1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội

130 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 5,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

56 CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT TRONG THỰC TẾ KHẢ NĂNG HIỂU VÀ SỬ DỤNG TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH CỦA HỌC SINH LỚP 3 KHI HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI; NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG; PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ...

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI THỊ HỒNG HÀ

KHẢ NĂNG HIỂU VÀ SỬ DỤNG TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH CỦA HỌC SINH LỚP 3 KHI HỌC MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Hảo

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào khác

Tác giả

Bùi Thị Hồng Hà

Trang 4

Tôi gửi lời cảm ơn của mình đến thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Thái nguyên

đã tạo điều kiện để tôi được mượn sách phục vụ cho đề tài

Lời cuối cùng xin dành để cảm ơn những người bạn đã luôn giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

TÁC GIẢ

Bùi Thị Hồng Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

1

1

2

5

5

5

5

5

6

6

: 6

5.2 Phương pháp điều tra ngôn ngữ 6

5.3 Phương pháp miêu tả và so sánh………6

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 6

6.1 Về lí thuyết 6

6.2 Về thực tiễn 6

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 KHÁI NIỆM TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH 8

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LĨNH VỰC GIÁO DỤC, BẬC TIỂU HỌC VÀ MÔN HỌC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 17

1.2.1 Giáo dục và những vấn đề của giáo dục 17

1.2.2 Cấp tiểu học và môn học Tự nhiên và xã hội 25

1.3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỘC LẬP, PHƯỜNG TRUNG THÀNH THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 29

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH TRONG SÁCH TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 33

Trang 6

2.1 DẪN NHẬP 33

2.2 KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH TRONG SÁCH GIÁO KHOA TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 34

2.2.1 Khảo sát cấu trúc nội dung sách giáo khoa tự nhiên và xã hội lớp 3 34

2.2.2.Khảo sát từ ngữ chuyên ngành trong sách giáo khoa Tự nhiên và xã hội lớp 3 37 2.3 VIỆC GIẢI THÍCH TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH 52

2.3.1 Việc giải thích từ ngữ chuyên ngành theo sách giáo khoa 52

2.3.2 Giải thích từ ngữ chuyên ngành trong sách giáo viên 54

2.3.3 Việc giải thích từ ngữ chuyên ngành ở giáo viên 56

CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT TRONG THỰC TẾ KHẢ NĂNG HIỂU VÀ SỬ DỤNG TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH CỦA HỌC SINH LỚP 3 KHI HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI; NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG; PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 58

3.1.DẪN NHẬP 58

3.2 KHẢO SÁT VIỆC HIỂU VÀ SỬ DỤNG TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH KHI HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA HỌC SINH LỚP 3 60

3.2.1 Khảo sát chủ đề 1: Con người và sức khỏe 60

3.2.2 Khảo sát chủ đề 2: Xã hội 63

2.3.3 Khảo sát chủ đề 3: Tự nhiên 65

3.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HIỂU VÀ SỬ DỤNG TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH CỦA HỌC SINH LỚP 3 73

3.3.1 Ảnh hường của lớp từ vựng trong ngôn ngữ đối với khả năng tiếp nhận và sử dụng từ ngữ chuyên ngành 75

3.3.2 Lượng từ ngữ chuyên ngành trở nên quá tải và chuyên sâu đối với nhận thức của lứa tuổi lên 8 76

3.3.3 Ảnh hường của nhân tố trường học 79

3.3.4 Ảnh hưởng của nhân tố xã hội 82

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 83

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC………

Trang 7

BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT

2 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của

Liên hiệp quốc (United Nations Educational Scientific and

Cultural Organization)

Trang 8

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

31

Bảng 2.1: Các chủ đề và số lượng từ ngữ chuyên ngành trong sách Tự nhiên và xã hội lớp 3 34

Bảng 2.2: Cơ quan hô hấp và số lượng từ ngữ chuyên ngành 38

Bảng 2.3: Cơ quan tuần hoàn và số lượng từ ngữ chuyên ngành 39

Bảng 2.4: Bài 7 và số lượng từ ngữ chuyên ngành 40

Bảng 2.5: Cơ quan bài tiết nước tiểu và số lượng từ ngữ chuyên ngành 41

Bảng 2.6: Cơ quan thần kinh và số lượng từ ngữ chuyên ngành 43

Bảng 2.7: Chủ đề 2, phần 1: Gia đình và số lượng từ ngữ chuyên ngành 44

Bảng 2.8: Chủ đề 2, phần 2: Trường học và số lượng từ ngữ chuyên ngành 45

Bảng 2.9: Chủ đề 2, phần 3: tỉnh, thành phố nơi bạn sống và số lượng từ ngữ chuyên ngành 46

Bảng 2.10: Chủ đề 3, phần 1: Thực vật và số lượng từ ngữ chuyên ngành 48

Bảng 2.11: Bài 41- Thân cây và số lượng từ ngữ chuyên ngành 48

Bảng 2.12: Bài 43- Rễ cây và số lượng từ ngữ chuyên ngành 49

Bảng 2.13: Chủ đề 3, phần 1: Động vật và số lượng từ ngữ chuyên ngành 50

Bảng 2.14: Chủ đề 3, phần 2: Mặt Trời, Trái Đất và số lượng từ ngữ chuyên ngành 51

Bảng 3.1: Số lượng và đặc điểm học sinh khối lớp 3 trường tiểu học Độc Lập 58

Bảng 3.2: Khảo sát thống kê 58

Bảng 3.3: Kết quả đánh giá kĩ năng viết 59

Bảng 3.4:Kết quả khảo sát khả năng nhận biết và hiểu từ chủ đề 1- Cơ quan tuần hoàn 61

Bảng 3.5: Kết quả khảo sát những câu đúng ở mức độ cao trong chủ đề 1: Con người và sức khỏe 61

Bảng 3.6: Kết quả khảo sát thái độ của học sinh với bài học 62

Bảng 3.7: Kết quả khảo sát thái độ của học sinh với phần 2: Cơ quan tuần hoàn trong chủ đề1: Con người và sức khỏe 62

Bảng 3.8: Thống kê số lượng khảo sát 63

Bảng 3.9: Kết quả khảo sát những câu đúng ở mức độ cao trong chủ đề 2: Xã hội 64

Trang 9

Bảng 3.10: Kết quả khảo sát những câu đúng ở mức độ thấp trong chủ đề 2: Xã hội 65

Bảng 3.12: Kết quả khảo sát những câu đúng ở mức độ cao trong chủ đề 3: Tự nhiên phần Thực vật 66

Bảng 3.13: Kết quả khảo sát chủ đề 2: Tự nhiên, phần động vật 68

Bảng 3.14: Kết quả khảo sát chủ đề 3, phần Mặt trời, Trái Đất 71

Bảng 3 15: Kết quả khảo sát thái độ của học sinh đối với các môn học 72

Trang 10

1

Từ ngữ chuyên ngành là một lớp từ vựng quan trọng được sử dụng trong những lĩnh vực riêng biệt trong xã hội Đây là lớp từ mang những đặc trưng riêng và chính là cách gọi khác của thuật ngữ khoa học

Trong lĩnh vực giáo dục, từ ngữ chuyên ngành được sử dụng nhằm mục đích mang lại cho học sinh những kiến thức nền tảng về tự nhiên và xã hội, nhằm đạt tới những mục tiêu mà giáo dục đề ra như: thấu hiểu, phát triển, lưu giữ, sử dụng tri thức của nhân loại thông qua đối tượng là học sinh Mỗi một thời đại có một nền giáo dục tương xứng và lớp từ ngữ chuyên ngành cũng theo thời đại mà tăng nhanh Vấn đề giáo dục được cả xã hội quan tâm là: làm thế nào để chuyển tải được lượng tri thức thông qua những từ ngữ chuyên ngành để học sinh có thể thông hiểu và sử dụng lượng tri thức đó phục vụ cho bản thân mình và xã hội Chính vì vậy ở mỗi một một khoảng thời gian nhất định, nền giáo dục của mỗi quốc gia luôn phải thay đổi, phải cải cách để bổ sung lượng kiến thức mới, để lượng kiến thức được giảng dạy cho học sinh trong các trường học không lạc hậu với xã hội, với thời đại

V

chương t Trong lần thay đổi này, số lượng từ ngữ chuyên ngành cũng tăng lên và chứa đựng trong mỗi từ ngữ một lượng kiến thức nhất định

, kĩ

Trang 11

2000, các được gọn , s

Môn học Tự nhiên và xã hội lớp 3 được thay đổi từ nội dung, phương pháp để nhằm mang đến cho học sinh lớp 3 một cái nhìn cơ bản về bản thân và thế giới xung quanh Lớp từ ngữ chuyên ngành xuất hiện tương đối rộng khắp trong môn học mang tính thưởng thức và tích hợp này

Nền giáo dục thiện hảo là nguồn suối cho mọi

Sau này, với phương thức Tư duy toàn diện, J Dewey để lại dấu ấn sâu đậm nhất trên nền giáo dục và xã hội Mĩ và nền giáo dục đương đại Phương thức Tư duy toàn diện nhấn mạnh đến việc thực hành Thiếu giai đoạn thực hành, những kiến thức ta thu thập được từ trước trong các bước 2, 3 và 4, chỉ là những kiến thức và lí thuyết suông

Theo - nổi tiếng về những nghiên cứu nhận thức luận

, để con người

tự khai sáng cho mình

Trang 12

J Piaget cho rằng c

Tri thức học sinh - triển của Piaget là luận thuyết về tri thức của con người được hình thành ra sao và biến đổi thế nào Con người, theo quan điểm đó, phải tự tiếp xúc với thực tiễn, tự trải nghiệm thực tiễn, qua đó mới nhận thức được thực tiễn để tự tạo

ra trí khôn, tự tạo ra tư duy của mình

sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng

cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở Mục tiêu chính của giáo dục tiểu học

là giúp tất cả học sinh biết đọc, biết viết, và biết tính toán với những con số ở mức độ căn bản, cũng như thiết lập những hiểu biết căn bản về khoa học, toán, địa lí, lịch sử,

và các môn khoa học xã hội khác

Môn Tự nhiên và Xã hội là một trong những môn được thay đổi trên cả hình thức, nội dung và phương pháp nhằm giúp học sinh hình thành những khái niệm cơ bản về cuộc sống xung quanh từ lĩnh vực tự nhiên đến xã hội thông qua những từ ngữ chuyên ngành Xã hội càng phát triển, lượng tri thức càng tăng nhanh và ảnh hưởng đặc biệt đến lĩnh vực giáo dục, số lượng từ ngữ chuyên ngành càng rộng mở trên nhiều lĩnh vực cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức lớn Đi cùng với việc đưa

Trang 13

thêm các từ ngữ chuyên ngành vào chương trình học là những vấn đề đặt ra: Lượng

từ ngữ chuyên ngành được đưa vào bao nhiêu thì đủ? Bao nhiêu thì không quá tải với

tư duy của lứa tuổi học sinh theo bậc học tiểu học mà lại không lạc hậu so với kiến thức và yêu cầu của thời đại?

Chính vì vậy cùng với việc thay đổi sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội còn theo tiến trình, năm 2002 ngành giáo dục tiến hành đổi SGK cho lớp 1

chu kỳ Như vậy, hết năm 2009, việc thay SGK đủ một vòng từ lớp 1 đến lớp 12 Năm

-2010 nhà nước yêu cầu tổ chức đánh giá tổng quan chương trình SGK 12 năm theo từng môn học ở các cấp theo chương trình, sách giáo khoa và đối tượng giáo dục và đã đạt được những kết quả cụ thể

khi thay sách đến nay,

nhằm giúp o viên đưa ra phương pháp :

,…

L

? Học sinh có và sử dụng từ ngữ chuyên ngành

Trang 14

, tăng sự ? Các em có

? Những từ ngữ chuyên ngành được đưa vào giảng dạy có p hay không?

- từ ngữ chuyên ngành trong sách giáo khoa môn Tự nhiên và

Xã hội lớp 3, tìm hiểu hiểu và

Đây là trường học đạt chuẩn quốc gia cấp độ

1, có đầy đủ điều kiện cần thiết để chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu

Trang 15

4.2

Phạm vi khảo sát thực nghiệm là một trường tiểu học trong tỉnh Thái Nguyên

5.2 Phương pháp điều tra ngôn ngữ

Kết hợp quan sát thực tế với phỏng vấn để thu thập các tư liệu và thông tin cần thiết

Trang 16

CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận

CHƯƠNG 2: Khảo sát từ ngữ chuyên ngành trong sách Tự nhiên và Xã hội lớp 3 CHƯƠNG 3: Khảo sát thực tế khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học

sinh lớp 3 khi học môn Tự nhiên và Xã hội, những nhân tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp

Phụ lục gồm có:

- Phụ lục 1: Bảng tìm hiểu thái độ của học sinh đối với chủ đề và môn học

- Phụ lục 2: Bài 7 (tr.17) Hoạt động tuần hoàn

- Phụ lục 3: Kết quả khảo sát từ ngữ chuyên ngành ở một số chủ đề trong sách giáo khoa Tự nhiên và xã hội

- Phụ lục 4: Kết quả khảo sát khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành trên thực tế của học sinh lớp 3 khi học môn Tự nhiên và xã hội

- Phụ lục 5: Một số hình ảnh về học sinh và trường Tiểu học Độc Lập

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Nói đến giáo dục là nói đến ngôn ngữ, đây là hai vấn đề nhưng được gắn bó chặt chẽ với nhau Ngôn ngữ là yếu tố cơ bản tạo tiền đề để giáo dục lưu giữ, phát triển tri thức của nhân loại qua đối tượng là học sinh Mỗi thời đại, lượng tri thức thay đổi đòi hỏi con người phải thích ứng Giáo dục phù hợp với thời đại là mục tiêu quan trọng của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam Một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất là việc cải cách trong lĩnh vực giáo dục để bắt kịp theo nhịp bước của thời đại Việc cải cách giáo dục được thể hiện trên nhiều phương diện đặc biệt ở nội dung chương trình, phương pháp, đối tượng và sách giáo khoa Những vấn này lại gắn với trình độ, lứa tuổi của từng lớp, từng cấp học

Trong chương này chúng tôi xin được trình bày 3 nội dung:

1) Những vấn đề quan trọng của giáo dục có liên quan đến đề tài nghiên cứu: Thuật ngữ - từ ngữ chuyên ngành

2) Những yêu cầu bức thiết của giáo dục ở thế kỉ XXI, cấp Tiểu học và học sinh tiểu học: đặc điểm tâm lý và tư duy

3) Giới thiệu về học sinh và trường Tiểu học Độc lập, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên

1.1 KHÁI NIỆM TỪ NGỮ CHUYÊN NGÀNH

Ngôn ngữ từ khi ra đời đã trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng của con người Ngôn ngữ với 3 chức năng chính: để chỉ nghĩa, để thông báo và để khái quát hóa (có quan hệ với tư duy) Chức năng chỉ nghĩa: để chỉ chính bản thân sự vật hiện tượng, để gắn với một biểu tượng nào đó của sự vật hiện tượng và có chức năng làm phương tiện cho sự tồn tại, truyền đạt và nắm vững các kinh nghiệm xã hội, lịch sử loài người Chức năng thông báo: dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểu cảm qua đó thúc đẩy điều chỉnh hành động con người với chức năng khái quát hóa cao, hoạt động trí tuệ phải dùng ngôn ngữ làm công cụ

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt đã trở thành phương tiện nhận thức

và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người Với đặc điểm của mình, ngôn ngữ còn được coi là phương tiện để tư duy, trong tư duy nhất thiết phải có sự tham gia ngôn ngữ và

Trang 18

ngôn ngữ bao giờ cũng chứa nội dung, ý nghĩa của sự vật, hiện tượng, cho nên người

ta nói ngôn ngữ là vỏ bọc ngoài của tư duy Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có phương tiện để nhận thức và thể hiện nhận thức của mình, để giao tiếp và hợp tác với nhau… Nói đến sự phát triển của xã hội không thể không nói đến vai trò đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ

Từ ngữ chuyên ngành và thuật ngữ

Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý chủ biên (1997) đã định nghĩa rằng: “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một lĩnh vực chuyên môn nào đó Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của ngôn ngữ, nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn” [tr.277] Theo Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình Việt Ngữ (1962) nhận xét: “Thuật ngữ là những từ ngữ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành

kĩ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lí, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao…Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một ý nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tựng khoa học, kĩ thuật nhất định” [tr.167] Cũng theo Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt (1981) thì:

“Thuật ngữ khoa học kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động đặc điểm…trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội” [tr.221]

Như vậy thuật ngữ là một bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm từ và cụm từ là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người Toàn bộ hệ thống từ ngữ chuyên ngành của các ngành khoa học hợp lại thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ Xã hội càng tiến bộ, lượng từ ngữ chuyên ngành càng nhiều, xuất hiện trong mọi lĩnh vực khác nhau của ngôn ngữ

Từ ngữ chuyên ngành là những từ ngữ chuyên dùng trong một lĩnh vực cụ thể như: từ ngữ chuyên ngành y khoa, ngành dược, ngân hàng, sinh học, tin học…Bản thân từ ngữ chuyên ngành hầu hết là thuật ngữ hoặc có gốc thuật ngữ Trong môi trường giáo dục, từ ngữ chuyên ngành phủ khắp trên diện rộng và càng ở bậc học cao hơn lớp từ này được dùng với tư cách của thuật ngữ với tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng được nói đến

Trang 19

Các từ ngữ chuyên ngành với mức độ thống nhất là hoàn toàn khác nhau, có những từ thống nhất trên một phạm vi rộng, có từ lại thống nhất trên phạm vi hẹp hơn Giờ đây, khi mà vốn tri thức được nâng cao, từ ngữ chuyên ngành không cách biệt hoàn toàn với từ toàn dân và các lớp từ vựng khác không phải là thuật ngữ Màu sắc chuyên môn cũng như phạm vi sử dụng hạn chế của lớp từ chuyên ngành nhiều khi không còn hoàn toàn đối lập với ngôn ngữ toàn dân khi mà trình độ khoa học của quảng đại quần chúng được nâng cao Khi đó, các từ ngữ chuyên ngành – trừ các từ ngữ chuyên sâu được dùng trên diện hẹp -không còn là lĩnh vực riêng của các nhà chuyên môn của những nhà khoa học nào đó Giữa từ ngữ toàn dân và từ ngữ chuyên ngành có quan hệ xâm nhập lẫn nhau Từ toàn dân có thể trở thành từ ngữ chuyên ngành và ngược lại So với bộ phận khác nhau trong hệ thống từ vựng thì lớp từ ngữ chuyên ngành là bộ phận phát triển nhất

Ở các cấp học phổ thông, số lượng từ ngữ chuyên ngành xuất hiện nhiều Đa phần các từ ngữ chuyên ngành gần với lớp từ vựng chung nhưng có gốc thuật ngữ nhằm cung cấp cho học sinh một lượng tri thức về thế giới xung quanh Nhưng dù những từ ngữ chuyên ngành này đã được biến đổi làm cho đơn giản đi, cho phù hợp với trình độ học sinh, học sinh dễ hiểu và tiếp nhận hơn nhưng vẫn chứa đựng nghĩa mang tính khái niệm Trong môi trường giáo dục nhất là ở bậc tiểu học, các từ ngữ chuyên ngành vốn được dùng gần với từ ngữ bình thường nhưng có gốc thuật ngữ STT Từ điển tiếng Việt Từ ngữ chuyên ngành trong

tế bào máu)

Máu là một tổ chức di

động được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương

Côn trùng hay sâu bọ,

là một lớp động vật không xương sống

Trang 20

có một đôi râu, ba đôi

chân, phần lớn có cánh

chân và chân phân thành các đốt Phần lớn các loài côn trùng đều có cánh

thuộc về ngành động vật chân khớp, chúng có

bộ xương ngoài làm bằng chitin, cơ thể có ba phần (đầu, ngực và bụng), ba cặp chân, mắt kép và một cặp râu

có mỏ, hai cánh và hai chân

Chim (danh pháp khoa

học: Aves) là tập hợp các loài động vật có xương sống, máu nóng,

đi đứng bằng hai chân

và đẻ trứng Các loài chim hiện đại mang các đặc điểm tiêu biểu như: có lông vũ, có mỏ không răng, đẻ trứng

có vỏ cứng, chỉ số trao đổi chất cao, tim có bốn ngăn, cùng bộ xương nhẹ, chắc, hai chi trước tiến hóa thành hai cánh

Hoa d : Cơ quan sinh

sản hữu tính của cây hạt

bộ phận chứa cơ quan sinh sản, đặc trưng của thực vật có hoa Về

Trang 21

mặt cấu trúc thực vật học, hoa là một dạng cành đặc biệt Khi còn non hoa là cơ quan sinh sản vô tính.

Khi đối chiếu những từ ngữ chuyên ngành được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục

và thuật ngữ khoa học chúng ta rất dễ nhận thấy giữa từ ngữ chuyên ngành với thuật ngữ có sự giống nhau: từ ngữ chuyên ngành được sử dụng trong giáo dục có cùng gốc

với thuật ngữ khoa học Các nét nghĩa cơ bản hoàn toàn giống nhau như từ hoa đều

có chung nét nghĩa: cơ quan sinh sản của cây hay với từ máu là chất lỏng màu đỏ chảy trong cơ thể người hoặc động vật gồm huyết tương và huyết cầu Điểm khác

giữa từ ngữ chuyên ngành trong giáo dục phổ thông so với thuật ngữ chính là việc chúng mang nghĩa phổ thông , dùng nhiều trong cuộc sống đời thường còn thuật ngữ khoa học được dùng giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn trong ngành khoa học nhất định Việc gần gũi với cuộc sống đời thường không khiến từ ngữ chuyên ngành trong giáo dục phổ thông xa rời tính đơn nghĩa Chúng chỉ được đơn giản hóa, giữ lại nét nghĩa cơ bản để học sinh dễ nhớ, dễ dùng

Trong cuốn Tiếng Việt trên đường phát triển của Nguyễn Văn Tu (1982) cho ta

Trang 22

nhau Tuy nhiên, bình thường con người thâu thập và truyền lại các hiểu biết bằng tiếng mẹ đẻ của mình

Khi kiến thức và các khái niệm càng nhiều và có thể thay đổi, thì số từ của mỗi ngôn ngữ càng tăng thêm Mỗi một hiện tượng, phát minh mới, cần có một tên để gọi

và nếu có sự thay đổi thì những từ đã có cũng biến đổi theo Ngôn ngữ có đời sống riêng của nó và tiếp tục thay đổi chứ không phải ở trạng thái tĩnh

Khi được xem như một phương tiện để thông tin, ngôn ngữ đã phải tự thích nghi

để đáp ứng một số đòi hỏi cần thiết Ngôn ngữ thông thường, còn gọi là thường ngữ,

là ngôn ngữ thường ngày mà đa số dân chúng dùng trong cuộc sống Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ không bị kiểm soát và ép buộc phát triển theo một chiều hướng nào Các từ điển và các nhà ngôn ngữ chỉ làm công việc báo cáo, nhận xét và đề nghị cách đọc, định nghĩa các từ Nhưng từ điển và học giả chỉ giúp điều chỉnh tự nguyện hay hạn chế và không thể cấm ngôn ngữ biến hóa

Ngôn từ thay đổi còn tùy theo địa điểm và thời gian; ở cùng nơi và cùng thời, có thể thay đổi tùy theo người dùng Trong thường ngữ, những đặc điểm của ngôn ngữ được thấy rõ trong lời nói hơn trong câu văn viết

Ngôn ngữ thông thường có tính đa nghĩa, không có sự chuẩn hóa ở mức độ cao và tính quốc tế Trái lại, ngôn ngữ dùng trong khoa học kỹ thuật có phần khác ngôn ngữ thông thường vì khoa học có tính phổ quát Các khoa học gia là những phần tử siêu quốc gia: họ phải thông tin, trao đổi tài liệu không kể biên giới văn hóa, chính trị, ngôn ngữ Ngày nay, vì

sự trao đổi kinh tế, văn hóa, quân sự, vấn đề ngôn ngữ chung này cũng được đặt ra trong các lĩnh vực khác, ngoài khoa học, như viễn thông, hàng không …

Thuật ngữ khoa học không phải là một ngôn ngữ riêng biệt và khác hẳn dành cho nhiều lãnh vực khác nhau Thuật ngữ cũng có hầu hết các đặc tính của tiếng thông thường Tuy nhiên, thuật ngữ có phần khác ngôn ngữ thông thường : một trong những đặc tính của thuật ngữ là tính miêu tả và định nghĩa; ngoài ra, nhiều từ có liên

hệ với nhau như thuộc một hệ thống phân loại Mỗi lãnh vực có những đặc điểm và thuộc tính riêng biệt của nó

Trước hết, thuật ngữ phần lớn thuộc địa hạt của chuyên viên và người làm nghiên cứu Họ thường trọng tiền lệ, chuộng sự chính xác và tính nhất quán cả trong

Trang 23

hình thức lẫn cách dùng Chữ viết ở đây quan trọng hơn tiếng nói Thuật ngữ thuộc vào địa hạt chuyên môn và được dùng có giới hạn, ngoài ra số từ rất lớn và số người dùng không nhiều nên trong thường ngữ ta ít gặp thuật ngữ Nhờ vậy thuật ngữ khoa học có tính chất ổn định và rất ít thay đổi so với ngôn ngữ thông thường, cả về mặt hình thái cũng như ngữ nghĩa

Ngoài ra, thuật ngữ còn có tính cách quốc tế hơn ngôn ngữ thông thường Nhiều

từ có dạng và nghĩa giống nhau trong nhiều ngôn ngữ khác nhau Số từ thuật ngữ giống nhau rất nhiều, nhiều hơn là ở trong ngôn ngữ thông thường Tùy theo lãnh vực, số từ giống nhau nhiều hay ít : nhiều nhất là trong các môn toán, vật lý, thiên văn, hóa học, sau đó đến sinh vật; trái lại trong văn chương, kinh tế, chính trị, có ít từ giống nhau hơn là trong lãnh vực khoa học tự nhiên

Thỉnh thoảng, từ thông thường cũng miêu tả không kém từ chuyên môn, khó lòng phân biệt hơn thua :

cephalalgia / headache chứng đau đầu, nhức đầu

(kephalos, đầu ; algaos, nỗi đau)

pedodontia /children’s dentistry nhi nha khoa, môn học răng miệng trẻ em

( paed -, trẻ em; odont -, răng )

Những từ thông thường nói trên, vừa miêu tả đầy đủ lại còn dễ nhớ, tuy nhiên không phải khi nào điều này cũng đúng Ngoài ra khi muốn diễn tả những cấu trúc và quy trình phức tạp, từ thông thường không thích hợp Từ vựng thông thường còn thiếu rất nhiều từ để nói đến nhiều hiện tượng, sự vật, khái niệm

Từ thông thường ít chính xác và thường có nhiều nghĩa Mặc dầu nghĩa nguyên thủy có thể là rất rõ nhưng lâu ngày, một số từ đã có thêm nhiều nghĩa phụ khác vì từ thông thường được dùng trong nhiều lãnh vực Trong văn chương, đó có thể là điều hay nhưng trong khoa học là điều nên tránh Ðây là lý do chính tại sao người làm khoa học thường tránh dùng những từ thông thường và đã đặt từ riêng mà dùng, như vậy, những từ này sẽ được định nghĩa chính xác hơn

Ví dụ : speechlessness và aphasia (pha- , nói)

Hai từ này thoạt nhìn tưởng giống nhau, nói đến “sự không nói được” Thật ra, từ thông thường speechlessness có nhiều nghĩa: “không nói được” có thể vì lên sân khấu

Trang 24

quá sợ, bất ngờ hay giận dữ, cũng có thể do bẩm sinh Trái lại, thuật

ngữ aphasia (mất ngôn ngữ, vong ngôn) chỉ chứng mất ngôn ngữ vì não bị hư hỏng

Ta cũng thấy nhiều thuật ngữ khoa học khi đã đi vào từ vựng thông thường sẽ có nhiều nghĩa và gợi nhiều ý khác Có khi nhiều từ lại được dùng để chỉ cùng một sự việc, gây nên sự không rõ nghĩa và tính thiếu nhất quán Từ ngữ thông thường hàm

chứa nhiều nghĩa và gây xúc cảm Ví dụ: cheiloschisis và harelipcùng chỉ một hiện

tượng (tật sứt môi) Ngoài ra những từ ngữ thông thường có thể có nghĩa tục, đáng tránh Ngoài ra từ ngữ thông thường không được ổn định: nghĩa cũng như hình thái thường thay đổi nhanh, tùy theo địa phương và theo ngay cả từng người dùng

Giữa thuật ngữ và từ ngữ thông thường có quan hệ xâm nhập lẫn nhau Từ ngữ thông thường có thể trở thành thuật ngữ và ngược lại

Con đường thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường là con đường biến đổi và phát triển nghĩa của từ để tạo ra một nghĩa mới (nghĩa thuật ngữ) Thực chất nghĩa thuật ngữ đó là một nghĩa phái sinh trên cơ sở nghĩa ban đầu của từ ngữ thông thường hoặc trên cơ sở một hay một vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu niệm của từ Khả năng biến dạng ý nghĩa của từ nhiều nghĩa thông thường (nghĩa biểu niệm) có thể đi đến giới hạn là nghĩa thuật ngữ Đó là trường hợp mặt biểu hiện (vỏ ngữ âm) của từ

và cái biểu vật giữ nguyên không thay đổi, còn ý nghĩa thì thay đổi Theo Ju X.Stepanov, những ý nghĩa thay đổi nằm trong bước chuyển từ quan niệm này sang khái niệm đơn giản rồi sau đó phát triển và làm phong phú thêm khái niệm đó Sự khác nhau về ý nghĩa đó được A A Potebnja phân biệt thành hai loại – ý nghĩa gần nhất và ý nghĩa tiếp theo Khi nói đến ý nghĩa của từ thì nói chung, ta phân biệt hai cái khác nhau: một là cái mà ngôn ngữ học nghiên cứu gọi là ý nghĩa gần nhất của từ; hai là cái mà khoa học khác phải nghiên cứu gọi là ý nghĩa tiếp theo của từ Theo

cách hiểu này thì từ mặt trăng có nghĩa gần là “một tinh tú toả sáng ban đêm; tháng”, còn ý nghĩa xa, nghĩa thuật ngữ là một khái niệm vệ tinh tự nhiên của Trái Đất, phản chiếu ánh sáng của Mặt Trời và chiếu sáng Trái Đất về ban đêm, có hình dạng nhìn thấy thay đổi dần từng ngày – từ khuyết đến tròn và ngược lại Trong quá trình biến

đổi, phát triển nghĩa của từ nhiều nghĩa, ý nghĩa thuật ngữ vẫn còn nằm lại trong hệ thống ý nghĩa của từ xuất phát của ngôn ngữ chung Ý nghĩa thuật ngữ này vẫn còn

Trang 25

gắn liền với một ý nghĩa nào đó của từ ngữ thông thường Quá trình phát triển các ý nghĩa của từ nhiều nghĩa theo hướng từ nghĩa thông thường đến nghĩa thuật ngữ chính là quá trình biến đổi nghĩa từ vựng của từ thông thường theo hướng từ nghĩa biểu thị) thuộc tầng nghĩa thực tiễn chuyển thành nghĩa biểu niệm khái niệm khoa học thuộc tầng nghĩa trí tuệ theo quan niệm của Lê Quang Thiêm Có thể nêu ra hàng loạt

ví dụ về quá trình biến đổi và phát triển nghĩa của từ thông thường để tạo ra một nghĩa phái sinh là nghĩa thuật ngữ

Ví dụ: No là một tính từ có nghĩa thông thường là Ở trạng thái nhu cầu sinh lí về ăn uống được thoả mãn đầy đủ Bữa no bữa đói No cơm ấm áo Từ nghĩa gốc, nghĩa cơ

bản này, no được dùng với nghĩa chuyển là nghĩa thuật ngữ để biểu thị các chất hoá

học “(Hợp chất hữu cơ) không thể kết hợp thêm nguyên tố nào nữa Methan là một

carbuar no” Trong trường hợp này, giữa nghĩa gốc, nghĩa cơ bản và nghĩa thuật ngữ còn nhận rõ mối quan hệ dựa trên một nét chung “ở trạng thái đủ, thoả mãn” để đảm bảo sự tương đồng, hay tương cận về những thuộc tính của các sự vật, hiện tượng được phản ánh trong khái niệm do từ ngữ biểu thị

Trong quá trình phát triển, thuật ngữ tiếng Việt ngày nay càng ngày càng dễ hiểu dễ dùng đối với quảng đại quần chúng Rất nhiều các thuật ngữ tiếng Việt (như thuật ngữ kinh tế, các thuật ngữ thuộc lĩnh vực chính trị – xã hội, khoa học xã hội và nhân văn) được hình thành từ các từ ngữ đời sống hàng ngày Nói cách khác, quá trình thuật ngữ hoá các từ ngữ thông thường đã làm giảm bớt tính bác học của thuật ngữ, làm cho chúng có một diện mạo “cận dân” hơn và gần gũi với quần chúng hơn

Ví dụ: rao bán, trả góp, tiền trao tay, giá đặt mua, giá chào… (thuật ngữ kinh tế); vùng sâu, vùng xa, học chay, khoanh nợ, xoá đói, chăm sóc sức khoẻ sinh sản… (thuật ngữ chính trị – xã hội), đĩa cứng, đĩa mềm, ổ cứng, chuột, tệp, cắt, sao chép, dán, mạng, kết nối, tải về,… (thuật ngữ tin học)

Trường hợp các thuật ngữ trở thành từ ngữ thông thường Nói chung, không phải thuật ngữ với các khái niệm mà nó biểu thị đều chuyển vào ngôn ngữ thông thường mà chỉ là cái vỏ âm thanh của nó Ví dụ: từ dứt điểm vốn là từ ngữ chuyên ngành của lĩnh vực thể thao, đã được dùng rộng rãi chỉ việc “hoàn thành gọn công

Trang 26

việc nào đó”, kế hoạch vốn là từ chuyên ngành kinh tế nay được dùng chỉ việc “ làm việc gì cũng có tính toán, có chương trình xắp xếp trước sau”

Như vậy với khả năng biến đổi từ ngữ thông thường thành thuật ngữ hay đơn giản, biến đổi thuật ngữ thành từ ngữ thông thường khiến từ ngữ chuyên ngành với gốc thuật ngữ mở rộng lĩnh vực hoạt động

Việc đưa những từ ngữ chuyên ngành được đưa vào sách giáo khoa là phù hợp bởi đối với học sinh bậc phổ thông nhất là bậc tiểu học đây chưa phải là giao tiếp chuyên môn thuần túy mà mang tính phổ cập kiến thức phổ thông

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LĨNH VỰC GIÁO DỤC, BẬC TIỂU HỌC VÀ MÔN HỌC TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI

1.2.1 Giáo dục và những vấn đề của giáo dục

1.2.1.1.Giáo dục là gì?

Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó

kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn

ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học

Về mặt từ nguyên, "education" trong tiếng Anh có gốc La-tinh (nuôi dưỡng,

nuôi dạy) gồm ēdūcō ("tôi giáo dục, tôi đào tạo") Trong tiếng Việt, "giáo" có nghĩa

là dạy, "dục" có nghĩa là nuôi (không dùng một mình); "giáo dục" là "dạy dỗ gây nuôi

Trang 27

ra đời và phát triển thành những chữ và ký hiệu trở thành phương tiện tối ưu của giáo dục

Từ khi có ngôn ngữ chiều sâu và độ rộng của kiến thức có thể được bảo tồn và trao truyền gia tăng vượt bậc Khi các nền văn hóa bắt đầu mở rộng kiến thức vượt quá những kỹ năng

cơ bản về giao tiếp, đổi chác, kiếm ăn, thực hành tôn giáo, v.v , giáo dục chính quy và việc đi học cuối cùng diễn ra

1.2.1.2 Những vấn đề được đặt ra cho giáo dục thế kỉ XXI

- Quan điểm giáo dục tiến bộ của John Dewey và tầm ảnh hưởng

, không thể nói một câu tiếng Anh một cách chuẩn xác, Đây là vấn đề được đặt ra cho toàn xã hội về sự chênh lệch giữa lí thuyết và thực hành

John

John Dewey là người đảo ngược trật tự:

Trang 28

Trẻ em là trung tâm Giáo dục không phải là việc dạy của người thầy, giáo dục là việc

học

:

“Trường học là của trẻ em chứ không phải của người lớn”

Ông Lý Hiển Long của đảo quốc Singapore có tiếng là kỷ luật khắt khe thế mà ngay khi nhậm chức Thủ tướng vào năm 2004 đã chỉ thị cho ngành giáo dục Singapore:

"Các thầy cô hãy bớt dạy đi, để cho học sinh chúng học nhiều hơn"

John Dewey cũng

Trước khi Chủ nghĩa Thực dụng ra đời, nền giáo dục của Mỹ chịu ảnh hưởng bởi triết lí giáo dục của Âu châu phát xuất từ Chủ nghĩa Lý tưởng và Duy thực Khi

Trang 29

Chủ nghĩa Thực dụng được áp dụng làm nền tảng cho triết lí giáo dục, nền giáo dục của Mỹ đã tách sang hướng khác và mang rõ nét đặc thù của người Mỹ: thực tế và thực dụng Đó cũng là lý do Chủ nghĩa Thực dụng và Phương pháp Tư duy Toàn diện của John Dewey vẫn được giảng dạy và áp dụng trong học đường của Mĩ, mặc dù từ hậu bán thế kỷ 20 quốc gia này đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc cải cách giáo

dục Phương pháp Tư duy Toàn diện không chỉ là một phương pháp “học và hành;”

nó còn là một cách sống vì, như một tác giả đã nói: “Đời là một chuỗi các vấn đề” mà

con người phải giải quyết để tồn tại và phát triển Còn với người Việt Nam chúng ta,

chẳng phải ông bà ta thường bảo “Học đi đôi với hành” đấy sao! Trong nhiều năm

gần đây, khi đi học tập huấn giáo viên đầu năm học, bao giờ vấn đề quan trọng cũng được nhắc đến: lấy học sinh làm trung tâm, dạy và học nhằm phát triển năng lực vốn

có của học sinh, để làm sao kiến thức được học luôn song hành cùng cuộc sống Thầy giáo với vai trò là người hướng dẫn các em trên con đường học tập Chúng ta đang

đổi mới, đang thay đổi theo xu hướng của thời đại

Thế kỉ XXI sẽ là thế kỉ của một nền văn minh dựa vào quyền lực tri thức, giáo dục vừa phải dạy tri thức vừa phải dạy công nghệ (cách làm), làm sao trong dòng thông tin ngày càng đầy ắp mà mỗi con người, mỗi cộng đồng vẫn phát triển, đủ sức

đứng được trong xã hội đó Báo cáo “Học tập: của cải nội sinh” của UNESCO viết:

“Giáo dục, như trước đây, phải thường xuyên cung cấp những bản đồ của toàn cục thế giới luôn náo động và phải cung cấp la bàn tìm đường đi trong thế giới đó Dạy

và học ở trường là dạy và học cả tri thức, kĩ năng và thái độ để sao ra đời vừa làm việc, vừa tiếp tục học suốt đời mới thích nghi với thế giới phong phú, luôn biến đổi và phụ thuộc lẫn nhau Tinh thần cơ bản ở đây là học tập và ứng dụng vào cuộc đời, biết

và làm, như nguyên lí giáo dục của chúng ta đã khẳng định Giáo dục giúp mỗi người chúng ta phát hiện ra và làm giàu tiềm năng sáng tạo của bản thân- năng lực nội sinh của mỗi người, đó là vốn liếng làm cho con người trở lên giàu có”

Nhà trường cần dạy cho học sinh ngay từ nhỏ có được phương pháp học tập và chừng nào đó cả phương pháp nghiên cứu khoa học Trong thời đại cách mạng thông tin, nhất là vô tuyến truyền hình đã có trong mọi gia đình, lại càng phải dạy trẻ biết tập

Trang 30

trung chú ý vào học tập, ghi nhớ và tư duy Đây là ba loại công cụ tâm lí rất cơ bản để đảm bảo việc học tập trong nhà trường đạt kết quả và cũng là các phương pháp rất cơ bản để học tập, lao động và sáng tạo Ngày nay cần quan niệm rằng, giáo dục trong nhà trường chỉ được coi là có kết quả khi nó tạo được cơ sở và động lực cho người học yêu thích, tiếp tục học tập, rèn luyện suốt đời

UNESCO lưu ý giáo dục các nước cần chú ý trong nội dung giáo dục phải mang lại cho người học vốn văn hóa khoa học Vấn đề này thường được giải quyết dưới góc độ của việc gắn học và làm, lí thuyết và thực hành Các nước trong thời gian tới phải giáo dục những con người có tinh thần và khả năng canh tân, sáng tạo

Cũng trong báo cáo “Học tập: của cải nội sinh”, UNESCO đã nêu lên những vấn đề bức thiết mà giáo dục sắp tới phải đương đầu, giải quyết:

- Quan hệ giữa cái truyền thống và hiện đại: làm sao để tiến lên cập nhật với thế giới đầy biến động, những thay đổi trong cuộc sống, những tiến bộ khoa học kĩ thuật mà không quay lưng lại với quá khứ, mỗi người phát huy tự chủ mà không hạn chế người khác tự do phát triển

- Quan hệ giữa lâu dài và trước mắt: đây là vấn đề muôn thủa của giáo dục, nhưng ngày hôm nay nó nổi lên rõ nét Phải dạy cái gì, dạy thế nào để đáp ứng yêu cầu tạm thời lẫn yêu cầu lâu bền, yêu cầu trước mắt và lâu dài, làm sao cân đối thỏa mãn cung cấp một khối lượng thông tin đồ sộ và nhu cầu đời sống tình cảm Biết bao nhiêu vấn đề người dân đòi hỏi phải đáp ứng nhanh chóng, kịp thời, trong khi đó nhiều vấn đề về chính sách giáo dục thực tế lại đòi hỏi phải kiên trì bàn định, trao đổi kĩ lưỡng rồi mới cải cách Giáo dục là vấn đề trọng đại của ngày hôm nay và ngày mai

- Quan hệ giữa khối lượng tri thức ngày càng tăng quá nhanh

con người: Chắc chắn là không thể tăng số bộ môn lên tương ứng được mà buộc chúng ta phải làm các chương trình bộ môn hợp lí, biết lựa chọn, đặc biệt đảm bảo tính cơ bản của nền giáo dục cơ sở, dạy cho trẻ em biết cách sử dụng tri thức thông qua thực nghiệm, phát triển nhân cách văn hóa để nâng cao cuộc sống của bản thân

Trang 31

Vấn đề được tổ chức UNESCO đặt ra đều xoay quanh vấn đề quan trọng của giáo dục: Trẻ em là trung tâm, học phải gắn liền với thực tiễn của xã hội của thời đại, dạy cho trẻ em cách sử dụng tri thức thông qua thực nghiệm, học tập phải gắn liền với tư duy,…những quan điểm đó xuất phát từ quan điểm tiến bộ của John Dewey triết gia

và nhà giáo dục nổi tiếng với các cương lĩnh “giáo dục tức là cuộc sống”, “nhà trường là xã hội”, “lấy học sinh làm trung tâm” , “học bắt đầu từ làm” Trào lưu cải

cách giáo dục ở châu Âu kết hợp với cuộc vận động giáo dục tiến bộ ở Mỹ, tiêu biểu

là John Dewey đã hình thành một trào lưu cải cách giáo dục mạnh mẽ, rầm rộ ở các nước Âu, Mỹ suốt thế kỷ XX bị sao nhãng bởi chiến tranh thế giới thứ hai và tiếp tục sau thế chiến,tiếp tục ở thời gian chiến tranh lạnh với cải cách quan niệm và kĩ thuật xây dựng chương trình, thiết kế lại hệ thống các môn học, đổi mới phương pháp dạy

học, chuyển từ dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học “hướng vào học sinh”,

phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở người học

Nhận ra vấn đề bức thiết về giáo dục, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định

về chiến lược phát triển giáo dục 2001 -2010

Chiến lƣợc phát triển của giáo dục Việt Nam trong thế kỉ XXI

Tại Đại hội đồng UNESCO lần thứ 27 các báo cáo nói nhiều đến vai trò quan trọng của giáo dục thế kỉ XXI là tiến tới một thế giới tốt đẹp hơn; vai trò giáo dục là phát triển tiềm năng của con người; giáo dục là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để chúng ta cần tiến bước vào tương lai,…

Các nước phát triển cuối những năm chín mươi của thế kỉ XX đã chuẩn bị xong về chiến lược và thử nghiệm cho sự phát triển giáo dục để đón đầu thế kỉ XXI

Ở nước ta, ngày 28/12/2001, thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 201/2001/QĐ-TTg về chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, trong phần mục tiêu

có ghi: “Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu so với các nước phát triển trên khu vực

Trang 32

Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học

và trình độ đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy và học; đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội nực phát triển giáo dục”

Một số nhiệm vụ trước mắt của ngành giáo dục

- Phát triển giáo dục toàn diện

- Xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”

Chuẩn hóa bao gồm chuẩn hóa chương trình, nội dung giảng dạy, sách giáo khoa, giáo trình và quy trình kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục – đào tạo.Đặc biệt nhấn mạnh tiêu chí đánh giá sản phẩm cuối cùng của giáo dục là con người và nguồn nhân lực; chuẩn hóa về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trường lớp, các trang thiết bị dạy và học cho tất cả các cấp học, bậc học

Hiện đại hóa giáo dục hiểu theo nghĩa nội tại của ngành là cập nhật với thời đại ngày nay, hiện đại hóa nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo, trong đó đưa những nội dung mới phản ánh những thành tựu mới nhất của văn hóa, khoa học Đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo phù hợp với xu thế hiện đại và hiện đại hóa các phương tiện dạy và học, tăng cường các thiết bị thông tin, viễn thông

Xã hội hóa giáo dục là huy động toàn lực lượng của toàn xã hội cùng tham gia

Một số giải pháp phát triển giáo dục của nhà nước đối với bậc học phổ thông

Ngày 09 tháng 12 năm 2000 Quốc hội đã có Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng về Chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội2001 - 2010 đã nêu rõ việc "khẩn trương biên soạn và đưa

vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông, phù hợp với yêucầu phát triển mới''

Để việc thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đạt kết quả tốt, tạo ra sự chuyển biến quan trọng về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:

Trang 33

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan

và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương thực hiện việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm về giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông nói riêng

và của hệ thống giáo dục - đào tạo nói chung

Mục tiêu của việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông là:

- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu quê hương và gia đình; tinh thần tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật; tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập thân,lập nghiệp

- Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh

- Tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước trong khu vực và trên thế giới

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông,chuẩn bị tốt cho học sinh học tập tiếp tục ở bậc sau trung học hoặc tham gia lao động ngoài xã hội

Việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông cần đảm bảo những nguyên tắc sau:

- Quán triệt các mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các cấp học, bậc học quy định trong Luật Giáo dục

- Đảm bảo tính hệ thống, kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục; phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp thu những thành tựu giáo dục tiên tiến trên thế giới

Thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá Bảo đảm thống nhất về chuẩn kiến thức và kĩ năng, tăng cường tính liên thông với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục sau trung học, đồng thời có các phương án áp dụng chương trình, sách giáo khoa phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của các địa bàn khác nhau; chọn lọc, đưa vào chương trình các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp

thu của học sinh; hết sức coi trọng tính thực tiễn "Học đi đôi với hành, giáo dục kết

hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội"

Trang 34

1.2.2 Cấp tiểu học và môn học Tự nhiên và xã hội

1.2.2.1 Cấp tiểu học và học sinh tiểu học

- Cấp tiểu học

Cấp tiểu học hay còn được gọi là cấp I, bắt đầu năm 6 tuổi đến hết năm 11 tuổi Cấp này gồm có 5 trình độ, từ lớp 1 đến lớp 5 Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân Học sinh phải học các môn sau: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, và 3), Khoa học (lớp 4 và 5), Lịch sử (lớp 4 và 5), Địa lý (lớp 4 và 5), Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức, Thể dục, Tin học (tự chọn), Tiếng Anh (lớp 3, 4, và 5 một

số trường cho học sinh học tiếng Anh bắt đầu từ năm lớp 1, lớp 2) Học sinh tiểu học không phải trải qua kì thi tốt nghiệp

Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng

cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở Mục tiêu chính của giáo dục tiểu học

là giúp tất cả học sinh biết đọc, biết viết, và biết tính toán với những con số ở mức độ căn bản, cũng như thiết lập những hiểu biết căn bản về khoa học, toán, địa lý, lịch sử,

và các môn khoa học xã hội khác

- Đặc điểm học sinh tiểu học

+ Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học là lứa tuổi sống và phát triển trong nền văn minh nhà trường

theo hai cấp độ Cấp độ thứ nhất gồm lớp 1, lớp 2 và lớp 3, trong cấp độ này thì lớp 1

là đặc biệt – lớp đầu của Cấp tiểu học, được nhiều người cho là “Cửa ải lớp 1” Cấp

độ thứ hai gồm lớp 4 và lớp 5 – Lớp đầu ra của Cấp tiểu học Hai cấp độ này tuy có

sự khác nhau về mức độ phát triển tâm lí và trình dộ thực hiện hoạt động học tập, nhưng không có sự thay đổi đột biến, không có sự phát triển theo chiều hướng mới

Dù ở cấp độ nào thì học sinh tiểu học cũng là nhân vật trung tâm, là linh hồn của trường Ở đấy, trẻ đang từng ngày, từng giờ tự hình thành cho mình những năng lực của người ở trình độ sơ đẳng nhưng cơ bản, như sử dụng tiếng mẹ đẻ, năng lực tính toán, đặc biệt là năng lực làm việc trí óc – năng lực tạo ra các năng lực khác Cùng với các năng lực trên là sự hình thành tình cảm, thái độ và cách cư xử phù hợp với dân tộc và văn minh nhân loại hiện đại Học sinh tiểu học ngày nay là những chủ thể

Trang 35

đang trở thành chính mình bằng hoạt động của mình dưới sự tổ chức, hướng dẫn của

người lớn theo phương pháp nhà trường hiện đại

Học sinh tiểu học thường là những trẻ có tuổi từ 6 – 11, 12 tuổi Đây là lứa tuổi đầu tiên đến trường - trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo Trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo Là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học Cùng với cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ nhiều điều mà trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được Từ đó, cùng với sự phát triển về thể chất và dựa trên những thành tựu phát triển tâm lí đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm lí của mình, mà trước hết là tính chủ định, kĩ năng làm việc trí óc,

sự phản tỉnh - những cấu tạo tâm lí mới đặc trưng cho lứa tuổi này Ngoài ra, nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi hỏi mới của cuộc sống Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong môi trường “trung lập về tình cảm”,

mà còn phải thích ứng với những bó buộc không tránh khỏi và chấp nhận việc một người lớn ngoài gia đình (thầy, cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ Trẻ chẳng những phải ý thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một cách có chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vận hành cùng một lúc các mối quan hệ với các đối tượng khác nhau và mang các tính chất khác nhau Trước những thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội các cách thức, phương thức phức tạp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa mãn những yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường và nhờ vậy “đẩy” được sự phát triển của mình lên một mức cao hơn

+ Đặc điểm tư duy của trẻ tiểu học:

Theo Tâm lí học, tư duy của trẻ tiểu học mang tính đột biến, chuyển từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác Sở dĩ có nhận định như vậy là bởi trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học tư duy chủ yếu trong diễn ra trong trường hành động: tức những hành động trên các đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của

Trang 36

các giác quan) Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Về bản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy - với tư cách là các thao tác trí óc bên trong

Trong giai đoạn tiếp theo, thường ở đa số học sinh lớp 3 và lớp 4, trẻ đã chuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động với đối tượng thực, chưa thoát li khỏi chúng Đó là các thao tác cụ thể Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển này trong tư duy của nhi đồng là các em đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng

Việc cải cách và thay đổi sách giáo khoa ở các cấp đặc biệt là cấp tiểu học luôn được quan tâm đặc biệt Với mục tiêu chiến lược của nhà nước vào năm 2001 -

2010 khi thay đổi sách giáo khoa nhằm chọn lọc, đưa vào chương trình các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh; hết sức coi trọng tính thực tiễn, "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội" Việc tiến hành thay sách giáo khoa được tiến hành đầu

tiên ở cấp tiểu học

1.2.2.2 Môn học Tự nhiên và xã hội

Môn học Tự nhiên là môn học mang tính đặc thù của cấp tiểu học, môn học này sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản, giúp các em có hiểu biết về các vấn đề về lĩnh vực tự nhiên và xã hội

Trước Cách mạng Tháng 8, môn học có tên gọi “Cách trí”

Nội dung:

- Cấu tạo cơ thể người

- Vệ sinh cơ thể người

- Môi trường và thiên nhiên

Sau Cách mạng Tháng 8: Từ cuộc Cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950)

“Cách trí cải tiến”

Nội dung: Giống Cách trí nhưng có lược bỏ những phần có liên quan đến Pháp Sau

1954, từ cuộc Cải cách giáo dục lần thứ hai (1956): "Tìm hiều khoa học thường

Trang 37

Hình thức: Bị lồng ghép vào môn tiếng Việt

Lớp 1,2 được dạy thông qua môn Tập đọc đó là những bài tập đọc khoa, sử, địa Lớp 3: Nội dung các phần khoa, sử, địa được in thành bài riêng ở cuối sách Phương pháp: Chủ yếu là thuyết trình (do dạy qua môn Tập đọc) Lớp 4: Có sách giáo khoa riêng

nước, sau qua trình thực nghiệm lâu dài ở nhiều nơi Năm 2001: Tự nhiên và Xã

hội (các lớp 1,2,3); Khoa học (các lớp 4,5); Lịch sử và Địa lí (các lớp 4,5)

Trang 38

Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình giáo dục bắt đầu được đề cao ở Mỹ và các nước châu Âu từ những năm 50 – 60, ở Châu Á vào những năm 70

Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựn

3 Một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận nêu trên là trong chương trình này lần đầu tiên các kiến thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội được kết hợp trong một môn học Môn học này được học từ lớp 1 đến lớp 5 ở trường tiểu học với tên gọi Tự nhiên và Xã hội

?

Tích hợp là sự sắp xếp xen kẽ các kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác

nhau thành một chỉnh thể thống nhất

Dạy học theo tư tưởng tích hợp là cách trình bày các khái niệm và nguyên lý

khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học tránh nhấn mạnh sư sai khác giữa các lĩnh vực khoa học (UNESCO, Pari 1972)

Dạy học theo tư tưởng tích hợp theo nghĩa hẹp là việc đưa ra những nội dung của nhiều môn học vào quá trình chung nhất trong đó các khái niệm được đề cập đến

theo một tinh thần và phương pháp thống nhất Dạy học theo tư

hực tiễn, hình thành

ở học sinh khả năng tự học, tự nghiên cứu

1.3 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỘC LẬP, PHƯỜNG TRUNG THÀNH, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Để kiểm tra việc học và sử dụng từ ngữ chuyên ngành, ngoài khảo sát sách giáo khoa, chúng tôi đã chọn một trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên để tìm hiểu khả năng sử dụng từ ngữ chuyên ngành Đó là trường tiểu học Độc Lập, trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ I, nằm trên địa bàn phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên

Trang 39

Trung Thành là một phường thuộc thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Phường Trung Thành có diện tích 3,21 km², dân số năm 1999 là 11771 người, mật độ dân số đạt 3667 người/km² Theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc, phường lần lượt tiếp giáp với các phường Cam Giá, Hương Sơn, Tân Thành, Tích Lương và Phú Xá

Phường Trung Thành có hai tuyến đường chính của thành phố Thái Nguyên chạy qua là tuyến đường 3/2 (quốc lộ 3) ở một đoạn nhỏ phía tây nam và tuyến đường Cách mạng Tháng 8 (quốc lộ 37) tạo thành ranh giới phía đông, đường sắt Hà Nội - Quan Triều cũng đi qua địa bàn phường Trung Thành

Giá trị sản xuất công nghiệp của phường vào năm 2010 là 600 tỷ đồng, năm

2011 dự kiến là 651 tỷ đồng Toàn phường hiện đã làm được 40 km đường bê tông phục vụ dân sinh; tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn 1,6%; phường có

, 1 trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia.. 1999-2003, phường Trung Thành có diện tích khoảng 3,1 km², dân số là 11949 người, mật độ cư trú đạt trên 3700 người/km² Trên địa bàn phường có trường Trung học phổ thông Gang Thép và chợ Dốc Hanh, chợ lớn nhất khu vực phía Nam thành phố

phố Thái Nguyên Trường được tách ra từ trường cấp I, II Độc Lập năm 1989 Những ngày đầu mới thành lập, trường còn rất nhiều khó khăn Cơ sở vật chất thiếu thốn, phòng học chưa đủ Đội ngũ giáo viên còn thiếu, tuổi đời lại quá cao, số giáo viên có tuổi đời trên 40 chiếm 2/3 số giáo viên toàn trường Trình độ đào tạo trên chuẩn của giáo viên không có Mặc dù muôn vàn khó khăn là vậy nhưng đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường vẫn bền bỉ chung sức, chung lòng khắc phục khó khăn xây dựng và kiện toàn đội ngũ, bồi dưỡng chuyên nghiệp vụ, tận dụng và huy động mọi nguồn lực

để từng bước đưa nhà trường đi lên Bằng sự nỗ lực cố gắng sức người, sức của, đóng góp tâm lực, trí lực của thầy và trò nhà trường cùng công sức đóng góp của phụ huynh học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường dần được thay đổi

Trang 40

Năm 2007-2008 cho đến nay được sự quan tâm của Đảng và nhà nước điều kiện

cơ sở vật chất của nhà trường đã thực sự có bước đột phá lớn Cơ sở vật chất khang trang, chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng ổn định và không ngừng phát triển Tháng 10 năm 2009 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ I

Cơ sở vật chất: 2 dãy nhà 2 tầng, 2 nhà cấp 4 với tổng số 21 phòng học, 1 nhà hiệu

bộ, 3 phòng chức năng Phòng thư viện, phòng kho thiết bị: trang bị sách, thiết bị dạy học phục vụ các cho học sinh, giáo viên, phụ huynh tìm hiểu, tra cứu, đọc sách, truyện, báo chí ngoài giờ học và ngoài giờ lên lớp của giáo viên

Hiện nay (năm học 2013 - 2014) tổng số cán bộ giáo viên của trường là 40 giáo viên, 100% đều đạt trình độ chuẩn trở lên Trong đó, số cán bộ giáo viên có trình độ trên chuẩn là 34, chiếm tỉ lệ 85%; số cập chuẩn 6 giáo viên chiếm tỉ lệ 15%, trong đó đang học đại học 3 giáo viên

Mồ côi

Là một trường Tiểu học với số lượng học sinh đông, hầu hết đều là dân tộc Kinh Số lượng học sinh là người dân tộc tiểu số không đáng kể ở khối lớp 3 với 13 học sinh là dân tộc thiểu số có 8 em là học sinh nữ và đều là đời thứ ba sống tại thành phố Thái Nguyên Khả năng tiếng Việt của của 13 em đều rất tốt Khi tiến hành khảo sát thực tế sử dụng từ ngữ chuyên ngành không có sự khác biệt

TIỂU KẾT

Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi đã trình bày những vấn đề cơ bản làm

Ngày đăng: 04/12/2014, 19:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thạc Cát, Về vấn đề thuật ngữ khoa học tiếng Việt gốc Ấn Âu, (1980), Ngôn Ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề thuật ngữ khoa học tiếng Việt gốc Ấn Âu
Tác giả: Nguyễn Thạc Cát, Về vấn đề thuật ngữ khoa học tiếng Việt gốc Ấn Âu
Năm: 1980
2. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Dẫn luận ngôn ngữ học (2010),Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Dẫn luận ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2010
3. Nguyễn Bích Hà, Mấy nhận xét về đặc điểm thuật ngữ thương mại tiếng Việt (1999), Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nhận xét về đặc điểm thuật ngữ thương mại tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Bích Hà, Mấy nhận xét về đặc điểm thuật ngữ thương mại tiếng Việt
Năm: 1999
4. Phạm Minh Hạc (2013), Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam, Nxb CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2013
6. Hoàng Văn Hành (1983), Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt, Ngôn ngữ, s.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1983
7. Dương Giáng Thiên Hương Nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3 thông qua việc sử dụng các cách tiếp cận giải quyết vấn đề, Tạp chí Giáo dục, số 201/11 (2008), 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3 thông qua việc sử dụng các cách tiếp cận giải quyết vấn đề
Tác giả: Dương Giáng Thiên Hương Nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3 thông qua việc sử dụng các cách tiếp cận giải quyết vấn đề, Tạp chí Giáo dục, số 201/11
Năm: 2008
8. Vũ Thu Hương (Đồng tác giả), Thiết kế module hoạt động ngoài giờ lên lớp ở môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3 (2010), Tạp chí Thiết bị giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế module hoạt động ngoài giờ lên lớp ở môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3
Tác giả: Vũ Thu Hương (Đồng tác giả), Thiết kế module hoạt động ngoài giờ lên lớp ở môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3
Năm: 2010
9. Vũ Thu Hương (Đồng tác giả), So sánh hiện trạng dạy học các môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học giữa Việt Nam và Đức (2010), Tạp chí Thiết bị giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hiện trạng dạy học các môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học giữa Việt Nam và Đức
Tác giả: Vũ Thu Hương (Đồng tác giả), So sánh hiện trạng dạy học các môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học giữa Việt Nam và Đức
Năm: 2010
10. Nguyễn Đình Hường, Từ điển Bệnh học phổi và lao (1997), Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bệnh học phổi và lao
Tác giả: Nguyễn Đình Hường, Từ điển Bệnh học phổi và lao
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1997
11. Nguyễn Văn Khang (2000), Chuẩn hoá thuật ngữ nhìn lại từ góc độ bối cảnh xã hội, Ngôn ngữ, s.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn hoá thuật ngữ nhìn lại từ góc độ bối cảnh xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2000
13. Vân Lăng và Như Ý, Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ Tiếng Việt trong mấy chục năm qua, Ngôn ngữ, 1972, s 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ Tiếng Việt trong mấy chục năm qua
15. Bùi Phương Nga (chủ biên); Lê Thị Thu Dinh; Đoàn Thị My; Nguyễn Tuyết Nga, Tự nhiên và Xã hội 2 ( 2003), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự nhiên và Xã hội 2
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
16. Bùi Phương Nga (chủ biên); Lê Thị Thu Dinh; Đoàn Thị My; Nguyễn Tuyết Nga, Tự nhiên và Xã hội 3 (2004), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự nhiên và Xã hội 3
Tác giả: Bùi Phương Nga (chủ biên); Lê Thị Thu Dinh; Đoàn Thị My; Nguyễn Tuyết Nga, Tự nhiên và Xã hội 3
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2004
19. Bùi Phương Nga (chủ biên), Lương Việt Thái, Khoa học 5 (Sách in thử). 2006, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học 5
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
20. Sản phẩm trung gian của Dự án Điều tra tổng thể các ngôn ngữ ở Việt Nam (2001 – 2005) (Các báo cáo kết quả điều tra, nhận xét tư liệu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm trung gian của Dự án Điều tra tổng thể các ngôn ngữ ở Việt Nam (2001 – 2005)
21. Nguyễn Văn Thạc, Tính hạn chế- không hạn chế về vị trí của các đơn vị cơ bản trong Tiếng Việt, Ngôn Ngữ, 1978, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính hạn chế- không hạn chế về vị trí của các đơn vị cơ bản trong Tiếng Việt
22. Nguyễn Thị Thấn Giáo dục môi trường địa phương cho học sinh tiểu học trong dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội, Đề tài cấp Bộ - mã số: B2007-17-93 (Nghiệm thu 2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường địa phương cho học sinh tiểu học trong dạy học các môn học về tự nhiên và xã hội
23. Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học – viễn thông tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát hệ thuật ngữ tin học – viễn thông tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Thanh
Năm: 2005
24. Lê Quang Thiêm (2006), Tầng nghĩa và kiểu nghĩa chức năng từ vựng, Ngôn Ngữ, s.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầng nghĩa và kiểu nghĩa chức năng từ vựng
Tác giả: Lê Quang Thiêm
Năm: 2006
25. Lê Văn Thới, Nguyên tắc soạn thảo danh từ chuyên khoa, S,1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc soạn thảo danh từ chuyên khoa

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT (Trang 7)
Hình thức: Bị lồng ghép vào môn tiếng Việt. - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Hình th ức: Bị lồng ghép vào môn tiếng Việt (Trang 37)
Bảng 2.1: Các chủ đề và số lượng từ ngữ chuyên ngành trong sách Tự nhiên - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.1 Các chủ đề và số lượng từ ngữ chuyên ngành trong sách Tự nhiên (Trang 43)
Bảng 2.2: Cơ quan hô hấp và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.2 Cơ quan hô hấp và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 47)
Bảng 2.4: Bài 7 và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.4 Bài 7 và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 49)
Bảng 2.5: Cơ quan bài tiết nước tiểu và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.5 Cơ quan bài tiết nước tiểu và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 50)
Bảng 2.6: Cơ quan thần kinh và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.6 Cơ quan thần kinh và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 52)
Bảng 2.7: Chủ đề 2, phần 1: Gia đình và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.7 Chủ đề 2, phần 1: Gia đình và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 53)
Bảng 2.8: Chủ đề 2, phần 2: Trường học và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.8 Chủ đề 2, phần 2: Trường học và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 54)
Bảng 2.9: Chủ đề 2, phần 3: tỉnh, thành phố nơi bạn sống và số lượng từ ngữ - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.9 Chủ đề 2, phần 3: tỉnh, thành phố nơi bạn sống và số lượng từ ngữ (Trang 55)
Bảng 2.11. Bài 41- Thân cây và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.11. Bài 41- Thân cây và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 57)
Bảng 2.10: Chủ đề 3, phần 1: Thực vật và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.10 Chủ đề 3, phần 1: Thực vật và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 57)
Bảng 2.12: Bài 43- Rễ cây và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.12 Bài 43- Rễ cây và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 58)
Bảng 2.13: Chủ đề 3, phần 1: Động vật và số lượng từ ngữ chuyên ngành - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 2.13 Chủ đề 3, phần 1: Động vật và số lượng từ ngữ chuyên ngành (Trang 59)
Bảng 3.2: Khảo sát thống kê - Khả năng hiểu và sử dụng từ ngữ chuyên ngành của học sinh lớp 3 khi học môn tự nhiên xã hội
Bảng 3.2 Khảo sát thống kê (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w