LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Trong lịch sử từ xa xưa đến nay, không một cộng đồng, một quốc gia hay một dân tộc nào có thể phát triển bình thường mà không quan hệ không trao đổi giao lưu trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, … với các cộng đồng dân tộc và các quốc gia khác. Do đó quan hệ quốc tế xuất hiện với tư cách là quan hệ lâu đời và phổ biến. Nó vừa là điều kiện, vừa là kết quả cần thiết cho mọi quá trình phát triển xã hội. Toàn cầu hoá đã trở thành một xu thế khách quan. Trong hơn một thập kỷ lại đây xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới có sự gia tăng mạnh mẽ gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới chuyển sang thời kỳ mới – hoà bình hợp tác và phát triển. Sự gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế kéo theo nó là những cơ hội và thách thức mới cho các quốc gia khi tham gia vào quá trình đó. Việt Nam đang trong quá trình đổi mới chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc đẩy mạnh tham gia vào hội nhập kinh tế thế giới là một nội dung, một khía cạnh quan trọng hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sâu về toàn cầu hoá kinh tế là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn. Chính vì vậy mà nhóm 4 chọn đề tài “xu hướng toàn cầu hóa” làm đề tài viết tiểu luận. 2. Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các xu hướng toàn cầu hóa nhằm mục đích tìm hiểu các tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối với Việt Nam và đẩy mạnh việc hội nhập sâu và rộng của Việt Nam. 3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu: a.Đối tượng nghiên cứu Tiểu luận tập trung vào nghiên cứu các xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. b.Phạm vi nghiên cứu: Không gian: nghiên cứu xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới Thời gian: Từ thế kỷ XX đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, phương pháp quy nạp, phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp so sánh theo thời gian, phương pháp đồ thị và biểu đồ. 5.Cấu trúc đề tài: Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, khóa luận được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Khái niệm toàn cầu hóa Chương 2: Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế Chương 3: Thời cơ và thách thức với Việt nam trong xu thế toàn cầu hóa
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Trong lịch sử từ xa xưa đến nay, không một cộng đồng, một quốc gia haymột dân tộc nào có thể phát triển bình thường mà không quan hệ không trao đổigiao lưu trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, … với các cộngđồng dân tộc và các quốc gia khác Do đó quan hệ quốc tế xuất hiện với tư cách làquan hệ lâu đời và phổ biến Nó vừa là điều kiện, vừa là kết quả cần thiết cho mọiquá trình phát triển xã hội Toàn cầu hoá đã trở thành một xu thế khách quan.Trong hơn một thập kỷ lại đây xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới có sự giatăng mạnh mẽ gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự chấm dứtchiến tranh lạnh, thế giới chuyển sang thời kỳ mới – hoà bình hợp tác và pháttriển Sự gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế kéo theo nó là những cơ hội
và thách thức mới cho các quốc gia khi tham gia vào quá trình đó
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới chuyển sang phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc đẩy mạnh tham gia vào hội nhập kinh tếthế giới là một nội dung, một khía cạnh quan trọng hiện nay Do vậy, việc nghiêncứu tìm hiểu sâu về toàn cầu hoá kinh tế là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lý
luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn Chính vì vậy mà nhóm 4 chọn đề tài “xu hướng toàn cầu hóa” làm đề tài viết tiểu luận.
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu các xu hướng toàn cầu hóa nhằm mục đích tìm hiểu các tácđộng của toàn cầu hóa kinh tế đối với Việt Nam và đẩy mạnh việc hội nhập sâu vàrộng của Việt Nam
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu:
a.Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập trung vào nghiên cứu các xu hướng toàn cầu hóa kinh tế vàViệt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
Trang 2b.Phạm vi nghiên cứu: - Không gian: nghiên cứu xu hướng toàn cầu hóa trên thế
giới
- Thời gian: Từ thế kỷ XX đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
Tiểu luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phântích, phương pháp quy nạp, phương pháp tổng hợp số liệu, phương pháp so sánhtheo thời gian, phương pháp đồ thị và biểu đồ
5.Cấu trúc đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu thamkhảo, mục lục, khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Khái niệm toàn cầu hóa
Chương 2: Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế
Chương 3: Thời cơ và thách thức với Việt nam trong xu thế toàn cầu hóa
\
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
3 TNCs Các công ty xuyên Quốc gia
5 M&A Mua lại và sát nhập
6 UNDP Chương trình phát triển liên hiệp Quốc
UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về hợp tác và phát triển
8 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
9 NAFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
10 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
11 ASEM Diễn đàn hợp tác Á Âu
12 IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
14 WTO Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 4Bảng 2.1: Xu hướng dài hạn trong giá trị và khối lượng xuất khẩu hàng hóa của thế giới thời kỳ 1950 – 2010………11Bảng 2.2: Tăng trưởng GDP và xuất khẩu hàng hóa của thế giới thời kỳ 1995 – 2004……….12Bảng 2.3: Dòng vốn FDI trên thế giới thời kỳ 1970-2010……… 14
MỤC LỤC
Trang 5CHƯƠNG 1 : TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ……… 6
1.1 Khái niệm………6
1.2 Nguồn gốc của toàn cầu hóa 6
1.3 So sánh toàn cầu hóa với quốc tế hóa 8
CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ 10
2.1 Các xu hướng toàn cầu hóa kinh tế 10
2.2 Hệ quả tích cực của Toàn cầu hóa kinh tế 20
2.3 Hệ quả tiêu cực của Toàn cầu hóa kinh tế 21
CHƯƠNG 3: THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA 23
3.1 Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa 23
3.2 Cơ hội 26
3.3 Thách thức 27
CHƯƠNG 1 : TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ
Trang 61.1 Khái niệm
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và
trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữacác quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v trên quy
mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng đểchỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự dothương mại" nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tưbản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ,thông tin, văn hoá
Thực chất toàn cầu hoá kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạtđộng kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực tạo ra sự phụ thuộc lẫnnhau gữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tếthế giới thống nhất Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ
và quy mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trênphạm vi toàn cầu hoá Quá trình tham gia vào xu thế đó là của các quốc gia đượcgọi là hội nhập kinh tế
Toàn cầu hoá là một xu hướng bao gồm đa phương diện: kinh tế, chính trị,văn hoá, xã hội.v.v Trong các mặt đó thì toàn cầu hoá kinh tế vừa là trung tâm vừa
là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của toàn cầu hoá Toàncầu hóa về kinh tế là sự liên kết của nhiều nước cùng trong chiều hướng phát triểnchung, cùng tham gia trong một thị trường chung Toàn cầu hóa kinh tế gúp thúcđẩy nhanh chóng quan hệ kinh tế thương mại trên phạm vi quốc tế và nó cũngchứa đựng những cơ hội cũng như những thách thức lớn
1.2 Nguồn gốc của toàn cầu hóa
Trang 7Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, toàn cầu hoá nói chung bắtnguồn từ những giao lưu văn hóa, buôn bán, di dân; từ sự mở rộng các tôn giáo rangoài biên giới các quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các công ty xuyênquốc gia, các ngân hàng, các tổ chức quốc tế, sự trao đổi công nghệ, sự phát triểngắn với hiện đại hoá… Toàn cầu hoá kinh tế là kết quả của sự quốc tế hoá sản xuấtcao độ và phân công quốc tế, nó xuất hiện và phát triển cùng với thị trường thế
giới.
Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất phát triển thấp, giao thôngkém phát triển, quy mô sản xuất và trao đổi nhỏ bé, thị trường khép kín, không cóthị trường mang ý nghĩa hiện đại
Khi nền sản xuất tư bản phát triển, thị trường thế giới mở rộng, C.Mác vàPh.Ăngghen đã viết: “Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng những sảnphẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thoả mãn bằngnhững sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về Thay cho tình trạng côlập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triểnnhững quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”[1]
Luận điểm này của C.Mác và Ph.Ăngghen cho thấy, sự quốc tế hoá, toàncầu hoá đời sống kinh tế đã được bắt đầu từ khi chủ nghĩa tư bản mở rộng thịtrường thế giới, khi phát hiện ra châu Mỹ cách đây hơn 500 năm Sự phát triển củaquốc tế hoá đời sống kinh tế lúc đầu còn theo ngành dọc, theo hệ thống thuộc địacủa các nước đế quốc thực dân, trên cơ sở sự phân công quốc tế và xuất khẩu tưbản xuất phát từ các chính quốc đến các nước thuộc địa, thông qua bạo lực và bóclột kinh tế Khi chủ nghĩa đế quốc xuất hiện, trong điều kiện cạnh tranh gay gắtgiữa các thế lực đế quốc trong phân chia thuộc địa và thị trường thế giới, sự quốc
tế hoá đời sống kinh tế đã mở rộng cả theo chiều ngang Rồi các cuộc chiến tranhthế giới lần thứ nhất và lần thứ hai nổ ra, quan hệ chính trị và kinh tế thế giới đảolộn, khủng hoảng và biến động, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế bị đẩy lùi
Trang 8Sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới vào năm 1917
và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành sau chiến tranh thế giới lần thứhai tạo nên một kiểu quan hệ mới giữa các quốc gia dân tộc Kiểu quan hệ mới nàybước đầu mở ra kiểu quốc tế hoá đời sống kinh tế mới, dựa trên tính ưu việt của hệthống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhằm khắc phục sự bất bình đẳng trong quan hệquốc tế của chủ nghĩa tư bản, đặt nền móng cho sự quốc tế hoá chân chính Song,
do những thăng trầm của lịch sử, trong những năm 90 của thế kỷ XX, Liên Xô sụp
đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, kiểu quan hệ kinh tế quốc tế này đã kết thúc
Tuy nhiên, lực lượng sản xuất vẫn ngày càng phát triển Cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức hình thành, đờisống kinh tế quốc tế hoá, toàn cầu hoá; các trung tâm tư bản chủ nghĩa phát triển
và trở thành lực lượng chi phối thế giới Có thể nói, từ sau chiến tranh lạnh, toàncầu hoá kinh tế dường như chủ yếu gắn liền với chủ nghĩa tư bản
Mặc dù vậy, trên thực tế hiện nay vẫn tồn tại một số nước xã hội chủ nghĩa
và những nước này đang phát triển Do vậy, nghiên cứu toàn cầu hoá kinh tếkhông thể bác bỏ một thực tiễn lịch sử là toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra trongbối cảnh hình thành cục diện kinh tế đa cực, hình thành một trật tự kinh tế, chínhtrị quốc tế mới, trong đó có hình thức phát triển, hợp tác, cạnh tranh và cùng nhauphồn vinh của các quốc gia dân tộc Và khái niệm toàn cầu hoá hiện đại muốn bàn
ở đây là nói đến xu thế khách quan đang diễn ra trong thời đại hiện nay
1.3 So sánh toàn cầu hóa với quốc tế hóa
Toàn cầu hóa là đỉnh cao của quá trình quốc tế hóa, trong đó quốc tế hóa làviệc lưu thông hóa quá trình tái sản xuất sức lao động bao gồm hàng hóa, vốn vàsức lao động Cả toàn cầu hóa và quốc tế hóa đều nhằm góp phần tạo gia các mốiliên kết giữa các quốc gia
Trang 9Quốc tế hoá thì các quốc gia dân tộc vẫn phân biệt với nhau những địa điểm biệt lập, giữa chúng vấn có những khoảng cách, và chúng vấn đóng vai trò là một tác nhân chủ chốt trong nền kinh tế thế giới Toàn cầu hoá thì tạo ra các mối liên kết rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian
Trang 10CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ
2.1 Các xu hướng toàn cầu hóa kinh tế
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, toàn cầu hoá nói chung bắtnguồn từ những giao lưu văn hóa, buôn bán, di dân; từ sự mở rộng các tôn giáo rangoài biên giới các quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các công ty xuyênquốc gia, các ngân hàng, các tổ chức quốc tế, sự trao đổi công nghệ, sự phát triểngắn với hiện đại hoá… Về bản chất, toàn cầu hoá kinh tế là kết quả của sự quốc tếhoá sản xuất cao độ và phân công quốc tế, nó xuất hiện và phát triển cùng với thịtrường thế giới.
Toàn cầu hóa trước hết được biểu hiện ở sự định hình nền kinh tế tri thức,
mà trọng tâm là bước ngoặt mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ.Những thành tựu khoa học kỹ thuật đạt được đã làm giảm đáng kể chi phí vậnchuyển và liên lạc, qua đó đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa Chi phí vận tải biểnngày nay giảm 1/2 lần so với năm 1930, vận tải hàng không chỉ bằng 1/6 Giá mộtchiếc máy tính vào năm 1990 chỉ bằng 1/125 so với năm 1960, mức giá đó còntiếp tục giảm tới 80% vào năm 1998 Những thành tựu khoa học công nghệ giúpgiảm chi phí đầu tư và thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho quá trình hình thành
và phối hợp sản xuất toàn cầu Ví dụ, một chiếc ô tô Lyman của Ford được thiết kếtại Đức, hế thống số của nó được sản xuất tại Hàn Quốc, bộ phận bơm dầu đượcchế tạo ở Mỹ và động cơ ở Úc Chính sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tạo nênsản phẩm mang tính toàn cầu đó Thêm vào đó, sự phát triển của loại hình kinh tếdựa trên mạng lưới này cũng đã hình thành nên những công ty mà đối với họ khókhăn về khoảng cách và rào cản ranh giới quốc gia là không còn
Sự phát triển của công nghệ làm cho nền kinh tế thế giới bắt đầu có sự dịchchuyển cơ cấu, từ những ngành kinh tế như luyện kim, điện lực, sản xuất ô tô, xi
Trang 11măng, đã bắt đầu xuất hiện các ngành kinh tế mới phát triển nhanh như điện tử –bán dẫn, máy tính, viễn thông…, trong đó các dịch vụ liên quan đến thông tin(ngân hàng, tư vấn, thiết kế, bảo hiểm…) phát triển mạnh
Các ngành công nghệ cao được hình thành và trở thành những mũi nhọnkinh tế của các quốc gia Trước hết, phải kể đến công nghệ thông tin Công nghệthông tin bao gồm cả phần cứng, như chế tạo các mạch vi điện tử, máy vi tính,mạng máy tính… và các phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng Ngoài ra, phải
kể đến các loại thiết bị viễn thông, điện tử y tế, điện tử quốc phòng… Có thể nói,công nghệ thông tin là công nghệ cốt lõi tạo ra điều kiện kỹ thuật của toàn cầu hoánhờ hệ thống thông tin toàn cầu mà bao gồm cả hệ thống Internet Thứ hai là côngnghệ sinh học, việc tạo ra những sinh vật và nhân giống chúng một cách tối ưu đã
mở ra những triển vọng vô cùng to lớn trong việc tăng năng suất lao động, giải đápnhững vấn đề nhu cầu cuộc sống mà loài người trước đây chưa từng biết đến Thứ
ba là các công nghệ khác như công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới,công nghệ hàng không vũ trụ… ra đời, mở ra những tiềm năng mới, triển vọngmới Thứ tư là tự động hoá trong sản xuất Tự động hoá trong sản xuất giải phóngcon người khỏi những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tạo ra nhiều sản phẩm cho
xã hội
Nếu những thành tựu khoa học kỹ thuật và sự phát triển không ngừng củacông nghệ thông tin được coi như là lực đẩy kỹ thuật trong quá trình toàn cầu hóathì những cải cách theo định hướng thị trường đang diễn ra ở nhiều nước trên thếgiới lại được coi như một lực đẩy cơ chế trong quá trình này Trong khuôn khổ củaGATT và WTO, nhiều quốc gia đang dần cắt giảm thuế và các hàng rào phi thuếquan, tiến hành mở cửa thị trường và tiếp nhận các luồng vốn đầu tư Từ đókhuyến khích sự gia tăng của đầu tư và thương mại Bên cạnh đó, sự chuyển đổicủa các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang kinh tế thị trường cũng
đã làm cho những nền kinh tế này nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế toàn cầu
Trang 12Biểu hiện tiếp theo cần nhấn mạnh trong quá trình toàn cầu hóa là xu hướnggia tăng nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế Từ sau Chiến tranh thế giớithứ hai đến nay, giá trị trao đổi thương mại trên phạm vi quốc tế đã tăng đáng kể(Bảng 2.1) Thương mại quốc tế tăng có nghĩa là mối quan hệ thương mại giữa cácnước trên thế giới ngày càng chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, tính quốc tế hóa củanền kinh tế thế giới tăng Nền sản xuất thế giới mang tính toàn cầu Các nước cóthể lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn, sức lao động và thị trường của nước khác, từ
đó thúc đẩy quốc tế hoá sản xuất phát triển nhanh chóng Sự phân công lao độngquốc tế diễn ra mạnh mẽ Xu hướng phân công lao động quốc tế ngày nay đãchuyển dịch từ chiều dọc sang phân công lao động theo chiều ngang, phân côngtheo chi tiết sản phẩm, theo quy trình sản xuất Thí dụ, một loại xe của hãngToyota sản xuất tại Mỹ có 25% linh kiện được sản xuất ở ngoài nước Mỹ Một loại
xe ô tô của công ty Ford có 27% linh kiện do nước khác sản xuất Việc sản xuấtmáy bay của hãng Boing ở Mỹ có các chi tiết được chế tạo từ gần 100 quốc giakhác nhau
Trang 13Bảng 2.1: Xu hướng dài hạn trong giá trị và khối lượng xuất khẩu hàng hóa của
thế giới thời kỳ 1950 – 2010
Nguồn: UNCTAD
Toàn cầu hóa làm thương mại quốc tế gia tăng với tốc độ cao và tốc độ tăngtrưởng thương mại quốc tế này còn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới.Nếu nửa đầu thế kỷ XX, tổng GDP của thế giới tăng 2,7 lần, thì đến nửa cuối thế
kỷ, tổng GDP thế giới đã tăng 5,2 lần Đầu năm 1950, tỷ trọng thương mại trongGDP toàn cầu là 7%, thì hiện nay đã tăng lên hơn 50% Năm 2004, tổng giá trịthương mại toàn cầu đạt hơn 22.267 tỉ USD, làm cho thương mại thực sự trở thànhđộng lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế thế giới.Biểu đồ sau đây cho thấy mức tăng trưởng GDP và xuất khẩu hàng hóa thế giớitrong 10 năm sau khi WTO ra đời (Bảng 2.2)
Trang 14Bảng 2.2: Tăng trưởng GDP và xuất khẩu hàng hóa của thế giới thời kỳ 1995 –
2004
Nguồn: Bộ Thương Mại
Gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng
là là một biểu hiện đặc trưng của toàn cầu hóa kinh tế ngày nay Nét đặc trưng nàyđược biết đến như là một quá trình toàn cầu hoá tài chính Toàn cầu hóa trong lĩnhvực tài chính được đẩy mạnh thông qua việc tự do hóa rộng rãi các giao dịch tàichính quốc gia và phát triển các thị trường tài chính quốc tế, hướng tới một thịtrường tài chính mang tính toàn cầu Tự do hóa tài chính bao gồm các nội dung cơbản, như: nới lỏng kiểm soát tín dụng; tự do hóa lãi suất; tự do hóa tham gia hoạtđộng ngân hàng và các dịch vụ tài chính trên toàn thế giới, không phân biệt biêngiới; tự do hóa việc di chuyển của các luồng vốn quốc tế Toàn cầu hóa tài chínhđược biểu hiện ở hiện tượng các dòng vốn di chuyển trên thế giới đã liên tục giatăng Từ năm 1970, dòng vốn đầu tư quốc tế bắt đầu tăng nhanh bao gồm cả dòngvốn FDI (Biểu 2.3) Năm 1980, tổng khối lượng giao dich cổ phiếu và trái phiếu rakhỏi biên giới của các nước phát triển chỉ chiếm chưa đến 10% tổng GDP Nhưngsau đó, con số này đã vượt mức 100% vào năm 1995 Sự di chuyển thông qua thị
Trang 15trường vốn cũng đã tăng từ mức 794 tỷ USD năm 1991 lên đến 4.324 tỷ USD năm
2000 (tăng 21,3%/năm) và tài trợ phát triển chính thức giảm từ 60,9 tỷ USD xuốngcòn 38,6 tỷ USD Giá trị trung bình của các giao dich ngoại hối hàng ngày cũng đãtăng từ 200 tỷ USD vào giữa thập niên 80 lên tới 1200 tỷ USD vào năm 2000,chiếm 85% dự trữ ngoái hối của các nước trên thế giới và gấp 70 lần so với giá trịxuất khẩu mỗi ngày của hàng hóa và dich vụ Có thể nói, tài chính quốc tế là công
cụ cần thiết cho các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế do đó toàn cầu hoángày nay chịu sự dẫn dắt của toàn cầu hoá tài chính Toàn cầu hóa lĩnh vực tàichính đang dần trở thành xu hướng phát triển nhanh nhất và có ảnh hưởng nhấtcủa quá trình toàn cầu hóa kinh tế Sự gia tăng dòng chảy đầu tư đã làm cho nềnkinh tế thế giới gắn kết chặt chẽ với nhau hơn thông qua sự liên kết chức năng sảnxuất, và khiến cho biên giới kinh tế quốc gia ngày càng mờ nhạt Kết quả là, quátrình này dẫn đến hệ thống các nền tài chính quốc gia hội nhập và tùy thuộc, tácđộng lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ