trang 38

- Eximbank P.Giao dịch An Sương địa chỉ: 379-381 Trường Chinh, P.Tân Thới Nhất, Q.12, TPHCM

2.1.1.3 Hoạt động tín dụng và RRTD tại các NHTM trên địa bàn Quận 12

Qua bản tổng kết dư nợ trên địa bàn Quận 12, ta thấy hoạt động ngân hàng tại địa bàn đang rất đa dạng, có sự cạnh tranh quyết liệt từ các ngân hàng với nhau và trong nội bộ hệ thống mỗi ngân hàng Đối với hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, trên địa bàn Quận 12 có tới 03 chi nhánh tồn tại độc lập Chi nhánh Bắc Sài Gòn chỉ là một trong 3 chi nhánh đó Dư nợ của chi nhánh Bắc Sài Gòn trong 3 năm qua chỉ chiếm khoảng từ 6% tới 7% tổng dư nợ trên địa bàn quận Chi nhánh thường xuyên phải cạnh tranh với các đơn vị trong cùng hệ thống cũng như ngoài hệ thống nhằm đảm bảo hoạt động ổn định và phát triển

Bảng 2.1: Bảng dư nợ trên địa bàn Quận 12 trong năm 2011, 2010 và 2009

Năm 2010

Năm 2009

Tỷ lệ (%) năm 2011

Tỷ lệ (%) năm 2010

Tỷ lệ (%) năm 2009

Trang 39

Vì vậy, các chi nhánh Bắc Sài Gòn luôn luôn phải cân nhắc giữa các mục tiêu, xem phải lựa chọn mục tiêu nào là chính trong từng thời điểm Chẳng hạn như: ưu tiên tăng trưởng dư nợ nhằm tăng thị phần và tăng nguồn thu nhập, hay

ưu tiên kìm chế tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn sử dụng vốn, hay phải kết hợp cả hai mục tiêu: vừa tăng trưởng tín dụng, vừa đảm bảo an toàn vốn và hiệu quả sử dụng vốn cao Để thực hiện hài hòa các mục tiêu này, để giúp cho đơn vị mình tồn tại và phát triển bền vững, để hoàn thành các chỉ tiêu của cấp trên giao cho, các đơn vị đều phải nỗ lực hết mình

Đối với chi nhánh Bắc Sài Gòn – Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, trong những năm qua, ta có thể nhận thấy nhìn chung thị phần của chi nhánh trong 3 năm qua không biến động nhiều Chi nhánh vẫn chiếm trên 9% thị phần trong cả 3 năm qua Đây chính là kết quả của sự thận trọng trong tăng trưởng tín dụng của chi nhánh

Cụ thể đối với năm 2011, chi nhánh Bắc Sài Gòn đạt 549 tỷ đồng, chiếm

tỷ lệ 9,66%tổng dư nợ trên địa bàn, xếp thứ 4 trong tổng số 9 tổ chức tài chính trên địa bàn, xếp sau 03 đơn vị là Eximbank, Agribank Tây Sài Gòn và Vietcombank

Biểu đồ 2.2: Thị phần các ngân hàng trên địa bàn Quận 12 năm 2011

Trang 40

Tại thời điểm năm 2010, chi nhánh Bắc Sài Gòn đạt 614 tỷ đồng, chiếm tỷ

lệ 9,21% trên tổng dư nợ, nhưng chỉ xếp thứ 4 trên bảng tổng sắp dư nợ trong địa bàn Quận 12

Biểu đồ 2.3: Thị phần các ngân hàng trên địa bàn Quận 12 năm 2010

Năm 2009, chi nhánh Bắc Sài Gòn đạt dư nợ 550 tỷ đồng trong tổng dư

nợ 5.901 tỷ của toàn Quận 12, chiếm tỷ lệ 9,32% và xếp thứ 5 trên bảng tổng sắp

Biểu đồ 2.4: Thị phần các ngân hàng trên địa bàn Quận 12 năm 2009

Ngày đăng: 04/12/2014, 23:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hồ Diệu (2002), Quản trị ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng
Tác giả: Hồ Diệu
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2002
4. Hồ Diệu (2003), Tín dụng ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng ngân hàng
Tác giả: Hồ Diệu
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2003
5. Lê Thị Hiệp Thương, Hồ Diệu, Bùi Diệu Anh (2009), Nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng
Tác giả: Lê Thị Hiệp Thương, Hồ Diệu, Bùi Diệu Anh
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2009
10. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Sổ tay tín dụng (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tín dụng
12. Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Nhà XB: NXB Thống kê
13. Peter.S.Rose (2004), Quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Peter.S.Rose
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2004
1. Báo cáo thường niên của Ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT VN năm 2009, 2010 và 2011 Khác
2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank Bắc Sài Gòn năm 2009, 2010 và 2011 Khác
6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 Khác
11. Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Khác
14. Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Giáo trình Ngân hàng thương mại Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Phân loại  rủi ro tín dụng - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Sơ đồ 1.1 Phân loại rủi ro tín dụng (Trang 18)
Sơ đồ 2.1: Mô hình phân tích tín dụng - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Sơ đồ 2.1 Mô hình phân tích tín dụng (Trang 26)
Sơ đồ 2.5 :  Tổ chức của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Sơ đồ 2.5 Tổ chức của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (Trang 47)
Bảng 3.2: Tình hình sử dụng vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát  Triển Nông Thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Sài Gòn - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - Chi nhánh Bắc Sài Gòn (Trang 59)
Bảng 3.3: Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Bảng 3.3 Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông (Trang 64)
Bảng 3.4: Quy trình tín dụng - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Bảng 3.4 Quy trình tín dụng (Trang 73)
Bảng 3.5: Tỷ lệ nợ xấu trong 3 năm 2011, 2010 và 2009 - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Bảng 3.5 Tỷ lệ nợ xấu trong 3 năm 2011, 2010 và 2009 (Trang 85)
Bảng 3.7:  Nợ xấu phân theo thời hạn cho vay năm 2011, 2010 và 2009 - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Bảng 3.7 Nợ xấu phân theo thời hạn cho vay năm 2011, 2010 và 2009 (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w