SO GIAO DUC & DAO TAO TINH BINH DUONGPHONG GIAO DUC &DAO TAO HUYEN DI AN TRUONG THCS DI AN SANG KIEN KINH NGHIEM DE TAI: GIUP HOC SINH HOC TOT PHEP NHAN HOA MON NGU VAN 6 GIAO VIEN:NGUYE
Trang 1SO GIAO DUC & DAO TAO TINH BINH DUONG
PHONG GIAO DUC &DAO TAO HUYEN DI AN
TRUONG THCS DI AN
SANG KIEN KINH NGHIEM
DE TAI:
GIUP HOC SINH HOC TOT PHEP NHAN HOA MON NGU VAN 6
GIAO VIEN:NGUYEN THI THAI DUNG TO: VAN
NAM HOC: 2009-2010
Trang 2DAN Y
A-DAT VAN DE
B-NOI DUNG VA BIEN PHAP TIEN HANH
I.TINH HINH THUC TE
II.HUONG GIAI QUYET CUA GIAO VIEN
III.KET QUA
IV.BAI HOC KINH NGHIEM
Trang 3A ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong nhà trường phổ thông nói chung, trường Trung học cơ sở nói riêng học sinh được học tất cả các môn học Môn ngữ văn là môn học vô cùng quan trọng giúp hoàn thành nhân cách con người Dạy Ngữ văn cho học sinh phổ thông noi chung, học sinh Trung học cơ sở nói riêng không chỉ cung cấp kiến thức mà còn giúp học sinh phát triển tư duy đặc biệt là tư duy logic Vì thế dạy Ngữ văn cho học sinh trong nhà trường là nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, hệ thống, hiện đại về từ ngữ, ngữ pháp văn bản, phong cách ngôn ngữ, rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ trong cuộc sống và học tập; Bồi dưỡng cho học sinh cảm hứng thẩm mĩ đúng đắn về cái hay, cái đẹp và sự phong phú của tiếng mẹ đẻ trong đời sống và đặc biệt là trong văn chương, giáo dục học sinh tự hào về sự giàu đẹp của Tiếng Việt, giữ gìn, phát huy sự trong sáng và giàu đẹp đó; Và mục đích cuối cùng của việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông là giúp cho học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực hành luyện tập nghĩa là giúp học sinh biết đặt câu, diễn đạt đúng một đoạn văn hay, một bài văn cụ thể
Học sinh không chỉ viết đúng mà còn viết bằng lời hay ý đẹp Muốn vậy giáo viên cần chú ý đến hình thức nghệ thuật, đặc biệt là các biện pháp tu từ về câu: So sánh, Nhân hóa, Ẩn dụ và Hoán dụ Trong đó biện pháp nhân hóa là một trong những biện pháp mà học sinh khó nhớ khó hiểu và vận dụng không suôn sẻ trong bài tập luyện tâp Vậy làm thế nào để có thể giúp học sinh học tập có chất lượng hiệu quả? Trong quá trình dạy học tôi đã luôn trăn trở, định hướng hướng dẫn học sinh tiếp thu, vận dụng sự hiểu biết về biện pháp nghệ thuật nhân hóa đạt chất lượng hiệu quả cao nhất Sau đây, tôi xin phép được trình bày lại “ Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phép nhân hóa ở môn Ngữ văn 6”.
B NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH:
I.Tình hình thực tế:
1 Chất lượng bộ môn:
Những năm gần đây, chất lượng các môn học xã hội nói chung, chất lượng môn ngữ văn nói riêng là thấp, chất lượng môn Tiếng việt lại đáng lo ngại Là người việt nhưng đa số lại thích học môn tiếng Anh đầu tư nhiều cho các môn tự nhiên, đi học thêm nhiều môn ngoại ngữ, thành ra việc học Tiếng việt bị coi nhẹ Đa số học sinh học đối phó và khả năng vận dụng kĩ
Trang 4năng nghe, đọc, viết là chưa cao Mặt khác, thực tế cho thấy do nền kinh tế thị trường tác động đến tâm sinh lí khiến các em không còn hứng thú nhiệt tình với bộ môn, đa số các em chán văn, sợ văn dẫn đến ngại học văn
2 Đối với môn Tiếng Việt: việc tiếp thu và vận dụng thành thạo các
biện pháp tu từ trong nghe, nói, đọc, viết là vấn đề đáng được quan tâm Đối với học sinh khá giỏi thì bốn biện pháp tu từ trong chương trình Ngữ Văn lớp 6 là rất đơn giản, nhưng đối với học sinh 6.2, 6.6, 6.7, 6.8 (Năm học 2005-2006) người dạy phải vô cùng vất vã để đạt được kết quả vì chất lượng đầu năm của các lớp đặc biệt rất đáng ngại: Lớp tập trung nhiều học sinh yếu kém
* Cụ thể là:
+ Chất lượng đầu năm 32/40 em dưới trung bình (84%)
+ Từ trung bình trở lên chỉ có 8 em (16%)
Mặc dù chất lượng học yếu kém nhưng các em lại chưa chịu khó học tập Đa số học sinh xem nhẹ môn Văn , thường dành nhiều thời gian cho các môn học khác như: Toán, Lý, hóa, Anh văn… Khi học môn Ngữ văn nói chung, phần Tiếng Việt nói riêng học sinh thường chỉ học lý thuyết, nắm vững lý thuyết mà không chú trọng thực hành luyện tập thì hầu hết các em cho rằng những biện pháp tu từ nói chung và biện pháp nhân hóa nói riêng là của nhà văn, nhà thơ, chỉ có nhà văn, nhà thơ mới sử dụng Cụ thể khi tiếp thu bài học về bốn phương pháp tu từ :So sánh, Nhân hóa, Ẩn dụ và Hoán dụ của chương trình Ngữ văn 6, học sinh đa số còn hạn chế về nhận thức, đặc biệt ở bài Nhân hóa Sau khi học xong các em học thuộc lòng và đọc vanh vách theo kiểu học vẹt (Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người ) nhưng học rồi rất chóng quên ; khi làm bài tập thì loại bài tập nhận diện các em làm rất nhanh nhưng đến khi làm bài tập vận dụng thì lúng túng, đặc biệt là học sinh
“vướng”ở kiểu bài tập viết đoạn văn (bài tập 5: Viết đoạn văn miêu tả có sử
dụng phương pháp nhân hóa)
II Hướng giải quyết của giáo viên:
Trước tiên tôi hướng dẫn cho học sinh hiểu Nhân hóa là gì, có mấy kiểu nhân hóa ; Ý nghĩa, tác dụng của việc sử dụng phép Nhân hóa trong giao tiếp Cụ thể là:
hóa :
(Nhân :người, hóa : biến thành, trở thành; còn được gọi là nhân cách hóa) thực chất là một loại ẩn dụ dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của con người để miêu tả những sự vật không phải là người hoạc
Trang 5xưng hô trò chuyện với những sự vật ấy như với con người, nhờ cách dùng như vậy mà các sự vật được miêu tả trở nên sống động, gần gũi với đời sống con người Tôi còn hướng dẫn cho học sinh nắm chắc cách diễn đạt nhân hóa đem lại cho bài thơ, bài văn tính biểu cảm cao bằng cách so sánh hai cách dùng từ, đặt câu trong hai trường hợp dùng nhân hóa và viết bình thường Sau khi tìm hiểu nhân hóa là gì, tôi hướng dẫn học sinh phân loại
2- Hướng dẫn học sinh phân loại các kiểu nhân hóa:
Tôi chọn các đoạn văn trong các văn bản đã học để hướng dẫn học sinh xác định từ ngữ sử dụng phép nhân hóa của các tác giả rồi khẳng định các kiểu nhân hóa
☼ Kiểu 1: Dùng những từ vốn chỉ dùng để gọi người (cô, dì, chú, bác,
cậu, mợ, thím,…) để gọi sự sật
Ví dụ: Trong bài hát “Con chim vành khuyên” của nhạc sĩ Hoàng
Vân
“ Có con chim Vành khuyên nhỏ Dáng trông thật ngoan ngoãn quá Gọi dạ, bảo vâng lễ phép ngoan nhất nhà Chim gặp bác chào mào, “ Chào bác!”.Chim gặp cô Sơn ca, “ Chào cô !” Chim gặp bác chào Chào mào,
“Chào bác !”.Chim gặp cô Sơn ca, “ Chào cô !”.Chim gặp chị Sáu nâu
“Chào chị !”
Hay trong truyện “ Dế Mèn phiêu lưu kí” Tô Hoài đã viết : “Tôi đã
quát mấy Chị Cào Cào, ngụ ngoài đầu bờ, khiến mỗi lần thấy tôi đi qua, các chị phải nép khuôn mặt trái xoan xuống dưới nhánh cỏ, chỉ dám đưa mắt lên nhìn trộm Thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên
Hay trong truyện : “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”-Truyện Ngụ ngôn
Từ đó, lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả
☼ Kiểu 2: Dùng những từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để
chỉ hoạt động, tính chất của vật
Ví dụ : Trong truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí” Tô Hoài đã dùng rất
nhiều từ ngữ nhân hóa : “Tôi đi đứng oai vệ Mỗi bước đi làm điệu dún dẩy các khoeo chân, rung lên rung xuống hai chiếc râu Cho ra kiểu cách con nhà võ Tôi tợn lắm Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn, không ai đáp lại Bởi vì quanh quẩn, ai cũng quen thuộc mình cả Không nói, có lẽ họ nể hơn là sợ Nhưng tôi lại tưởng thế là không ai dám ho he”
Trang 6Hoặc trong bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa, tác giả viết: Mối trẻ,
mối già, gà con rối rít tìm nơi ẩn nấp, ông trời mặc áo giáp đen, ra trận, cây mía múa gươm, kiến hành quân, cỏ gà rung tai nghe, bụi tre tần ngần, gỡ tóc, hàng bưởi bế lũ con, đầu tròn trọc lốc, sớm ghé xuống sân, khanh khách cười, cây dừa sải tay, bơi, ngọn mùng tơi nhảy múa…
☼ Kiểu 3: Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người.
Ví dụ :
Trong ca dao:
“ Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương !”
Hay :
“ Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.”
Sau đó hướng dẫn phân tích cho học sinh hiểu rằng : Nhân hóa, ngoài tác dụng làm cho sự vật được miêu tả trở nên sống động, gần gũi với con người (như đã nêu ở trên) còn thường xuyên được sử dụng để làm phương tiện, làm cớ để con người giãi bày tâm sự
Ví dụ :
“ Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi ! nhện hỡi, nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi ! nhớ ai sao mờ”
(Ca dao)
Những lời con nhện (Nhện ơi! Nhện hỡi, nhện chờ mối ai ), gọi sao (Sao ơi, sao hỡi ! nhớ ai sao mờ) thực chất là nỗi niềm buồn nhớ, trông chờ của con người trong đêm khuya
Đặc biệt trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái niệm tôi hướng dẫn học sinh cặn kẽ từng bước Cho học sinh đọc đoạn trích trong bài
“ Mưa” của Trần Đăng Khoa rồi hỏi : “Bầu trời được gọi bằng gì ?” (Ông) Sau đó phân tích :Ông thường được dùng để gọi người, nay được dùng để gọi trời Cách gọi như vậy làm cho trời trở nên gần gũi với người Các hoạt động : mặc áo giáp, ra trận là các hoạt động của con người.Nay dùng để miêu tả bầu trời trước cơn mưa làm tăng tính biểu cảm của câu thơ, làm quang cảnh trước cơn mưa sống động hơn
Ngoài ra, trong khổ thơ trích còn dùng những từ ngữ : Múa gươm để tả cây mía, hành quân để tả kiến
Rồi kết luận : Những cách dùng như vậy được gọi là nhân hóa (biến các sự vật không phải là người trở nên có các đặc điểm, tính chất, hoạt
Trang 7động…như con người).Trong khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu khái nệm, tôi đã hướng dẫn học sinh so sánh các cách diễn đạt :
- Ông trời mặc áo giáp đen với “ bầu trời đầy mây đen”
- Muôn nghìn cây mía múa gươm với muôn nghìn cây mía ngã nghiêng, bay phấp phới
- Kiến hành quân đầy đường với kiến bò đầy đường
Từ đó, ta thấy nhân hóa có tính hình ảnh làm cho các sự vật, sự việc được miêu tả gần gũi hơn với con người rồi hướng dẫn cho học sinh làm, giải quyết bài tập 1 thì học sinh dễ nhận diện, chỉ ra và xác định đúng nhân hóa trong ví dụ là (Bến cảng) đông vui (Tàu) mẹ, (tàu) con,( Xe) anh, (xe) em tíu tít (nhận hàng về và chở hàng ra )…
Từ sự phân tích trên, học sinh cũng dễ dàng nhận ra tác dụng của nhân hóa trong đoạn văn là làm cho bến cảng được miêu tả sinh động hơn; người đọc dễ hình dung được cảnh nhộn nhịp, bận rộn của các phương tiện có trên bến cảng và học sinh cũng dễ dàng làm bài tập 2 ( So sánh cách viết nhân hóa với cách viết bình thường) ở hai đoạn văn sách giáo khoa
Bài tập 2: So sánh hai đoạn văn để tìm sự khác nhau trong cách
diễn đạt:
Tàu mẹ, tàu con Tàu lớn, tàu bé
Tíu tít nhận hàng về và chở hàng ra Nhận hàng về và chở hàng ra
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các kiểu nhân hóa thì sau khi cho học sinh đọc ví dụ việc đầu tiên là tôi hướng dẫn học sinh tìm những sự vật được
nhân hóa trong các câu thơ, câu văn đã cho (Ví dụ a là Miệng, Tai, Mắt,
Chân, Tay; ví dụ b là “ Tre”, ví dụ c là “ Trâu”) rồi hướng dẫn cho học
sinh chỉ ra cách nhân hóa các vật trong những câu thơ, câu văn đó là:
- Dùng từ ngữ vốn gọi người để gọi sự vật (Ví dụ a)
- Dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật (Ví dụ b)
- Trò chuyện xưng hô với vật như người (Ví dụ c)
Tôi cũng đã lưu ý học sinh: Trong 3 kiểu nhân hóa, kiểu thứ 2 thường gặp nhiều hơn Cần dành nhiều thời gian hơn cho việc tìm hiểu kiểu thứ 2 Dồng thời hướng dẫn cho học sinh làm bài tập số 4 Hầu hết học sinh trong lớp xung phong làm bài tập 4 Tôi cho bốn học sinh thuộc ba đối tượng trung
Trang 8bình, yếu, kém (trầm, chậm) lại lên bảng làm bài tập rồi gọi học sinh khác (Khá, Giỏi) nhận xét rồi mới sửa chữa theo đáp án:
Các phép nhân hóa trong mỗi đoạn trích là:
a Núi ơi! (trò chuyện, xưng hô với vật như với người) (Cua, cá) tấp
nập; (cò, sếu, vạc, le ) cãi cọ om sòm: dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động,
tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật; họ (Cò, sếu, vạc,
le ); anh (cò): dùng từ ngữ vốn chỉ người để gọi vật.
b (Chòm cổ thụ) dáng mãnh liệt, đứng trầm ngâm, lặng nhìn; (thuyền) vùng vằng: dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của
người để chỉ hoạt động, tính chất của vật
c (cây) bị thương; thân mình; vết thương; cục máu: dùng từ
ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật
Để khẳng định kiến thức vừa học, tôi đặt câu hỏi để củng cố:
- Nhân hóa là gì? Có mấy kiểu nhân hóa?
Gọi hai học sinh đọc các kết luận trong phần ghi nhớ, dặn các em về nhà học thuộc rồi cho học sinh tìm thêm các ví dụ trong các truyện ký, thơ
ca đã học rồi chuyển làm bài tập 5 Như trên đã nói, đây là bài tập học sinh “vướng” nhất, chất lượng bài tập thấp nhất Để làm được bài tập số 5, tôi nhắc lại bài tập số 1,
2 rồi hướng dẫn cho học sinh làm bài tập số 3 Nghĩa là cho học sinh sự khác nhau cơ bản giữa cách viết và có cơ sở để kết luận cách viết nào thích hợp với loại văn bản nào, cần phải lập bảng so sánh, đối chiếu từ ngữ trong mỗi cách viết (làm tương tự như bài tập 2 ở trên).
Trong họ hàng nhà chổi Trong các loại chổi
Có chiếc váy vàng óng Tết bằng rơm nếp
Cuốn từng vòng quanh
người trông cứ như áo len vậy
Quấn quanh thành cuộn
So sánh sự diễn đạt trong 2 cách trên, ta thấy: trong cách 1 tác giả dùng nhiều phép nhân hóa (các từ gạch chân), ngay từ chổi rơm cũng được viết hoa như tên riêng của người làm cho việc miêu tả chổi gần với
Trang 9cách miêu tả người Như vậy, rõ ràng cách 1 có tính biểu cảm cao hơn, chổi rơm trở nên gần gũi với người hơn, sống động hơn
1 Ngoài ra, trong quá trình phân tích tôi còn hướng dẫn học sinh hiểu giá trị nghệ thuật của phép nhân hóa trong câu văn vì học sinh thực sự thấy được cái hay của phép nhân hóa trong câu văn thì mới cố gắng luyện tập
* Cách làm: phân tích – giảng dạy các ví dụ
Ví dụ:
- Cứ thế, hai ba năm nay rừng Xà Nu ưỡn tấm ngực lớn của mìnhra che chở cho làng
- Cho học sinh dùng phép nhân hóa: ưỡn tấm ngực, che
chở
- Yêu cầu học sinh nêu cách hiểu của mình:
- Giáo viên:
* Giảng
- Ưỡn tấm ngực: biểu hiện với tư thế hiên ngang, sẵn sàng
với mọi thử thách
- Che chở: Muốn nói đến sự bảo vệ.
dù bom đạn tàn phá, rừng Xà Nu vẫn xanh tốt, vẫn sống mãnh liệt
Sức sống mãnh liệt, kiên cường của con người trước sự độc đáo của quân thù
Sau đó tóm lại cho học sinh thấy hai điều ở ví dụ này:
- Nội dung: ca ngợi đất nước, con người miền núi trong chiến tranh
- Nghệ thuật: dùng phép nhân hóa giúp cho câu văn thêm gợi cảm, sinh động
- Dùng cách diễn đạt cùng nghĩa nhưng không nhân hóa để học sinh nhận xét
Ví dụ:
Cách 1: Cách nói bình thường
Trang 10Kiến bò đầy đường
Cách 2: Cách nói sử dụng nghệ thuật nhân hóa.
Kiến
Hành quân
Đầy đường
(Trần Đăng Khoa)
Nhận xét: Cách nói nhân hóa giàu hình ảnh hơn, làm cho sự vật trở nên gần gũi với con người
2 Yêu cầu học sinh tìm, nắm vững một số từ vốn gọi người để gọi vật: cô, chú, bác, chị, anh (tùy theo tình cảm, ngữ cảnh)
Ví dụ: Cô Mắt, bác Tai, chị Chổi, chú Ếch, anh Dế Mèn
Đặt câu:
- Cô Mắt, bác Tai, cậu Chân, cậu Tay thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không tị ai cả
- Chị Chổi Rơm vào loại xinh xắn nhất
3 Dùng từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật
a Ủ rủ (tính cách con người)
tìm sự vật (lá cây)
Đặt câu: Lá cây ủ rủ dưới nắng
b Thở than (hành động của con người)
Tìm sự vật (Dế Mèn trong đêm )
Đặt câu: Dế thở than trong đêm
c Cười:
Tìm sự vật (hoa)
Đặt câu: Hoa cười dưới ánh nắng sớm ban mai
4 Dùng Hô ngữ để trò chuyện, xưng hô với vật như cới người
- Gạch dưới những từ ngữ vốn dùng gọi người để đặt câu
Ví dụ:
Chim ơi đừng bay nhé
Mây ơi
Gió ơi! Đừng thổi nữa.
Sao ơi!
Trâu ơi! Ta bảo trâu này