1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý Đầu tư quốc tế của nước chủ nhà . Chính sách điều tiết dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài của một số nước đang phát triển.

77 317 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 489,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Quản lý Đầu tư quốc tế của nước chủ nhà . Chính sách điều tiết dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài của một số nước đang phát triển. Nhóm 3: Hỏa Hạnh Nhân Phan Thị Hồng Trang Cao Thị Kim Dung Chương 1. Tổng quan về đầu tư quốc tế và các hình thức đầu tư quốc tế. I. Tổng quan về đầu tư quốc tế: 1. Khái niệm: Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý,…từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu. Vốn di chuyển giữa các quốc gia có thể là tiền mặt, các dạng tài sản (nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, mặt bằng sản xuất, nhà xưởng) giá trị của bản quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết, bản quyền thương hiệu… Các dự án đầu tư thường là dự án công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh thương mại.. Các bên tham gia vào đầu tư quốc tế gồm ít nhất là hai bên có quốc tịch khác nhau. Các bên tham gia có thể thu được lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất. 2. Tác động của đầu tư quốc tế tới các Bên liên quan: a) Đối với nước nhận đầu tư: Tác động tích cực:  Nước nhận đầu tư sẽ được tiếp thu vốn và công nghệ, kinh nghiệm từ nhà đầu tư.  Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước.  Có cơ hội đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách.  Giải quyết được những khó khăn do bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thanh toán, giải quyết được các vấn đề xã hội như việc làm, mức sống người dân.  Nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.  Tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách chính phủ đặc biệt là nguồn thu từ thuế. Tác động tiêu cực:  Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các nước tiếp nhận đầu tư do không chọn lọc dự án đầu tư, trình độ và chính sách quản lý dự án kém sẽ dẫn đến tình hình nghiêm trọng.  Các nhà đầu tư trong nước sẽ phải chịu thua thiệt cả về quyền lợi do hạn chế về chuyên môn và vốn lẫn khả năng quản lý, do đó dự án đạt được hiệu quả xã hội không cao.  Gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài cho chính phủ trong trường hợp là vốn vay ODA, nhất là khi hiệu quả sử dụng vốn thấp.  Tình trạng chảy máu chất xám diễn ra ngày càng nghiêm trọng nếu không có chính sách cụ thể do nguồn nhân lực trình độ cao trong nước sẽ hoạt động trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài nên việc đào tạo để phát triển doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn. b) Đối với nước đi đầu tư: Tác động tích cực:  Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và công nghệ khi có thể khai thác tối đa nguồn vốn và công nghệ này tại các nước nhận đầu tư, khi đầu tư, nước đầu tư có thể giảm chi phí xuất khẩu tới thị trường nước đầu tư, tận dụng được lợi thế của nước nhận đầu tư.  Mở rộng thị trường do khi xuất khẩu có thể gặp những rào cản của nước tiếp nhận đầu tư nhưng khi xuất khẩu thông qua đầu tư trực tiếp lại không gặp phải trở ngại này ngoài ra còn được hưởng những ưu đãi từ nước tiếp nhận đầu tư.  Nước đầu tư có cơ hội quảng bá thương hiệu cũng như sản phẩm của nước mình tại nước nhận đầu tư.  Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường nước nhận đầu tư do có được ưu đãi từ phía nước này.  Ngoài những lợi ích trên, đầu tư nước ngoài còn tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập, thuế đầu tư… Tác động tiêu cực:  Đầu tư ra nước ngoài làm giảm nguồn vốn đầu tư trong nước, tăng tỷ lệ thất nghiệp nội địa, không đạt mục đích hiệu quả xã hội.  Việc chảy máu chất xám cũng xảy ra do nguồn nhân lực chất lượng cao di chuyển sang nước nhận đầu tư.  Các doanh nghiệp đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro lớn tại nước tiếp nhận đầu tư do hệ thống luật pháp chính sách khác nhau và các rủi ro về đạo đức…

Trang 1

Đề tài Quản lý Đầu tư quốc tế của nước chủ nhà Chính sách điều tiết dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài của một

số nước đang phát triển.

Nhóm 3:

Hỏa Hạnh Nhân

Phan Thị Hồng Trang

Cao Thị Kim Dung

Chương 1 Tổng quan về đầu tư quốc tế và các hình thức đầu tư quốc tế.

Trang 2

I Tổng quan về đầu tư quốc tế:

1 Khái niệm:

Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý,…

từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu

Vốn di chuyển giữa các quốc gia có thể là tiền mặt, các dạng tài sản (nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, mặt bằng sản xuất, nhà xưởng) giá trị của bản quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết, bản quyền thương hiệu…

Các dự án đầu tư thường là dự án công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh thương mại

Các bên tham gia vào đầu tư quốc tế gồm ít nhất là hai bên có quốc tịch khác nhau Các bên tham gia có thể thu được lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất

2 Tác động của đầu tư quốc tế tới các Bên liên quan:

a) Đối với nước nhận đầu tư:

- Tác động tích cực:

 Nước nhận đầu tư sẽ được tiếp thu vốn và công nghệ, kinh nghiệm từ nhà đầu tư

 Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước

 Có cơ hội đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách

 Giải quyết được những khó khăn do bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thanh toán, giải quyết được các vấn đề xã hội như việc làm, mức sống người dân

 Nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

 Tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách chính phủ đặc biệt là nguồn thu từ thuế

- Tác động tiêu cực:

 Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các nước tiếp nhận đầu tư do không chọn lọc dự án đầu tư, trình độ và chính sách quản lý dự án kém sẽ dẫn đến tình hình nghiêm trọng

Trang 3

 Các nhà đầu tư trong nước sẽ phải chịu thua thiệt cả về quyền lợi do hạn chế

về chuyên môn và vốn lẫn khả năng quản lý, do đó dự án đạt được hiệu quả xã hội không cao

 Gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài cho chính phủ trong trường hợp là vốn vay ODA, nhất là khi hiệu quả sử dụng vốn thấp

 Tình trạng chảy máu chất xám diễn ra ngày càng nghiêm trọng nếu không có chính sách cụ thể do nguồn nhân lực trình độ cao trong nước sẽ hoạt động trong các

dự án có vốn đầu tư nước ngoài nên việc đào tạo để phát triển doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn

b) Đối với nước đi đầu tư:

- Tác động tích cực:

 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và công nghệ khi có thể khai thác tối đa nguồn vốn và công nghệ này tại các nước nhận đầu tư, khi đầu tư, nước đầu tư có thể giảm chi phí xuất khẩu tới thị trường nước đầu tư, tận dụng được lợi thế của nước nhận đầu tư

 Mở rộng thị trường do khi xuất khẩu có thể gặp những rào cản của nước tiếp nhận đầu tư nhưng khi xuất khẩu thông qua đầu tư trực tiếp lại không gặp phải trở ngại này ngoài ra còn được hưởng những ưu đãi từ nước tiếp nhận đầu tư

 Nước đầu tư có cơ hội quảng bá thương hiệu cũng như sản phẩm của nước mình tại nước nhận đầu tư

 Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường nước nhận đầu tư do có được ưu đãi từ phía nước này

 Ngoài những lợi ích trên, đầu tư nước ngoài còn tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập, thuế đầu tư…

 Các doanh nghiệp đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro lớn tại nước tiếp nhận đầu tư

do hệ thống luật pháp chính sách khác nhau và các rủi ro về đạo đức…

Trang 4

II Các hình thức đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế bao gồm hai hình thức cơ bản: đầu tư nước ngoài gián tiếp và đầu tư trực tiếp

1 Đầu tư trực tiếp (FDI)

Hình thức FDI không chỉ có sự lưu chuyển vốn mà còn thường đi kèm theo công nghệ, kiến thức kinh doanh và gắn với mạng lưới phân phối rộng lớn trên phạm

vi toàn cầu Vì thế, đối với các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển thì hình thức đầu tư này tỏ ra có nhiều ưu thế hơn

- FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (Greenfield investment – GI) và mua lại và sáp nhập ( M&A)

+ Đầu tư mới: các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển vào đầu tư vào vào các nước đang phát triển

+ M&A: các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài Kênh đầu tư này chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây

- Xét theo mục đích đầu tư, FDI được phân làm các loại: đầu tư theo chiều ngang (horizontal integration – HI) và đầu tư theo chiều dọc (vertical integration-VI)

+ Hình thức đầu tư HI: chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh (công nghệ, kỹ năng quản lý…) trong sản xuất một loại sản phẩm nào đó Với lợi thế này, họ có thế kiếm lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản phẩm ra nước ngoài Mục đích của hình thức này là mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài đối với cùng loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, do đó thường dẫn đến cạnh tranh độc quyền Hình thức này được thực hiện chủ yếu ở các nước phát triển

+ Hình thức đầu tư VI là hình thức đầu tư nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào rẻ (lao động, đất đai…)

Trang 5

Khi đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư thường chú ý đến khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế Hình thức này được thực hiện khá phổ biến ở các nước đang phát triển.

- Xét về tính chất sở hữu, hình thức FDI bao gồm:

+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý

và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Hình thức này có các đặc trưng: dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước chủ nhà;

sở hữu hoàn toàn của nước ngoài; chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

+ Doanh nghiệp liên doanh là hình thức các xí nghiệp hay công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia Một doanh nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh

+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu

tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả hoạt động kinh doanh mà không thành lập công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào Hình thức này có đặc điểm:

Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ; Không thành lập một pháp nhân mới, tức không cho ra đời một công ty mới; Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thỏa thuận, phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu của hợp đồng

Ngoài ra còn có các hình thức khác như: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực hiện những hợp đồng xây dựng- vận hành- chuyển giao (BOT) Những dự án BOT thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng

2 Đầu tư nước ngoài gián tiếp:

Trang 6

+ Quỹ vốn đầu tư mạo hiểm: cung cấp vốn cho các nhà đầu tư để đầu tư vào những nơi thị trường mới nổi hoặc sản phẩm mới có độ mạo hiểm cao nhưng hữa hẹn thu lợi nhuận lơn

+ Quỹ đầu tư cổ phần quốc tế: cung cấp vốn cho các nhà đầu tư vừa và nhỏ đầu tư ra nước ngoài

+ Biên lai người gửi của Mỹ hoặc quốc tế: ngân hàng thương mại của Mỹ phát hành giấy chứng nhận quyền sở hữu cho các công ty chứng khoán không phải của

Mỹ với các ngân hàng có nghiệp vụ vãng lai ở nước ngoài

+ Trái khoán chuyển đổi hoặc có bảo đảm bằng cổ phiếu: cho phép người cầm trái khoán có thể đổi ra cổ phiếu của công ty phát hành bất kỳ lúc nào Loại có bảo đảm là cho phép người cần trái khoán có quyền mua cổ phiếu của công ty phát hành với mức giá cụ thể cố định trong khoản thời gian nhất định

Chương 2: Quản lý đầu tư nước ngoài của nước chủ nhà.

Quyền kiểm soát của nước chủ nhà

Trang 7

Nước chủ nhà có quyền kiểm soát không giới hạn đối với dầu tư nước ngoài,

để bảo vệ chủ quyền Nhà nước có thể loại trừ quyền đầu tư của bất cứ quốc gia nào Một số điều ước quốc tế và song phương đem lại quyền lợi cho nước đầu tư – ví dụ như việc nước chủ nhà từ chối nhập cảnh cho nhà đầu tư từ các quốc gia khác sẽ dẫn đến hành vi vi phạm về điều ước quốc tế, trừ khi sự đầu tư đó là đầu tư không được bảo hiểm

Điều ước quốc tế cho phép quyền nhập cảnh và quyền đối xử quốc gia sau khi nhập cảnh cho công dân của các quốc gia ký kết hợp đồng với nhau Vậy, cần giả định rằng các quốc gia không bị ảnh hưởng bởi luật pháp và điều ước quốc tế, thì thực tế nước chủ nhà có quyền tuyệt đối với việc kiểm soát nhập cảnh, và có thể thành lập và điều tiết toàn bộ quá trình đầu tư nước ngoài Khi một nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư tại nước khác – thì cả anh ta và tải sản của anh ta đều sẽ phải tuân theo luật pháp của nước chủ nhà, điều này bắt buộc từ thực tế rằng các nhà đầu tư nước ngoài ‘tự nguyện giao mình’ cho chế độ của nhà nước chủ nhà, kể từ khi tham gia nhập cảnh vào nước họ Quyền của nhà nước chủ nhà không giới hạn trong việc kiểm soát nhập cảnh đối với người nước ngoài được quy định theo luật như sau:

- Một trong các quyền thuộc quyền lực tối cao ở mỗi tiểu bang là quyền từ chối cho người nước ngoài xâm nhập vào khu vực vùng lãnh thổ; nhà nước hoàn toàn được cho phép nhập cảnh hoặc trục xuất – trong khi xem xét sự hiện diện của nhà đầu tư trái với trật tự, hòa bình, hoặc lợi ích xã hội hoặc tài nguyên thiên nhiên dự thảo Bộ luật ứng xử Tổng công ty xuyên quốc gia nêu một đề xuất tương tự trong các điều khoản sau: Quốc gia có quyền điều chỉnh sự thành lập của các tập đoàn xuyên quốc gia – bao gồm: xác định vai trò của các tập đoàn đó, vị trí của họ trong phát triển kinh tế xã hội, và cấm hoặc hạn chế về mức độ hiện diện của họ trong các lĩnh vực cụ thể:

Người nước ngoài có thể bị hạn chế về quyền lợi nhưng có thể hưởng lợi bằng cách thông qua các công ty địa phương Quy tắc dựa trên ý tưởng rằng không nên có hạn chế dòng chẩy của vốn đầu tư ra nước ngoài theo luật Thương mại và Luật cạnh tranh năm 1988, trong đó cho phép Tổng thống ngăn chặn dòng vốn đầu tư đe dọa an ninh quốc gia

Trên cơ sở kiểm soát nhập cảnh - nước chủ nhà kiểm soát vốn đầu tư vào bằng bộ máy pháp luật, kiểm soát dòng vốn chẩy vào từ đâu, quy hoạch và kiểm soát về môi

Trang 8

trường đầu tư và các vẫn đề khác, cũng có thể điều chỉnh các mục nhập của đầu tư nước ngoài Ngược lại để hấp dẫn đầu tư, nhà nước có thể đưa ra các ưu đãi hoặc các lời hứa đơn phương hay cam kết danh dự về nghĩa vụ Luật kiểm soát đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng, khi Hoa kỳ từ một nước xuất khẩu vốn thành nơi dòng vốn đầu tư đổ vào Việc di chuyển vốn đầu tư nhanh cũng có thể coi là một phong trào phá hoại nên kinh tế các quốc gia khác; đi sau sự di chuyển đột ngột của dòng vốn là khủng hoảng kinh tế và mất ổn định Sự mâu thuẫn ở đây là các quốc gia muốn thu hút đầu tư từ nước ngoài, mặt khác lại có nhu cầu kiểm soát cao dòng vốn này – điều này chỉ có thể được cân bằng thông qua luật về đầu tư Ví dụ Đạo luật Exon-Florio tại Hoa Kỳ đã coi sự phát triển của các quỹ đầu tư quốc tế là các mục đích chính trị đằng sau – và có thể ảnh hưởng mạnh đến mục tiêu chiến lược và an ninh quốc gia.Hiện luật chống độc quyền, chứng khoán, pháp luật và các cơ chế quản lý chính là công cụ chính để kiểm soát dòng vốn Tại Cộng đồng châu Âu – đã thông qua việc sử dụng luật cạnh tranh để đảm bảo rằng các tập đoàn lớn nước ngoài đa quốc gia không

xé nhỏ hay sáp nhập để tìm cách kiếm tiền đầu tư.Trong các quốc gia phát triển, cũng

có một cơ thể tương tự của pháp luật để kiểm soát dòng vốn vào đầu tư.Các quốc gia

Xã hội chủ nghĩa, như Trung Quốc, Việt Nam và Cuba, cũng bắt hoàn thiện luật để tăng của đầu tư nước ngoài – với hi vọng thu hút nhiều vốn và công nghệ cần thiết – nhưng vẫn đảm bảo chống lại các rủi ro tiềm tăng.Nước chủ nhà tăng quyền của mình bằng các đưa ra các quy định - ví dụ như chỉ chấp nhận đầu tư khi thành lập liên doanh - thành công ty cổ phần với tỷ trọng cổ phẩn, hoặc liên doanh với đơn vị

do nhà nước chỉ định Đi kèm với đó là việc nước chủ nhà muốn nội địa hóa quá trình dầu tư nước ngoài – sử dụng các chính sách để đánh bại khả năng của nhà đầu tư

Có 3 nội dung quan trọng nhất là các quy tắc của nhà nước chịu trách nhiệm trước tổn thất của nhà đầu tư, quyền về tiêu chuẩn tối thiểu của đầu tư quốc tế, và các hình thức gắn với phát triển quyền con người, ví dụ như việc nhà nước tuyên bố bảo vệ doanh nhân nước ngoài và tài sản của họ trong tình trạng bất ổn dân sự

Việc thực hiện quản lý sẽ theo một số chuẩn tối thiểu nhất định được luật pháp quốc

tế chấp nhận – bảo vệ việc chống lại sử dụng quyền lực một cách tùy tiền của các cơ quan hành chính trong thương mại và đầu tư Các phán quyết tòa án và trọng tài phải được công nhận như biểu trưng của việc minh bạch và công bằng

Trang 9

Thực ra các quy tắc về tỷ lệ nội địa hóa có thể vi phạm nguyên tắc tự do thương mại – Trims Mặc khác, một số biện pháp nghiên cứu tác hại của đầu tư lên môi trường cần phải kiểm soát tốt.

Trên thực tế là không có một nền kinh tế nào hoàn toàn mở về cấu trúc thị trường Trong bối cảnh kinh tế mới, các định luật về kinh tế cần liên tục bổ sung và xem xét lại, ví như cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á và Mỹ Latinh giai đoạn 2008

đã làm sứt mẻ tương đối nền tảng của tự do đầu tư Việc đầu tư nước ngoài không còn được thực hiện chỉ trên cơ sở một hợp đồng đầu tư như trong quá khứ, mà đã phải có cả một chết độ hành chính để bảo vệ quyền lợi nước chủ nhà khi nhận đầu tư: pháp luật công cộng, các quy trình cần được phân tích, giấy phép đầu tư, các biện pháp vô hiệu hóa các mục tiêu đầu tư nước ngoài, hủy bỏ giấy phép Điều quan trọng

là để hiểu được bản chất của các điều luật nào đã được xác lập lập thì các thay đổi đã được đưa về như là một kết quả của sự tổ chức lại các biện pháp hành chính, ảnh hưởng đến khiếu nại và tranh luận đã được thực hiện về các quy tắc của pháp luật nước ngoài về đầu tư trong quá khứ

Các nhà đầu tư nước ngoài phải có ý thức tuân theo các yêu cầu pháp lý theo quy định của các quy định và chấp nhận các điều kiện đầu tư Trong những trường hợp này, sự can thiệp hành chính nhà nước trên cơ sở đó nhà đầu tư nước ngoài phải tuân thủ các điều kiện nhập cảnh, và các thỏa thuận đã được thực hiện Tương tự, nhà nước có thể không tùy tiện can thiệp vào đầu tư bằng cách hủy bỏ một giấy phép mà nhà nước đã ban hành mà không cần cung cấp đầy đủ lý do

1.Quy định về sự gia nhập

Quản lý đầu tư nước ngoài bị ảnh hưởng thông qua luật nhập cư Không có các quy định cụ thể kiểm soát dòng vào của đầu tư nước ngoài Trong thời gian chiến tranh, có sự quản lý kinh doanh của kẻ địch và hạn chế thông qua đánh thuế khi buôn bán với kẻ thù và dịch chuyển kinh doanh của người nước ngoài trong phạm vi quốc gia Nhưng những biện pháp này ít khi được tiếp tục trong thời gian hòa bình

Trong thời gian gần đây, có sự dịch chuyển nhanh chóng với quy định của luật đầu tư quốc tế trên phạm vi toàn cầu Tại các nước phát triển, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng hạn chế đầu tư nước ngoài Các chính sách được duy trì không giống nhau Kinh nghiệm của Canada là một bài học Báo cáo về hoạt động đầu tư nước ngoài được ban hành đã chỉ ra sự thống trị của các tập đoàn đa

Trang 10

quốc gia tại nền kinh tế Canada Tuy nhiên hiệp định thương mại tự do giữa Canada

và Mỹ đã vô hiệu hóa giả thiết rằng Luật pháp dựa trên cơ sở tự do hóa dòng vốn đầu

tư nước ngoài giữa hai quốc gia Canada đã ban hành đạo luật mới trên cơ sở hiệp ước nhưng việc quản lý đầu tư của Mỹ vẫn giữ nguyên Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) dựa trên quá trình đó Tuy nhiên Canada là một trong những nước rút lui sớm nhất thỏa thuận về hiệp định đa phương về bảo trợ đầu tư của OECD trong dân chúng trong khi các nước khác mở cửa cho đầu tư

Chủ nghĩa dân tộc cảm tính đóng vai trò quan trọng trong luật đầu tư nước ngoài của Úc Tại châu Âu, những lo ngại về sự thống trị nền kinh tế của các tập đoàn đa quốc gia bố trí sự đối phó với pháp luật gián tiếp Mặc dù Mỹ ủng hộ quan điểm thị trường tự do nhưng cũng không cho phép một số hình thức đầu tư vào lãnh thổ nước Mỹ Các bộ luật chống độc quyền được áp dụng để ngăn chặn sự thống trị của các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập vào thị trường Mỹ Mỹ đã thông qua luật pháp để cấm đầu tư nước ngoài không nhất quán đối với an ninh quốc gia của

Mỹ Tuy nhiên các biện pháp này cũng có tác động giống nhau tại các nước đang phát triển

Một số nước đang phát triển và các nước Đông Âu trước đây đi theo chủ nghĩa cộng sản đang từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường Các nước này đang xây dựng quy định về đầu tư nước ngoài Tư tưởng thịnh hành trong những năm

80 cho rằng đầu tư nước ngoài của các tập đoàn đa quốc gia có lợi cho sự phát triển kinh tế của nước chủ nhà Nhưng đến những năm 90, khi thế giới đuổi kịp xu hướng

tự do hóa kinh tế Tư tưởng thịnh hành là một trong những lý do của tự do hóa và tư hữu hóa

Các bộ luật được ban hành từ những năm 1980 đã bắt đầu được sửa đổi nhưng không phải là toàn bộ ủng hộ quan điểm tự do hóa do còn tồn tại một số mâu thuẫn trong luật đầu tư nước ngoài mới Một mặt, các bộ luật đó được ban hành có cam kết liên quan đến vấn đề chuyển lợi nhuận về nước và chống lại việc quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư mà không thanh toán về bồi thường Các bộ luật đó còn bao gồm thuế và các khoản khuyến khích khác với mục đích thu hút nhà đầu tư Mặt khác, những bộ luật đó còn bao gồm các chính sách để bảo vệ dòng vào của đầu tư nước ngoài và cho phép đầu tư được xem là hấp dẫn Chúng còn có các quy định khác để tối đa hóa lợi ích mà đầu tư nước ngoài có thể mang lại cho sự phát triển của nền

Trang 11

kinh tế nước chủ nhà nhưng vẫn hạn chế hoạt động của nhà đầu tư tại nước chủ nhà Các phương pháp kỹ thuật được sử dụng cần phải được tách ra và được kiểm tra Do cuộc khủng hoảng liên tiếp nhau nên luật đầu tư cần thiết phải được sửa đổi Điều đó dẫn đến sự biến động của chính sách, Luật đầu tư của các quốc gia thay đổi theo từng thời kỳ với các chính sách được ưu tiên khác nhau

I.1 Cam kết chống lại sự tước đoạt quyền sở hữu

Luật đầu tư nước ngoài luôn bao gồm các cam kết chống lại sự tước đoạt quyền sở hữu của đầu tư nước ngoài mà không thanh toán bồi thường Các quốc gia với lịch sử về tước đoạt quyền sở hữu có ý định đưa ra các cam kết như di chuyển bất

kỳ lo ngại về sự tước đoạt về quyền sở hữu mà nhà đầu tư có thể có dựa trên cơ sở lịch sử Các nước cộng sản trước đây và đang tồn tại bây giờ đã đặt ra các cam kết để xua đi bất kỳ quan điểm nào về vấn đề các nước đó vẫn giữ khuynh hương tư tưởng thiên về sự tước đoạt quyền sở hữu

Ví dụ Điiều 5 của Luật doanh nghiệp nước ngoài của Trung Quốc cung cấp những cam kết rõ ràng: trong trường hợp tước đoạt quyền sở hữu, bồi thường thiệt hại sẽ được trả đầy đủ Những cam kết này nhằm xóa bỏ những lo ngại đe dọa đến đầu tư Những cam kết này được đưa ra tại các nước có rủi ro cao với hy vọng nhận thức về rủi ro xuất hiện từ thời kỳ quốc hữu hóa trước đó sẽ bị mất tác dụng Đối với các nước có ít rủi ro này thì các cam kết được ban hành ít hơn

Giá trị của các hiệp định đầu tư đơn phương đang được tranh luận trong một

số tài liệu.Theo đó có hai quan điểm đối lập nhau Một mặt vấn đề thiết lập luật nội

bộ xuất hiện vấn đề cam kết được chính phủ đưa ra không thể thấy được trong thành công của chính phủ đặc biệt nếu có một cuộc cách mạng thay đổi chính phủ Sự thay đổi chế độ đe dọa nghiêm trọng đến đầu tư nước ngoài Nếu chính phủ mới đươc thiết lập có hệ tư tưởng khác so với chính phủ cũ sẽ dẫn đến sự thay đổi cơ bản tại một quốc gia Do đó những lời hứa của chính quyền cũ có thể không được thực hiện với chính quyền mới Những cam kết được lập ra sẽ không có giá trị và ý nghĩa đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài

Mặt khác, có quan điểm cho rằng mặc dù có sự thay đổi chế độ, các cam kết không được nhượng bộ đối với nhà đầu tư nước ngoài được vận dụng hợp pháp Những cam kết liên quan đến các tranh chấp đang tăng nhanh từ thu hút đầu tư nước ngoài bởi các cam kết đến tòa án giải quyết tranh chấp quốc tế hơn là tại các tòa án

Trang 12

giải quuyết tranh chấp tại quốc gia Điều đó càng đặc biệt nếu các cam kết chống sự tước đoạt tài sản tài sản kết hợp với lời hứa giải quyết tranh chấp tại tòa án nước ngoài Theo quan điểm đó, các cam kết đơn phương chống lại sự sung công ủng hộ việc chuyển các tranh chấp về sự sung công của nhà đầu tư nước ngoài ra phạm vi quốc tế Điều đó bảo đảm thực tế rằng các cam kết được thiết lập tính đến cả hai vấn

đề xác định tính hợp pháp và định lượng được sự thiệt hại

Tuy nhiên, đôi với bộ luật chặt chẽ, cam kết đơn phương chống lại sự sung công mà không bồi thường đầy đủ không có tác động trừ khi cam kết về hiệp định được ủng hộ và việc thi hành được thành lập bởi tòa án xét xử nước ngoài để đảm bảo các cam kết Hành động đơn phương của một quốc gia có những động cơ không thấy được Trường hợp động cơ không nhận thấy rõ bị đổ lỗi do hoạt động đơn phương liên quan đến vấn đề quốc tế và thúc đẩy mong ước quản lý của nhà nước trong khi đưa ra các tuyến bố đối với các quốc gia khác Các cam kết đó hướng đến các cá nhân hoặc doanh nghiệp như tập đoàn đa quốc gia không có tư cách pháp nhân tại luật quốc tế, do đó các hiệp định không được thiết lập nếu thiếu tư cách pháp nhân tại quốc tế Các cam kết hoạt động dựa trên luật quốc gia chứ không phải luật quốc tế

Tuy nhiên hiện nay việc xuất khẩu tư bản của một quốc gia đã tham gia kế hoạch bảo hiểm cho việc đầu tư nước ngoài của quốc gia và các hoạt động khác liên quan đến đầu tư nước ngoài Các cam kết hướng đến nước đi đầu tư và nhà đầu tư, đặc biệt nếu kế hoạch được lập ra để phí bảo hiểm phải nộp tại nước chủ nhà bị giảm

đi bởi nước đi đầu tư do cam kết Do vậy, nơi nào có các hiệp ước về đầu tư để bảo

vệ đầu tư , các cam kết đơn phương có thể có ý nghĩa quan trọng tại đó vi phạm có thể dẫn đến vi phạm tiêu chuẩn hiệp định về bảo hộ Nếu lập luận này là hợp lệ, trường hợp này được tạo ra là nghĩa vụ của nước xuất xứ đầu tư của nhà đầu tư trong trường hợp các cam kết không được thực hiện

Cam kết đơn phương đã tạo ra kỳ vọng cho nhà đầu tư nước ngoài Cam kết tác động đến định giá của bồi thường mà nhà đầu tư bị thiệt hại do hành động trái nược của chính phủ trong cam kết Đó có thể là tranh luận về ủng hộ thanh toán toàn

bộ bồi thương thiệt hại cho nhà đầu tư bị dụ dỗ đầu tư vào quốc gia thông qua các cam kết

I.2 Cam kết liên quan đến giải quyết tranh chấp

Trang 13

Bảo đảm đơn phương liên quan đến giải quyết các tranh chấp tăng từ đầu tư nước ngoài bởi tòa án trọng tài trung lập của nước ngoài có thể thấy được trong luật pháp về đầu tư nước ngoài tại một số nước Những bảo đảm này được đưa ra với hy vọng rằng nó có thể thu hút nhiều hơn dòng vốn đầu tư nước ngoài nếu các phương pháp tìm kiếm biện pháp cứu chữa mà sự can thiệp của chính phủ được thiết lập cho các nhà đầu tư nước ngoài Tranh chấp giữa quốc gia đưa ra cam kết và nhà đầu tư nước ngoài có thể được đưa ra để xem xét bởi trọng tài phân xử tại toàn án trọng tài nước ngoài theo đúng quy định Lý thuyết về tòa án trọng tài được chấp nhận quyền xét xử là cam kết về pháp luật bao gồm đề nghị làm trọng tài phân xử nơi mà các nhà đầu tư nước ngoài chuyển đổi hiệp định đến trọng tài xét xử bởi các viện tố tụng trước khi đưa ra tòa án

Tuy nhiên hiến pháp nội bộ gặp nhiều khó khăn bởi các cam kết Trong hệ thống hiến pháp có đặc điểm phân chia quyền lực vẫn có nhiều vấn đề tranh cãi như quyền quyết định tòa án qua tranh chấp tăng nhanh trong lãnh thổ của một quốc gia

có thể được chuyển giao đến tòa án quốc tế bởi cơ quan lập pháp trong tuyệt đối một phiên tòa đặc biệt trong các tranh chấp tương lai Thực tế cho thấy hệ thống tòa án địa phương bị bỏ qua trong việc liên quan đến vấn đề quốc gia cũng sẽ gây ra vấn đề chính trị Nếu pháp luật bao gồm cam kết bảo đảm là vô hiệu trong luật pháp quốc gia, nó sẽ khó nhận định rằng nó sẽ có ảnh hưởng đến mức độ quốc gia Tuy nhiên, các hiệp định hoạt động trên các mặt phẳng khác nhau và giao ước các hiệp định vẫn tồn tại ở mức độ quốc tế thậm chí các bộ luật quốc gia mâu thuẫn với chúng

1.3 Thuế và phi thuế khuyến khích đầu tư nước ngoài.

Nhiều quốc gia cung cấp thời gian ưu đãi về thuế và nhiều khuyến khích đầu

tư nước ngoài để thu hút đầu tư vào lãnh thổ nước đó Những khích lệ này luôn sẵn

có không chỉ đối với nhà đầu tư đồng ý với các danh mục cụ thể như những nhà đầu

tư mang công nghệ hoặc người đặt trụ sở chính của họ tại nước nhận đầu tư Tất nhiên luật quốc tế không ngăn cản cung cấp ưu đãi và các khuyến khích về thuế Có nhiều cuộc tranh luận lớn vì sự cần thiết của những khuyến khích trong việc thu hút đầu tư nước ngoài

Trang 14

Khuyến khích về thuế là một phương thức hữu ích bảo đảm rằng các nhà đầu

tư nước ngoài theo ước muốn của nước chủ nhà Ví dụ khuyến khích về thuế có thể được chấp thuận tại nơi được mua trang thiết bị mới để hiện đại hóa máy móc thiết

bị hoặc trong điều kiện một vài cổ phần đầu tư được chuyển giao đến kiều bào tại nước chủ nhà Theo cách đó, quốc gia có thể đạt được mục tiêu gián tiếp nhưng ngược lại yêu cầu trực tiếp có thể mang lại ấn tượng của sự chống đối về đầu tư nước ngoài

Trợ cấp đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư nhưng không phải các nhà đầu tư đưa

ra vấn đề về phân biệt đối xử Có thể không có phản đối về phân biệt dựa vào các yếu

tố kinh tế Có thể có phản đối về đãi ngộ quốc gia cũng như đãi ngộ với các nước được yêu thích Nhưng cung cấp các yếu tố thỏa đáng cho sự đãi ngộ khác nhau như

sự cần thiết để thu hút các loại công nghệ hoặc hướng các nhà đầu tư nước ngoài vào trong các kênh sản xuất có thể được đưa ra và sự phân biệt là hợp pháp

Sự phân biệt giữa các nhà đầu tư nước ngoài có thể bị phản đối trong dân chúng và nó bóp méo thương mại quốc tế Một trong những mục đích của khuyến khích về thuế và những sự nhượng bộ khác một phần từ thu hút mong muốn đầu tư,

nó che giấu thực tế rằng có những yêu cầu đánh thuế vào nhà đầu tư nước ngoài Những yêu cầu hoạt động cũng có thể bị phản đối trên cơ sở chúng có thể gây ra bóp méo thương mại quốc tế Khuyến khích về thuế bị phản đối do một số lý do kinh tế

Nó vi phạm các điều khoản của hiếp định TRIMS và WTO Giả sử rằng các khuyến khích không kết hợp với các yếu cầu hoạt động, khuyến khích về thuế được chấp nhận trong luật

1.4 Kiểm tra sự gia nhập của đầu tư nước ngoài.

Ý tưởng về tự do gia nhập với mục đích thương mại được ủng hộ bởi các tác giả thuộc thể chế cũ như Victoria và Vattel Hiện nay ý tưởng về tự do hóa thương mại giống với tổ chức WTO Tự do hóa các dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng có chung mục tiêu Trong thời gian gần đây, nhiều hiệp định đa phương và khu vực được thiết lập cung cấp quyền của sự gia nhập và thiết lập đầu tư nước ngoài Những hiệp định mở rộng đãi ngộ quốc gia đến giai đoạn trước khi gia nhập nhưng các quyền đó không được nhìn nhận như quyền lợi hoàn toàn, khi các bên tham gia hiệp định tiếp tục thiết lập nhiều biện pháp hạn chế rộng rãi sự gia nhập của các khu vực

Trang 15

Chúng còn miễn một vài đạo luật từ phạm vi hiệp định đầu tư thông qua việc sử dụng công thức thích hợp.

Tuy nhiên, điều đầu tiên của cuộc thảo luận là vị trí của luật quốc tế mà quốc gia trong việc thực hiện luật chủ quyền, có quyền từ chối sự gia nhập của bất kỳ nước nào Một quốc gia có thể thiết lập các tiêu chuẩn để cấm đầu tư nước ngoài vào vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của nước đó Chức năng của việc thẩm tra sự gia nhập được thực hiện thông qua các cơ quan hành chính Các cơ quan hành chính có thể yêu cầu thực hiện các nghiên cứu khả thi để đề xuất đầu tư nước ngoài và chỉ ra lợi ích tiền năng của đầu tư đến nội tại nền kinh tế Vì nhiều quốc gia cho phép dòng vào chỉ thông qua liên doanh, và thành lập các nghiên cứu khả thi là lựa chọn ban đầu giữa các bên liên doanh, yêu cầu dường như không nặng nề lắm Tuy nhiên trong trường hợp các giao dịch tư nhân, tranh chấp có thể gia tăng do thông tin chính xác được cung cấp trong điều tra ban đầu Không giống như các giao dịch tư nhân, thực tế rằng tuyên bố về nghiên cứu khả thi có thể trình bày sai do nhiều nguyên nhân, ít nhất là theo sự đánh giá của thẩm quyền chung được công bố cho phép đầu tư vào Do lợi ích của đầu tư nước ngoài được thiết lập để bảo vệ luồng vào có thể giảm xuống do ngôn ngữ hợp pháp trình bày sai, khai báo sai bóp méo và gian lận Trong luật nội bộ

sự bóp méo có thể biện hộ cho trở ngại với hiệp định đầu tư nước ngoài Nó cũng đánh giá sự kết thúc của đầu tư quốc tế dưới luật quốc tế có thể là câu hỏi thảo luận Tuy nhiên có sự gian lận có tính toán của một số của nhà đầu tư nước ngoài, sẽ không có hành động sai nếu có sự kết thúc của đặc quyền mà bảo vệ không hợp pháp

……

Nhiệm vụ đầu tiên của cơ quan hành chính là bảo đảm nhà đầu tư mang những lợi ích hữu hình đến nước chủ nhà Các cơ quan đã xem xét tác động của đầu tư nước ngoài đến nước chủ nhà Nó có nhiệm vụ đảm bảo rằng các doanh nghiệp trong nước

sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự gia nhập của các công ty có quyền lực vào trong lĩnh vực công nghiệp Một lần nữa câu hỏi về sự phân biệt chống lại doanh nghiệp nước ngoài gia tăng nếu các biện pháp được đưa ra trước hoặc sau khi gia nhập Tuy nhiên,

sự phân biệt có thể được xem xét xem có hợp pháp trừ khi có một hiệp định cam kết cung cấp đãi ngộ quốc gia trong tưng trương hợp

Có một vài lý do kinh tế cho việc loại trừ người nước ngoài từ các ngành công nghiệp cụ thể Tại các nước đang phát triển, loại trừ như vậy là hợp lý do việc đó sẽ

Trang 16

là tốt hơn nếu các ngành công nghiệp chủ chốt được nắm giữ bởi các doanh nhân trong nước Một lý do khác là sự gia nhập của một doanh nghiệp nước ngoài khổng

lồ có thể kiềm chế sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước hoặc tiêu diệt các ngành công nghiệp non trẻ Do đó, cần bảo đảm rằng, trong các ngành công nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp địa phương không thể xử lý mà không có sự giúp đỡ của các công ty đa quốc gia Các quốc gia phát triển cũng có thể áp dụng một chính sách cấm các nhà đầu tư nước ngoài trong một số ngành công nghiệp nhất định Ngành công nghiệp liên quan với việc sản xuất các thiết bị quân sự hiếm khi mở cửa cho nước ngoài để đảm bảo an ninh quốc gia

Một quốc gia có thể đặt ra các điều kiện với bất kỳ sự đi vào của bất kỳ nước nào cũng như đưa ra các quy định đối với các nhà đầu tư nước ngoài Các nước phát triển không được thiên về khuynh hướng ủng hộ quy tắc cho phép nước ngoài tiếp cận không hạn chế và vô điều kiện đến lãnh thổ các nước đó Tuy nhiên điều ước đầu

tư quốc tế song phương và khu vực và văn kiện WTO hoặc GATS sẽ thúc đẩy việc thành lập sự gia nhập tự do của dòng vốn đầu tư nước ngoài trong một vài lĩnh vực GATS sẽ cho phép sự hiện diện thương mại trong phạm vi lãnh thổ của những thành viên được phép có mặt trong những lĩnh vực đã được chỉ định bởi các nước thành viên Nguyên tắc chung mà các quốc gia có quyền loại trừ sự đi vào vẫn không bị ảnh hưởng Tuy nhiên, khi một nhà cung cấp dịch vụ có được sự gia nhập thông qua yêu cầu thiết lập theo GATS, nó sẽ được bảo vệ bởi các điều ước đầu tư quốc tế nếu đủ điều kiện như là một nhà đầu tư nước ngoài

Quy tắc không phân biệt đối xử trên cơ sở chủng tộc được áp dụng sau nhà đầu tư nước ngoài xâm nhập vào Ngoại trừ trong trường hợp nơi mà sự phân biệt đối

xử rõ ràng là hướng vào một nhóm dân tộc thiểu số, phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư hoặc các loại đầu tư không thể sai cam kết quốc tế Trường hợp một quốc gia

lo ngại sự thống trị kinh tế của một quyền lực cụ thể và giới hạn sự nhập cảnh của công dân của nước ngoài, câu hỏi có thể phát sinh cho dù đây là phân biệt chủng tộc Vấn đề đó sẽ gây ra các vi phạm quy tắc cơ bản, các quy định chống phân biệt chủng tộc, nhưng quan điểm tốt hơn là phân biệt đối xử không có nghĩa là phân biệt chủng tộc Một điều khoản phân biệt đối xử dựa vào các yếu tố khách quan hoặc một nguyên nhân hợp lý không thể được coi là vi phạm của các quy tắc phân biệt chủng tộc

Trang 17

1.5 Quy định về cộng tác với nước được đầu tư.

Mô hình các nước Đông Âu trước sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và tại một

số nước đang phát triển cho phép chỉ đầu tư nước ngoài nếu cộng tác, liên kết với các doanh nghiệp của nước chủ nhà Điều đó cho phép các nước chủ nghĩa xã hội nhìn nhận lợi ích của đầu tư nước ngoài để kết hợp ý thực hệ về chủ nghĩa cộng sản với

sự cho phép đầu tư nước ngoài vào trong dân chúng mà kiểm soát cuối cùng thông qua giữ nguyên đầu tư với nước đó Sự hợp lý hóa về chính sách của quốc gia được

áp dụng thông qua sự có mặt của các doanh nghiệp trong nước được chỉ định để liên doanh với nước ngoài Chính sách cố chấp tại các nước đông Âu sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và tiến tới nền kinh tế thị trường tự do Mô hình trải rộng của chủ nghĩa cộng sản tại một số nước châu Á tại đó vẫn giữ phương thức cơ bản thông qua đầu tư nước ngoài được thành lập tại các nước đó Tại các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài thông qua hình thức liên doanh được ưa thích hơn Chủ nghĩa dân tộc đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tái cấu trúc được yêu thích hơn Tại Malaysia họ yêu cầu các công ty được cấu tạo theo đúng phương thức quy định là cổ phần Quy định mà các doanh nghiệp nước ngoài vào thông qua cổ phần hóa các công ty đang hoạt động hoặc các công ty mới thành lập Các chính sách quốc gia thay

vì chính sách kinh tế, đồng thời các vấn đề chính trị cũng được xem xét đóng vai trò quan trọng trong việc xác định liên kết cấu trúc mà các doanh nghiệp được thiết lập tại nhiều quốc gia Tại một số nước phát triển, hình thức liên doanh giữa doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài không được quy định Tuy nhiên, hình thức liên doanh có thể được sử dụng do một số nguyên nhân như: sự cần thiết

do ít nguồn tài nguyên và công nghệ hoặc cần thiết phân tán rủi ro do thất bại của sự liên doanh

Các nhà đầu tư nước ngoài thích hình thức liên doanh tại các nước đang phát triển do nó có thể phân tán rủi ro và mang lại cho nhà đầu tư tính minh bạch thấp hơn

và cung cấp cho các nhà đầu tư với các doanh nghiệp trong nước người sẽ là người hòa giải hiệu quả tại chính phủ nước chủ nhà Từ góc nhìn của sự bảo vệ đầu tư, yêu cầu đầu tư vào được thiết lập thông qua liên doanh làm nổi bật vấn đề này Vì các công ty liên doanh được thành lập tại nước chủ nhà nên vấn đề về quốc tịch của công

ty và bảo vệ các cổ đông tăng mạnh Vấn đề đó đứng trước tòa án xét xử quốc tế sẽ tăng nhanh khi nước chủ nhà xem xét hình thức liên doanh là công ty của nước đó

Trang 18

Một số nước chủ nhà cho phép đầu tư vào trong nước thông qua các doanh nghiệp trong nước trong một số trường hợp: các tập đoàn đa quốc gia bắt đầu chuẩn

bị thiết lập các cam kết xuất khẩu toàn bộ hoặc phần lớn sản phẩm của công ty do đó thu được lợi nhuận cho nước chủ nhà và tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động trong nước Hoặc trong trường hợp nhà đầu tư được chuẩn bị nằm tại các khu công nghiệp lạc hậu và có thể giúp phát triển những vùng này Trong những tình huống trước, những khó khăn có thể tăng nhanh khi các doanh nghiệp nước ngoài vào đầu

tư nhưng không thực hiện theo đúng cam kết Trong những trường hợp đó, nước chủ nhà có thể chấm dứt đầu tư nước ngoài Khi đó, nước chủ nhà sẽ không sẵn lòng cho phép doanh nghiệp bán sản phẩm tại thị trường nội địa mà nó có thể phục vụ các ngành công nghiệp nội địa Một lần nữa, câu hỏi về phân biệt giữa nước chủ nhà và các nhà đầu tư lại được đưa ra Với câu hỏi đó, sự phân biệt được quyết định dựa vào nội bộ nền kinh tế Việc đó có thể không hợp pháp nếu các hiệp định đầu tư đơn phương được hoàn toàn xác nhận bởi các hiệp định quốc gia thậm chí là quyết định trước giai đoạn đầu tư vào giữa nước chủ nhà và nước đi đầu tư hướng dẫn các hiệp định quốc gia cho các nhà đầu tư nước ngoài Nếu thiếu các hiệp định này, sẽ không

có cơ sở về luật quốc tế khi thông báo vi phạm hiệp định quốc gia

1.6 Quy định về cổ phần hóa

Các quốc gia có thể yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn nước ngoài hoặc phần trăm nhất định Khi dòng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài chảy vào, lãi suất trong nước được đảm bảo để ngăn chặn tăng vốn tại thị trường nước chủ nhà Nếu các nhà đâu tư được phép làm vậy, tiết kiệm trong nước có thể được sử dụng tối đa cho các dự án phát triển trong nước sẽ bị hấp thụ trong việc đáp ứng lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài Thu hút nhà đầu tư trong nước đầu tư để chia sẻ

dự án với các tập đoàn nước ngoài lớn sẽ hướng tới các quỹ đầu tư mà có khả năng tài chính cho doanh nghiệp trong nước hoặc dự án trong nước Có nhiều lý do kinh tế đánh giá sự phân biệt đối xử Một trong những lý do dễ nhận thấy nhất đó là lợi ích của đầu tư nước ngoài Điều đó dẫn đến dòng vốn từ ngoài chảy vào các nước chủ nhà – sẽ bị vô hiệu nếu nhà đầu tư gia tăng vốn tại các thị trường trong nước

Trang 19

Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đồng ý yêu cầu cổ phần hóa và sau đó không thực hiện theo quy định, quyền chấm dứt hoặc can thiệp với đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà Quyền này phát sinh như là một vấn đề của pháp luật nội bộ của nhà nước chủ nhà Việc thực hiện quyền này không thể theo tiêu chuẩn quốc tế Các tranh chấp kéo dài trong Amco và Indonesia liên quan đến vấn đề này Trong trường hợp đó, một trong những điều kiện mà các nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia dự án tại Indonesia để xây dựng một khu du lịch khi liên doanh với một đối tác Indonesia Họ sẽ chuyển tiền vốn theo thỏa thuận từ nước ngoài vào nước này để cấp vốn cho liên doanh Theo luật, họ sẽ có được giấy chứng nhận từ Ngân hàng Inđônêsia để cho thấy rằng đó vốn đã thực sự được chuyển vào trong nước Ông ta đã

bị cáo buộc rằng ông ta đã không đưa vào vốn Mặc dù nhà đầu tư nước ngoài tuyên

bố rằng ông đã làm như vậy, không có chứng nhận này có hiệu lực từ Ngân hàng đô-nê-xi-a Điều này đã được sử dụng như là một trong những căn cứ cho việc hủy

In-bỏ các thỏa thuận của cơ quan hành chính Ban đầu tòa án ICSID phán quyết cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng sau phán quyết đã được vô hiệu hóa Tòa án đã không xem xét đầy đủ đến các vấn đề liên quan đến cổ phần hóa

Một tòa án sau đó chỉ ra cho các nhà đầu tư nước ngoài là một thủ tục thích hợp đã không được tuân thủ trong việc hủy bỏ các đặc quyền của nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong nước khi quyết định hủy bỏ không dựa theo các tiêu chuẩn theo đúng thủ tục.Các Tòa án phán quyết rằng đã có một sự từ chối công lý mà trách nhiệm phát sinh Các phán quyết đưa đến kết luận rằng, nếu các tiêu chuẩn tối thiểu của thủ tục các biện pháp bảo vệ đã được trao cho các nhà đầu tư nước ngoài trước khi quyết định đã được thực hiện, việc huỷ bỏ các đặc quyền sẽ hợp lý Các vị trí của Indonesia trong thách thức ban đầu của phán quyết đã được giải thích bởi Reisman trong các điều khoản sau đây:

Indonesia dường như cảm thấy rằng nó đã thách thức các phán quyết bởi vì nếu một quốc gia thiết lập một chương trình để kích thích đầu tư nước ngoài và các khoản trợ cấp giấy phép trên cơ sở của chương trình đó, nhưng sự khác biệt nhiều như 16% của các cam kết nước ngoài đầu tư quốc tế xác định là không thích hợp như chính phủ nước chủ nhà chấm dứt giấy phép, quốc gia đó sẽ nhận thấy rằng nó là không thể thực thi pháp luật riêng của mình

Trang 20

Tình trạng này rõ ràng có ý nghĩa khi xem xét liệu một sự can thiệp quản lý có thể dẫn đến tước đoạt quyền sở hữu Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài không phù hợp với điều kiện đã được áp đặt tại thời điểm gia nhập và đầu tư được chấm dứt như

là một mức xử phạt cho những thất bại, một lập luận rằng sự can thiệp để tước đoạt quyền sở hữu có thể được duy trì Sự thận trọng sẽ yêu cầu sự can thiệp đó được bởi thủ tục biện pháp bảo vệ

1.7 Quy định về bảo vệ môi trường

Nước chủ nhà và các cơ quan sẽ xem xét tác động của đầu tư nước ngoài đến môi trường Các tập đoàn đa quốc gia thường xuất khẩu công nghệ lỗi thời, lạc hậu

và không được sử dụng tại nước đi đầu tư và họ có thể cắt giảm chi phí tại các nước đang phát triển do không cần các biện pháp bảo vệ môi trường, mà họ bắt buộc phải

sử dụng tại nước đi đầu tư

Nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường được yêu cầu trước khi cho phép đầu tư nước ngoài vào Sự cho phép đó sẽ bị từ chối nếu đầu tư có tác động xấu đến môi trường Tuy nhiên, tiêu chuẩn về môi trường tại các nước đang phát triển chưa cao

Tại các nước phát triển, ảnh hưởng do hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài được chú trọng hơn Các dự án đầu tư hoặc các cam kết sẽ bị từ chối, thậm chí sau khi nó được bắt đầu nếu tác động xấu đến môi trường là không thể thay đổi được và

nó quan trọng hơn cả lợi nhuận của dự án đó Ví dụ trong tranh chấp liên quan đến khai thác cát tại đảo Fraser, chính phủ Ôstraylia chấm dứt nhượng bộ với tập đoàn

Mỹ khai thác cát trên hòn đảo này Cát bao gồm bạch ngọc và rutile Không có thị trường cho nhưng khoáng chất này tại Úc Nghiên cứu tác động đến môi trường đã chỉ ra rằng khai thác cát ảnh hưởng to lớn đến môi trường Chính phủ Úc đã từ chối thông quan khi xuất khẩu các khoáng sản, do đó có hiệu lực chấm dứt các ưu đãi Tập đoàn Mỹ đã dành một khoản tiền lớn trong việc thiết lập các dự án Mặc dù Hoa

Kỳ có sự nhượng bộ, can thiệp ngoại giao để phản đối việc hủy bỏ các nhượng bộ, chính phủ Úc vẫn đứng trên lập trường của mình Đó là sẵn sàng chấp nhận có tranh chấp đệ trình lên Tòa án Công lý Quốc tế Tòa án Tối cao của Úc đã giữ nguyên hiệu lực của việc thực hiện của của chính phủ Úc

Nhà nước có quyền hủy bỏ thỏa thuận đầu tư dự án gây ra ảnh hưởng

đáng kể môi trường Đặc quyền này không những xuất phát từ chủ quyền của quốc

Trang 21

gia cho phép nhà nước để bảo vệ lãnh thổ của mình trước tác hại đến môi trường mà còn từ thực tế rằng, trong luật pháp quốc tế hiện đại, nhà nước có trách nhiệm bảo vệ môi trường vì lợi ích của nhân loại.

Sự phát triển tiến bộ của quyền có một môi trường trong sạch được coi là một quyền con người và như là một tiêu chí kết hợp các giá trị cao hơn có thể dẫn đến sự không linh hoạt trong quyền của nhà nước can thiệp để bảo vệ môi trường Tuy nhiên, quyền này phải được thực hiện trên cơ sở khách quan Tuy nhiên, khi có một cuộc tranh chấp giữa việc bảo vệ môi trường và bảo vệ đầu tư nước ngoài Tòa án trọng tài, thường nhấn mạnh các lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài hơn là vấn đề về môi trường, có xu hướng quyết ủng hộ bảo vệ đầu tư

Dựa vào các yếu tố khách quan, quyền của nhà nước để loại trừ đầu tư có thể gây hại cho môi trường của nó là chính đáng Tuy nhiên, đôi khi rất khó để xác định liệu động cơ đằng sau sự can thiệp là quan tâm đến môi trường hay can thiệp là một biện pháp bảo vệ được thiết lập để cấm người nước ngoài tham gia vào nền kinh tế

1.8 Quy định về chiến lược xuất khẩu

Chiến lược phát triển của các nước đang phát triển đang chuyển từ sản xuất trong nước như một cách để giảm nhập khẩu đến chiến lược kiếm thu nhập thông qua xuất khẩu hàng hóa Mô hình phát triển này được cung cấp bởi các quốc gia công nghiệp hóa như Singapo, Hàn Quốc, Thái Lan và Hồng Kông nơi việc xuất khẩu dẫn đầu tăng trưởng ngoạn mục của nền kinh tế của họ Sự chuyển dịch trọng tâm từ thay thế nhập khẩu tăng trưởng xuất khẩu đã làm cho các nước đang phát triển chuyển sang đầu tư thông qua các tập đoàn đa quốc gia với hy vọng rằng họ sẽ sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm từ của họ quốc gia và do đó kiếm được ngoại hối Để thực hiện chiến lược này, chủ nhà đã có các biện pháp để hỗ trợ các tập đoàn đa quốc gia chú trọng xuất khẩu bằng cách hỗ trợ các đặc quyền hoặc thông qua thuế và các

ưu đãi khác Tại một số quốc gia, mục tiêu xuất khẩu là một điều kiện bắt buộc khi đi vào quốc gia

Hoa Kỳ đã liên tục phản đối hạn ngạch xuất khẩu trên cơ sở họ đưa ra các yêu cầu thực hiện Những chương trình của hiệp định đầu tư song phương cũng tìm kiếm biện pháp để loại bỏ các yêu cầu như vậy Nước này đã tìm cách loại bỏ các hạn chế như vậy về đầu tư nước ngoài trong vòng đàm phán Uruguay của các cuộc đàm phán của GATT Nhận định về việc áp đặt các yêu cầu xuất khẩu là bóp méo thương mại

Trang 22

quốc tế Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) ra đời cùng với việc thành lập của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đề yêu cầu thực hiện nhưng không ảnh hưởng đến việc áp đặt các yêu cầu xuất khẩu Tuy nhiên, hiệp định đầu tư của Mỹ, bao gồm các biện biện pháp cấm các yêu cầu thực hiện.

Không giống như các quốc gia có ý định về chính sách xuất khẩu hỗ trợ đầu tư nước ngoài sẽ đồng ý phân chia với yêu cầu xuất khẩu Áp dụng các yêu cầu này sẽ gây ra xung đột giữa nhà nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài khó có thể đáp các yêu cầu đã được đặt ra trong điều kiện hiện nay Với tình trạng suy thoái kinh tế ở các thị trường thế giới trong năm 2008 và các chính sách bảo hộ chống lại việc nhập khẩu giá rẻ từ các nước đang phát triển đang được thực hiện bởi các nước phát triển, sẽ gây khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu của nước chủ nhà

Ngoài ra, các tập đoàn đa quốc gia thông qua một chính sách ngăn chặn cạnh tranh trong số các công ty con của mình bằng cách tạo ra thị trường địa lý và ngăn chặn xuất khẩu công ty con của họ vào lãnh thổ của nhau Kết quả là, yêu cầu hạn ngạch xuất khẩu khó có thể đáp ứng Sự thất bại khi thực hiện như vậy sẽ thúc đẩy xung đột giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nước chủ nhà Xung đột như vậy sẽ rất khó khăn để giải quyết Nhà nước tìm các biện pháp để can thiệp hoặc chấm dứt đầu tư nước ngoài trên cơ sở không thực hiện các điều khoản trên đã cấp cho nhà đầu

tư nước ngoài hoặc tìm cách áp đặt một số hình thức xử phạt khác Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm kiếm các biện pháp khắc phục hậu quả theo hợp đồng và tin tưởng vào trọng tài Vì hầu hết Toà án dựa trên cơ sở các hợp đồng đã được thực hiện chứ không phải là các điều kiện của pháp luật nào đối với đầu tư hơn các điều khoản quy định trọng pháp luật của nước chủ nhà

1.9.Quy định liên quan đến vốn chủ sở hữu của nước chủ nhà

Một vấn đề đang nổi lên từ pháp luật về đầu tư nước ngoài tại các nước đang phát triển liên quan đến vốn chủ sở hữu của nước chủ nhà với sự tham gia đầu tư nước ngoài

Cơ cấu cổ phần được áp đặt đối với công ty cổ phần vì lý do chủ nghĩa dân tộc Vai trò của chủ nghĩa dân tộc trong việc định hình chính sách về đầu tư nước ngoài được phản ánh trong cấu trúc của công ty được ủy quyền Đầu tư nước ngoài phải phù hợp với các cấu trúc này khi đầu tư vào một quốc gia, phù hợp với các

Trang 23

chính sách bắt buộc của nhà nước trong các tập đoàn nước ngoài cho đến nay Thông thường, pháp luật sẽ xác định tỷ lệ phần trăm cổ phần phải có được và chi tiết các giai đoạn và các khung thời gian trong đó cắt bỏ được thực hiện.

Hạn chế vốn chủ sở hữu không chỉ được áp dụng trong quan điểm kinh tế mà còn có các động cơ về chính trị và động cơ khác Các yêu cầu vốn chủ sở hữu thông qua công cụ kinh tế như điều ước quốc tế về đầu tư hoặc các công cụ WTO

Xem xét về kinh tế có thể tạo ra liên hệ dựa trên thỏa thuận mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể không dễ dàng thu hồi, do đó ngăn chặn sự gián đoạn do việc di dời của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ gây ra Tuy nhiên, động cơ chính trị là một nguyên nhân chính cho các yêu cầu như vậy Những yêu cầu này nhằm đảm bảo rằng đầu tư nước ngoài thống nhất với các chính sách quốc gia để thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia

Xem xét về kinh tế cũng tồn tại khi cho rằng nước ngoài tham gia vào ngành công nghiệp được thực hiện thông qua liên doanh Điều này cho phép chuyển giao hiệu quả hơn quản lý công nghệ đến các đối tác liên doanh tại nước chủ nhà và kết quả là tối đa hóa lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài Nó cũng sẽ đảm bảo rằng chính sách của nhà nước được phản ánh tốt hơn khi chính sách được thực hiện

Các yêu cầu liên quan đến vốn chủ sở hữu của chủ nhà vào các dự án đầu tư nước ngoài mang lại lợi thế kinh tế cho nước chủ nhà Nhưng trên thực tế là một tỷ trọng nhỏ sẽ được chuyển ra nước ngoài, nó đảm bảo rằng nhà nước đã trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát các doanh nghiệp liên doanh

Yêu cầu doanh nghiệp đầu tư phải hợp tác với doanh nghiệp tại nước chủ nhà chỉ ra hình thức liên doanh được ưa thích Công ty liên doanh đã trở thành hình thức quan trọng nhất trong đầu tư nước ngoài trong thời gian gần đây trên toàn thế giới do một số lý do sau:

- Theo quan điểm về đầu tư tại các nước đang phát triển, các quy định gia nhập là lý do quan trọng nhất cho sự hình thành công ty liên doanh Cả hai hình thức liên doanh trong sản xuất và các lĩnh vực khoáng sản và sự chia sẻ sản xuất trong lĩnh vực khoáng sản được thỏa thuận với mục đích tối đa hóa sự quản lý đầu tư của nước chủ nhà Tuy nhiên, trong tất cả các hợp đồng đầu tư nước ngoài trong thời gian dài, cân bằng nội bộ giữa quốc tế hóa và nội địa hóa được đề cập trong quá trình thương lượng trước dự thảo của thỏa thuận Sự cân bằng tùy thuộc vào các yếu tố

Trang 24

khác nhau như biến động trong nhu cầu cho các sản phẩm, thay đổi chính trị trong quốc gia và sức khỏe của nền kinh tế toàn cầu.

1.10.Các quy định khác

Một số yêu cầu khác mà có thể được tìm thấy trong pháp luật về đầu tư nước ngoài của các quốc gia Chúng có thể được giải thích như những nỗ lực tối đa hóa lợi ích của đầu tư nước ngoài nền kinh tế của nước chủ nhà

- Yêu cầu liên quan đến việc làm của người dân nước chủ nhà, đảm bảo rằng nhận thức lợi ích của việc chuyển giao các kỹ năng lực lượng lao động nước chủ nhà

- Yêu cầu cho phép nước chủ nhà nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sản phẩm và thích ứng của sản phẩm trong thị trường trong nước

- Yêu cầu việc chế biến khoáng sản sẽ diễn ra tại nước chủ nhà để nhiều hoạt động liên quan đến ngành công nghiệp khoáng sản diễn ra trong nước và gia tăng giá trị của sản phẩm xuất khẩu

-Các yêu cầu như vậy cũng có thể được biện minh dựa trên các quyền chủ quyền của nhà nước để điều chỉnh hoạt động kinh tế diễn ra trong phạm vi lãnh thổ của mình

Các chính sách được thông qua bởi các nước đang phát triển theo hướng đầu

tư nước ngoài, một số hình thức mới của đầu tư nước ngoài có sự linh hoạt để mang lại hiệu quả đối với chính sách kinh tế và xã hội

1.11.Quy định và sự tước đoạt quyền sở hữu

Đầu tư nước ngoài diễn ra trong khuôn khổ quy định của nước chủ nhà Nếu nhà đầu tư nước ngoài không đáp ứng được các yêu cầu của nước chủ nhà, nước chủ nhà có chấm dứt việc đầu tư theo đúng quy định trong luật pháp của nước chủ nhà

Tuy nhiên, vấn đề là liệu can thiệp như vậy có thể dẫn đến để tước quyền sở hữu theo quy định của pháp luật quốc tế Nếu nhà đầu tư nước ngoài được thừa nhận theo điều kiện tuân theo luật pháp trong nước có thể dẫn đến sự tước đoạt quyền sở hữu Luật pháp quốc tế không quy định về vấn đề này ngoại t rừ trường hợp nhấn mạnh trong quá trình trước khi can thiệp nhưng quy định trong các ràng buộc của hiệp định

2 Các hình thức mới của đầu tư nước ngoài

Các hình thức mới của đầu tư nước ngoài là liên doanh và thỏa thuận chia sẻ sản xuất Các hình thức này được hỗ trợ bởi các thỏa thuận như hợp đồng quản lý

Trang 25

(mà là dựa trên phân tách quyền sở hữu và kiểm soát để quản lý kiểm soát một dự án lại cho một số tiền cố định trong khi lợi nhuận của dự án cho nhà nước), thỏa thuận chuyển giao công nghệ (nơi mà các công nghệ cần thiết cho dự án được cung cấp bởingười nước ngoài) và các biện pháp thông qua đó Nhà nước có thể để đảm bảo kiểm soát các dự án và chia sẻ lợi nhuận.

2.1 Liên doanh

Liên doanh là một thỏa thuận hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp để đạt được một mục tiêu cụ thể hoặc tham gia trong một dự án khác có thể là thành công hơn

theo đuổi như là một kết quả của tổng hợp các nguồn lực hoặc công nghệ

Hai hình thức liên doanh là:

+ Liên doanh hợp danh: không khác công ty theo pháp luật thông thường.+Hợp tác liên doanh: các bên tham gia vào một thỏa thuận để kết hợp một công ty thông qua đó họ sẽ thực hiện các mục tiêu kinh doanh

Công ty liên doanh là một đóng góp của Mỹ để thương mại Việc sử dụng của

nó trong kinh doanh quốc tế bây giờ là phổ biến Trong các nước phát triển, các hình thức liên doanh đã được được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao, và đặc biệt là trong các ngành công nghiệp như hàng không nơi các phạm vi hợp tác kinh doanh quốc tế là rất lớn HÌnh thức này đã trở nên phổ biến do sự xâm nhập vào thị trường mới thông qua các doanh nghiệp tại nước chủ nhà dễ dàng hơn, phân tán rủi ro và thông tin thị trường dễ dàng năm bắt được thông qua đối tác nước chủ nhà

Tại các nước đang phát triển, ngoài những lý do này, đầu tư nước ngoài chỉ thực hiện được thông qua hình thức liên doanh với doanh nghiệp trong Nếu ngành công nghiệp được nắm giữ bởi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài đầu

tư vào nước chủ nhà sẽ liên doanh với doanh nghiệp nhà nước Điều này có lợi thế cũng như bất lợi từ quan điểm của nhà đầu tư nước ngoài

- Lợi thế: nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thể chia sẻ lợi nhuận độc quyền; nhà đầu tư sẽ có liên kết với nhà nước trong các vấn đề chẳng hạn như thông quan hải quan, giấy phép xuất khẩu và các vấn đề hành chính khác tiến hành dễ dàng hơn

- Những khó khăn: nhà nước sẽ tìm thực hiện các mục tiêu của mình thông qua công ty liên doanh và đảm bảo rằng các chính sách của nó được phản ánh trong

Trang 26

các hoạt động của liên doanh Tuy nhiên chính sách của Nhà nước sẽ xung đột với động cơ lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài Trong bất cứ tranh chấp nào, nhà nước sẽ không ngần ngại sử dụng quyền hạn của mình trong pháp luật pháp và hành chính để đảm bảo thực hiện các chính sách của nhà nước Các nhà đầu tư nước ngoài

sẽ không có thể khẳng định mình trong trường hợp như vậy

Trong các nước xã hội chủ nghĩa cũng như một số nước đang phát triển có nền kinh tế hỗn hợp, liên doanh với các tổ chức nhà nước thường bị khống chế của pháp luật, đặc biệt là trong các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Trong các nước có nền kinh tế hỗn hợp, đầu tư vào trong nước có thể được thực hiện với sự hợp tác của doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực không phải lĩnh vực công của nền kinh tế Tuy nhiên, doanh nghiệp thuộc sở hữu nước ngoài đến được cho phép trong nhiều lĩnh vực

2.2 Hiệp định phân chia sản xuất

Sự thay đổi hình thức chủ yếu của hợp đồng xảy ra trong ngành công nghiệp dầu mỏ Trước đây, các thỏa thuận khai thác dầu là hình thức thịnh hành của hợp đồng dầu mỏ tại các nước xuất khẩu dầu Các thỏa thuận khai thác dầu bị hạn chế trong việc nhận đặc quyền trong việc khai thác dầu để xuất khẩu cho thấy vai trò thụ động cho các nước chủ nhà Các thỏa thuận khai thác dầu mỏ không còn được sử dụng khi các nước sản xuất khẩu dầu mỏ có thể kiểm soát đối với ngành công nghiệp Các thỏa thuận mới, thay thế các thỏa thuận về khai thác dầu, phản ánh thực

tế rằng đã có một sự thay đổi quyền lực từ công ty dầu mỏ cho các nước xuất khẩu dầu mỏ Nhà nước giữ quyền sở hữu của dầu và có quyền phân chia sản xuấtđói với các tập đoàn nước ngoài

Thỏa thuận phân chia sản xuất được dựa trên khái niệm quyền sở hữu của dầu tại các quốc gia, và nước đó có quyền xử lý của nó, một sự phản ánh của các nguyên tắc chủ quyền vĩnh viễn trên tài nguyên thiên nhiên

Các công ty nước ngoài được cấp phép thăm dò dầu khí Khi dầu được tìm thấy, các công ty nước ngoài có thể chiết xuất dầu và nhận được một tỷ lệ nhất định

bù lại để các chi phí thăm dò và bảo đảm lợi nhuận hợp lý Các tỷ lệ phần trăm dầu

mỏ các công ty nước ngoài nhận được dần dần thậm chí bị tiếp quản bởi các tập đoàn dầu khí của nhà nước

Trang 27

Tóm lại, cả hai thỏa thuận liên doanh và thỏa thuận phân chia sản phẩm là những kỹ thuật pháp lý thể hiện rằng các quốc gia chủ nhà được khẳng định quyền lực của họ đến đầu tư Quyền hạn đó được khẳng định sẽ phụ thuộc vào thương lượng giữa các bên

Các thỏa thuận liên doanh và thỏa thuận phân chia sản phẩm minh họa cách thức trong đó các hiệp định cũ là hiệp định về khai thác đã được thay thế để đảm bảo

sự kiểm soát của nhà nước về đầu tư nước ngoài Các hình thức hợp đồng được sử dụng trong khu vực phản ánh yếu tố này kiểm soát công cộng như thực tế trung tâm giao dịch đầu tư nước ngoài, minh họa các tính năng rõ ràng của pháp luật nào điều khiển là trung tâm đầu tư nước ngoài ở cả hai nước phát triển và đang phát triển

3 Ràng buộc về kiểm soát: phong tục tập quán luật quốc tế

Như một nguyên tắc chung, một nước có thể làm bất cứ điều gì để đảm bảo quyền lợi của mình trên lãnh thổ của mình

Trong nền kinh tế hiện đại việc khẳng định chủ quyền được thực hiện thông qua các nguyên tắc về chủ quyền đối với hệ thống kinh tế và nguồn tài nguyên thiên nhiên Theo tuyên bố Seoul của Hội Luật gia quốc tế kết hợp hai nguyên tắc của kinh tế và chủ quyền bằng cách nói rằng quốc gia có chủ quyền vĩnh viễn trên tài nguyên thiên nhiên, hoạt động kinh tế và sự giàu có là một nguyên tắc của luật pháp quốc tế

Người ta có thể tranh luận rằng đó là một nguyên tắc luôn luôn tồn tại trong luật pháp quốc tế, và các nguyên tắc liên quan đến việc tự chủ trong kinh tế trở nên cần thiết trong bối cảnh của sự cần thiết phải tháo dỡ cơ cấu kinh tế trong nước phụ thuộc trong thời kỳ hậu thuộc địa Khái niệm chủ quyền vĩnh viễn không chỉ giới hạn trong các nghị quyết về nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưng mở rộng cho tất cả các hoạt động kinh tế của địa phương Phần mở rộng này không cần phải được coi là một phần trong quyền kiểm soát các vấn đề kinh tế của nhà nước nó đã được những nước châu Âu đã tuyên bố và thực hiện nhất quán Nó là một khía cạnh của chủ quyền cố hữu của nhà nước để kiểm soát tất cả mọi người, sự việc và các đối tượng trong phạm

vi lãnh thổ của mình Quyền không giới hạn ở châu Âu cũng như Mỹ, Trên nguyên tắc bình đẳng của các quốc gia Tuy nhiên,nước có chủ quyền đưa ra các nguyên tắc của phong tục và dựa trên hiệp ước quốc tế pháp luật, điều có thể được giải thích hoặc bị ràng buộc bởi các hiệp ước và nguyên tắc tập quán của quốc tế các nước đang phát triển đã không phủ nhận sự liên quan của pháp luật quốc tế liên quan đến đầu tư

Trang 28

nước ngoài Các tài liệu gây tranh cãi nhất là Hiến chương về các quyền kinh tế.Điều lệ đã giải thích rằng Điều lệ chấp nhận rằng luật pháp quốc tế có thể hoạt động như một yếu tố hạn chế sự tự do toàn quyền của nhà nước, các điều ước quốc tế thông qua các tiêu chuẩn như tiêu chuẩn tối thiểu và tiêu chuẩn công bằng quốc tế và đối xử bình đẳng , dù có những tuyên bố khác nhau của các nhóm khác nhau của các quốc gia trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài có tồn tại yêu cầu bồi thường cho các nước xuất khẩu vốn Cơ thể của luật tục liên quan đến một khu vực được đề cập trong các văn bản như là trách nhiệm nhà nước điểu chỉnh hành vi của nhà đâu tư nước ngoài Không có điều ước quốc tế đa phương có chứa quy tắc nội dung về đầu tư nước ngoài Các điều ước quốc tế đa phương hiện có chỉ có một ý nghĩa hạn chế đối với lĩnh vực này của pháp luật Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)

đã không còn phù hợp với lĩnh vực này Các ngành gắn liền với Tổ chức thương mại thế giới, đặc biệt là những hiệp định về sở hữu trí tuệ (TRIPS), đầu tư (TRIMS)dịch vụ (GATS), có ý nghĩa đáng kể hơn là những hiệp định đa phương liên quan đến trọng tài các tranh chấp đầu tư và bảo hiểm của đầu tư nước ngoài và các quy tắc về trách nhiệm nhà nước trong luật pháp quốc tế

3.1 Nhà nước chịu trách nhiệm về tổn thất của nhà đầu tư nước ngoài

Các quy định liên quan đến trách nhiệm nhà nước đối với những tổn thất của nhà đầu

tư nước ngoài nằm trong khuôn khổ khi luật pháp quốc tế tìm cách đưa ra một tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi của người nước ngoài khi vào một quốc gia khác vì nhiều

lý do khác nhau, kể cả với mục đích kinh doanh Họ tạo ra trách nhiệm trong nhà nước nước chủ nhà , Một người nước ngoài rời khỏi quốc gia của mình thì không thể mang theo sự bảo vệ của nước đó Quy tắc này bảo vệ quyền lợi ngoại giao của các công dân khi ra nước ngoài Tính hợp pháp của việc can thiệp vào nước bạn là một chủ đề bị tranh cãi

Các lý thuyết về trách nhiệm nhà nước đối với những thiệt hại của nhà đầu tư dựa trên ý tưởng nhà đầu tư nước ngoài không được luật pháp nước anh ta bảo vệ

Điều luật đã được giải thích bằng các quan điểm của Tòa án Công lý Quốc tế trong những điều sau đây

- Trường hợp một công dân gặp khó khăn bởi hành động ngoại giao hoặc các thủ tục tố tụng tư pháp quốc tế, nhà nước nước chủ nhà trong thực tế khẳng định quyền riêng

Trang 29

của mình, phải đảm bảo tôn trọng công dân nước ngoài và quy tắc của luật pháp quốc

tế Quyền này được nhất thiết phải giới hạn sự can thiệp thay mặt cho công dân của mình bởi nhà nước của họ, vì trong trường hợp không có thỏa thuận đặc biệt về quốc tịch giữa nhà nước và cá nhân hay quyền bảo vệ ngoại giao, và nó là như là một phần của chức năng bảo vệ ngoại giao có quyền yêu cầu bồi thường và đảm bảo tôn trọng các quy tắc của luật pháp quốc tế phải được dự kiến

Mặc dù quan điểm cho rằng bảo vệ ngoại giao cho nhà đầu tư nước ngoài và hạn chế tổn thất đã được coi là nguyên tắc cơ bản của ngoại giao quốc tế, không có ngoại lệ chung Tuy nhiên, đã có nhiều căng thẳng giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển trong việc áp dụng các quy tắc của nhà nước về trách nhiệm và bảo vệ ngoại giao trong khu vực đầu tư nước ngoài Bất đồng phần lớn được tập trung vào các tiêu chuẩn đãi ngộ cho những người nước ngoài.Các quốc gia phát triển cho rằng duy trì rằng nhà đầu tư nước ngoài phải được xử lý theo quy định quốc tế thỏa mãn tiêu chuẩn tối thiểu, mà có thể là cao hơn so với tiêu chuẩn chung quốc gia.Trọng tài quốc

tế cũng nhận ra rằng có những tiêu chuẩn tối thiểu phải phù hợp với nhà nước nước chủ nhà, nhưng các quốc gia phát triển có thể gặp khó khăn trong việc đáp ứng

Vi phạm có thể được giải quyết thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp, hầu hết các trường hợp mà trong đó các tiêu chuẩn trách nhiệm đã được nói rõ về các tổn thất liên quan đến quyền của nhà đầu tư nước ngoài Các trường hợp ấn tượng nhất, chẳng hạn như yêu cầu bồi thường Neer hoặc Roberts về tổn thất liên quan đến người của người nước ngoài Các tổn thất cũng có thể được gây ra trực tiếp bởi các đại lý của nước chủ nhà Trong trường hợp thứ hai, trách nhiệm phát sinh trong trường hợp

có sơ suất trong việc bảo vệ quyền lợi của những người nước ngoài hoặc cố ý coi thường nhiệm vụ bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài Một hiện tượng đặc biệt về sự phát triển của các điều ước quốc tế là công bằng và công bằng tiêu chuẩn trong đãi ngộ đã tồn tại trong hơn nửa thế kỷ.Một số nước đang phát triển, cho rằng, nhà đầu tư nước ngoài được hưởng, nhiều nhất chỉ là tương tự như các công dân của nhà nước chủ nhà Ở Mỹ Latinh nhà nước thực tế Tuyên bố rằng không đưa ra một tiêu chuẩn quốc

tế vì điều đó sẽ trở thành một cái cớ để Hoa Kỳ đưa ra can thiệp đến công việc nội bộ của quốc gia Châu Mỹ La Tinh Sau khi phi thực dân hóa các quốc gia châu Phi và châu Á, các quốc gia phát triển tán thành quy định có một tiêu chuẩn tối thiểu đối với tài sản sau sự kết thúc của chủ nghĩa thực dân - để đảm bảo rằng có một hệ thống dựa

Trang 30

trên nguyên tắc bảo vệ đầu tư nước ngoài và hi vọng nó trở thành cơ sở cho một hệ thống đầu tư nước ngoài có được bảo vệ mà có thể cản trở cải cách kinh tế được thực hiện bởi các nước đang phát triển Kể từ khi Mỹ Latinh là một trong những khu vực đầu tiên của thế giới là đối tượng bị áp dụng các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu.

3.2 Các cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Châu Mỹ La Tinh:

Theo quan điểm của Mỹ Latinh, các nhà đầu tư nước ngoài phải hoàn toàn tuân theo pháp luật của nhà nước chủ nhà và không được bảo vệ thông qua bất kỳ tiêu chuẩn bên ngoài nào Họ không ủng hộ quan điểm nhà nước chủ nhà phải hịu trách nhiệm

về thiệt hại hoặc tiêu huỷ gây ra cho người của người nước ngoài trong trường hợp tổn thất do sơ suất của nhà nước nước sở tại Những điều khoản quy định rõ ràng rằng việc vi phạm thỏa thuận được thực hiện bởi các công dân Mỹ với châu Mỹ La tinh không thuộc về quan tâm của nhà nước

Ý tưởng bảo vệ đầu tư nước ngoài thông qua các nguyên tắc của nhà nước và trách nhiệm bảo vệ nhà đầu tư của nước chủ nhà là một vấn đề của phát triển sau này

Trọng tài viên trong Rosa Gelbtrunk & Salvador cho rằng :Một công dân hoặc doanh nghiệp thương mại, khi tiến hành thương mại trong lãnh thổ và dưới sự bảo vệ chủ quyền của một quốc gia nào khác, là được coi như các đối tượng hoặc công dân của nhà nước, cư trú và tiến hành kinh doanh Trong khi một mặt, nhà đầu tư được hưởng sự bảo vệ của nhà nước đó, gồm cả cảnh sát cũng như quy định và lợi thế khác

có liên quan, mặt khác, cũng có những trách nhiệm chính trị với thăng trầm của đất nước, như vậy, giống như các đối tượng công dân của nhà nước đó phải chịu trách nhiệm đến cùng về hành vi của mình.Hay cách khác, tuyên bố chỉ đơn giản là, một khi người nước ngoài tự nguyện đầu tư vào quốc gia khác, anh ta phải chịu nguy cơ thương tích với tiềm năng đầu tư của mình và phải hài lòng với cùng một tiêu chuẩn bồi thường cho công dân nhà nước đó.Trích dẫn từ Ủy ban Khiếu nại Venezuela năm

1885 - quan điểm sau đây của Fiore : Bảo vệ là bất hợp pháp và vô lý khi mà mục đích của nó để bảo đảm lợi ích của công dân định cư ở nước ngoài một vị trí đặc quyền đặc lợi Chính phủ mạnh đã tận dụng lợi thế của của mình và gây áp lực lên các chính phủ yếu hơn, để buộc họ trao thêm lợi ích cho công dân của mình, trong khi đó lại được được miễn một số nghĩa vụ nhất định Anh, Pháp và Hoa Kỳ muốn thay mặt cho các công dân ở của họ ở nước ngoài đưa ra quyền can thiệp như là một ngoại lệ cho quy tắc chung và được giới hạn trong một khu vực Tuy nhiên, mỗi khi

Trang 31

các tuyên bố như vậy đã được thực hiện, các nước Mỹ Latin liên tục chống đối sự hình thành của bất kỳ tập quán nào trong khu vực.

Ngoại lệ duy nhất cho quy tắc được họ công nhận là tại nơi mà luật pháp địa phương không cung cấp một biện pháp khắc phục phù hợp bởi vì tư pháp địa phương tham nhũng hoặc các biện pháp khắc phục đã được cung cấp là quá cũ.Trong bối cảnh của mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Châu Mỹ La Tinh, đầu tư nước ngoài và các khiếu nại liên quan đến luật pháp quốc tế bảo vệ nó là cảm nhận như là công cụ mà qua đó Hoa

Kỳ đã có thể để duy trì kinh tế sự thống trị trong khu vực Đầu tư nước ngoài đã được nhìn thấy người Mỹ Latin như một con ngựa Trojan đảm bảo rằng ảnh hưởng của Mỹ

có thể được tác động thông qua sự hiện diện của nước ngoài đầu tư ở Châu Mỹ La Tinh khác nhau states.146 ý tưởng rằng có siêu quốc gia định mức cho phép bảo vệ các nhà đầu tư nước ngoài là nguyền rủa để Latin American luật gia, người lập luận rằng việc bảo vệ duy nhất tồn tại cho đầu tư nước ngoài đã được tìm thấy trong các

hệ thống quy phạm pháp luật trong nước của các quốc gia sở tại Hoa Kỳ chính nó đã cótán thành một học thuyết như vậy khi nó đã là một người nhận đầu tư vốn lớn từ châu Âu, nhưng đã thay đổi chiến thuật của nó khi nó trở thành một nước xuất khẩu vốn vào châu Mỹ La tinh Nó có thể cũng là sự kiện gần đây presage một sự thay đổi trong thái độ của States.147 Quốc nguyên tắc sẽ có những thăng trầm của nó tùy thuộc vào circumstances.148 Đó là việc chuyển đổi nguyên tắc đã được thiết kế để đảm bảo an toàn và an ninh của người ngoài hành tinh thành một hệ thống bảo vệ tài sản đã tạo ra xung đột Hầu hết các đầu trường hợp khẳng định tiêu chuẩn tối thiểu điều trị liên quan đến an ninh cá nhân của người nước ngoài và không phải tài sản của mình Khi xử lý tài sản, những trường hợp này mở rộng bảo vệ tài sản trên cơ sở

là việc bảo hộ là đồng thời cần thiết của an ninh cá nhân Các quy tắc đã được phát triển như là biện pháp bảo vệ chống lại bạo lực nhà nước trực tiếp người ngoài hành tinh và không asprinciples bảo vệ tài sản Đó là trong thời gian sau đó rằng các quy tắc, chủ yếu hướng vào nhà nước bạo lực, đã được cô lập để một hệ thống bảo hộ sở hữu có thể được xây dựng lên Điều này đã được chống lại bởi các quốc gia Mỹ Latin, đã liên tục lập luận rằng can thiệp bằng tài sản, đặc biệt là căn cứ của các chương trình kinh tế, giảm trong chủ quyền của nhà nước chủ nhà trong nước

Cuộc tranh cãi đã diễn ra giữa Hoa Kỳ và Châu Mỹ La Tinh đã trở thành tranh cãi toàn cầu sau khi thông qua tuyên bố rằng Hoa Kỳ đại diện cho luật pháp quốc tế

Trang 32

Các quốc gia mới độc lập của châu Phi và Châu Á đứng về phía các nước Mỹ Latin trong việc phủ nhận rằng các nguyên tắc của nhà nước chủ nhà phải chịu trách nhiệm cho tổn thất của nhà đầu tư nước ngoài và phải bảo vệ các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài Trên quan điểm, không có thoả thuận giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia phát triển, Ở cấp độ song phương, nhiều điều ước quốc tế về đầu tư đã được

ký kết nhằm tạo lập mô hình bảo vệ tài sản theo mong muốn của các quốc gia phát triển Nhưng, có sự tranh cãi mạnh mẽ ở cấp độ đa phương trong khi thông qua các công cụ điều ước quốc tế tương tự, các quốc gia đang phát triển chỉ miễn cưỡng từ bỏ lập trường tập thể của họ Trong vụ tranh chấp liên quan đến việc Tước quyền sở hữu giữa Mexico với Hoa Kỳ về tài sản, công thức bồi thường được đưa ra nhanh chóng, đầy đủ về các khoản phải trả cho nước ngoài khi nhà đầu tư bị tước quyền sở hữu tài sản của mình như một thành phần của các tiêu chuẩn tối thiểu Tóm tắt tình trạng pháp luật về điểm này như sau:

(1) luật pháp quốc tế cho nhà đầu tư có quyền để hoạt động kinh tế ở ngoài Trong trường hợp các chính sách quốc gia của các quốc gia nước ngoài cho phép đầu tư Tuy nhiên, luật pháp quốc tế nói chung chỉ đảm bảo sự bình đẳng về đối xử trong thương mại

(2) Theo pháp luật quốc tế nói chung, đặc quyền của người nước ngoài khi tham gia vào đời sống kinh tế của nước mình cư trú không cho phép anh có toàn quyền với tài sản tư nhân, có thể là ngăn cản nhà đầu tư có quyền sở hữu của tất cả hoặc một số tài sản, cho dù động sản hay bất động sản

(3) Bất cứ khi nào người nước ngoài đã được hưởng các đặc quyền về quyền sở hữu tài sản, và được luật pháp quốc tế bảo vệ, thì không thể bị tước đoạt bất động sản và tài sản dưới bất kỳ lý do nào, ngoại trừ đạo đức hoặc các lý do hình sự, mà không có bồi thường thích đáng Quyền sở hữu được hiểu như là quyền đối với tài sản hữu hình đã đi vào sự tồn tại cụ thể theo quy định của pháp luật, thành phố trực thuộc Trung ương

3.3 Nội dung của tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế

Nội dung của tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế là ngoài các quy tắc liên quan đến bồi thường khi tước quyền sở hữu và giải quyết các vấn đề này thông qua một tòa án bên ngoài Các tiêu chuẩn về bồi thường đầy đủ được coi là được kết hợp vào các tiêu chuẩn tối thiểu Việc đánh giá bồi thường như vậy bởi một tòa án nước ngoài và các

Trang 33

yêu cầu tước quyền sở hữu nên không phân biệt đối xử theo các tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế Ngoài các quy tắc liên quan đến bồi thường cho tước quyền sở hữu ứng trước của các quốc gia phát triển, không được xuất hiện được bất kỳ quy tắc khác liên quan đến các tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế.

Việc giới thiệu sau này của 'tiêu chuẩn' công bằng và bình đẳng đã dẫn đến một số tranh cãi, quan điểm này đã không được chấp nhận bởi các quốc gia phát triển

Ủy ban NAFTA đã ban hành một tài liệu diễn giải báo cáo chỉ ra rằng 'tiêu chuẩn' công bằng và bình đẳng như được sử dụng trong NAFTA không cao hơn tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế công nhận trong tập quán quốc tế Trong bối cảnh các quy định về tước quyền sở hữu, vấn đề bồi thường hay không bồi thường đầy đủ vẫn là một đề xuất gây tranh cãi Mặc dù các điều ước quốc tế về đầu tư ngày càng càng chứa nhiều tài liệu tham khảo để làm cơ sở bồi thường đầy đủ.Nội dung của nó phần lớn đã được xác định trong quá trình của cuộc tranh luận ở trên về việc tước quyền sở hữu

Ngoài ra, một khía cạnh khác của nội dung này là các tiêu chuẩn liên quan đến giải quyết tranh chấp Theo đó chỉ có tòa án trong nước hoặc Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, phù hợp với pháp luật địa phương

Các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy tắc địa phương yêu cầu rằng, một yêu cầu bồi thường quốc tế phát sinh từ sự ngược đãi đối với một nhà đầu tư nước ngoài, không thể đưa ra khi đã có các biện pháp khắc phục hậu quả Những trường hợp ngoại lệ được xây dựng trong bối cảnh các quốc gia Mỹ Latin mà trước đây là chế độ độc tài, và ý nghĩa của quốc gia dân chủ hiện đại được giới hạn Đã có những nỗ lực dịch chuyển các quy tắc thông qua các điều ước quốc tế như Công ước ICSIDHiệp định đa phương đầu tư của OECD đã được soạn thảo, lựa chọn các biện pháp khắc phục hậu quả đối với cả thiệt hại của nhà đầu tư nước ngoài và nước chủ nhà.Điều này cũng thể hiện sự tôn trọng với các phán quyết tại địa phương trong trường hợp có tranh chấp hay xung đột dân sự

3.4 Trách nhiệm của các quốc gia đang phát triển.

Trong bối cảnh Mỹ La tinh, nó sẽ là khó khăn để thiết lập mà là một pháp luật mà theo đó nhà nước phải trách nhiệm về các tổn thất kinh tế đối với nhà đầu tư nước ngoài Các quốc gia châu Phi và châu Á trong thời điểm cuộc xung đột phát sinh đều đang là thuộc địa do đó họ không tham gia vào việc tạo lập bất cứ luật nào trong khu vực

Trang 34

Mỹ Latinh, cũng như châu Phi và châu Á thực chất chống đối liên tục quá trình hình thành các tập quán quốc tế về pháp luật để bảo vệ đầu tư nước ngoài.

Thông tin về các quy tắc duy nhất có hỗ trợ trong pháp luật tập quán quốc tế là nguyên tắc là theo đó các bồi thường phải được trả bằng tiền khi nhà nước sở tại thực hiện việc lấy tài sản của người nước ngoài

Tuy nhiên, quy tắc này phát triển độc lập đối với trách nhiệm của pháp luật về trách nhiệm nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư nước ngoài Nó phát sinh như

là kết quả của việc thực hành bồi thường cho chiến tranh

3.5 Quy chuẩn về sự cao quý của con người.

Từ quan điểm rằng phải đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài có các quyền như quyền sống, quyền tự do, tự do ngôn luận và tự do đi lại Tất nhiên điều này cũng có liên quan mật thiết đến việc nhà nước sở tại chịu trách nhiệm trước tổn thất của nhà đầu tư Điều này cũng khó thỏa thuận vị Lý do đơn giản cho việc này làthỏa thuận về lĩnh vực này sẽ rất khó khăn để bảo đảm Một vấn đề khác và việc đưa

ra những tiêu chuẩn đảm bảo sự tiếp cận bình dẳng về mọi nguồn lực của người nước ngoài với công dân đã bị mâu thuẫn trong việc bảo vệ nền kinh tế và lợi ích quốc giaCác tài liệu nhân quyền cấm kỳ thị chủng tộc nhưng không có gì để nói về vấn đề phân biệt được thực hiện theo cơ sở chênh lệch về kinh tế và các chính sách ăn theo

sự bất bình đẳng trong quá khứ Các đề xuất là cần phải hoàn toàn bình đẳng giữa các công dân và người nước ngoài khi tham gia hoạt động kinh tế trong một nhà nước không được phản ánh trong phạm vi luật pháp quốc tế Nhà nước chủ nhà của cả nước phát triển và phát triển vẫnphân biệt đối xử giữa các công dân và người nước ngoài là quyền sở hữu liên quan đến bất động sản, thực hành của các ngành nghề, việc làm trong các lĩnh vực nhất định và vào một số công việc làm ăn đặc biệtNhưng quyền sở hữu nếu được coi như một quyền con người thì, tài sản một khi bị tổn hại, cần phải được thanh toán đầy đủ bồi thường Các tài liệu nhân quyền lớn, như Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị và Công ước châu Âu về Nhân quyền, lại không chứa bất kỳ tài liệu tham khảo cho các quyền tài sản

Nghiên cứu được hướng vào việc bảo vệ công nhân di trú, người không quốc tịch và người tị nạn, lao động nhập cư, người lao động đã được vận chuyển thông qua các đường dây buôn bán phụ nữ với mục đích mại dâm

Trang 35

Các nỗ lực tìm kiếm giải pháp này thông qua luật hiến pháp của Hoa Kỳ sẽ không thành công, các quốc gia là khác nhau có những ưu tiên và mục tiêu kinh tế khác nhau.

Trong thời kỳ hoàng kim của chủ nghĩa tự do chủ nghĩa, bảo vệ tài sản đóng một vai trò quan trọng trongchính sách đầu tư nước ngoài Ngân hàng Thế giới tiến đến một khái niệm về các quy định của pháp luật, trong đó bảo vệ tài sản đóng một vai trò trung tâm

3.6 Thiệt hại về tài sản trong quá trình rối loạn dân sự

Một lĩnh vực khác đã được giải quyết là trách nhiệm của nhà nước chủ nhà đối với thiệt hại gây ra trong thời gian xung đột dân sự hay như trường hợp khẩn cấpNhững thay đổi chính trị đã diễn ra tại Mỹ Latinh thông qua những cuộc nổi dậy một lần nữa cung cấp một nền tảng cho các vụ kiện tụng đó liên quan Trong nhiều trường hợp, thiệt hại đã được tuyên bố tiêu huỷ tài sản của các lực lượng chính phủ trong việc dẹp yên các cuộc khởi nghĩa Điểm khởi đầu của cuộc thảo luận là người nước ngoài không được mong đợi tốt hơn về bảo vệ trong thời gian xung đột dân sự hay quân sự hơn so với các công dân của nhà nước chủ nhà Cácgiả định là người nước ngoài đã nhập cư vào một quốc gia không ổn định tự nguyện chịu đựng các điều kiện nguy hiểm Tuy nhiên, một nguyên tắc cạnh tranh, hoặc có lẽ

là ngoại lệ lớn cho quy tắc, cũng đang nổi lên, vấn đề là không thể áp đặt trách nhiệm của nhà nước trong các tình huống bất ngờ này, sự bảo vệ ở đây chỉ được hiểu là bảo

vệ về an toàn tính mạng, trật tự trị an, không bao gồm an toàn tài sản

3.7 Hiệu lực của các điều kiện về đầu tư nước ngoài

Các yêu cầu được áp đặt bởi các quy định về đầu tư nước ngoài có thể được xem xét lại trong ánh sáng của các khiếu kiện là quy tắc được đưa ra để bảo vệ quyền lợi người nước ngoài trong quán luật quốc tế Nó sẽ là đủ để đối phó với ba loại chính của quy định: (1) những yêu cầu khi nhập cảnh; (2) những yêu cầu địa phương vốn chủ sở hữu tham gia; và (3) những áp đặt hạn ngạch xuất khẩu Tất cả những quyền này có thể được hạn chế theo các công cụ song phương, khu vực hoặc đa phương

3.7.1 Quy định về kiểm tra các khoản đầu tư nước ngoài.

Việc đầu tư có thể tién hành trước và sau khi nhà đầu tư đuwọc phép nhập cảnh

Trong một số trường hợp nhà nước có quyền tước quyền nhập cảnh của các nhà đầu tư,hoặc đưa ra điều kiện sàng lọc về nhập cảnh Nghị định Nigeria về đầu tư nước

Trang 36

ngoài miễn áp dụng thủ tục sàng lọc cho các công dân của các quốc gia của Tổ chức các nước châu Phi Unity Trừ khi sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở trần trụi chủng tộc, phân biệt đối xử trong trường hợp như vậy, thoạt nhìn, là hợp pháp là được dựa trên cơ sở âm thanh kinh tế và chính trị, việc phân loại không dựa trên chủng tộc, là được cho phép Ví dụ, người châu Á bị trục xuất khỏi Uganda là một ví dụ về quyền này của nhà nước Nhà nước có thể có thể biện minh cho việc loại trừ trên căn cứ an ninh quốc gia Sự hiện diện của nhóm người nào đó sẽ dẫn đến cuộc biểu tình và bất ổn

3.7.2 Địa phương vốn chủ sở hữu yêu cầu

Ở nhiều nước châu Phi, pháp luật liên quan đến quốc tịch công ty đã được thông qua đầu tiên Pháp luật như vậy, được gọi là các biện pháp bản xứ hoá, nhằm đảm bảo kiểm soát của các công ty hiện có thông qua vào tay địa phương trong các giai đoạn,

mà không gây ra quá nhiều của một sự gián đoạn cho nền kinh tế Các biện pháp bản

xứ hoá rõ ràng là hợp pháp, như là một nhà nước có quyền sắp xếp lại cấu trúc của đời sống kinh tế của nó Tuy nhiên, có vấn đề bồi thường thích đáng có thể đã được nêu ra trong khi kết nối với các biện pháp đó Họ yêu cầu buộc phải cắt bỏ các cổ phiếu trên thị trường địa phương Người mua địa phương có thể không có đủ nguồn vốn để thanh toán giá trị thực sự của cổ phiếu Trong trường hợp này, các công ty nước ngoài không thể tăng giá trị thị trường thực của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Nó không kiểm soát thời gian của việc bán cổ phần Các công ty nước ngoài rút đi nghĩa là một sự mất mát của tiếp cận thị trường, nguyên liệu và lao động giá rẻ và tạo thành lợi thế thị trường cho một đối thủ cạnh tranh đa quốc gia khácCũng có thể có vài vấn đề liên quan đến yêu cầu nhập cư thực hiện với sự hợp tác địa phương Một nhà nước, căn cứ chủ quyền của mình, có quyền áp đặt các điều kiện liên quan đến nội dung vốn chủ sở hữu địa phương của các công ty nước ngoài được thực hiện thông qua các cơ chế pháp luật nào của nhà nước chủ nhà

Trong những trường hợp này, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ dường như có chút tự vệ cho lợi ích của mình Ở đây, lấy hoặc can thiệp với các bất động sản sẽ dường như được thực hiện căn cứ các biện pháp quy định trong đó nhà đầu tư nước ngoài có đủ kiến thức hơn Một cuộc đối đầu của loại hình này xảy ra trong các trường hợp ELSI: nhà đầu tư nước ngoài đã được trao thường thiệt hại Tuy nhiên, tranh chấp chỉ ra rằng vị trí của nhà đầu tư nước ngoài rất yếu thế Trong các trường hợp ELSI, một

Trang 37

công ty Mỹ đã nằm ở Sardinia, Italy Theo luật pháp Ý, một công ty nước ngoài mà nằm trong các lĩnh vực mà không có công nghiệp được hưởng quyền ưu đãi nhất định, chẳng hạn như lợi thế liên quan đến mua sắm chính phủ hợp đồng Tuy nhiên, các đặc quyền này không được cấp cho các công ty Mỹ Theo pháp luật của nhà nước chủ nhà, một công ty mà không có đủ vốn tài sản đã được tuyên bố phá sản Khi công

ty đã công bố kế hoạch cho một trật tự thanh lý, thị trưởng của thành phố, đưa ra một đơn vị tạm thời đã tiếp quản lý của công ty với nỗi sợ hãi rằng sẽ là một mất mát lớn

về việc làm nếu các nhà máy trên bị đóng cửa, theo như dự tính của công ty Tòa án Italia sau đó đã tổ chức trưng dụng, khi công ty cuối cùng đã được tuyên bố mất khả năng thanh toán và bán ra, lấy một mức giá thấp hơn giá thầu tối thiểu đã được thiết lập

3.7.3 Xuất khẩu yêu cầu

Mục đích của yêu cầu xuất khẩu đã được giải thích Chúng được áp đặt để đảm bảorằng các công ty nước ngoài kiếm được doanh thu cho nhà nước thông qua xuất khẩu Các yêu cầu xuất khẩu thường quản lý bởi cùng một cơ quan công quyền có trách nhiệm cấp giấy phép ban đầu về quyền nhập cảnh của đầu tư, các vấn đề tương

tự như việc áp dụng các biện pháp trừng phạt phát sinh nếu không đáp ứng các yêu cầu khác để nhập cảnh Như đã giải thích ở trên, miễn là mức tối thiểu trong các tiêu chuẩn về thủ tục đã được theo sau, có thể là không có vi phạm luật pháp quốc tế Tuy nhiên, yêu cầu thực hiện tỷ trọng xuất khẩu, được coi là bóp méo thương mại thuộc Thương mại, Các biện pháp đầu tư liên quan (TRIMS) của WTO, và do đó tính hợp

lệ cần phải được đánh giá Hoa Kỳ đã lập luận rằng kiểm soát xuất khẩu vi phạm các tiêu chuẩn của thương mại tự do, cáo buộc rằng họ vi phạm các quy định của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Cấm hàng hóa của họ thông qua các công cụ thương mại được cho là hợp lý trên

4 Kết luận

Hạn chế về sức mạnh của nhà nước để đối phó có vốn đầu tư nước ngoài đã đượcdần dần xây dựng được thông qua pháp luật tập quán quốc tế và thông qua các điều ước quốc tế Trong quá trình xây dựng các chỉ tiêu của luật pháp quốc tế, đã có nhiều phe đối lập, bởi không có nghĩa là, tất cả được nhập khẩu vốn từ các nước phát triển trên thế giới

Trang 38

Hoa Kỳ là nhà nhập khẩu lớn nhất cũng như xuất khẩu vốn Nó cũng là ngôi nhà lớn nhất cho các tập đoàn đa quốc gia mạnh nhất xuất khẩu vốn trên toàn thế giới Cáclợi ích mà một quốc gia bây giờ phải đưa vào tài khoản rất đa dạng Nhà nước phải bảo vệ quốc gia của mình là điều dễ hiểu

Chương 3 Chính sách điều tiết dòng vốn tư nhân nước ngoài của một số nước đang phát triển

Ngày đăng: 04/12/2014, 16:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Vốn nước ngoài ròng chảy vào các nước đang phát triển, thời kỳ  1990-1996 (tỷ USD) - Quản lý Đầu tư quốc tế của nước chủ nhà . Chính sách điều tiết dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài của một số nước đang phát triển.
Bảng 1 Vốn nước ngoài ròng chảy vào các nước đang phát triển, thời kỳ 1990-1996 (tỷ USD) (Trang 43)
Bảng 2: Vốn nước ngoài ròng chảy vào các nước đang phát triển, thời kỳ 1997- 1997-2003 (tỷ USD) - Quản lý Đầu tư quốc tế của nước chủ nhà . Chính sách điều tiết dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài của một số nước đang phát triển.
Bảng 2 Vốn nước ngoài ròng chảy vào các nước đang phát triển, thời kỳ 1997- 1997-2003 (tỷ USD) (Trang 44)
Bảng 6: Cơ cấu dòng vốn tư nhân ròng vào Thái Lan thời kỳ 1987-1999 (triệu - Quản lý Đầu tư quốc tế của nước chủ nhà . Chính sách điều tiết dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài của một số nước đang phát triển.
Bảng 6 Cơ cấu dòng vốn tư nhân ròng vào Thái Lan thời kỳ 1987-1999 (triệu (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w