Chủ đề 6: BÀN VỀ TỰ DO BÁO CHÍ I. KHÁI NIỆM VỀ TỰ DO VÀ TẤT YẾU Đây là 2 phạm trù triết học. Để hiểu tự do và tất yếu một cách khoa học thì chúng ta phải dựa vào sự thừa nhận mối quan hệ qua lại một cách biện chứng hữu cơ giữa chúng. 1. Tự do là gì? Có rất nhiều khái niệm về tự do được đưa ra từ trước đến nay. Theo John Locke ( nhà chính trị học, triết học người Anh thế kỉ 17 ), “ Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kì cản trở nào”. Đây là định nghĩa nguyên thủy nhất về tự do, và tự do ở đây mang tính bản năng. Tuy nhiên, định nghĩa này có những hạn chế nhất định, thể hiện ở chỗ nếu tự do chỉ thuần túy là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào thì sẽ có rất nhiều người nhân danh tự do để thỏa mãn những mong muốn hay tham vọng cá nhân của mình, phá hoại trật tự xã hội, và do đó, làm phương hại đến sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng. Theo Spinoza ( nhà toán học, triết học người Hà Lan vào thế kỉ 17 ), “ tự do là sự nhận thức được tính tất yếu” Ông đã đề cập đến tự do trong mối quan hệ với cái tất yếu : con người càng nhận thức một cách chính xác, rõ ràng và toàn diện về cái tất yếu bao nhiêu thì càng tự do bấy nhiêu. Chỉ đến triết học Mác – Lenin mới chỉ rõ một cách khoa học và thấu đáo về cặp phạm trù triết học này. Họ đề cập đến “ tự do tất yếu” trong mối quan hệ với “trách nhiệm”. Ăngghen chỉ rõ : “không thể bàn luận về đạo đức và quyền hạn nếu không bàn tới vấn đề về khả năng chịu trách nhiệm của con người, về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do …” Con người càng nhận thức được trách nhiệm càng có tự do, và khi có tự do thì phải gắn liền với trách nhiệm. Đây là mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. 2. Cái tất yếu Cái tất yếu được hiểu là các quy luật tự nhiên và xã hội
Trang 1Môn Báo chí và Thông tin Đối ngoại
Nhóm thuyết trình – Lớp CT38A
• Cù Thị Ngọc Lan
• Trịnh Thị Vân Anh
• Bùi Ngọc Diệp
• Nguyễn Thu Hà (MSV: CT38A – 0011)
• Cao Thị Hà Ly
• Trần Đức Lợi
• Nguyễn Thị Hải Yến
• Soukphonexay Malavong
Trang 2Chủ đề 6: BÀN VỀ TỰ DO BÁO CHÍ
I KHÁI NIỆM VỀ TỰ DO VÀ TẤT YẾU
Đây là 2 phạm trù triết học Để hiểu tự do và tất yếu một cách khoa học thì chúng
ta phải dựa vào sự thừa nhận mối quan hệ qua lại một cách biện chứng hữu cơ giữa chúng
1 Tự do là gì?
Có rất nhiều khái niệm về tự do được đưa ra từ trước đến nay
- Theo John Locke ( nhà chính trị học, triết học người Anh thế kỉ 17 ), “ Tự
do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn
mà không gặp bất kì cản trở nào”.
Đây là định nghĩa nguyên thủy nhất về tự do, và tự do ở đây mang tính bản năng Tuy nhiên, định nghĩa này có những hạn chế nhất định, thể hiện ở chỗ nếu tự
do chỉ thuần túy là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn
mà không gặp bất kỳ cản trở nào thì sẽ có rất nhiều người nhân danh tự do để thỏa mãn những mong muốn hay tham vọng cá nhân của mình, phá hoại trật tự xã hội,
và do đó, làm phương hại đến sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng
Trang 3- Theo Spinoza ( nhà toán học, triết học người Hà Lan vào thế kỉ 17 ), “ tự do
là sự nhận thức được tính tất yếu”
Ông đã đề cập đến tự do trong mối quan hệ với cái tất yếu : con người càng nhận thức một cách chính xác, rõ ràng và toàn diện về cái tất yếu bao nhiêu thì càng tự do bấy nhiêu
Chỉ đến triết học Mác – Lenin mới chỉ rõ một cách khoa học và thấu đáo về cặp phạm trù triết học này Họ đề cập đến “ tự do - tất yếu” trong mối quan hệ với
“trách nhiệm” Ăngghen chỉ rõ : “không thể bàn luận về đạo đức và quyền hạn nếu không bàn tới vấn đề về khả năng chịu trách nhiệm của con người, về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do …” - Con người càng nhận thức được trách nhiệm
càng có tự do, và khi có tự do thì phải gắn liền với trách nhiệm
Đây là mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau
2 Cái tất yếu
- Cái tất yếu được hiểu là các quy luật tự nhiên và xã hội
- Tất yếu (tất nhiên) là do cái bản chất, do những nguyên nhân bên trong của
sự vật, hiện tượng quyết định và trong những điều kiện nhất định nó sẽ xảy
ra đúng như thế chứ không thể khác được
- Ví dụ: Xã hội có sự phân chia ra thành giai cấp đối kháng thì nhất định phải
có đấu tranh giai cấp
3 Mối quan hệ giữa tự do và tất yếu
- Tự do và tất yếu là hai phạm trù triết học phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động có mục đích của con người với quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội Nhìn chung, các nhà triết học trước Mac đều coi tự do và tất
Trang 4yêu là hai khái niệm đối lập nhau, loại trừ nhau Phần lớn các nhà duy tâm chủ nghĩa coi ý chí tự do là hành động không phụ thuộc vào hoàn cảnh khách quan Ngược lại, thuyết định mệnh trong chủ nghĩa duy vật máy móc phủ nhận tự do ý chí và cho rằng mọi hành động của con người đều do hoàn cảnh bên ngoài quyết định Chủ nghĩa Mac - Lênin phê phán cả hai quan điểm cực đoan nói trên và khẳng định rằng tự do thật sự là dựa trên sự nhận thức được tất yếu khách quan tồn tại dưới hình thức các quy luật của tự nhiên và xã hội, đánh giá đúng điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của con người
- Tự do là tất yếu được nhận thức và biến thành hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới và cải tạo bản thân con người Càng nhận thức sâu sắc và toàn diện quy luật tất yếu bao nhiêu, thì hoạt động của con người càng tự do và sáng tạo bấy nhiêu Dưới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản do đông đảo nhân dân lao động tự giác xây dựng một cách có lãnh đạo và có tổ chức đúng đắn, con người mới có điều kiện nhận thức tính tất yếu lịch sử một cách toàn diện, sâu sắc, và mới thực sự có tự do và sáng tạo
II TÍNH GIAI CẤP CỦA BÁO CHÍ
Lenin: “Giai cấp là những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về
quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ hưởng.”
Trong XH tồn tại các giai cấp khác nhau, quyền lợi khác nhau thì mọi hành động của con người trong XH dù ít hay nhiều đều liên quan đến giai cấp
Trang 5Báo chí là hoạt động có ý thức và mục đích của con người, là hoạt động chính trị
-xã hội bằng nghiệp vụ, có vai trò to lớn trong đời sống hằng ngày của các tầng lớp nhân dân Báo chí không chỉ liên quan đến giai cấp mà còn mang tính giai cấp Dưới đây, ta sẽ thấy những biểu hiện của tính giai cấp trong báo chí :
- Mỗi tờ báo đều có mục tiêu để tồn tại, không gì khác là những mục tiêu xã hội: giải quyết các vấn đề xã hội, giữa các giai cấp Đó là phương hướng hoạt động của mỗi tờ báo Và dĩ nhiên, nó thể hiện tính giai cấp rõ rệt
- Tính giai cấp của báo chí thể hiện rõ nhất thông qua bản thân nhà báo Thứ nhất, mỗi người làm báo đều thuộc một giai cấp và cố gắng trong vô thức hoặc hữu ý bảo vệ lợi ích giai cấp của mình; và thể hiện điều đó bằng những chiều hướng đánh giá ẩn phía sau những hành ngôn khách quan Thứ hai, sự lựa chọn
và chiều hướng đánh giá vấn đề của mỗi người làm báo đều bị chi phối bởi ý thức giai cấp
Nhà báo dù muốn hay không cũng phải đứng về một giai cấp nào đó và hoạt động dưới sự chi phối của giai cấp đó Quyền lợi vật chất và tinh thần đòi hỏi nhà báo phải thể hiện rõ ràng về tư tưởng và hành động Ý thức được điều này, nhà báo sẽ góp phần hiệu quả hơn vào cuộc đấu tranh vì quyền lợi giai cấp mà mình phục vụ
Nói tóm lại, trong xã hội có giai cấp thì báo chí cũng mang tính giai cấp Báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranh giai cấp Các thế lực chính trị, các tổ chức xã hội, các tập đoàn kinh tế đều sử dụng báo chí như một công cụ sắc bén phục vụ cho lợi ích của mình Vì vậy, báo chí có quan hệ chặt chẽ với các giai cấp xã hội
TÍNH GIAI CẤP CỦA BÁO CHÍ VIỆT NAM
Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi báo chí là vũ khí sắc bén để tuyên truyền, tập hợp tổ chức và giáo dục nhân dân Báo chí cách mạng VN thừa
Trang 6nhận tính giai cấp và mang trong mình bản chất cách mạng, khoa học của giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp tri thức dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN
- Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức đoàn thể xã hội và
là diễn đàn của nhân dân
- Báo chí nước takhẳng định độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
- Báo chí phản ánh, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Báo chí là công cụ cổ động, tuyên truyền và tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối của Đảng vào cuộc sống, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn xã hội để xây dựng và bảo vệ đất nước
- Báo chí làvũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong XH đồng thời chống lại các thế lực phản động trong và ngoài nước để bảo vệ lợi ích chung của Đảng và nhân dân
- Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế Trong bối cảnh đó, tính giai cấp của báo chí nước ta thể hiện quan
điểm nhất quán của Đảng ta về “đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, rộng
mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, VN sẵn sàng là bạn,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, phát triển”.
III QUAN ĐIỂM VỀ TỰ DO BÁO CHÍ
1 Quan điểm chung
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, báo chí là lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội và mang tính giai cấp rất rõ nét Khi xã hội còn phân chia thành
Trang 7các giai cấp có quyền lợi khác nhau, thậm thí đối lập nhau, thì báo chí khó có thể thoát ly tính giai cấp, khó có tự do tuyệt đối Bởi, nếu có tự do báo chí cho giai cấp này thì tất yếu phải hạn chế tự do báo chí với các giai cấp khác Do đó, “tự do báo chí là mục tiêu phấn đấu của con người nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp, thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một cách công khai qua các phương tiện thông tin đại chúng, không hề bị một sự lệ thuộc, một sự hạn chế nào”
Theo PGS TS Tạ Ngọc Tấn, “Đối với chủ nghĩa xã hội, tự do báo chí là một mục tiêu phấn đấu để làm cho mọi thành viên trong xã hội có những điều kiện thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu viết báo, đọc báo, mua báo, tức là sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng một cách tự do nhất, được pháp luật và dư luận xã hội đảm bảo”
Theo GS Jane Kirley (Trung tâm Silha về Đạo đức truyền thông và luật tại Trường Báo chí và truyền thông đại chúng thuộc Đại học Minnesota), để có tự do báo chí phải có ba yếu tố cơ bản là:
- Thứ nhất, một nền báo chí tự do và độc lập là điều thiết yếu của bất kỳ xã
hội tự do nào Điều đó có nghĩa là, một nền báo chí không phải chịu những kiểm soát và quy định không phù hợp của chính phủ, một nền báo chí không chịu ảnh hưởng tài chính từ khu vực tư nhân, trong đó có các công ty quảng cáo, hay những áp lực kinh tế và kinh doanh từ các công ty tư nhân Một nền báo chí tự do và độc lập phải đem đến cho độc giả, khán giả và thính giả những thông tin mà họ cần để có thể tham gia đầy đủ với tư cách là công dân của một xã hội tự do
- Thứ hai, một nền báo chí tự do phải là nền báo chí dũng cảm và sẽ đưa tin
về những câu chuyện quan trọng đối với độc giả và khán giả mà không phải
sợ sệt điều gì hay không thiên vị một bên nào Nền báo chí đó sẽ thách thức
Trang 8các giả định, sẽ nghi vấn nhà chức trách, và sẽ chỉ biết đi tìm sự thật, cho dù
sự tìm kiếm đó sẽ dẫn đến đâu – có thể đến tận những nơi quyền lực cao nhất, đến tận những người sở hữu các cơ quan báo chí, và thậm chí ngay cả khi điều đó dẫn đến cái chết
- Thứ ba, một nền báo chí tự do phải là một nền báo chí có trách nhiệm Quan
điểm về trách nhiệm khác nhau ở từng nước, và thậm chí là khác nhau theo từng năm Đối với nhiều người, chuẩn mực trong thời bình và ổn định có thể rất khác với chuẩn mực trong thời chiến hay lúc quốc gia nguy cấp Tuy nhiên, một số nguyên tắc căn bản vẫn không hề thay đổi Một nền báo chí tự
do phải biết đi tìm sự thật và phải đưa tin về điều đó Nền báo chí đó sẽ không biết mệt mỏi trong việc tìm kiếm và đạt đến tính chính xác Báo chí không bao giờ được phép đưa tin sai sự thật trong khi biết rõ điều đó
Tự do báo chí hay tự do thông tin là một trong những quyền căn bản nhất của con người, được hầu hết các quốc gia công nhận bằng văn bản luật, thậm chí Hiến pháp Đó là quyền được công khai phát biểu ý kiến của mình mà không bị kiểm duyệt hoặc hành hạ Tuy nhiên, việc thực hiện quyền tự do báo chí ở mỗi quốc gia có thực giả và mức độ hoàn toàn khác nhau
Quyền tự do ngôn luận đã được Liên Hiệp Quốc công nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền vốn được hầu hết các nước trên thế giới chuẩn thuận
Cách nói khái quát khác: Tự do báo chí là một trong những quyền căn bản
nhất của con người; thể hiện quan điểm, ý chí, tình cảm của mình, giai cấp mình trước các vấn đề của đời sống xã hội qua phương tiện thông tin đại chúng mà không bị một sự lệ thuộc, hạn chế nào; được hầu hết các công ước quốc tế, hiến pháp và pháp luật quốc gia công nhận Tuy nhiên, trong xã hội còn tồn tại giai cấp, còn tranh giành quyền lợi giữa các quốc gia, tập đoàn thì tự do báo chí ở nước này
hay nước khác, chế độ này hay chế độ khác có mức độ khác nhau
Trang 92 Quan điểm của Việt Nam
Ở VN, tất cả các họat động trong lĩnh vực truyền thông nằm dưới sự quản lý của Nhà nước và dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý trong lĩnh vực truyền thông và thông tin tuyên truyền đối ngoại có quan hệ chặt chẽ với nhau và được thể chế hóa bằng các quy định và hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền tự do báo chí, quyền được tạo điều kiện và được bảo vệ khi hành nghề “Báo chí là công cụ của Đảng, đồng thời là diễn đàn của nhân dân”, là luận điểm có tính xuyên suốt trong sự chỉ đạo của Đảng trong lĩnh vực quan trọng này
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản của con người luôn được Đảng, Nhà nước ta xem là một thuộc tính, một bản chất của chế độ ta
- Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Điều 10 đã ghi rõ: “Công dân
VN có quyền tự do ngôn luận”
- Điều 15, Hiến pháp năm 1959 bổ sung: “Công dân nước VN có các quyền tự
do ngôn luận, báo chí”
- Điều 67, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “Công dân có các quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí”
- Cùng với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Điều 69, Hiến pháp năm
1992 bổ sung: “Công dân có quyền được thông tin.”
- Kế thừa nội dung các bản Hiến pháp trước, Điều 26 thuộc Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”
Trang 10 Như vậy, trên phương diện pháp lý, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ khi
ra đời đến nay đều khẳng định nhất quán, trước sau như một quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân Nếu như một số quyền khác của con người được đề cập, bổ sung, phát triển ở các bản Hiến pháp sau này, thì quyền tự do báo chí đã được Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm ngay sau khi chế độ dân chủ và chính quyền nhân dân được xác lập Điều này như một minh chứng sinh động để khẳng định Nhà nước ta từ khi ra đời đến nay luôn coi trọng quyền tự do báo chí chân chính của nhân dân
Thêm vào đó, Luật báo chí năm 1989 cũng đã có quy định bảo vệ cho quyền
tự do báo chí, quyền tự do báo chí của công dân, từ đó làm tăng cường vai trò của người làm báo Điều 2 Luật báo chí năm 1989 đã nêu:
“- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình
- Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí
để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân.”
Hiện nay chỉ cần họat động trong khuôn khổ pháp luật, không cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để bày tỏ công khai chống Đảng, Nhà nước, xâm hại lợi ích quốc gia dân tộc, xâm phạm lợi ích của tổ chức và công dân khác thì mọi người dân nói chung hay nhà báo nói riêng đều có thể bày tỏ ý kiến của mình
Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng và nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc rằng tự do báo chí không chỉ là một trong những quyền cơ bản của con
Trang 11người, mà còn là một trong những động lực quan trọng để mở rộng, phát huy dân chủ – một nguồn lực nội sinh góp phần thúc đẩy đất nước phát triển bền vững Do vậy, không thể có đổi mới, dân chủ và phát triển nếu không tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của nhân dân
IV THỰC TIỄN TỰ DO BÁO CHÍ
1 Ở một số quốc gia
1.1 Mỹ
- Tất cả các báo in, đài phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử ở Mỹ tồn tại vì mục đích kinh tế, lợi nhuận; nếu không có lợi nhuận, thua lỗ thì chắc chắn phải đóng cửa Vì lợi nhuận, cho nên báo chí Mỹ chỉ tập trung ưu tiên những thông tin giải trí, các vụ bê bối của các ngôi sao, giật gân câu khách
mà ít quan tâm đến những vấn đề an sinh xã hội, càng ít thông tin các sự kiện và vấn đề thời sự chính trị, quốc tế nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của công chúng
- Tự do báo chí ở Mỹ bị chi phối bởi các tập đoàn truyền thông và sức mạnh quyền lực chính trị
- Báo chí Mỹ có xu hướng liên kết với nhau tạo thành những tập đoàn lớn Hiện ở Mỹ có khoảng 8 tập đoàn truyền thông lớn nhất và chi phối 90% thị phần truyền thông quốc tế Những tập đoàn này đang từng bước làm thay đổi nền chính trị và định hướng các giá trị xã hội: Walt Disney, Time Warner, Google, Yahoo, Microsoft, Viacom, News Corporation, General Electric
- Một số tờ báo của Mỹ nổi tiếng và có số lượng bản in nhiều nhất trên khắp thế giới như: The Wall Street Journal, The USA Today, The New York Times,… và 4 hãng truyền thông lớn: CNN, ABC, NBC, CBS