Mở đầu Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, sự di chuyển các nguồn lực (vốn, tài nguyên , kỹ thuật, lao động,...) giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng gia tăng và phát triển. Sự di chuyển đó được quyết định bởi đầu tư quốc tế (bao gồm đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp). Trong đó đầu tư trực tiếp đóng vai trò quan trọng. Dòng đầu tư này đang vận động theo nhiều chiều, dưới nhiều hình thức và ngày càng có xu hướng tự do hoá. Đây là một tất yếu khách quan. Các nước đều phải chấp nhận tính tất yếu khách quan này dù là nước phát triển hay nước đang phát triển. Nước nào nhận thức được nó và tạo điều kiện cho nó vận động thì nước đó sẽ phát triển lớn mạnh. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là nhân tố quan trọng của sự tăng trưởng phát triển kinh tế. Muốn phát triển nhanh các nước này cần phải lợi dụng ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, lao động,... của nhiều nước. Song nguồn FDI trên thế giới có hạn, mà nhu cầu về nó ngày càng lớn. Vốn FDI càng trở nên cấp thiết trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và phân công lao đông quốc tế sâu rộng hiện nay. Làm thế nào để thu hút được nguồn vốn này là vấn đề còn nan giải ở các nước đang phát triển. Bởi lẽ dòng vốn FDI khi chảy vào các nước này thường gặp nhiều trở ngại do trình độ kinh tế, xã hội của họ còn thấp, nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, trình độ kỹ thuật và quản lý lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, môi trường kinh doanh không ổn định, ... Khu vực Đông Nam á được đánh giá là một khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới, cũng có nhiều thành công trong việc thu hút nguồn vốn này. Các nước ASEAN đã và đang quyết tâm tìm ra các giải pháp nhằm thu hút nhiều hơn nữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hiện nay ASEAN vẫn là khu vực thu hút khá nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Là một nước trong khối ASEAN, cũng như các nước khác trong khối, Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế của mình, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Quá trình chuyển đổi này, Việt Nam cần vốn FDI để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý,... nhằm tăng năng suất lao động tạo công ăn việc làm trong nước. Từ đó tăng thu nhập, tăng tích luỹ cho sự phát triển kinh tế xã hội. Do vậy, từ thành tựu mà những nước ASEAN đã đạt được, Việt Nam đã rút ra được bài học gì cho sự phát triển của mình. Và trên cơ sở những bài học kinh nghiệm đó, có thể có những gợi ý hoàn thiện hơn nữa môi trường đầu tư, nhằm tạo ra môi trường đầu tư có sức cạnh trạnh ở Việt Nam. Đề tài này có đối tượng và phạm vi nghiên cứu là môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước ASEAN. Tên tiểu luận: MÔI TRƯỜNG FDI CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN NHỮNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC THI QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG THU HÚT FDI VÀO CÁC NƯỚC ASEAN
Trang 1Mở đầu
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, sự di chuyển các nguồn lực(vốn, tài nguyên , kỹ thuật, lao động, ) giữa các quốc gia trên thế giới ngày cànggia tăng và phát triển Sự di chuyển đó được quyết định bởi đầu tư quốc tế (baogồm đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp) Trong đó đầu tư trực tiếp đóng vai tròquan trọng Dòng đầu tư này đang vận động theo nhiều chiều, dưới nhiều hình thức
và ngày càng có xu hướng tự do hoá Đây là một tất yếu khách quan Các nước đềuphải chấp nhận tính tất yếu khách quan này dù là nước phát triển hay nước đangphát triển Nước nào nhận thức được nó và tạo điều kiện cho nó vận động thì nước
đó sẽ phát triển lớn mạnh
Đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi lànhân tố quan trọng của sự tăng trưởng phát triển kinh tế Muốn phát triển nhanhcác nước này cần phải lợi dụng ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, lao động, của nhiều nước Song nguồn FDI trên thế giới có hạn, mà nhu cầu về nó ngày cànglớn Vốn FDI càng trở nên cấp thiết trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệhiện đại và phân công lao đông quốc tế sâu rộng hiện nay Làm thế nào để thu hútđược nguồn vốn này là vấn đề còn nan giải ở các nước đang phát triển Bởi lẽ dòngvốn FDI khi chảy vào các nước này thường gặp nhiều trở ngại do trình độ kinh tế,
xã hội của họ còn thấp, nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, trình độ kỹ thuật vàquản lý lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, môi trường kinh doanh không ổn định,
Khu vực Đông Nam á được đánh giá là một khu vực phát triển kinh tế năngđộng nhất thế giới, cũng có nhiều thành công trong việc thu hút nguồn vốn này.Các nước ASEAN đã và đang quyết tâm tìm ra các giải pháp nhằm thu hút nhiềuhơn nữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay ASEAN vẫn là khu vực thu hútkhá nhiều vốn đầu tư nước ngoài
Là một nước trong khối ASEAN, cũng như các nước khác trong khối, ViệtNam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế của mình, từ nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Quá trình chuyển đổi này, Việt Nam cầnvốn FDI để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, nhằm tăngnăng suất lao động tạo công ăn việc làm trong nước Từ đó tăng thu nhập, tăng tíchluỹ cho sự phát triển kinh tế xã hội Do vậy, từ thành tựu mà những nước ASEAN
đã đạt được, Việt Nam đã rút ra được bài học gì cho sự phát triển của mình Vàtrên cơ sở những bài học kinh nghiệm đó, có thể có những gợi ý hoàn thiện hơnnữa môi trường đầu tư, nhằm tạo ra môi trường đầu tư có sức cạnh trạnh ở ViệtNam
Đề tài này có đối tượng và phạm vi nghiên cứu là môi trường đầu tư trựctiếp nước ngoài của một số nước ASEAN
Tên tiểu luận:
MÔI TRƯỜNG FDI CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN - NHỮNG QUY ĐỊNH
VÀ THỰC THI QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG
THU HÚT FDI VÀO CÁC NƯỚC ASEAN Nội dung bao gồm 3 chương:
Trang 2Chương I: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chương II : Đánh giá môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của một
số nước ASEAN.
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường đầu
tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam.
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của FDI
Đầu tư là hoạt động sử dụng vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào trong mộtthời gian tương thích nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội Vốn đầu tư cónhiều nguồn khác nhau, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốnđang thu hút được sự chú ý của nhiều quốc gia
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt
là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Từ định nghĩa trên có thể rút ra một số đặc điểm của FDI như sau:
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của các nhà đầu tư, họ tự quyết định đầu
tư, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này mạng tính khả thi và hiệu quả cao
- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp hoạt độngtheo tỷ lệ góp vốn của mình
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài nước chủ nhà có thể tiếp nhận đượccông nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm tổ chức, quản lý là mục tiêu mà các hìnhthức khác không giải quyết được
- Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của hoạt động nó cònbao gồm cả vốn của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như đầu
tư từ lợi nhuận thu được
Các hình thức của FDI trong thực tiễn
Một là hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản kí kết của hai bên hay nhiều
bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiếnhành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không cần thành lập tư cách pháp nhân Hình thức này có đặc điểm:
- Không ra đời một pháp nhân mới
- Cơ sở của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong hợp đồngnội dụng chính phản ánh trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên với nhau
- Thời hạn cần thiết của hợp đồng do các bên thoả thuận phù hợp với tính chấtmục tiêu kinh doanh và được cơ quan cấp giấy phép kinh doanh chuẩn
- Hợp đồng phải do đại diện của các bên có thẩm quyền kí Trong quá trìnhhợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư các pháp nhân của mình
Hai là doanh nghiệp liên doanh: Theo khoản 2 điều 2 luật đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam quy định doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do haihay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặchiệp định kí giữa chính phủ nước Cộng hoà xã hộ chủ nghĩa Việt Nam và chínhphủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước hợp tác với doanh nghiệp
Trang 4Việt Nam hoặc các doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoàitrên cơ sở hợp đồng liên doanh
Hình thức này có đặc điểm:
- Thành lập pháp nhân mới hoạt động trên nguyên tắc hạch toán độc lập dướihình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Các bên chịu trách nhiệm về phần vốn củamình
- Phần góp vốn của bên hoặc các bên nước ngoài không hạn chế mức tối đanhưng tối thiểu không dưới 30% vốn pháp định và trong quá trình hoạt động khônggiảm vốn pháp định
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồng quả trị
mà thành viên của nó do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ góp vốn của các bênnhưng ít nhất phải là hai người Hội đồng quản trị có quyền quyết định những vấn
đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắc nhất trí
- Các bên tham gia liên doanh phân chia lợi nhuận và phân chia rủi ro theo tỷ
lệ góp vốn của mỗi bên trong vốn pháp định hoặc theo thoả thuận giữa các bên
- Thời hạn hoạt động không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệt được kéodài nhưng không quá 20 năm
Ba là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Theo điều 26 Nghị định 12 CP quy định: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tạiViệt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh
“Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công tytrách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Thời gian hoạtđộng không quá 50 năm kể từ ngày cấp giấy phép”
Bốn là hợp động xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT)
Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “ Hợp đồng xâydựng - kinh doanh - chuyển giao là văn bản kí giữa cơ quan có thẩm quyền củaViệt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạtầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giaokhông bồi hoàn công trình đó cho nhà Việt Nam”
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh là văn bản kí kết giữa cơ quannhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài xây dựng côngtrình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giaocông trình đó cho Nhà nước Việt Nam Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tưkinh doanh trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Năm là Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)
Theo khoản 13 điều 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “ Hợp đồng xây dựngchuyển giao là hợp đồng kí kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của ViệtNam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng Sau khi xây xong nhàđầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam Chính phủViệt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự án khác để thuhồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
Trang 52 Môi trường FDI
2.1 Khái niệm chung về môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài
Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và bảo đảm khả năng sinh lợi của vốn đầu tư nước ngoài.
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn FDI
Môi trường đầu tư là yếu tố đầu tiên mà nhà đầu tư nước ngoài xem xéttrước khi quyết định đầu tư Ở đây, ta xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năngthu hút FDI tức là xem xét các yếu tố thuộc môi trường đầu tư Nếu những yếu tốthuộc môi trường nước nhận đầu tư là những yếu tố chủ yếu tạo nên môi trườngđầu tư hấp dẫn, thì những yếu tố thuộc môi trường quốc tế lại là những yếu tố tạonên động lực thúc đẩy các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư
2.2.1 Yếu tố thuộc môi trường nước nhận đầu tư
2.2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Đây là một nhân tố đầu tiên được đưa ra nhằm nhấn mạnh về tầm quantrọng của “địa lợi” nước nhận đầu tư trong thu hút FDI Các nước ASEAN
có vị trí đặc biệt quan trọng trong bản đồ kinh tế - chính trị quốc tế và cónguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú Chẳng hạn như Việt Nam -một thành viên của ASEAN, Việt Nam nằm trong tuyến giao thông quantrọng đi từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương và xuống Châu Úc - ĐạiDương hoặc ngược lại Những đặc điểm này đã tạo nên một Việt Nam là cửangõ giao thông Đông Nam Á, thuận lợi trên cả ba tuyến đường thuỷ, đường
bộ và đường hàng không Hay Singapore, từ một đất nước nhỏ bé nghèo nàn,
đã tận dụng tốt nhất vị trí của mình và hiện nay đã trở thành một con rồngChâu Á, một cửa ngõ đầu tư của ASEAN, một mắt xích tài chính toàn cầu,
là trạm chung chuyển về hàng hoá dịch vụ của khu vực
Mỗi nước trong khu vực Đông Nam Á đã và đang cố gắng phát huy lợi thếđịa lý của mình, đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, tham gia vào các chươngtrình hợp tác giao thông khu vực nhằm thu hút FDI
2.2.1.2 Yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội
Đây là những nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thu hút FDI Bởi mụctiêu đầu tiên khi quyết định đầu tư ra nước ngoài của chủ đầu tư là lợi nhuận Kinhdoanh trong điều kiện chính trị ổn định, kinh tế phát triển, thì lợi nhuận thu được sẽ
ổn định hơn, cao hơn
Trước chiến tranh thế giới hai, hầu hết các nước ASEAN đều là thuộc địacủa chủ nghĩa thực dân cũ với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ
bé, chủ yếu là khai thác khoáng sản nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nướcchính quốc Sau chiến tranh, các nước này lần lượt giành được chủ quyền về chínhtrị Ngay sau đó, các nước đã bắt tay ngay vào phục hồi kinh tế Và cho đến thậpkỷ70, 80 khu vực Đông Nam Á đã được đánh giá là một trong những khu vực pháttriển kinh tế năng động nhất thế giới Đặc biệt, trong đó có Singapo đã đạt được tốc
độ tăng trưởng cao liên tục và đã được xếp vào hàng ngũ những nước công mớitrên thế giới (NICS)
Mặc dù bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997,
Trang 6nhưng ngay sau đó các nước bị khủng hoảng đã nhanh chóng phục hồi, lấy lại đàtăng trưởng, phục hồi lại lòng tin của các nhà đầu tư.
2.2.1.3 Yếu tố liên quan đến cơ chế chính sách, luật pháp
Hệ thống chính sách luật pháp về thu hút FDI cũng như khả năng thực thicủa nó là một trong những tiêu chí quan trọng trước khi quyết định đầu tư của cácnhà đầu tư
Nhìn chung, các nước trong khu vực ASEAN đều có chính sách thu hút FDIhấp dẫn liên quan tới thể chế, thuế, tính đơn giản trong thủ tục đầu tư Mặc dùcòn không ít những hạn chế, nhưng mỗi nước đều đang cố gắng xây dựng lên một
hệ thống luật pháp, hướng tới một chính sách đầu tư rộng mở, mang tính cạnhtranh cao nhằm thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới
2.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng xã hội chủ yếu ảnh hưởng đến việc thu hút FDI phải kể đến hệthống giao thông vận tải, hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệcao; mạng lưới năng lượng, viễn thông
Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội của các nước ASEAN nhìn chung là đã pháttriển, đóng góp quan trọng cho việc thu hút FDI Như ở Singapore, Malaysia, TháiLan đã có đường bộ cao tốc, tỷ lệ đường trải mặt đã đạt trên 60% Hệ thống khucông nghiệp, khu chế xuất đã trở nên hoàn thiện
2.2.1.5 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực dồi dào, đươc đào tạo phù hợp với yêu cầu của các công ty cóvốn FDI là một trong những nhân tố hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Các nướctrong khu vực Đông Nam Á, nhìn chung đều có nguồn nhân lực đông, chi phí cho laođộng tương đối rẻ, trình độ nhận thức và tay nghề cao
2.2.2 Các yếu tố thuộc môi trường quốc tế
Vào cuối những năm 1970, tình hình quốc tế đã tác động mạnh mẽ lênnhững nước đang phát triển ASEAN, đòi hỏi những nước này phải cải cách mở cửathu hút FDI như là một xu thế tất yếu
2.2.2.1 Cục diện chính trị kinh tế quốc tế thể hiện nét đặc trưng hoà bình và phát
triển, thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng trưởng, có lợi cho các nướcASEAN
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, do chiến tranh lạnh bắt đầu, thế giới hìnhthành hai phe đối đầu nhau là Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa Trong sự đốiđầu đó, nhân tố chủ đạo là hai nước Mỹ và Liên Xô Cả hai nước đều coi nhau làđối phương, là trở ngại chủ yếu cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược toàn cầu vàlợi ích của mình Sự tranh giành trên phạm vi toàn cầu giữa hai siêu cường này lànguồn gốc chủ yếu gây ra sự căng thẳng kéo dài trong quan hệ quốc tế và cũng gây
ra mối đe doạ đối với hoà bình thế giới
Sau một thời gian dài, do tác động của nhiều nhân tố, việc bố trí chiến lượctoàn cầu của hai siêu cường này khó có thể thực hiện được Những xung đột và bấtđồng dần dần được giải quyết theo xu hướng đối thoại và hợp tác
Do có chiến tranh nên kinh tế Mỹ, Liên Xô suy yếu nhanh chóng Trong khi
đó, Tây Âu và Nhật Bản lại có điều kện đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế do họ
Trang 7không có chiến tranh, và đã vươn lên thành những trung tâm kinh tế độc lập Bêncạnh đó các nước đang phát triển ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế, chính trị và hoà bình thế giới Cục diện Thế giới thay đổi, xu thế đa cực hoá nềnchính trị quốc tế cung với các nhân tố kinh tế tăng lên trong cuộc cạnh tranh quốc
tế, khiến khả năng nổ ra chiến tranh càng ít đi Đây cũng là cơ hội cho hoà bình,đối thoại và hợp tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển Khinguy cơ chiến tranh thế giới giảm đi thì cuộc cạnh tranh bằng sức mạnh tổng hợplấy lại thực lực và có lợi trong cục diện thế giới mới Nhu cầu phát triển cũng đượcđặt ra ở tất cả các nước, mở cửa với bên ngoài đã trở thành chiến lược cơ bản pháttriển kinh tế của các nước
Đối với các nước đang phát triển, sau chiến tranh thế giới II, tuy đãgiành được độc lập về chính trị, song cơ sở kinh tế của các nước này còn rấtnon yếu, trình độ phát triển kinh tế thấp, trình độ kỹ thuật và quản lý lạchậu, thiếu vốn khiến cho khoảng cách giữa họ với các nước phát triển rấtlớn Vì vậy, họ có nhu cầu hợp tác và phát triển kinh tế với các nước pháttriển để xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu Sự độc lập về chính trị đã mở đường cho
họ phát triển quan hệ hợp tác kinh tế đa phương với các nước phát triển trênthế giới
Về phía các nước tư bản phát triển, sau chiến tranh thế giới thứ hai, họ nắmbắt được cơ hội do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới sau chiến tranh mở ra,Nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật trước đây phục vụ cho chiến tranh, nay đã đượcứng dụng cho phát triển kinh tế Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹthuật, nền kinh tế tư bản phát triển nhanh chóng Nó thúc đẩy các nước này tăngcường mở cửa tìm kiếm thị trường Nhưng nếu chỉ mở rộng thị trường trong cácnước phát triển thì khả năng tăng trưởng kinh tế của họ chỉ có hạn Do vậy cácnước này đã chú ý tới thị trường của các nước đang phát triển Trong quá trình tìmkiếm thị trường, họ thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài Họ muốn lợi dụng nguồn sứclao động rẻ mạt, tài nguyên thiên nhiên phong phú, và thị trường đầy tiềm lực củacác nước đang phát triển để hạ thấp chi phí sản xuất, giành lợi nhuận tối đa Thôngqua FDI vào các nước đang phát triển, họ thường thu được lợi nhuận cao hơn rấtnhiều so với đầu tư vào các nước công nghiệp phát triển khác
Quan hệ giữa các nước đang phát triển và các nước tư bản phát triểnngày càng mang tính hợp tác, phát triển cùng có lợi Các nước đang pháttriển không tách rời các nước tư bản phát triển về vốn, kỹ thuật công nghệ,khả năng quản lý, thị trường tiêu thụ Ngược lại, các nước tư bản pháttriển cũng không thể tách rời các nước đang phát triển vệ nguồn nguyênliệu, năng lượng, thị trường sản phẩm, thị trường đầu tư, nguồn lao động, sựchuyển nhượng công nghệ Điều này đã thúc đẩy đầu tư quốc tế tăngtrưởng
2.2.2.2 Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày càng tăng lên mạnh
mẽ, thúc đẩy đầu tư quốc tế tăng trưởng
Sự đan xen và tác động lẫn nhau về lợi ích kinh tế giữa các nước phát triển
và đang phát triển, giữa các nước đang phát triển với nhau dẫn đến sự liên kếtqúa trình sản xuất lưu thông tiêu dùng trên toàn cầu, hình thành nên sự phâncông quốc tế sâu rộng và sự tuỳ thuộc sâu sắc Hiện nay hoạt động kinh tế của
Trang 8mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của những quan hệ kinh tế quốc tế, đồng thờicũng có tác động lớn đối với nền kinh tế các nước khác.
Tuy nhiên, cho đến nay nền kinh tế toàn cầu chưa xuất hiện, nó chỉ mới cónhững yếu tố ban đầu Bởi lẽ các nước đang phát triển tham gia vào nền kinh tế thếgiới còn yếu ớt Ở nhiều nước, nhiều khu vực, chính sách còn chưa chịu ảnh hưởngcủa tự do hoá như tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư Nhiều nước còn phânbiệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Mặt khác, thế giới hiện nay đang đứng trước những vấn đề toàn cầu gaygắt, mà không một nước nào có thể đơn phương giải quyết được Đó là các vấnđề: sự cạn kiệt của nguồn tài nguyên thiên nhiên, nạn ô nhiễm môi trường, nạnnghèo khổ, vấn đề dân số, vấn đề an ninh toàn cầu Do vậy, xuất hiện yêu cầucác nước phải liên kết lại, phối hợp chính sách nhằm can thiệp vào điều tiếtnền kinh tế thế giới Nó có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, ổn định vàphát triển của nền kinh tế toàn cầu Trên thế giới đã xuất hiện các tổ chức kinh
tế có tính toàn cầu như quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB), tổchức thương mại thế giới (WTO) Bên cạnh các tổ chức liên kết kinh tế cótính toàn cầu, xu hướng liên kết kinh tế khu vực cũng ngày càng tăng lên.Những sự liên kết quốc tế này đã thúc đẩy đầu tư quốc tế ngày càng tăngtrưởng
Hiện nay dòng vồn FDI trên thế giới ngày càng gia tăng và đổ nhiều hơnvào các nước đang phát triển Dòng FDI vào các nước này đã tăng từ 1,4%năm 1975 lên tới 3,4% trong năm 1991
Nguồn FDI của thế giới ngày càng phong phú, nó không chỉ đến từ các nướccông nghiệp phát triển mà nó còn đến từ các nước đang phát triển Tuy nhiên,nguồn FDI đến từ các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức,Pháp vẫn chiếm vị trí chủ đạo, với 2/3 tổng vốn FDI Một số nước NICS,như HànQuốc, Singapore và Đài Loan, do kinh tế tăng trưởng cũng thúc đẩy đầu tư ra nướcngoài Một vài nước đang phát triển khác như Malaisia, Thái Lan, Indonesia vừathu hút FDI, vừa đầu tư ra nước ngoài
Xu thế FDI trên thế giới ngày càng tăng và phát triển, đây là thời cơ thuậnlợi cho các nước ASEAN trong việc thu hút FDI Song, các nước ASEAN cũngphải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt với các nước trong việc tranh thủ nguồnvốn này
Tới nay các nước công nghiệp phát triển vẫn chiếm phần chủ yếu trong sự phân
bố đầu tư quốc tế Sở dĩ họ thu được nhiều FDI là do trong phân công lao động quốc
tế, một sản phẩm được sản xuất ở nhiều nước, các nước công nghiệp phát triển cótrình độ ngang nhau dễ thực hiện sự phân công này Mặt khác nữa còn là do ở cácnước này, hệ thống pháp luật chặt chẽ, hệ thống tài chính - ngân hàng vận hành hoànhảo, kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, lực lượng lao động có tay nghề và tri thức cao, trình
độ kỹ thuật và quản lý tốt Không chỉ vậy họ còn thâm nhập vào nhau, đan xen đểtránh hàng rào thuế quan
Cùng với các nước công nghiệp phát triển, một số nước đang phát triển kháccũng đang vươn lên nhanh chóng giành giật nguồn vốn này
Nhận thức được vấn đề này, các nước ASEAN đã liên tục cố gắng duy
Trang 9trì tình hình chính trị xã hội ổn định, tăng trưởng kinh tế Cải cách luật đầu tưnước ngoài theo hướng rộng mở, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng hệ thốngpháp luật, hệ thống tài chính - ngân hàng hoàn chỉnh, đào tạo nâng cao taynghề cho người lao động nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tưnước ngoài Đặc biệt, từ sau cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á, để nhanh chónglấy lại niềm tin từ các nhà đầu tư, các nước ASEAN đã định ra những chínhsách ưu đãi hơn đối với đầu tư nước ngoài Hiện nay dòng FDI vào các nướcASEAN vẫn đang ngày một tăng.
2.2.2.3 Sự thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực đầu tư trên thế giới
Mục tiêu chủ yếu của các chủ đầu tư là lợi nhuận Vào những năm đầu thập
kỷ 60, FDI chạy theo lao động rẻ để thu hút lợi nhuận và khai khoáng, chế biếnnông sản của công nghiệp chế tạo Sau đó lĩnh vực FDI cũng thay đổi cùng với sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới nghiêng về xu thế phát triển mạnh về kinh
tế dịch vụ Từ đầu thập kỷ 80 đến nay, 50% lượng vốn FDI chảy vào các nướccông nghiệp phát triển và gần 30% lượng vốn FDI chảy vào các nước đang pháttriển Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, đầu tư vào lĩnh vực sản xuất vậtchất vẫn là lĩnh vực chủ yếu, chiếm tới 70% tổng vốn FDI mặc dù tỷ trọng của nó
có xu hướng giảm dần
Vài năm gần đây đã xuất hiện xu hướng mới là đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạtầng, nhất là các nghành viễn thông, điện, giao thông vận tải, thuỷ lợi Nguyên nhân
là vì các nước, nhất là các nước đang phát triển có nhu cầu phát triển cam kết mạnh
mẽ không quốc hữu hoá, các nước đã dành các chính sách ưu đãi để thu hút vốn FDIvào cơ sở hạ tầng nhằm khắc phục sự hạn hẹp của ngân sách Đến nay vốn FDI dànhđầu tư cho cơ sở hạ tầng bình quân hàng năm là 7 tỷ USD, và tăng bình quân5%/năm Mỹ và Nhật có tới 7-8% vốn FDI hướng vào cơ sở hạ tâng Đây là khả năngmới cho các nước nhận đầu tư
2.2.2.4 Các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC S ) đóng vai trò rất quan trọng trong đầu
tư trực tiếp nước ngoài và đang đẩy mạnh quá trình đầu tư ra nước ngoài
Hiện nay, các TNCS đang chi phối, kiểm soát phần lớn sản xuất, kinh doanhtrên thế giới Khi nghiên cứu 100 TNCS lớn nhất trên thế giới mà tất cả đều thuộc cácnước công nghiệp phát triển có thể thấy các TNCS này chiếm tới một phần ba toàn bộnguồn vốn FDI của thế giới Các TNCS đều đẩy mạnh đầu tư vào khu vực Châu Á.Theo báo cáo đầu tư thế giới năm 1996 của Liên Hợp Quốc công bố ngày 24/09/1996,trong tổng số 39.000 TNCS trên thế giới, công ty mẹ phần lớn có trụ sở chính tại cácnước phát triển và có 270.000 chi nhánh ở nước ngoài với tổng số vốn FDI lên tới2.700 tỷ USD Các chi nhánh ở nước ngoài của tất cả các TNCS đạt doanh thu hangnăm trên 6.000 tỷ USD Tất cả các TNCS lớn nhất trên thế giới đều là của các nước tưbản phát triển trong đó Mỹ có 32 công ty TNCS đã trở thành động lực chủ yếu củanguồn vốn, hàng hóa và lưu thong rộng rãi trong phạm vi toàn cầu TNCS có tác động
to lớn trong việc phân bổ cơ cấu kinh tế ở các quốc gia, chi phối lưu chuyển hàng hóacủa thương mại quốc tế Các TNCS cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyểntải kỹ thuật, công nghệ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nhữngnước đang phát triển Do đó, chiến lược đầu tư phát triển của các TNCS có tác động tolớn đến dòng FDI và xu hướng vận động của FDI
2.2.2.5 Xu hướng cải tổ và đổi mới theo nền kinh tế thị trường trong các nước
Trang 10đang phát triển đã thúc đẩy mỗi nước cải cách, mở cửa để tạo tiền đề thuận lợi cho việc thu hút FDI
Trước sự bùng nổ ngày càng gia tăng của FDI trên thế giới hiện nay, việckhép cửa nền kinh tế để phát triển đã tỏ ra lỗi thời Hầu hết các nước đang pháttriển đã mở cửa tiếp nhận nguồn vốn này
Xu hướng của họ là mở cửa, họ cần lợi dụng các ưu thế về vốn, thị trường,công nghệ, lao động của nhiều nước qua thu hút FDI để phát triển Do vậy họ đãtiến hành cải tổ thể chế chính trị - kinh tế - xã hội phù hợp với nền kinh tế thịtrường Trong thu hút FDI những cải cách thể chế này được thể hiện qua các luật:luật đầu tư nước ngoài thông thoáng, luật xuất nhập khẩu theo hướng tự do hóathương mại, luật xuất nhập khẩu dễ dàng, thuận lợi… Chúng phù hợp với thông lệquốc tế và bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư Trong ccs nước đang phát triển, một sốnước nhờ thực hiện cải tổ thành công nên đã thu hút được nhiều FDI, đem lại sựphát triển mạnh mẽ như các nước NICS
Tóm lại, sự du nhập của đầu tư tư bản nước ngoài vào các nước đang pháttriển tùy thuộc vào cả hai phía: nước đầu tư và nước nhận đầu tư
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài mối quan tâm hàng đầu của họ khôngdừng lại ở nguồn lợi nhuận cao, mà còn cần có sự đảm bảo chắc chắn đối vớinguồn vốn do họ bỏ ra, tức là đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng đối vớinguồn vốn đó Hơn nữa, khi đầu tư vào các nước đang phát triển, các công ty nướcngoài còn xuất phát từ những động cơ rất rõ ràng như chiếm lĩnh thị trường, tranhthủ nguồn lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên nếu như ở nước chủnhà có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có
Một yếu tố có tác động quan trọng tới đầu tư nước ngoài là cơ cấu và khảnăng kinh tế của nước chủ nhà Thông thường các nhà đầu tư nước ngoài thích đầu
tư vào những nền kinh tế có cơ cầu và khả năng kinh doanh năng động
Tất cả các yếu tố trên đây đã được các nước đang phát triển xem xét mộtcách thận trọng khi định ra những chính sách và biện pháp để thu hút đầu tư của tưbản nước ngoài Những chính sách và biện pháp đó rất đa dạng, khác nhau tuỳ theođiều kiện cụ thể của mỗi nước, tuy nhiên có thể thấy chúng tập trung vào chủ yếuvào việc tạo ra và đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định và xây dựng cơ sở hạtầng thuận lợi
Trang 11CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG FDI CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN
1 Khái quát về thành tựu đạt được trong quá trình thu hút nguồn vốn FDI của một số nước ASEAN
1.1 Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội
ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) được thành lập vào năm 1967, đãthiết lập một tiến trình lâu dài và thành công cho việc xây dựng từng bước ý thức
về một lợi ích chung và về một hiệp hội khu vực giữa 6 (ban đầu là 5) quốc giathành viên ASEAN đã trở thành một tổ chức chủ chốt ở khu vực Đông Nam Ákhông chỉ vì nó đã phát triển thành công một ý thức cộng đồng giữa các thành viênrất phân tán của mình và tìm được con đường tiến đến một sự hợp tác kinh tế chặtchẽ hơn mà nó còn trở thành một diễn đàn thảo luận với các cường quốc thế giới
về hàng loạt vấn đề quốc tế
Với việc kết nạp Vương quốc Campuchia vào ASEAN trong buổi lễ đặc biệtbiệt tại Hà Nội ngày 30 - 4 - 1999, ý tưởng thành lập một ASEAN - 10 (gồm 10nước khu vực Đông Nam Á) vì hoà bình và thịnh vượng chung của khu vực được
ấp ủ suốt 30 năm đã trở thành hiện thực Năm 1999 đã trở thành cột mốc lịch sửđánh dấu sự trưởng thành và bước phát triển mới cuả ASEAN với diện tích rộng4.604.866 km2 , dân số 518.588.659 người
Hiện tại, toàn thể các nước ASEAN đã phát triển theo nền kinh tế thị trườngvới nhiều sự kiểm soát chính trị của nhà nước hơn so với ở phương tây Đây chính
là sự nhất trí về một sự phát triẻn kinh tế dựa trên những thị trường tương đối tự
do, có nhiều thành phần kinh tế và có sự cạnh tranh Điều này đã dẫn đến một thời
kỳ tăng trưởng kinh tế chưa từng có trước đó cho ASEAN
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu nổ ra ở Thái Lan và sau đó lan
ra hầu hết các nền kinh tế trong khu vực, để lại những hậu quả kinh tế - xã hội hếtsức nghiêm trọng cho các nước này Nửa đầu năm 1999, cuộc khủng hoảng dườngnhư đã “chạm đáy”, tốc độ phục hồi tuy có khác nhau giữa các nước nhưng đềunhanh hơn mức dự đoán Nền kinh tế của tất cả các nước trong khu vực đều tăngtrưởng dương trong năm 1999 và năm 2000 Một lần nữa, cùng với Đông Bắc Á,Đông Nam Á lại vùng lên tăng trưởng nhanh nhất thế giới Tỷ lệ tăng trưởng GDPcủa toàn vùng trong năm 1999 là 4.4% và năm 2000 khoảng 5.5% Đây là tốc độphục hồi rất ngoạn mục so với mức sụt giảm -7.5% trong năm 1998
Tất cả những kết quả đạt được đều nói lên sự cố gắng phục hồi sau khủnghoảng của các nước ASEAN Quá trình cải cách cơ cầu và thể chế nền kinh tế tuygặp rất nhiều khó khăn, song diễn ra một cách nghiêm túc và triệt để về nguyêntắc Quá trình này đóng vai trò là động lực cơ bản giúp họ nâng cao năng suất vàcải thiện năng lực cạnh tranh trong dài hạn
1.2 Những thành tựu trong thu hút FDI
Các nước ASEAN đều coi FDI là yếu tố then chốt để công nghiệp hoá Cóthể khẳng định ngay được rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng
Trang 12trưởng kinh tế cao và quá trình chuyển dịch cơ cấu hướng về xuất khẩu nhanhchóng của các nước ASEAN từ thập kỷ 70 trở lại đây là việc sử dụng hiệu quả củanguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI.
Khi sảy ra khủng hoảng tài chính - tiền tệ, các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn rakhỏi khu vực này Thực trạng FDI lúc này rơi vào tình trạng bế tắc Sau khủng hoảng, cácnước đã dần lấy lại được lòng tin từ các nhà đầu tư nước ngoài Để thu hút được nhiều FDIhơn nữa, Chính phủ các nước ASEAN đã nhanh chóng đưa ra những biện pháp hữu hiệu
để tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài Nhờ những nỗ lực
đó mà dòng chảy FDI vào các nước ASEAN (chủ yếu là 4 nước Indonesia, Malaysia,Philipin và Thái lan) không hề thua kém so với các nước Châu Mỹ La Tinh (chủ yếu làMexico, cộng hoà Sec, Slovakia và Balan), các nước ASEAN đã đạt được những thànhtựu lớn trong việc thu hút FDI
ASEAN: FDI inflows, host country (in usd million)
Nhìn vào những con số thống kê trên, chúng ta có thể thấy dòng FDI hàngnăm đã đổ vào các nước ASEAN không ngừng tăng lên Khi bị tác động của cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ, dòng FDI có giảm, song ngay những năm sau đó đãphục hồi và lại tiếp tục tăng
Dự báo trong tương lai, nguồn vốn FDI vào ASEAN sẽ tăng nhanh trong
Trang 13Bên cạnh đó các nước ASEAN đã sớm ban hành và hoàn thiện luật đầu tư,
có những ưu đãi thoả đáng đối với các nhà đầu tư
Mặt khác các nước ASEAN cũng rất chú trọng xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng Chính Phủ các nước ASEAN rất coi trọng xây dựng các khu công nghiệp,kho, bãi, nhà xưởng Kết quả của đường lối này khiến nhiều nước như Singapo,Malaysia, Thái Lan có hệ thống giao thông, thông tin viễn thông, sân bay, cảngđược xây dựng, nâng cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế Ngoài ra các nước ASEAN cònxây dựng nhiều cơ sở văn hoá, giải trí như sân gôn, câu lạc bộ, casino, khu nghỉmát
Một thuận lợi nữa mà chúng ta không thể không kể đến đó là các nước ASEANđều có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, trình độ nhận thức và tay nghề cao
Hơn nữa các nước ASEAN luôn nỗ lực tăng cường hội nhập khu vực và thế giới.Các nước ASEAN xúc tiến mạnh mẽ việc xây dựng các “khu vực mậu dịch tự do” hay
“khu công nghiệp tự do” để tạo ra những điều kiện thuận lợi, hấp dẫn các nhà đầu tư,từng bước tham gia vào chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (tên viết tắttiếng Anh là CEPT), tiến tới hoàn thiện Khu vực Thương mại Tự do ASEAN ( tên viếttắt tiếng Anh là AFTA), tham gia vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái BìnhDương (tên viết tắt tiếng Anh là APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (tên viết tắttiếng Anh là WTO), tạo ra môi trường đầu tư mới, thuận lợi, thích hợp với xu hướngtoàn cầu hoá và khu vực hoá hiện nay
1.3.2 Thách thức
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi đó, còn không ít những khó khăn màcác nhà đầu tư nước ngoài còn dè dặt khi đầu tư vào ASEAN ASEAN là mộtkhu vực có tiềm lực phát triển kinh tế giữa các nước không đồng đều, chỉ cóSingapore là nước phát triển còn lại Thái Lan, Malaisia, Inđonesia, Philipin lànhững nước đang phát triển; Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma là nhữngnước kém phát triển Chính vì vậy, khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài của cả khối ASEAN còn chưa cao Môi trường đầu tư trực tiếp nướcngoài của các nước trong khu vực ASEAN còn chưa thực sự hấp dẫn Đó là:
cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, tình hình chính trị, an ninh quốc phòng cònnhiều bất ổn, thị trường tài chính còn biến động phức tạp, có nhiều dấu hiệukhông an toàn để phát triển kinh tế Bên cạnh đó, vấn đề làm thế nào để cạnhtranh được với Trung Quốc - một nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào khu vực Châu Á, cũng là một thách thức lớn đối vớicác nước ASEAN trong cạnh tranh thu hút vốn FDI Năm 2000, Trung Quốcthu hút được 43,5 tỷ USD tăng hơn 8 tỷ USD so với năm 1999 TheoUNCTAD, sau khi chính thức trở thành thành viên của WTO, Trung Quốc
Trang 14mỗi năm có thể tiếp nhận được khoảng 60 tỷ USD và nếu Chính phủ cho phécác công ty được sáp nhập, FDI vào Trung Quốc có thể đạt 100 tỷ USD
Như vậy, bên cạnh rất nhiều thuận lợi, các nước ASEAN vẫn phải đốimặt với không ít những thách thức trong cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài Các nước ASEAN cần phát huy những mặt lợi, và dần khắcphục những mặt còn tồn tại, nhằm xây dựng lên môi trường đầu tư thuận lợi,
có sức cạnh tranh cao
2 Kinh nghiệm của một số nước ASEAN trong việc xây dựng môi trường đầu
tư trực tiếp nước ngoài hấp dẫn
Tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực Châu Á đã giảm từ61% trong những năm 1990 - 1996 Đứng trước vấn đề tỷ trọng đầu tư bị giảm sútnày, vào tháng 12 năm 1995, các nước ASEAN đã đưa ra đề nghị về việc thành lậpKhu đầu tư ASEAN (AIA) để nâng cao sức hấp dẫn và cạnh tranh của khu vựcnhằm thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua một môi trường đầu tư thôngthoáng và rõ ràng hơn
Ngoài sự cần thiết phải thành lập AIA, việc cạnh tranh thu hút FDI ngàycàng quyết liệt, đồng thời ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997cũng như suy thoái kinh tế 2008 và cuối năm 2010 cũng làm giảm khả năng thu hútFDI vào khu vực khiến cho việc cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài trong khuvực càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn
Tình hình trên đòi hỏi có sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ giữa các nướcASEAN để cùng nhau đưa ra các biện pháp điều chỉnh dài hạn nhằm cải thiện môitrường đầu tư trong khu vực và lấy lại đà tăng trưởng kinh tế của khu vực
Ý tưởng cơ bản của AIA là làm tăng đáng kể dòng đầu tư vào khu vựcASEAN từ các nguồn trong ASEAN và ngoài ASEAN bằng cách nâng cao sức hấpdẫn và cạnh tranh trong lĩnh vực đầu tư của các nước ASEAN Điều này sẽ đượcthực hiện qua việc cùng nhau thúc đẩy ASEAN trở thành một khu vực đầu tư hấpdẫn nhất, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực kinh tế củaASEAN bằng cách tăng cường và mở rộng hợp tác trong ASEAN và dần dần giảmbớt hoặc tiến đến loại bỏ các qui định và điều kiện đối với đầu tư có thể cản trởluồng đầu tư vào ASEAN cũng như hoạt động của các dự án đầu tư ở các nướcASEAN Việc thực hiện AIA sẽ góp phần tạo ra các dòng lưu chuyển đầu tư tự dovào khu vực ASEAN vào năm 2020
Để thực hiện nghĩa vụ theo hiệp định này, các nước thành viên cảu ASEAN
sẽ cùng nhau hoạch định và thực hiện các chương trình sau:
- Chương trình hợp tác và hỗ trợ do từng nước thành viên thực hiện nhằmcải thiện môi trường đầu tư của nước mình
- Chương trính xúc tiến và tạo hiểu biết nhằm tổ chức các hoạt động xúc tiếnđầu tư giữa các nước, hỗ trợ nhằm cải thiện và nâng cao trình độ quản lý, học hỏikinh nghiệm khuyến khích đầu tư giữa các nước ASEAN, nâng cao tính hiệu quảcủa thông tin về đầu tư trong khu vực Nhìn chung hai chương trình này tạo nhiềuthuận lợi cho các nước ASEAN thu hút đầu tư là điểm yếu của họ Giai đoạn thựchiện chương trình này sẽ là giai đoạn cải thiện, tiến tới và đuổi kịp sự lành mạnhmôi trường đầu tư của các nước này
Trang 15- Cuối cùng là chương trình tự do hóa cho các nhà đầu tư ASEAN nhằm xóa
bỏ gần như toàn bộ các hạn chế về định tính cũng như định lượng đối với FDI từASEAN Tạo ra một môi trường pháp lý khá thuận lợi thúc đẩy đầu tư cho tất cảcác nước ASEAN
Ngoài ra, các nước ASEAN còn thực hiện các biện pháp khác như xây dựngcác mạng lưới liên kết cơ sở hạ tầng (giao thông liên quốc gia, cáp viễn thông liênquốc gia), hợp tác phát triển dưới hình thức các tam giác, tứ giác tăng trưởng…
Qua những phân tích trên, ta thấy quá trình hợp tác hoá trong ASEAN sẽ làđiều kiện tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nước ASEAN Mỗi nước sẽ
có cơ hội nhiều hơn trong việc thu hút FDI từ chính các nước khác trong khu vựcASEAN cũng như ngoài ASEAN
2.1 Thái Lan
2.1.1 Kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan thời gian qua
Thái Lan luôn được coi là nước có kinh nghiệm nhất trong thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài Thật vậy, vào đầu những năm 40, Thái Lan hiều rằng vị trí của đất nước của
họ rất quan trọng trong chiến lược bành trướng xuống Đông Nam Á của các nước lớn Thái
đã tìm cách khai thác triệt để lợi thế của vị trí đó để thu lợi cho nước họ Hơn nữa, ở TháiLan, người ta nhìn nhận công cuộc đầu tư của tư bản tư nhân ngoại quốc một cách hợp lý.Một mặt thừa nhận rằng người Thái có thể bị bóc lột, nền kinh tế có thể phát triển một cáchméo mó trong những thời gian nhất định nhưng mặt khác, Thái Lan sẽ có được vốn, côngnghệ, công ăn việc làm và tạo điều kiện cho người Thái Lan học tập kinh nghiệm quản lýcủa nước ngoài Giữa cái được và cái mất, thì cái được là nhiều hơn Vì thế, Thái Lan đãkhuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào nền kinh tế của họ Theo tổng quankinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dương, dòng FDI bình quân vào Thái Lan trong thời gian
từ 1990 đến 1995 là 1,873 triệu USD một năm, gấp ba lần con số của giai đoạn 1984 - 1989
là 676 triệu USD Điều đó chứng tỏ những nỗ lực đáng kể của Thái Lan trong việc thu hútFDI
Bảng 2: FDI vào Thái Lan từ năm 1990 đến năm 2010 (đơn vị triệu USD).
1990 1993 1996 1997 2000 2003 2006 2007 2008 2009 2010
2.389 1.202 1.732 2.313 2.767 5.235 9.460 11.330 8.539 4.976 6.320
Nguồn: ASEAN Macroeconomic Outlook 1995 - 1996 Foreign Direct Investment and
Development: Where do we stand?(JBIC)
ASEAN Investment Statistics Databases, as of 30 Sep 2011
Vào thời gian đầu khi luật khuyến khích đầu tư nước ngoài mới ra đời vàcòn chưa có những sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, FDI năm
1970 đã chiếm 12% tổng số vốn ròng của Thái Lan Năm 1987, mười năm sau lầnsửa đổi đầu tiên, tổng số vốn đầu tư được ưu đãi, kể cả FDI ở Thái Lan là 12,3 tỷbath, tương đương 497 triệu USD Sau năm 1987, nguồn FDI vào nước này đượctăng lên mạnh mẽ Nguyên nhân là do chi phí sản xuất ở các nước đầu tư tăng, đặcbiệt là chi phí lao động Bước sang thập kỷ 90, luồng FDI vào Thái Lan bắt đầu có
xu hướng chậm lại Có một số nguyên nhân khách quan dẫn đễn hiện tượng trên
Đó là việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất của các công ty đa quốc gia ở Nhật Bản vàcác nước NICS, sự bế tắc trong việc giải quyết vấn đề cơ sở hạ tầng và nguồn nhânlực, sự bất ổn về chính trị trong nước và quốc tế Tóm lại là do những lợi thế so
Trang 16sánh của Thái Lan đã giảm dần, trong khi đó, Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Nga,các nước Đông Á và Đông Âu đều mở cửa thị trường kêu gọi vốn đầu tư của nướcngoài Tuy nhiên theo số liệu của ngân hàng thế giới (WB, 1996), lượng FDI hàngnăm vào Thái Lan trong những năm 1990 - 1994 tăng 16,7 lần so với năm 1985.Cũng theo đánh giá của WB thì năm 1996, Thái Lan đứng vào hàng thứ năm trong
số 12 nước đang phát triển nhận được nhiều FDI nhất
Xét về nguồn và lĩnh vực đầu tư thì những nước cung cấp FDI chủ yếu choThái Lan là Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Hồng Kông và Singapore Những nước nàycung cấp 85% số FDI vào Thái Lan Ngoài ra, Mỹ và Nhật Bản còn là những nướccung cấp chính những khoản vay cho khu vực tư nhân của nước này Về lĩnh vựcđầu tư thì có tỷ lệ phân bố 38,4% cho công nghiệp chế tạo, 34% cho dịch vụ và27,6% cho nông nghiệp
2.1.2 Những mặt tích cực và hạn chế trong môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan
140 tỷ bath (6,5 tỷ USD) Dự án này nhằm xây dựng các tuyến đường cao tốc vàđường sắt từ một tỉnh ở phía Đông sang một tỉnh ở phía Tây, hai cảng nước sâu,một hệ thống ống dẫn dầu khí khai thác được từ vịnh Thái Lan và một cơ sở hànghải có tầm cỡ để đảm nhận các dịch vụ vận chuyển hàng hoá cũng như các dịch vụvận chuyển khác
Mặt khác sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế chỉ dừng lại ở việchoạch định chiến lược tổng thể, xác định mục tiêu cho từng thời kỳ, trên cơ sở
đó bố trí cơ cấu vốn đầu tư một cách hợp lý, thu hút vốn FDI vào những ngành,những vùng theo mục tiêu định hướng, tránh tình trạng tự phát Sự can thiệpkhông quá sâu này tạo nên một tâm lý thoải mái hơn, không bị phiền hà, gâykhó khăn
Hơn nữa sau khủng hoảng, Thái Lan đã dần lấy lại đà tăng trưởng Theo dựkiến tốc độ tăng trưởng của Thái Lan vẫn tiếp tục tăng trong những năm tới Sựtăng trưởng được giữ vững tạo điều kiện cho Chính phủ tiếp tục cải cách về chínhtrị, luật pháp và cải tổ khu vực tài chính, ngân hàng Điều này là nhân tố không nhỏtạo nên sự thuận lợi cho môi trường đầu tư
Trang 17hối lộ, yếu kém về điều hành và quản lý nhà nước và công ty, sự yếu kém của khuvực nông nghiệp, cũng là những yếu kém làm giảm sức hấp dẫn của môi trườngđầu tư.
Hơn nữa còn có thách thức về tính phụ thuộc của Thái Lan vào thị trườngthế giới Việc phục hồi một số ngành sản xuất hướng vào xuất khẩu như ô tô, điện
tử, viễn thông và máy văn phòng là do kinh tế Mỹ, Nhật Bản và EU, những đối táckinh tế chủ yếu của Thái Lan đang có nhu cầu phát triển Một khi những nhu cầunày bị thu hẹp lại thì sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp và không nhỏ đến đà tăng trưởngcủa Thái Lan Chính điều này là nguy cơ gây sự mất ổn định về kinh tế
Mặt khác còn có sự yếu kém về giáo dục và cơ sở hạ tầng Sự yếu kém vềgiáo dục làm cho đất nước lâm vào tình trạng khó khăn hơn trong quá trình pháttriển Cơ sở hạ tầng kém gây nên sự kém hấp dẫn trong môi trường đầu tư Cơ sở
hạ tầng ở Thái Lan kém hấp dẫn là do khâu hoạch định chính sách Điển hình làthoogn tin giữa các Bộ, ngành không được thông suốt; các dự án nhiều khi bị kếtthúc một cách chậm trễ cho những tranh cãi chính trị và khi thực thi thì thườngkhông dựa trên lợi ích kinh tế của đất nước mà lại dựa vào món lợi thu được củamột số cá nhân nào đó Nạn mua chuộc, hối lộ tràn lan khiến cho nền kinh tế TháiLan mặc dù tăng trưởng rất nhanh và rất lâu vẫn bị thất bại trong việc xây dựngmột mạng lưới giao thông và hệ thống liên lạc viễn thông đạt tiêu chuẩn quốc tế
Thêm vào đó còn có sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế Các ngành côngnghiệp sử dụng nhiều lao động đã từng thúc đẩy sự tăng trưởng của Thái Lan trongmột thời gian dài nay đã bị lỗi thời Các ngành sản xuất vật chất như dệt, giày dép
và đồ chơi khó có thể phục hồi do sự cạnh tranh của Trung Quốc và các nướckhác
2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan trong việc xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài hấp dẫn
Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi được công bố vào năm 1989 đã qui định rõràng những nghành kinh tế không chấp nhận đầu tư nước ngoài và những nghànhkinh tế mở cửa tự do cho tư bản tư nhân ngoại quốc Các ngành kinh tế của TháiLan được chia thành 3 nhóm: A, B, C
Các nhà doanh nghiệp nước ngoài không được phép đầu tư vào các nghành kinh
tế thuộc nhóm A (bao gồm nghề trồng lúa, nghề làm muối, buôn bán bất động sản, xâydựng) Những ngành kinh tế còn lại được mở cửa cho tư bản tư nhân ngoại quốc Chínhphủ đưa ra những chính sách ưu đãi rõ ràng nhằm thu hút các nhà đầu tư xây dựng cơ
sở sản xuất tại những vùng kém phát triển, thực hiện mục tiêu phát triển đồng đều giữacác khu vực của đất nước
Những dự án đầu tư vào các vùng sâu, vùng xa (Thái Lan gọi là khu vực3) được miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu trang thiết bị máy móc (trong khi đócác dự án đầu tư ở Băng Cốc chỉ được miễn thuế nhập khẩu trang thiết bị50%) Thuế công ty được miễn trong 8 năm; nếu xuất khẩu 30% sản phẩm(các dự án tương tự chỉ được miễn thuế 1 năm nếu được triển khai ở BăngCốc)
Để các nhà đầu tư yên tâm kinh doanh Thái Lan, Uỷ ban Đầu tư của TháiLan do Thủ tướng trực tiếp đứng đầu Nhà nước đảm bảo không quốc hữu hoá và
Trang 18không lập các xí nghiệp cạnh tranh với các công ty có vốn nước ngoài, không kiểmsoát giá cả và hạn chế xuất khẩu.
Về quản lý ngoại hối, nhà đầu tư được chuyển ra nước ngoài các thu nhập,lợi nhuận, nhưng có thể bị hạn chế trong trường hợp để cân đối tình hình thu - chi.Trong trường hợp hạn chế này thì cũng được chuyển ít nhất 15%/năm so với tổngvốn đem vào Thái Lan
Việc sở hữu đất đai được qui định riêng cho từng loại công ty Mỗi công tyđược sở hữu bao nhiêu đất đai do luật qui định Công nhân lành nghề, kỹ thuật viên
và gia đình họ được phép vào Thái Lan làm việc Uỷ ban đầu tư chịu trách nhiệmxem xét
Thái Lan cũng đã nhiều lần cải tiến thủ tục cấp giấy phép; thủ tục triển khai
dự án theo hướng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
Tóm lại, trong hơn hai thập kỷ qua, Thái Lan đã có nhiều thành công trongchính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài với lượng vốn đầu tư vào nước này tăngliên tục Có thể nói thành công đó là kết quả của sự thay đổi cả về nhận thức, sựchuyển đổi chiến lược và chính sách kinh tế xã hội lẫn hành động thực tế của TháiLan trong thời gian qua nhằm tạo ra môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn hơn
2.2 Malaisia
2.2.1 Kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaisia thời gian qua
Đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển các khu vựckinh tế hiện đại của Malaisia Đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vàdịch vụ, góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế và là thành công của chínhsách kinh tế mới do chính phủ Malaisia ban hành nhằm cải tổ cơ cấu kinh tế ngành
- lãnh thổ của đất nước Từ năm 1990 trở lại đây, FDI tại Malaisia có nhiều biếnđộng Trong những năm đầu thập kỷ này FDI tăng nhanh Riêng năm 1993 đạt 4,4
tỷ USD Năm 1996, tổng giá trị của số dự án vào Malaisia là 12,9 tỷ ringgit (5,6 tỷUSD), nhưng chính phủ nước này chỉ phê chuẩn những dự án trị giá khoảng 9 tỷringgit - giảm 20% so với năm 1994 Nguyên nhân của sự giảm này là do sự thayđổi trong đường lối phát triển kinh tế mà Malaisia đã đề ra trong kế hoạch 5 năm.Theo kế hoạch này, cơ sở của sự tăng trưởng tương lai của Malaisia sẽ là tăng năngsuất và giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất, chứ không phải thu hút đầu tưtrực tiếp nước ngoài Do vậy, các dự án nước ngoài được lựa chọn kỹ hơn
Mặc dù chính phủ đã tăng mức lãi suất, đã thắt chặt hơn đối với đầu tư nướcngoài song dòng vốn này vào Malaisia vẫn tăng mạnh Đầu tư trực tiếp nước ngoàivào Malaisia năm 1998 là 5,6 tỷ USD, năm 2000 đạt 6 tỷ USD, năm 2007 đạt 8,5
tỷ USD và 2010 đạt 9,1 tỷ USD
Bảng 3: Số lượng FDI vào Malaisia những năm gần đây (triệu USD).
1.019 2.382 5.692 5.995 2.473 6.072 8.538 7.248 1.381 9.156
Nguồn: Foreign Direct Investment and Development: Where do we stand? (JBIC) 6/2002
ASEAN Investment Statistics Databases, as of 30 Sep 2011
Tóm lại, Đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đổi mới cơ cấu, và đặc biệt đưa ngành côngnghiệp chế tạo của Malaisia phát triển vượt bậc Thông qua đầu tư trực tiếp nước
Trang 19ngoài, Malaisia đã sử dụng ưu thế về thị trường của các công ty xuyên quốc gia ởcác nước tư bản phát triển, Malaisia đã thành công trong việc gắn kết thị trườngtrong nước và thị trường quốc tế.
Có thể khẳng định rằng việc sử dụng nhân tố đầu tư trực tiếp nước ngoài,nhất là tranh thủ được thị trường của các nước Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản thông quaquá trình liên kết với các công ty xuyên quốc gia là nền tảng trong chính sách mởcửa kinh tế của Malaisia
2.2.2 Những mặt tích cực và hạn chế trong môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaisia
2.2.2.1 Tích cực
Malaisia là nước có đường lối rất linh hoạt trong việc thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài Tính linh hoạt được thể hiện ở việc ban hành sửa đổi, bổ sungchính sách đầu tư cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển Malaisia đã ban hànhluật thúc đẩy đầu tư PIA Về cơ bản, các nhà đầu tư nước ngoài có thể được miễngiảm thuế từ 3 - 8 năm, tối đa là 10 năm tuỳ thuộc vào các yếu tố như qui mô đầu
tư vốn, số lượng công nhân sử dụng, tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu đặc biệt, tư bảnnước ngoài có thể sở hữu 100% vốn nếu nó tuân thủ nhũng điều kiện như tỷ lệ xuấtkhẩu thành phẩm đạt 80% trở lên Bên cạnh việc ban hành và sửa đổi luật đầu tư,Malaisia còn thực hiện các chính sách và biện pháp thúc đẩy các hoạt động đầu tưnhư: đưa ra những văn bản hướng dẫn tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nướcngoài Chính vì vậy, môi trường đầu tư của Malaisia rất thuận lợi, hấp dẫn cácnhà đầu tư nước ngoài
Hơn nữa, cơ sở hạ tầng của Malaisia như điện nước, thông tin viễn thông,giao thông, cầu cảng, sân bay được đánh giá là hiện đại nhất trong khu vực Đầu
tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng của chính phủ ngày càng tăng, nhằm đảm bảo môitrường kinh doanh cạnh tranh và hấp dẫn hơn
Thêm vào đó, về triển vọng phát triển kinh tế của Malaisia cũng là nhân tốquan trọng tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn Những thành tựu trong việc duy trìnền kinh tế vĩ mô ổn định năm 1999 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Malaisia tiếp tụctăng trưởng trong năm 2000 và những năm tiếp theo
Tỷ giá đồng nội tệ 3,17 ringgit/1USD, được đánh giá đây là tỷ giá phù hợp vớinguyên tắc cơ bản của nền kinh tế và tiếp tục hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế
Đây là những nhân tố nền tảng cơ bản tạo nên cho Malaisia một môi trường đầu
tư hấp dẫn có sức cạnh tranh hơn so với các nước khác trong khu vực
2.2.2.2 Hạn chế
Thể chế tài chính chưa thực sự vững chắc, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền
tệ vừa qua đã bộc lộ những yếu kém trong hệ thống tài chính của nước này Trongđiều kiện hiện nay, những cải cách và cơ cấu lại các ngân hàng và các công ty tàichính chưa thực sự phát huy hiệu quả Đây là nhân tố khiến cho nhiều nhà đầu tưcòn e ngại khi đầu tư vào Malaisia
Hơn nữa do quá coi trọng vai trò của các công ty xuyên quốc gia nên nềnkinh tế của nước này chịu sự chi phối lớn từ phía nước ngoài, đặc biệt là các công
ty xuyên quốc gia thâu tóm hầu hết các khâu của quá trình tái sản xuất trong cácngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao như điện tử, lắp ráp xe hơi, dệt của
Trang 20Malaisia Vì vậy nền kinh tế của Malaisia ít có sự liên hệ chặt chẽ giữa các ngành,điều đó ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tầm vĩ mô, đồng thời các ngành, các vùngkhông có sự hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển kinh tế Điều này làm ảnh hưởng lớnđến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.
2.2.3 Kinh nghiệm của Malaisia trong việc xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài hấp dẫn
Malaisia trong chiến lược thu hút FDI rất coi trọng vai trò của các công tyxuyên quốc gia, gắn lợi ích của các công ty này với lợi ích của Malaisia Hiện nay
có khoảng 1000 công ty xuyên quốc gia của 50 nước đang hoạt động ở Malaisia.Bên cạnh đó, chính phủ có thực hiện chế độ ưu đãi cho một số ngành có qui mônhỏ, tự cấp cho đồn điền, ưu đãi cho các công ty áp dụng cơ cấu sở hữu của tư bản
cổ phần, hoặc áp dụng công nghệ kỹ thuật cao
Gần đây, nhằm thu hút FDI, khắc phục tình trạng khủng hoảng tài chính tiền tệ,Malaisia đã chủ trương miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị cho các khuchế xuất và các dự án hướng vào xuất khẩu Đối với các dự án khác có thể được ápdụng nếu sản phẩm chưa sản xuất được ở trong nước
Malaisia áp dụng chính sách đào tạo lao động theo yêu cầu của chủ đầu tư,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động Gần đây, nước này cònquy định, các nhà chuyên môn, chuyên gia quản lý và kỹ thuật đã đóng thuế thunhập thì không phải trả thuế sử dụng nhân công nước ngoài
Mọi thủ tục tạo nên sự phiền hà về đầu tư nước ngoài dần dần được loại bỏ vàthay vào đó là cơ chế, thủ tục nhanh, gọn, thông thoáng và hiệu quả Nhờ vậy, dòng FDIvào Malaisia ngày càng tăng lên trong những năm gần đây và một vài năm tới
2.3 Indonesia
2.3.1 Kết quả thu hút FDI
Con đường phát triển kinh tế - xã hội của Inđonesia diễn ra đồng thời với quátrình tận dụng hiệu quả các lợi thế có sẵn (tài nguyên thiên nhên, sức lao động rẻ,thị trường nội địa rộng lớn, vị trí địa lý chiến lược, vai trò điều tiết nền kinh tế) vớicác chính sách mềm dẻo để thu hút nguồn vốn và kỹ thuật công nghệ của các nướcphát triển
Tháng 1 năm 1967, chính phủ Inđonêsia đã ban hành đạo luật về đầu tư nướcngoài Sử dụng nguồn vốn bên ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá có ýnghĩa hết sức quan trọng đối với Inđonesia Chính phủ đã nhiều lần sửa đổi và bổsung các điều khoản mới trong luật đầu tư, tạo ra một bộ luật thông thoáng và hoànthiện nhằm thu hút được nhiều nhà đầu tư
Có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Indonesia thành 3 giai đoạn lớn như sau:
Giai đoạn 1967 - 1990: Đây là giai đoạn bùng nổ đầu tư nước ngoài lần thứ
nhất Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện trong giai đoạn này đạt16,936 tỷ USD Cơ cấu đầu tư nước ngoài trong giai đoạn này chủ yếu tận dụng tàinguyên sẵn có của Inđonesia và tập trung vào các ngành cần nhiều lao động
Giai đoạn 1990 - 1996: Đây là giai đoạn bùng nổ đẩu tư lần thứ hai,
với đặc diểm chủ yếu là tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ cầnnhiều lao động và các công ty đầu tư chủ yếu vào Indonesia chủ yếu là cáccông ty vừa và nhỏ từ các nước NICS như Hàn Quốc, Đài Loan và
Trang 21Hôngkông Trong giai đoạn này, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
và Inđonesia là 127,239 tỷ USD, gấp 8 lần so với 23 năm trước Đặc biệt40% trong tổng số vốn đầu tư trong giai đoạn này (63,6 tỷ ) tập trung vào
2 năm 1994 và 1995
Giai đoạn 1997 đến nay Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu tác
động mạnh vào Inđonesia từ tháng 1 năm 1998 với việc đồng Rupiah mất giákhoảng 53% so với đồng Đô la Mỹ kể từ giữa năm 1997 Tăng trưởng kinh tế thìliên tục giảm sút Lạm phát tăng mạnh đến mức phi mã Trên 80% số công ty, xínghiệp trong nước bị phá sản dẫn đến 12 triệu người bị thất nghiệp
Trước diễn biến xấu về tình hình kinh tế - chính trị ở Inđonesia, 70% số nhàđầu tư nước ngoài đã rút vốn đầu tư về nước Đặc biệt, tình hình nghiêm trọng hơnkhi làn sóng bài Hoa diễn ra mạnh mẽ ở Jakatta và các thành phố lớn khác dẫn đến
tư bản Hoa đã phải chuyển gần 10 tỷ USD lánh nạn
Số lượng các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1998 giảm từ 9,4 tỷUSD xuống còn 8,1 tỷ USD Nhờ có những biện pháp tích cực phục hồi sau khủnghoảng mà tình hình kinh tế của Inđonesia khá lên từ năm 1999 Do tình hình chínhtrị và kinh tế dần dần ổn định dẫn đến việc các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả tư bảnInđonesia gốc Hoa đã quay trở lại tìm kiếm cơ hội đầu tư ở Inđonesia Năm 1999,FDI vào Inđonesia đạt 9,2 tỷ USD Ngoài ra, sau thời gian tháo chạy của tư bảnInđonesia gốc Hoa, họ đang tìm cơ hội để tái đầu tư trở lại Inđonesia khoảng từ 5đến 10 tỷ USD
Một phần đáng kể các dòng FDI vào Inđonesia được thực hiện dưới dạngmua lại các công ty địa phương hoặc sáp nhập, bán đấu giá Lĩnh vực quan trọngđầu tiên là cải tổ hệ thống ngân hàng Năm 1999, Inđonesia đã cho 6 công ty kiểmtoán chủ chốt kiểm tra 200 hệ thống ngân hàng; chính phủ đã cơ cấu lại 128 ngânhàng tư nhân bằng các biện pháp đóng cửa, bán cổ phần hoặc sáp nhập với ngânhàng nước ngoài Đến năm 2000 số lượng đầu tư nước ngoài vào Inđonesia đã đạt11,605 tỷ USD
Tuy nhiên, năm 2003 do chính sách kiểm soát dòng FDI nhằm tránh lạmphát đã làm cho tâm lý các nhà đầu tư lung lay nên lượng FDI vào Indonesia năm
2003 là âm 0,6 tỷ USD Nhưng giai đoạn từ 2006 đến nay dòng FDI vào Indonesia
đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại (xem bảng 4) Khi chính sách kiểm soát dòngFDI được nới lỏng, các biện pháp thu hút FDI được thực hiện tốt đã giúp cho dòngFDI vào Indonesia có bước tăng mạnh từ 4,9 tỷ USD năm 2006 lên 13,3 tỷ USDnăm 2010
Bảng 4: Số lượng FDI vào Indonesia những năm gần đây (triệu USD).
Nguồn: Foreign Direct Investment and Development: Where do we stand? (JBIC) 6/2002 ASEAN Investment Statistics Databases, as of 30 Sep 2011
Nhìn chung, Inđonesia là một nước khá thành công trong thu hút vốn FDI
Để đạt được những kết quả đó, Indonesia đã không những phát huy những lợi thếsẵn có của mình mà còn đưa ra những chính sách liên quan đến đầu tư trực tiếpnước ngoài nhằm xây dựng lên môi trường đầu tư hấp dẫn, có sức cạnh tranh Vậy
Trang 22môi trường đầu tư của Inđonesia có những mặt tích cực và hạn chế gì.
2.3.2 Những mặt tích cực và hạn chế trong môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Inđonesia
2010 - 2020 tốc độ tăng trưởng của Indonesia đạt trung bình khoảng 5,5%/năm.Thu nhập GDP bình quân có khả năng được nâng cao
Có thể thấy, nếu so với nền kinh tế Inđonesia năm 1998 thì đến năm 2005,thu nhập bình quân sẽ tăng khoảng 1,5 lần và đến năm 2010 tăng xấp xỉ 2 lần
Về xuất khẩu và cán cân thương mại có chiều hướng được cải thiện tích cực,
tỷ lệ lam phát, thất nghiệp giảm Tỷ lệ lạm phát trong 2000 - 2005 là 10 - 15%, đây
là mức lạm phát có khả năng kiểm soát được
Sức mua của thị trường nội địa cũng sẽ được nâng cao 2000 - 2005 tăngtrung bình 11%/năm
Tất cả những vấn đề đó đều tạo lên một môi trường kinh doanh ổn định,khiến cho các nhà đầu tư yên tâm khi đổ vốn vào Inđonesia
2.3.2.2 Hạn chế
Bên cạnh những tích cực của môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưtrên, vẫn còn không ít những hạn chế Đó là:
Vấn đề ổn định chính trị và giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo vẫn còn
là ẩn số Tình hình chính trị có thể nói là phức tạp, với gần 100 đảng phái chính trịkhác nhau Trong suốt thập kỷ qua, cuộc tranh giành quyền lực diễn ra hết sứcphức tạp, chủ yếu giữa lực lượng quân sự, hồi giáo và tầng lớp dân chủ tiểu tư sản
và các phần tử Maoist Những đảo lộn xã hội và bất ổn của kinh tế đã dẫn tới việcgia tăng tình trạng bạo động, chủ nghĩa ly khai và xung đột sắc tộc đáng kể trênkhắp đất nước này trong những năm gần đây Các nhà phân tích kinh tế cho rằng,
do tính chất phức tạp của tình hình kinh tế chính trị hiện nay, kinh tế Inđonesia khólòng đạt được các mục tiêu đã đặt ra cho thời gian tới Vấn đề cốt lõi của Inđonesiakhác với các quốc gia Đông Nam Á khác ở chỗ, có giải quyết được vấn đề chính trịmới có khả năng ổn định kinh tế Mặt khác, Inđonesia vẫn phải đương đầu với nhiềuvấn đề nghiêm trọng trong giai đoạn 2000 - 2005 Đó là 6,1 triệu lao động thất nghiệp,
nợ công cộng tăng gấp 4 lần (102% GDP năm 1999 so với 24% năm 1997), tình trạngthua lỗ của ngân hàng hiện nay vào khoảng 7,1 tỷ USD, nợ khó đòi chiếm 55% tổng
số tín dụng
Hơn nữa, các vấn đề xã hội như tình trạng đói kém, thiếu lương thực, các tệ nạn
xã hội gia tăng cũng đang là những vấn đề thách thức đối với Indonesia vào nhữngnăm đầu thế kỷ XXI Vì có thể dự đoán rằng, về kinh tế, những năm sắp tới, Indonesia
có thể sẽ gặp khó khăn hơn so với các quốc gia Đông Nam Á khác
Trang 23Đó là những vấn đề lớn còn khiến cho các nhà đàu tư còn dè dặt khi đầu
tư vào Inđonesia
Ý thức trước những thách thức như vậy, chính phủ Indonesia cũng đangtích cực tìm cách tháo gỡ Chẳng hạn như trong diễn văn nhậm chức của mình,
để trấn an các nhà đầu tư nước ngoài, ông Wahid tuyên bố sẽ dồn sức nỗ lựcvào việc cải thiện đời sống của người dân nghèo trong nước, nhưng vẫn tuântheo những nguyên tắc thị trường tự do Về đối ngoại, ông cho biết sẽ tập trung
nỗ lực vò việc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng trong khối ASEAN vàchuyến viếng thăm nước ngoài đầu tiên của ông là các nước ASEAN và tiếpđến là Trung Quốc Mặt khác, chính phủ cũng đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãiđối với các nhà đầu tư nước ngoài Chính phủ nhiều lần sửa đổi và bổ sung cácđiều khoản mới trong luật đầu tư, chính phủ đơn giản hoá các thủ tục cấp giấyphép đầu tư, thực hiện chính sách liên doanh, liên kết, thành lập hệ thống công
ty cổ phần và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài Ngoài ra, Chính phủ còn chophép các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực “cấm” trước đây
Bằng các chính sách thu hút FDI, Indonesia đã lợi dùng được nguồn vốntương đối tập trung của Mỹ, Nhật, kết hợp với nguồn dầu mỏ xuất khẩu đã tạo điềukiện cho nền kinh tế trong nước tăng nhanh Thông qua các dự án đầu tư nướcngoài, Indonesia đã xây dựng được nhiều ngành công nghiệp then chốt đòi hỏi quy
mô vốn lớn và kỹ thuật công nghệ cao Bằng các hình thức liên doanh, kết quả tolớn đã đem lại cho các nhà quản lý trong nươc kinh nghiệm kinh doanh và tạo choInđonesia đội ngũ cán bộ, công nhân có kỹ thuật và tay nghề cao Số lượng đầu tưnước ngoài, chính vì thế ngày càng tăng nhanh, từ 596 triệu USD giai đoạn 1969 -
1974 lên 40,72 tỷ USD giai đoạn 1989 - 1994
2.3.3 Kinh nghiệm của Inđonesia trong việc xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài hấp dẫn
Thành công của Inđonesia không chỉ là do vị trí chiến lược quan trọng hàng đầucủa nước này ở Đông Nam Á và các lợi thế so sánh của họ so với các nước khác trongvùng mà còn do những cố gắng của chính phủ trong việc tạo thêm sức hấp dẫn củanước họ với tư cách là một địa bàn đầu tư
Điều đáng lưu ý trong chính sách đó là:
Thu hẹp những vùng cấp FDI nước ngoài: hiện nay chính phủ Inđonesia đãcho phép các nhà đầu tư nước ngoài được bỏ vốn vào một số ngành trước đây đóngcửa đối với tư bản tư nhân ngoại quốc Những ngành đó là: Cảng biển; sản xuất,chuyển tải và phân phối điện thương mại; viễn thông; tàu biển; hàng không dândụng; cung cấp ống nước; điện nguyên tử và thông tin đại chúng
Không phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài về phương diện thuế
Về chính sách thị trường, gần đây để tạo môi trường cạnh tranh thuận lợiIndonesia cho phép mọi ngành công nghiệp, trừ các ngành trong danh mục loại trừ
và trong kho ngoại quan được tiếp cận tự do thị trường nội địa
Vấn đề quản lý ngoại hối, doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển ranước ngoài các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao tàisản, tiền bán cổ phần cho người (hoặc tổ chức) Indonesia, tiền thu hồi vốn trường